Tôn giáo và tín ngưỡng là một phạm trù không thể thiếu trong đời sống tâm linh của con người. Nếu như vật chất về cơ bản phục vụ những nhu cầu hữu hình, đảm bảo cho sự tồn tại sinh học, sự tiếp nối sinh học, những ý muốn hiện hữu thì tinh thần dẫn nối con người với những mong muốn tồn tại trong tư duy và nhận thức, những ước vọng, nguyện ý làm cho con người được thỏa mãn về mặt tâm lý
Trang 1Tiếp cận tín ngưỡng phồn thực từ góc nhìn Phân tâm học
LỜI NÓI ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Tôn giáo và tín ngưỡng là một phạm trù không thể thiếu trong đời sốngtâm linh của con người Nếu như vật chất về cơ bản phục vụ những nhu cầu hữuhình, đảm bảo cho sự tồn tại sinh học, sự tiếp nối sinh học, những ý muốn hiệnhữu thì tinh thần dẫn nối con người với những mong muốn tồn tại trong tư duy
và nhận thức, những ước vọng, nguyện ý làm cho con người được thỏa mãn vềmặt tâm lý Tôn giáo (Religion) và tín ngưỡng (Belief) cũng không phải là ngoại
lệ Về cơ bản, tôn giáo (mang tính niềm tin cộng đồng) và tín ngưỡng (mangtính niềm tin cá nhân) đều có chung nguồn gốc tâm lý, đó là sự thần thánh hóacác hiện tượng tự nhiên, phi thường hóa mối liên hệ của con người đang sốngvới những người đã chết, gán niềm tin (vốn được các học giả Hoa Kỳ cho rằng,
là hình thái ý thức làm cho con người mang một sức mạnh thần kỳ, lại cũng làmột sự lệ thuộc cố hữu, nhưng điều đó lại làm cho con người khác hẳn con vật,
có hành vi lý tính phức tạp, khó kiểm soát, tạo ra bản chất Người không thểnhầm lẫn) vào ý thức của con người Là một dạng thức tín ngưỡng, tín ngưỡngphồn thực cũng không nằm ngoài điều đó Mối quan hệ giao tính vồn luôn là đềtại nhạy cảm nhưng lại gắn bó thiết thực với đời sống, do nó là một thành phầnkhông thể thiếu trong yếu tố cấu thành bản chất sinh học cũng như cấu trúc ra ýthức con người luân lý Với vai trò là một hình thức thể hiện mối liên hệ giữamối quan hệ giao tính vào hình thức sùng bái, đề tài tín ngưỡng phồn thực vốn
đã được nhiều học giả trong và ngoài nước xem xét từ trong các nghi lễ, hìnhthức biểu hiện, văn, thơ nói chung chứ chưa xem xét ở vai trò tâm lý hình thành.Với yêu cầu đó, người viết đã mạnh dạn sử dụng Phân tâm học - một môn khoahọc mới mẻ với nhiều lý thuyết đột phá về tâm lý, nhằm lấy đó làm cơ sở chophương pháp luận khi bước đầu nghiên cứu đề tài này Tuy là một môn khoa học
ít nhiều còn xa lạ, nhưng với sự nghiên cứu liên ngành và đa ngành nói chung,thì việc ứng dụng phân tâm học vào các ngành khoa học xã hội và nhân văn đã
Trang 2được thực hiện Chính vì lẽ đó, việc tiếp cận một tín ngưỡng từ góc độ chuyênngành này là một điều có thể chấp nhận được.
II Phương pháp nghiên cứu
- Khảo cứu tài liệu
- So sánh, đối chiếu
- Phân tích, biện luận
- Phương pháp liên ngành với các khoa học xã hội và nhân văn
III Kết cấu đề tài
Gồm 2 chương :
- Chương 1 : Các khái niệm
- Chương 2 : Luận giải tín ngưỡng phồn thực
Trang 3Chương I: Các khái niệm
I Tín ngưỡng phồn thực
1 Khái niệm tín ngưỡng phồn thực
Tín ngưỡng phồn thực (Tiếng Anh: Lingaism, Tiếng Pháp: Lingaisme, Tiếng Đức: Lingaismus) không phải là một khái niệm xa lạ trong việc nghiên
cứu văn hóa học nói chung cũng như lịch sử tôn giáo, tín ngưỡng nói riêng, dùvậy việc nhìn nhận khái niệm này ở môi cảnh văn hóa nào lại là một vấn đềđáng bàn
Về lý thuyết, trong ý thức hình thành, tồn tại cũng như phát triển sự sốngcủa loài người, đặc biệt trong thời kỳ mà nông nghiệp đóng vai trò cốt yếu, thì
sự tươi tốt của mùa màng, sức sống mạnh mẽ của cây trồng vật nuôi là một suynghĩ có tính thường trực Bên cạnh đó, để đảm bảo khả năng duy trì nòi giống,không loại trừ khả năng nâng số lượng lao động - điều mà kinh tế nông nghiệp(nhất là thời kỳ sơ khai) đòi hỏi như một yếu tố cơ bản, thì ước vọng sinh sôinảy nở cũng theo đó mà tạo lập một vị thế song song với mong muốn phát triểnnông nghiệp
Nếu tách bạch hai vấn đề này ra, thì rõ ràng vấn đề nông nghiệp chỉ baohàm các phương thức canh tác, khả năng làm thủy lợi, “Nhất nước, nhì phân,tam cần, tứ giống”; bên cạnh đó, việc chăn nuôi cũng chỉ dựa vào kinh nghiệm,giống – loài vật nuôi, các vấn đề về cảnh quan và môi trường để tạo nền tảng đilên Nói cách khác, yếu tố duy thức bản năng - một vấn đề cơ bản của phân tâmhọc mà sẽ được đề cập sau, không đóng vai trò chi phối cho việc : liệu nền kinh
tế này có bước tiến hay một sự thay đổi tuân theo mong muốn chủ quan của conngười hay không, hay vẫn có một thế lực siêu nhiên (supernatural force) có tácđộng nhất định đến vấn đề này, theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực phụ thuộcvào thái độ của con người Cũng với mạch tư duy như vậy, theo các nhà sinhhọc Mỹ, việc con người xuất hiện thì rồi cũng không nằm ngoài quy luật tựnhiên, tức là chỉ mang một nhiệm vụ cơ bản và tối thiểu là sao chép lại bộ nhiễmsắc thể của nhau, từ thế hệ này sang thế hệ khác như một hình thức đặt ở thếmặc định Mọi yếu tố không bình thường (paranormal factors) thiên về ý thức là
Trang 4điều bên lề và không có nhiều ảnh hưởng rõ rệt đến một hiện tượng được xemnhư tất yếu
Tuy vậy, khi đặt chung cả hai vấn đề vào để xem xét dưới góc độ phântâm học, đặc biệt là phân tâm học tôn giáo thì rõ ràng chúng mang một điểmchung rất rõ, đó là vô thức của con người về mong muốn sinh sôi nảy nở, về ýthức tính dục sơ khai - sự kết hợp giữa Trời Đất, Cha Mẹ, Đực Cái, trong mốiquan hệ giao hòa Một trong nguồn gốc ý thức cơ bản để khai sinh ra tín ngưỡng
và tôn giáo chính là ý niệm về các thế lực không thể nắm bắt cai quản sự sống,
sự tồn tại của vạn vật Sự bất lực của con người trước các vấn đề không thể giảithích trong giai đoạn mở đầu của tư duy, nhận thức đã khiến họ vật chất hóanhững hiện tượng tự nhiên, quy về một mối mà chúng ta gọi là Thần thánh Tínngưỡng phồn thực cũng không phải là ngoại lệ Nếu nhận thức khoa học cổ đạiquy chuẩn sự kết hợp nêu trên về Triết lý Âm Dương rồi từ đó giải thích vạn vậtthì lẽ dĩ nhiên, trong điều kiện mà nhận thức dân gian vẫn đóng một vai trò quantrọng thì việc khai sinh tín ngưỡng phồn thực không có gì đáng ngạc nhiên Tuyvậy, vấn đề này được nhìn theo quan điểm của lý thuyết phân tâm học, đặc biệt
là của Sigmund Freud thì có lẽ sẽ được xem xét như một hình thái ý thức có sẵncủa con người, được khẳng định và chỉ tìm phương thức biểu hiện ra bên ngoàitheo cách này hay cách khác, mà cơ bản là việc thờ cúng các sinh thực khí vàcác biểu tượng thể hiện cho bản thân hành vi giao phối, ngoài ra, các biểu tượng(symbole) hay các hành vi (comportement) cũng như nghi lễ (ritual, ceremony)khác được nhìn nhận từ góc độ của tín ngưỡng phồn thực thì cũng không nằmngoài những mục đích kể trên
2 Các hình thức biểu hiện
1.2.1 Tục thờ sinh thực khí
Sinh thực khí (Sinh = đẻ, thực = nảy nở, khí = công cụ) có thể coi là một
dạng ngẫu tượng (idolatrie) khắc họa chân thực bộ phân sinh dục nam và nữ,
tiêu biểu là hình tượng Linga và Yoni trong đạo Hindu Tục thờ này bắt nguồn
từ các tộc người ở lưu vực sông Indus thuộc chủng tộc Sumer và Dravida Nhưhọc giả Will Durant trong tác phẩm Lịch sử văn minh Ấn Độ đã viết : “Tín
Trang 5ngưỡng của họ gắn liền với thần thoại về thần Mẹ và sự thờ cúng âm lực, coi âmvật của đàn bà là nguốn gốc của mọi sự sáng tạo Bên cạnh thần Mẹ còn có thầnNam, biểu hiện bằng phiến đá hình dương vật”
- Linga hay Lingam có nghĩa là dấu hiệu (sign) hay đánh dấu (mark).
Về ý nghĩa, các học giả đều khá thống nhất khi cho rằng, nó là biểu hiện củanguồn sống, của sức sinh sản, nhưng nó chỉ mang ý nghĩa đó một cách trọn vẹnkhi đứng trong cặp đối ngẫu với Yoni (bộ phận sinh dục nữ, hay các học giảPháp cho đó là Tử cung) Nếu không, khi tồn tại dưới hình thức tự thân, Lingalại thuộc về lĩnh vực phi hình, không biểu hiện Như học giả Bansi Padit trongtác phẩm Hindu Dharma cho rằng, Linga là biểu tượng của thần Shiva, vị thầnHủy Diệt, một trong Tam vị Nhất thể (Trimurty) của Hindu giáo Linga là một
từ Sankrit được ghép bởi hai từ là laya (sự phân hủy, sự hòa tan)và agaman (sự
tái khởi tạo), nói cách khác, linga tượng trưng cho một thực thể mà trong đó, đi
từ sự phá hủy đến sự khởi tạo một chu trình mới của sự sống (cũng có ý kiến củamột số học giả Pháp như Jean Chevalier và Alain Gheerbrant thì cho rằng, từ
Linga có cùng gốc từ với langalâ, tức là cái cày, cái mai hay cái dương vật trong
tiếng Sankrit - tg) Điều này có thể thấy rõ trong các tượng Linga được chia làm
ba phần rõ rệt - phần đế hình vuông tượng trưng cho thần Brahmâ (Phạm Thiên)(thần Sáng tạo), phần giữa có hình tám cạnh, tượng trưng cho thần Vishnu (TỳNữu) (thần Bảo tồn) và phần đỉnh có hình trụ, tượng trưng cho thần Shiva (Thấp
Bà Thiên) (Thần Hủy diệt) Linga ở đây đi từ sự Sáng tạo đến sự Bảo tồn và kếtthúc ở sự Hủy diệt, một chỉnh thể thống nhất về sự quá trình chuyển hóa vậtchất, tuy vậy, thần Shiva cũng là một vũ công mang tầm vóc vũ trụ, và dưới điệumúa của thần, thế giới lại được tái sinh trong một diện mạo mới, bắt đầu chomột quá trình mới Còn theo Swami Sivananda, Linga mang ý nghĩa của một sựđánh dấu, đưa tới sự suy diễn Sự suy diễn này sẽ dẫn tới ý thức về Linga nhưTrục của vũ trụ, hay cái rốn (omphalos) của vũ trụ, mặt khác, nó cũng thể hiệncho hình ảnh đỉnh Kalaisa, nơi ngự trị của thần Shiva
Ở Việt Nam, Linga được thể hiện dưói dạng các tượng, các thạch trụ, cái
Nõ (cái nêm - Lõ) hay cái chày giã gạo … Nhiều người thì quan niệm theo lối
Trang 6đơn thuần thì cho rằng Linga chỉ là một mẫu gốc của cơ quan sinh dục nam,nhưng xét theo cả góc độ tôn giáo học lẫn văn hóa học, thì đó là một dấu hiệu,một hình tượng biểu thị rõ ràng cho nhịp điệu hình thành và hủy diệt vũ trụ Vũtrụ này được biểu hiện dưới nhiều hình thức, được thống hợp và tái sinh theođịnh kỳ trong thể đơn nhất nguyên sơ, mà ở đây là Linga
Hình 1 : Bản vẽ chi tiết Linga
Ở Trung Quốc, tương đương với Linga là một mảnh ngọc thạch, hình tam
giác kéo dài, gọi là Kuei Nó được đặt ở điểm chính giữa các chùa đền hay các
ngã tư hoặc các đỉnh núi với cùng ý nghĩa gợi lên sự thiêng liêng của hành visinh đẻ, của cuộc hôn phối âm dương thiêng liêng
- Yoni : có nguyên nghĩa là sự nắm giữ (hold) hay người nắm giữ
(holder) bộ phận sinh dục của nữ hay Tử cung, được biểu hiện dưới nhiều hìnhthức như đế hình vuông có rãnh; một hình ba cạnh lộn ngược, đỉnh quay xuốngdưới, ba cạnh là ba tính năng cơ bản của tự nhiên (tập trung, phân tán, lan rộng);hình tượng hang động (cave), các loại bình, lọ; cái Nường (Lường), cái cối giãgạo … Về cơ bản, Yoni tượng trưng cho sự chứa đựng năng lượng, theo cả hainghĩa là năng lượng vật chất và tinh thần Đó cũng là nơi chứa đựng tìnhthương, sự ấm áp, sự bao bọc cho những mầm sống, những phôi thai Trong cặp
Trang 7đối ngẫu với Linga, nó biểu hiện cho sự hiển lộ, sức sinh sản, thậm chí là cả sựtái sinh tinh thần Về mặt tôn giáo, Yoni là nơi thu nhận tinh dịch (semence -
biểu hiện của dòng chảy sự sống), là sự thể hiện cho âm lực (shakti) của thần
Shiva Trong sách Bhagavad Gitâ, tử cung được đồng nhất với thần Brahmâ như
sự khởi nguyên của vũ trụ, trong khi đó, ở các sách Puranâ, Yoni lại được đồngnhất với thần Vishnu trong mối liên hệ với thần Shiva, nói cách khác, thần Shiva
ở đây cũng được hiểu theo nghĩa tử cung của vũ trụ (do sự tái khởi tạo từ sựhủy diệt)
Ở một số tộc người ở Châu Mỹ, học coi cái Lỗ (hole) - cả thiên tạo lẫnnhân tạo, như cơ quan sinh dục của Đất Mẹ, mang nguồn năng lượng vĩnh cửu.Chính vì lẽ đó, trong một số nghi lễ đi săn (hunting rites), việc giao phối với MẹĐất là một cách để họ lấy được nguồn sức manh to lớn này
Hình 2 : Bản vẽ chi tiết biểu tượng Yoni
Trang 8Hình 3 : Tượng đá Yoni thế kỷ XII ở Bheragat Madhya Pradesh
1.2.2 Một số hình tượng (biểu tượng)
- Các thần cai quản việc sinh đẻ, sự sinh sôi nảy nở, các ý nghĩa tính
Hera : Nữ Thần của hôn nhân, gia đình và làm mẹ.
Aphrodite : Nữ Thần của sắc đẹp và tình yêu, tượng trưng cho sự không
thể kìm hãm của sức sản sinh
Artemis : Nữ Thần săn bắn, chủ trì sự ra đời và phát triển của sinh linh.
d, Các thần khác :
Aristaeus : Nữ Thần của gia súc, chăn nuôi.
Eileithyia : Nữ thần của sự sinh con
+ Trong thần thoại La Mã
Trang 9Tiêu biểu nhất là hai nữ thần Venus, về sau được đồng hóa với nữ thần Aphrodite, và nữ thần Diane, chủ trì việc sinh sản, tồn tại và phát triển của muôn loài Ngoài ra còn có nữ thần Déméter, Mẹ Đất vĩ đại
+ Trong thần thoại Ấn Độ
Nữ thần Parvati (vợ của thần Shiva) là sự thể hiện cao cả nhất cho âm
lực và nghĩa vụ sinh đẻ thiêng liêng của cư dân Ấn Độ
- Biểu tượng Bộ ngực (sein) : thể hiện rõ ràng cho bản nguyên nữ,
tượng trưng cho sự che chở và sự chừng mực Gắn liền với khả năng sinh sản vànuôi dưỡng, bộ ngực là nơi sinh ra nguồn Sữa như sự kết tinh cao nhất về tìnhthương, sự dịu dàng cũng như sự tin cậy
- Biểu tượng Ngón tay cái (thumb) : tượng trưng cho dương vật, quyền
lực tối thượng của dương tính
- Biểu tượng Quả cam (orange) : thể hiện cho sự sinh sản, một số bộ tộc
còn lấy đó làm món quà để cầu hôn
- Biểu tượng Bò cái (vache) hay Lợn nái (truie) : Ở Ai Cập, bò cái là
cội nguồn của vũ trụ hữu hình, mẹ của Mặt trời Trong chức năng thể hiện cho
sự sinh đẻ, hình tượng bò cái Hathor được coi là điển hình trong thần thoại AiCập Nó vừa thể hiện cho sự phì nhiêu, sự giàu có, là bản chất của sự phục sinh,của niềm vui Ở vùng Lưỡng Hà, hình tượng Mẹ vĩ đại hay Bò cái vĩ đại cũngđược Jean Chevalier đánh giá như một nữ thần phồn thực Ở người Đức cổ, con
bò cái dưỡng sinh tên là Audumla là bạn gái của Ymir, người khổng lồ đầu tiên;Audumla được coi là thủy tổ của sự sống, là biểu tượng phồn thực tiêu biểu Đặcbiệt ở Ấn Độ, bò cái là mẫu gốc của người mẹ mắn con , của bản nguyên âmtuyệt đỉnh
Trang 10
Hình 4 : Bò cái Cũng cùng mang ý nghĩa như vậy, hình tượng con lợn nái cũng được thầnthánh hóa như biểu hiện cho sự sinh đẻ dồi dào và sự sung mãn Chính vì lẽ đó
mà người Ai Cập thể hiện hình tượng nữ thần Nout - hiện thân của bầu trờitrong cuộc hôn phối với Đất, trong hình tượng một con lợn nái Ở La Mã, lợnnái cũng thường được dùng để cúng tế Déméter, Mẹ Đất thiêng liêng và cao cả,nguồn cội của mọi sự sống đã, đang và sẽ tồn tại Lợn nái biểu trưng cho chứcnăng sinh đẻ thần thánh của phụ nữ
Hình 5 : Lợn nái
- Biểu tượng Cừu đực (Bélier) : biểu hiện cho sức sinh sản mãnh liệt
đánh thức vạn vật Ở Châu Phi, học giả Marcel Griaule đã dẫn chứng ra hình
Trang 11tượng con Cừu Đực Trời - thần nông nghiệp, đứng bên bắp ngô dựng đứng, đuôinối trực tiếp với đầu rắn như một biểu tượng phồn thực mãnh liệt.
Hình 6 : Cừu đực
- Cái Cày (charrue) và Sự đi cày (labourage) : Cái cày được coi là biểu
tượng cho sự làm cho thụ tinh do lưỡi cày giống như cơ quan sinh dục nam xâmnhập vào luống cày là cơ quan sinh dục nữ Nói cách khác, hành động đi cày là
sự hợp nhất của hai bản nguyên, của Trời và Đất, tức là sự sinh sản và mùa thuhoạch Chính vì lẽ đó mà trong sử thi Ramayana, vợ của Rama có tên là Sita(luống cày), tương truyền bà sinh ra từ đường cày được xới lên bằng lưỡi cày -hóa thân của thần Vishnu Việc đi cày được coi là một hành động siêu lý choviệc giải phóng nguồn năng lượng của Đất; do đó, ở Trung Hoa, đường cầy đầutiên phải do một cặp nam nữ thực hiện, đôi khi phải đi kèm với hành vi giao cấu.Điều đó đảm bảo cho việc sinh sôi nảy nở của mầm sống và cây trồng, một sựkết hợp thiêng liêng không chỉ của loài người mà cao hơn thế, là của những thếlực thiên nhiên cai quản vạn vật
Trang 12
Hình 7 : Đi cày
Hình 8 : Cái cày
- Biểu tượng cái Chày (pilon) : Hình dạng giống cơ quan sinh dục nam
đồng thời, nhịp lên xuống của cái chày được đồng nhất với trục sinh ra vạn vật,chính vì lẽ đó mà trong văn hóa Ấn Độ, cái chày được đồng nhất với linga ởnhiều phương diện
Hình 9 : Cái chày
1.2.2 Hành vi giao phối
Trang 13Đây là một hình thức thờ tín ngưỡng phồn thực khá đặc biệt, phổ biến ởkhu vực Đông Nam Á Không coi đó là một hành vi mang tính đời thường thì rõràng đây là một cách tả chân để khắc họa tín ngưỡng phồn thực ở mức cao độnhất để có thể cảm nhận trực tiếp bằng giác quan, đơn cử là thị giác Các hìnhtượng trên các bức phù điêu, các bức tượng hay trên các sản phẩm đúc đồng ởthời kỳ muộn, mà có thể lấy ví dụ là thạp đồng Đào Thịnh :
“Trên nắp thạp đồng tìm được ở Đào Thịnh (Yên Bái, niên đại 500 nămtr.CN), xung quanh hình mặt trời với các tia sáng là tượng 4 đôi nam nữ đanggiao hợp Ở thân thạp khắc chìm hình những con thuyền, chiếc sau nối đuôichiếc trước khiến cho hai con cá sấu - rồng được gắn ở mũi và lái của hai chiếcthuyền chạm vào nhau trong tư thế giao hoan Hình chim, thú, cóc, giao phốitìm thấy ở khắp nơi.”1
Ngoài ra, với các lễ hội có quy định về sự va chạm giữa nam và nữ (HàSơn Bình), hay điệu “tùng dí” ở Phú Thọ đều thể hiện hành vi này, chỉ khác ởchỗ mức độ thể hiện mà thôi
Dĩ nhiên là trong khuôn khổ của một báo cáo khoa học, tác giả khó lòngtrình bày toàn bộ những ký hiệu hay biểu tượng có cùng những ý nghĩa kể trênnhư hình tượng con cóc trên trống đồng (vốn đã được rất nhiều nhà khoa học đềcập) hay hình thức “tắm tiên” (sẽ đề cập bằng phân tích ở chương sau) … nhưng
có thể nói chúng ít nhiều đều được nhìn nhận dưới góc độ tín ngưỡng phồn thựcvới đầy đủ lý luận xác đáng
II Phân tâm học
1 Khái niệm Phân tâm học
Phân tâm học (Tiếng Anh: Psychoanalysis, Tiếng Pháp : Psychanalyse, Tiếng Đức : Psychoanalyse) là một tập hợp lý thuyết và phương pháp có xu
hướng theo tâm lý học (và chỉ là xu hướng chứ không đồng nhất với tâm lý học
do không cùng dạng đối tượng nghiên cứu – tg) nhằm nghiên cứu cái vô thức
của con người, được nhà tâm lý học, thần kinh học người Áo gốc Đức Sigmund Freud đề xướng từ thập kỷ 90 của thế kỷ XIX Cái vô thức (unconscious -
1 Trần Ngọc Thêm – Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Trường Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí
Trang 14l'inconscient - unbewusste) được diễn giả dưới nhiều hình thức, bao gồm như
ba cấp độ của tâm thức của con người :
- “Cái ấy” (es) là cái bể chứa bí mật, khó tiếp cận, gồm cái bẩm sinh
cũng như cái bị chèn ép, hoàn toàn thoát khỏi ý thức con người và chỉ nhận biếtgián tiếp qua giấc mơ, triệu chứng…
- Trái lại, “cái tôi” (ich) mặc dù cũng phần nào là không có ý thức, lại
bao gồm sự tiếp xúc có lý trí với thế giới bên ngoài và gồm các cơ chế phản vệ
để bảo vệ con người trước những kích thích có tính áp đảo Không có “cái tôi”(ich) thì cũng không có sự tự kiểm soát, và dĩ nhiên, sẽ không có văn minh
- Cuối cùng, cái thứ ba là “cái siêu tôi” (überich), nó tương tự như lương
tâm, mặc dù một phần của cấp độ này cũng là không có ý thức Ở đây, chủ yếuxảy ra các xung đột nội tâm mà ngay cả những người khoẻ mạnh nhất, vữngvàng nhất về tâm lý cũng phải chịu đựng chúng.2
Ngoài ra, vấn đề lý giải giấc mơ như một không gian chiều thứ năm,không gian duy nhất mà vô thức và ý thức xây dựng riêng cho bản thân conngười một thế giới riêng biệt, phản chiếu và dự báo các vấn đề liên quan đến đờisống xã hội mà căn cứ là chủ thuyết tâm linh cá nhân Freud gọi đó làTraumdeutung (ý nghĩa giấc mơ) một vấn đề đặt ra cho phân ngành giải mộng
và đoán mộng, rất có tác dụng trong nghiên cứu tâm bệnh học, đặc biệt là cácvấn đề Hysteria (một dạng bệnh tưởng) - vốn là đề tài mà Freud rất quan tâm
Nhưng, vấn đề mà đặc biệt liên quan đến đề tài này chính là luận thuyếtcủa ông về libido (tính dục) trong vai trò như nguyên lý điều chỉnh hoạt động ýthức và hoạt động hành vi Freud coi đó như nền tảng để lý giải động cơ(motive) cho mọi hành xử của con người, được quy chuẩn về một hình thái ýthức nguyên sơ nhất, cơ bản nhất, ẩn sâu trong bản thân con người Trong đờisống, bằng cách này hay cách khác, hình thái này được bộc lộ ra theo nhiềuhướng, trở thành một trạng thái đa tuyến tính nhằm biểu hiện bản năng gốc(basic instinct) của con người Dù rằng, việc lấy tính dục làm cơ sở cho mọi luậngiải có thể coi là hơi khiên cưỡng, tuy vậy, Freud đã giải quyết được một vấn đề
2 Ngụy Hữu Tâm – Chân dung nhà tâm lý học : Sigmund Freud và học thuyết phân tâm, Tạp chí Tâm lý học năm 2005
Trang 15mang tính nhân bản, đó là đi sâu khai thác những ẩn ức được kìm nén và bị ápchế của con người, những phức thể vốn bị “cái văn hóa” khống chế, kiểm soát,
và điều tiết nhằm đưa những tư tưởng đó vào những khuôn mẫu chuẩn mựcđược xã hội thừa nhận như là mẫu số chung Nhưng rõ ràng, đưa vào làm cáichung (common) không đồng nghĩa với việc phủ nhận sự tồn tại của nó mà chỉ
là nhìn nhận nó một cách khoan hòa hơn, và Freud – trong cố gắng của mình, đãtrả tính dục về đúng cái chức phận của nó trong lý thuyết nhằm khai thác ýnghĩa thiết thực của nó trong đời sống, đặc biệt là hỗ trợ con người trong việcgiải tỏa những vướng mắc tâm lý
Sigmund Freud định nghĩa văn hóa theo nghĩa hẹp, tức là tổng thể nhữngcấu trúc, hoạt động được tạo ra, sử dụng nhằm khai thác tự nhiên để đưa conngười sang một vị thế mới, vượt xa con vật về mọi mặt, đồng thời có khả năng
Trang 16tạo ra các mối quan hệ giữa người với người và xử lý chúng theo cách hợp lýnhất Một khi đã có khái niệm thi Sigmund Freud cũng hiểu chức năng của vănhóa là tiết chế cái “tự nhiên“ bằng sự chèn ép, trấn áp theo những khuôn khổđịnh sẵn được cộng đồng chấp nhận, song song với đó là tạo ra những phươngthức để biểu hiện cái “tự nhiên“ theo cách để dung hòa với xã hội Tuy nhiên, doquá đề cao sự thoát thai của cái “tự nhiên“ mà Freud đã nhìn nhận văn hóa cóphần sai lệch, vì vậy, trong nghiên cứu nói chung, việc sử dụng đồng thời những
lý thuyết của phân tâm học cổ điển do Freud tạo dựng cùng với những quanđiểm phân tâm học hiện đại do những học trò của ông khởi xướng như C.G.Jung hay của E.Fromm là việc đúng đắn nhằm xây dựng một cái nhìn khoa họcchắc chắn và toàn diện nhất trong khả năng Ngoài ra, với phương pháp tiếp cậnliên ngành, việc ứng dụng những luận điểm của ngành Nhân học tôn giáo(religional anthropology), Tâm lý học tôn giáo (religional psychology), Biểutượng học (symbology), Mỹ học (aesthetics) được coi là một cách thức hữu hiệu
và có giá trị Theo đó, tác giả tin rằng bước đầu có thể luận giải tín ngưỡng phồnthực theo một phương pháp mới, đi sâu khai thác động cơ tâm lý chứ không phảitheo lối thể hiện tín ngưỡng này, vốn đã là đề tài nghiên cứu và khảo nghiệm củanhiều học giả trong và ngoài nước Dĩ nhiên, khi đề cập đến vấn đề ý thức, takhông sa vào quan điểm siêu hình (métaphysique) hay chủ nghĩa duy tâm mà về
cơ bản, phải đi sâu vào nghiên cứu để tìm ra ý nghĩa của tín ngưỡng này theoquan điểm biện chứng, có logique và có luận điểm rõ ràng Chính vì lẽ đó, cáchọc thuyết của C.G Jung, với một cách nhìn nhận có tính tương đối dễ chấpnhận hơn, cũng như lối tư duy vấn đề của E.Fromm về tôn giáo đứng từ vị thếnhững nhà phân tâm học kế tục sự nghiệp của Freud được coi là những căn cứmang đậm tính nhân văn và tính duy vật, đủ sức nặng khoa học để đứng vữngtrên lập trường phân tâm học mà không xa rời lý thuyết vốn có của bộ môn khoahọc này Theo nhận định chủ quan, do có những khác biệt nhất định trong tư duycủa hai nhà khoa học là Freud và C.G Jung (là hai học giả chính mà tác giả lấy
hệ tư tưởng làm hằng số tham chiếu) nên những vấn đề, đặc biệt là vấn đề Tínngưỡng phồn thực trong vai trò Biểu tượng còn cần phải đi sâu nghiên cứu Ở
Trang 17nước ta, qua một số tác phẩm dịch (tuy chưa nhiều do hầu hết là bằng tiếng Đức,hoặc nếu có thông qua ngôn ngữ khác thì khả năng chuyển ngữ sao cho nêuthoát được ý cần diễn giải cũng rất khó khăn - tg) hoặc qua nghiên cứu của một
số học giả mà tiêu biều là Giáo sư, Bác sỹ Nguyễn Khắc Viện thì việc nắm bắtphần nào lý thuyết phân tâm học cũng đã được giải quyết Tuy nhiên, do đâycòn là một ngành khoa học mới mẻ, lại thuộc về tâm lý - vốn rất phức tạp và gâytranh cãi nên trong điều kiện chung của giới học giả là chưa thể nêu ra hết đượcnhững luận thuyết phân tâm học Chính vì vậy, trong tương lai, bắt buộc phải cónhững những khảo nghiệm kỹ hơn về chuyên ngành này nhằm phát triển mộtnền tảng lý thuyết làm cơ sở tham vấn cho các ngành khoa học khác như vănhóa học, nghệ thuật học, mỹ học, biểu tượng học, bệnh học tâm thần …
Trang 18nhìn nhận không chỉ trong sự duy danh, định nghĩa đơn thuần từ góc độ ngônngữ mà còn được đối chiếu qua các hình thức thể hiện, các ý nghĩa biểu trưngnhằm làm sáng rõ ý nghĩa thiết thực của loại hình tinh thần này Song song với
đó là việc đưa ra được một khái niệm bao quát về ngành khoa học Phân tâm, vừa
xa lạ nhưng lại vừa rất quen thuộc đối với các nhà nghiên cứu khoa học xã hội
và nhân văn Việc đưa ra những lý thuyết cơ bản của ngành khoa này là nhằmtạo ra được những hình dung có tính dẫn đường cho việc nhìn nhận khoa họcnày như một chỗ dựa lý luận của đề tài
Chương 2 : Luận giải tín ngưỡng phồn thực
I Luận giải tín ngưỡng phồn thực ở khía cạnh Biểu tượng
1 Lý luận chung
Trang 19Phân tâm học cổ điển và phân tâm học hiện đại (hay tâm lý học phân tích,theo cách gọi của Jung, do thời kỳ sau, ông mang những quan điểm trái ngượcvới lý thuyết của Freud) đều quan tâm đến vấn đề Biểu tượng Theo Freud, nộidung mà ý thức cung cấp gợi ý cho vô thức được coi là Biểu tượng Trong khi
đó, theo luận cứ của Jung, ông lại cho rằng những điều này không phải là Biểutượng theo đúng nghĩa của nó mà đơn thuần chỉ là những dấu hiệu (sign) haytriệu chứng (symptom) được biểu hiện ra bề ngoài dưới hình thức này hay hìnhthức khác Để đạt được nguyên nghĩa của Biểu tượng, sự thể hiện đó phải vượtquá tầm lĩnh hội, đồng nghĩa với việc, nếu chúng ta chỉ hiểu ở nghĩa đen thìkhông thể vượt quá nó để tự thân tìm ra chân lý nền tảng Do tính không nhấtthiết phải có một đặc tính rõ ràng để cấu thành Biểu tượng, nên có thể coi bất cứthứ gì cũng là Biểu tượng, ở dạng này hay dạng khác Do đó, tín ngưỡng phồnthực, theo lí lẽ kể trên, chắc hẳn cũng là một Biểu tượng chứ không chỉ thuầnnhất trong khái niệm tinh thần hình thức Vấn đề đặt ra là chúng ta hiểu nó theogóc độ nào Mỗi cá nhân đều có sự luận giải cho riêng mình về ý nghĩa và giá trịBiểu tượng, tùy thuộc vào nhận thức của bản thân xem xét nó theo quan điểm gì,lấy gì làm hệ quy chiếu, lấy gì để so sánh, dựa theo tư duy nào để định hình.Theo Cirlot, có thể chia Biểu tượng ra làm ba loại :
- Biểu tượng quy ước bao gồm những hằng số như các Biểu tượng trongcông nghiệp hay trong các khoa học tự nhiên đòi hỏi sự diễn giải dưới dạngcông thức có tính chất toán học
- Biểu tượng ngẫu nhiên, do các tiếp xúc chuyển tiếp mà ra
- Biểu tượng mang tính phổ biến (có thể phổ biến trong một cộng đồng,một khu vực lãnh thổ, nhưng tựu chung là được sự chấp nhận của số đông), thểhiện mối quan hệ nội tại giữa bản thân Biểu tượng và bất kỳ những gì mà Biểutượng tượng trưng
Theo ý kiến chủ quan, ta có thể xếp tin ngưỡng phồn thực vào loại thứ ba,với ý nghĩa nội hàm của nó là đại diện tinh thần cho sự sinh sôi nảy nở của vạnvật, tiêu biểu cho cây trồng vật nuôi và con người Rõ ràng, với những hình thứcbiểu hiện mà qua đó định nghĩa cho ta khái niệm Tín ngưỡng phồn thực trên thế
Trang 20giới thì nó hoàn toàn mang đầy đủ các đặc trưng để được chuyển tiếp về mặtnhận thức thành một Biểu tượng trong ngôn ngữ và tư duy Theo đó, nó sẽ chứađựng các thành phần như sau :
- Biểu tượng trong nó và chính nó (hay cái nó chứa đựng và sự biểu hiệnnội hàm)
- Sự liên kết của nó với chức năng thiết thực (sự gắn kết với thực tiễncuộc sống ở một phương diện nào đó)
- Ý nghĩa siêu hình (metaphysical meaning)
Với vai trò đã được xác lập như thế, tín ngưỡng phồn thực tự thân nó đã
đề ra cho mình những diện mạo đi kèm nhằm khai triển chính bản thân nó cho
sự nhận thức của con người, nhào nặn cũng như quy định cho con người một lốihành xử được một cộng đồng chấp nhận với một hiệu lực vượt tầm ý nghĩa Khi
đã là một biểu tượng, nó có tác động nhất định đến tâm lý; khi nó xác định làmột tín ngưỡng (belief), nó càng có ảnh hưởng tới niềm tin cá nhân của ngườiủng hộ nó, quy phục nó, thần thánh hóa nó theo chức năng chi phối, kiểm soát
và tiết chế Nói cách khác, nó hội đủ điều kiện để tạo ra những xúc cảm, có tínhchức năng, tính động lực, huy động được toàn bộ tâm trí con người trong mộtkhoảng thời gian nhất định (các nghi lễ chẳng hạn)
2 Nguồn gốc hình thành dạng biểu tượng Tín ngưỡng phồn thực
Vậy, đâu là cơ sở cho sự hình thành cho một hình thức tín ngưỡng như
vậy ? Theo Jung, ta có thể gọi cái nguồn gốc (origine) đó là mẫu gốc (archétype), hay theo ý kiến của Freud, ở nghĩa hẹp hơn, coi đó là những huyễn tưởng nguyên thủy Theo đó, nó được Freud định nghĩa như là những cấu trúc
huyễn tưởng điển hình (cuộc sống bào thai, kịch cảnh nguyên thủy, thiến hoạn,quyến rũ ) được phát hiện, coi là sự tạo thành cuộc sống huyễn tưởng, khôngphụ thuộc những trải nghiệm cá nhân của các đối tượng Freud coi đó là một disản được truyền lại theo con đường phát sinh loài, kế tiếp nhau qua con đườngduy trì ý thức từ thế hệ này sang thế hệ khác Tuy nhiên, nếu hiểu theo nghĩa đó,phải chăng tín ngưỡng phồn thực được sinh ra từ những ức chế tâm lý cần tìmlối thoát ? Nếu như vậy, liệu qua các thế hệ, lối thoát ấy có là phù hợp hay phải
Trang 21có những biến đổi thích hợp phụ thuộc vào hoàn cảnh, do không phải ức chế củathời kỳ nào cũng giống thời kỳ nào, chưa kể đến các mức độ của ức chế tâm lýnhằm đạt đến ngưỡng cần tìm biện pháp giải phóng ? Rõ ràng, nó không đơnthuần chỉ dựa vào những ức chế mà kết cấu thành một dạng thức tín ngưỡng như
vậy Hãy xem qua lý thuyết của Jung Mẫu gốc hay siêu tượng là tập hợp
những biểu tượng ăn sâu trong vô thức dến mức đủ để tạo thành một mạng lưới
ký tích (theo cách gọi của Jung) Vậy là trong ý thức của con người, nó tự thân
trở thành những dạng tiền tạo (tức là được hình thành từ trước do những vachạm tâm lý với môi trường khách quan), được phân loại theo các kiểu tâm lý (ởtín ngưỡng phồn thực là tín ngưỡng muốn có sự sinh sôi nảy nở ) được sắp xếptheo các cấp độ Ngoài ra, nó không chỉ tự đưa vào cấu trúc (structure) mà cònmang vai trò định hướng một cách có mục đích, nghĩa là những tập hợp có khảnăng phô bày cảm xúc và gây xúc động được định hình khối, mang theo đó sựnăng động và sáng tạo của tư duy Dĩ nhiên là trong khoảng thời gian kéo từ thời
kỳ nguyên thủy cho đến nay, đó vẫn là những kết cấu tâm thức được số đôngbiết đến, chấp nhận, truyền bá; được biến thành một đặc tính bẩm sinh, có thểthừa kế liên tiếp về mặt tâm lý, hay nói cách khác, nó biến thành một thứ ý thứctập thể Tín ngưỡng phồn thực bao quát đầy đủ những đặc điểm trên Thêm vào
đó, mỗi một mẫu gốc đều có khả năng thúc đẩy cũng như góp phần vào sự pháttriển nhân cách, mà ở đây, ta gọi đó là nhân cách tôn giáo hay nhân cách tínngưỡng Với ý kiến của Jung, chúng ta có mẫu gốc như một hình thức tái tạonhững ý tưởng giống hoặc có đặc điểm tương đồng hay một trạng thái cấutrúc gắn bó mật thiết với tâm thần, thậm chí, về mặt sinh học, có liên hệ với não
bộ Tuy vậy, đó chỉ là lý thuyết chung, còn thực tế, nó có thể thay đổi tùy theocác thời đại (era), các tộc người, các cá nhân độc lập Chúng trở thành một hệtổng hợp các hình ảnh đa dạng về biểu hiện, song chúng ta không vì lẽ đó mà bỏqua sự hình thành có tính cá thể của chúng hay đồng nhất nó với sự điển hình
mà không chú tâm tới các phức thể (complex) có tác động tới nó, vì mẫu gốctrong tiềm thức được coi là sự nối liền tính phổ biến với cái cá thể tự thân
Trang 22Ngoài ra, khi nhắc đến biểu tượng trong tín ngưỡng phồn thực, không thểkhông nhắc tới hệ biểu tượng Với những ví dụ đã nêu ở chương I, có thể thấyngay rằng, hệ biểu tượng này có mối quan hệ và và những sự giải thích gắn liềnvới một biểu tượng chung, bao quát nhất (ở đây là tín ngưỡng phồn thực) haygắn liền với một truyền thống (sự thờ cúng hay các nghi lễ có tính quy phạm chotín ngưỡng phồn thực chẳng hạn) Với lối nhận thức như thế, ta mới có thể cóđược cái nhìn tổng thể về những biểu tượng như thế ở Việt Nam, như chùa MộtCột với hồ sen vuông, Khuê Văn Các với Thiên Quang Tỉnh, Tháp Bút và ĐàiNghiên, các trò chơi dân gian như ném còn, đánh phết
Vốn dĩ phải đưa vấn đề Biểu tượng và hệ biểu tượng gắn với tín ngưỡngphồn thực như vậy, là do theo J Lacan, đó là một trong ba vấn đề cốt yếu cầnnghiên cứu khi khảo nghiệm Phân tâm học, bên cạnh đó là trí tưởng tượng và cáithực tại Theo ông, hệ biểu tượng cũng là một dạng “ngôn ngữ“ mà Phân tâmhọc có nhiệm vụ phải tìm ra quy luật cấu thành, cũng như diễn giải được ý nghĩacủa chúng Đối với Freud, hệ biểu tượng có ý nghĩa ổn định và được nhận diệntrong các sản phẩm khác nhau của vô thức Ông nhấn mạnh đến vai trò của biểutrưng và sự được biểu trưng (quan hệ bao hàm) theo phân tâm học cổ điển, cònvới Lacan, lại chú trọng xem xét cấu tạo và cách sắp xếp biểu tượng để từ đó rút
ra ý nghĩa chung nhất mà biểu tượng đó mang đến cho nhận thức con người.Theo cách hiểu đó, thậm chí cả nhà dân tộc học người Pháp Lévy Strauss cũngphần nào đồng tình, và cho rằng văn hóa - ở một khía cạnh nào đấy, là tập hợpcủa các hệ biểu tượng Tín ngưỡng không nằm ngoài vấn đề đó, cũng có nghĩa làtín ngưỡng phồn thực hiện diện trong đối tượng nghiên cứu của Phân tâm học
3 Lý luận về Biểu tượng và chức năng đi kèm
Ngược dòng lịch sử, ta đã coi mọi sự vật hiện tượng hiện hữu đều có thểquy về biểu tượng Hãy xem xét ý kiến của học giả Pierre Emmanuel, ta thấyngay được rằng, việc đưa tín ngưỡng phồn thực vào làm Biểu tượng là một điềuđúng đắn Ông cho rằng, không chỉ có các vật định hình mà thậm chí cả cáckhuynh hướng, một hình ảnh có tính ám ảnh, một giấc chiêm bao vụt đến cònlưu lại trong ký ức, một hệ thuật ngữ chuyên môn (lingo system, système des
Trang 23termes), một vài định đề nào đó có sự xác thực đều có thể trở thành biểu tượng.Vấn đề ở chỗ là chúng có chứa đựng những năng lượng tinh thần (spiritualenergy) đủ để nâng nó lên mối quan hệ giữa một hình thái nắm bắt được (hay cáichứa đựng) với cái không nắm bắt được (cái bị chứa đựng) Dù rằng, theo Freud,
ta lại có Biểu tượng diễn đạt gián tiếp niềm ham muốn hay xung đột (mà ít nhiều
là liên quan đến libido – cái mà Jung chỉ coi đó là một dạng xung năng), có mốiliên hệ bằng cách trong một hành vi hay hoạt động ý thức cụ thể, có sự che đậy,lại có sự hiển lộ phần còn lại, thì đó là quan hệ mang tính biểu tượng Không chỉ
có Freud, một số phân tâm học hiện đại vẫn coi cái được biểu trưng là vô thức(hay tín ngưỡng phồn thực chính là một phần của vô thức theo chứng minh kểtrên) Đối với Jung, vô thức là lẽ dĩ nhiên, thì Biểu tượng còn chỉ ra cái bản chất
mà nhận thức con người còn mơ hồ về Tâm linh (tức là cả ý thức và vô thức) màcon người không biết lấy ngôn ngữ nào đủ để diễn đạt cho thỏa đáng (nói cáchkhác là ta không thể bao quát hết được) Nhưng khác với Freud cho rằng đó là
sự ngụy trang một dạng tinh thần thì Jung coi đó là sản phẩm của tự nhiên,
không nhất thiết phải có một sự kiểm duyệt tư duy rối tái hiện lại mà có thể chỉ
là triệu chứng xung đột được diễn giải mà thôi
Nếu theo lý thuyết như vậy, chức năng của các hệ biểu tượng đối với tínngưỡng phồn thực là gì ?
Chúng ta có thể xác định ít nhất là 9 chức năng sau đây :
- Chức năng thăm dò : tức là sự nắm bắt ý nghĩa thật sự thông qua phép
liên tưởng
- Chức năng thay thế : tức là sự chuyển đổi cách cảm nhận
- Chức năng trung gian : tức là tạo mối liên hệ từ vật chất hoặc hình
thức vật chất hóa vào tinh thần hay các yếu tố tinh thần
- Chức năng thống nhất : tức là tạo ra một trung tâm cố kết các ý nghĩa
thành một mạng lưới vừa có sức hút, vừa có sức lan rộng
- Chức năng giáo dục, trị liệu : tức là đem nhận thức đến tới con người
hay quy chuẩn hành vi qua sự nhận thức bằng giác quan trực tiếp
- Chức năng xã hội hóa : tức là tạo sự gắn kết với môi trường xã hội.
Trang 24- Chức năng cộng hưởng : tạo sự lan tỏa về nhận thức văn hóa.
- Chức năng siêu nghiệm : tức là nối liền và điều hòa cả những cái đối
lập (Âm Dương, Nam Nữ, Trời Đất chẳng hạn) tạo sự liên kết giữa những cáitưởng chừng đối kháng thành mối hòa hợp ở dạng thống nhất, tạo ra sự tiến bộtrong nhận thức
- Chức năng biến đổi : tức là chuyển dạng năng lượng tinh thần (ở đây
là tín ngưỡng phồn thực) sang dạng hiện hữu có thể được nắm bắt, dạng bộc lộgiá trị
4 Logique của Biểu tượng
Vậy khi đã đưa tín ngưỡng phồn thực đi xa như vậy, liệu trong bản thân
nó có còn mang được tính logique tín ngưỡng, hay logique tâm linh hoặc ít nhất,
là có tính logique trong bản thân nó mà chưa cần xét đến dạng thể logique đónhư thế nào ?
Dĩ nhiên là vẫn có, nhưng không thể gò ép trong logique lý tính theophương thức
A B của các khoa học tự nhiên đượcTâm lý con người là một phức thể biến đổi không ngừng, thế nên mọibiểu tượng đều có tính đa chiều, hay diễn đạt dễ hiểu hơn, tín ngưỡng phồn thựcnhiều khi có ý nghĩa rộng hơn thế, hệ biểu tượng diễn đạt nó cũng chứa đựng ýnghĩa rộng hơn thế - nếu dặt trong một sự sắp xếp khác Và đã có sự sắp xếp, tức
là chúng đã có một dạng logique cảm tính nhất định Lẽ dĩ nhiên, khi chúng tamuốn cố gắng một cách khiên cưỡng để đặt nó vào logique lý tính, thì ít nhiềuchúng ta đã tự hủy diệt nó, vì một lẽ đơn giản : sai quy tắc, sai thứ tự, tức khắcdẫn đến sai lệch hình thái tồn tại, đồng nghĩa với việc không tồn tại theo đúngbản chất nó được đề ra Logique là tập hợp cơ động nhiều mối liên hệ, nhưngvới các dạng thức tinh thần, logique của chúng chỉ biểu lộ với từng nhóm riêngbiệt, với từng cá thể, với từng giai đoạn tồn tại thì rõ ràng vấn đề sẽ trở nên khókhăn trong định hướng hơn rất nhiều Ta không đưa logique của tín ngưỡngphồn thực ra làm một khái niệm để mổ xẻ, mà ta phải triển khai nó để đưa ramột hình dung chân thực nhất về dạng thức mà nó tồn tại
Trang 25Ta có thể mô hình hóa một vài quan hệ như sau :
A : Tín ngưỡng phồn thực hoặc các hệ biểu tượng đi kèm nhằm diễn giải
CTức là trong sự chuyển tiếp này có thể xảy ra sự xuất hiện đồng thời haikết quả đều đúng cho cùng một phép biện luận logique theo quan hệ nganghàng
Dĩ nhiên là còn rất nhiều dạng thức logique khác tùy thuộc vào nhậnthức, nhưng nói chung, chúng đều không tuân theo tuyệt đối cái mà ta gọi làlogique thông thường Vì nếu làm vậy, chẳng khác gì việc chúng ta tự đẩy mìnhvào một sự quẩn quanh trong nhận thức cố gắng tìm ta một trật tự được lý tínhchấp nhận, được hợp thức hóa theo lối quy chuẩn hành vi
Tiểu Kết
Bằng lối áp dụng phân tâm học trong nghiên cứu Biểu tượng, chứng tỏđược vai trò của Tín ngưỡng phồn thực trong chức phận Biểu tượng Đồng thời
Trang 26phân tích các yếu tố đi kèm để nêu bật được ý nghĩa thực sự mà Biểu tượngmang lại, mà ở đây là Tín ngưỡng phồn thực mang lại, trong sự tác động tới tâm
lý và đời sống tinh thần của con người Với việc giải quyết những câu hỏi đặt ranhằm so sánh các quan điểm giữa các nhà phân tâm học tiêu biểu, phần này đãgiải quyết căn bản về lý thuyết mở đầu cho sự luận giải
2 Luận giải Tín ngưỡng phồn thực từ góc độ bản chất Tính dục, Vô thức và Tôn giáo
2.2.1 Luận giải tín ngưỡng phồn thực từ góc độ Tính dục, Vô thức
Quan điểm tính dục của Freud không phải là không có sức nặng nhất địnhtrong suy luận tâm lý khi diễn giả tín ngưỡng phồn thực
Ta hãy lấy sơ đồ diễn giải quan điểm về hệ thống ba cấp độ tâm thức conngười để làm cơ sở phân tích
Nếu coi toàn bộ cấu trúc tâm thức là một tảng băng trên biển thì “cái ấy“
là phần chìm nhất, không lộ diện nhưng lại vẫn là một phần kết cấu không thểthiếu làm bệ đỡ cho “cái tôi“ (là cái hiển lộ nhằm tìm ra sự đồng thuận từ thựctiễn), nó cách khác, “cái ấy“ là nơi sâu kín nhất, bản năng nhất, nguyên sơ nhấtcủa con người, là nơi chứa đựng những hình thái tinh thần cổ xưa được bao bọcbởi lớp chắn tư duy là vô thức Lớp chắn này rất linh hoạt, dày hay mỏng phụthuộc vào việc “cái tôi“ kiểm soát cái ấy đến mức độ nào Một khi nó lớp chắnnày do tác động ngoại cảnh mà bị tạm thời phá vỡ, nó sẽ bộc lộ những tiềm thứcthứ cấp mà con người luôn cố gắng trấn áp nhằm đạt tới sự hoàn thiện theochuẩn mực Từ “cái tôi“ cố gắng chuẩn mực hóa đó, con người còn mang mộtthứ gần giống như sự hòa hợp giữa “cái tôi“ và “cái ấy“, đó là “cái siêu tôi“, nơiluôn giằng xé giữa cái muốn hòa hợp và cái muốn thoát ra Để rồi tổng hợpchúng lại, ta tạo ra được ý thức và sự biểu hiện bề ngoài như phần chỏm nhọncủa tảng băng, được nhận diện và chấp nhận hiện hữu
Trang 27Moi : Cái Tôi, Le Ça : Cái Ấy, Surmoi : Cái Siêu Tôi, Insconscience : Vôthức, Préconscience : Tiền ý thức, Conscience : Ý thức.
Ta lại phân tích sơ đồ trên Theo đó, “cái tôi“ chịu tác động từ “cái ấy“ và
“cái siêu tôi“ để tỏ thái độ hay phản ứng (die Reaktion) ra bên ngoài “Cái ấy“chịu tác động về sự quyến rũ hay thu hút từ môi trường sống (die Umwelt),trong khi đó “cái siêu tôi“ chịu những tư tưởng và định kiến về đạo đức, vềchuẩn mực xã hội (die Wert – und Normvorstellungen) Vậy là một cái mangyêu cầu về sự hứng thú, một cái mang yêu cầu về đạo đức con người, cả hai cái
đó tác động đến “cái tôi“ nhằm từ đó, “cái tôi“ định hình ra một sự so sánh vàchọn lựa nhằm tạo ra một phản ứng thích hợp nhất, trả ngược lại môi trườngkhách quan
Vậy, khi ta đặt ý muốn về sự sinh sôi nảy nở và suy trì nòi giống vào “cáiấy“, những luân lý về sự không miêu tả hay diễn giải trực tiếp vào “cái siêu tôi“,chúng ta sẽ có tín ngưỡng phồn thực ở vai trò “cái tôi“ như một phương thứcbiểu đạt mong muốn giải quyết ổn thỏa cả hai nhu cầu trên
Trang 28Các hình thức thờ cúng (sinh thực khí chẳng hạn), các hình thức diển tảmối quan hệ giao tính, hay hình thức “tắm tiên“ - một hình thức mà một số họcgiả đã cho là một tập tục khá kỳ lạ khi có những người trên 40 tuổi, hay nhữngđôi nam nữ tắm cùng nhau mà không chút e dè; hay các sách nghiên cứu về tìnhdục học như Tố Nữ Kinh, Hoàng Đế Nội Kinh của Trung Quốc, Kamasutra(Dục Lạc Kinh) của Ấn Độ, sự khỏa thân trong các tác phẩm nghệ thuật hay cáchoạt động tương tự trong thời kỳ hiện đại, theo tác giả, là một hình thức diễn đạt
“cái ấy“ qua “cái tôi“ dưới hình thức mà Freud gọi đó là sự phô bày
(exhibitionisme), nhằm giải quyết hay hạ nhiệt “cái ấy“ một cách duy tình màvẫn đạt đến trình độ thẩm mỹ cao về nghệ thuật (nghệ thuật điêu khắc, sắp đặttrong không gian )
Chúng ta không đồng nhất bệnh học tâm thần với tín ngưỡng ở đây, màgiải quyết vấn đề dạng thức và động cơ dẫn tới sự phát sinh ra nó, thì rõ ràng ta
sẽ có sơ đồ sau :
Ước muốn sinh sôi “Cái Ấy“
Chuẩn mực xã hội “Cái Siêu tôi“
Chỉ trích, phê phán, tổng hợp, cân đối “Cái Tôi“ Tín ngưỡng phồnthực
Sự phô bàyNói cách khác, tín ngưỡng phồn thực chính là một lối thoát tinh thần cho
sự giải phóng “cái ấy“ một cách hợp lý nhất, “văn hóa nhất“
Có thể thấy điều này qua luận thuyết về ba giai đoạn tiến hóa ý thức conngười của ông :
- Những ham muốn đầu tiên là cơ sở mà nhờ sự biến đổi của nó, nhữnghình thức tâm lý cao hơn được xuất hiện
- Rốt cuộc thì những tầng lớp cổ xưa của tâm lý (cái vô thức) quyết địnhnhững hình thức cao hơn của đời sống tâm lý Chính vì thế mà S Freud thườngnhấn mạnh ý nghĩa của những kinh nghiệm xúc cảm thời thơ ấu trong nhữngxung đột tâm lý, trong hoạt động tưởng tượng của người lớn
Trang 29- Sự xung đột giữa “cái tự nhiên” (những ham muốn đầu tiên) và “cáivăn hoá” (những ham muôn đã được biến đổi) ngày càng được tăng cường theomức độ phát triển của tâm lý Phần “tự nhiên”của cái tâm lý tuân theo nguyên lýmãn nguyện, nghĩa là mong muốn thực hiện mà thiếu sự cân nhắc tới hoàn cảnhbên ngoài Phần “văn hoá” được định hướng bởi nguyên tắc hiện thực, nghĩa làhiện thực hoá mình trên cơ sở cân nhắc những điều kiện bên ngoài.3
Chúng ta có hình thức được văn hóa hóa, vậy là chúng ta có một dạngthức Văn hóa tính dục Lao động làm ra con người và quan hệ tính giao tái sảnsinh chủ thể lao động Đó là một quan điểm phù hợp với chủ nghĩa duy vật lịch
sử khi coi đó là một lối cư xử tự nhiên Theo quan điểm đó, giao lưu tính dụcdựa trên mối quan hệ dòng họ, rồi từ đó mới tác động lên cá nhân với sự ý thứcmạnh mẽ từ cá thể dương tính cũng như sự tiếp nhận có tính bản nguyên của cáthể âm tính, tức là cả hai ý thức về bản thân và nội hàm quan hệ tính giao kểtrên Chỉ khi con người nhận thức điều đó mới có thể cấu thành một tín ngưỡngnhư tín ngưỡng phồn thực
2.2.2.Luận giải tín ngưỡng phồn thực từ góc độ tôn giáo (theo quan điểm Phân tâm học)
Theo E.Phrom, tín ngưỡng hay tôn giáo là một sự bổ khuyết vào vô thứcnhững hình thái tinh thần mà tự thân không thể hay không dám trực tiếp diễngiải Tôn giáo, theo chức năng của nó, là một thứ tinh thần đưa con người vàomột thế giới song song giữa thực và ảo bằng cách xoa dịu ý thức, đưa con ngườivào tình trạng mê đắm ảo nhưng hành động thật Dĩ nhiên, với nguồn gốc là sựthu mình trước những thế lực siêu nhiên đồng thời tự tạo viễn cảnh tâm lý nhằmchống lại các thế lực bóc lột, tôn giáo hay tín ngưỡng đều có tác động tâm lý rõrệt đến hành vi và nhận thức con người nhằm nương theo dòng chảy tư duy củatôn giáo hay tín ngưỡng Tín ngưỡng phồn thực cũng nằm trong dòng chảy đó,can thiệp trực tiếp vào đời sống con người như sự thể hiện ước mong nhằm đạttới điều đó đi kèm với sự trợ giúp của niềm tin mãnh liệt vào các thế lực vôhình mà quyền uy Sự bổ khuyết vào vô thức đó đã tạo ra một tập tính lan
3 Nguyễn Huy Hoàng – Văn hóa dưới cái nhìn phân tâm học của Sigmund Freud, website