1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón đối với sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2 giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6 vụ mùa năm 2013 trên đất Gia Lâm ─ Hà Nội

130 794 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc nghiên cứu các mức phân bón phù hợp không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả phân bón, tăng khả năng chống chịu, tăng năng suất, chất lượng cho lúa gạo m

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NÔI

6 VỤ MÙA NĂM 2013 TRÊN ĐẤT GIA LÂM – HÀ NỘI

Người hướng dẫn : TS NGUYỄN XUÂN MAI

Bộ môn : CANH TÁC HỌC

Người thực hiên : LÊ THỊ NGỌC ÂN

Lớp : KHCTA – K55

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới quý thầy cô giáo trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, những người đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt các kiến thức bổ ích cho tôi trong suốt 4 năm học tập tại trường Đó là các kiến thức nền tảng,

là hành trang vô cùng quý giá cho tôi bước vào sự nghiệp học tập và làm việc sau này.

Trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân,

tôi đã nhận được sự tận tình, quan tâm, giúp đỡ của thầy giáo TS Nguyễn Xuân Mai

và cô giáo PSG.TS Hà Thị Thanh Bình là người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và

truyền đạt cho tôi những kinh nghiệm, phương pháp trong công việc Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy cô đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi để tôi có thể hoàn thành bài báo cáo thực tập này.

Bên cạnh đó tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo, cán bộ kỹ

thuật viên tại bộ môn Canh tác học - Khoa Nông học đã tận tình giúp đỡ và hỗ trợ kỹ

thuật, dụng cụ giúp tôi tiến hành thí nghiệm.

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực tập tốt nghiệp.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 1 năm 2014

Sinh viên

Trang 4

Từ một nước thiếu đói lương thực thường xuyên, ngày nay chúng ta đã vươn lên thành một nước đứng đầu về xuất khẩu gạo trên thế giới Tuy nhiên, chất lượng gạo xuất khẩu của nước ta chỉ được xếp vào loại thấp tới trung bình Hiệu quả kinh tế mang lại từ xuất khẩu gạo chưa cao, chưa xứng tầm với vị trí nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới Một phần nguyên nhân do chúng ta tập trung mở rộng diện tích trồng lúa, đầu tư tăng năng suất, tăng sản lượng, chọn tạo các giống lúa lai cho năng suất cao Song, lúa lai cho năng suất cao, nhưng không ổn định, khả năng chống chịu kém với điều kiện ngoại cảnh Trong khi đó, các giống lúa thuần lại thích nghi tốt với điều kiện ngoại cảnh địa phương, năng suất không cao nhưng cho phẩm chất tốt Với quy trình sản xuất đơn giản, phù hợp với trình độ thâm canh của đa số người dân, nếu giống thuần được thâm canh tốt, người dân sẽ thu lãi cao hơn.

Hiện nay, có nhiều giống thuần đã đáp ứng được yêu cầu năng suất và có triển vọng như: Hương thơm 6, Bắc thơm 7, ĐH18, TBR288, TBR27,VS1,…Tuy nhiên, trên thực tế vẫn chưa phát huy hết tiềm năng của các giống lúa trên Vì vậy, đối với việc tăng năng suất và phẩm chất không chỉ chờ vào giống tốt mà phân bón cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng

Trang 5

Phân bón cần thiết cho suốt quá trình sinh trưởng, phát triển, từ giai đoạn mạ cho đến lúc thu hoạch Phân bón cung cấp cho cây là nguồn nguyên liệu để tái tạo ra các chất dinh dưỡng như: tinh bột, chất béo, prôtêin Ngoài ra chúng còn giữ vai trò duy trì sự sống của toàn bộ cây lúa, không có nguồn dinh dưỡng thì cây lúa sẽ chết, không thể tồn tại.

Vì vậy, việc nghiên cứu các mức phân bón phù hợp không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả phân bón, tăng khả năng chống chịu, tăng năng suất, chất lượng cho lúa gạo mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân Mặt khác, thực tế hiện nay nông dân sử dụng phân bón chưa hợp lý, không đáp ứng đủ hoặc quá thừa so với nhu cầu dinh dưỡng của cây

Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của các

mức phân bón đối với sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2 giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6 vụ mùa năm 2013 trên đất Gia Lâm ─ Hà Nội”

1.1 Mục đích và yêu cầu

1.1.1 Mục đích

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón đến sinh trưởng, phát triển, năng suất để xác định lượng phân bón thích hợp cho 2 giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6 vụ mùa năm 2013 tại đất Gia Lâm – Hà Nội.

1.1.2 Yêu cầu

- Đánh giá ảnh hưởng của các mức phân bón khác nhau đến sinh trưởng, phát triển của 2 giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6 trồng vụ mùa năm 2013 tại đất Gia Lâm – Hà Nội.

- Ảnh hưởng của các mức phân bón khác nhau tới các chỉ tiêu sinh lý: chỉ số diện tích lá, khả năng tích lũy chất khô của hai giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm

số 6.

- Ảnh hưởng của các mức phân bón khác nhau đến phát sinh sâu bệnh hại của hai giống Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6 trồng vụ mùa 2013 tại đất Gia Lâm – Hà Nội.

Trang 6

- Ảnh hưởng của các mức phân bón khác nhau tới các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của hai giống lúa.

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và Việt Nam

2.1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ lúa gạo trên thế giới

Cây lúa là một trong những cây lương thực quan trọng của nhiều quốc gia, cung cấp lương thực cho hơn 65% dân số trên thế giới Khoảng 670 triệu tấn gạo được trồng hàng năm so với 680 triệu tấn lúa mì, 440 triệu tấn cho hạt có dầu và 1090 triệu tấn ngũ cốc thô – ngô, lúa miến, lúa mạch, yến mạch, lúa mạch đen, kê, hỗn hợp ngũ cốc (Pete Vegas, 2010).

Cây lúa có nguồn gốc nhiệt đới, dễ trồng, năng suất cao và thích ứng với nhiều vùng khí hậu khác nhau trên thế giới Vùng trồng lúa tương đối rộng: có thể trồng ở các vùng có vĩ độ cao như Hắc Long Giang (Trung Quốc) 530B đến Nam bán cầu: New South Wales (Úc): 350N Nhưng vùng phân bố chủ yếu tập trung tại Châu Á từ

Theo Thống kê của tổ chức nông lương thế giới (FAOSTAT, 2013) được thể hiện ở bảng 2.1 cho thấy: diện tích trồng lúa thế giới năm 2012 là 163,46 triệu ha, năng suất bình quân là 4,39 tấn/ha với tổng sản lượng 718,35 triệu tấn Trong đó, châu

Á có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới là 145,54 triệu ha chiếm 89,04% tổng diện

Trang 7

tích toàn cầu, châu Phi là 10,58 triệu ha chiếm 6,47%, châu Mỹ là 6,54 triệu ha chiếm 4,0%, châu Âu là 0,69 triệu ha chiếm 0,42%, châu Đại Dương diện tích trồng lúa là 0,11 triệu ha chiếm tỷ lệ không đáng kể

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa các châu lục và trên thế giới năm 2012

( triệu ha ) ( tấn/ha ) ( triệu tấn )

Bên cạnh diện tích trồng lúa tăng, năng suất lúa bình quân trên thế giới cũng tăng khoảng 1,22 tấn/ha trong vòng 20 năm từ năm 1965 đến 1985, đặc biệt sau “cách mạng xanh” vào những năm 1965 – 1970, với sự ra đời của các giống lúa mới thấp cây, ngắn ngày, không cảm quang mà tiêu biểu là giống lúa IR5, IR8 Đến những năm

1990 dẫn đầu năng suất lúa trên thế giới là các nước Australia với 8,8 tấn/ha; Ai Cập với 7,27 tấn/ha; Nhật Bản với 6,33 tấn/ha Từ năm 1990 trở đi đến thời điểm hiện nay năng suất lúa thế giới liên tục được cải thiện và đạt 4,40 tấn/ha năm 2012 Tuy nhiên, năng suất lúa mới chỉ bằng khoảng 45% năng suất của Ai Cập (9,70 tấn/ha) nước đứng đầu thế giới về năng suất (FAO, 2013).

Trang 8

Bảng 2.2 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới giai đoạn 1965 – 2012

(triệu ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Trang 9

Sau đó, từ năm 2005 tới năm 2012 diện tích lúa gia tăng liên tục và đạt 163,46 triệu

ha, cao nhất kể từ trước tới nay với tổng sản lượng 718,35 triệu tấn.

Theo FAO dự báo sản xuất lúa gạo toàn cầu trong năm 2013 đã được thiết lập ở mức 746.400.000 tấn (497.600.000 tấn, cơ sở xay xát), tăng khoảng 300 000 tấn so với dự đoán trong tháng tư 2013.

Bảng 2.3: Tình hình sản xuất lúa của 10 nước đứng đầu thế giới năm 2012

(triệu ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Cơ quan FAO ở Rome đã đánh giá năm 2011, sản lượng lúa đạt đến 721 triệu tấn hay 481 triệu tấn gạo, tăng 3% hay 24 triệu tấn so với năm 2010.

Trang 10

Phần lớn sự gia tăng này do sản xuất thuận lợi tại Ấn Độ, Ai Cập, Bangladesh, Trung Quốc và Việt Nam vượt trội hơn số lượng thất thu từ Indonesia, Madagascar, Pakistan, Philippines và Thái Lan Sự gia tăng còn do diện tích trồng lúa thế giới tăng lên 164,6 triệu ha hay tăng 2,2% và năng suất bình quân cũng tăng nhẹ lên mức 4,38 tấn/ha tức tăng 0,8% trong hơn 1 năm vừa qua.

Châu Á sản xuất 651 triệu tấn lúa (435 triệu tấn gạo) hay tăng 2,9% so với

2010 Sự gia tăng lớn này chủ lực do Ấn Độ và Trung Quốc, với sự tham gia ở mức

độ thấp hơn từ Bangladesh, Hàn Quốc, Nhật Bản, Pakistan và Việt Nam Riêng Việt Nam, Chính phủ tính toán sản xuất lúa đạt đến 42 triệu tấn lúa hay tăng 1 triệu tấn so với 2010, do diện tích trồng lúa thêm 200 000 ha đưa tổng số lên 7,7 triệu ha, năng suất đạt đến 5,5 tấn/ha.

Châu Phi sản xuất lúa khoảng 26 triệu tấn lúa (17 triệu tấn gạo), cao hơn 3% năm 2010 dù mưa bất thường, do được mùa ở Ai Cập và tăng sản xuất ở Benin, Ghana, Mali, Nigeria, Sierra Leone thuộc Tây Phi Châu Ba nước sản xuất lúa gạo nhiều nhất ở châu Phi là Ai Cập, Nigeria và Madagascar, chiếm đến 55% tổng sản lượng lúa Sản xuất lúa ở Ai Cập tăng từ 5,2 triệu tấn trong 2010 lên 5,8 triệu tấn trong 2011 và Nigeria từ 4,2 lên 4,3 triệu tấn; trong khi Madagascar giảm từ 4,8 xuống 4,3 triệu tấn trong cùng thời kỳ.

Nam Mỹ và Caribbean phục hồi sản xuất lúa đạt đến 29,6 triệu tấn lúa hay 19,8 triệu tấn gạo so với sút giảm 12% so với năm 2010 Bazil là nước sản xuất lúa gạo lớn nhất của châu Mỹ (chủ yếu lúa rẫy) đạt đến 13,6 triệu tấn so với 11,7 triệu tấn 2010 nhờ khí hậu tốt Sản xuất lúa của nước này chiếm đến 45% tổng sản lượng toàn vùng.

Tuy khối lượng sản xuất lúa gạo thế giới rất lớn, chỉ sau lúa mì, nhưng số lượng giao dịch quốc tế tương đối nhỏ, chỉ khoảng 30-34 triệu tấn gạo hay 6-7% mỗi năm,

do chính sách tự túc của nhiều nước Vì vậy, thị trường thế giới dễ bị dao động khi có

Trang 11

những biến chuyển nhỏ trong ngành sản xuất Năm 2012, Ấn Độ là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới với 9,5 triệu tấn; xếp vị trí số 2 là Việt Nam với 7,8 triệu tấn chiếm 20% tổng sản lượng gạo xuất khẩu toàn thế giới; vị trí số 3 là Thái Lan với 6,9 triệu tấn Bên cạnh đó, các quốc gia nhập khẩu gạo nhiều nhất là: Philippin, Iran, Nigieria, Trap,

2.1.2 Tình hình sản xuất, tiêu thụ lúa gạo ở Việt Nam

Thống kê của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO, 2013): Việt Nam là nước

có tổng diện tích trồng lúa khoảng 7,75 triệu ha với năng suất 5,63 tấn/ha; đứng thứ 7 thế giới về diện tích trồng lúa sau các nước: Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Bangladesh, Myanmar

Trong năm 1975, Việt Nam được xếp vào các nước nghèo và ít phát triển nhất trên thế giới Trong năm này diện tích đất nông nghiệp chỉ có chừng 7,3 triệu ha, trong

đó đất lúa chiếm gần 70% Tổng sản lượng lúa trong năm 1975 là 10,29 triệu tấn; thu hoạch từ 4,85 triệu ha với một năng suất bình quân chừng 2,17 tấn/ha Từ 1975 đến

1980, nhà nước đã đề ra các mục tiêu để đẩy mạnh diện tích trồng các giống năng suất cao và phát triển diện tích đất trồng lúa.

Các giống lúa trồng trước đây ở Việt Nam là các giống lúa cổ truyền với năng suất tiềm năng thấp hơn 5 tấn/ha, ít có phản ứng khi được bón phân, nhất là phân đạm,

có quang cảm và dễ đổ Từ các năm 1997, sử dụng các giống IR8, IR5 của IRRI cho năng suất cao, đạt 4 tấn/ha Bên cạnh đó, sau năm 1975 đất đai ở đồng bằng sông Cửu Long được phát triển và cải thiện cho công việc trồng lúa (Nguyễn Hữu Nghĩa, 1996) Góp phần tăng năng suất chung của cả nước từ 2,15 tấn/ha năm 1970 đạt 3,88 tấn/ha (năm 1997).

Bảng 2.4 Sản xuất lúa gạo ở Việt Nam các năm gần đây

Trang 12

Năm Diện tích

( 1000 ha)

Năng suất ( tấn/ha)

Sản lượng ( 1000 tấn)

và đang dần được tăng lên, đạt 7753,2 nghìn ha vào năm 2012, cao nhất từ trước đến nay Song song với việc phục hồi và mở rộng diện tích trồng lúa, năng suất lúa cũng

Trang 13

ngày càng được nâng cao, đạt 5,63 tấn/ha (2012), góp phần đáng kể tăng sản lượng lúa gạo của cả nước.

Bảng 2.5 Sản lượng lúa theo vụ ở Việt Nam các năm gần đây

Trang 14

Qua bảng số liệu trên ta thấy: tổng sản lượng lúa cả nước là 42,40 triệu tấn: vụ Đông Xuân đạt 19,78 triệu tấn (chiếm 46,7%), vụ Hè Thu đạt 13,40 triệu tấn (chiếm 31,6%) và vụ mùa chiếm 21,7% với 9,22 triệu tấn (năm 2011).

Nhìn chung, sản lượng lúa vụ Đông xuân chiếm trên 45% tổng sản lượng lúa cả nước một năm, đóng vai trò đặc biệt trong việc tăng sản lượng lúa cả nước Nhưng bên cạnh đó cũng khẳng định vai trò quan trọng của 2 vụ lúa Hè thu và vụ Mùa, cần

có những giải pháp, đầu tư để mở rộng diện tích, góp phần tăng tổng sản lượng lúa cả nước.

Trong giai đoạn 1989 - 2008, Việt Nam đã xuất khẩu bình quân hàng năm trên 3 triệu tấn gạo sang 128 quốc gia trên thế giới Trong vòng 5 năm (2006 – 2010), cả nước đã xuất khẩu 26,69 triệu tấn gạo (riêng năm 2010 xuất khẩu hơn 6,7 triệu tấn), đạt giá trị 10,57 tỉ USD, với mức giá xuất khẩu bình quân gần 396 USD/tấn Lượng gạo xuất khẩu tăng gần 34% so với giai đoạn 2001 – 2005 Đặc biệt từ năm 2008, trị giá tăng vọt gần 100% so với năm trước do giá gạo trên thị trường tăng đột biến, đạt gần 2,7 tỷ USD, đưa năm 2008 trở thành năm đánh dấu mốc kim ngạch xuất khẩu gạo vượt con số 2 tỷ USD Năm 2009, xuất khẩu gạo đã tăng vọt lên mức hơn 6 triệu tấn Đến năm 2010, xuất khẩu gạo tiếp tục đạt mức kỷ lục mới về cả số lượng và trị giá, với 6,75 triệu tấn và thu được gần 3 tỷ USD.

Theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) năm 2012, xuất khẩu gạo đạt 7,72 triệu tấn, đạt hơn 3,5 tỷ USD, tăng gần 8,3% về số lượng nhưng lại giảm 1,98% về trị giá so với năm 2011; giá xuất khẩu bình quân đạt xấp xỉ 447 USD/tấn.

Về chủng loại xuất khẩu gạo: cao cấp là 3,5 triệu tấn (chiếm 46,3%); gạo cấp trung bình là 1,8 triệu tấn (chiếm 23,5%), số còn lại là gạo cấp thấp Trong đó, Châu Á là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm 77,7% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước (tương đương 6 triệu tấn) Năm 2012, Indonesia, Phillipines và Malaysia vẫn tiếp tục là ba thị trường nhập khẩu truyền thống Tiềm năng tiêu thụ gạo của các thị trường này vẫn còn khá lớn, tuy nhiên, theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), trong vài năm tới, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường này sẽ bị thu hẹp dần.

Bên cạnh đó, trung bình mỗi năm Việt Nam xuất khẩu sang châu Phi từ 1,2 đến 1,5 triệu tấn gạo Năm 2011, Việt Nam đã xuất khẩu gạo sang 32 nước châu Phi, kim

Trang 15

ngạch đạt 745,4 triệu USD, tăng 33% so với năm 2010, còn 9 tháng đầu năm 2012, kim ngạch xuất khẩu gạo sang khu vực này đạt 680,14 triệu USD.

Tổng sản lượng gạo xuất khẩu và chất lượng gạo của Việt Nam ngày càng được nâng cao, mặt bằng giá xuất khẩu tăng, thu hẹp khoảng cách với giá gạo tiêu chuẩn trên thị trường thế giới Việt Nam đã và đang dần khẳng định vị trí của mình trên thị trường gạo thế giới, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết Do vậy, cần nhiều hơn nữa các giải pháp để tăng sản lượng gạo trong nước, nâng cao giá gạo xuất khẩu,

mở rộng diện tích trồng và chọn tạo các giống lúa có chất lượng gạo tốt.

2.2 Dinh dưỡng của cây lúa

2.2.1 Dinh dưỡng đạm

Đạm đóng vai trò quan trọng trong đời sống cây trồng nói chung và với cây lúa nói riêng, đạm giữ vai trò đặc biệt trong việc tăng năng suất Nó là một trong những thành phần cơ bản của axit amin, axit nucleotit và diệp lục Tại các bộ phận non của cây có hàn lượng đạm cao hơn các bộ phận già.

Đạm có vai trò quan trọng trong việc phát triển bộ rễ, thân, lá, chiều cao cây và

đẻ nhánh của cây lúa Đặc biệt đạm có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình đẻ nhánh của cây lúa Việc cung cấp đạm đủ và đúng lúc làm cho lúa vừa đẻ nhánh nhanh vừa tập trung, tạo ra nhiều nhánh hữu hiệu, là cơ sở tạo ra số bông/đơn vị diện tích sau này – yếu tố cấu thành năng suất có vai trò quan trọng đối với năng suất lúa

Đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất với cây lúa Lúa cần đạm ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng, tuy nhiên nhu cầu đạm tăng đều từ thời kỳ đẻ nhánh tới trỗ, rồi giảm dần sau trỗ Giai đoạn sinh trưởng đầu tỷ lệ đạm được tích lũy cao trong thân, lá của cây lúa và giảm dần theo thời gian cho tới tận giai đoạn cuối của thời kỳ sinh trưởng Việc di chuyển đạm từ các bộ phận của cây đến hạt diễn ra mạnh mẽ ở thời kỳ sinh trưởng sinh thực và chủ yếu là giai đoạn sau trỗ Cây lúa hút đạm nhiều nhất vào hai thời kỳ: đẻ nhánh khoảng 70% và làm đòng khoảng 10 – 15%, trong đó đẻ nhánh

là thời kỳ hút đạm có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất lúa còn làm đòng là thời kỳ hút đạm có hiệu suất cao Tùy theo thời gian sinh trưởng của giống mà 2 đỉnh về sự hút đạm có khoảng cách gần hay xa Các giống lúa ngắn ngày có 2 đỉnh nhu cầu đạm gần nhau, còn các giống dài ngày 2 đỉnh đó cách nhau trong khoảng từ 30 – 40 ngày.

Trang 16

Bên cạnh đó, bón đủ và cân đối đạm không những có tác dụng tăng diện tích lá, tăng khả năng đẻ nhánh mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng quang hợp và tích lũy chất khô, tạo năng suất hạt của cây lúa Bón thúc đạm làm tăng lượng đạm trong lá (Mitsui, Nixihaki, 1940), song cường độ quang hợp lại phụ thuộc vào hàm lượng đạm trong lá (Tagawa và cs, 2000; Phạm Văn Cường và cs, 2003).

Hiệu suất quang hợp tăng cùng lượng đạm khi diện tích lá còn thấp, tới một giới hạn nào đó khi diện tích lá đã đạt giá trị cực đại, nếu tiếp tục tăng đạm sẽ làm giảm hiệu suất quang hợp.

Sự thiếu hụt và dư thừa đạm

Thiếu đạm làm cho cây lúa thấp, đẻ nhánh kém, đòng nhỏ, khả năng trỗ kém, số hạt trên bông ít, hạt lép nhiều, năng suất thấp Khi cây lúa thiếu đạm lá có phiến nhỏ, hàm lượng diệp lục giảm nên lúc đầu lá có màu vàng nhạt ở đầu ngọn lá rồi dần dần

cả phiến lá biến thành màu vàng

Thừa đạm quá nhiều làm cho lá to, dài, phiến lá mỏng, nhánh vô hiệu nhiều, lúa trỗ muộn, cây cao vống, bị lốp làm ảnh hưởng xấu tới năng suất và phẩm chất của cây lúa Hiện tượng lúa lốp, đổ là do cây thừa đạm, làm hô hấp của cây tăng lên, lượng gluxit tiêu hao nhiều, làm giảm sự hình thành xenlulo và licnin nên làm cho màng tế bào mỏng đi, tổ chức cơ giới trong thân lá phát triển kém.

Lượng đạm bón ảnh hưởng tới tính chất vật lý và sức đề kháng sâu bệnh của cây lúa Trong cả trường hợp thừa hoặc thiếu đạm đều làm sức đề kháng của cây lúa yếu đi Trường hợp bón quá nhiều đạm, đặc biệt không cân đối với lân, kali và nguyên

tố trung lượng, vi lượng làm cho lá lúa quá tốt, mềm yếu, khả năng bị sâu bệnh và côn trùng tấn công mạnh hơn Và bón quá nhiều đạm trong điều kiện khí hậu ẩm ướt làm cho thành tế bào mỏng hơn (do hàm lượng axit amin và amino axit cao, trọng lượng phân tử đường thấp) giảm sức chống đỡ của thành tế bào từ đó thích hợp cho sự phát triển của sâu bệnh.

Ảnh hưởng của đạm tới yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng lúa gạo

Năng suất lúa được cấu thành thành bởi các yếu tố: số bông/đơn vị diện tích, số hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc và trọng lượng 1000 hạt Trong các yếu tố cấu thành năng suất trên, đạm ảnh hưởng nhiều nhất tới số bông/đơn vị diện tích Tuy nhiên, đạm cũng làm tăng số gié/bông do đó làm tăng số hạt/bông Trọng lượng 1000 hạt thường ít bị

Trang 17

ảnh hưởng bởi lượng đạm bón, nhưng nếu bón thừa hoặc thiếu đạm có thể làm giảm trọng lượng 1000 hạt

Tinh bột và protein là 2 chỉ tiêu quan trọng nhất trong đánh giá chất lượng lúa gạo Liều lượng và thời gian bón đạm có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hàm lượng protein trong hạt gạo, nhưng bón quá nhiều thì sẽ làm cho mức độ tăng của hàm lượng protein bị giảm đi Khi làm thí nghiệm bón đạm sau khi lúa trỗ với cách bón một lần toàn bộ số lượng đạm và bón rải 5 lần (Honjyo, 1971) đã đưa ra kết luận: bón đạm nhiều lần rải rác làm giảm hàm lượng protein trong hạt gạo so với bón tập trung.

2.2.2 Dinh dưỡng lân

Sau đạm thì lân là yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng đối với quá trình sinh trưởng, phát triển, năng suất của cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng.

Lân là một trong những chất cần thiết bậc nhất cho quá trình trao đổi chất của cây, do lân có mặt trong thành phần của nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng nhất đối với cây: glyxerophotphat – chất đầu tiên của quá trình quang hợp, ATP, ADN, ARN Các hợp chất này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phân chia tế bào, tạo thành chất béo, protein, cụ thể là có vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp và hô hấp của cây.

Lân là thành phần chủ yếu của axit nucleic, là chất chủ yếu của nhân tế bào, trong vật chất khô của cây có chứa hàm lượng lân từ 0,1 – 0,5% Lân có mối quan hệ chặt chẽ với sự hình thành diệp lục, protein và sự di chuyển tinh bột Cây lúa hút lân mạnh hơn so với các loại cây trồng cạn Cùng với đạm, lân xúc tiến sự phát triển của

bộ rễ và tăng số nhánh đẻ, đồng thời làm cho lúa trỗ và chín sớm hơn.

Lân có vai trò rất quan trọng trong thời gian sinh trưởng đầu của cây lúa, xúc tiến sự phát triển của bộ rễ lúa và số dảnh lúa, có ảnh hưởng tới tốc độ đẻ nhánh của cây lúa Lân còn làm cho cây lúa trỗ bông đều, chín sớm hơn, tăng năng suất Mặt khác, lân là yếu tố quyết định phẩm chất hạt giống rõ rệt, tăng trọng lượng 1000 hạt,

do đó, làm cho hạt giống cây có tỷ lệ nảy mầm cao, hạt đầy đặn, màu sắc đẹp, hấp dẫn Lân còn có tác dụng giúp cây tăng các khả năng chống chịu với điều kiện bất thuận như: khả năng chịu rét, chịu hạn và khả năng chống chịu sâu bệnh hại lúa.

Dinh dưỡng lân có liên quan mật thiết với dinh dưỡng đạm Nếu bón đủ lân sẽ làm tăng khả năng hút đạm và các chất dinh dưỡng khác Cây được bón cân đối N,

Trang 18

P2O5 sẽ làm giảm lượng đạm tiêu tốn để sản xuất ra 1 tấn thóc từ 24 – 26%, hơn nữa làm tăng hiệu suất sử dụng đạm lên 55 – 58%; cây xanh tốt, phát triển mạnh, chín sớm, cho năng suất cao và phẩm chất tốt Như vậy, để cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt và cho năng suất cao thì cần cân đối đủ cả đạm và lân cho cây.

Tác hại sự thiếu lân

Lúa thiếu lân lá có màu xanh đậm, bản lá nhỏ, hẹp, lá dài ra và mềm yếu, rìa mép lá có màu vàng tía Thiếu lân làm cho lúa đẻ nhánh ít, số nhánh hữu hiệu thấp, thời kỳ trỗ bông và chín đều chậm lại, kéo dài Do trỗ bông muộn nên hạt lép nhiều,

độ dinh dưỡng của hạt gạo thấp Thiếu lân ở thời kỳ làm đòng thì giảm năng suất một cách rõ rệt Bên cạnh đó, thiếu lân còn làm giảm hiệu quả sử dụng của phân đạm.

2.2.3 Dinh dưỡng kali

Kali không phải là chất tham gia vào bất kỳ một hợp chất hữu cơ nào của cây nhưng nó đóng vai trò quan trọng, thúc đẩy các hoạt động sinh lý trong cây, thúc đẩy quá trình vận chuyển sản phẩm quang hợp vào bộ phận thu hoạch Kali được cây hút dưới dạng ion K+, cây lúa hút kali với lượng tương đương như đạm, nhưng hút thừa kali không gây hại bằng hút thừa đạm.

Kali có ảnh hưởng mạnh tới quá trình hình thành, vận chuyển và trao đổi gluxit trong chu trình quang hợp Thiếu kali thì hoạt động của men amylaza và invectaza sẽ

bị kìm hãm Kali làm tăng thủy hóa của chất nguyên sinh, do đó làm giảm độ nhớt cấu trúc và làm tăng khả năng giữ nước trong tế bào Nhờ vậy, kali có khả năng tăng tính chống hạn của cây Ở cây lúa kali làm tăng dảnh hữu hiệu, tăng tổng số hạt và hạt chắc trên bông Kali cũng có khả năng làm tăng tính chịu nóng và chịu rét cho cây Từ thử nghiệm cho thấy thiếu kali áp suất trương của cây bị giảm, dẫn đến tăng cường quá trình thoát hơi nước khi bị khô hạn Thiếu kali cây hô hấp cũng bị giảm dẫn đến kìm hãm quá trình tổng hợp đường, phá hủy trao đổi phosphat cũng như hình thành phosphat cao năng.

Kali có ảnh hưởng rõ rệt đến sự phân chia tế bào và phát triển của bộ rễ lúa trong điều kiện ngập nước nên có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển cũng như năng suất của cây lúa Ngoài ra, kali còn thúc đẩy hình thành licnin, xellulo làm cho cây cứng cáp hơn, chịu được nước sâu, giảm đổ và chống chịu sâu bệnh tốt hơn.

Trang 19

Thời gian hút kali của lúa kéo dài hơn so với đạm, lân và kéo dài đến cuối thời

kỳ sinh trưởng Trong đó, tỷ lệ kali cây hút trong thời kỳ từ cấy – đẻ nhánh chiếm 20,0 – 21,9%, phân hóa đòng – trỗ chiếm 51,8 – 61,9%, vào chắc – chín chiếm 16,2 – 27,7% nhưng chỉ khoảng 20% số kali hút được vận chuyển về bông hạt, lượng còn lại tích lũy trong các bộ phận khác của cây (trong rơm rạ) Nhu cầu kali của cây lúa cao nhất ở hai thời kỳ lá đẻ nhánh và làm đòng, cây lúa hút kali mạnh nhất ở thời kỳ làm đòng nhưng thiếu kali ở thời kỳ đẻ nhánh lại ảnh hưởng mạnh tới năng suất của lúa.

Theo Matsuto, giữa việc hút đạm và kali có một mối tương quan thuận, tỷ lệ N/

K thường là 1,26 Vai trò cân đối đạm và kali càng lớn khi lượng đạm sử dụng càng cao Nếu không bón kali thì hệ số sử dụng đạm chỉ đạt 15 – 30%, trong khi bón Kali thì hệ số này tăng lên đến 39 – 49% Như vậy, để tăng năng suất lúa cần điều chỉnh dinh dưỡng đạm và kali cân đối, làm cây sử dụng được nhiều đạm và các chất dinh dưỡng khác nhiều hơn

Tác hại sự thiếu hụt kali

Cây lúa thiếu kali ít ảnh hưởng tới đẻ nhánh nhưng làm cây lúa lùn, thấp; có lá hẹp, lá mềm yếu và rũ xuống, hàm lượng diệp lục thấp, màu xanh tối Khi thiếu kali mặt phiến lá của những lá phía dưới có những đốm màu nâu đỏ, lá khô dần từ dưới lên trên nên làm giảm số lá xanh trên cây Lúa thiếu kali còn dễ bị lốp đổ, dễ bị sâu bệnh tấn công, đặc biệt là bệnh tiêm lửa Đặc biệt, cây lúa thiếu kali ở thời kỳ làm đòng làm cho các gié của bông thoái hóa nhiều, số hạt ít, trọng lượng hạt giảm, nhiều hạt xanh, hạt lép, hạt bạc bụng, giảm hàm lượng tinh bột trong hạt dẫn tới giảm phẩm chất gạo.

2.3 Một số kết quả nghiên cứu về liều lượng phân bón cho lúa trên thế giới và Việt Nam.

2.3.1 Kết quả nghiên cứu về liều lượng Đạm bón cho lúa

2.3.1.1 Kết quả nghiên cứu về liều lượng đạm bón cho lúa trên thế giới

Nghiên cứu của Sing, Takahasi (1962) chỉ ra rằng: thời gian bón thúc đạm cũng

có ảnh hưởng đến tính chống đổ của cây Bón thúc đạm 20 ngày trước trỗ không chỉ làm cho khối lượng bông hạt đạt cao nhất mà cũng tăng cả tính chống đổ vì chiều dài

và đường kính các giống thay đổi; tích lũy nhiều chất khô ở các phần gốc và thân khỏe.

Trang 20

Theo Iruka (1963) nếu bón N với liều lượng cao thì hiệu suất cao nhất vào lúc

đẻ nhánh và sau đó giảm dần Với liều lượng N thấp thì bón vào lúc lúa đẻ nhánh và trước trỗ 10 ngày thì có hiệu quả cao (Yoshida, 1985) Theo kết quả nghiên cứu của Sinclair (1989): Hiệu suất bón đạm cho lúa rất khác nhau 1kg N cho từ 3,1 – 23 kg thóc.

Theo một nghiên cứu của Xniura và Cbiba (1973) về bón đạm theo 9 cách tương ứng với các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây lúa, mỗi lần bón với 7 mức đạn khác nhau đã đi tới kết luận: Hiệu suất của đạm (kể cả rơm, rạ, thóc) cao khi lượng đạm ở mức thấp Có 2 đỉnh hiệu suất, cao nhất là thời kỳ đẻ nhánh và 19 – 9 ngày trước trỗ Nếu lượng đạm nhiều thì không có đỉnh thứ 2.

Theo Cooke (1975), khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất lượng hạt lúa đã kết luận: năng suất của các giống lúa tăng dần theo lượng đạm bón, nếu bón 100 - 150 kg N/ha có thể tăng năng suất từ 10,34 lên 38,92 tạ/ha.

Tác giả Yoshida (1978), cho rằng ở các nước nhiệt đới, lượng các chất dinh dưỡng N, P, K cần để tạo ra một tấn thóc khô trung bình là 20,5 kg N + 5,5 kg P2O5 + 4,4 kg K2O Tỷ lệ hút đạm tùy theo từng chất đất, phương pháp, số lượng, thời gian bón đạm và kỹ thuật quản lý khác Ở các vùng nhiệt đới hiệu suất sử dụng đạm đối với sản lượng hạt vào khoảng 50kg thóc khô/1 kgN được hút, tại Nhật Bản khoảng 62 kg, còn ở các nước ôn đới hiệu suất này cao hơn khoảng 20% (Yoshida, 1985).

Mutara (1965), Yoshida (1985) đã nói: đạm là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng đối với lúa, lượng đạm cây hút vào thời kỳ đẻ nhánh quyết định 74% năng suất Khi được bón đạm đầy đủ năng suất lúa tăng lên nhờ tăng số dảnh hữu hiệu, tăng chiều dài bông, tăng số hạt trên bông và tăng khối lượng nghìn hạt.

Một nghiên cứu khác của Mutara cho thấy: mặc dù lượng hút dinh dưỡng khác nhau ở các mức năng suất, song lượng chất dinh dưỡng cần để tao ra một tấn thóc là một chỉ só ổn định, có thể coi là cơ sở để tính toán nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa

Để sản xuất ra một tấn thóc cây lúa cần 20,5 kg N ; 8,5 kg P2O5 và 19,3kg K2O ( Mutara và Miyashka, 1968).

Theo Koyama (1981), Sarker (2002): “ Đạm là yếu tố xúc tiến quá trình đẻ nhánh của cây, lượng đạm càng cao thì lúa đẻ nhánh càng nhiều, tốc độ đẻ nhánh lớn nhưng lụi đi cũng nhiều ”.

Trang 21

2.3.1.2 Những nghiên cứu về liều lượng Đạm bón cho lúa ở Việt Nam

Kết quả nghiên cứu của Đào Thế Tuấn (1980) và Nguyễn Hữu Tề (1997), cây lúa hút 70% tổng lượng đạm trong thời gian đẻ nhánh, đây là thời kỳ hút đạm có ảnh hưởng lớn đến năng suất, 10 – 15% lượng đạm hút là ở giai đoạn làm đòng, còn lại là

từ sau làm đòng tới chín Một kết quả nghiên cứu khác của Đào Thế Tuấn cũng khẳng định tương tự: 70% lượng đạm cây hút vào thời kỳ đẻ nhánh và nhất là thời kỳ đẻ nhánh rộ.

Theo kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Cự, tại xã Gia Xuyên, Gia Lộc, Hải Dương cho thấy: lượng đạm cần bón để đạt 1 tấn thóc cần từ 26 – 28 kg N Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Đào Thế Tuấn lại cho rằng muốn đạt 1 tấn thóc cần 22,3kg N trong vụ chiêm và 22,6kg N trong vụ mùa (Lê Văn Tiềm, 1996).

Kết quả nghiên cứu của Bạch Trung Hưng và cộng sự (1995) cho rằng: cấy lúa trên chân đất tốt, đã trồng cây vụ đông lượng đạm bón trong phạm vi 90 – 110 kg N, bón cân đối với các loại phân khác; trên 1m2 phải đạt trên 300 bông và mỗi bông có từ

85 hạt chắc trở nên.

Theo Phạm Đình Thục và cs (1994), đã nghiên cứu chế độ bón phân đạt hiệu quả kinh tế cao đối với một số giống lúa thâm canh trên đất phù sa sông Thái Bình đã

có kết luận: đối với các giống lúa có thời gian sinh trưởng dài nên bón tập trung ngay

từ đầu (lượng bón lót 40 – 50% N), với các giống lúa ngắn ngày bón lót (60 – 70% N) cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao.

Kết quả nghiên cứu mô hình thâm canh lúa ở Hải Dương của Nguyễn Ngọc Hân và cs (1994) đã đưa ra kết luận: Đối với các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn, cần đầu tư từ 10 – 15 tấn phân chuồng và 90 kg N/ha, 72 kg P2O5/ha và 27 kg

K2O/ha Lượng phân đạm nên bón tập trung vào giai đoạn đầu, dành khoảng 20% bón vào thời kỳ nuôi đòng, nuôi hạt.

Kết quả nghiên cứu của Viện lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long (1985 – 1994) chứng minh rằng: bón đạm trên nền bón 60 P2O5 và 30 K2O thì năng suất lúa tăng từ

15 – 48,5% trong vụ Đông Xuân và 8,5 – 35,6% trong vụ Hè Thu Chiều hướng chung của cả 2 vụ lúa là bón đến 90 N có hiệu quả cao hơn cả, bón trên mức này năng suất lúa tăng không đáng kể (Nguyễn Văn Luật, 2001).

Trang 22

Đối với giống lúa ngắn ngày để đạt năng suất cao, ngoài lượng phân chuồng, phân lân và kali bón lót; có thể bón đạm ở mức 90 – 120 kgN/ha Bón 90 kgN/ha hiệu quả tăng sản lượng rõ hơn Về tỷ lệ bón, trong vụ xuân nên bón nặng lót hơn (tỷ lệ bón lót – nhánh – đòng là 6:3:1), còn trong vụ mùa nên bón nặng nhánh (tỷ lệ 3:6:1) Trong điều kiện phân bón có hạn nên quan tâm đến tỷ lệ bón thích hợp vào các thời kỳ (Hà Công Vượng, 1988 – 1992).

Theo Nguyễn Vi và Trần Khải (1978): thì trên đất phù sa sông Hồng lúa chịu được lượng đạm bón 180kg N/ha (vụ xuân) và 150kg N/ha (vụ mùa) Trên đất bạc màu bón lượng đạm 150kg N/ha vẫn làm tăng năng suất lúa Tuy vậy, mức 120kg/ha

là hiệu quả nhất, hiệu suất bón đạm cho lúa lai trung bình 10 – 14kg thóc/kg N, với lúa thường đạt 7- 8 kg thóc/kg N Khi lượng bón đạm lên đến 150kg N/ha thì hiệu lực

K2O tăng lên đáng kể Ở vụ mùa bón 120 kg N/ha thì hiệu lực của K2O thể hiện rõ Do

đó quy luật chung : Mức bón đạm càng cao thì bội thu do bón K2O càng lớn nhưng

K2O không phải là yếu tố quyết định năng suất Bón đạm, kali và lân kết hợp làm cây hút được nhiều đạm từ đất, hiệu suất sử dụng phân bón tăng.

Theo kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Mai (2011), cho rằng: khi tăng hàm lượng đạm bón từ 0kg N/ha – 90kg N/ha đều dẫn đến tăng các chỉ tiêu nông sinh học, năng suất của các giống lúa thí nghiệm một cách rõ rệt Tuy nhiên, khi tiếp tục tăng lượng đạm bón lên 120kg N/ha thì hầu như các chỉ tiêu tiếp tục tăng lên nhưng không hoàn toàn có ý nghĩa trong thống kê, chỉ có LAI tăng ở mức có ý nghĩa trong các giai đoạn sinh trưởng.

Theo Nguyễn Như Hà (1999), khi bón đạm nên bón sớm, bón tập trung toàn bộ hoặc 5/6 tổng lượng đạm cần bón, bót lót sâu vừa có tác dụng tránh mất đạm, lại vừa tăng tính chống đổ cho lúa do bộ rễ cây phát triển mạnh Cũng theo Nguyễn Như Hà, nên bón kết hợp giữa phân vô cơ và phân hữu cơ mà cụ thể là phân chuồng.

Trang 23

Cũng theo Nguyễn Như Hà (2006), đạm ảnh hưởng tới đặc tính sinh lý và sức

đề kháng đối với sâu bệnh hại của cây lúa, thừa và thiếu đạm đều làm giảm sức đề kháng sâu bệnh của cây lúa nên cây dễ bị sâu bệnh tấn công Kết quả nghiên cứu của Lương Minh Châu và cộng sự (2003), cũng đã chứng minh rằng: trong ruộng lúa bón càng nhiều đạm thì mức độ thiệt hại do sâu, bệnh gây ra càng nặng, cụ thể là: rầy nâu, sâu đục thân, sâu cuốn lá, bệnh đạo ôn, bệnh vàng lá.

2.3.2 Kết quả nghiên cứu về liều lượng Lân bón cho lúa

2.3.2.1 Kết quả nghiên cứu về liều lượng Lân bón cho lúa trên thế giới

Theo Actiomenko (1958) cho rằng, hàm lượng lân trong lúa cao nhất ở thời kỳ

mạ rồi giảm dần, đến thời kỳ đẻ nhánh lại tăng lên và đạt đỉnh cao thứ hai vào giữa thời kỳ làm đòng, sau đó lại giảm xuống.

Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Khoa học Hoa Đông (1959), bón

đủ lân thì lúa chín sớm hơn 2 ngày, trọng lượng nghìn hạt tăng từ 0,4 – 1 gam, chiều dài bông có thể tăng từ 8,17 – 12,53%.

Công trình nghiên cứu của Vilek (1986), Sinclair (1989) về đặc điểm bón phân cho các giống lúa đều đi đến kết luận: Giống mới yêu cầu về phân bón nhất là phân lân cao hơn so với giống cũ Bón lân làm tăng khả năng hút đạm và kali, là cơ sở để tăng năng suất cây trồng Phân lân bón cho lúa có hiệu quả đứng thứ hai sau đạm, nhưng trong một vài trường hợp, ở những đất nghèo mùn thì phân lân lại làm tăng năng suất nhiều hơn đạm Tuy nhiên, bón phân lân cùng với đạm là điều kiện tốt để phát huy hiệu quả của phân lân.

Khi cây bị thiếu lân cây non có bộ lá hẹp, thường bị cuộn lại; sức đẻ nhánh giảm, đẻ muộn, giai đoạn đẻ nhánh kéo dài Ở thời kỳ lúa đẻ nhánh và tròn mình phân lân có ảnh hưởng tốt đến cây lúa, nó làm cho trọng lượng phần trên mặt đất của cây lúa tăng khá lớn, sau đó tới thời kỳ chín mức tăng của trọng lượng thân cây giảm Ở

Trang 24

những chân đất tương đối phì nhiêu, hiệu lực của phân lân đối với năng suất lúa không lớn Bón phân lân làm lúa cứng cây, tăng khả năng chống đổ.

Nghiên cứu của Brady, Nylec (1985) cho thấy: hầu hết các loại cây trồng hút không quá 10 – 13% lượng lân bón vào đất trong năm, đặc biệt là cây lúa, chỉ cần giữ cho lân có trong đất khoảng 0,2ppm hoặc thấp hơn một chút là có thể cho năng suất tối đa Tuy vậy, cần bón lân kết hợp với các loại phân khác như đạm, kali mới nâng cao được hiệu quả của nó.

Kết quả nghiên cứu hiệu suất từng phần của lân đối với việc tạo thành hạt thóc của Kamurava và Ishizaka (1996) cho thấy: thời kỳ lân có hiệu suất cao nhất là thời kỳ đầu sau cấy 10 – 20 ngày.

2.3.2.2 Kết quả nghiên cứu về liều lượng Lân bón cho lúa ở Việt Nam.

Nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng, cây lúa hút lân mạnh nhất vào thời kỳ

đẻ nhánh và làm đòng Theo Đào Thế Tuấn, trong điều kiện chất dinh dưỡng được cung cấp liên tục thì cây lúa hút đạm, lân, kali nhiều nhất vào lúc làm đòng Nếu nhìn

về mức độ hút dinh dưỡng thì cây lúa hút lân mạnh nhất vào thời kỳ đẻ nhánh, bởi vì lúc này sinh trưởng của thân, lá, rễ tương đối mạnh Nhiều tác giả đã nghiên cứu về động thái các hợp chất có lân trong cây lúa cao nhất vào lúc đẻ nhánh rồi giảm dần xuống Theo Nguyễn Văn Hoan (2003): trong giai đoạn đẻ nhánh hữu hiệu đến phân hóa đòng, cây lúa hút tới trên 80% tổng lượng lân cần thiết cho toàn bộ quá trình phát triển của cây.

Hàm lượng lân tổng số trong cây lúa có các đỉnh cao ở giai đoạn đầu của thời gian sinh trưởng, lúc đẻ nhánh và lúc chín sữa Còn ở rễ, lân có đỉnh cao vào cuối thời

kỳ đẻ nhánh và làm đòng (Đào Thế Tuấn, 1965)

Trang 25

Cây lúa hút khá nhiều lân trong các giai đoạn sinh trưởng đầu, hơn nữa cây lúa rất mẫn cảm với việc thiếu lân, thiếu lân trong thời kỳ cây con sẽ cho hậu quả rất xấu, sau này dù có bón nhiều lân cũng không bù đắp lại được Vì vậy, phân lân cần được bón lót, nên rải đều phân lân trên mặt ruộng trước khi cày bừa lần cuối để gieo cấy (Nguyễn Như Hà, 2006).

Để tạo ra một tấn thóc, cây lúa hút trung bình khoảng 7,1 kg P2O5 Hàm lượng lân trong đất rất ít, hệ số sử dụng lân của lúa lại thấp, do đó phải bón phân lân với liều lượng tương đối khá Theo Nguyễn Như Hà (2006), lượng phân lân bón cho lúa dao động từ 30 – 100 kg P2O5, thường bón 60 kg P2O5, đối với đất xám bạc màu có thể bón

80 – 90 kg P2O5/ha, đất phèn cần 90 – 150 kg P2O5/ha.

Theo kết quả nghiên cứu bón lân cho lúa của trường Đại học Nông Nghiệp II tại

xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế (1994): trong vụ Xuân bón lân cho lúa từ 30 – 120 kg P2O5/ ha đều làm tăng năng suất lúa từ 10 – 17%, với liều lượng 90 kg P2O5/ ha cho năng suất cao nhất, nếu bón trên 90 kg P2O5/ ha thì năng suất có xu hướng giảm.

Nguyễn Văn Bộ, Bùi Đình Dinh và cs (1995): nhu cầu về lân của lúa thuần không có gì khác biệt so với các giống lúa lai có cùng thời gian sinh trưởng Lúa cho năng suất 7 tấn/ha thì cây lúa hút khoảng 50 – 60 kgP2O5.

2.3.3 Kết quả nghiên cứu về liều lượng Kali bón cho lúa.

2.3.3.1 Kết quả nghiên cứu về liều lượng Kali bón cho lúa trên thế giới.

Trên thế giới, vai trò của Kali đã được nghiên cứu và khẳng định Các thí nghiệm của Patrick J.W.H, Mahapitra I.C (1968), đều cho thấy kali có vai trò quan trọng trong giai đoạn trước và sau làm đòng, thiếu kali ở giai đoạn này năng suất lúa giảm mạnh.

Trang 26

Theo quan điểm của Koyama (1981), kali xúc tiến tổng hợp đạm trong cây Thiếu kali cây lúa dễ bị bệnh tiêm lửa, đạo ôn, thối rễ, bạc lá, thân cây dễ bị yếu đổ Lúa được bón đầy đủ kali, lá chuyển màu xanh vàng, lá dài hơn và trỗ sớm hơn 2-3 ngày Kali có tác dụng làm tăng số nhánh hữu hiệu, tăng chiều cao cây, bông dài hơn

và phẩm chất hạt tốt hơn.

Theo Yang (1999), kali đẩy mạnh sự đồng hóa cacbon của cây lúa, xúc tiến việc chuyển hóa và vận chuyển sản phẩm quang hợp Thiếu kali hoạt động của sắt bị ảnh hưởng, do đó ảnh hưởng tới quang hợp dẫn đến lá bị vàng Bón đủ kali diệp lục và các sắc tố đều tăng (tuy nhiên kali không phải là thành phần của sắc tố), việc hình thành gluxit được đẩy mạnh, trọng lượng lá tăng, kali tham gia chuyển hóa đường thành gluco Khi đủ kali tỷ lệ Saccaroza và tinh bột đều cao.

Theo Shi M.S và Deng.J.Y (1986), khi nghiên cứu về kali cho thấy: kali là yếu

tố dinh dưỡng không đáp ứng được nhu cầu của cây trồng so với Ca và Mg, kali ở trong đất lại tồn tại chủ yếu ở dạng khó tiêu nên cây trồng khó hút, do đó nhu cầu của cây lúa về bón kali cần nhiều hơn so với Ca và Mg.

Kết quả nghiên cứu của Sinclair (1989), lúa hút kali vào thời kỳ đẻ nhánh có tác dụng làm tăng số bông, số hạt; ở thời kỳ làm đòng làm tăng số hạt và trọng lượng nghìn hạt Vì vậy, thiếu kali ở giai đoạn này làm năng suất giảm mạnh Đây cũng là cơ

sở cho các biện pháp kỹ thuật bón kali.

Thí nghiệm của Kobayashi (1995), cho thấy: Khi bón đủ kali, giai đoạn từ bắt đầu đẻ nhánh đến phân hóa đòng có tốc độ hút kali cao nhất sau đó giảm Bón kali khi phân hóa đòng có thể làm tăng số hạt trên bông.

Kết quả nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng, kỹ thuật bón phân cho lúa lai năng suất cao ở Bắc Kinh của Ying (1998) kết luận: đối với lúa ngắn ngày, giai đoạn trỗ cây lúa hút 43,1% lượng kali và tổng lượng kali cần để đạt năng suất cao là 217,7

Trang 27

kg/ha Còn đối với lúa dài ngày, cây lúa hút lượng kali tương đối đều ở các giai đoạn sinh trưởng, giai đoạn trỗ bông hút 31,9% và tổng lượng cần là 263,75 kg/ha Tác giả cho thấy, bón kali ở giai đoạn khác nhau cũng cho hiệu quả khác nhau.

Theo kết quả nghiên cứu của Sarker (2002): từ khi cây lúa bắt đầu bén rễ đến cuối đẻ nhánh, đối với vụ sớm và vụ muộn đều hút một lượng kali tương đối như nhau Từ khi phân hóa đòng tới lúc bắt đầu trỗ, cây lúa hút kali nhiều nhất và sau đó lại giảm, nhưng từ khi trỗ tới thời kỳ hạt chắc và chín thì tỷ lệ hút kali ở vụ muộn lại cao hơn vụ sớm.

Theo kết quả thí nghiệm của IRRI tiến hành tại 3 địa điểm khác nhau trong vòng 5 năm 1968 – 1972 cho thấy: kali có ảnh hưởng rất rõ tới năng suất lúa ở cả 2 vụ trong năm Trong điều kiện mùa khô, với mức 140 kgN – 60 kgP2O5 – 60 kgK2O/ha thì năng suất lúa đạt 6,78 tấn/ha, cho bội thu năng suất do bón kali là 12,8 kg thóc/kg

K2)O Trong mùa mưa, với mức 70 kgN, 60kgP2O5, bón 60 kgK2O thì năng suất lúa đạt 4,96 tấn/ha

2.3.3.1 Kết quả nghiên cứu về liều lượng Kali bón cho lúa ở Việt Nam

Kali là một trong ba yếu tố quan trọng cần thiết cho cây trồng Khác với đạm

và lân, kali không phải là phần tử cơ cấu của các chất sinh trưởng chính nhưng kali cũng rất cần cho quá trình tổng hợp protit, cần thiết khi cây tổng hợp đường thành tinh bột, thông qua ảnh hưởng đến quá trình quang hợp mà xúc tiến sự hình thành gluxit, hydratcacbon tổng số và sự vận chuyển các chất vào cơ quan dự trữ - Bùi Huy Đáp (1980).

Theo Lê Văn Căn (1964), nếu cứ bón đơn thuần đạm thì sau 3 – 4 vụ việc phối hợp bón lân và kali sẽ làm tăng năng suất một cách đáng kể Cũng theo tác giả khi bón một lượng đạm là 50 – 60 kg, nhất là các giống lúa mới thì hiện tượng thiếu kali xảy

Trang 28

ra chủ yếu là khô đầu lá và hạt bị lép Nếu bón kali trên nền đạm cao kết hợp kỹ thuật bón lót và bón thúc kali lúc lúa sắp đứng cái sẽ cho hiệu quả tốt hơn rất nhiều.

Nhu cầu kali của cây lúa rõ nhất ở thời kỳ đẻ nhánh và làm đòng Nếu thời kỳ

đẻ nhánh thiếu kali thì ảnh hưởng tới năng suất lúa Tuy nhiên, lúa hút kali nhiều nhất

ở thời kỳ làm đòng, từ cuối giai đoạn đẻ nhánh tới trỗ, lúa lai hấp thu kali nhiều hơn lúa thuần Sau khi trỗ bông lúa thuần giảm dần hút kali trong khi lúa lai vẫn hấp thu kali mạnh Thiếu kali lá có màu xanh đậm, cây thấp, lúa trỗ sớm hơn, năng suất giảm Thiếu kali quá trình tổng hợp protein bị trở ngại, đạm amin và đạm hòa tan trong cây tăng lên, sức chống chịu trong cây bị giảm – Phùng Thị Láng (1960).

Bùi Đình Dinh (1985), cho biết: tỷ lệ kali cây lúa hút trong các thời kỳ sinh trưởng tùy thuộc vào giống lúa, giai đoạn từ cấy đến đẻ nhánh là 20 – 21,9%; từ phân hóa đòng đến trỗ là 51,8 – 61,9%; từ vào chắc đến chín là 16,9 – 27,7%.

Theo Vũ Hữu Yêm (1995), cây lúa cần kali trong suốt thời kỳ sinh trưởng và cần nhiều hơn các yếu tố dinh dưỡng khác: gấp 1,5 lần so với đạm, gấp 3,5 lần so với lân Thời gian lúa hút kali kéo dài hơn lúa hút đạm và lân, lúa hút kali đến cuối thời kỳ sinh trưởng.

Mặc dù có những ý kiến khác nhau về lượng hút kali của lúa ở từng thời kỳ sinh trưởng nhưng trên thực tế sản xuất thì tác hại của việc bón thừa kali chưa được nghiên cứu sâu mà chỉ thấy tác hại của việc bón thiếu kali.

Kết quả nghiên cứu quan hệ giữa năng suất lúa với lượng kali bón của Võ Minh Kha cho thấy: hiệu lực của kali còn phụ thuộc rất lớn vào năng suất, trên đất phù sa Sông Hồng khi năng suất dưới 2,5 tấn/ha hiệu lực của kali thường không rõ; năng suất

từ 2,5 – 4,5 tấn/ha bón 20 – 30 kg K2O có hiệu lực rõ; năng suất lớn hơn 4,5 tấn/ha nhất thiết phải bón kali Trong vụ Xuân ở miền Bắc, nhiệt độ thấp, thời tiết âm u nên hiệu lực sử dụng phân kali cao hơn, cho nên cần bón kali nhiều ở vụ này.

Trang 29

Một nghiên cứu khác của Võ Minh Kha, trên ruộng lúa năng suất 8 tấn/ha số lượng kali lấy đi trong hạt thóc khoảng 40 – 50 kg K2O Nếu vùi trả lại rơm rạ và bón

10 tấn phân chuồng thì sự thâm hụt về kali không lớn, vì vậy nước tưới có thể là nguồn kali chính cho lúa Hàm lượng kali trong nước tưới đạt 40ppm có thể đáp ứng nhu cầu kali cho lúa ở mức năng suất 10 tấn/ha.

Trên thực tế sản xuất đã có nhiều khuyến cáo về mức bón phân kali cho lúa Ở Việt Nam liều lượng phân kali khuyến cáo sử dụng cho lúa ở đồng bằng sông Hồng còn chưa được thống nhất, thường dao động từ 60 – 120 kg K2O/ha đối với lúa thường, 90 – 120 kg K2O/ha đối với lúa lai, tùy theo mức độ đạm bón và lượng phân chuồng sử dụng – Nguyễn Văn Luật, 1998; Nguyễn Văn Bộ, 2003; Võ Minh Kha, 1996.

Theo Trần Phúc Sơn (1995), lượng kali lúa ngắn ngày hút để tạo ra 1 tấn thóc trên đất phù sa sông Hồng là 14,2 – 21,8 kg K2O/ha, còn theo Phạm Tiến Hoàng, 1995 cho rằng là 28,4 – 32,7 kg K2O/ha.

Trên đất phù sa sông Hồng trong thâm canh lúa ngắn ngày, để đạt được năng suất lúa hơn 5 tấn/ha ở vụ Mùa và trên 6 tấn/ ha ở vụ Xuân, nhất thiết phải bón Kali.

Để đạt năng suất lúa Xuân 7 tấn/ha, cần bón 102 – 135 kg K2O/ha/vụ (với mức 193 kg N/ha, 120 kg P2O5) và năng suất lúa vụ mùa đạt 6 tấn/ha cần bón 88 – 107 kg K2O/ha/

vụ (với mức 160 kg N/ha/vụ, 88 kg P2O5/ha/vụ) Hiệu suất phân kali có thể đạt 6,2 – 7,2 kg thóc/ kg K2O (Nguyễn Như Hà, 1999).

Cũng theo Nguyễn Như Hà (1999): lượng phân kali bón cho lúa phụ thuộc chủ yếu vào mức năng suất và khả năng cung cấp kali của đất Các mức bón trong thâm canh lúa trung bình là 30 – 90 kg K2O/ha và mức bón trong thâm canh lúa cao là 100 – 150 kg K2O/ha, trong đó kali của phân chuồng và rơm rạ có hiệu suất không kém trong phân hóa học Trên đất phù sa sông Hồng khi đã bón 8 – 10 tấn phân chuồng/ha

Trang 30

thì chỉ nên bón 30 – 90 kg/ha phân kali khoáng, ngay cả trong điều kiện thâm canh lúa cao.

Theo Mai Văn Quyền (2002), cho biết: trên vùng đất xám ở Đức Hòa – Long

An, Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam, 1993, đã thí nghiệm với 2 giống lúa KSB

218 – 9 – 3 và giống 2B cho thấy, ở các công thức bón từ mức 30 đến 120 kg K2O/ha đều làm cho năng suất lúa cao hơn đối chứng từ 15,8 – 32,4% với giống KSB – 218

và từ 6 – 18,7% đối với giống 2B.

2.4 Vấn đề bón phân cân đối cho cây lúa

Bón phân cân đối cho lúa là tùy theo yêu cầu của cây lúa về các chất dinh dưỡng và khả năng đáp ứng từng loại chất dinh dưỡng của đất trồng lúa cụ thể mà bón phân.

Bón phân cân đối phải tuân thủ các định luật:

Định luật trả lại: Để đất khỏi bị kiệt quệ cần trả lại cho đất các yếu tố dinh

dưỡng mà cây trồng lấy đi theo sản phẩm thu hoạch, cũng như các yếu tố bị mất trong quá trình bay hơi, rửa trôi.

Tuy nhiên trong thực tế có những yếu tố dinh dưỡng cây trồng lấy đi nhưng không cần trả lại vì hàm lượng của chúng có quá nhiều trong đất.

Định luật tối thiểu: Bón phân theo yếu tố có hàm lượng dễ tiêu ít nhất trong đất

so với yêu cầu của cây.

Định luật bón phân cân đối: Bằng phân bón con người phải trả lại tất cả mọi sự

mất cân bằng các nguyên tố khoáng có trong đất để tạo cho cây trồng có năng suất cao với chất lượng sinh học cao.

Trang 31

Để định lượng được lượng phân bón cân đối, ngoài những căn cứ nêu trên còn cần phải quan tâm điều chỉnh tùy thuộc điều kiện cụ thể Như trong mùa mưa (vụ mùa, hè thu) thì lượng phân đạm bón ít hơn trong vụ đông xuân, bón thúc sớm hơn Trong điều kiện hàm lượng kali trong nước tưới cao thì có thể giảm lượng phân kali bón Nếu là những loại đất nhẹ (đất cát pha, xám, bạc màu, ) cần tăng lượng kali bón Trên đất phèn (chua mặn) thì cần bón nhiều lân hơn do đất này nghèo lân, có sự cố định sắt nhôm di động Về kỹ thuật bón, với phân hữu cơ thì nên bón lót và bón 1 lần, còn các loại phân vô cơ thì cần chia nhỏ làm nhiều lần bón.

Như vậy, việc bón phân cân đối có vai trò quan trọng, nó không những làm tăng năng suất, chất lượng cây trồng mà còn làm tăng thu nhập trong sản xuất nông nghiệp, duy trì và cải tạo độ phì đất lâu bền, giảm xâm hại tới môi trường sinh thái Sử dụng phân bón cân đối hợp lý sẽ đảm bảo cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu, xúc tiến tác động tương hỗ và loại trừ các tác động đối kháng ra khỏi hệ thống cây trồng.

Trang 32

PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian tiến hành: Vụ mùa năm 2013

Ngày gieo mạ: 20/06/2013

Ngày cấy: 11/07/2013

Ngày thu hoạch: 10/10/2013

- Địa điểm tiến hành thí nghiệm: Khu thí nghiệm đồng ruộng Bộ môn Canh tác học – Khoa Nông học – Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội.

3.2 Vật liệu nghiên cứu

- Giống lúa: Bắc thơm 7, Hương thơm số 6.

Giống lúa Bắc thơm 7: Bắc thơm 7 là giống lúa có thể gieo cấy được trong cả 2

vụ đông xuân và vụ mùa; thời gian sinh trưởng ở trà Xuân muộn là 135 - 140 ngày, ở trà Mùa sớm là 115 – 120 ngày Chiều cao cây trung bình: 90 - 95 cm Đẻ nhánh khá,

Trang 33

thời gian trỗ kéo dài Hạt thon nhỏ, màu vàng sẫm; chiều dài hạt trung bình: 5,86 mm;

tỷ lệ chiều dài/ chiều rộng hạt là 2,95; trọng lượng 1000 hạt: 19 – 20 gram Gạo có hương thơm; cơm thơm, mềm; hàm lượng amylose 13,0%

Năng suất trung bình: 40 – 45 tạ/ha, trong điều kiện thâm canh cao có thể đạt:

45 – 50 tạ/ha Khả năng chống đổ và chịu rét trung bình; nhiễm nhẹ đến trung bình Rầy nâu, bệnh Đạo ôn và bệnh Khô vằn, nhiễm nặng với bệnh Bạc lá (trong vụ mùa).

Giống lúa Hương thơm số 6 là giống lúa thơm, cơm dẻo, đậm, mềm và ngọt HT6 có thời gian sinh trưởng trong vụ mùa: 112 - 117 ngày, vụ xuân muộn: 130 -135 ngày Chiều cao cây trung bình là 100 – 110 cm, cứng cây, đẻ nhánh trung bình Khả năng chống đổ khá, kháng bệnh Đạo ôn, Khô vằn, Bạc lá trung bình Bông dài, số hạt/ bông: 150 – 250 hạt /bông, khối lượng 1000 hạt là 22,7 – 22,9gram Năng suất trung bình 55 – 60 tạ/ha, thâm canh tốt có thể đạt 70 tạ/ha/vụ.

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón đến các chỉ tiêu sinh trưởng,

phát triển: động thái tăng trưởng chiều cao cây, số lá, khả năng đẻ nhánh của hai giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6 vụ mùa năm 2013 trên đất Gia Lâm – Hà Nội

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón đến các chỉ tiêu sinh lý: chỉ số

Trang 34

diện tích lá (LAI), khả năng tích lũy chất khô của hai giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6.

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón khác nhau đến tình hình phát sinh sâu bệnh hại của hai giống Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6 trồng vụ mùa 2013 tại đất Gia Lâm – Hà Nội.

- Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của hai giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6.

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Quy trình thí nghiệm và các biện pháp kỹ thuật áp dụng

Lần 1: Đẻ nhánh (sau cấy 2 tuần): 30%N + 50%K20.

Lần 2: Bón thúc đòng (trước khi lúa trỗ 20 ngày): 20%N + 50% K20

3.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm

- Thí nghiệm có 2 nhân tố, bố trí theo kiểu ô lớn – ô nhỏ (Splip - plot) Hai giống lúa là nhân tố chính được bố trí ở ô thí nghiệm nhỏ, các mức phân bón là nhân tố phụ được bố trí ở ô thí nghiệm lớn.

- Nhân tố thí nghiệm:

 Nhân tố phân bón: 5 mức (ô lớn)

Trang 35

M1: 0 kg N – 0 kg P205 – 0 kg K20 (kg/ha) M2: 60 kg N – 45 kg P205 – 45 kg K20 (kg/ha) M3: 90 kg N – 67,5 kg P205 – 67,5 kg K20 (kg/ha) M4: 120 kg N – 90 kg P205 – 90 kg K20 (kg/ha) M5: 150 kg N – 112,5 kg P205 – 112,5 kg K20 (kg/ha)

 Nhân tố giống: 2 giống (ô nhỏ)

G1: giống Bắc thơm 7 (BT7)

G2: giống Hương thơm số 6 (HT6)

- Thí nghiệm gồm 10 công thức, 3 lần nhắc lại.

- Tổng số ô thí nghiệm: 30 ô.

- Diện tích 1 ô nhỏ: 3m x 4m = 12m2

- Tổng toàn bộ diện tích thí nghiệm là 360m2.

Sơ đồ thí nghiệm:

Trang 36

3.4.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

3.4.3.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển

- Phương pháp theo dõi: lấy mẫu theo đường chéo 5 điểm, mỗi điểm theo dõi 1 khóm, 7 ngày theo dõi một lần Khóm lấy mẫu cách bờ 40cm.

- Thời gian sinh trưởng:

+ Ngày bắt đầu đẻ nhánh: Khi có 10% số cây theo dõi đẻ nhánh (có nhánh đầu tiên ra khỏi bẹ lá).

+ Ngày nhánh đẻ rộ (đẻ nhánh tối đa): Khi có 50% số cây theo dõi đẻ nhánh + Ngày kết thúc đẻ nhánh: khi có 80% số cây theo dõi đẻ nhánh.

+ Ngày bắt đầu trỗ: Khi có 10% số cây theo dõi trỗ bông (có bông thoát ra khỏi

bẹ lá đòng).

+ Ngày trỗ tập trung: khi có 50% số cây theo dõi trỗ bông.

+ Ngày trỗ hoàn toàn: khi có 80% số cây theo dõi trỗ bông.

Trang 37

+ Ngày chín hoàn toàn: khi có 80% số bông chín (hạt chắc, cứng, vỏ hạt chuyển sang màu vàng nhạt, khô dần).

- Tổng thời gian sinh trưởng (tính từ khi gieo mạ đến khi thu hoạch).

- Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm): Đo từ gốc đến đầu mút của lá dài nhất trong khóm; tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/tuần).

- Động thái đẻ nhánh (số nhánh/khóm): Đếm số nhánh trên khóm qua các lần theo dõi; tốc độ đẻ nhánh (số nhánh/khóm/tuần).

- Động thái ra lá (lá/thân chính): Đếm số lá trên thân chính qua các lần theo dõi bằng cách đánh dấu sơn; tốc độ ra lá (lá/thân chính/tuần).

LAI = (b x Số khóm/ m2 đất)/ a x 100 (m2 lá/m2 đất) Trong đó: a là khối lượng 1dm2 lá tươi (g)

b là khối lượng toàn bộ lá tươi (g)

- Khối lượng chất khô tích lũy (DM):

Những cây sau khi đo diện tích lá được đem sấy ở nhiệt độ 1050C đến khối lượng không đổi Sau đó cân riêng thân lá.

3.4.3.3 Chỉ tiêu về khả năng chống chịu sâu bệnh hại và khả năng chống đổ

Theo dõi các loại sâu, bệnh hại chính xuất hiện qua các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của lúa như: sâu đục thân, sâu cuốn lá nhỏ, bệnh khô vằn, đạo ôn, bạc

Trang 38

lá, Sau đó, đánh giá theo phương pháp cho điểm của Viện lúa quốc tế IRRI Đồng thời, đánh giá khả năng chống đổ của các giống lúa ở các mức phân bón khác nhau.

Sâu hại: sâu đục thân, sâu cuốn lá, rầy nâu, bọ trĩ… Theo dõi tỷ lệ dảnh chết ở giai đoạn đẻ nhánh đến làm đòng và bạc bông ở giai vào chắc đến chín, cho điểm theo thang điểm:

+ Điểm 1: 1-10% dảnh hoặc bông bị hại

+ Điểm 3: 11-20% dảnh hoặc bông bị hại

+ Điểm 5: 21-30% dảnh hoặc bông bị hại

+ Điểm 7: 31-50% dảnh hoặc bông bị hại

+ Điểm 9: 51-100% dảnh hoặc bông bị hại

Bệnh hại trên lá: bệnh bạc lá: xác định mức độ bệnh theo thang điểm:

+ Điểm 1: diện tích lá bị hại 1-5%

+ Điểm 3: diện tích lá bị hại từ 6-12%

+ Điểm 5: diện tích lá bị hại từ 13-25%

+ Điểm 7: diện tích lá bị hại từ 26-50%

+ Điểm 9: diện tích lá bị hại từ 51-100%

Bệnh hại: bệnh khô vằn: xác định theo thang điểm

+ Điểm 1: vết bệnh < 20% chiều cao cây

+ Điểm 3: vết bệnh 20 – 30% chiều cao cây

+ Điểm 5: vết bệnh 31 – 45% chiều cao cây

+ Điểm 7: vết bệnh 46 – 65% chiều cao cây

+ Điểm 9: vết bệnh > 65% chiều cao cây

3.4.3.4 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

Mỗi ô thí nghiệm lấy 3 khóm để theo dõi các chỉ tiêu sau:

- Số bông/khóm

- Số bông/m2 (A): Số bông/khóm x Mật độ (40 khóm/m2)

Trang 39

- Số hạt/bông (B): tính tất cả các hạt của các bông/khóm, sau đó lấy trung bình

3.3.4 Phương pháp phân tích số liệu.

- Số liệu thí nghiệm được xử lý bằng các chương trình Excel, chương trình IRRISTAT 5.0.

Trang 40

PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của 2 giống lúa Bắc thơm 7, Hương thơm số 6

4.1.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây

Chiều cao cây là một chỉ tiêu sinh trưởng quan trọng của cây lúa, thể hiện đặc trưng, đặc tính của từng giống Nó liên quan đến khả năng quang hợp, khả năng chống

đổ và khả năng chịu phân của cây Giống lúa thấp cây khả năng chống đổ tốt hơn, chịu phân hơn và tốc độ vận chuyển dinh dưỡng tốt hơn so với giống cao cây Sự tăng trưởng chiều cao cây chính là sự tăng trưởng của thân lá từ khi cây lúa nảy mầm đến khi vươn lóng và trỗ bông hoàn toàn Chiều cao cây là đặc tính nông sinh học do di truyền của từng giống quy định song nó vẫn chịu sự chi phối nhất định của điều kiện môi trường như đất đai, nhiệt độ, ánh sáng và các biện pháp kỹ thuật tác động như phân bón, chế độ nước trong ruộng.

4.1.1a Ảnh hưởng của giống tới động thái tăng trưởng chiều cao cây

Ngày đăng: 05/05/2015, 18:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa các châu lục và trên thế giới năm  2012 - khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón đối với sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2 giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6 vụ mùa năm 2013 trên đất Gia Lâm ─ Hà Nội
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa các châu lục và trên thế giới năm 2012 (Trang 7)
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới giai đoạn 1965 – 2012 - khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón đối với sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2 giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6 vụ mùa năm 2013 trên đất Gia Lâm ─ Hà Nội
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới giai đoạn 1965 – 2012 (Trang 8)
Bảng 4.1.1b: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón tới động thái tăng trưởng  chiều cao cây - khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón đối với sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2 giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6 vụ mùa năm 2013 trên đất Gia Lâm ─ Hà Nội
Bảng 4.1.1b Ảnh hưởng của liều lượng phân bón tới động thái tăng trưởng chiều cao cây (Trang 41)
Bảng 4.1.1c: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón và giống tới động thái tăng  trưởng chiều cao cây - khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón đối với sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2 giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6 vụ mùa năm 2013 trên đất Gia Lâm ─ Hà Nội
Bảng 4.1.1c Ảnh hưởng của liều lượng phân bón và giống tới động thái tăng trưởng chiều cao cây (Trang 43)
Bảng 4.1.2c: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón và giống đến động thái ra  lá - khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón đối với sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2 giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6 vụ mùa năm 2013 trên đất Gia Lâm ─ Hà Nội
Bảng 4.1.2c Ảnh hưởng của liều lượng phân bón và giống đến động thái ra lá (Trang 47)
Hình 4.2: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón và giống đến động thái ra lá - khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón đối với sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2 giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6 vụ mùa năm 2013 trên đất Gia Lâm ─ Hà Nội
Hình 4.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón và giống đến động thái ra lá (Trang 48)
Bảng 4.1.3c: Ảnh hưởng tương tác của liều lượng phân bón và giống lúa đến  động thái đẻ nhánh - khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón đối với sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2 giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6 vụ mùa năm 2013 trên đất Gia Lâm ─ Hà Nội
Bảng 4.1.3c Ảnh hưởng tương tác của liều lượng phân bón và giống lúa đến động thái đẻ nhánh (Trang 52)
Bảng 4.2.1a: Ảnh hưởng của giống đến chỉ số diện tích lá - khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón đối với sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2 giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6 vụ mùa năm 2013 trên đất Gia Lâm ─ Hà Nội
Bảng 4.2.1a Ảnh hưởng của giống đến chỉ số diện tích lá (Trang 55)
Hình 4.4: Ảnh hưởng của giống và liều lượng phân bón đến chỉ số diện tích lá  4.2.2 Khả năng tích lũy chất khô - khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón đối với sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2 giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6 vụ mùa năm 2013 trên đất Gia Lâm ─ Hà Nội
Hình 4.4 Ảnh hưởng của giống và liều lượng phân bón đến chỉ số diện tích lá 4.2.2 Khả năng tích lũy chất khô (Trang 61)
Bảng 4.2.2b: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón tới khả năng tích lũy chất khô - khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón đối với sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2 giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6 vụ mùa năm 2013 trên đất Gia Lâm ─ Hà Nội
Bảng 4.2.2b Ảnh hưởng của liều lượng phân bón tới khả năng tích lũy chất khô (Trang 63)
Bảng 4.4.1c: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón và giống lúa đến các yếu tố cấu  thành năng suất và năng suất lúa - khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón đối với sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2 giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6 vụ mùa năm 2013 trên đất Gia Lâm ─ Hà Nội
Bảng 4.4.1c Ảnh hưởng của liều lượng phân bón và giống lúa đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúa (Trang 76)
Bảng 4.4.2a: Ảnh hưởng của giống đến năng suất sinh vật học và HSKT - khóa luận Nghiên cứu ảnh hưởng của các mức phân bón đối với sinh trưởng, phát triển và năng suất của 2 giống lúa Bắc thơm 7 và Hương thơm số 6 vụ mùa năm 2013 trên đất Gia Lâm ─ Hà Nội
Bảng 4.4.2a Ảnh hưởng của giống đến năng suất sinh vật học và HSKT (Trang 79)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w