1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

565 Định hướng pháp triển kinh doanh xuất khẩu tại công ty thuỷ sản và xuất nhập khẩu Côn Đảo (COIMEX)

92 320 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề 565 Định Hướng Pháp Triển Kinh Doanh Xuất Khẩu Tại Công Ty Thuỷ Sản Và Xuất Nhập Khẩu Côn Đảo (Coimex)
Trường học University of Economics Ho Chi Minh City
Chuyên ngành Business Administration
Thể loại Đồ án tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Ho Chi Minh City
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 4,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

565 Định hướng pháp triển kinh doanh xuất khẩu tại công ty thuỷ sản và xuất nhập khẩu Côn Đảo (COIMEX)

Trang 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Giáo viên hướng dan : PGS.TS VO THANH THU | Sinh viên thực hiện : NGUYÊN THANH MAI

Trang 2

MUC LUC

Chương |; NGANH THUY SAN XUAT KHẨU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIEN

| - ĐẶC ĐIỂM VỀ XUẤT KHẨU THỦY SẲN -~ ~~-~~¬~~~¬~~¬” 1

1 Tiêm năng của mặt hàng thủy sản Việt Nam rất lớn - 1

2, Phân tích kiêm ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam - 2

3 Phân tích thị trường xuất khẩu -~~ ~~~~~=~~~~~~==~~~~~~" 2

II - VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẲN THẾ GIỚI -4

1 Hiện tượng khai thác bừa bãi -~-~-~~~~~~~~~~~~~~===~~~~~~" 5

2 Ngudn thiy san dude cung cp cap tif thién nhién khong ổn định 5

3 Dân số thế giới ngày càng gia tang 7

4 Hiện nay các nguồn tài nguyên thủy sản đang giảm -~- 7

III - VAL NET VE TINH HINH SAN XUAT VA XUAT KHAU THUY SAN CỦA VIỆT NAM, BINH HUGNG VA PHAI PHAP PHAT TRIEN - 7

1 Tình hình sản xuất và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam - 7

2 Định hướng giải pháp phát triển cho ngành thủy sản xuất khẩu

Việt Nam 13

hương II: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH KINH DOANH TAI CONG TY THUY SAN

VÀ XUẤT NHẬP KHẨU CÔN ĐẢO

2 Chức năng nhiệm vụ của Công ty 16

4 Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty -~ ~-~~~~~~~~~~~~ 23

II - TÌNH HÌNH SẲN XUẤT KINH DOANH XUẤT KHAU CUA CONG TY - 25

2 Phân tích thị trường xuất khẩu của Công ty -~ -~ -~~~~~¬” 29

3 Phân tích cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của ông ty - 34

Trang 3

ill - MỘT SỐ CÁC YẾU Tố ÂN HƯỞNG ĐẾN KẾT QUA HOAT DONG

KINH DOANH XUAT KHAU CUA CONG TY TRONG CAC NAM

1997 - 1998 VA 6 THANG BAU NAM 1999 57

Chương III : ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIEN KINH DOANH 6 CONG TY THUY SAN

VA XUAT NHAP KHAU CON BAO

Trang 4

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD - PGS.TS Vé Thanh Thu

=== =

CHUONG I

NGANH THUY SAN XUAT KHAU

VA DINH HUONG PHAT TRIEN

I- ĐẶC ĐIỂM VỀ XUẤT KHẨU THUỶ SẢN :

1 Tiểm năng của mặt hàng thủy sản Việt Nam rất lớn :

| Từ năm 1981 đến nay, xuất khẩu thủy sản có sự phát triển mạnh mẽ,

đóng vai trò đòn bẩy, tạo động lực thúc đẩy ngành thủy sản phát triển Trên thị

trường quốc tế, thủy sản Việt Nam đã xác lập được vị trí có ý nghĩa chiến lược,

sản phẩm của thủy sản Việt Nam đã có mặt gần 50 quốc gia lãnh thổ Tính

đến đầu năm 1998, đã có 186 nhà máy chế biến đông lạnh với công suất

khoảng 200.000 tấn sản phẩm/năm

Hiện nay đã có 27 doanh nghiệp có đủ điêu kiện xuất khẩu hàng thủy

sản chế biến vào thị trường EU và 20 đoang nghiệp khác xuất khẩu sang Mỹ

Theo bà Lê Thị Hông Minh - Thứ trưởng bộ thủy sản, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam có tiểm năng rất lớn Trước hết nhu cầu của thế giới về sản

phẩm thủy sản ngày càng tăng, trong khi đó, Việt Nam đã có khả năng lớn trong việc tăng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản Vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam hàng năm cho phép khai thác khoảng 1.670.000 tấn hải sản các loại và hàng trăm tấn nhuyễn thể vỏ cứng (năm 1997, sản

lượng khai thác hải sản đã đạt 1.078.000 tấn)

Í Nghề nuôi trồng thủy sản cũng còn sơ khai, năng suất nuôi thủy sản mới

bằng 1/10 năng suất hiện nay của các nước trong khu vực Diện tích mặt nước, các vùng bãi triều và các vùng đất nhiễm mặn có thể sử dụng cho nuôi trồng thủy sản thêm 300.000 — 350.000 ha, các eo vịnh biển để nuôi hải sản còn có thể

khai thác lớn thêm 400.000 ha/ Hiện nay, sản lượng nuôi trồng thủy sản mới đạt từ

400 — 500 ngàn tấn/năm, có khả năng lên tới l triệu tấn vào năm 2005./

SVTH : Nguyén Shanh Mai Trang : 1

Trang 5

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS V6 Thanh Thu

2 Phân tích kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam :

Thủy sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt

Nam, kim ngạch chỉ đứng sau dầu khí, gạo và hàng dệt may

Trong 10 năm qua, kim ngạch xuất khẩu thủy sản có mức tăng tương đối cao, trung bình tăng 22 -23%/năm

Trong năm 1997 giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 776 triệu USD

(so với năm 1981 là 13 triệu USD,đã tăng lên rất nhanh) phấn đấu đạt trên 850

triệu USD/1998

Bộ thủy sản đang xây dựng chương trình xuất khẩu thủy sản đến năm

2005, trong đó mục tiêu lớn nhất là đạt 1.1 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu thủy

sản vào năm 2000

Tuy nhiên trong tháng 1/1998 cả nước đã xuất khẩu thủy sản chính ngạch 39.9 triệu USD Mỹ đạt 10.270 tấn sản phẩm các loại, giảm 17% về giá trị và 21% về khối lượng so với cùng kỳ tháng 1/1997 Điều này có thể hiểu được một phần vì thông thường vào quý I hàng năm, hoạt động xuất khẩu thủy sản thường giảm hơn so với các tháng trong năm Bên cạnh đó việc ảnh hưởng mạnh của cuộc khủng hoảng tiền tệ và tài chính của các nước Đông Nam Á vào cuối năm ngoái cũng như khó khăn thị trường xuất khẩu chính và ảnh

hưởng nặng nề của cơn bão số 5 gây ra làm cho kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam bị giảm xuống

Vì vậy tốc độ tăng trưởng của khu vực sẽ chậm lại hơn nữa và hoạt

động của xuất khẩu Việt Nam không tránh khỏi những giảm sút nêu trên Tuy nhiên theo thống kê của tổ chức EAO năm 1997 Việt Nam đứng thứ 29 trên

thế giới và thứ tư trong các nước ASEAN về sản lượng xuất thủy sản

3 Phân tích thị trường xuất khẩu :

- Nhật Bản : là thị trường có sức tiêu thụ lớn nhất hàng thủy sản xuất

khẩu của Việt Nam Nếu trong những năm đầu thập niên 90, thị trường Nhật

Bản chiếm khoảng 65 — 72% tổng giá trị thủy sản Việt Nam thì trong năm 1997

do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế nên tỷ trọng hàng xuất khẩu vào Nhật Bản giảm mạnh chỉ còn 43% Và trong tháng 1/1998 tổng kim ngạch hàng xuất khẩu

Lee

SVTH : Nguyén Shanh Mai Trang : 2

Trang 6

sang thị trường này là 16,870 triệu USD, chiếm 42.2% giá trị kim ngạch xuất khẩu

của cả nước và chiếm 40.6% về khối lượng (4.170 tấn sản phẩm các loại)

- Hồng Kông : Tháng 1/1998, doanh số xuất khẩu thủy sản Việt Nam

vào thị trường này là 6.55 triệu USD, Mỹ chiếm 16.4% tổng giá trị kim ngạch

của cả nước Chủ yếu là các mặt hàng : mực đông lạnh, mực khô các loại, tôm

đông lạnh, tôm hùm, cá đông lạnh các loại và nhiều loại sẵn phẩm hải sản khác, đạt 1,235 tấn

Khu vực Đông Nam Á : cũng được coi là thị trường truyền thống của Việt Nam với sức tiêu thụ lớn và có cơ cấu sản phẩm đa dạng Tuy nhiên tiêu thụ ở thị trường này chỉ là hàng sơ chế hoặc nguyên liệu nên giá trị xuất khẩu thấp, đồng thời đây cũng được coi là khu vực cạnh tranh với Việt Nam về xuất khẩu Tính riêng 6 tháng đầu năm 1998, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này giảm 17% so với cùng kỳ năm trước

Thi trường Mỹ, Trung Quốc, EU : là những thị trường khắt khe, đòi hỏi cao về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm nhưng hiện nay thủy sản Việt Nam đã bước đầu xâm nhập được và gia tăng thị phần thì cũng là một tín hiệu đáng mừng

+ Đặc biệt tại thị trường EU :

# Thuận lợi :

Tháng 1/1998 : tổng sản lượng hàng Việt Nam xuất sang 7 nước thuộc

lên minh Châu Âu đạt 7.2 triệu USD

Tại thị trường này Việt Nam đang có lợi thế là các loại tôm của Việt

Nam kể cả tôm sắt PUD và PD mà Nhật đang từ chối thị trường này Việt Nam lại xuất khẩu được Đặc biệt giá tôm càng xanh bỏ đầu các cỡ đều tăng giá

xấp xỉ 1USD /kg (trừ cỡ 6/8 và 8/12 giá giảm 65 con/kg)

Một lợi thế nữa là Việt Nam đã mất một đối thủ có khả năng cạnh tranh

lớn là Thái Lan Do từ năm 1997, các nước EU đã tăng thuế suất tôm nhập

khẩu của Thái Lan từ 4.5% đến 9.7% làm cho Thái Lan kém sự cạnh tranh với

các nước khác trong khu vực

Theo quyết định 97/758/EC ngày 6/11/1997 về việc các nước được phép

xuất khẩu vào EU kể từ ngày 1/7/1998 trong đó Việt Nam thuộc nhóm 2 là

===— ._PƑPƑẰ

SVTH : Nguyen Shanh Mai Trang : 3

Trang 7

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS V6 Thanh Thu

nhóm các nước được công nhận tạm thời và chỉ được buôn bán theo sự chấp

nhận của từng thành viên EU

Theo đánh giá của các chuyên gia thuộc vụ khoa học công nghệ (Bộ thủy sản) từ đầu năm 1997 đến nay tỷ trọng xuất khẩu thủy hải sản vào thị trường Âu Mỹ tăng từ 6 — 16%, thị trường EU, giá trị xuất khẩu kim ngạch trong 7 tháng đầu năm 1998 tăng tới 95% so với cùng kỳ năm 1997 đạt 475 triệu USD

Nhu cầu tiêu thụ tôm ở EU có chiều hướng gia tănh nhanh chóng Như ở

Pháp nhập khẩu tôm tăng 16% trong những tháng đầu năm 1998 và dự báo còn tăng hơn nữa

Hiện nay hai nước của EU là Pháp và Italia đã công nhận chính thức danh sách 17 doanh nghiệp của Việt Nam đủ điểu kiện đảm bảo an toàn vệ

sinh hàng thủy sản xuất khẩu

*% Khó khăn :

Việt Nam còn gặp nhiều trở ngại khó khăn trên con đường xuất khẩu thủy

sản EU Vì hiện nay Việt Nam chỉ mới được EU xếp vào danh sách hai trong nhóm các nước cùng lãnh thổ được xuất khẩu thủy sản vào EU và chỉ được phép xuất khẩu theo sự thỏa thuận song phương với các nước thành viên EU

Tiêu chuẩn của EU về HACCP (hệ thống phòng ngừa dảm bảo an toàn

thực phẩm thông qua việc phân tích mối nguy hiểm và để ra các biện pháp

kiểm tra)

Với tiêu chuẩn này thì chỉ mới được có 27 doanh nghiệp còn ngoài ra thì

do trình độ tay nghề chế biến còn non kém, hệ thống thiết bị máy móc còn cũ

kỹ lạc hậu chưa đảm bảo vệ sinh nên bộ thủy sản còn đang khuyến khích các công ty chế biến thủy sản xuất khẩu nhanh chóng tiếp cận tiêu chuẩn HACCP

để được vào

II- VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU THỦY SẲN THẾ GIỚI :

Thủy hải sản là nguồn do thiên nhiên ban tặng cho con người Việc khai thác đánh bắt đã ảnh hưởng lớn đến môi sinh thế giới Nghiên cứu về triển vọng của ngành thủy hải sản trên thế giới, các chuyên gia của FAO đã đưa ra những nhận xét sau :

NN

Trang 8

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS V6 Thanh Thu

OOO eee

1 Hiện tượng khai thác bừa bãi :

Không kịp cho thủy sản tái sinh, nạn săn lùng nhiều loại hải sản quý, ô

nhiễm môi trường sống là những nguyên nhân làm cho sản lượng thu hoạch

giảm sản xuất thủy sản gặp nhiều khó khăn dẫn đến năng suất đánh bắt ngày

càng giảm ở nhiều vùng trên thế giới

Trên thế giới từ những năm 50 trở lại đây, sự phát triển của khoa học

công nghệ đã được áp dụng triệt để vào ngành khai thác thủy hải sản dẫn đến

sản lượng cá khai thác ở nhiều nơi bị cạn kiệt nhất là các vùng Tây, Bắc Thái

Bình Dương, Hắc Hải, Địa Trung Hải lực lượng đánh bắt của thế giới

đang ở mức dư thừa một số phải chuyển sang hoạt động khác thuộc ngành nuôi

trồng thủy sản

Theo tài liệu nghiên cứu của quỹ Quốc Tế Bảo Vệ Tài Nguyên Mỹ

(WWE.USA) năng lực khai thác của các đội tàu trên thế giới đã vượt 150% so

với mức độ cần thiết Vì thế mức độ đánh bắt vượt 2.5 lần so với mức độ được

coi là bển vững Hội đông quản lý biển thế giới (MSC) cho biết : khoản 35%

trong số loài cá thương mại hàng đầu thế giới đang giảm, 75 loài đang bị đánh

bắt ở mức quá cao có nguy cơ tuyệt chủng chỉ còn lại 40% là có khả năng phát

triển lại 60 % nguồn cá của thế giới cân được quản lý khẩn cấp MSC

cảnh báo với tốc độ công nghiệp khai thác thủy sản đang phát triển nhanh nếu

cứ khai thác như hiện nay nghề cá khó có thể tổn tại đến thế kỷ sau

: Nạn ô nhiễm môi trường sống của thủy sản đang gia tăng, trước đây các

quốc gia đều cho rằng Đại dương là nơi lý tưởng để đổ các chất thải công

nghiệp, cho đến nay khi Đại dương đã bị ô nhiễm nghiêm trọng thì các quốc

gia mới chú tâm đến việc sử lý chất thải, bên cạnh đó còn có các hiện tượng

đổ đầu ra biển như các vụ đắm tàu chở dầu Tác hại của việc này mặc dù đã

được các nhà khoa học sử lý, nhưng vẫn ảnh hưởng đến môi trường sống của

các sinh vật dưới biển, ngoài ra việc đánh bắt bằng mìn, đánh bắt thủy sản qúi

hiếm vẫn còn xảy ra ở các quốc gia trên thế giới

2 Nguồn thủy sản được cung cấp từ thiên nhiên không ổn định :

Do sự không ổn định về thời tiết, thiên tai liên tục xảy ra Ngoài ra do

có nhiều chủng loại kích cỡ cua các loài thủy hải sản cho nên rất khó cho các

đơn vị chế biến công nghiệp Để khắc phục được điều này, ngành thủy sản các

me

Trang 9

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS Võ Thanh Thu

nước đã đâu tư vào ngành nuôi trồng thủy sản Nhưng việc phát triển môi

trường thủy sản trên thế giới cũng gặp rất nhiều khó khăn, quỹ đất đai thích

hợp cho ngành nuôi trồng thủy sản có hạn, không thể mở rộng hơn Do nhu cầu

ngày càng phát triển nên giá đất đai dùng để nuôi trồng thủy sản ngày càng đắt hơn, bên cạnh đó việc thu hút cho nghề nuôi trồng thủy sản còn thiếu,

nguồn vốn đâu tư chỉ tăng ở các nước công nghiệp phát triển

Trung Quốc, Ấn Độ là những nước đông dân nhưng vẫn đảm bảo yêu câu sử dụng và xuất khẩu thủy sản ở mức cao Họ rất coi trọng ngành nuôi trồng thủy sản tỷ lệ sản phẩm nuôi từ những năm trước luôn ở mức dưới 50% sản lượng khai thác, chiếm 60% sản lượng cá nuôi trên thế giới Riêng Trung Quốc ngành nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh hơn, tỷ lệ nuôi trồng thủy sản trong tổng sản lượng thủy sản năm 1930 mới đạt 29.9% nhưng đến năm 1988

đã nâng lên mức 49.8% năm 1996 là 54%, trong cơ cấu thủy sản nuôi, lâu nay

tỷ trọng cá nước ngọt luôn cao hơn cá nước mặn, năm 1980 là 66.69%, 1999 là

71%, đến nay Trung Quốc đã thực hiện nuôi trồng trên diện tích 1.75 triệu

hecta, với năng xuất bình quân là 3tấn/hecta/năm Sản lượng cá khai thác của

Trung Quốc đến nay đã vượt mức 10 triệu tấn/ năm

Riêng nghề nuôi tôm, Ecuado —- một nước có 10 triệu dân ở Trung Mỹ, nhưng họ có sản lượng nuôi tôm đứng thứ hai trên thế giới, năm 1997 đạt được 130.000ha, chiếm 29% tổng sản lượng thủy sản, thu được 780 triệu USD bằng 75% giá trị xuất khẩu thủy sản, ở đây, việc mở rộng diện tích nuôi tôm lên 150,000ha được quy hoạch chặt chẽ, xen kẽ với tỷ lệ thích hợp của rừng ngập

mặn quý giá vẫn được bảo tổn

Nhưng những điều khá quan trên chỉ có ở một số nước, còn lại các nước

đang chậm phát triển không đủ nguồn vốn đầu tư cho môi trường thủy sản Việc đầu tư không đồng bộ thiếu quy hoạch lâu dài dẫn đến môi trường tự

nhiên của nhiều vùng bị ô nhiễm nghiêm trọng, nguồn vốn đầu tư còn quá ít so

với các ngành kinh tế khác, chưa đủ để tạo ra một biến chuyển trên ngành

kinh tế này trên bình điện quốc tế, chẳng hạn Thailand từ một nước đứng đầu

trên thế giới về xuất khẩu tôm và thủy sản đã để mất tới 55% diện tích rừng

ngập mặn Việt Nam với việc nuôi tôm không quy hoạch, mở rộng diện tích đã

găm nhấm gần hết cả điện tích rừng ngập mặn lớn thứ hai trên thế giới, (trước đây chỉ đứng thứ hai sau rừng Amazon) Sự việc này diễn ra Ở hấu hết các

Ắ Ắ , F aẳnnn

Trang 10

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS Võ Thanh Thu

- _-n

nước chậm phát triển, không có sự quy hoạch cụ thể việc khai thác vùng tài nguyên thiên nhiên

3 Dan sé của thế giới càng ngày càng gia tăng :

Trước đây tỷ lệ gia tăng dân số trên thế giới là 2.6% / năm các năm gần đây tỉ lệ giảm còn 1.3% nhưng tổng số dân đã lên đến con số 6 tỷ dân Thêm

vào đó mức sống của người dân cũng không ngừng gia tăng nên việc tiêu dùng các loại thủy hải sản cũng không ngừng tăng theo

4 Hiện nay các nguồn tài nguyên thủy sản đang giảm mà nhu cầu sử

dụng ngày càng cao, các nhà kinh tế thế giới đự báo thời kỳ 1996 — 2005 nhiều nước bắt đầu giảm sản lượng khai thác nhưng giá trị buôn bán thủy sản trên

thế giới vẫn tiếp tục tăng 20 ~ 25%, quan hệ cung cầu sẽ mất cân đối gay gắt

và giá cả thủy sản sẽ tăng nhanh

Il - VAI NÉT VỀ TÌNH HÌNH SẲN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU THỦY

sAN CỦA VIỆT NAM ĐINH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHAT TRIEN :

Việt Nam là một quốc gia ven biển với chiều dài bờ biển 3260km, hơn

3000 hòn đảo lớn nhỏ có vùng biển và thểm lục địa rộng lớn hơn l triệu km’,

ngoài ra Việt nam có hơn 1.4 triệu Ha mặt nước đầm hồ tự nhiên và hồ nhân

tạo, khoản 1 triệu ha ở vùng châu thổ sông Cửu Long về mùa mưa nước ngập

từ 2 — 2.5m đang là tiềm năng lớn cho việc đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, với tiểm năng tài nguyên phong phú như vậy nguồn động vật dưới biển Việt

Nam cũng đa đạng : 170 ngàn loài cá (trên 100 loài có giá trị kinh tế cao)

2,523 loài cua và 1650 loài thủy sản khác : ngoài ra Việt nam còn có dặc sản qúi như : mực nan, mực ống, trai, bào ngư, sò huyết hải sâm, san hô đỏ do

đó ngành thủy sản đã và đang và sẽ có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước

1 Tình hình sản xuất và xuất khẩu thủy sản của việt nam : 1.1 Đánh giá về năng lực khai thác thủy sản :

Hiện nay Việt nam có khoản 71,800 chiếc tàu máy với tổng công xuất 1,880,000 CV, tàu không gắn máy là 50.000 chiếc tổng sản lượng khai thác

được là 1,660 ngàn tấn vào năm 1998 trong đó khai thác thủy sản 1,130 ngàn

Trang 11

tấn, nuôi trồng thủy sản 530,000 nhiễm thể vỏ cứng 295,000ha chiếm 49%

diện tích thủy sản

Lao động tham gia ngành thủy sản hơn 3.5 triệu người đưa cơ cấu tỷ lệ

giá trị ngành thủy sản tăng lên nhiều hơn so với các bộ phận khác trong phát

triển nông nghiệp Trong cơ cấu giá trị nông lâm ngư nghiệp thời kỳ 91-98, tỷ

trọng sản xuất nông nghiệp đang giảm từ 7.1% năm 91 còn 5.15% năm 98, thì

thủy sản tăng liên tục từ 7.8% năm 21 lên 10.2% năm 98 (tạp chí hoạt động khoa

học 8/99) riêng giá trị ngành thủy sẵn luôn tăng trưởng bình quân 7%/năm

1.2 Khả năng chế biến :

Tính đến đầu năm 1998, ta đã có 198 nhà máy chế biến đông lạnh có

khả năng sản xuất 200 ngàn tấn sản phẩm xuất khẩu một năm, trong đó một số

doanh nghiệp đã chủ động nâng cấp cơ sở hạ tâng, đổi mới công nghệ, đa dạng

hóa sản phẩm chuyển sang sản xuất các mặt hàng có hàm lượng công nghệ

cao áp dụng chương trình quản lý chất lượng theo HACCP

1.3 Đánh giá về sản lượng và kim nghạch xuất khâu hải sản :

Trang 13

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS Võ Thanh Thu

Trong những năm qua ngành thủy sản nước ta luôn giữ được xu thế tăng

trưởng không ngừng về năng lực sản xuất, sản lượng và giá trị, nhờ coi trọng về

khai thác và nuôi trồng thủy sản nên sản lượng thủy sản tăng khá vững chắc

Năm 1997 đạt 1,580 ngàn tấn, tăng 15.8% so voi nam 1996 (khai thác hải sản 1078 ngàn tấn nuôi trồng hải sản nghìn tấn) năm 1998 đạt tới 1,660

ngàn tấn, tăng 5.1% (khai thác hải sản 1130 ngàn tấn tăng 5.5% so với năm

1997 ) dự báo năm 1999 đạt 1750 ngàn tấn tăng 5.4% (khai thác hải sản đạt

1200 ngàn tấn, tăng 6.2% nuôi trồng thủy hải san 550 ngàn tấn, tăng 3.8% so

với năm 1998 ) kim ngạch xuất khẩu có mức tăng trưởng tối đa trong những

năm gần đây, theo thống kê của tổ chức Nông Nghiệp và lương thực thế giới

(FAO ) năm 1996 Việt nam đứng thứ 25, năm 1997 đứng thứ 29 trên thế giới

về xuất khẩu thủy sản Trong khu vực Đông nam Á năm 1996 Việt nam đứng

Năm 199§ với 1,668,530 tấn thủy sản Việt nam đã vươn lên vị trí thứ 19

trên thế giới Riêng sẩn lượng tôm nuôi đứng thứ năm về giá trị xuất khẩu thuỷ

sản, Việt nam đã đạt vị trí thứ 3 trong khu vực Asean, chỉ sau Indonesia và

Thailand

( Tạp chí kinh tế dự báo tháng 3/99 số 331 trang 10 ; tạp chí hoạt động khoa học số tháng 8/99 trang 6 )

1.4.Vé tinh hình xuất khẩu :

Hiện có khoản 200 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia

xuất khẩu thủy sản

Xuất vào thị trường EU hiện nay Việt nam có l§ doanh nghiệp được

xuất khẩu vào thị trường EU nhóm 1, tức là xuất khẩu trực tiếp chỉ qua 1 lần kiểm tra không hạn chế về số lượng xuất khẩu và khoảng 20 doanh nghiệp

xuất khẩu sang thị trường Mỹ

Hàng xuất khẩu thủy sản của Việt nam đã xuất sang 28 nước trong đó

có trên 50% trị giá kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản, 15 % xuất khẩu sang

thị trường Âu Mỹ

Ne

SVTH : Nguyin Thanh Mai Trang : 10

Trang 14

Cc

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS Võ Thanh Thu

Cơ cấu thủy sản xuất khẩu năm 98 ; 99

Ta nhận thấy tôm đông lạnh là mặt hàng chiếm tỷ lệ cao nhất 1998 là

50% năm 1999 là 35% ) Các thị trường hầu như đều ưa chuộng mặt hàng tôm

đông lạnh, mà Việt nam ta hiện nay đang phát triển ngành nuôi trồng thủy sản,

chủ yếu là tôm của các vùng duyên hải miền Trung (tỉnh Khánh Hòa) và các

tỉnh phía nam ( Sóc Trăng, Cà Mau, Trà Vinh, Bén Tre )

Tuy nhiên, sản lượng khai thác và sản xuất chưa tương xứng với tiềm

năng của chúng ta Việc tập trung đánh bắt ven bờ không những đang làm cạn

kiệt nguồn tài nguyên biển mà còn làm cho năng suất đánh bắt ngày càng

giảm sút Năm 1995 năng suất khai thác thủy sản là 1.2 tấn/CV thì năm 97 chỉ

còn 0.69 tấn/CV Việc nuôi trồng thủy sản thiếu quy hoạch lâu dài dẫn đến môi

trường tự nhiên của nhiều vùng bị ô nhiễm nghiêm trọng

Nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên 1a do vốn đầu tư cho ngành thủy

sản còn quá ít so với các ngành kinh tế khác, chưa đủ để tạo ra một bước

chuyển biến cho ngành kinh tế này

Vốn đầu tư cho ngành dự kiến từ năm 1997 đến năm 2000 là 3000 tỷ

đồng, nhưng năm 1997 mức thực hiện là 400 tỷ đồng Trong khi các nguồn

khác như tín dụng, ngân hàng, đầu tư nước ngoài cho ngành còn hạn chế

Do thiếu vốn đầu tư nên phương tiện đánh bắt còn lạc hậu, chỉ có 4%

tàu đánh cá xa bờ, hiện 60% tàu đánh cá có công suất nhỏ dưới 30CV,

Nhiều hoạt động quan trọng khác cuả ngành cũng đang rất cần vốn như

công tác nghiên cứu, quy hoạch phát triển và dự báo nhằm hạn chế thiệt hại

do thiên tai gây ra hoạt động đào tạo thủy thủ cho tàu và chuyển giao công

nghệ nuôi trồng thủy sản cho các hộ dân

==— _

SVTH : Nguyin Shanh Mai Trang : 11

Trang 15

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS Võ Thanh Thu

Do đó xu thế của ngành thủy sản vẫn chưa được tận dụng, khai thác triệt để thậm chí vẫn còn ở dạng tiềm năng

1.5 Về quản lý : Chúng ta còn thiếu kinh ngiệm quản lý, trong các cấp quản lý vẫn còn tập trung các khuynh hướng xây dựng cơ sở nguyên liệu Xuất khẩu thủy sản đang đứng trước khó khăn lớn nhất hiện nay là mất cân đối nghiêm trọng giữa khai thác, nuôi trồng thủy sản và tốc độ gia tăng cơ sở chế biến

Theo những kết quả phân tích cuả ngành thủy sản cho biết : sau 17 năm

liên tục tăng trưởng, kinh tế thủy sản đã tiến dan đến giới hạn của sự phát

triển theo chiều rộng làm môi trường tài nguyên giảm mạnh, việc khai thác thủy sản ven bờ của nước ta đã vượt quá mức cho phép trên dưới 10% số lượng

và chủng loại thủy sản đang tiếp tục giảm sút nhanh, các loại cá nổi và cá đáy

ở Vịnh Bắc Bộ và Tây nam Bộ giảm từ 30 — 50 %, năng suất lưới vây Ở miễn Trung chỉ còn đưới 1/3 so với những năm 90 Ở Phan Thiết hầu như không còn có

cá thương phẩm Riêng sản lượng tôm đánh bắt giảm nhanh hơn, có nơi từ 50 — 60% không còn hoạt động nữa, nhiều loại hải sản quý có nguy cơ tuyệt chúng

Nghề nuôi trồng thủy sản ở nước ta tuy đã có từ lâu nhưng tốc độ phát triển chậm, đến thời kỳ 1991 - 1995 tốc độ khai thác tăng 47%, nhưng nuôi trồng chỉ đạt 2.39% chủ yếu chỉ theo phương thức quản canh và quản canh cải

tiến nên năng suất thấp (tạp chí hoạt động khoa học 8/1999)

Từ năm 1990 năng lực chế biến xuất khẩu thủy sản tăng nhanh vượt qua mức tăng của năng lực sản xuất nguyên liệu thủy sản nên tình trạng mua bán

diễn ra gay gắt ở nhiều nơi đã đẩy giá nguyên liệu lên cao Ti trong chi phi

nguyén liéu trong thanh phẩm tăng từ 50 - 60% lên 80 — 20% Bên cạnh đó cái khó của các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu quốc doanh là không

đủ vốn để mua nguyên liệu, do vậy thị trường nguyên liệu bị hệ thống tư

thương đầu nậu khống chế lũng đoạn gây nhiều hiện tượng tiêu cực lầm giảm

chất lượng nguyên liệu, tăng giá thành tạo ra sự phân bố lợi nhuận không hợp

lý giữa các bộ phận tham gia thị trường xuất khẩu thủy sản

L6 Về sản xuất chế biến : Trong chế biến hâu như Việt nam chỉ có xí nghiệp quy mô nhỏ, ít thiết

bị hiện đại, tỉ trọng lao động thủ công cao, điểu kiện sản xuất và trình độ công nghệ chưa đạt yêu cầu của nhiều thị trường Tuy gần đây các xí nghiệp có nhiều cố gắng đa dạng hóa mặt hàng song cơ cấu sản phẩm vẫn còn đơn điệu,

===—— _ẼƑƑ

SVTH : Nguyen Thanh Mai Trang : 12

Trang 16

chủ yếu vẫn là xuất khẩu sản phẩm dưới dạng thô, chất lượng sản phẩm chưa

cao giá bán thấp so với các nước trong khu vực, nhìn tổng thể cho đến nay

nguyên liệu cung ứng cho các nhà máy chế biến thủy sản bị chia sẻ và mất

cân đối nghiêm trọng, thiếu về số lượng và kém về chất lượng gây lãng phí

năng lực sản xuất

1.7 Về phương tiện chuyên chử : Hoạt động hàng không của Việt nam chưa thể chuyên chở các hàng thủy sản ướp lạnh, lịch trình bay thường dừng lâu ở các phi trường trong khi

không có phương tiện bảo quản thích hợp, việc buôn bán hải sản sống bị ách

tắc, giảm chất lượng, khi chuyên chở Ngoài ra sản phẩm thủy sản Việt nam

chưa có nhãn hiệu nổi tiếng, chưa có chỗ đứng vững chắc trên thị trường quốc

tế, sản phẩm thủy sản trong nhiều trường hợp phải xuất khẩu sang thị trường

trung gian như Hồng Kông, Đài Loan, Singapore sau đó dùng mác hiệu sản

phẩm của các nước này để đưa vào thị trường cao cấp khác, với đường đi của

sản phẩm xuất khẩu như vậy thì hiệu quả kinh tế thấp

2 Định hướng giải pháp phát triển cho ngành thủy sản xuất khẩu

Việt Nam :

* Về Nhà nước : nhà nước cần phải quan tâm khuyến khích đầu tư vào

ngành thủy sản bằng cách nghiên cứu và xây dựng các cơ chế chính sách mới phù hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp và ngư dân mạnh dạn đầu tư khai thác nuôi trồng thủy sản để Việt nam phát triển xuất khẩu

- Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp

- Tiếp tục triển khai chương trình đánh bắt xa bờ

* Cơ cấu lại và phát triển các lĩnh vực sản xuất nghề cá

Trên cơ sở các điều kiện địa lý tự nhiên, sinh thái, kinh tế, chính tri, xa

hội và đặc thù nghề nghiệp để cơ cấu lại sản xuất nghề cá theo tuyến, theo

vùng phù hợp với cơ chế thị trường

- Khai thác hải sản : Đổi mới mạnh mẽ cơ cấu tàu thuyền, nghề nghiệp, đối tượng khai thác để tiếp tục giữ vững và phát huy vị trí chủ lực của khai

thác hải sản trong lĩnh vực sản xuất thủy sản Phát triển hợp lý, có hiệu quả khai thác xa bờ, tăng nhanh tỷ trọng sản lượng khai thác Điều chỉnh cơ cấu khai thác ven bờ, giảm dần sản lượng khai thác hải sản ven bờ xuống mức giới hạn cho phép để đảm bảo khả năng tái tạo phát triển của nguồn lợi Đi đôi với

Seen eee

Trang 17

| LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS V6 Thanh Thu

phat trién, chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp khai thác phải quy hoạch bố trí lại

dân cư ven biển và hải đảo cần chuyển một lực lượng lao động đáng kể từ khai

thác sang nuôi trồng hải sản (nuôi biển và nuôi nước lợ) và tổ chức xuất khẩu

một bộ phận lao động đánh cá sang các nước có nhu cầu lao động, có nghề cá

phát triển

Nuôi trông thủy sản : Song song với việc tiếp tục củng cố nghề nuôi thủy sản nước ngọt, nuôi cá lồng hè, cần tạo ra bước nhảy vọt (đột biến) trong

cơ cấu nuôi trồng nước lợ và đặc biệt trong nghề nuôi hải sản trên biển nhanh

chóng xây dựng các mô hình nuôi chuyên canh tập trung năng xuất cao với các

đối tượng tôm bạc, tôm xú, rong cau đồng thời đầu tư công nghệ sớm có các

quy trình sẵn xuất giống để chủ động đối với các đối tượng hải sản có giá trị

cao khác Tập trung đầu tư nghiên cứu tổ chức phát triển nghề nuôi hải sản

trên biển Coi đây là một đột phá mới trong những năm tới, tương tự như nghề

nuôi tôm sú trong những năm 80 trước đây

Trong tương lai gần, sản lượng nuôi trồng thủy sản sẽ xấp sỉ với sản

lượng khai thác hải sản, nhưng về giá trị, nhất là giá trị xuất khẩu từ nuôi trồng

thủy sản sẽ có sự tăng trưởng lớn, giữ tỷ trọng chủ yếu trong tổng giá trị kim

ngạch xuất khẩu thủy sản

Chế biến thủy sản : Nâng cấp điều kiện sản xuất và đổi mới công nghệ trong các nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh để sản xuất các sản phẩm giá

tri gia tăng có chất lượng cao, đáp ứng những đòi hỏi khắc khe của thị trường

quốc tế theo các tiêu chuẩn HACCP và GMP thật sự sẽ là cuộc cách mạng

trong công nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh Cuộc chạy đua giành code vào

EU đã và đang tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý, trong công nghệ,

kỹ thuật chế biến thủy sản Tiếp tục đổi mới cơ cấu, cơ cấu sản phẩm, cơ cấu

thị trường là giải pháp hữu hiệu để tăng hiệu quả của sản xuất kinh doanh toàn

ngành thủy sản Đối với chế biến tiêu thụ nội địa, bên cạnh việc duy trì và hiện

đại hóa các ngành nghề và sản phẩm chế biến truyền thống, vừa thích nghi với

cuộc sống công nghiệp hiện đại

Đầu tư đồng bộ nâng cấp cơ sở hạ tầng hậu cần dịch vụ nghề cá : đây là

một giải pháp cực kỳ quan trọng để phát triển nghề cá trong thời kỳ tới Do đó,

nhất thiết phải quy hoạch lại hệ thống cơ sở hạ tâng hậu cần hiện có, bao gồm

câu cảng, bến cá, chợ cá, cơ sở sản xuất dịch vụ cơ khí, lưới sợi, đóng sửa tàu

thuyền, vui chơi giải trí Đồng thời việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phải

thống nhất với quy hoạch xây dựng các tụ điểm, thị trấn, thị tứ, quy hoạch phát

triển nông thôn và xây dựng các làng cá giàu đẹp, văn minh

==—— _ƑŸ_ỲG

SVTH : Nguyen Shanh Ma Trang : 14

Trang 18

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS Võ Thanh Thu

* Giải pháp về vốn và công nghệ :

Thiếu vốn là căn bệnh trầm kha đã đến lúc cần một tổ chức tín dụng

chuyên ngành có cơ chế hoạt động linh hoạt phù hợp với đặc điểm ngành nghề,

có lãi suất hấp dẫn và các thủ tục đơn giản thích hợp với tâm lý ngư dân Ngoài ra cũng cần có công ty bảo hiểm nghề cá có mạng lưới hoạt động rộng khắp trong nước và quốc tế nhằm hỗ trợ nghề cá khắc phục những rủi ro trong mọi lĩnh vực

sản xuất kinh doanh bảo đầm an toàn cho nguồn vốn phát triển

Đối với nguồn vốn nước ngoài chú trọng quan hệ trực tiếp với các tổ chức quốc tế công ty nước ngoài để tạo vốn kỹ thuật công nnghệ mới đào tạo

cán bộ nâng cấp và xây dựng mới các cơ sở sản xuất kinh doanh hậu cần địch

vụ cho nghề cá và các cơ sở nghiên cứu

Đưa khoa học vào công nghệ đi trước một bước để phục vụ nhu cầu

phát triển sản xuất, tiếp tục hoàn thiện và có kết luận sớm về các vấn đề đang nghiên cứu, đồng thời tiếp tục nghiên cứu các vấn để cơ bản, lâu đài, tập trung vào hướng phục vụ sản xuất, điều tra dự báo ngư trường, nâng cao chất lượng,

hạ giá thành và đi sâu vào các đặc sản để phát huy được lợi thế so sánh Cần được ưu tiên nghiên cứu cả về giống và công nghệ nuôi trồng cho các loại đặc

* Về xuất khẩu phải coi trọng nâng cao chất lượng, hạ giá thành, đa đạng hóa mặt hàng

* Thị trường tiêu thụ sản phẩm thủy sản

Khi đội tàu khai thác xa bờ tham gia vào sản xuất thì lượng cá về bến

nhiều hơn và khi các khu nuôi trồng thủy sản tập trung năng suất cao đi vào

sản xuất thì sản lượng thủy sản sẽ tăng rất lớn Khi đó giá cá sẽ tụt xuống đáng kể Vấn đề thị trường tiêu thụ trở nên rất bức xúc

Nâng cấp các cơ sở chế biến gắn với vùng nguyên liệu Thực hiện đa

dạng hóa mặt hàng tạo thêm mặt hàng mới, nâng cao chất lượng sản phẩm

xuất khẩu vào thị trường các nước phát triển Bảo đảm 70% cơ sở chế biến

xuất khẩu có điều kiện sản xuất và trình độ công nghệ tiên tiến

Như vậy, đối với thị trường thủy sản nội địa nhất thiết phải tăng cường

vai trò quần lý của Nhà nước để phát huy tích cực đối với sản xuất và cuộc

sống Còn đối với thị trường xuất khẩu, một mặt duy trì các thị trường truyền

thống như : Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore Mặt khác phải

giảm bớt tình trạng một số doanh nghiệp quá phụ thuộc vào các thị trường

truyền thống này Phải đa dạng hóa thị trường, tích cực thăm đò, tìm kiếm, mở rộng thâm nhập vào thị trường EU, Bắc Mỹ phải tăng cường sức mạnh cạnh

tranh của thủy sản Việt Nam trên thị trường Quốc tế

Muốn vậy cần củng cố và tăng cường vai trò của hiệp hội chế -biến và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam Đồng thời phải coi trọng công tác quản lý chất lượng hàng thủy sản

Fa

SVTH : Nguyén Shanh Mai Trang : 15

Trang 19

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS Võ Thanh Thu

==———

CHUONG II

PHAN TICH TINH HINH KINH DOANH TẠI CÔNG TY

THUY SAN & XUẤT NHẬP KHẨU CÔN BẢO

1- GIGI THIEU CHUNG VE CONG TY:

1 Lich st’ hinh thanh :

Do đặc điểm và tầm quan trọng về vị trí địa lý của huyện Côn Đảo

ngày 31 - 10 - 1989 UBND huyện ra quyết định thành lập Xí Nghiệp Vận Tải

và khai thác hải sản Bến Đầm theo quyết định số 337QĐÐUB

Ngày 17 tháng 9 năm 1992 UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ra quyết số

57§/QĐUBT sát nhập công ty vận tải và khai thác hải sản, Công ty Thủy Sản

và xuất nhập khẩu Côn Đảo với công ty sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu

Côn Đảo thành công ty mới với tên Công Ty Thủy Sản và Xuất Nhập Khẩu

Côn Đảo

Đây là một doanh nghiệp duy nhất của Huyện Côn Đảo phát huy những

thành quả đã đạt được của đơn vị, cộng thêm chức năng xuất nhập khẩu và đội

ngũ CB.CNV có trình độ chuyên môn cao đã tạo thế mạnh cho công ty

Phân xưởng sản xuất chả cá Surimi thuộc công ty được xây dựng vào

đầu năm 1995 và đi vào hoạt động tháng 7 năm 1995 với công suất 1.200

tấn/năm, phân xưởng đã sản xuất ra lượng sản phẩm đáng kể, thị trường tiêu

thụ chính là Korea

2 Chức năng nhiệm vụ của công ty :

Công ty Thủy Sản và xuất nhập khẩu Côn Đảo có các chức năng và

nhiệm vụ chính như sau :

- Khai thác và chế biến hải sản

- Kinh doanh xuất nhập khẩu

- Bảo vệ ngư trường Côn Đảo

Trang 20

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS V6 Thanh Thu

a

- Cửa hàng phục vụ ngư lưới cụ va cung cấp nước ngọt tại Côn Đảo

- Chế biến nước mắm mang nhãn hiệu Hòn Cau, sản xuất nước đá phục

vụ cho ghe, tàu

Bên cạnh đó, công ty luôn chú trọng và làm tốt công tác an ninh quốc

phòng, chống buôn lậu trên biển, bắt các tàu nước ngoài đánh cá trộm góp

phân giữ gìn trật tự an ninh trên biển

Hiện nay đất nước ta đang trong giai đoạn đổi mới liên tục cho phù hợp

với các nước trong khu vực và trên thế giới Nghị quyết BCH Trung Ương

Đảng lần thứ V khóa 7, nghị quyết 03 của Bộ Chính Trị và nghị quyết của

Huyện Đảng Bộ Côn Đảo xác định thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn của đất

nước nói chung và của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng, phù hợp với chức năng nhiệm vụ chủ yếu của công ty đối với trước mắt và lâu dài

3 Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty :

3.1 Cơ sở pháp lý :

Công ty đã được đăng kí thành lập theo quyết định ngày 31/10/1989 UBND Huyện Côn Đảo

Công ty Thủy Sản và xuất nhập khẩu Côn Đảo là doanh nghiệp Nhà

Nước, có đây đủ tư cách pháp nhân, hoạch toán kinh tế độc lập, có con dấu

riêng, được cấp vốn Vay vốn và mở tài khoản tại ngân hàng

3.2 Vốn và nguồn vốn :

- Vốn kinh doanh tại thời điểm đăng kí là : 4,177,705,666 đồng

Trong đó : + Vốn cố định : 2,190,683,572 đồng

Trang 21

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS V6 Thanh Thu

Seen,

es + Nguyên giá tài sản cố định : 11,207,878,414 đồng

+ Tổng số vốn cố định : 3.525.093.204 đồng Trong đó :

+ Công nhân viên gián tiếp : 64

+ Công nhân viên trực tiếp lao động sản xuất : 264

Công ty Thủy Sản và XNK Côn Đảo (COIMEX) tổ chức bộ máy quản

lý theo cơ cấu quản lý trực tuyến Chức năng đảm bảo nguyên tắc một thủ

trưởng phân xưởng quan hệ ngang với các phòng ban trong công ty

- Tổ chức bộ máy quản lý công ty bao gồm :

* Ban Giám Đốc : Giám Đốc là người quyết định mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị, chịu trách nhiệm chung, trực tiếp điểu hành hệ thống quản lý sản xuất

kinh doanh trong toàn bộ công ty

Phó Giám Đốc giúp giám đốc trong lĩnh vực kinh doanh trực tiếp điều hành các phân xưởng sản xuất

Theo quyết định thành lập của Ủy Ban Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Căn cứ và chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ của lãnh đạo Ban Giám Đốc đã phân công trách nhiệm cụ thể cho từng bộ phận nghiệp vụ trong công ty như sau :

a

Trang 22

thể cán bộ công nhân viên

+ Tổ chức thực hiện công tác bảo mật lưu trữ, truyền đạt công văn theo qui định của Nhà Nước

* Phòng Kế Hoạch Nghiệp Vụ -

+ Chịu trách nhiệm về mua bán hải sản sau khi đánh bắt được, tổ giao

hàng phải nắm bắt được giá cả hàng ngày, điều phối tàu vào cảng để bán cá

giá cao

+ Lập kế hoạch chỉ tiêu hoạt động của đoàn tàu nói riêng và của công

ty nói chung

+ Tổ chức kiểm tra cung cấp vật tư cho đoàn tàu thực hiện phân tích báo cáo

kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ, tham mưu cho Ban giám đốc về

việc điều phối sự hoạt động của đoàn tàu để khai thác đạt hiệu quả cao

+ Tổ kỹ thuật có trách nhiệm kết hợp với tàu để kiểm tra máy móc, nếu

hư hỏng thì sữa chữa ngay, hoàn tất khâu sửa chữa trong thời gian ngắn nhất

để tiếp tục đưa tàu ra khơi Trực tiếp cử cán bộ xuống tàu đi sản xuất dài ngày trên biển, lập số theo dõi theo từng vùng, từng tháng, kể cả mùa vụ, tổng hợp

tham mưu cho Ban giám đốc chỉ đạo sản xuất theo kế hoạch

+ Phòng kế hoạch là phòng trực tiếp, tiếp xúc với mọi hoạt động đánh

bắt, sửa chữa của đoàn tàu, do đó phòng còn có chức năng kết hợp với

phòng tổ chức để điều phối nhân viên giữa các tàu, để việc đánh bắt được

hiệu quả cao hơn

- Nhập - xuất vật tư, nguyên, nhiên liệu, hải sản

- Theo dõi tình hình hoạt động hàng ngày của đoàn tàu khi đánh bắt

trên biển và báo cáo về Ban Giám Đốc

- Theo dõi lập kế hoạch sửa chữa đại tu hàng năm của các tàu

- Theo dõi các hợp đồng mua bán, sửa chữa bên ngoài

Trang 23

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS V6 Thanh Thu

a

, A: ^ x ` + az TA + `

- Giao dịch với bên ngoài, tìm hiểu nguồn tiêu thụ sản phẩm và cung

cấp vật tư, nguyên liệu

* Phòng Kế Toán - Tài Vụ :

Có trách nhiệm chịu trách nhiệm trước Ban Giám Đốc về kế hoạch thu chỉ tài chính phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh, tổ chức ghi chép

sổ sách, báo cáo quyết toán đúng thời gian và theo chế độ tài chính của Nhà

nước ban hành, đảm bảo các loại giấy tờ theo đúng qui định, hợp lí, hợp pháp,

tổ chức lưu trữ các loại giấy tờ có liên quan

* Phòng Xuất Nhập Khẩu :

+ Tham mưu cho Ban Giám Đốc trong lĩnh vực XNK, gồm nguồn hàng

trong nước xuất đi và nhập khẩu các loại thiết bị vật tư phục vụ cho sản xuất

và tiêu dùng

+ Phân tích đánh giá hoạt động xuất nhập khẩu

* Phân Xưởng Suritmi :

Đây là phân xưởng liên doanh với đối tác Nam Triều Tiên phía đối tác

cung cấp máy móc thiết bị và cố vấn kỹ thuật công ty cung cấp mặt bằng, lao

động, nguyên liệu sản xuất Phân xưởng được thành lập tháng 5/1995, chức

năng chính của phân xưởng là chế biến chả cá và đóng gói để xuất ra thị

trường nước ngoài, và tiêu thụ một ít trong nước

Phân xưởng có công suất chế biến 15 tấn thành pham/Ingay

Diện tích nhà xưởng 425m”

* Đoàn Tàu :

Gồm 24 chiếc thực hiện nhiệm vụ khai thác hải sản trên biển, các tàu

chủ yếu đánh bắt trên vùng biển Vũng Tàu Côn Đảo Đây là ngư trường trọng

điểm của các tỉnh phía nam Mỗi chuyến thường kéo dài từ 10 - 15 ngày Hải

sản khai thác được sẽ đưa vào Vũng Tàu để phân phối cho các chủ mua cá đồng thời thực hiện các công việc sửa chữa nhỏ, trang bị ngư lưới cụ, vật tư

nguyên liệu để chuẩn bị chuyến đi biển tiếp

Ngoài ra còn có nhiệm vụ tham gia giữ gìn an ninh trên biển và bảo vệ

ngư dân Tổ Quốc

Các thuyển trưởng phải chịu trách nhiệm trước Ban Giám Đốc tài sản trang bị, số lượng đánh bắt, tổ chức nhân sy 6 tau và cuối cùng là hiệu qua sản

==_=—-iiỷễỷ

SVTH: Nguyin Thanh Mai Trang : 20

Trang 24

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS Võ Thanh Thu

xuất Hàng năm công ty được ra chỉ tiêu phấn đấu thi đua cho từng con tau, cd

tổ chức sơ kết, tổng kết và đưa ra hình thức thưởng phạt hợp ly

* Trụ Sở Tại Côn Đảo -

Xuất phát từ 1 xí nghiệp thuộc Huyện Côn Đảo, nên hiện nay công ty

có 1 văn phòng tại đảo Côn Sơn Đây là văn phòng đóng trên địa bàn Huyện, ngoài ra để phục vụ nhân dân trên đảo góp phần cải thiện đời sống và đem lại công ăn việc làm cho địa phương Công ty còn có một số bộ phận khác, phân xưởng chế biến nước mắm, l trại nuôi cá sấu, 1 cửa hàng dịch vụ mua bán vật

tư, phân xưởng sửa chữa cơ khí Tất cả các bộ phận này trực thuộc sự điều hành của văn phòng Côn Đảo

* Chỉ Nhánh Xuất Nhập Khẩu - TP HCM :

Có chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu các mặt hàng nông sản thực phẩm và hàng tiêu dùng, tìm nguồn hàng trong nước và mở rộng thị trường nườc ngoài, thực hiện các hợp đồng ủy thác xuất nhập khẩu, thu hút sự đầu tư liên kết với nước ngoài

———

—~——T” '

AƯỜNG BHDL- KTCN

THU VIỆN oan”

lem AO LOO Lo 13-——

en ~~——

==

Trang 25

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS Võ Thanh Thu

SƠ ĐỒ TỔ CHUC CONG TY THUY SAN & NNK CON DAO

Xuất

nhập khẩu

tàu

thuyền

Đoàn tàu

- Văn phòng công ty tại Vũng Tàu : Số 308 Lê Hồng Phong, TP Vũng Tàu

(gồm phòng Tổ chức, Kế toán, Kế hoạch, XNK, Ban quản lý)

- Phân xưởng, xí nghiệp chế biến, đoàn tàu tại Phường 11, Tp Vũng Tầu

- Chi nhánh Công ty tại 59 Trần Quốc Thảo, Quận 3, Tp HCM

- Văn phòng tại Tôn Đức Thắng - Côn Đảo

==—ằ_„7-F-E-

Trang 26

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS V6 Thanh Thu

4 Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty :

Bảng 2 : TÌNH HÌNH KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA

CÔNG TY NĂM 1997 - 1998 - UGC TINH 1999

thực hí Sản lượng thực hiện Kim ngạch Lợi nhuận Tổng doanh thu Năm Chả cá | Hải sản Nước mắm XNK (USD) (đồng) (đồng)

(Nguôn : Báo cáo thống kê năm 1997 - 1998 - ước tính 1999)

Nhìn vào bảng 2 ta thấy tình hình sản xuất kinh doanh và xuất nhập

khẩu của công ty có nhiều biến động Về sản lượng hải sản và nước mắm 1998

so với năm 1997 tăng (hải sản từ 2,333 tấn tăng lên 5,334 tấn và nước mắm từ

1,198 lít tăng lên 4,379.5 lít) Duy chỉ có sản lượng của mặt hàng chả cá là giảm

sút từ 1,578.7 tấn năm 1997 giảm chỉ còn 373 tấn ở năm 1998 Về kim ngạch xuất

nhập khẩu tăng nhẹ nhưng có lẽ nó vẫn không bù đắp được khoản lợi nhuận và làm cho lợi nhuận 1998 của công ty giảm đáng kể (từ 884,025,915 đồng xuống còn 265,078,539 đồng) Ta có thể nhìn vào những yếu tố cụ thể hơn

Năm 1997 đơn vị kinh doanh lãi 884,025,915 đồng

Trong đó :

- Xuất nhập khẩu kinh doanh lỗ : 41,679,610 đồng

- Lãi do sản xuất kinh doanh hải sản : 925,705,525 đồng

Do đoàn tàu đánh bắt hải sản xuống cấp, trang bị lạc hậu về kỹ thuật,

chỉ phí sửa chữa phát sinh hàng năm lớn trong khi doanh thu từ hoạt động này chưa cao

— ,_——-— ŸỶŸỶ-Ỷ-Ỷ-e

SVTH : Nguyén Shanh Ma Trang : 23

Trang 27

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS Võ Thanh Thu

- Hoạt động xuất nhập khẩu bị ảnh hưởng của cơn bão số 5 va dẫn đến

tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị

- Hoạt động xuất nhập khẩu năm nay bị ảnh hưởng biến động thị trường

tỷ giá ngoại tệ tăng dẫn đến nhập hàng bán thu tiền Việt Nam không đủ tái

tạo ngoại tệ trả nợ cho một khoảng về chênh lệch tỷ giá

- Hoạt động chế biến chả cá Surimi năm nay hoạt động 9 tháng dau

năm, đây là sản phẩm mới được thị trường nước ngoài chấp nhận , do dó hiệu

quả cao Tuy nhiên đến tháng 3 cuối năm 1997 do biến động thị trường các

nước trong khu vực khách hàng ngưng tiêu thụ sản phẩm

Năm 1998 :

* Tình hình sản xuất kinh doanh :

Kết quả kinh doanh năm 1998 lãi 265,078,539 đồng

Trong đó :

- Kinh doanh xuất nhập khẩu lãi : 385,000,000 đồng

- Kinh doanh gỗ nhập lãi : 350,000,000 đồng

- Khai thác hải sản và chế biến chả cá surimi lỗ : 1,000,078,539 đồng

Vì hoạt động đánh bắt hải sản năm 1998 đơn vị mới đóng tàu đưa vào hoạt động hai con tàu đáng bắt xa bờ và đã sửa chữa nâng cấp 7 con tàu (khắc

phục hậu quả cơn bão số 5) với tổng kinh phí là : 5100 triệu đồng nhưng hoạt

động chưa mang lại hiệu quả do 6 tháng đầu năm nằm ụ sửa chữa và chi phí

sửa chữa phát sinh lớn

- Hoạt động chế biến chả cá Surimi Do biến động thị trường Châu Á

quý 2 ngưng hoạt động, các quý còn lại hoạt động giảm 30% công suất trong

khi đó khấu hao vẫn tính đầy đủ Mặt khác giá xuất khẩu giảm từ 1.2USD

xuống 0.8 USD/kg nên chưa có lãi

- Nhập khẩu gỗ : 1998 đơn vị được Chính phủ cho phép nhập gỗ khắc phục hậu quả cơn bảo số 5 Tổng giá trị nhập là 5Š tỷ đồng, đến 31/12/1998

đơn vị mới tiêu thụ được khoản 10% giá trị hợp đồng và có lãi

- Góp vốn cổ phần vào công ty Eideco từ 1993 đến nay mới được chia lãi 45 triệu đồng

- Kinh doanh xuất nhập khẩu lãi : 385 triệu đồng

SVTH: Nguyén Thanh Mai Trang : 24

Trang 28

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS Võ Thanh Thu

- Hoạt động kinh doanh phụ : Mỹ nghệ, nước mắm không có hiệu quả

- Hoạt động kinh doanh mới : Nuôi cá sấu, đóng tàu mới đi vào hoạt

động chưa có hiệu quả

2 Tình hình chấp bành chế độ tài chính của Công ty :

- Chế biến nước mắm : Năm 1998 hầu như không có hoạt động Giá trị

sản phẩm dở dang từ năm 1997 chuyển qua là 259 triệu đồng, đơn vị chưa

đánh giá được thực tế giá trị đở dang còn chế biến được là gì để phản ánh tính

chính xác thực trạng tài chính của đơn vI

- Tiền lương đơn vị chỉ không căn cứ vào hiệu quả kinh doanh, kinh doanh không có hiệu quả vẫn chi lương cao, chỉ không đúng đối tượng : thủy

thú tàu đã chỉ lương theo sản phẩm nhưng Công ty vẫn chỉ tiền ăn, tiền lương

- Tổng số tiền lương chỉ lố xuất toán là : 1.238.689.382 đồng

- Quỹ khen thưởng phúc lợi không có nguồn từ nhiều năm nay nhưng đơn

vị vẫn chỉ

- Một số chỉ phí đơn vị chi sai chế độ

II - TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH XUẤT KHẨU CỦA

CÔNG TY :

1 Tốc đô kinh doanh xuất nhập khẩu :

1.1 Đánh giá chung tình hình thực hiện kim ngạch xuất nhập khẩu :'

Bảng 3: TỔNG KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨU QUA 7 NĂM

Trang 29

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS Võ Thanh Thu

==

(Nguôn báo cáo thống kê kim ngạch XNK từ năm 1222 - 1999)

* Nhận xét : Nhìn chung kim ngạch xuất nhập khẩu đã có biến động

trong 7 năm qua so với gốc năm 1992 Đầu tiên kim ngạch đã tăng dân từ 1992

đến năm 1993 Sau đó tăng mạnh vào năm 1994 với mức tăng 35.28% so với

năm trước và đạt mức cao nhất ở năm 1995 với 20, 885,396.02 USD kim ngạch,

đạt 109.10% so với năm trước và bằng 162.07% so với năm 1992 Từ năm 1996

trở đi kim ngạch có xu hướng giảm dần các năm, giảm mạnh vào năm 1997 chỉ

còn 11,267,418.46USD và bằng 72.12% so với năm trước Năm 1998 đạt được

12,855,964.86 USD tăng 14.09% so với năm trước nhưng vẫn còn thấp so với

năm gốc là năm 1992

Như vậy nếu chọn năm 1995 là năm bản lề (năm có mức kim ngạch

xuất nhập khẩu đạt cao nhất ) thì có thể chia khoản thời gian này ra thành hai

Kim ngạch XNK

20,885,396.02 20,000,000 “ 19,142,094.7

621,434.15 15,000,000 ~ 14,149,966.0

Trang 30

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS Võ Thanh Thu

* Giai đoạn L _: Từ năm 1992 đến năm 1995

Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng dẫn và đạt mức cao nhất, có các

nguyên nhân ảnh hưởng chính sau đây :

- Công ty tập trung đi sâu vào chuyên ngành XNK từ năm 1992 nhất là

sau khi thành lập DNNN

-Từng bước chọn lọc và định hình được các mặt hàng xuất nhập khẩu chủ lực phù hợp với các thế mạnh của tỉnh như hải sản , nước mắm và đặc biệt

năm 1995 mặt hàng chả cá surimi đã thâm nhập vào thị trường nước ngoài,

góp phân làm tăng kim ngạch xuất khẩu đáng kể

- Nỗ lực mở rộng tìm kiếm thị trường mới Châu Á cũng như Châu Au, Châu Mỹ cho từng mặt hàng cụ thể

- Tổ chức cơ cấu nhân sự ổn định, đội ngũ CB-CNV ngày càng có kinh

nghiệm trong kinh doanh bên cạnh đó cùng với sự nới rộng của cơ chế xuất

nhập khẩu đã tạo điều kiện phát triển cho Công ty

* Giai đoạn 2 : Từ năm 1996 đến năm 1998 Kim ngạch xuất nhập khẩu giảm dần do ảnh hưởng từ các nguyên nhân sau :

- Giá cả và cung câu của mặt hàng hải sản tươi sống chế biến mà Công

ty đang kinh doanh có nhiều biến động khó lườn trước được

- Tác động của thời tiết ở mấy năm gần đây luôn bị biến động mưa bão kéo đài là ảnh hưởng trực tiếp đến các chuyến đi biển từ đó dẫn đến các mặt

hàng hải sản khan hiếm

- Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở các quốc gia Đông Á - Xu hướng sụt giảm kim ngạch chung của hoạt động xuất nhập

Trang 32

Bang 4 cho thấy : Tổng kim ngạch XNK 1998 thực hiện được là 12,855,964.86 USD tăng 1,588,546.40 USD so với năm 1997 và bằng 114.09%

Trong đó kim ngạch xuất khẩu là 1,461,151.54 USD bằng 64.45% so với năm

1997, đây là con số giảm đi đáng ké : 805,696.20 USD Ngược lại kim ngạch

nhập khẩu năm 1998 đã đạt 11,394,813.32 USD tang 2,394,242.60USD

Nhận xét chung kim ngạch xuất khẩu năm 1998 :

- Kim ngạch xuất khẩu giảm

- - Kim ngạch nhập khẩu tăng đáng kể

- Sự thay đổi mạnh về lượng kim ngạch dẫn đến sự thay đổi lớn trong cơ

cấu xuất nhập khẩu của năm 1998 Tỷ trọng xuất khẩu tăng 1997 đạt 20.11%,

qua năm 1998 chi con lai 11.36% Tỷ trọng nhập khẩu năm 1997 chiếm phần

lớn với 79.88% qua năm 1998 lại càng lớn hơn là 88 63% Phần lớn kim ngạch

xuất nhập khẩu năm 1998 đã nghiêng về nhập khẩu

Ở 6 tháng đầu năm 1999 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vẫn nghiêng

về hướng nhập khẩu, nhưng tốc độ xuất khẩu của năm này tăng nhanh so VỚI

hai năm 1997 và 1998, chỉ với 06 tháng đầu năm mà kim ngạch xuất khẩu đã

tăng cao vượt bậc, có thể nói là sắp sỉ của 02 năm 1997 và 1998 cộng lai, kim

ngạch xuất khẩu của năm này đã vượt bậc lên ở mức 3,100,947 45 USD và

chiếm tỷ trọng là 23.67% Trong khi đó kim ngạch nhập khẩu đạt 9,998,025.16

USD chiếm tỷ trọng 72.33% của tổng kim ngạch xuất nhập khẩu là

13,098,972.61 USD Đây là con số đáng mừng và nếu đà phát triển tốt đẹp này

cho 06 tháng cuối năm nay thì có lẽ lại còn những con số tăng cao trong kim

ngạch xuất nhập khẩu của Công ty

2 Phân tích thi trường xuất khẩu của Công ty COIMEX :

2.1 Tình bình thị trường xuất khẩu của công ty trong thời gian qua :

* Thị trường trong nưÓớc :

Công ty COIMEX luôn luôn tăng cường tiếp thị, mở rộng thị trường

trong nước và đặt quan hệ làm ăn với những khách hàng ở TP HCM, ở các

vùng lân cận, các vùng ở xa như khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Tây

Ninh Đây là khách hàng quen thuộc của Công ty qua nhiều năm, đồng

thời cũng là nguồn cung ứng hàng hóa cho đơn vị, đặc biệt công ty củng

cố phát triển mạng lưới phân phối sản phẩm nội địa, mở rộng thêm các

===——._ỸƑ_-=

SVTH: Nguyen Thanh Mai Trang : 29

Trang 33

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS Võ Thanh Thu

cửa hàng mạng lưới kinh doanh, các đại lý nhằm đưa sản phẩm đến tay khách

hàng một cách nhanh chóng, đáp ứng đây đủ nhu cầu của khách hàng

* Thị trường nước ngoài :

Đối với các nhà doanh nghiệp Việt Nam, việc mua bán sản phẩm trên

thị trường thế giới là công việc không dễ dàng chút nào Bởi thế việc mua bán

được mở rộng ra tầm quốc tế cũng là một điều mà khiến các doanh nghiệp

Việt Nam đắn đo suy nghĩ, tìm cho mình thêm một đối tác quốc tế, thêm một

thị trường quốc tế quả là rất cân nhắc và rất khó khăn

Nếu như lúc đầu thị trường xuất khẩu của Công ty COIMEX chủ yếu là

các nước châu Á thái bình dương thì nay sản phẩm của Công ty dần dần đã

nhập vào thị trường Châu Âu, Châu Mỹ, khu vực ASIAN và nhiều quốc gia

khác trên thế giới Đây là những thị trường lớn, đòi hỏi chất lượng cao và đây

cũng chính là dấu hiệu đáng mừng vì những thị trường này rất rộng lớn và đầy

tiềm năng Tuy vậy nó cũng rất khắt khe bởi sự cạnh tranh gay gắt về chất

lượng sản phẩm, về mẫu mã, về giá cả và ngay cả về kỹ thuật nghiệp vụ ngoại

thường phức tạp, nhưng nó có cơ hội cho Công ty cọ xát với thị trường cao cấp

Bảng 5 : CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY

Trang 34

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS Võ Thanh Thu

* Nhận xét :

Thị trường xuất khẩu của Công ty Coimex rất đa dạng và phong phú

Trong 02 năm 1997 và 1998 Công ty đã có mối quan hệ buôn bán trên 15 nước

trên thế giới

Năm 1998 thị trường FINLAND, NETHERLAND, FRANCE, THAILAND, CHINA, NEWZELAND da ngiyng buén ban với Công ty, lý do là

giá trị xuất khẩu hàng mỹ nghệ gốm đất của Công ty giảm đáng kể vì số lượng

các nhà cung cấp hàng này cho các thị trường càng tăng lên trong cùng một

thời điểm đã vô tình tạo điều kiện gây ra hiện tượng ép giá, thêm vào đó các

nhà xuất khẩu việt nam chưa biết liên kết với nhau, đã tự động cạnh tranh phá

giá gây thiệt hại cho chính mình

Một số thị trường như SPAIN, KUWAIT, COMPUCHIA hay

MALAYSIA đã xuất hiện trong cơ cấu thị trường của Công ty năm 1998, tuy

rằng với giá trị xuất đi các thị trường này không đáng kể nhưng phần nào cũng

gia tăng giá trị kim ngạch cho Công ty

K.O.R, TAIWAN, SINGAPORE vẫn là những thị trường rất lớn của Công

ty năm 1998 với kim ngạch xuất khẩu của K.O.R năm 1998 là 511,520.00 USD

chiếm tỷ trọng 35% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, số lượng này tuy đã giảm

đáng kể so với năm 1997 chỉ bằng 35% giảm đi 1,005,421.50 USD Các thị

trường khác có tỷ trọng tương đối lớn vẫn là TAIWAN, SINGAPORE hay

ITALY, đây là các thị trường vốn có mối quan hệ buôn bán tốt đẹp với Công

ty từ lâu, có thể xem là những bạn hàng truyền thống Gần đây thị trường

SINGAPORE có mối quan hệ buôn bán mật thiết hơn với Công ty vì đây là thị

trường trung gian lớn nhất Ngược lại, đối với thị trường CHINA lại giảm đi

đáng kể ở những năm gần đây vì từ năm 1996 trở đi, một số tỉnh biên giới

Trung Quốc giáp ranh với việt nam không còn được hưởng các chính sách ưu

đãi về thuế quan mà chính phủ trung quốc đã dành cho họ Chính vì vậy mà

nhu cầu bắt đẫu giảm đi đáng kể

Đặc biệt, đối với công ty các thị trường tiềm năng như:

Nhật Bản: Chỉ chiếm tỷ trọng thấp Năm 1997 mức tiêu thụ của ¡thị trường này chỉ có 18,456.50 USD chiếm tỷ trọng 0.84% và sang năm 1298 chỉ còn chiếm

ở tỷ trọng 0.29% Đây là một con số quá ít Như ta đã biết thị trường Nhật Bản có sức tiêu thụ lớn nhất Ngành thủy sản xuất khẩu của Việt Nam Bởi thế, đây là vấn

để cần được công ty xem xét cụ thể để rồi đưa ra các chiến lược tăng nhanh tỷ

trọng xuất khẩu thủy sản sang thị trường tiểm năng này

===—— ừ{—_—_=

SVTH : Nguyén Shanh Mai Trang : 31

Trang 35

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS Võ Thanh Thu

Thị trường Mỹ chưa được công ty thâm nhập về sản lượng thủy sản xuất khẩu Đây là một điều đáng buồn, vì đối với thị trường này thì sức tiêu thụ về

hàng thủy sản rất cao, công ty đã chưa có mối quan hệ buôn bán với thị trường

này là một điều sai sót Bởi thế vấn để cấp bách cần được để ra là làm sao có

thể tạo điều kiện buôn bán nâng cao thị trường trong xuất khẩu hàng hóa đối với

các thị trường tiềm năng như : Nhật, EU đồng thời từng bước tiến nhằm thâm nhập

thị trường Mỹ, vấn đề trước mắt khó khăn cho công ty là những thị trường này rất

khắc khe, đòi hỏi cao về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm

2.2 _Tình hình nghiên cứu thị trường nhụ cầu :

Cũng giống như nhiều Công ty khác, hiện nay Công ty COIMEX không

có bộ phận chuyên trách về nghiên cứu thị trường,và tất nhiên không có phòng

Maketting hoạt động độc lập Mọi công tác nghiên cứu thị trường được các

nhân viên ở các phòng nghiệp vụ đảm nhận Do đó, việc nghiên cứu thị trường

nhu cầu của Công ty được tiến hành rời rạc, không được quan tâm, vì thế hiệu

quả không cao

Tuy nhiên đi sâu vào nghiên cứu các biên pháp để thâm nhập trực tiếp đến thị trường nước ngoài, cũng như cách thức thu nhập thông tin tại thị trường

hải ngoại, nhưng trong thời gian qua Công ty cũng đã qua tâm đến công tác

phân tích, thu nhập và xử lý thông tin liên quan đến thị trường kinh doanh

mang tính cạnh tranh ngày càng cao Việc tìm kiếm và xử lý thông tin liên qua

đến đối thủ cạnh tranh

Công ty nghiên cứu thị trường thông qua các nguồn thông tin sau :

* Thông tin cấp hai : Được thu thập trực tiếp tại phòng kinh doanh xuất

nhập khẩu của Công ty thông qua các tài liệu sau :

- Một số tạp chí nước ngoài như thông tin về Trung tâm thương mại Quốc

tế, hiệp định về thương mại và thuế quan (GATT) mà Cong ty đặt mua tại Sở

Thương mại thành phố Hồ Chí Minh

- Một số bản tin thị trường hàng ngày được phát hành tại Việt Nam, các tạp

chí thương mại, thời báo kinh tế Sài Gòn, các nhật báo Tuổi Trẻ, Lao Động, Việt

Nam Economic, Việt Nam News Niêm giá, xuất nhập khẩu hàng năm

- Các nguồn thông tin do Bộ thương mại, Sở thương mại, các văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam, các thương nhân, khách hàng quen thuộc

của Công ty trong và ngoài nước cung cấp

pe

Trang 36

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS Võ Thanh Thu

- Các nguồn thông tin ở bên trong Công ty : Thông tin thu nhập từ các báo

cáo của các phòng ban và các đơn vị trực thuộc, bằng kê lời lỗ, kết quả hoạt

động kinh doanh, tồn kho, thống kê giá cả

* Thông tin cấp mỘt :

- Thông qua các chuyến đi thực tế, nghiên cứu thị trường hải ngoại của nhân viên phòng kinh doanh xuất nhập khẩu và ban lãnh đạo Công ty

- Từ các chuyến đi thực tế đến cơ sở làm hàng xuất nhập khẩu để tìm

hiểu nguồn hàng cung ứng

- Từ kết quả thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu của Công ty hoặc của

các đơn vị bạn trong thành phố

- Ngoài ra Công ty còn được các đơn vị bạn ủy thác cung cấp các thông tin về giá cả, sản phẩm, thị trường trong lĩnh vực hoạt động của họ

Nhìn chung, việc thu nhập thông tin của Công ty còn tản mạn, rời rạc,

chưa kịp thời, độ chính xác không cao do thu thập thông tin không có hệ thống

nên không thể đưa vào phân tích, so sánh giữa các thị trường với nhau Do đó

Công ty luôn bị động trước những biến động của thị trường trong và ngoài

nước, chưa xác định rõ ràng thị trường mục tiêu, còn sử dụng nhiều thị trường

trung gian làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung

Ngoài ra, còn do việc nắm bắt thông tin thiếu chính xác và kịp thời đã làm cho

Công ty bỏ lỡ nhiều cơ hội kinh doanh đây hứa hẹn

Trên những thông tin thu nhập được, các cán bộ phòng kinh doanh tiến hành xử lý thông tin bằng cách so sánh, đánh giá, tính toán từ đó xác định cơ

cấu, chủng loại mặt hàng, nguồn hàng, khả năng tiêu thụ, các khách hàng mục

tiêu rồi lập báo cáo gởi lên Ban Giám đốc nhằm tham mưu cho cấp trên ra

quyết định kinh doanh

Phương pháp này giúp cho Ban Giám kiểm soát hoạt động của Công ty theo đúng hướng để ra Tuy nhiên, phương pháp này cũng tạo ra trở ngại trong

việc nắm bắt thị trường, mất đi tính kịp thời trong kinh doanh vì phải chờ đợi

quyết định của cấp trên

===— ƑẼỸƑ‡Ƒ—Ƒ—.-

Trang 37

từ nguồn hàng trong nước Do Công ty chưa khả năng tài chính đủ mạnh cũng

như kinh nghiệm và uy tín trên thị trường thế giới để có thể vận dụng phương

thức xâm nhập thị trường từ chính thị trường hải ngoại

Công ty xuất nhập khẩu trực tiếp và thường bán cho những bạn hàng quen nên không cần phải thông qua hiệp hội, tổ chức nào Còn lại phần xuất

khẩu ủy thác, Công ty chỉ làm dịch vụ Việc tìm kiếm khách hàng và thương

lượng là do Công ty ủy thác đảm nhiệm

Nhìn chung, công tác thâm nhập thị trường của Công ty không được tích cực và có phân thụ động, thay vì phải tìm kiếm khách hàng, phải thông qua các

hình thức xuất nhập khẩu thì Công ty chỉ đơn thuần giao dịch với khách hàng quen,

điều này cũng xuất phát từ quy mô, khả năng tài chính của Công ty

3 Phân tích cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Công ty :

Công ty COIMEX kinh doanh rất nhiều mặt hàng Qua nghiên cứu, phát triển bộ phận kinh doanh marketing thẩm định lập kế hoạch kinh doanh các

mặt hàng, các nguồn hàng có hiệu quả sinh lời cao từ trong và ngoài nước

Công ty tiến hành thu mua các mặt hàng hải sản từ các nơi, các nguồn khai

thác trong nước và qua chế biến để xuất sang thị trường nước ngoài, phục vụ

nhu cầu tiêu dùng và tái sản xuất, tái xuất khẩu Hoạt động kinh doanh nội

thương cho phép đơn vị thu mua hàng hóa từ các đầu mối, các nguồn hàng

trong nước để rồi cung cấp lại cho đơn vị bạn hưởng giá chênh lệch

Công ty xuất khẩu rất nhiều mặt hàng sang các thị trường cuối cùng và

thị trường trung gian

Trang 39

khẩu chung cả năm chỉ đạt 1,461,154.54 USD, giảm 805,692.20 USD ứng với

số tốc độ giảm là 35.54% so với năm 1997 Điều này dẫn đến tập trung ở mặt hàng thủy sản chế biến như chả cá sirimi Đây là mặt hàng xuất khẩu chủ lực nhất của công ty từ trước đến nay nhưng ở năm 1998 đã không có một giá trị xuất khẩu nào ở mặt hàng này Chính nó đã làm giảm kim ngạch xuất khẩu đi

phân nào đáng kể

Sự sụt giảm sản lượng xuất khẩu các mặt hàng này của Công ty COIMEX trong năm 1998 phần lớn bị ảnh hưởng của các nhân tố như :

- Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của thời tiết ở các tỉnh miền

Đông Nam bộ như bão lớn, gió mưa kéo dài, áp thấp nhiệt đới, đặc biệt ở vùng

biển Vũng Tàu lại thường xuyên bị ảnh hưởng nên việc đánh bắt thủy hải sản

gap nhiều khó khăn, trở ngại

- Giá cả biến động ở những mặt hàng này thường xuyên nên phần nào

gặp khó khăn trong việc mua bán

- Việc mở rộng các xí nghiệp, Công ty chế biến thủy hải sản rộng khắp

nơi trong nước, nên các Công ty ra sức cạnh tranh đưa ra các mặt hàng mới có

chất lượng cao Đôi khi giá cả trong nước và ngoài nước mất cân đối nghiêm trọng, do đó Công ty phải thu hẹp các mặt hàng xuất khẩu và điều này đã ảnh

hưởng đến kim ngạch xuất khẩu của Công ty

- Tình trạng thiếu thông tin trước các diễn biến đầy phức tạp của thị

trường hàng hóa thế giới Do việc thu nhập thông tin và nghiên cứu thị trường

bị hạn chế, không nắm bắt kịp sự thay đổi giá cả các mặt hàng trên thị trường

Từ đó việc ra quyết định thực hiện các hợp đồng xuất khẩu không có cơ sở

vững chắc dẫn đến khối lượng xuất khẩu giảm sút

Ta có thể xem qua biểu đồ của cơ cấu ngành hàng của Công ty năm

1997 - 1998 - 6 tháng đầu năm 1999

5

Trang 40

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD : PGS.TS Võ Thanh Thu

Biểu đô 2 : CƠ CẤU HÀNG XUẤT KHẨU NĂM 1997-1998 VÀ 6 THÁNG

ĐẦU NĂM 1999

4.96% 3.62% ~1.02%

56.57% \ 10.07%

2.03% 21.00%

6 tháng đầu năm 1999

4 Phân tích phương thức kinh doanh xuất khẩu :

Các hình thức hoạt động kinh doanh đa dạng, nhằm để tăng doanh thu, hiện nay mỗi đơn vị kinh doanh đều thực hiện nhiều hình thức kinh doanh như

hình thức kinh doanh trực tiếp, hình thức gia công, hình thức làm dịch vụ xuất | nhập khẩu cho đơn vị khác, ủy thác cho các đâu mối xuất nhập khẩu Nằm | trong xu hướng này của Công ty COIMEX cũng kết hợp hai hình thức kinh

doanh là kinh doanh xuất khẩu trực tiếp và kinh doanh xuất khẩu ủy thác

Sau đây là tình hình xuất khẩu theo hai phương thức này của Công ty :

Ngày đăng: 05/04/2013, 17:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w