548 Phân tích tình hình hoạt động và định hướng phát triển kinh doanh xuất khẩu tại Công ty XNK Thời Tân
Trang 1BO GIAO DUC VA DAO TAO TRUONG DAI HOC KY THUAT CONG NGHE KHOA QUAN TRI KINH DOANH
CU NHAN KINH TE
Dé tai:
PHAN TICH TINH HINH HOAT BONG VA BINH HUONG
PHAT TRIEN KINH DOANH XUAT KHAU TAI CONG TY
XUAT NHAP KHAU THỪI TÂN
CHUYEN NGANH QUAN TRI NGOAI THUONG
—_ MÃ SỐ: 11.10.30.09 TRƯỜNG ĐHDL - KTCN]|
THU VIEN
SO jlg1co00 5
|
GVHD ThS PHAN ĐÌNH NGUYÊN
SVTH HUỲNH ĐĂNG BÁCH
LỚP 97NTI
MSSV 97QT031 Khóa : 1997-2001
TP HCM, 9/2001
Trang 2|- PHAN TICH HOAT DONG KINH TE TRONG CONG TY XUẤT NHẬP KHẨU MúI tRUNE 01
1/ Qua trinh hink thanh và phát triển của công ty THOI TAN 20
II - PHAN TiCH DANA GIA TINH HINH HOAT DONG KINH DOANH XUAT NHAP KHAU THỪI TÂN 25
1/ Phan tich tong kim ngạcb xuất khẩu nhận khẩu 25
2/ Phan tich hhinh xuat nhép khẩu của công tytheo két cau hang ha tiguthu Sen 30
3/ Phan tich quan hé mua van va thi tring cia cong ty 32
4/ Phan tich tinh hinh thie bién ké hoach chi phi luv théng cia céng ty thai gian qua 36
9/ Phan tich tinh hinh tiéu chu hàng húa cửa công ty 38
G/ Phan tich tinh hinh thie hién kế hoach Idi nhudn 40
I— NHỮN§ KHÚ KHAN VA THUAN LOI CO LIEN QUAN DEN HOAT DONG XNK cUACONGTY ss 46
Trang 3
II - BÁt PRUGNG AN BINH HUGNG PRAT TRIEN XUAT KHAU
1/ Chon mat hang kinh doanh day manh xudt khẩu
a) co sé xady dung phidng án
h) Phiững án phát triển xuất khẩu gạn
6) Phát triển xuất khẩu mực khô
1/ PHY LUC CHUONG I:
BANG 11" BANG TOM LUGe “CHIEN LUG THAN NHAP THI TRUONG THE GIGI"
2/ PHU LUC CHUONG II
BANG 4-1 :"CO CAU MAT HANG XUAT KHAU"
BANG 5-1 "TINH HINH NHAP KHAU 2 NAM"
BANG G-Il " KIM NGACH XUAT NHAP KHAU QUA CAC THI TRUUNG 3 NAM
BANG 7-11 :TONG KIM NGACH NHAP KHAU TW CAC TH] TRUONG 3 NAM
BANG 8-1 "KET QUA THY HIEN CHI PHI LUU THONG NAM 99-00
BANG 9-l1 "BAO CAO KET QUA HOAT DOBG KINH DOANH CUA CONG TY
BANG 12-1 “KẾT CAU VON KINH DOANH CUA CONE TY/ 2000
NANG 13/11 SO 06 10 cHUe CUA CONG TY
2/PHU LUC CHUONG III
BANG 1-1 "TINH HINH XUAT KHAU GAO CUA CAC NUGC TRONG HAI NAM
Trang 4LOI MO DAU I- TINH CAP THIET CUA DE TAI
Hoạt động ngoại thương luôn là quan trọng đối với một quốc gia, nó bao gồm
cả hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu, điều này cũng quan trọng đối với các đơn vị, công ty, doanh nghiệp có hoạt động xuất, nhập khẩu trong nước, như ai cũng biết
nó thường mang lại lợi nhuận cao khi tham gia vào hoạt động này Tuy nhiên, nó còn tùy thuộc vào các điều kiện, các nhân tế khách quan và chủ quan bên trong cũng như bên ngoài quốc gia, doanh nghiệp tác động vào, nhưng thực trạng xuất khẩu của công ty hiện nay giảm mạnh trong hai năm gần đây Do vậy việc phân tích tình hình hoạt động của công ty trong những năm qua và đưa ra định hướng phát triển xuất khẩu là sự cần thiết để công ty có thể phát huy năng lực của mình
II- PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài chỉ tập trung vào lĩnh vực đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu là chính vì
thế không đi sâu vào vấn để nhập khẩu, tài chính
II- MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Mục tiêu nghiên cứu của để tài là nhằm tìm ra biện pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của công ty
Là một công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu là chủ
yếu, nhưng trong những năm gần đây hoạt động này có xu hướng giảm dân Cụ thể
là thông qua các chỉ tiêu tổng kim ngạch XK qua các năm gần đây của công ty, dẫn đến sự giảm nhanh các khoản lợi nhuận chủ yếu của công ty Vậy điều này xãy ra là
do những nguyên nhân nào đã tác động lên khía cạnh nào và bằng cách nào để khắc phục những mặt không tích cực trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của công
ty, đồng thời vạch ra định hướng phát triển cho công ty trong thời gian tới, đó là mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Cụ thể như sau:
- _ nắm rõ hơn tình hình xuất nhập khẩu một số mặt hàng trên thế giới
- _ Phân tích tình hình xuất khẩu của công ty để nhận biết được những yếu tố tác
động đến tình hình xuất nhập khẩu của công ty
-_ Phân tích xem công ty đã giải quyết như thế nào đến với tình hình biến động đó -_ Mạnh đạn để ra những giải phápnhằn gia tăng kim ngạch xuất khẩu của công ty VI- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 5Để thực hiện được để tài này tôi đã sử dụng các phương pháp như ; phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp
duy vật biện chứng và phương pháp chuyên gia Nhằm nghiên cứu và giải quyết các
vấn đề tổn tại có ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu của công ty một cách có hiệu quả hơn
Nhưng chủ yếu là phương pháp nghiên cứu trên bàn giấy, trước tiên ta thu
thập các tài liệu liên quan đến hoạt động xuất khẩu cũng như tình hình tài chính của
công ty thông qua phòng xuất nhập khẩu thống kê và kế hoạch
Tiếp đến thực hiện phân tích các số liệu nói trên, để thực hiện được các điều
này, chúng ta phải đi vào phân tích các hoạt động kinh doanh XNK bằng các phương
pháp phân tích khác nhau tùy vào đối tượng phân tích, chủ yếu là đùng phương pháp
so sánh tương đối và tuyệt đối và từ kết quả phân tích đó mới định ra được phương
hướng phát triển cho công ty
V - NGUỒN DỮ LIỆU
Nguồn dữ liệu về tình hình của công ty thường được lấy từ phòng kinh doanh xuất nhập khẩu thống kê và kế hoạch của công ty
Các nguồn đữ liệu cần thiết khác được trích từ Thời Báo Kinh Tế Việt Nam,
và thông tin về thị trường, các tài liệu in ấn về hoạt động xuất khẩu
VI~ CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
Việc phân tích tình hình xuất nhập khẩu của công ty và đưa ra định hướng cho hoạt động của công ty ta phân chia để tài làm các chương sau:
Chương I: Cơ sở lý luận
Một số lý luận cơ bản của việc thâm nhập thị trường thế giới, phương
pháp phân tích tình hình hoạt động của công ty
Chương II: Định hướng (Giải pháp)
Phân tích hoạt đông kinh tế và định hướng phát triển của một công ty là
nhiệm vụ thường xuyên và có tầm quan trọng hàng đầu trong quá trình phát triển
của công ty, vì nó thường quyết định sự thành công, sự phát triển công ty trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của mình
Từ việc nhận ra tầm quan trọng trên trong thời gian thực tập tại công ty XNK THỜI TÂN, được sự cho phép của công ty tôi đã chọn để tài “Phân tích tình hình hoạt động và định hướng phát triển kinh doanh xuất khẩu tại công ty xuất nhập khẩu THỜI TÂN”
Trang 6LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP - KHOA QTKD
CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÝ LUẬN
I/ PHAN TICH HOAT DONG KINH TE :
1/ KHAI NIEM
Phân tích hoạt động kinh tế là đi sâu nghiên cứu nội dung, kết cấu và mối
quan hệ qua lại giữa các số liệu, biểu hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của một
đơn vị bằng những phương pháp khoa học, nhằm thấy được bản chất hoạt động,
nguồn năng lực sản xuất tiểm tàng, trên cơ sở đó để ra những phương án và những
biện pháp khai thác có hiệu quả nguồn lực của công ty, cũng như những cơ hội thị
trường
2/ NHIỆM VỤ CỦA PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ :
- Đánh giá thường xuyên tình hình thực hiện kế hoạch mang tính toàn diện:
- Đánh giá tình hình thực hiện các chế độ chính sách của nhà nước :
- Đánh giá tình hình sử dụng lao động vật tư, tiễn vốn trên cơ sở phân tích tài sản
của đơn vị để tiết kiệm chỉ phí lưu thông nâng cao lợi nhuận
- Phát hiện và để ra các biện pháp khai thác khả năng tiểm tàng về lao động vật
tư, tiền vốn của đơn vị
3/ NỘI DUNG PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ :*
a) Phân tích lưu chuyển hàng hóa của một công ty xuất nhập khẩu
- Nội dung phân tích:
Xác định tình hình thực hiện kế hoạch lưu chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu
trong kỳ kinh doanh cho tổng mức luân chuyển hàng hóa, kết cấu hàng hóa, đối
tượng mua bán và tình hình xuất nhập khẩu
Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện kế hoạch lưu chuyển
hàng hóa xuất nhập khẩu trong mối quan hệ mua vào và dự trù bán ra cụ thể
Đối với việc mua hàng: Phân tích mua hàng theo nguồn mua, tình hình thực hiện hợp
đồng nhập khẩu theo số lượng, tình hình mua hàng hoá xuất khẩu
Đối với bán hàng hóa phân tích tình hình xuất khẩu theo số lượng, kết cấu mặt
hàng và theo thị trường xuất khẩu, ngoài ra còn phân tích tình hình xuất bán trong
nước theo số lượng mặt hàng và phương thức bán
Trang 7LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ~ KHOA QTKD :
Qua phân tích ta chỉ ra được khả năng tiểm tàng của đơn vị kinh doanh xuất
nhập khẩu đẩy mạnh vieệ mua vào bán ra, đặc biệt tăng doanh thu xuất nhập khẩu
và tăng độ lưu chuyển hàng hóa
Trong đó: Y¡,Kim ngạch xuất khẩu năm i
Yạ; Kim ngạch xuất khẩu năm cuối trong dãy được xét
Y¡, Kim ngạch xuất khẩu năm gốc so sánh trong dãy
Kế đó ta dùng biện pháp so sánh: giữa kế hoạch và thực hiện từ đây nhận ra
được sự ảnh hưởng của các nhân tố, từ đó mới có biện pháp khắc phục
- Ý nghĩa của việc phân tích :
Giúp nhà quản lý nắm được tình hình hoạt động của công ty, tình hình xuất
hàng hóa (xuất khẩu và bán nội địa) tình hình mua hàng hóa nhập khẩu và mua
hàng phục vụ xuất khẩu và dự trù hàng hóa phục vụ kinh doanh
Giúp công ty xác định các nhân tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến việc
thực hiện các chỉ tiêu mua bán và dự trù Ngoài ra còn giúp cho đơn vị nhà nước
kiểm tra việc chấp hành các chủ trương chính sách của nhà nước trong hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu
b) Phân tích chỉ phí lưu thông:
- Nội dung phân tích :
Phân tích chung tình hình thực hiện kế hoạch chỉ phí lưu thông
+Tổng mức chỉ phí
Trang 8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP -~ KHOA QTKD
Trong d6: M 1a mifc tang tuyét d6i cla tong chi phi Iuu théng, F,,Fo: Tổng
mức chi phí lưu thông thực hiện và kế hoạch
Mức tăng giảm tương đối:
M, =*+100-100
Mức tăng giảm của chỉ phí lưu thông ảnh hưởng rất nhiều đến lợi nhuận của
công ty
Tỷ suất chi phí lưu thông:
Tỷ suất chỉ phí lưu thông kỳ thực hiện và kỳ kế hoạch :
7 =—i,7,-—"
Pi,gị¡ :Tổng doanh thu kỳ thực hiện, Poxqo doanh thu kỳ kế hoạch hay kỳ gốc
Mức độ tăng giảm các tỷ suất chỉ phí lưu thông:M+
Do tính chất của chi phí lưu thông là khoản mục chỉ phí phát sinh trong quá
trình lưu chuyển hàng hóa nên khi so sánh các chỉ tiêu của nó về nguyên tắc cần
điều chỉnh lại các chỉ tiêu chi phí lưu thông tính theo khối lượng hàng hóa kỳ thực hiện, bằng cách :
Trang 9
LUAN VAN TOT NGHIEP — KHOA QTKD
B= Hhi¿¿ + Fụa < =
99
Trong đó: B là tổng mức chỉ phí lưu thông tính theo mức độ hoàn thành kế
hoạch, Etpo,Fapo chỉ phí lưu thông bất biến và khả biến kỳ kế hoạch
Mức độ bội chi hay tiết kiệm theo chỉ phí lưu thông điều chỉnh
M, =F 17 B
Tỷ suât chỉ phí lưu thông điều chỉnh:
T———
đ¡:Pì -Ý nghĩa của chỉ tiêu phân tích :
Chi phí lưu thông là một chỉ tiêu chất lượng quan trọng đánh giá hiệu quả kinh doanh của xuất nhập khẩu: giảm chỉ phí lưu thông cho phép tăng lợi nhuận và
doanh lợi của Công ty do vậy phân tích chi phí lưu thông là một trong những biện
pháp quan trọng của công tác quản lý Qua phân tích thấy được những nhân tố ảnh
hưởng đến tăng giảm phí, để ra những phương pháp giảm phí
c) Phân tích lợi nhuận:
- Nội dung :
Phân tích chung tình hình thực hiện kế hoạch lợi nhuận ngoại thương
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận
Trong đó P là lợi nhuận
Lãi gộp là lượng chênh lệch giữa giá bán và giá mua theo lượng bán
! Lãi gộp = doanh số bán - trị giá mua của hàng xuất bán
- Tinh cdc chỉ tiêu doanh lợi:
Trang 10
LUAN VAN TOT NGHIEP — KHOA QTKD
CPLT: chi phí lưu thông
P°crH,u: tỷ lệ lãi so với chỉ phí lưu thông kế hoạch hoặc thực hiện
-Ý nghĩa: Lợi nhuận ngoại thương là một chỉ tiêu chất lượng rất quan trọng,
đánh giá hiệu quả kinh doanh của đơn vị qua phân tích thấy được các nhân tố ảnh
hưởng đến lợi nhuận trên cơ sở đó để ra các biện pháp tăng lợi nhuận
d) Phân tích tài vụ :
- Nội dung phân tích:
Phân tích chung về tình hình tài chính của đơn vị :
T: ty trọng đối tượng nghiên cứu
X:: giá trị đối tượng nghiên cứu qua các năm
Trang 11
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP — KHOA QTKD
-Ý nghĩa :
Qua phân tích nắm được tình hình tài chính của đơn vị xác định rõ nguyên nhân
khách quan và chủ quan ảnh hưởng tốt xấu Từ đó để ra nhũng biện pháp thích hợp phát huy những nhân tố tích cực khắc phục những nhân tố xấu ảnh hưởng đến tình hình tài chính từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
TÓM LẠI: Phân tích hoạt động kinh tế của một công ty có vai trò hết sức
quan trọng như đã trình bày trên Nó giúp chúng ta thấy được những mặt mạnh mặt
yếu của đơn vị từ đó xây dựng các kế hoạch và định hướng phát triển của công ty
trong tương lai
IƯ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH DOANH ĐỐI VỚI MỘT CÔNG
TY XUẤT NHẬP KHẨU
1/ KHÁI NIỆN VỀ ĐỊNH HƯỚNG KINH DOANH
Định hướng phát triển sản xuất kinh doanh là để ra những phương hướng chiến lược, những chương trình hành động tổng quát hướng tới việc thực hiện những mục tiêu cụ thể của công ty, công ty
2/ CÁC CĂN CỨ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH:?)
Một công ty do chịu sự tác động của nhiều yếu tố do vậy khi xây dựng chiến lược kinh doanh xuất phát từ những căn cứ khác nhau mà ta có những chiến lược
khác nhau
a) Căn cứ vào khách hàng :
Để chiến lược kinh doanh thực sự dựa vào khách hàng khi xây dựng Công ty phải
phân chia thị trường trên cơ sở đó ta xác định tỷ trọng khách hàng mà Công ty phải có
bổn phận chiếm được Ta thường sử dụng hai cách phân chia thị trường :
- Cách thứ nhất là :
Phân chia theo mục tiêu Ta căn cứ vào mục tiêu của khách hàng trong việc
sử dụng sản phẩm hay dịch vụ, tuy khách hàng sử dụng một sản phẩm nhưng mục đích khác nhau Thông qua phân chia thị trường theo mục tiêu Công ty có thể lựa chọn cho mình nhóm khách hàng chiến lược, nhóm khách hàng được chọn phải có
độ lớn nhất định đảm bảo cho Công ty có thể tổn tại và phát triển khi đưa ra sản
Trang 12LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP - KHOA QTKD
- Cách thứ hai:
Phân chia theo khả năng đáp ứng cho khách hàng, cách phân chia này xuất phát từ khả năng hữu hạn của Công ty, về nguồn lực so với nhu cầu rất lớn của thị trường Cho dù quy mô Công ty lớn cd nao thi Công ty cũng không đủ khả năng chiếm lĩnh toàn bộ thị trường mà thật ra cũng không cần phải như vậy vì điều đó dẫn đến kinh doanh kém hiệu quả Sự phân chia thị trường theo hướng này sẽ giúp Công ty lựa chọn được thị phần phù
hợp với khả năng về nguồn lực của mình đó xây dựng được các chiến lược kinh doanh có
tính khả thi cao Trên cơ sở phân chia như vậy Công ty có thể lựa chọn thị trường chính và phụ
Thị trường chính là thị trường có dung lượng khá và phát triển có triển vọng
cao Tuy nhiên thị trường chính lại có rất nhiều Công ty khác đỂ ý, trong trường
hợp Công ty có khả năng thì cần quyết tâm chiếm lĩnh thị trường ấy Cho dù nó
nằm trong vòng kiểm soát của Công ty đó, nhưng ngược lại nếu công ty bị hạn chế
do thiếu nguồn lực hoặc yếu kém thì các công ty phải hướng tới việc lựa chọn thị trường phụ rồi sau đó từng bước hướng tới thị trường chính khi có cơ hội
b) Căn cứ vào khả năng của công ty :
Khả năng khai thác thế mạnh của công ty là một thực tế vì bất cứ công ty nào nếu
so sánh với những công ty khác cũng đều có những mặt mạnh hơn đồng thời cũng có những mặt kém hơn Khi hoạch định chiến lược kinh doanh, công ty có thể và cần phải khai thác những mặt mạnh, nhìn thẳng vào những hạn chế đang ràng buộc, mặt khác công
ty cần phải biết phân bố các nguồn lực một cách có hiệu quả
c) Căn cứ vào đối thủ cạnh tranh :
Ta so sánh khả năng của công ty với các đối thủ cạnh tranh để tìm ra lợi thế,
lợi thế của công ty so sánh với các công ty khác được thể hiện ở ưu thế vô hình và
ưu thế hữu hình Ưu thế vô hình là ưu thế không thể định hướng được như uy tín mối quan hệ, địa điểm kinh doanh hoặc thói quen sử dụng sản phẩm của khách
hàng Còn ưu thế hữu hình thường được định lượng bằng các chỉ tiết cụ thể như khối lượng và chất lượng sản phẩm, chỉ phi, giá bán khả năng vốn
Trên đây là một số yếu tố căn cứ để xây dựng chiến lược kinh doanh Ngoài
những căn cứ này và tùy thuộc vào điều kiện kinh doanh cụ thể công ty còn phải
có thêm các căn cứ khác vì chiến lược kinh doanh là chiến lược nhiều chiều nhằm
đáp ứng mục tiêu đa nhân tố
3/ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHIẾN LƯỢC KINH DOANH:
Thường thì chiến luợc kinh doanh có hai phần: đó là chiến lược tổng quát và chiến lược bộ phận
Trang 13
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ~ KHOA QTKD
a) Chiến lược tổng quát :
Chiến lược tổng quát có nhiệm vụ xác định hướng ổi và cách đi cùng với những
mục tiêu chủ yếu cần đạt đến Nội dung chiến lược tổng quát thường thể hiện bằng những
mục tiêu cụ thể như phương hướng sản xuất, loại sản phẩm dịch vụ lựa chọn thị trường
tiêu thụ, nhịp độ tăng trưởng và các mục tiêu về tài chính như lợi nhuận hiệu quả sản xuất
Chiến lược tổng quát của công ty thường tập trung vào ba mục tiêu sau:
- Khả năng sinh lời: Vì mục đích của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận
trong điều kiện cho phép Thường thì có các cách sau: Tăng khối lượng bán hàng,
thực hiện giảm chi phí lưu thông,
- Thế lực trên thị trường: Trong nên kinh tế thị trường cạnh tranh là quy luật
phổ biến bắt buộc các công ty phải đương đầu với các đối thủ kinh doanh khác,
chiến lược kinh doanh phảẩi đạt được mục tiêu dành thắng lợi trong cạnh tranh để
xác lập được chỗ đứng của mình trên thị trường
Thế lực trên thị trường được đo bằng thị phần thị trường mà công ty kiểm
soát được tỷ trọng hàng hóa hay dịch vụ mà công ty đó với tổng lượng cung về
hàng hóa trên thị trường Mức độ tích tụ tập trung, khả năng liên doanh liên kết và
mức độ phụ thuộc các công ty khác vào công ty mình, danh tiếng uy tín đối với
khách hàng
- Tính an toàn trong kinh doanh: Trong kinh doanh luôn gắn liền với may
rủi, cạnh tranh càng khóc liệt thì khả năng thu lợi càng lớn nhưng rủi ro cũng
thường gặp phải Trong nền kinh tế thị trường rủi ro trong kinh doanh luôn tổn tại
dưới nhiều dạng khác nhau, nhưng đa phần nguyên nhân dẫn đến rủi ro là thiếu
kiến thức và kỹ năng quản lý kinh doanh Ngoài ra còn có các nguyên nhân
khách quan như cơ chế quảm lý, lạm phát Để đảm bảo an toàn trong kinh doanh
khi xây dựng chiến lược kinh doanh phải chú ý đến việc lựa chọn phương pháp
phòng ngừarủi ro Cho đến nay các nhà công ty đã xây dựng được một hệ thống
phòng ngừa rủi ro Thường tập trung vào ba phương pháp sau: Phương pháp đa
dạng hóa sản phẩm, phương pháp bảo hiểm và phân tích hoạt động kinh tế như đã
trình bày trên
b) Nội dung của chiến lược bộ phận :
Trên cơ sở nội dung của chiến lược tổng quát công ty xúc tiến xây dựng các chiến
lược bộ phận Không có chiến lược bộ phận và các kế hoạch thực hiện tiếp theo thì mục
tiêu chiến lược tổng quát chỉ là mong ước
Chiến lược bộ phận có nhiều loại khác nhau dưới đây ta chỉ giới thiệu bốn loại chủ
yếu :
b1) Chiến lược sản phẩm
b2) Chiến lược giá cả
b3) Chiến lược thị trường
Trang 14
LUAN VAN TOT NGHIEP — KHOA OTKD b4) Chiến lược phân phối sản phẩm
Tuy nhiên căn cứ của chiến lược sản phẩm, thị trường là chiến lược mặt
hàng: Nó là nến tảng của chiến lược nghiên cứu thị trường, chiến lược sản phẩm
và là vũ khí sắc bén trong cạnh tranh trên thị trường
Dưới tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật nhiều loại sản phẩm mới đã ra đời và đáp ứng được nhiều yêu cầu của khách hàng Nếu như trước đây sự cạnh
tranh trên thị trường chủ yếu hướng vào giá cả thì ngày nay đã hướng vào chất lượng sản phẩm nhiều hơn
Do vậy điều đó có ý nghĩa quyết định dẫn đến thành công của công ty chính
là sản phẩm Chỉ khi hình thành được chiến lược sản phẩm công ty mới có phương hướng đầu tư, thu mua sản phẩm Nếu chiến lược sản phẩm của công ty yếu kém
thì công ty không có thị trường tiêu thụ sản phẩm thì những hoạt động của công ty
hết sức mạo hiểm có thể đưa công ty đến thất bại
Nếu chiến lược sản phẩm thực hiện tốt thì những chiến lược phân phối và cổ động mới có điều kiện phát triển một cách có hiệu quả Chẳng hạn khi công ty
tung ra thị trường một sản phẩm mới với các đặc tính sử dụng và chất lượng cao thì
công ty dễ dàng đưa nó vào các kênh tiêu thụ và nâng giá bán mà khách hàng vẫn
vui lòng mua, đồng thời kết hợp với những hình thức tuyên truyền cổ động của
công ty thì mới có thể chiếm được lòng khách hàng, chiến lược sản phẩm đảm bảo
cho công ty thực hiện được các mục tiêu của chiến lược nghiên cứu thị trường đó là
mục tiêu lợi nhuận việc tăng số lượng hay chất lượng sản phẩm hoặc sự mở rộng
chủng loại của nó cũng như chi phí sản xuất, giá cả của mỗi loại sản phẩm là
những yếu tố có mối liên hệ hữa cơ với nhau mà sẽ quyết định mức lợi nhuận mà
công ty sẽ thu được
Công ty có lôi kéo được khách hàng hay không tùy thuộc vào chất lượng,
nhãn hiệu, chất lượng uy tín của sản phẩm, nếu chất lượng của sản phẩm càng
giảm thì uy tín của của sản phẩm ngày càng một giảm và cuối cùng chắc chắn sản
phẩm sẽ không thể tổn tại trên thị trường
Ngược lại chất lượng ngày một nâng cao nhu cầu về loại sản phẩm đó ngày
càng tăng uy tín ngày một gia tăng thì công ty sẽ có sự vững vàng qua thờigian
Mục tiêu an toàn chiến lược sản phẩm sẽ giúp công ty đắm bảo sự tiêu thụ
Trang 15LUAN VAN TOT NGHIỆP - KHOA QTKD
- Thay đổi như thế nào?
- Có nên phát triển thêm sản phẩm mới không
b1.1)Các loại chiến lược sản phẩm sau:
+ Chiến lược thiết lập chủng loại sản phẩm
+ Chiến lược hạn chế chủng loại
+ Chiến lược biến đổi chủng loại
+ Chiến lược tách biệt chủng loại
+ Chiến lược hoàn thiện sản phẩm
+ Chiến lược đổi mới sản phẩm và chiến lược phát triển sản phẩm mới
+ Chiến lược sản phẩm hiện có trên thị trường công ty đang chiếm lĩnh
Chiến lược này thường áp dụng trong giai đoạn đầu hoạt động kinh doanh
của những công ty mới thành lập Nhà kinh doanh mới bắt đầu từ một số sản phẩm sau đó phát triển lên và có ba hướng phát triển: Một là khuyến khích khách hàng
đã có tăng cường tiêu thụ sản phẩm và thuờng xuyên hơn, hai là phát triển thêm khách hàng trong cùng một thị trường để tăng thêm mức tiêu thụ sản phẩm
Chiến lược sản phẩm hiện có trên thị trường mới, chiến lược này nhằm mở
rộng thị trường bằng cách đưa sản phẩm hiện có vào thị trường mới để tăng mức tiêu thụ
Chiến lược sản phẩm cải biến trên thị trường hiện có: Trong chiến lược này
sản phẩm hiện có có thể được thay thế một phần hay thay thế hoàn toàn trong tập
hợp sản phẩm của công ty vì tâm lý khách hang bao giờ cũng mong muốn sản
phẩm mới hoặc cải tiến, tốt hơn đẹp hơn, rẻ hơn
Chiến lược sản phẩm cải biến trên thị trường mới: Chiến lược này dùng sản phẩm biến cải để tạo môi trường mới
Chiến lược sản phẩm mới trên thị trường mới: Chiến lược này nhằm đưa ra sản
phẩm mới cạnh tranh với sản phẩm hiện có của các công ty khác trên thị trường
b1.2) Nội dung cơ bản của chiến lược sản phẩm :
Để giải quyết vấn để chiến lược sản phẩm công ty cần phải chú ý đến
những vấn để sau:
- So sánh sản phẩm và đặc tính của thị trường cần nghiên cứu: So sánh sản phẩm sao cho phù hợp với lợi tức tâm lý tiêu dùng phong tục tập quán, tiêu chuẩn
kỹ thuật, hệ thống đo lường, tiêu chuẩm môi sinh
- Đối với thị trường có mức lợi tức cao sản phẩm cần có chất lượng tốt, giá cao nhưng thị trường có mức lợi tức thấp cần thay đổi giá và chất lượng cho phù
hợp Nếu thị trường có chỉ phí lao động thấp nên sản xuất kinh doanh loại sản
phẩm sử dụng nhiều lao động nhưng nếu lao động cao cân tự động hóa sản xuất,
Trang 16
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP - KHOA QTKD
đối với thị trường có trình độ văn hóa thấp sản phẩm cần mang tính giản đơn, dễ sử
dụng mặt khác hệ thống sửa chữa bảo quản gặp nhiều khó khăn
- Ngoài ra mỗi quốc gia còn có một hệ thống đo lường khác nhau, những
nơi xa xôi hẻo lánh cần đơn giản hóa, tránh sử dụng những ngôn ngữ mang nhãn
hiệu thấp
- Đồng dạng hoá và đa dạng hóa sản phẩm:
Đồng dạng hóa các sản phẩm cho đúng các tiêu chuẩn định sẵn, sản phẩm
có kỹ thuật cao đòi hỏi tiêu chuẩn hóa cao, hàng hóa nước ta trên thị trường thế
giới chưa nhiều do chưa đáp ứng được tiêu chuẩn trên thế giới
- Đa dạng hoá sản phẩm là sản phẩm được thiết kế theo nhiều mẫu mã, kiểu
dáng khác nhau trên thị trường làm cho sản phẩm khác nhau trên thị trường
- Dị biệt hóa sản phẩm: Là việc tạo ra những sản phẩm mới lạ, trên thị
trường mục tiêu chưa có và chắc chắn rằng khi tung ra thị trường sản phẩm sẽ được giới tiêu thụ chấp nhận
- Bao bì nhãn hiệu: Ta biết bao bì gồm hai chức năng: bảo vệ và khuyếch
trương khi mà sự bảo vệ là quan trọng thì chức năng khuyếch trương bị xem nhẹ Cùng một hàng hóa bán ở quốc gia khác nhau thường có lý do khác nhau, để thiết
kế các bao bì có thể biểu lộ và trình bày theo cách mà người tiêu dùng ưa thích
trong từng thị trường, bao bì phải thuận lợi và dễ dàng cho người mua sử dụng
Ngoài ra nó sẽ giúp bán sản phẩmdqua việc thu hút chú ý của người mua nhận
Để nâng cao hiệu quả của bao bì xuất khẩu cân phải chú ý từng khâu thiết
kế đến sản xuất bao bì, những công việc này cân phải sử dụng tiêu chuẩn hóa bao
bì sẽ tạo ra nguồn lợi như:
Việc tiêu chuẩn hóa kích cỡ bao bì làn giảm vốn đầu tư sáng chế, thuận
tiện cho việc vận chuyển lưu trú ở các khâu phân phối và tàng trữ Thuận tiện cho
việc trưng bày và cho tự phục vụ bán, làn giảm chỉ phí do thích hợp kích cỡ khi vận chuyển lưu trú cho trong việc sử dụng máy
- Nhãn mác: Một nhãn hiệu là cơ sở để nhận ra dịch vụ hay hàng hóa và
phân biệt chúng với các nhãn hiệu hàng hóa khác, một nhãn hiệu thương mại là
một nhãn hay phần của nhãn được bảo vệ bởi pháp luật
Chức năng quan trọng nhất của nhãn là để nhận ra sàn phẩm và người sở
hữu nhãn hiệu đó, một nhãn hiệu chỉ ra nguồn gốc của sản phẩm nó bảo đắmhàng
hóa về tiêu chuẩn kỹ thuật, nó cho phép người mua nua được sản phẩm mong
muốn
Vah dang ký nhãn mác là cần thiết với cả người mua và người bán Ngoài
ra nhãn hiệu hàng hóa còn bảo vệ hàng hóa trước pháp luật đối với hàng giả, hàng lợi dụng nhãn hiệu có uy :ín để kinh doanh
b1.3)Kiểm tra chất lượng sản phẩm :
Trang 17
LUAN VAN TOT NGHIEP — KHOA QTKD
Cần tăng cuờng kiểm tra chất luợng sản phẩm đặc biệt hàng thực phẩm chế biến,
để công ty hạn chế những tổn thất về hàng hóa bị hư hỏng tăng nhanh số bán ra theo tiêu chuẩn chất lượng giữ uy tín trên thị trường quốc tế
Nội dung việc kiểm tra bao gồm việc kiểm tra nguyên vật liệu, điều kiện
bốc dỡ, bảo quản vận chuyển, quá trình chế biến đóng gói và bản thân sản phẩm
đối chiếu với những quy định của nội địa và các mức nhập khác
Ta cũng chú ý đến chu Kỳ sống của một sản phẩm: vì mỗi sản phẩm có một
chu kỳ sống riêng biệt, một sản phẩm có thể mới ở thị trường này nhưng đã chết ở
thị trường khác, do vậy trong chiến lược sản phẩm cần thiết nhận thấy rằng sản phẩm đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống để từ đó vạch ra chiến lược tiêu thụ
thích hợp có khả năng kéo dài thời kỳ chín mùi, bảo hòa
b1.4)Phân tích khả năng thích ứng thị trường: Mục đích của người
tiêu dùng là mua những sản phẩm mà họ cần chứ không phải thứ nhà sản xuất kinh
doanh có
Do vậy muốn kinh doanh có lãi đòi hỏi các công ty phải nắm bắt chính xác
ý muốn của khách hàng để xem xét sản phẩm của mình có đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của họ trên thị trường hay không Đế làm được điều ấy trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, xí nghiệp hoặc công ty nhất thiết phải tiến hành thường xuyên
phân tích sản phẩm và tìm hiểu khả năng thích ứng của nó trên thị trường tới đâu
Công tác phân tích sản phẩm về khả năng thích ứng của nó trên thị trường
gồm những nội dung sau:
Đánh giá tính thích ứng của sản phẩm đối với thị trường và vạch ra nhũng
phương pháp kiểm tra để tìm hiểu sự chấp nhận của khách hàng đối với sản phẩm
nêu trên
Phát hiện những cơ hội bán hằng và khai thác triệt để những cơ hội đó Việc phân tích sản phẩm và khả năng thích ứng của thị trường đối với một sản phẩm là
hết sức cần thiết Khi công ty đưa vào thị trường một loại sản phẩm nào đó, nó
giúp cho nhà sản xuất tránh được những chỉ phí không cần thiết do không hiểu biết thị trường Để tổ chức công tác phân tích sản phẩm và khả năng thích ứng của sản
phẩm với thị trường người ta thường tiến hành phân tích các bước sau:
+ Nghiên cứu sản phẩm hiện có trên thị trường đang cạnh tranh với sản phẩm của mình
+ Nội dung nghiên cứu sản phẩm cạnh tranh gồm cả hình thức sản phẩm,
nội dung sản phẩm cơ cấu giá cả sản phẩm và cả dịch vụ bán hang
Bước này nhằm giúp công ty nhận được những thông tin về khả năng chấp
nhận của thị trường đối với những sản phẩm cạnh tranh và từ đó rút ra kết luận cần
thiết cho công ty khi muốn bán sản phẩm mới vào thị trường hoặc cải tiến sản
Trang 18LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP - KHOA QTKD
Nội dung nghiên cứu này giúp nhà sản xuất tìm hiểu thái độ phẩn ứng của khách hàng đối với sản phẩm của mình đồng thời thăm dò ý muốn khách hàng và
phương thức thu mua thanh toán Do vậy công ty nên thường xuyên nên tiếp xúc với khách hàng để đánh giá đúng đắn vị trí sản phẩm của mình trên thị trường Ngiên cứu và xây dựng hệ thống biện pháp nhằm làm cho sản phẩm thích ứng với thị trường
b2) Chiến lược giá:
Vị trí: Giá là một trong những biến cố giống như bản thân của sản phẩm sự phân
phối và xúc tiến Tất cả những hoạt động đó đều hướng vào mục đích bán hàng, và giá cả
là lĩnh vực thể hiện sự tranh giành lợi ích kinh tế
Một chính sách giá là một hay một loạt quyết định được lãnh đạo của công ty đưa
ra trên cơ sở phân tích tình hình chi phí thị trường và những quyết định này được
thiết kế để đạt được mục tiêu đã định
b2.1) Chiến lược giá cho sản phẩm xuất khẩu:
Giá hướng vào công ty: Giá bán được định mức sao cho công ty có thể vay
trả được toàn bộ chỉ phí và một số lãi % theo doanh số hòa vốn.(phí sản xuất trong
nước và mức lời) Cách này thực hiện dễ dàng nhưng không thỏa đáng vì không
biết giá trên thị trường thế giới nên công ty không thể thực hiện được chiến lược
- cạnh tranh trong trường hợp bán giá cao, hoặc lợi nhuận bị giảm khi trường hợp bán giá thấp hơn giá thị trường, công ty cũng không tính được các yếu tố phí tổn ở
thị trường bên ngoài, các chi phí cần thiết cho tiếp thị trung gian và biến động khác
phát sinh ở thị trường nước ngoài, do vậy phương pháp này áp dụng rất hạn chế
Giá theo thị trường: Việc định giá dựa trên giá thống trị trên thị trường thế giới là bao nhiêu và quyết định giá xuất khẩu theo giá đó sao cho sát với thị trường thế giới Phương pháp này có nhược điểm trong trường hợp giá thị trường thế giới biến động lớn gây hậu quả nghiêm trọng cho sản xuất, nếu chính phủ không có biện pháp can thiệp bằng chính sách trợ giá (đặc biệt là hàng nông sản) Ngoài ra công ty không phải lúc nào cũng bán được hàng hóa theo mức giá trên thị trường
thế giới, nếu không có mối quan hệ trên thị trường thế giới
Đối với mộ số sản phẩm đặc biệt không có giá, các sản phẩm này chỉ bán theo giá
cơ hội
Giá cạnh tranh: Ấn định giá thấp hơn giá cạnh tranh khác, mục đích thu
hút thị trường và làm cho các đối thủ cạnh tranh nản lòng
Muốn thực hiện giá cạnh tranh điều kiện là thị trường phải hết sức nhạy cảm với giá khi tăng giảm giá có thể thu hút khách hàng nếu không có thể kết quả sẽ ngược lại
Trang 19
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ~ KHOA QTKD
Giá độc quyền: (Monopoly pricing) đây là giá đối với sản phẩm khan hiếm
được sản xuất theo công nghệ đặc biệt chỉ có một số người có khả năng tạo ra
được quyền phân phối
Giá chuyển nhượng: (Transfer pricing) Giá chuyển nhượng được thực hiện giữa các chi nhánh của công ty nằm ở các quốc gia khác nhau hay nhũng công ty
có hoạt động ở các nước nhằm mục đích để hổi chuyển vốn lợi tức dễ dàng khi gặp
khó khăn trong hàng rào thuế quan, về thuế hối chuyển vốn lợi tức và chuyển thuế
lợi tức ra nước ngoài
Giá hớt ván sữa: (skimming): cách làn giá thị trường này là chỉ bán một lần, tranh thủ sao cho có lời cao, thường bán chụp giựt
Giá thuê mướn (Leasing): Đây là phương pháp giảm giá sản phẩm coi như
giá xuất khẩu người ta có thể bán thêm được hàng hóa ra nước ngoài, giá này được thực hiện trong trường hợp khách nước ngoài không có nhu cầu sử dụng lâu dài chỉ
sử dụng trong một thời gian nhất định nên không mua mà thuê mướn(ví dụ như nhà
kho phân xưởng)
Giá biên, lễ (Marginal pricing): Là chiến lược giá đối với một số sản phẩm
vừa tiêu thụ trong nước vừa đưa ra xuất khẩu, có tỷ trọng tiêu thụ sản phẩm trong
nước cao hơn sản phẩm đưa ra xuất khẩu, theo phương pháp này người ta giành cho
sản phẩm trong nước gánh chịu toàn bộ chỉ phí cố định, cồn sản phẩm xuất khẩu có giá xuất thấp làm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới
Giá tâm lý: (Psychalogical pricing): Dựa vào tâm lý người tiêu thụ công ty
có thể có nhiều cách đưa ra giá bán :Giá sốn lẻ tạo ấn tượng chính xác giá, hoặc sử
dụng giá chiết khấu, càng mua hàng nhiều càng giảm giá
Giá phân biệt mỗi loại khác nhau theo điều kiện hoàn cảnh cụ thể
Ví dụ: Như giảmgiá do mua nhiều, do điều kiện thanh toán có lợi hơn
b3) Chiến lược phân phối:
b3.1) Chức năng của kênh phân phối:
- Chức năng vận chuyển, dịch vụ chuyển hàng hóa từ nơi này đến nơi khác
- Lam cho sản phẩm thích ứng với thị trường thay đổi
- Thực hiện việc bán hàng, cung cấp các dịch vụ khác nhau cho khách hàng
- Thông tin và nghiên cứu thị trường: Như phân phối phải là nhà cung cấp thông tin
cần thiết cho nhà sản xuất
Trang 20
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP - KHOA QTKD
b3.2) Các kênh phân phối
Xem sơ đồ 1-I “Kênh phân phối” trong phụ lục
NHA XUAT KHAU
b3.3) Nội dung cơ bản chiến lược phân phối:
Xác định kênh phân phối, từ đó xác định các khâu trung gian, điều kiện làm
việc của khâu trung gian
b3.4)Tiéu chuẩn lựa chọn kênh phân phối:
+ Loại sản phẩm: Tùy thuộc vào loại sản phẩm để phân phối thị
trường theo sản phẩm đó, ví dụ sản phẩm để phục vụ tiêu dùng cần có hệ thống
phân phối rộng hơn sản phẩm công nghiệp, hàng hóa khó bảo quản, dễ hư hỏng
như lương thực thực phẩm đồi hỏi phải tiếp cận thị trường trực tiếp nhiều hơn
Hàng hóa đơn chiếc, hàng hóa có kỹ thuật đặc biệt thì công ty có thể bán trực tiếp và có sự am hiểu về hàng hóa của mình nên có thể hướng dẫn khách
hàng, đối với những hàng hóa muốn bán vớikhối lượng lớn, công ty không thể bán
trực tiếp mà phải phân phối qua kinh trung gian
Phụ thuộc vao das điểm của thị trường mục tiêu:Mọi địa phương, quốc gia
có đặc điểm riêng biệt cho điều kiện chính trị xã hội, tôn giáo kinh tế khác nhau, buộc các nhà xuất khẩu phải nghiên cứu để quyết định phân phối
+ Đặc điểm của từng loại phân khúc thị trường
+ Yêu cầu lực lượng phải nghiên cứu kỹ lưỡng những người bán hàng
là người phân phối dịch vụ tùy thuộc vào thị trường
+ Phụ thuộc vào loại hình của các trung gian + nhu cầu kiểm soát và thông tin
Từ những nhân tố trên dẫn đến yêu cầu :
Trang 21
LUAN VAN TOT NGHIỆP _ KHOA QTKD -:
+Đảm bảo sản phẩm tiêu thụ nhanh chóng, cố gắng giảm bớt các
khâu trung gian nhưng không thể cắt hoàn toàn
+Đảm bảo phí tổn thấp nhất +Hệ thống thỏa mãn các điều kiện thông tin
b3.5) Các phương án phân phối:
+Phân phối qua trung gian:
Hãng buôn xuất khẩu
Công ty quản lý xuất khẩu
Khách hàng ngoại kiểu
Môi giới xuất khẩu
Nhà nhập khẩu
+Phân phối trực tiếp:
Đại lý hay chỉ nhánh của công ty
Trong hệ thống nhiều kênh nhất thiết phải tập trung vào kênh chính và đây
là nơi đảm nhận phân phối hàng hóa với tỷ trọng lớn
Kênh phân phối có trung gian gọi là kênh ngắn, Phân phối theo kênh ngắn tạo cho công ty dễ dàng kiểm soát thị trường kênh phân phối qua nhiều khâu trung gian gọi là kênh dài Khi công ty ít vốn hiểu biết thị trường hạn chế hoặc không đủ
nhân viên kiểm soát nên nhân viên sử dụng kênh dài
b4) Chiến lược thâm nhập thị trường thế giới:?) Các nhân tố ảnh hưởng đến chiến lược thâm nhập thị trường thế giới:
- Đặc điểm của thị trường: Mỗi thị trường ở mỗi nơi thị trường khác nhau do
tốc độ phát triển kinh tế, mức sống hệ thống pháp luật đòi hỏi nhà xuất khẩu phải nắm bắt được vấn để này
- Đặc điểm của sản phẩm: Tuỳ thuộc vào đặc điểm của sản phẩm mà công ty
có chiến lược xâm nhập thị trường nhất định như các mặt hàng dễ hư thối, cổng
kểnh sản phẩm theo mùa, thời trang ảnh hưởng đến sự lựa chọn cách xâm nhập
- Đặc điểm khách hàng: Tùy theo mức thu nhập, mực độ dân cư để tổ chức
phương tiện thu cho thích hợp
- Đặc điểm của giới trung gian: Thường giới trung gian chỉ nhận những sản
Trang 22LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP - KHOA QTKD
b4.1) Nội dung chiến lược thâm nhập thị trường thế giới:
Ta xem bảng 1-I sơ đổ chiến lược xâm nhập thị trường thế giới trong phần
phụ lục
Trường hợp cơ sở sản xuất đặt trong nước có hai phương thức để thâm nhập thị trường:
+ Xuất khẩu gián tiếp
+ Thông qua các EMC(Export management company)
+Dựa vào các nhà xuất khẩu
+Dựa vào hiệp hội xuất khẩu(Exports-Assocation) :
Đây là tổ chức hình thành dựa trên cơ sở tự nguyện của nhiều nhà sản xuất hay nhiều cơ sở sản xuất khác nhau, họ có thể thành lập một pháp nhân độc lập
với danh nghĩa của hội, thường hoạt động từ sự pha trộn giữa sản xuất trực tiếp và sản xuất gián tiếp, các nhà sản xuất nắm nắm các hoạt động trọng tâm trong hiệp
hội, trong trường hợp như vậy chỉ với danh nghĩa của hiệp hội họ cũng có quyền
xuất khẩu trực tiếp
+ Xuất khẩu trực tiếp: Thường là các nhà phân phối, họ thực hiện toàn bộ hoạt
động thu mua, vận chuyển, bảo quản, lưu trữ và thực hiện xuất khẩu hàng hóa, từ khâu
sản xuất thậm chí đến khâu tiêu thụ cuối cùng
Có hai dạng xuất khẩu trực tiếp đó là xuất khẩu trực thuộc (Built in export deparment) hay một công ty xuất khẩu độc lập, tùy theo điểu kiện mà công ty
chọn lựa một trong hai phương thức
Một khi cảm thấy công ty có đủ sức lực có kinh nghiệm xuất khẩu và đã có thị trường tương đối ổn định, bước đâu tiên sẽ xây dựng phòng xuất khẩu, phòng
này thực hiện việc xuất khẩu, đàm phán ký kết hợp đồng kinh tế, tổ chức thực hiện thanh toán và chỉ xuất khẩu những sản phẩm của nhà sản xuất thôi
+ Dựa vào nhà thầu xuất khẩu: (Export commission house) Là những nhà đại diện cho nhà xuất khẩu ở nước ngoài hoạt động tại nước xuất khẩu, họ hoạt
động cho lợi ích những nhà xuất khẩu, họ thực hiện các nghiệp vụ thu mua và xuất khẩu sang nước nhập khẩu Họ giúp các nhà sản xuất trong nước nối dài cánh tay sang thị trường các nước nhập khẩu Khi làm việc này họ chỉ nhận hoa hồng của
nhà nhập khẩu và không lấy phí của nhà xuất khẩu, nhà xuất khẩu có nhiều lợi ích khi làm ăn với họ
+ Dựa vào các nhà chạy mối xuất khẩu: Đây là nhà xuất khẩu trung gian
thuần túy, họ hoạt động xuất khẩu không chỉ gói gọn trong phòng chức năng mà
mở rộng ra Họ hình thành các công ty xuất nhập khẩu độc lập, một mặt tiêu thụ
sản phẩm của công ty mẹ, một mặt mở rộng chỉ nhánh ra hải ngoại, các đại diện
hệ thống phân phối ra nước ngoài Đồng thời gởi những thông tin phản hồi từ thị
trường bên ngoài về công ty mẹ điều chỉnh hàng hóa cho phù hợp từng thị trường,
Trang 23
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP - KHOA QTKD
có thể nhận xuất khẩu cho công ty khác bằng cách mua hàng cho công ty khác
nhưng lấy nhãn hiệu của mình
b4.2) Trường hợp cơ sở sản xuất đặt ở hải ngoại :
+ Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (100% vốn) Tranh thủ được những lợi thế
về tài nguyên lao động, gần nơi tiêu thụ và vượt qua được hàng rào bảo vệ mậu dịch của một số nước Nhưng cũng gặp một số khó khăn trong các lĩnh vực hoạt
động trong môi trường luật pháp nước ngoài, thiếu sự quan hệ để hoạt động và
phân phối, ngoài ra thường các xí nghiệp loại này thường chịu sự kiểm tra gắt gao của nhà nước tiếp nhận đầu tư
+ Hình thức liên doanh góp vốn:Liên doanh giải quyết khó khăn trong những công ty 100 % vốn nước ngoài mắc phải, nhưng gặp những sự mâu thuẩn
trong việc quyết định công việc chia quyển lợi, giá cả sản phẩm
+ Hợp đồng sản xuất gia công: Hợp đồng được ký kết giữa một bên là người nước ngoài một bên là nước tiếp nhận hợp đồng sản xuất trong hợp đồng quy
định quyền hạn trách nhiệm hai bên, hai bên cùng chung trách nhiệm thực hiện
hợp đồng và chia sẽ quyển lợi hoặc rủi ro, đặc biệt là không sinh ra các tác nhân
mới và không hưởng quy chế của công ty nước ngoài
+ nhượng bản quyền :Đây là hình thức đầu tư xâm nhập thị trường một
cách gián tiếp, bằng cách nhượng quyển sử dụng phát minh, sáng chế, công nghệ,
nhãn hiệu tên gọi sản phẩm
b4.3) Trường hợp sản xuất tại các khu kinh tế mậu dịch tự do:Là những khu vực được hưởng những ưu tiên đặc biệt nhằm kêu gọi đầu tư
b4.4) Quảng cáo và chiêu thị: Mọi vấn đền căn bản của quảng cáo trên
thị trường nước ngoài là khoảng cách vật lý đối với thị trường và quản lý đối với sự
quen biết về luật pháp, văn hóa thói quen, thái độ của thị trường đó vì vậy việc
xây dựng chiến lược chiêu thị rất cần đến những yếu tố trên
Chiêu thị là vấn đề tiếp thị giữa nhà sản xuất với thị trường mục tiêu, nhằm làm cho khách hàng biết rõ về sản phẩm mà nhà sản xuất có thể đáp ứng những
yêu cầu của khách hàng và ngoài ra còn kích thích những yêu cầu tiểm ẩn của khách hàng
Trang 24LUAN VAN TOT NGHIEP — KHOA QTKD
Đó là quảng cáo giống nhau về nội dung, hình thức quảng cáo ở các quốc gia khác nhau
Thích ứng quảng cáo nội địa với thị trường nước ngoài
Xây dựng chính sách quảng cáo thích hợp với sự thay đổi về văn hóa, luật
pháp, chu kỳ sông của sản phẩm ở từng nước
Quảng cáo đại chúng:
Quảng cáo trên tạp chí chuyên ngành Quảng cáo thông qua hội đàm
Quảng cáo trên phương tiện di chuyển
+ Nội dung quảng cáo:
+ Mô tả sản phẩm
+ Các đặc tính vật lý và lợi ích của sản phẩm
+ Lời hứa căn bản đối với người tiêu thụ
+ Vai trò trong thị trường
Nội dung quảng cáo phải phù hợp với mục tiêu, phải thổa mãn các yeu cầu, ngắn gọn, gây ấn tuợng mới mẻ đối với khách hàng, phù hợp với tập quán trình độ văn hóa của nước đó
Một bảng quảng cáo bao gồn hai phần :Phần hình ảnh và phần lời, người ta thường sử dụng các thủ thuật quảng cáo sau đây:
Quảng cáo bằng thu hút thuyết phục
Quảng cáo bằng việc nói lên mối bất lợi nếu không mua sắn phẩm, dịch vụ,
Trang 25LUAN VAN TOT NGHIEP — KHOA QTKD
CHUONG II PHAN TICH TINH HINH KINH DOANH XNK CUA CONG TY XUAT
NHAP KHAU THOI TAN
I.GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY
1 Quá trình hình thành và phát triển
Công ty có tên giao dịch quốc tế là NEW FORTUNE,
Trụ sở chính đặt tại:741 Trần Hưng Đạo Q5
DT:
Fax:
Là đơn vị công ty nhà nước hoạch toán độc lập có tư cách pháp nhân, được
Bộ thương mại cấp giấy phép kinh doanh XNK và UBND Tp Hồ Chí Minh thành
lập theo quyết định số 228/QĐÐĐUB ngày 15/8/1992, thực chất vào ngày 2/3/1992 theo quyết định của 028/QÐ thành lập công ty cung ứng hàng xuất khẩu
Xuất phát từ chủ trương huy động mọi tiểm năng sản xuất tại địa phương các quận huyện để làm ra hàng hàng xuất nhập khẩu tạo nguồn thu quan trọng cho
ngân sách và cũng từ kết quả của hoạt động xuất nhập, thiết lập kế hoạch và tổ
chức nhập máy móc thiết bị và hàng hóa phục vụ cho nhiều nhu cầu hiện nay
Ngày 24/2/1982 Theo quyết định đầu tiên số 027/QD UB của UBND Thành
Phố HCM, công ty cung ứng hàng xuất khẩu, Mục đích hình thành là nhằm khai
thác các tiềm năng vốn, tay nghề, cơ sở vật chất Tại địa bàn quận để làm ra
hàng hóa xuất khẩu và từ kết quả của hoạt động xuất khẩu lập kế hoạch tổ chức việc tiếp nhận và phân phối hàng hóa nhập khẩu để bổ sung cho các nhu cầu phát
triển sản xuất và tiêu dùng của địa phương qua đó tạo ra nguồn thu nhập cho ngân
sách Tuy nhiên do xuất phát từ quy mô nhỏ với số vốn ban đầu được cấp không
đáng kể và đặc biệt là công ty chưa được phép xuất nhập khẩu trực tiếp mà chi
thực hiện chức năng cung ứng và ủy thác XNK, thông qua đơn vị đầu mối lúc đó là
công ty xuất nhập khẩu thành phố, và các đơn vị chức năng khác
Trong giai đoạn này công ty đã tiến hành kinh doanh theo phương thức chủ
yếu là liên doanh, liên kết và trao đổi hàng hóa với các đơn vị kinh tế tỉnh bạn nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động và hiệu quả sử dụng đông vốn, bên cạnh đó
Trang 26
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ~ KHOA QTKD
công ty còn tổ chức thu mua chế biến các loại nông lâm thủy hải sản trên địa bàn thành phố để bổ sung quỹ hàng hóa và phục vụ xuất khẩu
Đến cuối năm 1988 sau hơn sáu năm hoạt động cùng với những bước thăng
trầm trong hoạt động ngoại thương Thành Phố, từ vốn ngân sách cấp 154 triệu
đồng vào năm 1986 đến cuối năm 1988 đã lên 700 triệu déng, bên cạnh việc tổ
chức thu mua trao đổi hàng xuất khẩu, công ty đã tổ chức sản xuất được nhiều mặt
hàng có thế mạnh như :Dệt kim, thuộc da, cao su, may mặc Đặc biệt là hàng chế biến thự c phẩm của người Việt gốc hoa như vịt lạp, mề vịt, chanh muối, hột vịt
muối đủ tiêu chuẩn xuất khẩu làm cho tốc độ lưu chuyển hàng hóa tăng nhanh
theo các năm gần 100%, mặc dù trong giai đoạn nàyhoạt động của công ty đã không ngừng được cũng cố và phát triển tạo được mối quan hệ kinh doanh rộng rãi
đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh trong nước và một số đơn vị kinh doanh nước ngoài nhưng do điều kiện cơ chế chính sách có nhiều ràng buộc dẫn đến hoạt
động của đơn vị chậm chuyển hướng, còn năng phong cách kinh doanh theo kiểu
cũ, nhất là việc xuất nhập khẩu còn thực hiện qua các công ty của Thành Phố và
Trung Ương, thường phải chịu môt khoản hoa hồng hoặc thanh toán chậm Kéo
dài thời gian lưu thông và tốc độ lưu chuyển vốn lưu động chậm dẫn đến hoạt
động của đơn vị ngày càng bộc lộ sự phụ thuộc vào khả năng xuất nhập hàng hóa
từ các nguồn và các đơn vị khác nhau, biểu hiện sự thiếu tự chủ trong hoạt đông
kinh doanh
Trước tình hình đó để thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ chế quản lý kinh
doanh ngoại thương phù hợp với việc triển khai luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Nhà nước giao việc chủ động giao dịch mua bán trực tiếp với các đơn vị nước
ngoài cho các đơn vị có đủ điều kiện
Ngày 13 tháng 05 năm 1989 Theo để nghị của Ủy Ban Nhân Dân Quận 5 và
sở kinh tế đối ngoại UBND Thành Phố đã ra quyết định 267/QĐÐ -UB về việc chuyển công ty cung ứng hàng xuất khẩu Q5 Thành liên hiệp sản xuất kinh doanh
Thời Tân đây là bước ngoặc cho phép công ty nhập khẩu trực tiếp, Liên hiệp được hình thành trên cơ sở các đơn vị có tên sau đây:
- Công ty cung ứng hàng xuất khẩu Quận 5
- Xí nghiệp chế biến nông lâm thủy hải sản Q5
- Xí nghiệp may xuất khẩu Q5
- Xưởng sản xuất giày da xuất khẩu
Bốn đơn vị trên trực thuộc Liên Hiệp và tiếp tục thực hiện các chức năng
nhiệm vụ của mình theo phương thừc hạch toán độc lập, vẫn giữ tư cách pháp nhân
và con dấu riêng để tiện trong giao dịch Mối liên hệ trực thuộc của 4 đơn vị này đối với Liên Hiệp thể hiện qua 4 nguyên tắc Sau:
Trang 27LUAN VAN TOT NGHIEP — KHOA QTKD
- Thống nhất về tổ chức
- Thống nhất về việc sử dụng các quỹ phát triển sản xuất kinh doanh và khấu hao
cơ bản
Với quyết định này, cho phép công ty đã thay đổi quan niệm trong quản lý
SXKD từ một đơn vị hàng năm nhận các chỉ tiêu phân bổ kế hoạch của Quận giao
và tổ chức thực hiện các chỉ tiêu phân bổ đó thì nay được chủ động trong quá trình xây dựng và thực hiện các mặt sản xuất kinh doanh của chính bản thân mình
Nhiệm vụ chú yếu của đơn vị lúc này là gia tăng khối lượng sản xuất chế biến
hàng xuất khẩu đảm bảo các nhu cầu về chủng loại, số lượng, chất lượng, giá cả
để đáp ứng các nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước, bên cạnh hoạt động xuất khẩu công ty còn tổ chức hoạt động nhập khẩu các loại vật tư, nguyên liệu
máy móc thiết bị cần thiết cho sản xuất của đơn vị mình và các đơn vị sản xuất
khác có nhu cầu, trong giai đoạn này nhà nước đã ban hành pháp quy cụ thể nhằm
hướng dẫn thiết lập một chính sách đổi mới mạnh mẽ nền kinh tế
Ngày 20/11/1991 HộiĐồng Bộ Trưởng đã ra nghị định số 338 HĐBT ban
hành quy chế thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước Đây là quyết định được vận dụng để sắp xếp tổ chức các đơn vị doanh nghiệp nhà nước trong điều
kiện chuyển sang cơ chế thị trường trong khi chưa có một luật về doanh nghiệp nhà
nước Theo tỉnh thần nghị định này công ty phải lập các thủ tục cẩn thiết theo quy
định để được xét thành lập lại cho đúng luật định
Ngày 11/12/1992 Căn cứ thông báo số 1497/TB ngày 30/11/1992 của Bộ Thương Mại đồng ý cho phép thành lập doanh nghiệp nhà nước cho liên hiệp sản
xuất kinh doanh Thời Tân UBND Thành phố HCM đã quyết định số 217/QĐÐ về việc thành lập công ty XNK Thời Tân Đây là một đơn vị hạch toán độc lập , có tư
cách pháp nhân có con dấu riêng, được mở tài khoản tại ngân hàng công thương và ngân hàng ngoại thương và hoạt động theo điều lệ Xí nghiệp quốc doanh ban hành tại nghị định số 50HĐBT ngày 22/3/1988 của HĐBT vàa điều lệ của công ty XNK
ban hành theo quyết định số 223/QĐÐ-UB ngày 12/9/1992
2/ Chức năng, nhiệm vụ và quyền han của công ty :
Trang 28LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP - KHOA QTKD
Nhập khẩu thiết bị vật tư, nguyên vật liệu phục vụ kinh doanh và sản xuất hàng xuất khẩu của công ty, nhập khẩu vật liệu xây dựng, sản phẩm hóa chất, phương tiện vận tải, hàng tiêu dùng thiết yếu.Tổ chức địch vụ XNK và dịch vụ chỉ trả kiều hối
b) Phạm vỉ kinh doanh của công ty:
- Về kinh doanh trong nước: Các sản phẩn thực phẩm, nhóm hàng nông sản và
nông sản chế biến, hàng tiểu thủ công nghiệp, thủy hải sản, súc sản đông lạnh và
khô, lâm sản, dược liệu may giày da
Các mặt hàng nông lâm thủy hải sản mua từ các tỉnh trên cơ sở hợp đồng kinh tế
- Về phạm vi nước ngoài: Trực tiếp xuất khẩu các sản phẩm do công ty chế biến
sản xuất, trực tiếp nhập khẩu nguyên liệu, vật tư thiết bị, các loại hàng hóa khác phục vụ cho sản xuất cho sản xuất của công ty và các công ty khác, trực tiếp xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy hải sản mua từ các tỉnh, huyện trên cơ sở hợp
đồng kinh tế
e) Quyền hạn của công ty:
- Thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu các sản phẩm hàng hóa
- Được vay vốn tiển Việt Nam và ngoại tệ tại các ngân hàng
- Được ký kết thực hiện hợp đồng liên doanh liên kết hợp tác đầu tư với các đơn vị kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, để đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu trên cơ sở bình đẳng tự nguyện các bên cùng có lợi
- Được tham gia hội chợ triển lãm giới thiệu sản phẩm dịch vụ trong và ngoài
nước, được sử dụng các hình thức quảng cáo ngoại thương, sử dụng các phương tiện để thu nhập và cung cấp các thông tin về ngoại thương
- Được mời bên nước ngoài hoặc cử cán bộ ra nước ngoài để đàm phán ký kết hợp đồng tiếp cận và trao đổi kỹ thuật
3/ Quy mô và bộ máy của công ty :
a)Quy mô của công ty xuất nhập khẩu Thời Tân:
Quy mô của công ty tương đối lớn, tuy nhiên để xác định quy mô công ty hiện nay
cần phải xét đến các loại hình sẳn xuất kinh doanh, thương mại bao gồm cả ngoại thương
và nội thương trong đó có một số bộ phận các đơn vị sản xuất trực thuộc
Do vậy chúng ta chọn chỉ tiêu vốn cơ bản doanh số bán hàng và tổng kim
ngạch xuất nhập khẩu làm tiêu chí để xét tính quy mô của công ty Nếu xét đến
Trang 29
LUAN VAN TOT NGHIEP — KHOA QTKD
yếu tố này thì công ty có quy mô khá lớn Kim ngạch xuất nhập khẩu thực hiện
năm 1991 là
b) Bộ máy tổ chức của công ty: xem sơ đồ bộ máy tổ chức của công ty
trong phụ lục
Công ty được điều hành bởi một giám đốc, điều hành theo chế độ thủ trưởng, chịu
trách nhiệm trước cơ quan chủ quản UBND quận
Các chức danh Giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng và trưởng phòng
nghiệp vụ do UBND quận bổ nhiệm
Tổng số cán b6 CNV trong công ty là: 50 người trong đó có 36 nam, trình độ văn
hóa, chuyên môn nghiệp vụ gồm: 18 người tốt nghiệp đại học kinh tế và tài chính
Nhiệm vụ chức năng các bộ phận như sau:
- Phòng kỉnh doanh XNK:
Gồm 6 người do giám đốc trực tiếp chỉ đạo và một phó phòng, đây là phòng
chức năng nghiệp vụ quan trọng nhất với các nhiệm vụ chính :là lập kế hoạch và
lên phương án thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của toàn đơn vị thông qua
việc phân công điểu hành báo cáo thống kê, trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ kinh
doanh nói chung và công tác tổ chức thực hiện kinh doanh nói riêng, đồng thời
thực hiện nhiệm vụ theo dõi hợp đồng kinh tế từ khâu đàm phán ký kết,thực hiện
hợp đồng và thanh lý hợp đồng đến việc sắp xếp toàn bộ các kho hàng hóa của
công ty
- Phòng tổ chừc hành chánh quản trị :
Gồm mười người do một trưởng phòng phụ trách, Phòng tổ chức hành chính
quản trị chịu trách nhiệm dưới sự chỉ đạo trực tiếp của một phó giám đốc, nhiệm
vụ chủ yếu là sắp xếp tổ chức nhân sự cho công ty, giải quyết các chế độ chính
sách và lao động tiền lương, khen thưởng, kỹ luật lập kế hoạch công tác định kỳ,
thực hiện các chức năng chuyên môn, về hành chánh quản trị, quản lý các công
trình xây dựng cơ bản và sửa chữa lớn, tổ chức công tác bảo vệ cơ quan và điều
hành các phương tiện vận tải
- Phòng kế toán tài vụ :
Gồm 5 người dưới sự chỉ đạo của trưởng phòng (kiêm kế toán trưởng) và một phó
phòng giúp việc có nhiệm vụ tham mưu giúp việc Giám đốc, quần lý toàn bộ tài sẩn hàng
hóa, tiền vốn cửa công ty, đẩm bảo các nguyên tắc quần lý tài chính, tổng hợp báo cáo
trên cơ sở tổ chức thực hiện công tác hạch toán kế toán tại đơn vị, tổ chức phân tích các
Trang 30
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP — KHOA QTKD
hoạt động kinh tế định kỳ, hướng dẫn mẫu biểu chứng từ kế toán, hạch toán thống kê và
quản lý các sổ sách chứng từ theo quy định của nhà nước Đồng thời thường xuyên kiểm
tra tài chính nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, phấn đấu giảm chỉ phí lưu thông Thực hiện
tốt chính sách thuế và nghĩa vụ đối với nhà nước theo luật định
- Trạm kinh doanh chế biến nông lâm thủy hai san XK:
Trạm kinh doanh chế biến hàng xuất khẩu, đây là một đơn vị trực thuộc, bộ phận
mũi nhọn của công ty, gềm mười bốn cán bộ công nhân viên dưới sự chỉ đạo của
trạm trưởng và trạm phó, chức năng chính yếu là thu mua và chế biến kinh doanh
các mặt hàng gồm nông sản thủy sản, cung ứng hàng hóa kịp thời cho xuất khẩu
- Xưởng giày da xuất khẩu :
Được thành lập trên cơ sở khai thác thế mạnh về công nghiệp thuộc da phát
triển khá mạnh tại địa phương và tận dụng tay nghề khéo léo của lực lượng thợ thủ
công, trước đây thị trường xuất khẩu chủ yếu là thị trường Liên xô và Đông âu (
khu vực I) nhưng đến nay thì đã chuyển đổi sang thị trường mới đó là thị trường z#-
chau"Chau 4
- Hệ thống cửa hàng kinh doanh kho bãi:
Gồm hai cửa hàng chuyên kinh doanh bán hàng hóa nhập khẩu, vật liệu xây dựng,
trang trí nội thất và hóa chất gồm 4 CNV, bên cạnh đó công ty có hệ thống kho khá
lớn với điều kiện bảo quản khá an toàn, được sử dụng để chứa và bảo quản hàng hóa gia
công chế biến xong chờ xuất khẩu và hàng hóa nhập khẩu chờ bán, bộ phận kho chịu sự
điểu hành kiểm tra nhiệm vụ từ phòng kinh doanh xuất nhập khẩu và chịu sự quản lý về
tổ chức nhân sự đối với phòng tổ chức HCQT
II/ PHAN TICH DANH GIA TINH HINH HOAT DONG KINH DOANH
XUAT NHAP KHAU TAI CONG TY THOI TAN:
Để phân tích đánh giá đúng mức về tình hình sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu
của công ty trong những năm qua, chúng ta đi sâu vào phân tích tình hình thực hiện kim
ngạch xuất, nhập khẩu của đơn vị, đặc biệt là chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu
Chúng ta sẽ lần lượt xét đến tốc độ phát triển của những chỉ tiêu này:
L/ Phân tích chỉ tiêu tổng kim ngạch xuất nhập khẩu :
Trãi qua một thời gian dài hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu, công ty
đã đạt được những thành tích đáng kể thể hiện qua bảng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu
Trang 31LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ~ KHOA QTKD
Nguồn: Phòng kinh doanh XNK
Nhìn chung tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty qua các năm trung
bình khoảng 20 triệu USD đây là con số khá cao đối với một công ty xuất nhập
khẩu tầm Quận Tuy nhiên ta nhận thấy mức độ tăng giảm tổng kim ngạch qua các năm khác nhau, không đều Sự chênh lệch qua các năm giữa xuất khẩu và nhập khẩu cũng khá cao của các năm 1996 và 1997, nhưng đến năm 2000 thì tình hình
giữa kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu có sự cân đối Vậy để thấy rõ việc đánh
giá đúng mức tình hình xuất, nhập khẩu thông qua tổng kim ngạch, để từ đó dé ra
phương hướng hoạt động, ta lần lượt xét đến tốc độ phát triển của từng tiêu chí cụ
Nguồn: Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu thống kê - kế hoạch (công ty)
Qua công thức ở phần lý thuyết trên ta thấy tốc độ phát triển bình quân mỗi năm của tổng kim ngạch xuất khẩu :
Trang 32LUAN VAN TOT NGHIEP — KHOA QTKD
Từ bảng trên ta có thể biểu diễn tốc độ phát triển kim ngạch xuất khẩu
BIEU ĐỒ 1-II: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU
Biểu đổ trên ta thấy tình hình xuất khẩu của công ty có những biến động
thất thường, năm tăng không đáng kể nhưng năm giắm lại nhiều hơn so với năm
tăng dẫn đến tình trạng giảm sút trầm trọng trong kim ngạch xuất khẩu của công
ty Điều này nói lên sự thiếu ổn định trong việc thực hiện kế hoạch xuất khẩu hàng
hóa của công ty và dẫn đến tổng quan tình hình xuất khẩu có xu hướng giảm dẫn,
ảnh hướng rất lớn đến thu nhập của công ty Do đó trong hướng tới công ty phẩi nỗ
lực quan tâm và đổi mới hoạt động xuất khẩu của mình nhằm ổn định và gia tăng
kim ngạch xuất khẩu
Nguyên nhân chủ yếu là do: tình hình thị trường biến động mạnh qua các
năm Lật ngược về trước công ty chủ yếu là xuất sang các nước XHCN nhưng từ
khi tình hình Liên Xô thay đổi thì thì trường chủ lực này cũng mất theo, do chủ
quan có sẵn thị trường “lâu dài” nên công ty không chủ động trong việc tìm kiếm
thị trường, một thời gian khá dài sau công ty mới thực sự quan tâm khắc phục và
tìm kiếm bạn hàng mới nhưng thường bạn hàng mới này không làm ăn lâu dài được với công ty, lý do là ta xuất không trực tiếp với người mua mà phải qua trung gian Tuy nhiên qua bảng I-II ta nhận thấy rằng một thời gian dài công ty không
chú ý đến tình hình xuất khẩu mà chỉ lo tập trung vào hoạt đông nhập khẩu do vậy
ta nhận thấy tình hình nhập khẩu của công ty phát triển mạnh Song điều này đã làm cho công ty tập trung nhân lực vào hoạt động này mà bỏ lỡ thị trường xuất
khẩu mà công ty tưởng chừng như không thể cứu vãn Biện pháp giải quyết vấn đề
này sẽ được trình bày trong định hướng phát triển xuất khẩu trong chương chương
Trang 33LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP - KHOA QTKD
Vẫn áp dụng công thức trên nhưng với Y là tổng kim ngạch nhập khẩu thưc
hiện tượng ứng ta tính được các chỉ số phát triển gốc, chỉ số phát triển liên hoàn
Qua bảng phân tích 3-II trên ta thấy tổng kim ngạch nhập khẩu của công ty
tương đối ổn định với tốc độ giảm bình quân trong 4 năm là 3.6% Đến năm 2000,
kim ngạch nhập khẩu của công ty phát triển khá cao 52%
| Bảng số liệu trên cho ta thấy kim ngạch nhập khẩu của công ty tương đối ổn
định với tốc độ giảm bình quân trong 4 năm 1996 —1999 là 3,6% Đến năm 2000 kim ngạch nhập khẩu của công ty tăng lên khá cao là 5,2%
Sự biến động về kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty trong giai đoạn 5
năm được biểu diễn qua sơ để sau:
Để thấy rõ hơn ta hãy xem xét bảng 2-II Kim ngạch xuất nhập khẩu của
công ty trong năm năm quan:
Quan sát biểu đồ 2-II: Nhìn chung tình hình thực hiện kim ngạch xuất nhập khẩu
năm 1996 đến năm 2000 chưa được ổn định và có xu hướng giảm dân, đặc biệt là kim ngạch xuất khẩu Sự giảm sút này có thể là do một số nguyên nhân sau:
Trang 34
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP - KHOA QTKD
- Điều quan trọng là mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt, quyết
liệt Nếu như trước đây thành phố chỉ có một số đơn vị kinh doanh sản xuất xuất nhập khẩu trực tiếp thì hiện nay con số này rất cao Tình hình này tạo ra hiện
tượng cạnh tranh không những trên lĩnh vực chất lượng, giá cả mà còn có cả những
thủ đoạn trong kinh doanh làm cho kim ngạch xuất khẩu của hầu hết các quận
huyện bị giảm sút, thậm chí có đơn vị đang đi đến bờ vực phá sản, trong khi đó các
hiệp hội xuất nhập khẩu của ta hiện nay đang hoạt động mang tính hình thức, chưa phát huy được vai trò của mình trong việc thúc đẩy các hoạt động ngoại thương
- Giá cả hàng hóa không ổn định đồng tiền trong nước liên tục mất giá và thường
xuyên biến động làm cho công ty không giám mạnh dạn nhập khẩu hàng hóa về
kinh doanh vì cò nguy cơ lỗ hoặc ngược lại, giá cả các mặt hàng nông sản trên thị trường thế giới có xu hướng đứng lại và ngày càng có xu hướng giảm dân, diéu
này dẫn đến công ty không cân đối được đầu vào và đầu ra của hàng hóa xuất
Trang 35LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ~ KHOA QTKD
nhiên công ty chưa có tính năng động trước tình hình diễn biến xã hội, tình hình kinh tế trong và ngoài nước
2/ Phân tích tình hình xuất khẩu, nhập khẩu theo kết cấu hàng hóa tiêu thụ của công ty:
a) Đối với hàng xuất khẩu :
a.1/ Theo ngành hàng :
Để thấy được tình hình xuất khẩu theo kết cấu mặt hàng của công ty, để để
ra định hướng phù hợp cho công ty trong tương lai, ta thực hiện việc so sánh hai
năm gần nhất đó là năm 1999 và năm 2000:
Trong đó cơ cấu mặt hàng được thể hiện qua bảng 4-II phần phụ lục:
Từ bảng phụ lục đó ta xây dựng biểu đồ sau:
Trang 36LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP — KHOA QTKD
Theo biểu đồ 6-II trên ta nhận thấy rằng, mặt hàng chiếm tỷ trọng cao nhất
đó là mặt hàng nông phẩm, chiếm tỷ trọng là 85.77%, trong đó gạo chiếm 64.65%,
cao su chiếm tỷ trọng là 10.71%, hạt điều là 7,46%, đậu phộng 2,17% Nếu so với năm 1999 thì kim ngạch của các mặt hàng này giảm nhẹ: từ 10,982,140 USD
xuống 9,331,677USD vào năm 2000; thứ hai là các mặt hàng thủy sản, các mặt
hàng chiếm tỷ trọng cao là cá đông lạnh tôm khô chiếm tỷ trọng 8.43% trong cơ
cấu hàng xuất khẩu, trong đó mặt hàng cá đông lạnh chiếm 4.37%, tôm khô chiếm
4.06%, so với năm trước thì các mặt hang này đạt rất cao, đặc biệt là cá đông lạnh mặt hàng mới hoạt động một vài năm gần đây nhưng có doanh thu rất cao kim ngạch đạt 475,500 USD Còn lại các mặt hàng khác như: thực phẩm chế biến, lâm
sản ,tiểu thủ công nghiệp, nông sản và thủy hải sẩn khác có số lượng và kim
ngạch thấp, tổng các nhóm hàng này chiếm tỷ trọng 6,57% cơ cấu hàng xuất khẩu
Tuy nhiên ở đây đáng lưu ý là mặt hàng gạo mặt hàng chủ lực của công ty trong
những năm trước đặc biệt là năm 1999 kim ngạch đạt đến 8,864.382 USD thì trong
năm 2000 thụt xuống còn 64.65% cơ cấu hàng xuất, là giảm không đáng kể nhưng tình hình trên cho thấy nguy cơ đối với mặt hàng chủ lực Công ty cần có kế hoạch phát triển mặt mặt hàng quan trọng này khi có điều kiện thuận lợi
Tóm lại: Qua việc phân tích trên ta nhận thấy được công ty đã xác định
được các mặt hàng chiến lược xuất khẩu phù hợp với thế mạnh và lợi thế so sánh
của Việt Nam cụ thể là mặt hàng gạo, điều này giúp cho đơn vị xây dựng được thị trường hàng xuất khẩu ổn định Tuy nhiên để gia tăng kim ngạch xuất khẩu tăng
thu nhập công ty cần tổ chức bổ sung thêm mặt hàng xuất khẩu, nâng tỷ trọng
nhóm mặt hàng thực phẩm chế biến và tiểu thủ công nghiệp vốn dĩ đang phát
triển khá mạnh trong nước Việc khá quan trọng là công ty cần duy trì thị trường
Trang 37
LUAN VAN TOT NGHIEP - KHOA QTKD
tiêu thụ gạo sẵn có tranh thủ các điều kiện cần thiết để tổ chức xuất khẩu sang các thị trường trên với số lượng lớn
b) Đối với hàng Nhập khẩu :
Phân tích các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu : xem phụ lục “Bảng 5-II Tình
hình nhập khẩu qua hai năm 1999-2000)
Căn cứ vào bảng 5-II Phần phụ lục, ta nhận thấy tình hình nhập khẩu hàng hóa trong hai năm 1999 ~ 2000: Nhóm mặt hàng nguyên liệu chính chiếm tỷ trọng
cao nhất trong toàn bộ cơ cấu hàng nhập khẩu, kế đó là nhóm mặt hàng máy móc
thiết bị và phụ tùng chiếm tỷ trọng thấp so với hai nhóm mặt hàng đã nêu ở trên
Để nắm rõ cơ cấu hoạt động hàng nhập khẩu chú yếu ta xem xét biểu đổ 6-II sau:
TỶ TRỌNG CÁC MẶT HÀNG NHẬP KHẨU CHỦ YẾU NĂM 2000
Nhìn chung thì tình hình nhập khẩu các mặt hàng của công ty khá đa dạng
và phong phú,có rất nhiều loại phục vụ kịp thời cho các nhu cầu và đơn đặt hàng
của các đơn vị sản xuất Các mặt hàng chủ yếu nhập khẩu chiếm tỷ trọng cao
trong cơ cấu hàng nhập khẩu gồm các mặt hàng sau:
Mặt hàng lưới đánh cá chiếm 22,81%, xe gắn máy 19,3%, hóa chất 14,1%,
sắt thép 12,1%, còn lại các mặt hàng khác 18,67% trong đó gồm các loại hàng
dùng cho tiêu dùng nguyền liệu ngành nhựa chiếm tỷ trọng không đáng kể trong
cơ cấu hàng nhập khẩu
Tóm lại: Cơ cấu hàng nhập khẩu của công ty rất phong phú về chủng loại,
đã đáp ứng được các nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng trong nước Tuy nhiên
công ty cần chú ý tập trung khai thác triệt để nhu cầu phát triển sản xuất của các
ngành tiểu thủ công nghiệp đóng trên địa bàn quận, nhằm bổ sung cơ cấu mặt
hàng nhập khẩu cho phù hợp và nhằm gia tăng tổng kim ngạch nhập khẩu của công ty
3/ Quan hệ mua bán và thị trường của công ty:
a) Quan hệ xuất khẩu qua các năm: ta quan sát (bảng 6-II Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua các thị trường) trong phần phụ lục
Trang 38
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP - KHOA QTKD
Việc phân tích thị trường nhập khẩu của công ty là nhằm đánh giá được tình hình nhập khẩu của công ty thông qua các thị trường, giúp công ty có thể điều
chỉnh mức độ nhập khẩu cần thiết
Dựa vào bảng số liệu 6-II ta nhận thấy rằng tình hình thị trường xuất khẩu
của công ty có chiều hướng thu hẹp, nói chung là mất thị trường
Ta có thể biểu diễn tình hình thị trường xuất khẩu của công ty qua đồ thị dưới đây nhằm biểu diễn xu hướng tăng giảm tổng kim ngạch xuất khẩu qua các thị trường đó một cách rõ ràng hơn từ đó mới có thể đưa ra được chiến lược tiếp thị cho từng thị trường
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU NĂM 1998
Trong năm 1998 Các thị trường Châu Á chiếm tỷ trọng lớn nhất vào khoảng
72.52% Trong đó, kim ngạch xuất khẩu qua HongKong đạt tới 3,843.433 USD
chiếm 35,65% tổng kim ngạch xuất khẩu, kế đến là thị trường Singapore 2,975.789
USD chiếm 27,55% tổng kim ngạch, Đài loan: 1,006.145 USD chiếm 9.32% Thị
Trang 39
LUAN VAN TOT NGHIEP — KHOA QTKD
trường xuất khẩu châu Âu có nước Ý dat 2,744.562 USD chiếm 25.4% tổng kim
ngạch xuất khẩu ,còn lại là các thị trường khác gồm các nước sau:Nhật, Ấn độ,
Đức, Balan, Liên xô chỉ chiếm rất nhỏ trong cơ cấu xuất khẩu là 2.08%, cho đến
năm 1999 thì tỷ trọng xuất khẩu qua thị trường Ý vượt lên chiếm 70.6% tổng kim
ngạch xuất khẩu của công ty, các thị trường Hong Kong, Singapore kim ngạch có sụt giảm so với năm 1998, tuy nhiên trong năn này công ty có thêm 2 thị trường mới là Trung Quốc và Thái lan nhưng mất hẳn thị trường Đông Au, Liên xô, Nhật,
Ấn Độ
Trong năm 2000, thị trường Ý có sụt giảm chút ít, thị trường Singapore tăng lên
trên 1%, đến là thị trường Hong Kong cũng gia tăng chiếm tỷ trọng 9.98% trong tổng kim
ngạch xuất khẩu Ngoài ra trong năm 2000 công ty đã tìm được thị trường xuất khẩu mới
đó là thị trường Úc và Nam triểu tiên Đặc biệt đối với thị trường Úc là một thị trường mới nhưng lại chiếm tỷ trọng khá 4.44% xuất nhập khẩu chủ yếu là hải sản đông lạnh.Tuy nhiên điều đáng tiếc là ta đánh mất hai thị truờng “mới” là Thái Lan và Trung Quốc
Qua biểu đổ trên ta nhận thấy sự biến động không ổn định của thị trường xuất
khẩu chủ yếu qua 3 năm hoạt động của công ty Kim ngạch xuất khẩu qua thị trường Ý
chiếm tỷ trọng cao trong năm 1998 nhưng đến năm 2000 thì có suy giảm chút ít, nhìn
chung các thị trường Singapore, Hongkong, Đài loan đều tăng nhẹ,
Tóm lại: Trong năm 2000 thị trường xuất khẩu của công ty hẹp lại từ 9 đầu
mối thị trường năm 1998 còn 6 thị trường năm 1999 và 6 thị trường năm 2000 (mặc
dù đã mở rộng thêm hai thị trường Úc và Nam triều tiên) điều này dẫn đến kim
ngạch xuất khẩu của công ty thực hiện năm 2000 chỉ đạt 86.6% so với thực hiện
Trang 40
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP - KHOA QTKD
năm 1999 Với thực tế này công ty cần chú trong đầu tư đúng mức cho công tác
tiếp thị và mở rộng thị trường hải ngoạibằng nhiều biện pháp, nhất là thị trường
Trung Quốc, trong định hướng cho công ty sẽ trình bày cụ thể Đặc biệt là trong
điểu kiện của nên kinh tế thị trường trong và ngoài nước có nhiều biến động việc
cạnh tranh kinh doanh ngày càng diễn ra gay gắt, việc này đòi hỏi công ty thường
xuyên chú ý đến giá cả, chất lượng của hàng hóa thực hiện các biện pháp khuyến
mãi nhằm tạo ra uy tín trên thưởng trường quốc tế, tạo ra nhiều bạn hàng làm ăn
lâu dài với mình
b) Quan hệ nhập khẩu :Ta quan sat bang 7-II “Tổng Kim Ngạch Nhập
Khẩu Từ Các Thị Trường Trong 3 năm gần đây” trong phần phụ lục
Từ bảng này ta cụ thể hóa ra các biểu dé sau:
THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨUCHỦ YẾU NĂM 1998
Nam Triéu tién 0%
W Cac nuéc khac 2.6%
TH] TRUGNG NHAP KHAU CHU YEU NAM 1999
THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU CHỦ YẾU NĂM 2000
Nhìn qua sơ đồ ta thấy thị trường nhập khẩu của công ty thường xuyên biến
động mạnh qua các năm, trong đó thị trưởng Singapore có kim ngạch nhập khẩu
cao nhất lên tới 3,760.477 USD vào năm 2000 chiếm tỷ trọng 36% đến 40% cơ cấu
hàng nhập khẩu Đặc biệt lưu ý là quan hệ mua bán với thị trường mới Nam triểu
Tiên có xu hướng tăng dẫn từ chưa giao dịch năm 1998 đến năm 1999 kim ngạch
đã đạt 660.694 USD và lên đến 1,537.980 USD chiếm tỷ trọng 14.7% hàng nhập
năm 2000