luận văn về nâng cao hiệu quả phân môn chính tả lớp 3
Trang 1Mục lục
Lời cảm ơn
A - Phần mở đầu
I - Lý chọn đề tài:
II - Mục đích nghiên cứu:
III - Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
IV - Phơng pháp nghiên cứu:
B - Phần nói chung Chơng I:
Những cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
2/ Tài liệu dạy học:
3/ Bài chính tả chơng trình mới có cấu trúc:
II - Đổi mới nội dung dạy học:
III - Đổi mới về phơng pháp:
IV - Thực nghiệm:
Giáo án giảng dạyTờng thuật tiết dạyTài liệu tham khảo
23455
66
6681213
13161918
1920202428293440
Trang 2Lời cảm ơn
Đến nay em đã hoàn thành đề tài nghiệp vụ s phạm Lời đầu tiên em xin gửi tới lời chúc các thầy cô giảng dạy khoa giáo dục tiểu học - Trờng Đại học s phạm Hà Nội trong suốt thời gian qua một lời chúc tốt đẹp nhất Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tiến sỹ Đăng Thị Kim Nga đã tận tình chỉ bảo và tận tình thực hiện đề tài s phạm này.
Một lần nữa chúng tôi cảm ơn các đội ngũ tác giả biên soạn tài liệu gồm các nhà giáo dục, các nhà s phạm danh sách các tác giả đợc đa ra ở hàng sau Giúp cho chúng tôi thấy đợc sự đổi mới trong nền giáo dục Việt Nam nói chung Với cách thiết kế khoa học sinh động, chất lợng của môn học thực sự hữu ích đối với chúng tôi Mặc dù chúng tôi đã tham khảo các tài liệu, học hỏi kinh nghiệm của các thầy cô giáo bậc tiền bối Song chúng rất cố gắng nhng chắc sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Rất mong sự góp ý của thầy cô và các bạn.
Trang 3I - Lý chọn đề tài:
Đất nớc ta đang thực hiện chiến lợc đổi mới sâu sắc toàn diện về kinh tế,xã hội thực hiện thành công sự nghiệp hoá, hiện đại hoá vững bớc tiến vào thế kỷmới
Trong việc đổi mới, con ngời là khâu đột phá, có tính quyết định Điều đó
đòi hòi sản phẩm của nền giáo dục là phải có những con ngời mới, có năng lựcthực tiến Chính vì vậy Đảng và Nhà nớc đã có đờng lối quan điểm chỉ đạo,chính sách đúng đắn nhằm đổi mới việc đào tạo, giáo dục con ngời ở mọi ngànhhọc, bậc học, coi "Giáo dục là quốc sách hàng đầu" Do vậy trong giai đoạn nàymôn Tiếng Việt đã đợc soạn lại chơng trình và sách giáo khoa theo hớng tăng c-ờng dành học, bậc học, coi "Giáo dục là quốc sách hàng đầu" Do vậy trong giai
đoạn này môn Tiếng Việt đã đợc soạn lại chơng trình và sách giáo khoa theo ớng tăng cờng dạy kỹ năng giao tiếp (Nghe, nói, đọc, viết) Do vậy phân mônchính tả trong nhà trờng giúp HS hình thành năng lực và thói quen viết đúngchính tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quyen viết đúng tiếng việt văn hoá,tiếng việt chuẩn mực Vì vậy, phân môn chính tả có vị trí quan trọng trong cơcấu chơng trình môn Tiếng việt nói riêng, các môn học ở trờng phổ thông nóichung
h-ở bậc tiểu học phân môn chính tả càng có vị trí quan trọng bh-ởi vì giai
đoạn tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kỹ năng chính tảcho HS, không phải ngẫu nhiên mà ở tiểu học, chính tả đợc bố trí thành mộtphân môn độc lập (thuộc môn Tiếng việt) có tiết dạy riêng Trong khi đó, ở trunghọc cơ sở và phổ thông trung học, chính tả chỉ đợc dạy xen kẽ trong các tiết thựchành ở phân môn Tập làm văn chứ không tồn tại với t cách là một phân môn tập
đọc nh tiểu học Bởi tính chất nổi bật của phân môn Chính tả là tính thực hành.Bởi lẽ, chỉ có thể hình thành các kỹ năng, kỹ xảo chính tả cho HS thông qua việcthực hành, luyện tập Do đó, trong phân môn này các quy tắc, chính tả, các đơn
vị kiến thức mang tính chất lý thuyết không đợc bố trí trong tiết dạy riêng màdạy lồng trong hẹ thống bài tập chính tả Nội dung, cấu trúc của bài chính tả
Trang 4trong sách giáo khoa Tiếng việt tiểu học (phần chính tả) Cụ thể chính tả là hệthống các quy tắc về cách viết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ Nói cáchkhác chính tà là những quy ớc của xã hội trong ngôn ngữ, mục đích của nó là ph-
ơng tiện truyền đạt thông tin bằng chữ viết bảo đảm cho ngời viết và ngời đọc
đều hiểu thống nhất nội dung cơ bản
Chính vì vậy việc dạy chính tả đang là vấn đề quan tâm của nhiều ngời.Song kết quả học sinh viết chính tả cha đáp ứng yêu cầu hình thành kỹ năng giaotiếp HS còn viết sai chính tả gây hiểu nhầm cho ngời cùng giao tiếp Nguyênnhân chính là do nội dung và phơng pháp dạy học
Cụ thể về mặt nội dung: Việc cung cấp hệ thống quy tắc và bài tập chathành hệ thống, cha đủ để HS có thể dựa vào đó mà sau này tự hoàn thiện khảnăng viết đúng chính tả Về mặt phơng pháp việc dạy học chủ yếu là hoạt độngcủa thầy, trò thụ động tiếp thu nêu hiệu quả cha cao Vì vậy việc "Thống kê,phân loại những lỗi chính tả cho học sinh lớp 3 thờng mắc và biện pháp khắcphục" là việc làm cần thiết Nó góp phần giúp HS viết đúng chính tả, nhất là họcsinh lớp 3, thể hiện nội dung cần biểu đạt một cách chính xác trên văn bản, thựchiện mục tiêu dạy học môn Tiếng việt
Xuất phát từ lý do vừa nêu trong luận văn này chúng tôi chọn nghiên cứu
đề tài "Rèn kỹ năng viết đúng phân môn chính tả cho học sinh lớp 3"
II - Mục đích nghiên cứu:
Chúng tôi nghiên cứu luận văn này nhằm mục đích:
- Tìm hiểu nội dung phơng pháp dạy phân môn chính tả để áp dụng vàothực tế giảng dạy cho HS viết đúng chính tả, đọc, nói đúng Tiếng việt
Để đạt đợc mục đích trên cần tháo gỡ những vớng mặc, khó khăn cho giáoviên và học sinh trong quá trình dạy và học phân môn chính tả, nâng cao chất l-ợng và hiệu quả dạy học phân môn này
III - Đối t ợng và phạm vi nghiên cứu:
- Trong đề tài này chúng tôi nghiên cứu về vấn đề về học sinh lớp 3 huyện
Con Cuông - Nghệ an.thờng viết sai các lỗi chính tả, lỗi phụ âm, lỗi phụ âm đầu
Trang 5Nhng trong đó lỗi thờng mắc ở Trờng tiểu học 2 Châu Khê - Con Cuông - Nghệ
an Đó là phần phụ âm đầu tr/ch, các dấu thanh nh hỏi, ngã và phần vần
IV - Ph ơng pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài này có hiệu quả Chúng tôi đã sử dụng các phơngpháp sau:
- Phơng pháp điều tra quan sát:
+ Khảo sát nội dung sách giáo khoa
+ Tìm hiểu thực tiễn ở địa bàn mình dạy
+ Năng lực viết chính tả của học sinh
Để từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất biện pháp thực hiện
- Phơng pháp phân tích tổng hợp
Trớc một hiện tợng ngôn ngữ chúng tôi phân tích các ngữ liệu để thấy đợcbản chất của ngôn ngữ đó Rồi tổng hợp các hiện tợng thể loại để rút ra nhữngnhận xét khái quát cho nhiều hiện tợng cùng loại
Ví dụ: Cây bàng cây bàng
Thầy giáo thầy giáo
Trang 6Nh Lênin nói "Ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của loàingời" Thật vậy, con ngời sống trong xã hội luôn luôn có nhu cầu tiếp xúc, trao
đổi t tởng tình cảm với nhau qua công cụ chung là ngôn ngữ Ngôn ngữ là một
hệ thống tín hiệu gồm các đơn vị (âm vị, hình vị, từ, câu) và những quy tắc kếthợp đơn vị đó nhằm mục đích giao tiếp
Việc sử dụng ngôn ngữ không những ở dạng nói (có sự bổ trợ của cử chỉ,
điệu bộ…) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ngời có nhu cầu tiếp xúc, ngờimình muốn tiếp xúc Muốn nh vậy ngời viết phải sử dụng ngôn ngữ khôngnhững chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, mà viết chữ (sự mã hoá hình thức âm thanhcủa các đơn vị ngôn ngữ) biểu hiện ở con chữ đúng (hay đúng chuẩn chính tả)giúp cho ngời giao tiếp với văn bản hiểu đợc đúng ý của ngời viết
I - Cơ sở lý luận:
1- Một số vấn đề liên quan đến nội dung dạy học:
- Chữ viết Tiếng việt là chữ viết ghi âm Dùng chữ cái để ghi âm vị (hoặcghi âm tố) Vì vậy nguyên tắc cơ bản của chính tả Tiếng việt là nguyên tắc ngữ
âm học nguyên tắc ngữ âm học là nguyên tắc có tính chất biểu tợng Tuy nhiên
sự biến đối của chữ viết và ngữ âm trong quá trình phát triển ngôn ngữ không có
sự tơng ứng đồng đều Ngữ âm thờng xuyên biến đổi và biến đổi nhanh, rõ rệttrong khi chữ viết biến đổi ít và tơng đối chậm Các hiện tợng ngôn ngữ nh hiệntợng đồng âm, đồng nghĩa, các biểu thị phơng ngữ Xu hớng thống nhất ngônngữ phản ánh và biểu hiện ở ngữ âm và ở chữ viết khác nhau Nguyên tắc ngữ
âm học của chính tả đợc bổ sung bằng các nguyên tắc ngữ nghĩa và các nguyêntắc theo thói quen sử dụng chữ viết đã đợc xã hội chấp nhận
Môn chính tả không chỉ là môn học phát hiện mà còn là môn học ngănngừa và sửa chữa những vi phạm (sửa lỗi chính tả) chính tả Tiếng việt không đơngiản là cách theo sát ngữ âm, cách viết hoàn toàn giống nh nói Có nghĩa là chứcviết Tiếng việt là chữ viết ghi âm nói thế nào thì viết thế ấy Chính tả có xu h ớng
Trang 7thống nhất, chuẩn hoá, không phải là chính tả cho từng phơng ngữ, cho từng khuvực có biến thể ngữ âm Tiếng việt.
Nội dung chính tả bao gồm các quy tắc dùng chữ để viết âm tiết và một sốquy tắc viết chữ ngoại lệ (Trờng hợp chính tả không hoàn toàn tuân theo nguyêntắc ngữ âm học Dùng chữ và cách dùng chữ để viết âm tiết là nội dung chínhcủa chính tả Tiếng việt Viết đúng chính tả Tiếng việt là viết đúng các âm tiếttrong lời nói và trong văn bản viết Do đó muốn dạy chính tả đúng thì phải phát
âm cho chuẩn Mặt khác phải rèn kỹ năng nghe chuẩn Muốn vậy cần xác định
đợc phải "chính tả" hình nét các chữ (gọi là chữ cái) con chữ tơng đối với âmvị,chữ tơng đơng với âm tiết) đợc thể hiện bằng hình nét thành dạng chữ, kiểu chữ.Khi viết đòi hỏi không nhầm lẫn dạng chữ để tránh nhầm lẫn về ngữ âm về ngữnghĩa, đảm bảo sự thống nhất dạng chữ với biểu tợng ngữ âm
Song trong thực tế vẫn có ngoại lệ: có trờng hợp một âm đợc viết bằngnhiều chữ khác nhau
nghc
qMột chữ đợc thể hiện bằng nhiều âm khác nhau
Trang 8Trong Tiếng việt có rất nhièu phơng ngữ Mỗi vùng phơng ngữ họ có cáchphát âm khác nhau so với âm chuẩn Nhng chữ viết thì phải viết theo đúng chính
Chính tả Tiếng việt là chính tả ngữ nghĩa nên sự khác biẹt về chữ có khikhông thể hiện sự khác biệt về âm mà sự khác biệt về nghĩa
Hai tiếng khác nhau về nghĩa chứ không khác nhau về cấu tạo
Vì vậy trong quá trình dạy chính tả phải chú ý giải nghĩa các tiếng và giảinghĩa các từ
2 Nguyên tắc dạy học chính tả:
2.1 Nguyên tắc dạy chính tả theo khu vực:
Dạy chính tả theo khu vực nghĩa là nội dung giảng dạy về chính tả phải sáthợp với phơng ngữ Nói cách khác, phải xuất phát từ tình hình thực tế mắc lỗichính tả của học sinh ở từng khu vực, từng miền để hình thành nội dung giảngdạy, phải xác định đợc trọng điểm chính tả cần dạy cho học sinh ở từng khu vực,từng địa phơng Vì nh ta biết các phát âm địa phơng có ảnh hởng trực tiếp đếnchính tả Đối chiếu với âm, ta thấy cách phát âm của ba vùng phơng ngữ chính
đều có những chỗ cha chuẩn xác còn sai lệch Cụ thể:
Trang 9Hiện nay ở các vùng của huyện Con Cuông - Nghệ an.có hiện tợng phát
2.2 Nguyên tắc kết hợp chính tả có ý thức với chính tả không có ý thức:
ở trên đã nói tới những đặc điểm, những u thế của phơng pháp có ý thức
và phơng pháp không có ý thức trong việc dạy chính tả Vấn đề đặt ra là trongquá trình dạy chính tả cho học sinh, giáo viên không chỉ sử dụng một phơngpháp, mà phải sử dụng phối hợp hai phơng pháp này một cách hợp lý nhằm đạttới một hiệu quả dạy học cao Cũng cần nói rõ rằng, trong điều kiện nhà tr-ờng,việc sử dụng phơng pháp có ý thức vẫn đợc coi là chủ yếu Phơng phápkhông có ý thức cần đợc khai thác, sử dụng hợp lý các lớp đầu bậc tiểu học, gắnliền với những kiểu bài nh tập viết (tập viết kỹ thuật), tập chép Các kiểu bài nàynhằm giúp HS nhanh chóng làm quen với hình thức của các con chữ (Tự dạng),hình thức chữ viết của các từ Đây là những tiền đề, những xuất phát điểm rất cầnthiết đối với học sinh mới làm quen với hệ thống chữ viết của Tiếng việt Phơng
Trang 10pháp không có ý thức còn phát huy tác dụng khi giáo viên hớng dẫn học sinh ghinhớ các hiện tợng chính tả có tính chất võ đoán, không gắn với một quy luật, quytắc nào, nh viết phân biệt d/gi; tr/ch, l/n.
Trong nhà trờng, giáo viên cần sử dụng, khai thác tối đa phơng pháp có ýthức Muốn vậy, giáo viên cần phải đợc trang bị những kiến thức về ngữ âm học,
về từ vựng - ngữ nghĩa học có liên quan đến chính ta, cụ thể: Giáo viên phải biếtvận dụng những kiến thức về ngữ âm học Tiếng việt vào việc phân loại lỗi chínhtả phát hiện đặc điểm của từng loại lỗi, nhất là việc xây dựng các quy tắc chínhtả, các “Mẹo”, chính tả, giúp học sinh ghi nhớ cách viết một cách khái quát có
âm “cờ” viết là c
âm “gờ” viết là g
â “ngờ” viết là ng(Khi đứng trớc âm đệm - viết là u, thì âm “cờ” viết là g)
Ngoài ra, ngoài ra ta còn dựa vào những kiến thức về từ vựng ngữ nghĩa đểlập các quy tắc, các “mẹo” chính tả
Ví dụ: Những từ nghi ngờ viết tr hay ch, nếu chúng chỉ những đồ dùngtrong gia đình, thì hầu hết đợc viết là ch chai, chén chăn, chiếu, chảo, chum,chỉnh, chạm, chỏng, chậu…) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng
Tóm lại, phát huy tính có ý thức trong dạy chính tả sẽ tiết kiệm đợc thì giờ
và mang lại kết quả nhanh chóng, chắc chắn, cụ thể (có thể kiểm tra đợc ngay),
Trang 11hơn nữa, còn gây đợc hứng thú cho học sinh Nguyên tắc kết hợp chính tả có ýthức với chính tả không có ý thức đợc coi là nguyên tắc cơ bản, chủ đạo trongviệc dạy chính tả cho học sinh.
2.3/ Nguyên tắc phối hợp giữa phơng pháp tích cực với phơng pháp tiêu cực (xây dựng cái đúng, loại bỏ cái sai).
- Bên cạnh phơng pháp tích cực (cung cấp cho học sinh các quy tắc chínhtả, hớng dẫn học sinh thực hành luyện tập nhằm hình thành các kỹ năng kỹ xảochính tả), cần phối hợp áp dụng phơng pháp tích cực (tức là đa ra những trờnghợp viết sai chính tả, hớng dẫn học sinh phát hiện sửa chữa, rồi từ đó hớng họcsinh đi đến cái đúng) nói cách khác, việc hớng dẫn học sinh viết đúng chính tảcần tiến hành đồng thời với việc hớng dẫn học sinh loại bỏ các lỗi chính tả trongcác bài viết
- Về các lỗi chính tả của học sinh, trên đại thể có ba loại lỗi cơ bản sau:+ Lỗi chính tả do không nắm vững chính tự: Loại lỗi này thờng gặp khiviết các phụ âm đầu: d/gi; tr/ch; ng/ngh; s/x …) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng để sửa loại này học sinh cần nắmvững các quy tắc chính tả, nhớ kỹ mặt chữ trong các từ có phụ âm đầu dễ lẫnlộn…) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng
+ Lỗi chính tả do không nắm vững cấu trúc âm tiết Tiếng Việt Vì khônghiểu cấu trúc nội bộ của âm tiết Tiếng Việt nên học sinh viết thừa, viết sai
VD: Qúet sạch, qoanh co, khúc khuỷ, ngoằn ngèo…) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng Để sửa loại lỗi nàyhọc sinh cần hiểu âm tiết Tiếng Việt đợc cấu thành bởi mấy thành phần, lànhững thành phần nào, vị trí của từng thành phần trong âm tiết…) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng
+ Lỗi chính tả do viết theo lỗi pháp âm địa phơng hoặc do không nắmvững chính âm Loại lỗi này mỗi địa phơng sai một khác Có vùng viết d thành r,
có vùng viết l thành n…) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng để sửa loại lỗi này, học sinh cần nắm vững chính âmtrong Tiếng Việt, cần tập phát âm đúng chuẩn, tập viết nhiều lần những lỗi mà
địa phơng mình thờng mắc Cũng có thể xây dựng các “mẹo” để giúp học sinhviết đúng
Trang 12- Để học sinh sửa các loại lỗi chính tả theo hớng loại bỏ cái sai, xây dựngcái đúng, đi từ cái sai đến cái đúng, giáo viên có thể nêu ra những đoạn văn,
đoạn thơ trong đó có nhiều từ viết sai chính tả để học sinh tự mình phát hiện lỗitìm hiểu nguyên nhân sai và chữa lại cho đúng
- Phơng pháp tiêu cực giúp học sinh phát hiện óc phân tích, xét đoán đồngthời kiểm tra, củng cố đợc kiến thức về chính tả của học sinh Phơng pháp tiêucực chỉ nên coi là thứ yếu, có tính chất bổ trợ cho phơng pháp tích cực, Trongquá trình giảng dạy chính tả, giáo viên cần phối hợp một cách hợp lý, hài hoà và
có hiệu quả hai phơng pháp này
II - Cơ sở thực tiễn:
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chọn trờng tiểu học 2 Châu Khê - ConCuông Nghệ An để khảo sát và tiến hành thực nghiệm giảng dạy phân mônchính tả nhằm giúp học sinh viết đúng phụ âm đầu, phần vần và phân biệt đợcdấu hỏi, với dấu ngã
Trờng Tiểu học 2 Châu Khê là một trờng đóng trên địa bàn xã thuần nông.Nhân dân của xã hầu hết phát âm theo đặc trng phơng ngữ trung bộ
Trờng Tiểu học 2 Châu Khê gồm có 19 lớp / 554 học sinh
Đây là trờng nhiều năm liền đạt trờng tiên tiến cấp huyện tỷ lệ học sinh
đạt tốt nghiệp Tiểu học 99 - 100% Riêng năm học 2004 - 2005 học sinh tốtnghiệp Tiểu học 100% Xếp loại 2 mặt giáo dục năm học 2004 - 2005 nh sau:
Học lực:
Loại giỏi: 93 học sinhLoại khá: 184 học sinh
Trang 13Loại yếu: 5 học sinh
+ Bảng phụ: Ghi nội dung bài tập chép; bài tập chính tả
+ Bảng con: Ghi các từ, tiếng khó
+ Giấy khổ to: Có thể ghi BT, đoạn khó
+ Các thẻ chữ, con chữ
2/ Tài liệu dạy học: Chơng trình chính tả mới có cái đặc biệt là tên đợc
đổi mới
2.1/ Bài 1: Chính tả tập chép: Là hình thức chính tả đơn giản nhất có tác
dụng rèn luyện đồng thời cả kỹ năng đọc chữ viết và trình bày bài viết Trong bàitập chép học sinh đọc thầm văn bản in trong sách giáo khoa hoặc viết trên bảnglớp Mục đích của việc chép này là giúp học sinh nhớ mặt chữ, các từ, câu trong
đoạn Cơ sở lý luận của hình thức chính tả này là phơng pháp mô phỏng hay còngọi là phơng pháp rèn luyện theo mẫu Học sinh dựa vào văn bản mẫu đọc bằngmắt và chép bằng tay đúng hình thức của văn bản mẫu
Yêu cầu của việc tập chép này là học sinh đọc trơn đợc từng từ, từng cụm
từ, câu và chép liền mạch các âm tiết chứ không chép từng chữ cái trong âm tiết
2.2/ Chính tả nghe viết:
Nghe viết là hình thức chính tả đặc trng nhất của chính tả Tiếng việt Bởivì chữ viết Tiếng việt là chữ viết ghi âm Yêu cầu của hình thức này là học sinhnghe từng từ, từng cụm từ, câu do giáo viên đọc Vừa nghe vừa tái hiện lại hình
Trang 14thức chữ viết của từng từ, cụm từ tức là học sinh phải có năng lực chuyển hoá âmthanh thành chữ viết.
Học sinh phải viết đủ số âm tiết đã nghe viết đúng, nhanh theo tốc độ quy
định Đối với hình thức chính tả này học sinh phải nghe, nhớ, viết
- Việc nghe của học sinh phải gắn liền với việc hiểu nội dung của cụm từ,câu, văn bản, đoạn bài thì mới có thể viết đúng Bởi vì chính tả Tiếng Việt không
chỉ là chính tả ngữ âm mà là chính tả ngữ nghĩa
Xét về mặt phơng pháp dạy học thì việc đọc mẫu của giáo viên là quantrọng nhất Giáo viên phảu đọc chính xác, đúng với chính âm Giáo viên phải
đọc thong thả và ngắt hơi hợp lý
Sau mỗi cụm từ, câu giáo viên nhắc lại ba lần để học sinh theo dõi tốc độ
đọc: Phải phù hợp với tốc độ viết của học sinh
Trớc khi viết cần phải đợc bài chính tả một lần để học sinh nắm đợc kháiquát toàn bài, có ấn tợng về nội dung bài viết để có cơ sở mà viết đúng từng từ,nội dung các cấu trong bài
- Về mặt văn bản có 3 yêu cầu sau:
+ Phải chứa các hiện tợng chính tả cần dạy, mật độ càng cao càng tốt.+ Văn bản là phải có tính thẩm mỹ cao, phù hợp với lứa tuổi học sinh.+ Độ dài cảu văn bản phù hợp với yêu cầu của từng lớp
Quy trình của hình thức nhớ viết này có 2 bớc:
Bớc 1: Học sinh tái hiện lại hình thức, âm thanh của văn bản,
Trang 15Bớc 2: Học sinh chuyển hoá văn bản dới hình thức âm thanh, văn bản viết.
Phơng pháp dạy: Đối với hình thức chính tả này cần lu ý:
- Phải bố trí thời gian để học sinh tái hiện lại khi viết bài Tuy nhiên giáoviên nên có biện pháp tác động giúp học sinh tái hiện lại văn bản
- Phải lu ý trờng hợp dễ viết sai trong văn bản
Ví dụ: Điền vần ơn hay ơng
Mồ hôi mà đổ xuống v…) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng Dâuxanh lá tốt vấn v…) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng tơ tằmTuy nhiên đây là kiểu bài tập mở, đa ra nhiều phơng án luyện tập khác nhau(luyện viết đúng âm, vần, hanh dễ lẫn cho ảnh hởng của các phơng ngữ để giáo viên
và học sinh lựa chọn theo đặc điểm phát âm của địa phơng hay của bản thân họcsinh và những loại lỗi chính tả mà học sinh địa phơng thờng mắc phải
Trang 163/ Bài chính tả chơng trình mới có cấu trúc:
+ Phần bài viết và phần bài tập
- Phần bài viết: Bài chính tả “đoạn bài” không có luyện viết đúng Vậy cóphải không cần phần luyện viết đúng cho học sinh hay không? Mà họ để quyềncho giáo viên tự chọn các từ viết đúng cho học sinh ở địa phơng minh theo sựsáng tạo của giáo viên
Hơn nữa để cho đồng đều của cả khối 3 Ngời tổ trởng phải tập hợp các
đồng chí trong tổ mình và thống nhất bài tập để cho các em cùng đợc học các bàitập nh nhau dù là đợc tự chọn để phù hợp với phơng ngữ địa phơng cuả các em
Các dạng bài tập rất nhiều nhng dạng bài tập không phong phú
Cụ thể:
- Dạng bài tập điền vào chỗ trống (tr hay ch…) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng)
VD: Điền tr hay ch vào chỗ trống
Cuộn…) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng òn, …) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng.ân thật, chậm…) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng…) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng.ễ
(Tiết 1, tuần 3 SGK TV3 T1)
- Tìm các từ theo yêu cầu:
VD: Chứa tiếng bắt đầu bằng tr hoặc ch có nghĩa nh sau:
+ Trái nghĩa với riêng
+ Cùng nghĩa với leo
+ Vật đựng nớc để rửa mặt, rửa tay, rửa rau
(Tiết 2, tuần 3 SGK TV3 T1)
- Giải câu đố:
Trang 17VD: Vừa dài mà lại vừa vuông
Giúp học sinh kẻ chỉ, vạch đờng thẳng băng
(Là cái gì?)Tên nghe nặng tịch
VD: + Xây dựng quy tắc viết âm đệm
Hỏi: Khi bào thì viết 0 khi nào thì viết u? 0: Hoa, hoè…) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng
+ Quy tắc viết các âm chính u: Quả, quyển…) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ngKhi nào thì viết i
y
- Viết i khi có âm đệm và các từ láy thuần việt: ầm ì, í éo
- Viết y: Khi có cấu tạo âm tiết: y phục, y tá, quân y (trong các từ HánViệt)…) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng
+ Quy tắc viết các âm cuối:
- Khi nào thì viết: 0
u
- Viết O: Khi đứng sau âm chính là ao, eo, oeo, oao (báo, béo)
- Viết u: Viết trong các trờng hợp còn lại: Báu, hu, hầu, hơu
+ Quy tắc viết dấu thanh:
- Đặt dấu thanh ở trên hoặc dới chữ ghi âm chính
- Phát hiện lỗi sai chính tả
VD: Khi GV đọc cho học sinh viết 1 đoạn trong bài tập đọc
Trang 18- Khi chấm giáo viên cần phát hiện lỗi chính tả cho học sinh về dấu thanh.
Cụ thể:
Sáng hôm ấy, anh Đức Thanh dẫn Kim Đồng đến điểm hẹn Một ông ké
đã chờ sẵn ở đấy Ông mỉm cời hiền hậu:
- Nào, bác cháu ta lên đờng!
…) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng /
(TV 3 T1 - tuần 14 tiết 1)
- Hoạt động của giáo viên:
Giáo viên cần căn cứ vào từng địa phơng mình dạy, xem lỗi thờng mắc ở
địa phơng là những lỗi nào? Nếu nh giáo viên khi dạy cứ lệ thuộc vào sách giáoviên mà không có sự linh hoạt, sáng tạo thì sẽ dẫn đến kết quả đó là: Dạy các bàichính tả còn cha đi sâu vào các dấu thanh nên khi làm tập làm văn học sinh th-ờng sai Do dạy vừa thừa vừa thiếu nên các lỗi chính tả vẫn còn
Đó là cha kể đến sự bất đồng ngôn ngữ ở các vùng miền khi dạy chính tảgiáo viên không thắc mắc về quá trình mà thờng băn khoăn không biết chọn bàinào để dạy học phù hợp
Ch ơng II:
Đề xuất một số biện pháp
I - đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phân môn
chính tả lớp 3:
1/ Đối với giáo viên:
Để dạy đúng phân môn chính tả thì điều đầu tiên là ngời giáo viên phảiphát âm đúng và viết đúng các chữ của Tiếng việt Nếu phát âm cha chuẩn, viếtcha đúng thì hàng ngày phải tập uốn lỡi để phát âm cho đúng
Trang 19Trong các giờ dạy chính tả nghe - viết thì giáo viên phải đọc cho học sinhviết chứ không đợc chép bài viết lên bảng hoặc cho học sinh mở sách giáo khoa
để viết theo Mỗi câu giáo viên phải đọc 3 lần, đọc thong tả, rõ ràng, chính xác học sinh lắng nghe để viết theo
-Trong quá trình dạy chính tả giáo viên phải thờng xuyên cung cấp thêm một
số mẹo chính tả thờng dùng và một số quy tắc viết đúng chính tả cho học sinh
Ví dụ: Quy tắc viết đúng tr/ch…) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng
(Phần ví dụ này sẽ nói rõ ở phần hệ thống bài tập) Trong giờ chính tả giáoviên cần chú trọng đến phần luyện tập, xem đây là một nội dung cơ bản để họcsinh rèn luyện viết đúng và hiểu nghĩa các từ Nếu viết một bài chính tả phầnluyện tập thì chỉ chấm điểm bài viết 5 điểm còn 5 điểm nữa chấm phần bài tập.Trong quá trình chấm bài cho học sinh giáo viên cần dùng bút mực đỏ để gạchchân và sửa lỗi (Ngoài lề) mà học sinh thờng viết sai Sau đó trừ điểm theo mức
độ của học sinh thật cụ thể Để từ đó học sinh thấy đợc những lỗi sai của mình
mà khắc phục, sửa chữa trong những bài tới
ở phần bài tập luyện tập tôi thờng lồng ghép thêm một số bài tập về sửalỗi phụ âm đầu nh tr/ch, sửa lỗi về dấu thanh nh hỏi/ngã, sửa lỗi về phần vần nhay/ấy…) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng cho phù hợp lỗi mà phơng ngữ hay sai để học sinh luyện tập thêm
ở phân môn chính tả, mỗi tuần chỉ có 2 tiết, nên tôi chấm mỗi iết là 1/2 sốhọc sinh của lớp, khi chấm tôi chấm luôn cả phần trình bày cũng nh cách ghingày tháng để học sinh có ý thức khi viết bất kỳ một văn bản nào khác
2/ Về phía học sinh:
Thông qua các phân môn tập đọc, tập làm văn tôi thờng xuyên yêu cầu các
em học sinh dạy phát âm, đọc sai thì phải phát âm và đọc lại cho đúng trớc trớclớp bằng cách phân tích cho học sinh hiểu cách phát âm
VD: Khi học sinh phát âm tra cha đúng thì giáo viên phải hớng dẫn họcsinh cách đọc, đó là: Vốn đầu lỡi, lỡi chạm vào vòm cứng bật ra không có tiếngthanh Giáo viên phát âm trớc, học sinh phát âm sau, khi giáo viên làm mẫu thì
Trang 20giáo viên phải quay mặt xuống lớp để học sinh đó quan sát và làm theo Có thểcho học sinh đó đọc đi đọc lại nhiều lần.
Còn đối với các từ khó, học sinh hay viết sai thì giáo viên cần phải giảinghĩa để học sinh nắm đợc nghĩa và viết cho đúng
Ví dụ: “đòn bẩy” vật bằng tre, gỗ, sắt, giúp nâng hoặc nhắc một vật nặngtheo cách: Tì đòn bẩy vào một điểm tựa rồi dùng sức nâng, nhấc vật nặng đólên Thờng xuyên đề cao phong trào “Vở sạch chữ đẹp” Để đạt đợc điều đó yêucầu học sinh phải viết đúng chính tả, viết đúng quy trình các con chữ nh kích cởmoĩo chữ, chiều cao của con chữ? con chữ đó gồm mấy nét tạo thành…) mà còn ở dạng viết (văn bản) đến ng vào có ýthức giữ gìn vở ghi của mình Đồng thời giáo viên phải treo bộ chữ mẫu ở lớphọc để học sinh dễ dàng theo dõi hàng ngày để viết theo
II - Đổi mới nội dung dạy học:
- Nội dung dạy chính tả ở lớp 3 là luyện viết đúng các âm, vần khó, viết
đúng các tên riêng, các bài chính tả ngắn có nội dung gần gũi với lứa tuổi họcsinh Thông qua một số bài chính tả, học sinh còn đợc mở rộng vốn từ, mở rộnghiểu biết về cuộc sống
* Từ tình hình thực tiễn của học sinh trờng mình dạy, tôi thấy học sinhcòn viết sai nhiều về từ có phụ âm đầu tr/ ch, dấu thanh hỏi/ ngữ và phần vân ay/
ây Chúng tôi mạnh dạn đề xuất ý kiến về nội dung bài chính tả lớp 3
Qua nghiên cứu và thống nhất với Ban giám hiệu nhà trờng cùng với tổchuyên môn 2 - 3 về việc tăng cờng, bổ sung, hớng dẫn vào nội dung kiến thức
về phân môn chính tả (viết sai) phổ biến để dạy cho học sinh theo chơng trình đểthay thế những bài mà xét thấy không cần thiết đối với học sinh vùng mình bằngnhững bài có nội dung cần thiết (Mà sách giáo khoa cha đề cập đến) Giải quyết
đợc những tồn tại, những vớng mắc trong quá trình rèn luyện học sinh viết đúngchính tả Muốn thực hiện đợc điều đó thì trớc hết giáo viên phải điều tra, khảosát để nắm đợc những lỗi sai phổ biến của học sinh trờng mình dạy
Cụ thể ở trờng Tiểu học Quỳnh Thạch học sinh thờng mắc các lỗi khi nóicũng nh khi viết đó là: