Các giống lúa cẩm này thườngcao cây, năng suất thấp, chỉ trồng một vụ trong một năm.Lúa cẩm được trồng chủyếu ở vùng núi Tây Bắc như: Hoà Bình, Sơn La, rải rác ở các vùng khác như: PhúTh
Trang 1PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, lúa cẩm (hay lúa than) được gieo trồng ở một số tỉnh và được
sử dụng vào chế biến rượu, nấu cơm nếp, nấu chè phục vụ nhu cầu hàng ngày củangười dân Tuy nhiên, các giống lúa cẩm thường phản ứng với ánh sáng ngày ngắnvàchưa được đánh giá một cách đầy đủ về chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu kháng sâubệnh, chưa có hướng sử dụng đúng giá trị của nó Các giống lúa cẩm này thườngcao cây, năng suất thấp, chỉ trồng một vụ trong một năm.Lúa cẩm được trồng chủyếu ở vùng núi Tây Bắc như: Hoà Bình, Sơn La, rải rác ở các vùng khác như: PhúThọ, Ninh Bình và vùng Đồng bằng sông Cửu Long với 2 tỉnh Long An và CầnThơ.Với khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau tạo ra những giống lúa cẩm với chất lượngkhác nhau
Hiện nay, nhu cầu về dinh dưỡng lúa cẩm có vai trò rất lớn trên thế giới vàtrong nước.Nhiều nước trồng lúa trên thế giới đặc biệt là các nước châu Á, thườngxảy ra bệnh thiếu sắt trong máu (IDA - Iron deficiency anaemia), bệnh thiếuvitamin A gây chứng mù mắt ở trẻ em Theo Juliano (năm ?), trong gạo các giốnglúa đen chứa nhiều Fe, Ca và một số loại vitamin cần thiết cho sức khoẻ con người.Lúa cẩm không chỉ đem lại giá trị vật chất mà còn có giá trị dinh dưỡng cao, cókhả năng chống oxi hoá, hạn chế sự phát triển của tế bào ung thư Tuy nhiên ởnước ta, công tác nghiên cứu tuyển chọn các giống lúa cẩm có hàm lượng dinhdưỡng cao, phù hợp với điều kiện trồng trọt tại từng địa phương còn chưa có nhiều
Xuất phát từ nhu cầu thực tế tôi đã thực hiện đề tài “Khảo sát một số dòng,
giống lúa cẩm ở vụ Xuân 2014 tại Gia Lâm, Hà Nội”nhằm khảo sát đặc điểm
nông sinh học của các dòng giống lúa cẩm, năng suất và các yếu tố cấu thành năngsuất, khả năng kháng sâu bệnh, từ đó chọn lựa ra các dòng/giống triển vọng phục
vụ cho công tác chọn tạo giống lúa cẩm
1.2 Mục tiêu
- Đánh giá đặc điểm sinh trưởng và phát triển, đặc điểm hình thái, nông sinh họccủa tập đoàn lúa cẩm
Trang 2- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các dòng/giống thamgia thí nghiệm.
- Đánh giá tình hình nhiễm sâu bệnh
-Đưa ra được một số dòng, giống có triển vọng phục vụ cho công tác chọn tạogiống lúa cẩm
1.3 Yêu cầu
- Theo dõi đặc điểm hình thái, thời gian sinh trưởng, các chỉ tiêu nông học, năngsuất của tập đoàn các giống lúa cẩm
- Đánh giá khả năng nhiễm sâu bệnh hại
- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
- Xây dựng cây di truyền bằng phân tích ADN
Trang 3Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài.
2.1.1 Nguồn gốc, phân bố và một số đặc điểm của lúa cẩm.
Ở Việt Nam, lúa nếp chiếm khoảng 10,9% sản lượng lúa (Báo cáo tình hìnhhoạt động tháng 12 năm 2013)
Lúa cẩm (hay lúa than) là giống lúa cổ truyền của Việt Nam, là giống lúaphản ứng với ánh sáng ngày ngắn nên chỉ trồng được một vụ trong năm và đượctrồng chủ yếu ở vùng núi Tây bắc như: Hoà Bình, Sơn La, rải rác ở các vùng khácnhư: Phú Thọ, Ninh Bình và vùng Đồng bằng sông Cửu Long với 2 tính Long An
và Cần Thơ Tuy nhiên, giống lúa này có n ăng suất thấp nên chưa đáp ứng đượ cnhu cầu xã h ội ngày càng cao hiện nay –lặp lại ở trên
Lúa cẩm có tên khoa học là Oryza sativa l Glutinosa Tanaka.Về mặt phân loại thực vật, cây lúa thuộc họ Gramineae (hòa thảo), tộc Oryzeae, chi Oryza
(Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy giống lúa này có thời gian sinhtrưởng khá dài khoảng gần 6 tháng, thích hợp với các vùng đất cao khô thoáng.Trong Nếp Cẩm có chứa khoảng 70 % tinh bột, với hàm lượng chất khoáng ấntượng với tỉ lệ đồng chứa 24PPM, Kẽm 23,6, Sắt 16,2 đơn vị
Một số đặc trưng hình thái và sinh lý tổng quát của giống lúa cẩm:
- Thân: thân cao
- Nhánh: nở bụi mạnh
- Lá: lá rộng, xanh nhạt
- Hạt:
Hạt thon dài, hẹp
Hạt hầu như không có râu
Trấu ít lông và lông ngắn
Hạt dễ rụng
- Lúa cẩm khi loại bỏ lớp trấu thì hạt gạo lật có màu tím đen (khoa học
đã chứng minh gam màu này càng đậm thì hàm lượng sắt và cácanthocyanine càng cao) đây cũng là đặc điểm nổi bật của giống lúacẩm so với lúa thường
- Sinh học: Phản ứng mạnh với ánh sáng
Trang 4- Đời sống cây lúa bắt đầu từ lúc hạt nẩy mầm cho đến khi lúa chín,thời gian sinh trưởng của lúa cẩm được chia ra 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn tăng trưởng: Từ khi nảy mầm tới khi đẻ nhánh tối đa (thời gian củagiai đoạn này thay đổi tùy theo từng giống khác nhau) Giai đoạn biểu hiện ở sựđâm chồi tích cực, sự tăng dần chiều cao cây, sự tăng lên về số lá và số nhánh đạttối đa
+ Giai đoạn sinh sản: Từ lúc làm đòng tới khi trổ bông Thời gian của giai đoạnnày thường là 35 ngày.Giai đoạn biểu hiện ở sự dài ra của thân (tăng chiều caocây), giảm số nhánh, xuất hiện lá cuối cờ (lá cuối cùng), ngậm đòng, trổ gié, và trổbông
+ Giai đoạn lúa chín: Từ lúc trổ bông tới khi thu hoạch Thời gian của giai đoạnnày khoảng 30 ngày Giai đoạn này theo sau sự thụ tinh, có thể chia thành 3 giaiđoạn: chín sữa, chín sáp và chín hoàn toàn
2.1.2 Đặc điểm của nhóm giống phản ứng với ánh sáng ngày ngắn.
Đối với khí hậu vùng Đồng bằng sông Hồng, các giống lúa ngày ngắn chỉgieo trồng được trong vụ mùa Các giống lúa này chỉ phân hóa đòng khi độ dàichiếu sáng ngày xuống dưới 12 giờ 30 phút nên nông dân Bắc Bộ mới có câu
“chiêm cập cợi, mùa đợi nhau” Ở đây “mùa đợi nhau” có nghĩa là các giống lúamùa dù cấy trước hay cấy sau đều phải đợi đến thời kì có độ dài chiếu sáng trongngày xuống dưới 12 giờ 30 phút mới phân hóa đòng và trổ bông được
Theo Nguyễn Văn Hoan (1997), dựa vào mức phản ứng với số giờ chiếusáng trong ngày các giống lúa ngày ngắn chia thành ba nhóm như sau:
Nhóm 1: Gồm các giống phản ứng nhẹ với ánh sáng ngày ngắn
Nhóm này khi đã sinh trưởng đủ số lá tối thiểu thì cây lúa có thể phân hóađòng ở độ dài chiếu sáng đạt mức 12 giờ 30 phút Vậy nhóm lúa này có thể phânhóa đòng xung quanh tiết Bạch lộ (8/9) và trổ khoảng cuối tháng 9 (26/9 – 28/9)
Nhóm 2: Gồm các giống phản ứng chặt với ánh sáng ngày ngắn
Các giống lúa thuộc nhóm này chỉ phân hóa đòng khi số giờ chiếu sángtrong ngày đạt xung quanh 12 giờ 10 phút Vậy các giống thuộc nhóm này sau khisinh trưởng đủ số lá cần thiết có thể phân hóa đòng vào khoảng 20/9 – 24/9 và trổbông vào khoảng đầu tháng 10
Nhóm 3: Gồm các giống có phản ứng rất chặt với ánh sáng ngày ngắn
Các giống thuộc nhóm này chỉ phân hóa đòng khi số giờ chiếu sáng trongngày xuống dưới 12 giờ, có sinh trưởng đủ số lá cần thiết cũng phải đợi đến xungquanh 15/10 – 18/10 mới trổ bông
Trang 5 Điều kiện để nhóm giống lúa phản ứng với ánh sáng ngày ngắn có thểhoàn thành chu kì sinh trưởng là:
- Phải có ngày ngắn phù hợp với từng nhóm
- Sinh trưởng đủ số lá tối thiểu
- Không gặp nhiệt độ quá thấp vào giai đoạn trổ - chín
Đối với số lá tối thiểu mà cây lúa cần đạt để năng suất bình thường là 14 - 15 lá.Nếu ít hơn mà có điều kiện ánh sáng ngày ngắn thì cây lúa thấp bé, bông bé, ít hạt,năng suất giảm
2.1.3 Thành phần dinh dưỡng trong hạt lúa cẩm
Bảng 1 Thành phần của gạo lúa nếp cẩm và so sánh với các hạt gạo khác
Thành phần dinh dưỡng /100g Gạo tẻ Jasmine Nếp
(Source: http://www.bionutrifood.chuyển dấu chấm thành dấu phẩy com)
2.2.4 Các hoạt chất trong hạt lúacẩm và công dụng của chúng.
- Anthocyanin
Màu tím của gạo là do có chứa Anthocyanin Anthocyanin có tác dụng giúpmáu lưu thông tốt, và là một chất chống oxy hóa ức chế sự lão hóa
Trang 6Hình 1 Cấu trúc của Anthocyanin (nguồn gốc)
- Cyanidin3-glucozit:
Tác dụng của Cyanidin3-glucozit là giúp ngăn chặn tế bào ung thư đặc biệt là ungthư phổi
- Gamma Amino axit butyric (GABA):
Là chất truyền thần kinh, giúp ngăn ngừa rối loạn thần kinh như BệnhAlzheimer… Giúp thư giãn, giảm bớt sự lo lắng và cải thiện chứng mất ngủ,
Tăng sự trao đổi chất trong não,
Làm giảm huyết áp,
Ngăn chặn và ức chế sự phát triển tế bào ung thư và ung thư ruột kết
- Gamma-Oryzanol:
Giúp duy trì một mức độ cao testosterone ở nam giới,
cCải thiện các rối loạn trong thời kỳ mãn kinh ở phụ nữ,
Làm giảm cholesterol huyết tương,
Kích thích sản xuất insulin,
Kích thích sự hoạt động của Endorphins,
Giúp sự phát triển của mô cơ nạc,
Giảm viêm khớp đầu,
Trang 7Cải thiện sự bài tiết acid mật phân sử dụng trong tiêu hóa chất béo.
(http://www.hardware-wholesale.com)
2.1.4 Tầm quan trọng của giống trong sản xuất.
Giống cây trồng có vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, nhất lànhững nước công nghiệp hóa nông nghiệp.Theo GS, TS Nguyễn Văn Luật, giốngtốt được coi như một trong những trợ thủ đắc lực nhất giúp nông dân tăng nhanhhơn hàm lượng chất xám trong nông sản
Ở Thái lan, người ta đã đặt trọng tâm vào phát triển nông nghiệp trên quy
mô công nghiệp hiện đại, bằng các phương phát sinh học tối tân, họ đã sản xuấthàng loạt giống cây trồng mới, được chọn lọc và cho nhân giống, lai tạo ra nhữngthế hệ cây trồng nhiều ưu điểm, cải tạo gen thành những giống cây kháng bệnh,kháng sâu rầy, giảm bớt chi phí sản xuất, rút ngắn thời gian chăm sóc, tạo nên ưuthế vững chắc trong sản xuất nông nghiệp
Ở Việt Nam từ ngày xưa, trong quá trình trồng trọt sản xuất ông cha ta đãđúc kết tầm quan trọng của giống cây trồng thể hiện qua những câu ca dao đượclưu truyền cho tới ngày nay như: “nhất nước nhì phân tam cần tứ giống”, hay “cốcông không bằng giống tốt”…
Ngày nay, trải qua quá trình nghiên cứu lâu dài, nhiều biện pháp canh tácmới phù hợp, hiệu quả được đưa vào sản xuất:quản lý dịch hại tổng hợp, ba giảm
ba tăng (giảm lượng giống gieo sạ, giảm thuốc trừ sâu bênh, giảm lượng phân bón,tăng năng suất lúa, tăng chất lượng gạo, tăng hiệu quả kinh tế)…, tiến hành cơ giớihóa nông nghiệp như sử dụng máy cày, máy cấy, phun thuốc bằng bình động cơ…,
đã nâng cao hiệu quả sản xuất cho người nông dân, phát huy tối đa tiềm năng năngsuất của hạt giống, vì vậy việc lựa chọn giống tốt, phù hợp với điều kiện khí hậucủa địa phương càng cần được coi trọng
Và khi Việt Nam đang dần dần hội nhập với nền kinh tế thế giới, sau khitham gia và thực thi chính sách khu vực mậu dịch tự do ASIAN (AFTA), và thựchiện nghĩa vụ cam kết trong các chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung(CEPT) của AFTA, nhất là từ khi nước ta hội nhập Tổ chức Thương mại thế giới(WTO), nền kinh tế Vviệt Nam có nhiều thuận lợi, nhiều cơ hội trao đổi hàng hóavới các nước được mở ra, song bên cạnh đó cũng có không ít những khó khăn, thử
Trang 8thách Bối cảnh trên ảnh hưởng ngày một mạnh tới thị trường giá cả nông sản ViệtNam.Khi thị trường mở cửa, sản phẩm nông nghiệp của các nước tràn ngập thịtrường trong nước, nông sản của chúng ta không thể cạnh tranh được về giá và chấtlượng sản phẩm.
Yêu cầu bức thiết hiện nay là nâng cao chất lượng, giảm chi phí sản xuất, hạgiá thành sản phẩm.Để làm điều đó chúng ta cần đầu tư về hạt giống, tìm và chọntạo ra giống tốt, cho năng suất chất lượng cao, có khả năng chống chịu sâu bệnhtốt, khả năng thích nghi với điều kiện môi trường cao.Như vậy sẽ giảm được côngchăm bón, nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm
Có nhiều cách để có giống tốt.Người nông dân trong nông nghiệp cổ đại bắtđầu bằng hái lượm và săn bắt, rồi chọn trong tự nhiên giống tốt để tự sản xuất.Giống lúa Basmati và Khaodokmali hiện còn nổi tiếng thế giới được chọn theocách này, giống OMCS7 có 75-80 ngày cũng được chọn từ sản xuất lúa ở huyệnBình Chánh (TP Hồ Chí Minh).Việt Nam đang có những nỗ lực phục tráng giốnglúa thơm đặc sản, như lúa tám thơm ở đồng bằng Sông Hồng và nàng thơm ở đồngbằng sông Cửu Long
Phương pháp tạo chọn giống truyền thống và phổ biến nhất là lai tạo, cácphương pháp tạo giống lúa khác, như đột biến tạo giống lúa lai ba và hai dòng,nuôi cấy baotúi phấn đã có giống đưa ra phục vụ sản xuất, nhưng còn ở thế tiềmnăng và vị trí bổ sung
Tạo giống bằng công nghệ sinh học hiện đại, bao gồm kỹ thuật di truyền,nuôi cấy túi baophấn đang được áp dụng ở Việt Nam.Phát triển giống cây trồngchuyển nạp gien (GM) hiện có ý nghĩa thương mại rộng rãi trong áp dụng côngnghệ sinh học nông nghiệp hiện đại Một tổng kết năm 1999, giống được tạo chọnbằng kỹ thuật di truyền đã được trồng trên 39,9 triệu ha, doanh thu từ những giống
GM lên tới 2,3 tỷ USD Ở Việt Nam, nhiều cơ quan khoa học đã tiếp cận và thựcthi dự án thuộc loại này, trong đó có bộ môn Công nghệ Sinh học Viện Lúa đồngbằng sông Cửu Long đang thực thi dự án Bin Ghết, trước đấy là RockerfellerFoundation Giống của loại cây trồng đang được nghiên cứu là lúa, bông, đậutương (đậu nành) Ðã có giống lúa GM đưa về An Giang và Trà Vinh khảo nghiệm
và sản xuất thử, tỏ ra có nhiều triển vọng Ðây là công việc mới và khó, nhưng khilàm được thì có ý nghĩa rất lớn.Vừa giảm nhập thuốc trừ sâu tốn ngoại tệ, vừa tăng
Trang 9sản lượng để giảm nhập khẩu bông sợi, hạt bắp, hạt đậu nành, nhất là vừa bảo vệnông dân khỏi nhiễm độc, bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững
Thí nghiệm “Khảo sát một số dòng, giống lúa cẩm ở vụ Xuân 2014 tại GiaLâm, Hà Nội” cũng nhằm mục đích khảo sát đặc điểm nông sinh học của các dònggiống lúa cẩm, xem xét có phù hợp với điều kiện ở địa phương hay không, từ đóchọn lựa ra các dòng có đặc điểm ưu việt phục vụ cho công tác chọn giống
2.2 Tình hình nghiên cứu và chọn tạo lúa cẩm, một số sản phẩm từ lúa cẩm 2.2.1 Tình hình nghiên cứu lúa nếp trong nước.
Trong năm 2001, dưới sự chỉ đạo và hỗ trợ của sở nông nghiệp và phát triểnnông thôn, Sở khoa học – công nghệ - môi trường, Công ty giống cây trồng tỉnhHải Dương đã triển khai có hiệu quả chương trình giống quốc gia Công ty đã khôiphục được giống nếp Hoa vàng và Tám xoan.Theo Nguyễn Công Mai (2004),giống nếp Hoa vàng là giống quý của địa phương còn được lưu giữ trong dân, sovới các giống cùng gieo trồng trên loại đất như U17, mộc tuyền thì nếp Hoa vàngcho năng suất cao hơn 0,8 – 1,6 tấn/ha, giá trị tăng 5-7 triệu đồng/ha Vào vụ mùanăm 2002, Công ty giống cây trồng tỉnh Hải Dương đã cho sản xuất 30 ha nếp Hoavàng.Qua chọn lọc khử lẫn đã cho kết quả gần 120 tấn giống nếp Hoa vàng Lượnggiống này có thể cung ứng cho bà con gieo cấy ở vụ mùa 2003
Ở khu vực phía Nam, một số giống nếp mới cực sớm được ưa chuộng, nhất
là đồòng bào Khmer, được nhân giống ở tỉnh Trà Vinh trong phạm vi đề tàiDANIDA (dự án do Đan Mạch tài trợ trong hợp phần giống) và nhiều nơi khác.Đây là giống lúa nếp cực sớm cao sản, kháng sâu bệnh có tên gốc OM2008 Giốnglúa nếp OM2008 do KS Nguyễn Văn Loãn lai tạo, sau được Viện lúa ĐBSCL phốihợp với công ty dịch vụ Nông nghiệp Đồng Tháp nhân rộng để cung ứng nhu cầungày càng tăawng trong toàn vùng Qua trồng thử nghiệm ở Long An, An Giang,giống OM2008 cho năng suất 6 tấn/ha, cây ít đổ ngã, hạt gạo dài, thời gian sinhtrưởng 95 ngày, cơm dẻo thơm, có khả năng kháng: rầy nâu, bệnh đạo ôn, bạc lá.Nhằm khác phục nhược điểm của giống OM2008 là hạt gạo trong trắng lẫn lộn, tuykhông ảnh hưởng tới năng suất chất lượng nhưng hình thức không đẹp, KS NguyễnVăn Loãn đã tiếp tục tuyển chọn ra dòng thuần trắng đục đều đặc trưng cho gạonếp, lấy tên là giống nếp OMCS22
Trang 10Bên cạnh đó, TS Lê Vvĩnh Hảo (Hảo hay Thảo, xem lại) đã lai tạo giống nếpmới N97 từ hai giống N87 và giống N451 Đặc điểm của giống N97: thời gian sinhtrưởng 108-113 ngày (vụ mùa), 125-130 ngày (vụ xuân), cao 90cm, cứng cây,chống đổ ngã tốt; kháng bệnh đạo ôn, khô vằn, bạc lá; đẻ nhánh tốt, bông dài năngsuất 6-7 tấn/ha (trong điều kiện canh tác tốt năng suất có thể cao hơn).
Ở Tiền Giang, lúa nếp Bè được Trung tâm khuyến nông tỉnh Tiền Giang gửi
đi tuyển chọn dòng lúa nếp thuần từ giống đang trồng phổ biến trong sản xuất theohướng sản xuất lúa nếp hàng hóa Trên 100 hạt mang điện di để đánh giá độ thuần,protein tổng số, hàm lượng amylase, chọn ra được 5 hạt ưu tú theo đặc tính mongmuốn Sau thời gian nhân lên, đánh giá kết quả các thí nghiệm, đếén tháng 4 năm
2004 tỉnh nghiệm thu được dòng nếp Bè 1-2 Dòng này có nhiều ưu điểm hơn sovới dòng địa phương như chất lượng cơm nấu ngon dẻo, năng suất cao hơn hoặcbằng giống nguyên chủng được thanh lọc hàng năm của trại giống thực nghiệmThân Cửu Nghĩa Với năng suất, chất lượng như vậy, dòng nếp Bè 1-2 được tỉnhTiên Giang cho phép nhân rộng tại huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, nơi chuyêntrồng giống nếp Bè 5000 ha hàng năm
Ở An Giang, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, phát huy hết tiềm năng củavùng, Phòng xây dựng và phát triển nông thôn kết hợp cùng Trạm khuyến nônghuyện Phú Tân và Trung tâm sản xuất giống của tỉnh đã tổ chức các điểm trìnhdiễn kỹ thuật phục tráng các giống nếp truyền thống ra các giống mới VL3, LX9,CK92 cho năng suất cao, chất lượng tốt Trung tâm khuyến nông tỉnh còn khuyếncáo cung cấp bổ sung nhiều giống nếp mới như: CK2003, OM2008, VD20, nếp
Bè Tất cả các giống mới, các giống phục tráng đề cho năng suất cao bình quân từ6-8 tấn/ha, cá biệt vùng chuyên canh Phú Mĩ, Tân Hòa, Phú Thọ năng suất đạt 9tấn/ha trong vụ đông xuân, 5,5-6,5 tấn/ha trong vụ hè thu, tăng 1 tấn/ha so vớigiống truyền thống Các giống này có thời gian sinh trưởng ngắn, từ 90-100 ngày,chiều cao từ 85-95 cm, cơm dẻo ngon
2.2.2 Tình hình nghiên cứu và chọn tạo lúa cẩm.
Cho tới nay, Việt Nam vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về lúa cẩm
Trong năm 2006 – 2008, PGS TS Lê Vĩnh Thảo thuộc Viện Cây lươngthực-Cây thực phẩm đã thự hiện đề tài “ Chọn tạo và phát triển một số giống lúaCẩm năng suất cao, chất lượng tốt phục vụ nội tiêu trong nước”
Trang 11Đề tài thu thập mới 180 mẫu giống lúa cẩm, lúa thơm, lúa nếp, lúa nương,lúa Japonica từ nhiều vùng sinh thái khác nhau để bổ sung vào các tập đoàn, tổng
số các mẫu giống của 3 tập đoàn là 312 mẫu Đánh giá khả năng chống bệnh bạc lácủa các giống trong tập đoàn, đánh giá mùi thơm lúa cẩm
Nghiên cứu tạo vật liệu khởi đầu bằng lai hữu tính, đột biến các mẫu hạtbằng Co 60 Kết quả thu được các tổ hợp đạt được các tính trạng mong muốnkhông lớn Tỷ lệ các tổ hợp chống bệnh bạc lá cao chỉ chiếm 12 đến 27%, các tổhợp giữa lúa cẩm địa phương và các giống lúa nếp N99, N97, BM9603 chống đượcbạc lá điểm 1-3 có thời gian sinh trưởng trung đến ngắn ngày
Đề tài nghiên cứu di truyền sắc tố màu tím thông qua sự thể hiện màu tímtrên thân, lá, vòi nhụy, vỏ hạt lúa trỗ, vỏ cám lúc lúa chín ở thế hệ F1 năm 2006 và
ở các F2 năm 2007 Nghiên cứu đã chọn 1500 dòng theo những mục tiêu: chọn tạogiống gạo có vỏ cám hạt gạo đen, năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâubệnh Các dòng chọn lọc phải là giống cảm ôn, có thể cấy 2 vụ trong năm, chốngbệnh bạc lá cao và vỏ hạt gạo đen để có hàm lượng sắt cao
Xác định mật độ gieo trồng thích hợp đối với các dòng lúa cẩm mới và đánhgiá phân tích chất lượng của các dòng, giống lúa này Kết quả nghiên cứu cho thấytrong tất cả các dòng giống tham gia thí nghiệm đều có tỷ lệ gạo lật cao nhưng tỷ lệgạo xát chỉ ở mức trung bình và đều thấp hơn đối chứng BT7, riêng chỉ có dòngLĐDD8, LĐDD9 là tương đương đối chứng Xi23 Tỷ lệ gạo nguyên cũng là mộttrong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng giống, tuy nhiên chỉ tiêunày còn phụ thuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh khi thu hoạch Hàm lượngprotein của các dòng, giống tham gia thí nghiệm đều cao hơn và tương đương vớiđối chứng cao nhất là dòng LĐDD (LĐ mấy? )đạt 9,7% Như vậy các dòng gạomàu đen có hàm lượng protein cao hơn gạo màu trắng.Các dòng LDD, LDD (xem
lại) có hàm lượng amylase ở mức trung bình nên cơm tơi mềm và để nguội không
bị cứng, còn các dòng khác amylose ở mức thấp nên cơm dẻo và để nguội cơmkhông cứng.Nhiệt độ hóa hồ của các dòng, giống tham gia thí nghiệm ở mức từthấp đến trung bình giống như hai đối chứng, như vậy thời gian tiêu tốn để nấuchín ít hơn
(Nguồn thư viện Bộ Nông nghiệp và PTNT- DT20100525)
Trang 12Ngày 16 tháng 11 năm 2013, Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng đã tổchức họp hội đồng khoa học cấp cơ sở đánh giá kết quả chọn tạo, tuyển chọn vàkhảo nghiệm giống lúa mới: giống nếp cẩm ĐH6.Giống Nếp cẩm mới ĐH6 đượcchọn lọc và làm thuần từ giống nếp cẩm Căm pẹ thu thập ở Thanh Hóa từ năm
2009 Sau khi chọn lọc các cá thể biến dị tự nhiên, đi vào chọn dòng ưu tú và làmthuần từ vụ Mùa năm 2010 đến vụ Xuân năm 2012 bắt đầu gửi khảo nghiệm Quốcgia Thời gian sinh trưởng của giống nếp cẩm ĐH6 thuộc nhóm ngắn ngày: vụXuân từ 127-142 ngày, vụ Mùa từ 105-115 ngày; gieo vào vụ Mùa sớm, Xuânchính vụ Giống phù hợp khi gieo cấy ở chân đất vàn, có kết cấu đất tốt.ĐH6 cóchiều cao cây thuộc nhóm bán lùn từ 98-115cm, kiểu cây chịu thâm canh, cây cứngchống đổ tốt.Năng suất của giống cao và ổn định Chất lượng gạo ngon, hàm lượngamylose thấp 3,79%, gạo mềm, hạt thon, đặc biệt có lớp vỏ cám mầu tím đặctrưng, có nhiều giá trị dinh dưỡng cao Giống nếp cẩm ĐH6 có phổ thích ứng rộng,
có thể gieo cấy được cả 2 vụ/năm ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung, giống đãđược gieo cấy và cho kết quả tốt ở các tỉnh; Điện Biên, Hà Giang, Ninh Bình, TháiBình, Nam Định, Bắc Giang, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Nghệ An, ThanhHóa Giống cũng được gieo cấy trong Sóc Trăng và có khả năng thích nghi được ở
cả vụ Đông xuân và Hè thu
Năm 2011, Tiến sĩ Lê Hữu Hải, Trưởng phòng NN- PTNT huyện Cai Lậy đã đưagiống lúa than đặc sản về trồng trên đất Cai Lậy và thủ tục đăng ký giống lúa mớinày dưới tên gọi “Lúa cẩm Cai Lậy”
Giống lúc này thích nghi tốt với điều kiện sản xuất thâm canh 3 vụ/năm với nhữngđặc điểm: thời gian sinh trưởng ngắn ngày, năng suất đạt 4 - 6 tấn/ha, chống chịutốt đối với bệnh cháy lá, hàm lượng protein cao (9%-10%), hàm lượng amylosethấp (<15%), hạt gạo thon dài, phẩm chất cơm mềm dẻo, chứa nhiều chất dinhdưỡng: chất khoáng, vitamin, axít amin thiết yếu và đặc biệt có chứa sắc tốanthocyanin với hàm lượng rất cao Sau khi khảo nghiệm thành công, huyện đãtriển khai cho nông dân HTX Mỹ Thành (xã Mỹ Thành Nam) canh tác trên diệnrộng
Hiện nay, Công ty TNHH ADC đã ký hợp đồng bao tiêu toàn bộ
39 ha lúa cẩm Cai Lậy được trồng tại HTX Mỹ Thành theo tiêu chuẩn GlobalGAP,
Trang 13với tỷ lệ thu mua 1kg lúa cẩm Cai Lậy giá trị bằng 1,6kg lúa thơm hạt dài Trước
đó, trong năm 2010 toàn bộ diện tích lúa cẩm Cai Lậy được trồng ở HTX MỹThành cũng được Công ty ADC bao tiêu Ông Phan Quốc Hùng, đại diện Công tyTNHH ADC, cho biết, công ty sẽ tiếp tục mở rộng diện tích và quy mô sản xuất đểđưa gạo than thành một sản phẩm tốt trên thị trường
PHẦN III.VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Vật liệu
Vật liệu nghiên cứu là 34 dòng/, giống lúa cẩm, ký hiệu từ N1 –N46
Trang 14Bảng Danh sách 34 dòng/giống lúa cẩm nghiên cứu
Ký hiệu Tên địa phương Nguồn gốc Ký hiệu Tên địa phương Nguồn gốc
N1 Lúa lốc nếp cẩm Nho Quan – Ninh Bình N25 Nếp cẩm Đà Bắc – Hòa Bình
N2 Lúa nếp cẩm Yên Bình – Yên Bái N26 Nếp cẩm dạng1 Ngọc Lặc – Thanh Hóa N3 Nếp cẩm dạng 1 Lục Yên – Yên Bái N27 Nếp cẩm đen Bá Thước – Thanh Hóa N4 Nếp cẩm Vị Xuyên – Hà Giang N29 Nếp cẩm Mai Châu – Hòa Bình N5 Nếp cẩm Bắc Quang – Hà Giang N30 Nếp cẩm Chiêm Hóa-Tuyên Quang N6 Nếp cẩm dạng 2 Lục Yên – Yên Bái N31 Nếp cẩm Trung tâm TNDT
N7 Nếp cẩm Lục Ngạn – Bắc Giang N32 Nếp cẩm Lục Nam- Bắc Giang N8 Nếp cẩm Bắc Hà – Lào Cai N33 Nếp cẩm Như Xuân – Thanh Hóa N9 Nếp cẩm nương Than Uyên – Lào Cai N34 Nếp cẩm Trung tâm TNDT
N10 Nếp cẩm đen Bảo Thắng – Lào Cai N36 Nếp cẩm Viện clt và cây tp
N11 Nếp cẩm Vị Xuyên – Hà Giang N37 Tẻ cẩm Viện clt và cây tp
N13 Nếp cẩm Thạch Thành – Thanh Hóa N38
Nếp cẩm
Viện clt và cây tp N14 Nếp cẩm Cẩm Thủy – Thanh Hóa N39 Tẻ cẩm Viện clt và cây tp
N15 Nếp cẩm nương Cẩm Thủy – Thanh Hóa N40 Nếp cẩm Viện clt và cây tp
N16 Nếp cẩm Bá Thước – Thanh Hóa N41 Tẻ cẩm Viện clt và cây tp
N17 Nếp cẩm đen Sapa – Lào Cai N42 Tẻ cẩm Viện clt và cây tp
N18 Nếp cẩm riệu Sapa – Lào Cai N43 Nếp cẩm Viện clt và cây tp
N19 Nếp cẩm dạng 2 Ngọc Lặc – Thanh Hóa N44 Tẻ cẩm Viện clt và cây tp
N20 Nếp cẩm Văn Chấn – Yên Bái N45 Nếp cẩm Viện nghiên cứu và phát triển cây trồngN21 Nếp cẩm Nho Quan – Ninh Bình N46 Nếp cẩm ĐHNN
N22 Nếp cẩm Bạch Thông – Bắc Cạn
N23 Nếp cẩm Hàm Yên – Tuyên Quang
N24 Nếp cẩm có râu Na Hang – Tuyên Quang
( Em xem dòng nào em không làm thì xóa di nhé, cô đua cả các dòng khác em sosánh các dòng mình làm, và bỏ đi cá dòng không làm)
3.2 Thời gian địa điểm nghiên cứu.
+ Địa diểm: Khu thí nghiệm Bộ môn Di truyền - Giống, khoa Nông học –HọcViện Nông nghiệp Việt Nam Trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội
Trang 15+ Thời gian: từ tháng 01/2014 đến tháng 07/2014
3.3 Nội dung nghiên cứu
-Nghiên cứu đặc điểm hình thái: thân lúa, lá đòng, bông lúa, hạt
-Nghiên cứu các chỉ tiêu nông học: thời gian các giai đoạn sinh trưởng và thời giantrỗ bông, chín, động thái ra lá, khả năng đẻ nhánh
-Theo dõi sự xuất hiện các loại sâu bệnh hại trên đồng ruộng ở các dòng, giống thínghiệm
-Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
3.4 Phương pháp nghiên cứu.
3.4.1 Bố trí thí nghiệm
Bố trí thí nghiệm theo phương phápkiểu khảo sát tập đoàn tuần tự không lặp lại
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi: theo thang điểm của IRRI
Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lúa (Theo Hệ thống tiêu chuẩnđánh giá nguồn gen cây lúa, 2002)
Giai đoạn sinh trưởng phát triển Mã số
Trang 16Trỗ bông 6
3.4.2.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển
- Phương pháp theo dõi: lấy mẫu 10 điểm, mỗi điểm theo dõi 1 khóm, 7ngày theo dõi một lần
-Thời gian sinh trưởng:
+ Ngày bắt đầu đẻ nhánh: Khi có 10% số cây theo dõi đẻ nhánh (có nhánhđầu tiên ra khỏi bẹ lá)
+ Ngày nhánh đẻ rộ (đẻ nhánh tối đa): Khi có 50% số cây theo dõi đẻ nhánh.+ Ngày kết thúc đẻ nhánh: khi có 80% số cây theo dõi đẻ nhánh
+ Ngày bắt đầu trỗ: Khi có 10% số cây theo dõi trỗ bông (có bông thoát rakhỏi bẹ lá đòng)
+ Ngày trỗ tập trung: khi có 50% số cây theo dõi trỗ bông
+ Ngày trỗ hoàn toàn: khi có 80% số cây theo dõi trỗ bông
+ Ngày chín hoàn toàn: khi có 80% số bông chín (hạt chắc, cứng, vỏ hạtchuyển sang màu vàng nhạt, khô dần)
- Tổng thời gian sinh trưởng (tính từ khi gieo mạ đến khi thu hoạch)
- Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm): Đo từ gốc đến đầu mút của lácaodài nhất trong khóm; tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/tuần)
- Động thái đẻ nhánh (số nhánh/khóm): Đếm số nhánh trên khóm qua cáclần theo dõi; tốc độ đẻ nhánh (số nhánh/khóm/tuần)
Trang 17- Động thái ra lá (lá/thân chính): Đếm số lá trên thân chính qua các lần theodõi bằng cách đánh dấu sơn; tốc độ ra lá (lá/thân chính/tuần).
Đánh dấu khi lá thứ 3 bắt đầu xuất hiện, 7 ngày một lần tiến hành đếm số lámột lần.ngày/lần quan sát số lá
Cách đánh dấu lá: lá thứ 3 chấm 1 chấm, lá thứ 5 chấm 2 chấm, lá thứ 7chấm 3 chấm,lá thứ 9 chấm 1 chấm, lá thứ 11 chấm 2 chấm, các lá sau tuần tự nhưthế
- Chiều cao cây cuối cùng (cm): Đo từ gốc đến mút đầu bông không kểrâu
3.4.2.2 Một số đặc điểm hình thái theo tiêu chuẩn DUS:
- Màu phiến lá (LBC): xác định màu sắc phiến lá theo thang điểm:
- Chiều dài lá đòng: đo chiều dài cổ lá tới đỉnh lá đòng (cm)
- Chiều rộng lá đòng: đo chiều rộng lá ở phần phình to nhất (cm)
Trang 18- Màu thìa lìa (LgC): được tính theo thang điểm:
+ Điểm 1: trắng
+ Điểm 2: sọc tím
+ Điểm 3: tím
- Hình dạng thìa lìa (LS): tính theo thang điểm:
+ Điểm 1: nhọn tới hơi nhọn
+ Điểm 2: hai lưỡi kìm
- Râu đầu hạt (AnC):tính theo thang điểm:
+ Điểm 0: không râu
+ Điểm 1: râu ngắn hoặc từng phần
+ Điểm 5: râu ngắn và toàn bộ có râu
+ Điểm 7: râu dài và bộ phận
+ Điểm 9: râu dài và toàn bộ
- Chiều dài bông: đo chiều dài từ cổ bông đến đỉnh bông
- Chiều dài cổ bông: đo chiều dài từ cổ lá đòng đến cổ bông
- Mầu râu (AnC): tính theo thang điểm:
+ Điểm 0: không râu
Trang 19+ Điểm 1: vàng và rãnh màu vàng trên nền màu rơm
+ Điểm 2: chấm nâu trên nền vàng rơm
+ Điểm 3: rảnh nâu trên nền màu vàng rơm
+ Điểm 4: nâu (hung hung)
+ Điểm 5: hơi đỏ đến tím nhạt
+ Điểm 6; chấm tím trên nền màu rơm
+ Điểm 7: rảnh tím trên nền màu rơm
3.4.2.3 Chỉ tiêu về khả năng chống chịu sâu bệnh hại và khả năng chống đổ
Theo dõi các loại sâu, bệnh hại chính xuất hiện qua các thời kỳ sinh trưởng,phát triển của lúa như: sâu đục thân, sâu cuốn lá nhỏ, bệnh khô vằn, đạo ôn, bạclá, Sau đó, đánh giá theo phương pháp cho điểm của Viện lúa quốc tế IRRI
Sâu hại: sâu đục thân, sâu cuốn lá, rầy nâu, bọ trĩ… Theo dõi tỷ lệ dảnh chết
ở giai đoạn đẻ nhánh đến làm đòng và bạc bông ở giai vào chắc đến chín, chođiểm theo thang điểm:
Trang 20+ Điểm 1: 1-10% dảnh hoặc bơng bị hại
+ Điểm 3: 11-20% dảnh hoặc bơng bị hại
+ Điểm 5: 21-30% dảnh hoặc bơng bị hại
+ Điểm 7: 31-50% dảnh hoặc bơng bị hại
+ Điểm 9: 51-100% dảnh hoặc bơng bị hại
Bệnh hại trên lá: bệnh bạc lá: triệu chứng: vết bệnh xuất phát từ đỉnh lá, từmép lá và lan rộng theo mép lá Vết bệnh ban đầu cĩ màu xanh nhạt tới xanhxám, sau đĩ từ vàng tới xám Ở các giống nhiễm nặng, vết bệnh cĩ thể lanrộng khắp chiều dài lá đến tận bẹ lá Bệnh bạc lá trên mạ làm cây héo rũ vàchết non
Bệnh xác định mức độ bệnh theo thang điểm:
+ Điểm 1: diện tích lá bị hại 1-5%
+ Điểm 3: diện tích lá bị hại từ 6-12%
+ Điểm 5: diện tích lá bị hại từ 13-25%
+ Điểm 7: diện tích lá bị hại từ 26-50%
+ Điểm 9: diện tích lá bị hại từ 51-100%
Bệnh hại: bệnh khơ vằn: triệu chứng: vết bệnh má xanh xám lan dần và liênkết với nhau, hầu hết nằm ở phần dưới bẹ lá, đơi khii lên cả lá
Bện xác định theo thang điểm
+ Điểm 1: vết bệnh < 20% chiều cao cây+ Điểm 3: vết bệnh 20 – 30% chiều cao cây+ Điểm 5: vết bệnh 31 – 45% chiều cao cây+ Điểm 7: vết bệnh 46 – 65% chiều cao cây+ Điểm 9: vết bệnh > 65% chiều cao cây
Bệnh đạo ơn bơng (PB): triệu chứng: vết hoại sinh rộng màu đen, bao phủ mộtphần hay tồn bộ xung quanh cổ bơng, hoặc phần dưới trục bơng Bơng cĩmàu xám, hạt khơng mẩy hoặc lép
Trang 21Bệnh đánh giá theo thang điểm:
+ Điểm 0: Không thấy vết bệnh hoặc chỉ thấy vết bệnh trên vài cuốngbông
+ Điểm 1: Vết bệnh có trên một vài cuống bông hoặc nhánh thứ cấp.+ Điểm 3: Vết bệnh có trên vài gié sơ cấp hoặc phần giữa của trục bông.+ Điểm 5: Vết bệnh bao quanh một phần gốc bông hoặc phần ống rạ phíadưới trục bông
+ Điểm 7: Vết bệnh bao quanh toàn bộ cổ bông hoặc phần trục bông gắnvới cổ bông, có hơn 30% hạt chắc
+ Điểm 9: Vết bệnh bao quanh hoàn toàn cổ boong hoặc phần ống rạ caonhất hoặc phần trục bông gần gốc bông, số hạt chắc nhỏ hơn 30%
Thiệt hại đòng ruộng: chim, chuột
Thiệt hại được tính theo thang điểm:
+ Điểm 0: Không bị hại
+ Điểm 1: <5%
+ Điểm 5: 6 – 25%
+ Điểm 9: >25%
3.4.2.4 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
Mỗi ô thí nghiệm lấy 10 khóm để theo dõi các chỉ tiêu sau:
- Số bông/khóm
- Số bông/m2 (A): Số bông/khóm x Mật độ (40 khóm/m2)
- Số hạt/bông (B): tính tất cả các hạt của các bông/khóm, sau đó lấy trungbình
- Tỷ lệ hạt chắc (C): là tổng số hạt chắc/tổng số hạt trên bông
- Khối lượng 1000 hạt (D): Lấy hạt đã khô kiệt (14%), đếm 500 hạt đem cân,lặp lại 2 lần, khối lượng 1000 hạt được tính bằng tổng của 2 lần cân
Trang 22- Năng suất lý thuyết (tạ/ha)
NSLT= Số bông/m2 * Số hạt/bông * Tỷ lệ hạt chắc * P1000 (g) * 10-4
-Năng suất cá thể (g/khóm)
3.4.2.5 Chất lượng thương trường:
- Kích thước chiều dài, chiều rộng hạt thóc: đo 10 hạt
- Kích thước chiều dài, chiều rộng hạt gạo, tỷ lệ D/R: đo 10 hạt
- Màu sắc hạt thóc, hạt gạo
- Dạng hạt
Bảng 3.2: Phân loại chiều dài và hình dạng hạt gạo
(mm)
Thang điểm Dạng hạt
Dài/ rộng (mm)
Thang điểm
- Công thức tính một số đại lượng thống kê cơ bản cần quan tâm:
+ Công thức tính giá trị trung bình: X = Xi n
Trong đó:
n: là số mẫu quan sát
Trang 23X : là giá trị trung bình của tính trạng quan sát
Xi: là giá trị thực của tính trạng quan sát ở tính trạng thứ i
- Số liệu, đồ thị và biểu đồ được xử lý và vẽ bằng phần mềm Excel
Trang 24PH N IV: K T QU NGHIÊN C U VÀ TH O LU N ẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Ả NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ỨU VÀ THẢO LUẬN Ả NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ẬN
4.1 Đặc điểm mạ của các dòng lúa cẩm
Thời kì mạ được tính từ khi gieo tới khi nhổ cấy Thời kì này dài hay ngắn tùy thuộc vào giống và mùa vụ gieo trồng Việc chăm sóc cho cây lúa sinh trưởng tốt ởthời kì này có ý nghĩa rất quan trọng để có cây mạ đủ tiêu chuẩn làm tiền đề cho các giai đoạn sinh trưởng tiếp theo Tuy nhiên sự phát triển của cây mạ trong điều kiện khí hậu ấm áp, đủ nước thì cây mạ sinh trưởng nhanh, rút ngắn thời gian ở giai đoạn này Ngược lại, nếu điều kiện ngoại cảnh bất lợi, nhiệt độ thấp, kéo dài thì mạ sinh trưởng chậm, số lá ra được ít, thời kì mạ kéo dài Khi nhiệt độ xuống quá thấp, thời gian rét kéo dài quá lâu mạ có thể bị chết
Thời kì mạ là giai đoạn rất quan trọng trong thời kì sinh trưởng của cây lúa Mạ tốt
là cơ sở để cây lúa sinh trưởng phát triển, các giống lúa tốt sẽ biểu hiện ngay từ giai đoạn mạ Cây mạ đúng tuổi, khỏe mạnh, sạch bệnh và chịu được điều kiện thờitiết bất thuận sẽ phát triển thuận lợi ở các giai đoạn sau Tiêu chuẩn một cây mạ tốtthường là: Sinh trưởng cân đối, gan mạ to, đanh dảnh, không nhiễm sâu bệnh Theo dõi đặc điểm giai đoạn mạ của các dòng/giống lúa cẩm trong vụ Xuân 2014 thu được kết quả trình bày trong bảng 4.1
Trang 25Bảng 4.1 Đặc điểm giai đoạn mạ của các dòng/giống lúa cẩm vụ Xuân 2014
Kí hiệu Tuổi
mạ
Chiều caocây mạ
Sốlá
Trang 26triển chậm, kéo dài thời gian mạ so với vụ Mùa Do được che phủ nilon kịp thời nên số lượng mạ bị chết rét rất ít Tuổi mạ của các dòng/giống lúa thí nghiệm khi cấy là 35 ngày, chiều cao trung bình đạt từ 17,7 – 34,3 cm Dòng N37 có chiều caocây thấp nhất (17,7 cm) và dòng N28 có chiều cao cây lớn nhất (34,3 cm).
Số lá đòng của các dòng dao động trong khoảng 2,9 – 4,5 lá Dòng N20 có
số lá ít nhất (2,9 lá), dòng N46 có số lá nhiều nhất (4,5 lá)
Vụ Xuân này, thời tiết không thuận lợi cho cây mạ sinh trưởng phát triển Quan sát quần thể mạ ta thấy tất cả các dòng đều chưa đẻ nhánh
Màu sắc lá mạ của các dòng/giống lúa cẩm có thể chia thành 3 nhóm: Nhóm
lá có màu xanh bao gồm các dòng: N1, N6, N11, N14, N15, N19, N23, N25, N26, N30, N33, N36, N37, N39, N40, N43, N44, N45; nhóm có màu xanh nhạt bao gồmcác dòng: N2, N3, N9, N31, N38; nhóm lá có màu xanh đậm bao gồm các dòng: N10, N16, N18, N20, N21, N24, N27, N28, N32, N42, N46
Trong giai đoạn mạ các dòng/giống lúa cẩm tương đối đều nhau, có một số dòng phát triển tốt là N37, N38, N39, N42, N43, N44, N46 (dựa vào chỉ tiêu ra lá thời kì mạ của các dòng, trên 4,0 lá)
4.2 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các dòng /, giống thí
nghiệmvật liệu
Thời gian sinh trưởng của cây lúa được tính từ lúc gieo hạt đến khi hạt lúachín hoàn toàn Có thể chia làm 3 thời kỳ chính: thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng,bắt đầu từ khi hạt lúa nảy mầm đến bắt đầu phân hóa đòng; thời kỳ sinh trưởngsinh thực, bắt đầu từ khi cây lúa làm đòng cho đến kết thúc quá trình thụ phấn, thụtinh; thời kỳ chín, bắt đầu từ khi làm hạt đến chín hoàn toàn Thời kỳ sinh trưởngsinh dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành số bông Còn thời kỳ sinhtrưởng sinh thực và chín quyết định việc hình thành số hạt trên bông, tỷ lệ hạt chắc
và khối lượng 1000 hạt Có thể xem thời kỳ từ trỗ đến chín là thời kỳ ảnh hưởngtrực tiếp đến năng suất thu hoạch Thời gian sinh trưởng dài hay ngắn phụ thuộcvào đặc tính di truyền của từng giống lúa, từng mùa vụ gieo trồng, điều kiện chăm
Trang 27sóc và điều kiện ngoại cảnh của từng địa phương khác nhau Cùng một giống nếuđược gieo trồng trong vụ Mùa thì thời gian sinh trưởng sẽ ngắn hơn vụ Xuân Việcnghiên cứu đánh giá thời gian sinh trưởng của các giống là cơ sở để xác định thời
vụ gieo cấy, cơ cấu giống trong công thức luân canh tăng vụ Mặt khác, thời giansinh trưởng là tổng thời gian của các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây lúa,biết được thời gian của các giai đoạn ta có các biện pháp tác động thích hợp nhấtcho từng giai đoạn để phát huy tiềm năng năng suất của giống Đối với giống chấtlượng, điều kiện môi trường trong thời gian lúa chín còn ảnh hưởng đến cả chấtlượng gạo do đó xác định chính xác thời gian sinh trưởng của giống ở từng khuvực là hết sức quan trọng
Kết quả theo dõi thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng được thể hiện ởbảng 4.2
Bảng 4.2 Thời gian qua từng giai đoạn sinh trưởng của các dòng/giống lúa
cẩm trong vụ Xuân năm 2014 (ngày)
Dòng Tuổi mạ Thời
gian cấy đến hồi xanh
Thời gian cấy đến bắt đầu đẻ nhánh
Thời gian cấy đến bắt đầu trỗ
Thời gian trỗ
Thời gian trỗ đến chín thu hoạch
Thời gian sinh trưởng
Trang 28* Thời gian từ cấy đếntới lúc hồi xanh
Sau khi cấy cây lúa cần thời gian để bén rễ hồi xanh Trong điều kiện bình thường sau cấy 5 – 7 ngày cây lúa có thể bén rễ hồi xanh, chuyển sang đẻ nhánh
Qua bảng 4.2 ta thấy: Thời gian bén rễ hồi xanh của các dòng đều như nhau
là 9 ngày Thời gian này tương đối dài so với bình thường, do sau khi cấy lúa gặp thời tiết lạnh và mưa lớn, làm chậm thời gian bén rễ hồi xanh của cây lúa
* Thời gian từ cấy đếntới bắt đầu đẻ nhánh
Thời gian từ cấy tới bắt đầu đẻ nhánh là đặc trưng của giống, ngoài ra còn phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh như: thời tiết, chế độ dinh dưỡng… Các giống lúa khác nhau, khả năng đẻ nhánh khác nhau
Sau khi cấy, cây lúa gặp phải điều kiện thời tiết bất thuận (nhiệt độ thấp, mưa lớn) làm chậm quá trình bén rễ hồi xanh, thời gian đẻ nhánh cũng kéo dài hơn.Thời gian từ cấy đến bắt đầu đẻ nhánh của các dòng/giống lúa cẩm dao động trong khoảng 18 – 28 ngày
Trang 29Có 5 dòng đẻ nhánh khá sớm (18 ngày sau cấy): N9, N27, N36, N37, N44.
Có 7 dòng đẻ nhánh tương đối muộn (28 ngày sau cấy): N2, N16, N19, N25, N26, N28, N46
Thông thường, thời gian bén rễ hồi xanh liên quan tới thời gian đẻ nhánh củacây, nếu thời gian bén rễ hồi xanh sớm thì cây cũng đẻ nhánh sớm, và ngược lại
* Thời gian từ cấy tớiđến bắt đầu trỗ
Thời gian từ cấy đến bắt đầu trỗ chủ yếu phụ thuộc vào giống, chế độ chăm sác và điều kiện thời tiết khí hậu Thông thường những giống lúa có thời gian sinh trưởng dài thì thời gian từ khi gieo tới bắt đầu trỗ cũng dài hơn những giống có thời gian sinh trưởng ngắn Trong thời gian này có 2 giai đoạn quan trọng là từ bắt đầu đẻ nhánh tới kết thúc đẻ nhánh và từ kết thúc đẻ nhánh tới trỗ Dựa vào thời gian từ khi cấy tới trỗ ta có thể dự đoán được khả năng đẻ nhánh tập trung hay không tập trung của các dòng lúa
Thời gian từ cấy tới bắt đầu trỗ của các dòng lúa tham gia thí nghiệm dao động trong khoảng 56 – 71 ngày, ngắn nhất là dòng N21, N32; dài nhất là các dòngN37, N38, N40, N45, N46
* Thời gian trỗ
Thời gian trỗ là một chỉ tiêu xác định độọ thuần của giống, giống trỗ càng tập trung chứng tỏ độ thuần càng cao Thời gian trỗ càng ngắn càng làm giảm ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh bất thuận, có khả năng cho năng suất cao Đây là thời điểm cây lúa rất mẫn cảm với điều kiện nhiệt độ, độ ẩm không khí Nhiệt độ,
độ ẩm không khí quá cao hoặc quá thấp sẽ ảnh hưởng tới quá trình nảy mầm của hạt phấn, đẫn tới tỉ lệ hạt lép cao Do đó việc bố trí thời vụ để lúa trỗ bông đúng lúc
là vô cùng quan trọng
Thời gian trỗ của các dòng/giống lúa cẩm thí nghiệm dao động trong khoảng
10 – 23 ngày Đa số dòng trỗ trong khoảng 18 ngày (N3, N6, N30, N36, N42, N43)
Thời gian trỗ ngắn nhất là 10 ngày, gồm các dòng: N38, N40 Thứ hai là các dòng N37, N45, N46 (12 ngày)
Trang 30Thời gian trỗ dài nhất là 23 ngày, gồm các dòng: N20, N21;sau đó là các dòng N2, N32 (22 ngày).
Ta nhận thấy các dòng lúa cẩm thí nghiệm có thời gian trỗ không tập trung, đây cũng là một đặc điểm của các giống lúa địa phương.chứng tỏ độ thuần của giống không cao Có thể do các dòng bị lẫm giống trong lúc gieo hạt, hay trong lúcnhổ mạ cấy, các dòng được gieo rất sát nhau
* Thời gian từ kết thúc trỗ đến chín thu hoạch
Thời kì chín đặc trưng cho các hoạt động sinh lí của hạt, sự tăng lên cả về kích thước lẫn khối lượng hạt, sự biến đổi về màu sắc vỏ hạt và sự tàn lụi của lá Ở thời kì này các chất dinh dưỡng được tích lũy ở hạt, hình thành nên nội nhũ Do đó thời gian này cây cần có bộ lá xanh (đặc biệt là lá đòng và 3 lá công năng) để giúp cho quá trình tích lũy tinh bột được thuận lợi, tạo điều kiện để nâng cao năng suất.Thời gian từ khi lúa trỗ đến khi lúa chín hoàn toàn là từ 8 – 26 ngày
Dòng N9 có thời gian chín ngắn nhất, trong vòng 9 ngày (xem lại số liệu của các dòng có thời gian từ trỗ đến chín ngắn)
Các dòng N32 và N42 có thời gian chín dài nhất, trong vòng 26 ngày
Có thể thấy các dòng lúa cẩm nghiên cứu có thời gian chín chênh lệch nhau rất lớn.Các dòng N6, N24, N32 thời gian chín và trỗ không đều nhau, trong khi chín vẫn
có hiện tượng trổ bông Chính điều đó đã kéo dài thời gian chín của lúa
* Tổng thời gian sinh trưởng
Thời gian sinh trưởng là tổng thời gian của các giai đoạn sinh trưởng tính từ khi gieo hạt cho tới khi lúa chín hoàn toàn Nghiên cứu thời gian sinh trưởng của giống giúp chúng ta phân biệt được giống dài ngày, giống trung ngày hay giống ngắn ngày Là cơ sở để bố trí thời vụ hợp lý, xây dựng cơ cấu cây trồng thích hợp giúp tăng vụ, tăng năng suất ở các vùng trồng khác nhau, phát huy được những đặctính tốt của giống
Các giống khác nhau có thời gian sinh trưởng khác nhau Thời gian sinh trưởng của các dòng lúa cẩm dao động trong khoảng 119 – 139 ngày, dòng ngắn nhất là N9 (119 ngày), các dòng dài nhất là N32, N38, N40, N42, N45, N46 (139
Trang 31ngày) Hầu hết các dòng/giống lúa cẩm thí nghiệm thuộc nhóm trung ngày (100 –
130 ngày) Có 9 dòng thuộc nhóm dài ngày (>130 ngày), bao gồm các dòng N10, N11, N32, N37, N38, N40, N42, N45, N46
Nhìn chung các dòng/giống lúa cẩm thí nghiệm có thời gian sinh trưởng
chênh lệch nhau khá lớn
4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây
Động thái tăng trưởng chiều cao cây là một chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởngcủa cây lúa, là một đặc tính nông sinh học quan trọng phản ánh tốc độ, tình trạng sinh trưởng, phát triển của cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng Chiều cao cây
là một đặc tính di truyền của giống song chúng vẫn chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường Theo dõi chỉ tiêu này giúp các nhà chọn giống nắm được đặc trưng
hình thái, tốc độ sinh trưởng phát triển của cây lúa qua các giai đoạn, trên cơ sơ đó
có những biện pháp kỹ thuật tác động hợp lý, góp phần tạo điều kiện thuận lợi tốt nhất cho cây sinh trưởng phát triển và cho năng suất cao
Chiều cao cây lúa ngắn ngày thích hợp dao động từ 80 – 100 cm Nếu chiều cao cây quá cao sẽ làm tăng tính đổ ngã và giảm tỉ lệ vào chắc Chiều cao cây thay đổi theo thời gian sinh trưởng, giống lúa có năng suất cao phải có chiều cao cây
phù hợp Chiều cao cây liên quan tới tính chống đổ của cây Nhờ tính chống đổ mànăng suất có thể tăng lên
Kết quả theo dõi động thái tăng trưởng chiều cao cây được thể hiện qua bảng 4.3
Bảng 4.3.Ðộng thái tăng trưởng chiều cao cây của các dòng/giống lúa cẩm vụ
1
66, 2 86,6 111,0 127,8 139,5 - 128,2
7
72, 7 96,7 113,1 128,9 145,4 - 224,0
8 56,4 78,2 99,9 119,3 128,0 - 121,2
N6 23,2 26,8 36,8 48, 60, 81,8 102,1 126,1 132,2 - 125,9