Diện tích, năng suất và sản lượng lúa gạo ở Việt Namtriệu ha Năng suất tấn/ha Sản lượng triệu tấn Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam, 2011 Năng suất và sản lượng lúa của nước
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Th.S Ngô Thị Hồng Tươi đã tận tìnhhướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này
Xin cảm ơn các thầy cô và cán bộ của Khoa Nông học, đặc biệt là Bộ môn
Di truyền và Chọn giống cây trồng – Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã giúp
đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực tập tốt nghiệp
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả bạn bè và gia đình, nhữngngười đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trìnhthực hiện đề tài tốt nghiệp này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2013
Người thực hiện
Trang 2DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Sản lượng lúa gạo các năm gần đây ở một số nước trên thế giới 10 Bảng 4.13 Một số đặc điểm cơ bản của các dòng giống lúa nếp cẩm triển vọngtrong vụ Mùa 2013 67
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các dòng giống lúa cẩm 40Biểu đồ 4.2 Động thái tăng trưởng số nhánh của các dòng giống lúa cẩm 47
DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 3PHẦN I MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới, cùngvới ngô (Zea Mays L.), lúa mì (Triticum sp tên khác: tiểu mạch), sắn (Manihot
esculenta Crantz, tên khác khoai mì) và khoai tây (Solanum tuberosum L.) Tại
Việt Nam, lúa là cây lương thực quan trọng nhất, diện tích trồng lúa chiếm 61%diện tích trồng trọt của cả nước và hơn 80% nông dân Việt Nam là người trồng lúa(Bùi Bá Bổng, 2011) [1]
Việt Nam, một nước có nền kinh tế nông nghiệp từ hàng ngàn năm nay Từmột nước thiếu lương thực trầm trọng trong những năm chiến tranh nhưng hiệnnay, nền nông nghiệp của nước ta không chỉ sản xuất ra đủ một lượng lớn lươngthực đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn trênthế giới Trong đó ngành trồng lúa ở nước ta là một trong những ngành sản xuấtlương thực vô cùng quan trọng và đạt được những thành tựu đáng kể, đưa ViệtNam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới
Nước ta đã đưa ra nhiều dự án để phục tráng các giống lúa đặc sản, khôiphục và phát triển các vùng trồng lúa đặc sản truyền thống Nhiều giống lúa đượcphục tráng thành công như Ra Dư, Tan Hin, Tan Lo, Sam Pa Thong…đã và đangđược nghiên cứu để nhân rộng diện tích gieo trồng
Trải theo chiều dài của đất nước, ở mỗi tỉnh thành của Việt Nam việc gieotrồng lúa nếp còn khá phổ biến Với khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau tạo ra nhữnggiống lúa nếp với chất lượng khác nhau
Chiếm ưu thế hơn cả trong những giống lúa nếp là gạo Nếp Cẩm hay NếpThan chúng được tạo nên từ nhiều giống lúa nếp khác nhau và được trồng chủ yếu
ở vùng núi Tây bắc như: Hoà Bình, Sơn La, rải rác ở các vùng khác như: Phú Thọ,Ninh Bình và vùng Đồng bằng sông Cửu Long với 2 tỉnh Long An và Cần Thơ
Gạo nếp cẩm có màu đen (gạo đen) còn gọi là bổ huyết mễ, là loại gạo có
Trang 4hơn 6,8%, chất béo cao hơn 20% so với gạo khác, ngoài ra trong gạo nếp cẩm cònchứa carotin, 8 loại axit amin (đặc biệt là Anthocyanin) và các nguyên tố vi lượng(sắt, kẽm) cần thiết cho cơ thể (United Press International – UPI, 2010) Hiện naygạo nếp cẩm còn được dùng trong việc tạo ra các thương hiệu rượu nổi tiếng, được
ví như là một siêu thực phẩm, có tác dụng chống ung thư (Hiệp hội hóa học quốcgia Mỹ tại Boston,2010) cũng như các bệnh liên quan đến tim mạch Tuy vậy cácgiống lúa nếp cẩm hiện nay còn rất ít, năng suất không cao, chỉ trồng được trong 1
vụ, thời gian sinh trưởng dài hoặc đã bị thoái hóa làm giảm chất lượng Để gópphần vào việc mở rộng, phát triển giống nếp cẩm và làm phong phú thêm các sảnphẩm từ giống nếp này, thì việc tạo ra những giống nếp cẩm có thời gian sinhtrưởng ngắn, gieo cấy được hai vụ trong năm, năng suất khá, chất lượng tốt, phổthích nghi rộng là nhu cầu cần thiết
Để góp phần vào việc chọn tạo giống lúa nếp cẩm, được sự cho phép của Bộmôn Di truyền và Chọn giống – khoa Nông học, dưới sự hướng dẫn của Th.S Ngô
Thị Hồng Tươi, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát một số dòng giống lúa
nếp cẩm phục vụ cho công tác chọn giống”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu đặc điểm sinh trưởng phát triển, đặc điểm nông sinh học, đặc điểmhình thái, mức độ nhiễm sâu bệnh và năng suất của một số dòng lúa cẩm nhằmcung cấp thông tin cho công tác lai tạo giống lúa nếp cẩm mới
1.3 Yêu cầu
-Theo dõi đặc điểm hình thái, thời gian sinh trưởng, các chỉ tiêu nông sinhhọc, năng suất của tập đoàn các giống lúa nếp cẩm
-Đánh giá khả năng nhiễm sâu bệnh hại
-Đánh giá mùi thơm trên nội nhũ
-Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất và chất lượng xay xát
Trang 5PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn
2.1.1 Cơ sở khoa học
Giống cây trồng là khâu quan trọng nhất trong sản xuất trồng trọt “Tốtgiống, tốt má, tốt mạ, tốt lúa” đó là câu nói mà ông cha ta đã để lại để khẳng địnhvai trò quan trọng của giống cây trồng Trong ngành trồng trọt thì giống cây trồngchính là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả năng suất góp phần tăngsản lượng và chất lượng cây trồng Theo GS.TS Nguyễn Văn Luật, “giống tốt đượccoi như một trong những trợ thủ đắc lực nhất giúp nông dân tăng nhanh hàm lượngchất xám trong nông sản” [2]
Giống là tiền đề của năng suất và phẩm chất Nhìn chung giống lúa đượctrồng phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
-Giống lúa phải có khả năng cho năng suất cao và ổn định
-Giống lúa phải có khả năng chống chịu được các điều kiện ngoại cảnh bấtlợi
-Giống lúa phải có khả năng chống chịu được một số sâu bệnh trong vùng.-Giống lúa phải thích hợp với điều kiện canh tác trong vùng
-Giống lúa phải có phẩm chất tốt đáp ứng được yêu cầu của thị trường [14]
2.2 Cơ sở thực tiễn.
Để tồn tại và phát triển con người cần có lương thực, thực phẩm để tiêudùng trong đó nhu cầu về lương thực là cơ bản nhất Dân số thế giới trung bìnhtăng thêm 1 tỉ người sau 14 năm trong khi đất canh tác ngày càng giảm và sự giatăng năng suất thấp Diện tích cây trồng trên đầu người 0,45ha/năm (1966); 0,25ha/năm(1988) và dự đoán còn 0,15 ha vào năm 2050 Mức độ gia tăng năng suấtthấp: tăng 2,1% trong thập niên 1980 và 1,0% trong thập niên 1990 Thách thức đặt
ra cho nhân loại là diện tích nông nghiệp giảm (1,5 tỉ ha) năm 2050, nước tưới cho
Trang 6nông nghiệp giảm nhưng phải tăng sản lượng lương thực gấp đôi [24] Đây làthách thức lớn đối với vấn đề an ninh lương thực toàn cầu.
-Với 70% dân số sống bằng nghề nông nghiệp, 57% lực lượng lao động xãhội làm việc trong ngành nông nghiệp [25], đất trồng lúa đang là một vấn đề hếtsức cấp thiết, nhất là trong bối cảnh hiện nay Việt Nam cần phải cố gắng giữ được3,2 triệu hécta diện tích lúa nước Ngoài ra tăng cường khoa học kĩ thuật vào sảnxuất để tăng năng suất, đáp ứng đủ nhu cầu lương thực trong nước và một phầncho xuất khẩu Bên cạnh đó, sự biến đổi khí hậu toàn cầu sẽ còn diễn biến vô cùngphức tạp, gây bất lợi cho sản xuất lúa trong tương lai gần thì càng cần đảm bảo anninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống, từng bước cải thiện chất lượng bữa
ăn, chuyển từ nhu cầu ăn no sang ăn ngon Do vậy vấn đề đặt ra cho các nhà quản
lý khoa học và nông nghiệp là làm thế nào để đáp ứng được mục tiêu giảm nghèo
và an toàn lương thực
2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa trên thế giới.
Lúa gạo là cây lương thực đứng hàng quan trọng thứ hai của thế giới sau lúa
mì, nhưng lại là cây lương thực chủ yếu của các nước châu Á [26] Lúa là câylương thực quan trọng hơn cả do nó thích ứng với nhiều điều kiện khí hậu và sinhthái rất khác nhau: nhiệt đới, ôn đới, vùng cao, vùng khô, vùng thấp có nước Diệntích trồng lúa trên thế giới khoảng 140 triệu ha, tập trung chủ yếu ở châu Á (90%),năng suất trung bình 25 tạ/ha một vụ với sản lượng tổng cộng khoảng 344 triệu tấn[27]
Năm 1960, năng suất lúa bình quân trên thế giới là 1,04 tấn/ha Năm 2008,nước sản xuất lúa đạt năng suất cao nhất là Uruguay 8,01 tấn/ha, kế đến là Mỹ:7,68 tấn/ha và Peru: 7,36 tấn/ha Trong khi đó nước có sản lượng cao nhất là TrungQuốc, năng suất chỉ đạt 6,61tấn/ha và Việt Nam sản lượng đứng thứ năm, năngsuất đạt 4,88 tấn/ha [28]
Các nước sản xuất, xuất khẩu và tiêu thụ chính
Trang 7Theo FAO năm 2005 thế giới sản xuất 628 triệu tấn gạo, đạt mức kỷ lục,nhờ giá cả tăng trong năm 2004 làm tăng diện tích trồng trọt.
Nước sản xuất và xuất khẩu:
Thái Lan: là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, hàng năm bán từ 7 triệuđến 8 triệu tấn trên sản lượng hàng năm khoảng 26 triệu tấn Đây là quê hươngcủa gạo thơm Jasmine
Việt Nam: hàng năm xuất khẩu 4 triệu đến 5 triệu tấn
Mỹ
Pakistan
Ấn Độ: xuất khẩu năm 2005 ước khoảng 4 triệu tấn
Nước tiêu thụ: Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Malaysia, Iraq,Iran,Algerie,Nigeria, Tanzania [29]
Bảng 2.1 Sản lượng lúa gạo các năm gần đây ở một số nước trên thế giới
(Đơn vị: triệu tấn)
Nước Năm 2000 Năm 2005 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Trang 8- Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa lớn nhất 44,790 triệu ha, ngược lạiJamaica là nước có diện tích trồng lúa thấp nhất 24 ha.
- Năng suất lúa cao nhất đạt 9,45 tấn/ha tại Australia và thấp nhất là 0,9tấn/ha tại Iraq
Năm 2011, tình trạng sản xuất lương thực thế giới, chủ yếu là ngũ cốc nhưlúa mì, lúa gạo và bắp được củng cố, đạt đấn 2,325 triệu tấn hay tăng 3,7% so với
2010 dù khí hậu bất thường xảy ra tại một số nước Riêng lúa gạo là loại lươngthực quan trọng cho hơn 3,5 tỉ người hay trên 50% dân số thế giới [15,30]
Mặc dù bị ảnh hưởng hiện tượng Ninza ở nhiều nơi châu Á như Campuchia,Lào, Myanmar, Thái Lan và bão ở Philippines từ tháng 8 năm 2010 nhưng sảnlượng lúa toàn cầu đã vượt lên mức kỷ lục nhờ vụ mùa phát triển trong điều kiệnkhí hậu thuận hòa sau đó Cơ quan FAO ở Rome đã đánh giá năm 2011, sản lượnglúa đạt đến 721 triệu tấn hay 481 triệu tấn gạo, tăng 3% hay 24 triệu tấn so với2010
Phần lớn sự gia tăng này do sản xuất thuận lợi tại Ấn Độ, Ai Cập,Bangladesh, Trung Quốc và Việt Nam vượt trội hơn số lượng thất thu từ Indonesia,Madagascar, Pakistan, Philippines và Thái Lan Sự gia tăng còn do diện tích trồnglúa thế giới tăng lên 164,6 triệu ha hay tăng 2,2% và năng suất bình quân cũng tăngnhẹ lên mức 4,38 tấn/ha tức tăng 0,8% trong hơn 1 năm vừa qua
Châu Á sản xuất 651 triệu tấn lúa (435 triệu tấn gạo) hay tăng 2,9% so với
2010 dù có nhiều trận bão lớn xảy ra ở Philippines và lũ lụt nặng nề kéo dài ởCampuchia, Lào, Myanmar và Thái Lan Sự gia tăng lớn này chủ lực do Ấn Độ vàTrung Quốc, với sự tham gia ở mức độ thấp hơn từ Bangladesh, Hàn Quốc, NhậtBản, Pakistan và Việt Nam, Riêng Việt Nam, Chính phủ tính toán sản xuất lúa đạtđến 42 triệu tấn lúa hay tăng 1 triệu tấn so với 2010, do diện tích trồng lúa thêm200.000 ha đưa tổng số lên 7,7 triệu ha, năng suất đạt đến 5,5 tấn/ha
Năm 2011, Việt Nam xuất khẩu 7,35 triệu tấn gạo mang về khoảng 3,5 tỉ Mỹkim, Ấn Độ thu hoạch 154,5 triệu tấn lúa hay tăng 11 triệu tấn so với năm 2010
Trang 9nhờ mùa mưa thuận lợi, ngoại trừ vài tỉnh ở Tây Nam có hạn hán Trung Quốc sảnxuất đến 203 triệu tấn lúa hay tăng 3%, đạt được mục tiêu tự túc trong suốt thậpniên qua Thái Lan bị ngập lụt nặng ở cánh đồng trung tâm làm thiệt hại 1,6 triệu
ha tương đương 4 triệu tấn lúa, sản xuất năm 2011 khoảng 32,2 triệu tấn lúa, thấphơn 7% so với năm 2010 (34,5 triệu tấn) Hậu quả này làm ảnh hưởng mạnh đếnxuất khẩu gạo năm 2012 của Thái Lan
Châu Phi sản xuất lúa khoảng 26 triệu tấn lúa (17 triệu tấn gạo), cao hơn 3%năm 2010 dù mưa bất thường, do được mùa ở Ai Cập, một nước sản xuất lúa tướitiêu lớn trong vùng và tăng sản xuất ở Benin, Ghana, Mali, Nigeria, Sierra Leonethuộc Tây Phi Châu Trong khi Đông Phi Châu như Tazania, Zambia, Madagascar
và Nam Phi Châu có tình trạng ngược lại do mưa ít, ngoại trừ Malawi vàMozambique nhờ đầu tư nhiều cho hệ thống tưới tiêu Ba nước sản xuất lúa gạonhiều nhất ở châu Phi là Ai Cập, Nigeria và Madagascar, chiếm đến 55% tổng sảnlượng lúa Sản xuất lúa ở Ai Cập tăng từ 5,2 triệu tấn trong 2010 lên 5,8 triệu tấntrong 2011 và Nigeria từ 4,2 lên 4,3 triệu tấn; trong khi Madagascar giảm từ 4,8xuống 4,3 triệu tấn trong cùng thời kỳ
Nam Mỹ và Caribbean phục hồi sản xuất lúa đạt đến 29,6 triệu tấn lúa hay19,8 triệu tấn gạo so với sút giảm 12% so với năm trước đó, do được mùa và giágạo cao từ các nước Argentina, Brazil, Columbia, Guyana, Paraguay, Uruguay vàVenezuela Trong khi đó Mexico và Ecuador bị khô hạn, Honduras, Nicaragua và
El Salvador bị ngập lụt, Bazil là nước sản xuất lúa gạo lớn nhất của châu Mỹ (chủyếu lúa rẫy) đạt đến 13,6 triệu tấn so với 11,7 triệu tấn 2010 nhờ khí hậu tốt Sảnxuất lúa của nước này chiếm đến 45% tổng sản lượng toàn vùng
Hoa Kỳ sản xuất lúa gần 8,5 triệu tấn, giảm 21% so với 2010 (11 triệu tấn)
do khí hậu không thuận lợi và diện tích trồng thu hẹp Đó là mức sản xuất thấpnhất kể từ 1998 của Hoa Kỳ Sản xuất lúa Úc Châu tăng đến 800,000 tấn, gấp 4 lần
so với 2010 (0,2 triệu tấn) nhờ cung cấp đầy đủ nước tưới Sản xuất lúa ở châu Âu
Trang 10nước Ý và Liên bang Nga được mùa, nhưng giảm thu hoạch ở Pháp và Tây BanNha [32].
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa qua các năm
Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (triệu tấn)
và Indonesia là 3 nước chiếm 2/3 sản lượng gạo thế giới trên thị trường Tại Châu
Á sản lượng lúa đạt 653 triệu tấn, tăng 10% so với năm 2010 do được mùa ởPakistan, Campuchia, Nepal, Philippin và Việt Nam hoặc mở rộng diện tích canhtác ở Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan và Việt Nam Tại Châu Phi sảnlượng cũng đạt 25,5 triệu tấn, tăng 1% so với năm 2010 do được mùa ở Ai Cập,Guinea, Nigeria, Châu Mỹ La-tinh và vịnh Caribea cũng được mùa ở các nướcngoại trừ Equador và Peru
Trang 11Năm 2012, Việt Nam là nước xuất khẩu gạo dẫn đầu thế giới với sản lượng7,72 triệu tấn, chiếm hơn 20% tổng luợng gạo xuất khẩu của thế giới Thái Lan, Ấn
Độ và Pakistan cũng là những nước xuất khẩu gạo quan trọng trên thế giới
Hiện nay đứng đầu thế giới về sản lượng lúa gạo là các nước Trung Quốc, Ấn
Độ, Indonesia, Bangladesh, Việt Nam, Thái Lan, Myanmar, Philippin,Brazil.Campuchia
Bảng 2.3 Top 10 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới năm 2010 Nước Sản lượng (triệu tấn) Giá trị (nghìn USD)
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Việt Nam
Lúa gạo là loại cây lương thực chính của Việt Nam đồng thời nó cũng chính
là cây lương thực chính của thế giới Đây cũng chính là loại cây lương thực đónggóp lớn nhất cho sự phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam, cung cấp sảnphẩm chính cho xuất khẩu Với điều kiện sống thích nghi với các vùng châu thổngập nước vì vậy lúa gạo được gieo trong nhiều ở các lưu vực sông trên khắp cảnước với diện tích gieo trồng 7,4 triệu ha cả năm [33] Trong điều kiện tự nhiênViệt Nam có điều kiện thuận lợi về đất đai với tổng diện tích gieo trồng lúa đạt7,247,900 ha.trong đó 3,056,900 ha lúa đông xuân, 2,179,800 ha lúa hè thu và2,247,900 ha lúa mùa Lúa là loại cây lương thực ngắn ngày có những vùng có thể
Trang 12Trong những năm qua, chính phủ đã quan tâm cải tạo cơ sở hạ tầng cho cáccông trình thủy lợi, diện tích gieo trồng đã mở rộng hơn và hệ số luân canh tăngtheo Nhiều vùng truớc đây chỉ trông đuợc một vụ nay đã trồng đuợc 2-3 vụ(Nguyễn Hữu Nghĩa,1993) [7] Sau khi giống IR8 đuợc nhập nội từ IRRI, ViệtNam đã mở cuộc cách mạng xanh về cây lúa (Vũ Tuyên Hoàng,1999) [16].
Việt Nam là một trong những nước trên thế giới chịu ảnh hưởng nặng nềcủa biến đổi khí hậu, bão lụt đã gây mất mùa giảm năng suất lúa công với đó làtình trạng nước biển dâng lấy đi của nước ta một diện tích canh tác lúa lớn ở Đồngbằng sông Cửu Long, ước tính năm 2020, 12% diện tích đất tự nhiên của đồngbằng này sẽ chìm trong nước biển Đồng bằng sông Hồng không chịu ảnh hưởngnhiều của khí hậu song đây là vùng có tốc độ đô thị hóa cao nhất nước điều nàygây rất nhiều bất lợi thu hẹp về diện tích canh tác lương thực Đây đồng thời cũng
là thâm canh nông nghiệp lâu đời nhất của Việt Nam cách đây khoảng 4000 năm
do vậy tình trạng thoái hóa đất đang là vấn đề hết sức cấp bách Trong những nămgần đây ta lai phải đối mặt với hạn hán và tình trạng xây dựng các nhà máy thủyđiện trên thượng nguồn các con sông điều này dẫn đến đồng bằng này không đượcbổ sung lượng phù sa cũng như lượng nước canh tác Việt Nam có hai vùng trồnglúa chính là đồng bằng sông Hồng ở phía bắc và đồng bằng sông Cửu Long ở miềnNam Hàng năm sản lượng của cả nước đạt 33-34 triệu tấn thóc, trong đó chỉ sửdụng khoảng 8 triệu tấn (tương đương 4 triệu tấn gạo sau khi xay xát) cho xuấtkhẩu, còn lại là tiêu thụ trong nước và bổ sung dự trữ quốc gia
Trước năm 1945, diện tích trồng lúa của hai đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ
là 1,8 triệu ha và 2,7 triệu ha với sản lượng lúa tương ứng là 2,4 triệu tấn và 3,0triệu tấn, năng suất bình quân là 13 tạ/ha Khoảng 2 thập kỉ sau, năng suất lúa bìnhquân đạt 51,4 tạ/ha/năm Sau năm 1975 nước ta hoàn toàn thống nhất, sản xuất lúa
ở nước ta đã có những bước tiến đáng kể, đã đưa nước ta từ một nước nhập khẩukhoảng 0,8 triệu tấn trở thành một nước tự túc lương thực cho 70 triệu dân, ngoài
ra cũng có một phần dành cho xuất khẩu [4]
Trang 13Bảng 2.4 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa gạo ở Việt Nam
(triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
(Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam, 2011)
Năng suất và sản lượng lúa của nước ta trong những năm qua và những nămgần đây tăng lên cũng do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó trước tiên lànhững thay đổi về chính sách trên phạm vi vĩ mô từ thời kì đổi mới mở cửa, sau đó
là những thay đổi về cơ cấu giống chuyển đổi mùa vụ, giải quyết tưới tiêu, cải tạođất phèn Đặc biệt từ năm 1961 với cuộc cách mạng xanh việc đưa giống mới và ápdụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã từng bước nâng cao năng suấtcũng như sản lượng của nước ta [3]
Những năm gần đây sản xuất lúa gạo ở Việt Nam đã đạt được những thànhtựu rất ấn tượng với cộng đồng quốc tế Từ một nước thiếu lương thực đã từngbước vươn lên trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đấu thếgiới
Kể từ năm 1989, năm đầu tiên Việt nam có xuất khẩu gạo đến nay Việt Nam
đã đóng góp với thế giới trên 40,7 triệu tấn gạo với giá trị trên 9 tỷ USD, từngbước vươn lên trở thành quốc gia đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo Sản
Trang 14Năm 2012, Việt Nam đã vượt qua Thái Lan và trở thành nước đứng đầu trênthế giới về sản lượng xuất khẩu gạo (7,7 triệu tấn),tuy nhiên khoảng 70% lượnggạo xuất khẩu của nước ta là loại gạo phẩm cấp thấp (gạo 25% tấm), gạo 5% tấmchất lượng chưa bằng được với gạo của Thái Lan (Trần Huỳnh Thuý Phượng,2013) [30] Thị trường gạo cấp thấp cũng đang phải cạnh tranh gay gắt với Ấn Độ
và Myanmar Hiện nay sản lượng lúa gạo của Việt Nam đã đạt đỉnh và để có thểduy trì vị thế xuất khẩu gạo trên thị trường thế giới, chúng ta cần nâng cao chấtlượng hạt gạo thay vì tập trung tăng khối lượng xuất khẩu
Nếu như năm 2006, Việt Nam chỉ xuất khẩu được 4,69 triệu tấn gạo, trị giá1,195 tỷ USD thì đến năm 2012, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt kỷ lục về lượngtrên 8,1 triệu tấn, trị giá gần 3 tỷ USD và tiếp tục khẳng định vị trí của một trongnhững nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới
Thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam ngày càng được mở rộng, đa dạnghóa, góp phần tiêu thụ lúa gạo hàng hóa cho người sản xuất, bảo đảm an ninhlương thực trong nước
Bảng 2.5 Thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 2010
Thị trường Lượng ( nghìn tấn) Trị giá ( nghìn USD)
Trang 15Nguồn: Tổng cục thống kê.(2011)
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng nêu trên, ngành sản xuất, xuất khẩugạo của Việt Nam cũng đã bộc lộ nhiều bất cập như chất lượng gạo xuất khẩu chưađược đánh giá cao trên thị trường; chưa xây dựng được thương hiệu gạo; giá gạoxuất khẩu không ổn định
2.3.Một số đặc điểm nông sinh học của cây lúa
2.3.1 Thời gian sinh trưởng
Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa được chia làm ba giai đoạn:giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, giai đoạn sinh trưởng sinh thực và giai đoạn chín
Theo Nguyễn Hữu Tề và cs (1997) [8] cho rằng: Thời gian sinh trưởng củacây lúa được tính từ khi lúa nảy mầm cho đến khi lúa chín, thay đổi từ 90 đến 180ngày tuỳ theo giống và điều kiện ngoại cảnh
- Đối với lúa cấy: Bao gồm thời gian ở ruộng mạ và thời gian ở ruộng lúacấy
- Đối với lúa gieo thẳng: Được tính từ thời gian gieo hạt đến lúc thu hoạch.Theo Jennings và cs (1979) [20], cây lúa ở vùng nhiệt đới không phản ứngvới chu kỳ quang có thời gian sinh trưởng từ 90-160 ngày, những giống có thờigian sinh trưởng từ 110-135 ngày trong vụ mùa thường cho năng suất cao hơn cácgiống ngoài phạm vi đó Đặc tính sinh trưởng trung ngày và dài ngày dễ kết hợpvới các đặc tính mong muốn khác Còn đặc tính chín sớm, dưới 105 ngày rất khókết hợp với các đặc tính năng suất cao, sinh trưởng phát triển mạnh, đẻ nhánh
Trang 16quy định Thời gian sinh trưởng của lúa bị ảnh hưởng bởi môi trường như: Thờilượng chiếu sáng ngày hay độ dài ngày, nhiệt độ và điều kiện đất đai.
2.3.2 Chiều cao cây lúa.
Theo IRRI (2002) [22] dựa vào chiều cao cây, cây lúa được phân ra làm banhóm: Nhóm thấp cây có chiều cao cây thấp hơn 110cm; nhóm trung bình có chiềucao cây 110-130 cm; nhóm cao cây lớn hơn 130 cm
Chiều cao cây là một chỉ tiêu hình thái liên quan đến nhiều đặc tính khácnhau đặc biệt là khả năng chống đổ, khả năng hấp thụ ánh sáng mặt trời của giống,
tỉ lệ hạt và rơm, tính phản ứng với phân đạm và tiềm năng cho năng suất cao Thân
rạ cao, dễ đổ ngả sớm, bộ lá rối, tăng hiện tượng bóng rợp tạo điều kiện cho sâubệnh cư trú gây hại, cản trở quá trình vận chuyển sản phẩm quang hợp về hạt làmcho hạt bị lửng và giảm năng suất Chiều cao cây lúa thích hợp là từ 80-100 cm, cóthể cao đến 120cm trong một số điều kiện nào đó (Jennings và cs, 1979) [20] Câycao 90-100cm được coi là lý tưởng về năng suất (Akita, 1989) [18] Cải thiện dạnghình thấp cây nhằm tạo điều kiện cho chúng tiêu thụ một khối lượng dinh dưỡngkhá lớn trong đất để đạt năng suất cao (Clarkson và Hanson, 1980) [19] Thân câylúa dày hơn thì khả năng tích luỹ chất khô tốt hơn Thân cứng và dày có ý nghĩa rấtquan trọng trong việc chống đổ ngã và chỉ số thu hoạch cao hơn (Clarkson vàHanson, 1980) [19] Nếu thân lá không cứng khoẻ, không dày thì dễ dẫn đến đổngã, tán lá che khuất lẫn nhau và làm gia tăng một số bệnh hại dẫn đến năng suấtgiảm (Vergara, 1988) [23]
Theo Đào Thế Tuấn (1977) [24] muốn nâng cao năng suất lên 60 tạ/ha thìphải dùng giống lúa thấp cây Bùi Huy Đáp (1972) [5] quan niệm các giống lúa caocây đẻ nhiều, chín muộn, mẫn cảm với quang chu kì đã được gieo cấy từ lâu đời ởcác vùng nhiệt đới do khả năng của chúng có thể sinh sống được ở mức nước sâu,
ít hay nhiều có thể cạnh tranh được với nhiều cỏ dại và chịu được những vùng đấtxấu
2.3.3 Khả năng đẻ nhánh.
Trang 17Đẻ nhánh là một đặc tính sinh học của cây lúa, liên quan chặt chẽ đến quátrình hình thành số bông và năng suất cây lúa.
Vũ Tuyên Hoàng và cs (2006) [10] cho biết: Những giống lúa đẻ sớm, tậptrung sẽ trỗ dễ và thường cho năng suất cao hơn Còn theo Đinh Văn Lữ (1978) [6]cho rằng: Những giống lúa đẻ nhánh rải rác thì trỗ bông không tập trung, bôngkhông đều, không có lợi cho quá trình thu hoạch, dẫn đến năng suất giảm
Quá trình đẻ nhánh liên quan chặt chẽ với quá trình ra lá Thường khi ra láđầu tiên thì mầm nách ở mắt ra lá bắt đầu phân hoá, trong quá trình ra các lá tiếptheo thì cũng tương tự như vậy ở các nhánh tiếp theo và theo quy luật thì khi lá thứ
4 xuất hiện thì lá thứ nhất kết thúc thời kỳ phân hoá và bắt đầu xuất hiện và khi ra
lá thứ 5 thì nhánh thứ 2 xuất hiện
Thời gian đẻ nhánh của cây lúa được tính từ khi lúa bén rễ hồi xanh đến khilàm đốt, làm đòng Tuy nhiên ở ruộng mạ cũng có hiện tượng đẻ nhánh nếu mạgieo thưa, hoặc những cây mạ quanh bờ có thể đẻ 1-2 nhánh đầu tiên khi có 4-5 lá(gọi là mạ ngạnh trê), nhưng ngay lúc đó mật độ cây trong ruộng mạ tăng lên vàquá trình đẻ nhánh ngừng lại Về khả năng đẻ nhánh của cây lúa thì phụ thuộc vàophạm vi mắt đẻ (tức là số lá trên cây mẹ, tuổi mạ và số lóng đốt kéo dài) và điềukiện ngoại cảnh
Người ta cũng phân biệt thời gian đẻ nhánh hữu hiệu và vô hiệu Trên câylúa, thông thường chỉ có những nhánh đẻ sớm, ở vị trí mắt đẻ thấp, có số lá nhiều,điều kiện dinh dưỡng thuận lợi mới có điều kiện phát triển đầy đủ để trở thànhnhánh hữu hiệu (nhánh thành bông) Còn những nhánh đẻ muộn, thời gian sinhtrưởng ngắn, số lá ít thường trở thành nhánh vô hiệu
2.3.4 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất.
Năng suất được hình thành bởi 3 yếu tố là: Số bông/ đơn vị diện tích, số hạtchắc/ bông và khối lượng nghìn hạt
Mỗi một giai đoạn phát triển của cây lúa đều liên quan mật thiết đến yếu tố
Trang 18Năng suất hạt = Số bông/m2 X Số hạt/bông X Tỉ lệ hạt chắc/bông (%) XKhối lượng 1.000 hạt
Hầu như mỗi một yếu tố cấu thành năng suất lúa đều liên quan đến một giaiđoạn phát triển cụ thể của cây lúa, mỗi một yếu tố đóng một vai trò khác nhaunhưng đều nằm trong một hệ quả liên hoàn tạo nên hiệu suất cao nhất mà trong đócác yếu tố đều có liên quan mật thiết với nhau Như vậy mỗi giai đoạn sinh trưởng,phát triển đều liên quan và tạo nên năng suất hạt sau này Vì vậy, chăm sóc, quản
lý tốt ở tất cả các giai đoạn phát triển của cây lúa là điều hết sức cần thiết để nângcao hiệu suất và năng suất cây lúa
Số nhánh lúa sẽ quyết định số bông và đó cũng là yếu tố quan trọng nhất để
có năng suất cao Có thể nói số bông đóng góp trên 70% năng suất, trong khi đó sốhạt/bông, số hạt chắc/bông và trọng lượng hạt đóng góp gần 30%
Số bông/đơn vị diện tích hình thành bởi 3 yếu tố: mật độ cấy, số nhánh (sốdảnh hữu hiệu), điều kiện ngoại cảnh và yếu tố kỹ thuật (như phân bón, nhiệt độ,ánh sáng ) Mật độ cấy là cơ sở của việc hình thành số bông/đơn vị diện tích Tùyvào giống lúa và các điều kiện thâm canh như: đất đai, nước, phân bón, thời vụ
mà quyết định mật độ cấy thích hợp để có thể tăng tối đa số bông trên một đơn vịdiện tích Một yếu tố cũng hết sức quan trọng là điều chỉnh sao cho số bông hữuhiệu/đơn vị diện tích là cao nhất và thích hợp nhất, biện pháp tối ưu là:
Số nhánh lúa tối đa – Số bông lúa hữu hiệu = 0
Nhưng trong thực tế quần thể ruộng lúa thì hầu như không có hiệu số nàybởi nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là trong thời kỳ đẻ nhánh (từ khi cấy lúabén rễ hồi xanh đến khi phân hóa đòng) thì các nhánh hữu hiệu kết thúc trước khiphân hóa đòng từ 10-12 ngày, hơn nữa yếu tố mùa vụ cũng liên quan đến việc đẻnhánh hữu hiệu, ví dụ trong điều kiện miền Bắc Việt Nam thì vụ chiêm xuân nhánhhữu hiệu lại tập trung vào thời kỳ cuối, còn vụ mùa lại tập trung vào thời kỳ đầu.Tuy nhiên việc điều chỉnh để quần thể ruộng lúa có tỉ lệ số nhánh hữu hiệu cao
Trang 19nhất là tiền đề để nâng cao năng suất lúa đến mức tối đa là biện pháp kỹ thuật quantrọng trong sản xuất lúa.
Tổng số hạt trên bông bằng hiệu số của số hoa phân hoá trừ đi số hoa thoáihoá Số hoa phân hoá càng nhiều, số hoa thoái hoá càng ít thì tổng số hạt trên bông
sẽ nhiều Yếu tố này phụ thuộc nhiều vào đặc tính của giống và điều kiện ngoạicảnh Tỷ lệ hoa phân hoá có liên quan chặt chẽ tới chế độ chăm sóc (Nguyễn VănHoan, 2006) [10] Số gié cấp 1, đặc biệt là số gié cấp 2 nhiều thì số hoa trên bôngcũng nhiều Số hoa trên bông nhiều là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho tổng sốhạt trên bông lớn Số hạt/bông nhiều hay ít tùy thuộc vào số gié, số hoa phân hóacũng như thoái hóa Toàn bộ quá trình này nằm trong thời kỳ sinh trưởng sinh thực(từ làm đòng đến trỗ).Và số lượng gié, hoa phân hóa được quyết định ngay từ thời
kỳ đầu của quá trình làm đòng (bước 1-3 trong vòng từ 7-10 ngày) Thời kỳ thoáihóa hoa thường bắt đầu vào bước 4 (hình thành nhị và nhụy) và kết thúc vào bước
6, tức là khoảng 10-12 ngày trước trỗ Nguyên nhân chủ yếu do thiếu dinh dưỡng ởthời kỳ làm đòng hoặc do ngoại cảnh bất thuận như trời rét, âm u, thiếu ánh sáng,
bị ngập, hạn, sâu bệnh ngoài ra cũng có nguyên nhân do đặc điểm của một sốgiống
Tỉ lệ hạt chắc/bông: tăng tỉ lệ hạt chắc/bông hay nói cách khác là giảm tỉ lệhạt lép/bông cũng là yếu tố quan trọng quyết định năng suất lúa Tỉ lệ hạtchắc/bông được quyết định ở thời kỳ trước và sau trỗ, nếu gặp điều kiện bất thuậntrong thời kỳ này thì tỉ lệ lép sẽ cao Tỉ lệ lép/bông không chỉ bị ảnh hưởng của cácyếu tố nói trên mà còn bị ảnh hưởng bởi đặc điểm của giống Thường tỉ lệ lép giaođộng tương đối lớn, trung bình từ 5-10%, ít là 2-5%, cũng có khi trên 30% hoặcthậm chí còn cao hơn nữa
Yếu tố cuối cùng là Khối lượng 1.000 hạt: yếu tố này biến động không nhiều
do điều kiện dinh dưỡng và ngoại cảnh mà chủ yếu phụ thuộc vào yếu tố giống.Khối lượng 1.000 hạt được cấu thành bời 2 yếu tố: khối lượng vỏ trấu (thường
Trang 20chiếm khoảng 20%) và khối lượng hạt gạo (thường chiếm khoảng 80%) Vì vậymuốn khối lượng hạt gạo cao, phải tác động vào cả 2 yếu tố này.
2.3.5 Chiều dài, rộng và tỉ lệ dài /rộng của hạt gạo.
Chiều dài, chiều rộng và tỉ lệ dài/rộng của hạt gạo là những đặc tính quantrọng nhất là đối với các giống lúa chất lượng Gạo được phân loại theo mục đíchthương mại thành dạng hạt ngắn, hạt vừa, hạt dài và hạt thon Tuy nhiên trên thịtrường dạng hạt gạo thon dài là được ưa chuộng nhất
Có nhiều quan điểm khác nhau của tác giả về gen quy định chiều dài gạo;Ramiah và cộng sự (1931) cho rằng chiều dài hạt đuợc kiểm soát bởi 1 gen;Bollich, (1957), 2 gen; Ramiah và Parthasarathy, (1933) 3 gen và đa gen Somrith
et al 1979) [9]
Hình dạng hạt gạo là đặc tính của giống tương đối ổn định ít bị thay đổi dođiều kiện ngoại cảnh Tuy nhiên nếu sau khi nở hoa nhiệt độ hạ xuống thấp có thểlàm giảm chiều dài nhưng không nhiều [12]
Tỉ lệ bạc bụng ảnh huởng trực tiếp tới tỉ lệ gạo nguyên của hạt Một kết quảnghiên cứu của Khin Than New–Myanmar (2000) [21] cho thấy: Giống Nga Kywevới dạng hạt ngắn, bầu có tỉ lệ gạo nguyên cao nhất, trong khi giống Pale Thwe vớidạng ngắn có vết đục ở giữa hạt có tỉ lệ gạo nguyên thấp nhất, như vật điểm trắngđục ở giữa hạt gây nên vỡ hạt
2.3.6 Chất luợng xay xát
Chất luợng xay xát bao gồm tỉ lệ hạt gạo lật, tỉ lệ trắng trong và tỉ lệ gạonguyên Hạt lúa có tỉ lệ vỏ trấu trung bình chiếm 20-22%, cám và phôi hạt chiếm8-10%, tỉ lệ gạo trắng khoảng 70%, tỉ lệ gạo nguyên chiếm từ 25-65% [11]
Khi xét đến chất luợng xay xát thì người ta quan tâm nhiều đến tỉ lệ gạonguyên Tỉ lệ gạo nguyên là tính trạng di truyền chịu ảnh huởng mạnh mẽ bởi môitrường, đặc biệt nhiệt độ và độ ẩm trong suốt thời gian lúa chín đến lúc thu hoạch
Trang 21PHẦN III VẬT LIỆU NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu gồm 40 dòng nếp cẩm: Ký hiệu N1 –N46
3.2 Địa điểm và thời gian
3.2.1 Địa điểm thí nghiệm
+ Địa diểm: Khu thí nghiệm Bộ môn Di truyền- Giống, khoa Nông học –Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội
3.2.2 Thời gian thí nghiệm
+ Thời gian: từ tháng 07/2013 đến tháng 01/2014
Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Mùa năm 2013
Ngày gieo mạ: 02/07/2013
Ngày thu hoạch: 10/11/2013
3.3 Nội dung nghiên cứu
-Đánh giá các đặc điểm nông sinh học của các dòng giống lúa nếp cẩm địaphương
-Theo dõi sự xuất hiện các loại sâu bệnh hại trên đồng ruộng ở các dònggiống thí nghiệm
-Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất
3.4 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Bố trí thí nghiệm theo phương pháp khảo sát tập đoàn, tuần tự không nhắc lại
cho 40 dòng lúa, mỗi dòng lúa là 1 công thức thí nghiệm Cấy 1 dảnh/ khóm, dòngnày cách dòng kia 30cm
- Bón phân:
Lượng phân bón: 5 tấn phân chuồng+90 kgN+90 kgP2O5+90 kgK2O/ha.Phương pháp bón:
Trang 22Bón lót toàn bộ lượng phân chuồng, phân lân và 30% phân đạm trước khicấy.
Bón thúc lần 1: 30% lượng đạm và 50% lượng kali khi lúa bắt đầu đẻ nhánh.Bón thúc lần 2: 40% lượng đạm+ 50% kali khi lúa đẻ nhánh rộ
3.5.Phuơng pháp đánh giá một số đặc điểm nông sinh học quan trọng
Các đặc điểm nông sinh học được khảo sát theo IRRI standard evaluation
system for rice, 1996.
- Mỗi dòng đánh dấu 15 cây, chọn cấy 10 cây để theo dõi
- Theo dõi khả năng đẻ nhánh của cây mạ ở mỗi giống
- Theo dõi màu sắc lá mạ ở mỗi giống
- Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của cây mạ thông qua chỉ tiêu:chiều cao số nhánh của cây mạ
* Thời kì lúa
a) Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng
- Tuổi mạ: được tính từ khi gieo đến khi cấy
- Ngày hồi xanh: khi có 80% số cây bén rễ hồi xanh
- Ngày bắt đầu đẻ nhánh: 10% số cây đẻ nhánh dài 1cm nhô ra khỏi bẹ lá
- Ngày bắt đầu trỗ: có 10% số cây có bông nhô ra ngoài bẹ lá đòng 3-5cm
- Ngày kết thúc trỗ: 80% số bông của các khóm trỗ lên khỏi bẹ lá đòng 5cm
- Ngày chín vàng : >95% hạt chín vàng
- Ngày thu hoạch
b) Các động thái sinh trưởng: Theo dõi 10 cây/dòng và 7 ngày /lần từ sau cấy đến
trỗ
Trang 23- Số lá/thân chính: Cây đánh dấu ở ruộng mạ được cấy liên tục trên mộthàng, hàng tuần đánh dấu các lá theo số lẻ mới xuất hiện.
- Chiều cao cây: Đo từ mặt đất đến mút lá cao nhất (cm)
- Số nhánh /cây: Đếm tổng số nhánh /cây
c) Một số đặc điểm nông sinh học:
- Chiều cao cây cuối cùng : Đo từ sát mặt đất đến mút đầu bông không kểrâu hạt của 10 cây
- Số nhánh hữu hiệu /khóm : 10 cây (số nhánh có khả năng tạo thành bông)
- Chiều dài cổ bông
- Chiều dài bông : Đo từ đốt cổ bông đến mút đầu bông không kể râu
- Chiều dài lá đòng : Đo thực tế chiều dài lá đòng và biểu thị bằng cm
- Chiều rộng lá đòng : Đo chỗ rộng nhất của lá đòng và biểu thị bằng cm
- Góc lá đòng : Đo góc giữa trục bông chính với góc lá đòng
- Màu gốc bẹ lá : Quan sát màu gốc bẹ lá vào giai đoạn dinh dưõng từ sớmđến muộn
-Góc lá đòng: Đo góc giữa trục bông chính với góc lá đòng
- Màu thìa lìa
Trang 24- Dạng bông: Bông đuợc phân loại theo theo cách phân nhánh, góc nhánh sơcấp và độ đóng hạt.
- Độ rụng hạt: Giữ chặt và vuốt tay dọc bông và uớc tính % số hạt rụng
d) Các chỉ tiêu và phương pháp đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh
Theo dõi đánh giá và cho điểm theo phương pháp của viện lúa quốc tế IRRI
và theo tiêu chuẩn ngành (10 TCN 558- 2002) của Bộ nông nghiệp và phát triểnnông thôn như: bệnh đạo ôn, bệnh khô vằn, sâu cuốn lá, rầy nâu, sâu đục thân
e) Các chỉ tiêu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất.
- Số bông/khóm: Đếm tất cả các bông có hạt chắc và hạt lép
- Số hạt/bông trung bình: Tuốt hạt cả khóm, đếm tổng số hạt (chắc và lép)rồi chia cho số bông/ khóm
- Tính tỷ lệ hạt chắc (%)
- Tính khối lượng 1000 hạt: Phơi khô đến độ ẩm 14%, cân 3 lần, mỗi lần 100hạt Nếu độ sai số giữa các lần cân không quá 3% thì cộng 3 lần cân rồi chia cho 3tính được khối lượng trung bình 100 hạt Đem kết quả nhân với 10 để tính khốilượng 1000 hạt Nếu độ sai số giữa các lần cân vượt quá 3% thì tiến hành đếm vàcân lại
- Năng suất cá thể (g/ khóm)
- Năng suất lý thuyết (tạ/ha):
NSLT = số bông/ khóm x số khóm/ m2 x số hạt/ bông x tỷ lệ hạt chắc x khốilượng 1000 hạt x 10-4 (tạ/ ha)
3.6 Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu
Trang 25+ Đánh giá được đặc điểm sinh trưởng phát triển, đặc tính nông sinh học,đặc điểm hình thái, mức độ nhiễm sâu bệnh và năng suất theo pháp của Việnnghiên cứu lúa quốc tế IRRI (1996).
là giá trị trung bình của tính trạng quan sát
Xi là giá trị thực của tính trạng quan sát ở tính trạng thứ i.
- Xử lý số liệu trên Excel
Trang 26PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm mạ của các dòng giống lúa cẩm.
Thời kỳ mạ được tính từ khi gieo cho tới khi nhổ cấy Thời kỳ này dài hayngắn tùy thuộc vào giống và mùa vụ gieo trồng Việc chăm sóc cho cây lúa sinhtrưởng tốt ở thời kỳ này có ý nghĩa hết sức quan trọng để có cây mạ đủ tiêu chuẩntạo tiền đề cho các giai đoạn sinh trưởng tiếp theo Tuy nhiên sự phát triển của cây
mạ trong giai đoạn nhiệt độ ấm áp, đầy đủ nước thì cây mạ phát triển nhanh, rútngắn thời gian ở giai đoạn này Ngược lại nếu điều kiện ngoại cảnh bất lợi, nhiệt độthấp, trời rét kéo dài thì mạ sinh trưởng chậm, số lá ra được ít nên thời kỳ mạ sẽ bịkéo dài, thậm chí mạ có thể bị chết
Thời kỳ mạ là giai đoạn rất quan trọng trong thời kỳ sinh trưởng của cây lúa
Mạ tốt là cơ sở để cây lúa sinh trưởng phát triển, các giống tốt sẽ biểu hiện ngay từgiai đoạn mạ Cây mạ đúng tuổi, khỏe mạnh, sạch bệnh và chịu được điều kiện thờitiết bất thuận sẽ phát triển thuận lợi ở các giai đoạn sau Tiêu chuẩn một cây mạ tốtthường là: Sinh trưởng cân đối, gan mạ to, đanh dảnh, không nhiễm sâu bệnh
Theo dõi đặc điểm giai đoạn mạ của các dòng giống lúa cẩm thu được kếtquả trình bày trong bảng 4.1
Trang 27Bảng 4.1 Đặc điểm giai đoạn mạ của các dòng giống lúa cẩm
Dòng Tuổi mạ Chiều cao
Trang 28Đặc điểm thời tiết của vụ Mùa là thời tiết nóng ẩm, nhiệt độ cao và lượngmưa nhiều thích hợp cho cây mạ sinh truởng và phát tiển nên mạ vụ này có thờigian sinh trưởng ngắn hơn so với vụ Xuân Tuổi mạ của các dòng giống lúa thínghiệm khi cấy là 25 ngày, đạt chiều cao trung bình từ 39,2 đến 65,0cm Dòng N46
có chiều cao cây mạ thấp nhất (39,2cm) và dòng N24 có chiều cao cây mạ cao nhất(65,0cm)
Số lá của các dòng dao động trong khoảng 4,7 đến 6,3 lá Dòng N45 có số lánhiều nhất (6,3 lá), dòng N17 có số lá ít nhất (4,7 lá)
Qua quan sát quần thể mạ thấy một số dòng đẻ nhánh khá sớm (gồm cácdòng N7, N15, N31, N39, N40, N45) Dòng N15 và N31 có số nhánh cao nhất(trung bình 1,4 nhánh/cây), các dòng còn lại đều chưa đẻ nhánh
Màu sắc lá mạ của các dòng giống nếp cẩm có thể chia thành 3 nhóm: Nhóm
lá có màu xanh nhạt bao gồm các dòng: N3, N9, N13,N17, N22, N29, N31, N38.Nhóm có màu xanh gồm các dòng: N1, N4, N6, N7, N8, N11, N14, N15, N19,N23, N25, N26, N30, N33, N37, N39, N40, N43, N44, N45 Nhóm lá có màu xanhđậm bao gồm các dòng: N5, N10, N16, N18, N20, N21, N24, N41, N32, N27,N46
Trong giai đọan mạ các dòng giống lúa cẩm phát triển khá đồng đều, có một
số dòng phát triển tốt là N7, N15, N31, N39, N40, N45
4.2 Thời gian sinh trưởng, phát triển của các dòng giống lúa cẩm
Thời gian sinh trưởng là một chỉ tiêu quan trọng trong công tác chọn tạogiống lúa, giúp cho nhà chọn giống sắp xếp các giống vào các nhóm có thời giansinh trưởng dài ngắn khác nhau từ đó xác định thời vụ gieo cấy, cơ cấu giống, luâncanh tăng vụ ở các vùng khác nhau
Thời gian sinh trưởng được tính từ khi gieo đến khi thu hoạch Thời giansinh trưởng của cây lúa dài hay ngắn là do thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng quyếtđịnh, hai thời kỳ sau hầu như không thay đổi hoặc thay đổi rất ít, thông thường thời
kỳ sinh trưởng sinh thực (bắt đầu từ khi cây lúa làm đòng đến trỗ bông kết thúc
Trang 29quá trình thụ phấn, thụ tinh) khoảng 35 ngày, còn thời kỳ chín (bắt đầu từ khi làmhạt đến chín hoàn toàn) khoảng 30 ngày Việc xác định thời gian của từng giaiđoạn sinh trưởng cũng như tổng thời gian sinh trưởng của một giống lúa trước khiđưa ra sản xuất là cần thiết Việc xác định này sẽ giúp bố trí thời vụ trong hệ thốngcanh tác hợp lý và có biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp ở từng giai đoạn sinhtrưởng, nhằm đem lại năng suất cao nhất Tôi đã tiến hành theo dõi thời gian sinhtrưởng của các dòng giống lúa cẩm thí nghiệm được thể hiện ở bảng 4.2.
Trang 30Bảng 4.2.Thời gian các qua giai đoạn sinh trưởng của các dòng giống
lúa cẩm trong vụ Mùa năm 2013.
Thời gian cấy đến bắt đầu
đẻ nhánh
Thời gian cấy đến bắt đầu trỗ
Thời gian trỗ
Thời gian trỗ đến chín thu hoạch
Thời gian sinh trưởng
Trang 31N44 25 5 7 50 8 33 116
* Thời gian từ cấy tới lúc hồi xanh
Sau khi cấy cây lúa cần thời gian để bén rễ hồi xanh Trong điều kiện bìnhthường sau cấy 5 -7 ngày cây lúa có thể bén rễ hồi xanh, chuyển sang đẻ nhánh
Qua bảng 4.2 ta thấy: Thời gian bén rễ hồi xanh của các dòng giống lúa cẩmdao động trong khoảng 4-8 ngày Một số dòng có thời gian hồi xanh ngắn nhất làN22, N45 (4 ngày), các dòng giống có thời gian hồi xanh dài nhất là N3, N10,N14, N20, N43 (8 ngày) Thời gian hồi xanh ngắn, cây lúa có thể nhanh chóngbước sang giai đoạn đẻ nhánh, rút ngắn được thời gian sinh trưởng
* Thời gian từ cấy tới bắt đầu đẻ nhánh
Thời gian từ cấy đến khi bắt đầu đẻ nhánh là một đặc trưng của giống, ngoài
ra còn phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh như: thời tiết, chế độ dinh dưỡng cácgiống khác nhau có sự đẻ nhánh khác nhau
Sau khi cấy gặp điều kiện thời tiết thuận lợi nên cây lúa bén rễ hồi xanh ngay,các dòng lúa tập trung đẻ nhánh khá sớm Thời gian từ cấy đến bắt đầu đẻ nhánhcủa các dòng cẩm thí nghiệm dao động 6-11 ngày
Có 5 dòng bắt đầu đẻ nhánh khá chậm (11 ngày sau cấy) là N3, N10, N20,N43
Có 2 dòng bắt đầu đẻ nhánh sớm nhất (6 ngày sau cấy) là N22, N45 Các dòngcòn lại bắt đầu đẻ nhánh từ 7-10 ngày sau khi cấy Nhận thấy thời gian từ khi cấyđến bắt đầu đẻ nhánh có mối liên quan trực tiếp với thời gian bén rễ hồi xanh củalúa Cây nhanh bén rễ hồi xanh thì cũng đẻ nhánh sớm
* Thời gian từ cấy tới bắt đầu trỗ
Thời gian từ cấy đến bắt đầu trỗ chủ yếu phụ thuộc vào giống, chế độ chămsóc và điều kiện thời tiết khí hậu Thông thường những giống lúa có thời gian sinhtrưởng dài thì thời gian từ gieo tới bắt đầu trỗ cũng dài hơn những giống có thời
Trang 32nhánh đến kết thúc đẻ nhánh và từ kết thúc đẻ nhánh đến trỗ Dựa vào thời gian từkhi cấy đến trỗ ta có thể dự đoán được khả năng đẻ nhánh tập trung hay không tậptrung của các dòng lúa.
Thời gian từ cấy đến bắt đầu trỗ của các giống lúa tham gia thí nghiệm daođộng lớn, nằm trong khoảng 40-68 ngày, ngắn nhất là N39, dài nhất là N13
* Thời gian trỗ
Thời gian trỗ là một chỉ tiêu xác định độ thuần của giống, giống trỗ càng tậptrung chứng tỏ độ thuần của giống càng cao Thời gian trỗ ngắn càng giảm thiểuảnh hưởng bất thuận của các yếu tố ngoại cảnh, có khả năng cho năng suất cao.Đây là giai đoạn cây lúa rất mẫn cảm với điều kiện nhiệt độ, ẩm độ không khí.Nhiệt độ, ẩm độ không khí quá cao hoặc quá thấp sẽ ảnh hưởng đến quá trình nảymầm của hạt phấn, dẫn đến tỷ lệ hạt lép cao Do đó việc bố trí thời vụ để lúa trỗbông đúng lúc là vô cùng quan trọng
Thời gian trỗ của các dòng giống lúa cẩm thí nghiệm dao động từ 6-8 ngày
Đa số các dòng giống lúa cẩm có thời gian trỗ là 7 ngày
Các dòng có thời gian trỗ ngắn nhất là 6 ngày, bao gồm các dòng: N7, N22,N30, N39
Các dòng có thời gian trỗ dài nhất là 8 ngày, bao gồm các dòng: N1, N6,N10, N16, N17, N19, N26, N31, N42, N44
Các dòng còn lại có thời gian trỗ là 7 ngày
Như vậy ta nhận thấy các dòng giống lúa cẩm thí nghiệm có thời gian trỗ khátập trung chứng tỏ độ thuần của giống khá cao
* Thời gian từ kết thúc trỗ đến chín thu hoạch
Thời kì chín đặc trưng cho các hoạt động sinh lí của hạt, sự tăng lên về cả kíchthước lẫn khối lượng của hạt, sự biến đổi về màu sắc của vỏ hạt và sự tàn lụi của
lá Ở thời kì này, các chất dinh dưỡng được tích luỹ về hạt, hình thành nên nội nhũ
Do vậy thời gian này cây cần có bộ lá xanh (đặc biệt là lá đòng và 3 lá công năng)
Trang 33để giúp cho quá trình tích luỹ tinh bột được thuận lợi, tạo điều kiện nâng cao năngsuất lúa.
Thời gian từ lúa trỗ đến chín thu hoạch của các dòng giống lúa thí nghiệmdao động từ 29-35 ngày
Các dòng N21, N39 có thời gian chín ngắn nhất là 29 ngày
Các dòng N6, N16 có thời gian chín dài nhất là 35 ngày
Nhìn chung, các dòng lúa có thời gian chín chênh lệch không nhiều
* Tổng thời gian sinh trưởng
Thời gian sinh trưởng là tổng thời gian của các giai đoạn sinh trưởng tính từkhi gieo hạt đến khi lúa chín hoàn toàn Nghiên cứu thời gian sinh trưởng củagiống giúp chúng ta phân biệt được giống dài ngày, giống trung ngày hay giốngngắn ngày Là cơ sở để bố trí thời vụ hợp lí, xây dựng cơ cấu cây trồng thích hợpgiúp tăng vụ, tăng năng suất ở các vùng trồng khác nhau, phát huy được những đặctính tốt của giống
Các giống lúa khác nhau có thời gian sinh trưởng cũng khác nhau Các dònggiống lúa thí nghiệm đa số thuộc nhóm trung ngày Thời gian sinh trưởng của cácdòng giống lúa biến động từ 100-132 ngày Dòng có thời gian sinh truởng ngắnnhất là N39, dài nhất là N26
Nhìn chung các dòng lúa giống cẩm thí nghiệm có TGST chênh lệch khálớn Sự khác nhau về TGST của các dòng lúa cẩm chủ yếu là do sự khác nhau vềthời gian từ khi cấy đến lúc bắt đầu trỗ
4.3 Động thái sinh trưởng của các dòng giống lúa cẩm
4.3.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây
Động thái tăng trưởng chiều cao là một chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng củacây và độ đồng đều của giống Nó liên quan đến khả năng đẻ nhánh, khả năngquang hợp, khả năng chống đổ và khả năng chịu phân bón của cây Tốc độ tăngtrưởng chiều cao cây mạnh ngay từ đầu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh
Trang 34trưởng về sau đồng thời giúp chúng ta xác định thời điểm nào cây tăng trưởngchiều cao mạnh nhất để tác động các biện pháp kỹ thuật thích hợp.
Ở mỗi thời kì sinh trưởng, phát triển khác nhau sự tăng trưởng chiều cao củacây lúa cũng khác nhau Nghiên cứu động thái tăng trưởng chiều cao của cây lúanhằm giúp chúng ta xác định cơ sở để bố trí thời vụ, mật độ trên chân đất thích hợpnhằm phát huy tối đa tiềm năng năng suất của giống
Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây mạnh ngay từ đầu sẽ tạo điều kiện thuậnlợi cho sự sinh trưởng về sau đồng thời giúp chúng ta xác định thời điểm nào câytăng trưởng chiều cao mạnh nhất để tác động các biện pháp kỹ thuật thích hợp
Trong thí nghiệm này, chúng tôi đã tiến hành theo dõi và đánh giá sự tăngtrưởng chiều cao cây của các dòng lúa cẩm và thu được kết quả ở bảng 4.3
Trang 35Bảng 4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các dòng giống lúa cẩm ở
các giai đoạn trong vụ Mùa năm 2013
Trang 36Sau 14 ngày cấy, đây là thời gian cây vừa trải qua thời kỳ bén rễ hồi xanh và đa
số các giống bắt đầu giai đoạn đẻ nhánh Chiều cao cây của các dòng giống lúa thínghiệm biến động từ 52,5-80,0 cm, trong đó dòng có chiều cao cây cao nhất là N15(80cm), dòng có chiều cao cây thấp nhất là N42 (52,5cm)
Sau 21 ngày cấy, các dòng giống lúa bước sang giai đoạn đẻ nhánh rộ, dinhdưỡng được tập trung cho quá trình đẻ nhánh và phát triển chiều cao Chiều caocủa các dòng biến động trong khoảng từ 63-95,8 cm Trong đó, dòng có chiều caocây cao nhất là N15 (95,8cm), dòng N42 có chiều cao cây thấp nhất (63,0cm).Sau 42 ngày cấy, lúa đã có bộ rễ phát triển mạnh, ăn chắc, ăn sâu vào đất, gặpđiều kiện thuận lợi như thời tiết, dinh dưỡng… chiều cao cây tăng trưởng nhanh.Giai đoạn này cây lúa tập trung dinh dưỡng cho quá trình làm đốt, làm đòng Cáclóng vươn dài quyết định chiều cao cuối cùng của cây Đa số các dòng lúa cẩm thínghiệm ở giai đoạn này đều có chiều cao cây trên 90 cm, biến động từ 94,8-151,6cm Cao nhất là dòng N15, thấp nhất là dòng N43 Đã có 1 dòng bước vàothời kì trỗ bông đó là N39, một số dòng cũng đã bước vào thời kì làm đòng
Sau 49 ngày cấy, các dòng lúa đều có sự tăng trưởng mạnh mẽ về chiều cao,
có thêm một số dòng nữa trỗ, các dòng còn lại vẫn tiếp tục quá trình làm đòng.Chiều cao của các dòng biến động trong khoảng 103,1-161,2cm Dòng cao nhất làN15, dòng thấp nhất là N45
Sau 56 ngày cấy các dòng hầu hết đã trỗ, chiều cao của các dòng biến độngtrong khoảng 114,7-166,6cm Dòng cao nhất là N15, dòng thấp nhất là N41