546 Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp tại công ty TNHH Vinh Hiển
Trang 1
BO GIAO DUC VA DAO TAO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DL KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
KHOA QUAN TRI KINH DOANH
Tp HCM Tháng 10/2001
658 4oys —
Cong tinh xdilny - Quan tụ chát “thu
Trang 2
MỤC LỤC MỤC LỤC t90108031403004401400014000000000000000001001000000000000071010000000: 2
CHƯƠNG I : MỞ ĐẦU 2° ©+Ev++tsEE©Errresrrtrtrrkxettrrrrrsroiir 4
I Lí do hình thành đỀ tài - ¿25-52222223 2921 E23 1E E131 5
II Mục tiêu để tài net rgrrrrere 6
HII Ý nghĩa để tài - 5-5 1E 12118 11121111111 1111111111211 011 1111110111111 se 6
IV Phạm vi giới hạn đỀ tài - - - 1 n1 TT TH HT TH ngưng gu 6
V Phương pháp thực hiện để tài .- 5-5-5 S22 2v 2x3 rxekekrkerrrrrrrkea 7
1 Phương pháp thu thập dữ liỆUu -. G1 122 ST TH HH Hiệu 7
2 Phương pháp chọn mẫu ¿2-6 tk EE3EEEEEEEESEEEE KHE HH1 1111 01111111 1136 7
CHƯƠNG II : CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN -cccccccceeeee 8
I Chất lượng sản phẩm .¿-2-522 2t 2 12211 21122111110111111 011121122121 ccrrcrree 8
1 KIA1 MOM ooo eee eeeecccesseccsssceceessssccesscecseesseccssseuscssecccessesesseassessseesesenensausessaaaes 8
2.Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm -. 5:52 c2 9
I.Quản lí chất lượng sản phẩm . - ST S E1 1222131215 1181111111 0111 xe6 9
4:10 5.1 9
2.Đặc điểm của quản lý chất lượng - ¿5c 21t E1 1871210711111 ctye 9
3.Quá trình quản lý chất lượng 5-22 St xxx 10
IIL Thực trạng ngành xây dựng hiện nay Ác S.S TS HS ven 11
1.VỊ trí và vai trò của ngành xây dựng -¿-Ă + SĂ S5 SSS St nerreresreu 11
2 Hiện trạng của các tổ chức tư vấn xây dựng . ¿ - 72 s+c+ccccssrereee 13
3 Hiện trạng của các doanh nghiệp xây lắp - các tre cez 15
4 Đánh giá thực {TIE 1112 vn TT ng HT KT gà 16
IV Những khó khăn về chất lượng trong công trình xâyđựng - -. - 20
1.Vai trò của tiêu chuẩn hoá trong công tác quản lý chất lượng Công trình xây
ð) 0 Ty 22
2 Tiêu chuẩn chất lượng đang được áp dụng ở Việt Nam -+- 23
CHUONG III : GIGI THIEU CHUNG VE VIEC QUAN Li CHAT LƯỢNG
TAI CONG TY.necssecssessssssssssssssessssssssssussssessvsssessssessesssssssssssorscassecaensseasecucensecees 29
I GiGi thidu vé CONG ty o.ceececccccccscsesscssescsessssvscsesesscscsscansvsaesvscsussnsecevevsveasavevseseveee 29
e0 in e 29
2 NhiỆm VỤ LH TH HH KH ky 29
II Cơ cấu tổ chức — nguồn nhân lực - t+sSk+EEE+EEEEEEEEEEEEEEEEErrrrrerrred 30
1 Chiến lược kinh doanh .- 5 5k kềESESE 2321252555 11515E5 1118118115121 tecrei 30
Trang 3Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp Trang 3
IV.Môi trường kinh doanh của cÔng {y - - các HH HH ng 3]
1 Khách hàng chính và các yêu cầu chủ yếu -+ sec ceererrerree 32
2.Nhà cung CẤT s1 123 12H HH TH TT HT TH TT TH TH HT HT ng Hiện 32
ke i0 0 — -aa 32
V Trách nhiệm trong việc thực hiện quản lí chất lượng -. -5-5-+- 32
CHƯƠNG IV : MÔ HÌNH KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TẠI CÔNG 'TYY s sse+rxerestrerretrserserrsereeorserrsee 33
I Quy trình hình thành dự ấn c1 1111 HH kh vn 33
II Kiểm soát hồ sơ bẩn vẽ . - 5+ St SE E321 111213 1212111171111 xe 37
IV Kiểm soát và quản lí nguồn nhân lực .-. + ¿55-52 Se+e2£szezxexrrerxers 38 V.Kiểm soát vật liỆU SG 5 3H11 3111511 1 1 1111111111111 11 1101011101110 1e 40
VI Kiểm soát trang thiết bị thi cÔng - 6 2t 22211 1 111 1 5117121111211 re 42
VII Nghiệm thu bàn giao công trình c1 TT nh key 43 Một số công trình đã và đang thực hiện theo mô hình quản lí chất lượng 45
CHƯƠNG VI KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN 2 se 50
I Kết luận L5 xxx HT TH TH HT Tà HT TH TT Hàn TT HH rệt 50
Tl Han chế của để tài G1 TH TT TK HH TH TH gu Hết 50
18.1.8010 0000 .a A213)1)1).ạ))) ÔỎ 51
PHU LUC 1 Điều lệ giám sát của chủ đầu tưr - c5 < < s5 << se 53
PHỤ LỤC 2 Đề cương giám sát chất lượng công trình xây dựng 57
PHỤ LỤC 3 Đề cương giám sát chất lượng công trinh xây dựng 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO -. «°s22+<©xseevvssetrxsetrssecrreeee 66
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Tr Phú Hưng
Trang 4Luận văn tốt nghiệp Quản lý chất lượng công trình xây dựng
CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU
I L{DOHINH THÀNH DE TAL
I MỤC TIÊU DE TAL
HL Ý NGHĨA ĐỀ TÀI
IV PHAM VI GIỚI HẠN ĐỀ TÀI _
V PHUONG PHAP THUC HIEN DE TAL
Trang 5
với hàng hoá việc chu chuyển tự do chủ yếu bị cần trở bởi thuế và các biện pháp
phi thuế quan thì đối với địch vụ là các hạn chế cạnh tranh, dịch vụ như các chính sách, qui chế, qui định( giấy phép, chứng nhận .) mà các nước trên thế giới đều áp dụng nhằm bảo hộ các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và thị trường
dịch vụ của nước mình
Công cuộc đổi mới, mở cửa đã mang lại sự tiến bộ đáng kể trong công tác
quản lý chất lượng Những công trình có vốn đấu tư của nước ngoài, các công trình vay vốn của Tổ chức tiên tệ thế giới (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Châu Á đều phải thực hiện chế độ giám sát quản lý chất lượng công trình theo tập quán quốc tế Mặt khác trong nên kinh tế thị trường các nhà thầu xây dựng đều nhận thấy yếu tố về chất lượng công trình là điều kiện để tổn tại và là sức mạnh trong cuộc cạnh tranh Còn các nhà đầu tư cũng đã thấy rõ hơnvề giá trị của bất động sản và họ biết quản lý đồng vốn hiệu quả nhất, nghĩa là công
trình phải đảm bảo chất lượng, không bị phá đi, sửa lại và phải đảm bảo được tuổi thọ khai thác Vì vậy, các công trình với vốn đâu tư trong nước cũng bị ảnh
hưởng của xu thế tiến bộ này và nhiều công trình chúng ta không chỉ mở thầu
quốc tế cho các nhà thầu xây dựng mà còn mở thầu quốc tế về tư vấn quản lý
chất lượng
Có thể nói vấn để quản lý chất lượng công trình đang từng bước đi tới
hướng tích cực Những công trình (vốn trong nước hoặc nước ngoài) là sản phẩm
của mô hình quản lý chất lượng mới đều có chất lượng tốt song vẫn còn tổn tại những nhược điểm về quản lý chất lượng ở những công trình xây dựng có chất
lượng kém Làm thế nào để quản lý được đông bộ chất lượng công trình xây
dựng ? Chúng ta sẽ phải phấn đấu một cách bền bỉ và gặp không ít những khó khăn Trong bài luận văn này em muốn bàn tới một vài khía cạnh của tiến trình
đó N
Về hệ thống tổ chức đảm bảo chất lượng công trình xây dựng ở nước ta:
Hệ thống tổ chức đảm bảo chất lượng công trình ở nước ta đang tìm cách
thay thế cơ chế thanh tra để phát hiện chất lượng kém sang cơ chế ngăn ngừa để không xảy ra tình trạng kém chất lượng đối với sản phẩm công trình xây dựng Điều đó có nghĩa là chúng ta cần tạo ra năng lực về pháp lý và kỹ thuật để tập
trung chú ý vào các giai đoạn, đặc biệt là giai đoạn đầu để đảm bảo mọi đầu
vào là có chất lượng và có khả năng đáp ứng tốt nhất yêu cầu đặt ra đối với chất
lượng công trình xây dựng Trình tự của quá trình này có thể tóm lược như sau :
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Từ Phú Hưng
Trang 6Phải tổ chức kiểm tra, giám sát hiện trường Công việc này hiện nay do các
tổ chức tư vấn quản lý chất lượng trong và ngoài nước tham gia Cũng còn những
chủ đầu tư, vẫn sử dụng đội ngũ kỹ thuật của mình để giám sát
Các phát triển đáng chú ý gần đây nhất trong ngành xây dựng là việc gia tăng tầm cở của các dự án xây dựng và tổ chức xây dựng Sự gia tăng mức độ phức tạp về kỹ thuật của những dự án nầy sự phụ thuộc lẫn nhau phức tạp hơn và những thay đổi trong các mối liên hệ giữa các tổ chức và thể chế sự tăng cường
và đòi hỏi tầm cao về pháp chế của nhà nước
Thời gian, tiền bạc, kỹ thuật, con người, thiết bị, vật Hiệu đó là những tài
nguyên Tổ chức chúng lại thành những hoạt động thực hiện các hoạt động theo
một chuỗi logic và vấn để chất lượng trong đó luôn phải quan tâm, tất yếu Dù là
dự án xây dựng một ngôi nhà nhỏ ven biển hoặc để thiết kế và xây dựng một hệ thống giao thông nhanh trị giá hàng tỷ đôla thì cách thức yêu cầu chuẩn mực
Ngày nay, với đường lối đổi mới kinh tế việc cạnh tranh thị trường trong và
ngoài nước trở nên ngày càng gay gắt Để đảm bảo sự tổn tại và phát triển của
doanh nghiệp chất lượng luôn được coi là yếu tố then chốt Do vậy việc bảo dam chất lượng ra đời như là chiến lược của doanh nghiệp
Thực tế nhiều công ty phát triển trên thế giới cho thấy quản lý chất lượng
sản phẩm luôn giảm được chỉ phí tăng năng suất và đủ khả năng cạnh tranh
Quản lý chất lượng là một môn khoa học khá mới mẽ tại Việt Nam có vai trò quan trọng trong sản suất kinh doanh Hiện nay trước sự cạnh tranh gay gắt nhiều
doanh nghiệp đều mong muốn xây dựng và áp dụng một hệ thống quản lý chất
lượng nhằm nâng cao hiệu quả sản suất kinh doanh, đem lại lòng tin cho khách hàng
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Từ Phú Hưng
Trang 7
Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp Trang 6
Để kiểm soát chất lượng người ta thường tiến hành ngay từ đầu và toàn bộ
của các quá trình Tuy đã có từ lâu nhưng việc áp dụng chúng vào doanh nghiệp
còn hạn chế, chỉ khi nào đứng trước một vấn đề nào đó thì mới đưa vào áp dụng
Công ty TNHH VINH-HIẾN là một đơn vị Tư Vấn Thiết Kế Xây Dựng
công ty đã và đang thực hiện chính sách chất lượng không ngừng đảm bảo và
nâng cao uy tín đối với khách hàng trong và ngoài nước
Tuy chưa đi vào hệ thống chất lượng ISO nhưng công ty đang xem và đưa vấn đề chất lượng lên hàng đầu, phương châm đó là tiếng néi chung của công ty
đối với khách hàng, chính vì vậy mà để tài “mô hình quản lý chất lượng công
trình xây dựng dân dụng và công nghiệp tại công ty TNHH VINH-HIEN © sé
là những bậc thang giải quyết vấn đề, từ những vấn để giản đơn cho đến các vấn
dé phức tạp nó sẽ là cơ sở để giải quyeÝ những khó khăn trong ngành xây dựng
hiện nay
II MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Chất lượng là tiếng nói chung của các doanh nghiệp trong nước và quốc tế,
việc thực hiện và đảm bảo chất lượng là yếu tố hàng đầu của các doanh nghiệp
Do vậy để tài sẽ đưa ra được những nội dung sau đây:
1.Thực trạng và khó khăn về chất lượng trong ngành xây dựng
2 Mô hình quản lý chất lượng tại công ty TNHH VINH- HIẾN
3 Đánh giá
II Ý NGHĨA ĐỀ TÀI
Việc áp dụng quản lý chất lượng trong ngành xây dựng tại công ty TNHH
VINH- HIẾN có thể:
1 Ổn định và nâng cao chất lượng sản phẫm các công trình xây dựng nhờ vào
Biện pháp khắc phục tức thời và phòng ngừa lâu dài cho những nguyên
nhân chính gây ra những lỗi quan trọng
Quá trình thực hiện có thể đạt được sự ổn định và tạo ra công trình đáp ứng
được những đặc tính kỹ thuật
2 Cung cấp cho khách hàng những công trình đạt chất lượng
IV PHAM VI GIGI HAN DE TAI
SVTH: Nguyén Quang Ninh GVHD Từ Phú Hung
Trang 8
Do thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp có hạn, cũng như chưa có kinh nghiệm thực tế nên việc nghiên cứu của để tài chỉ áp dụng cho quá trình khắc
phục những vấn dé chất lượng trong công trình xây dựng
V PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1 Phương pháp thu thập dữ liệu
- Dữ liệu thứ cấp: thu thập tại công ty TNHH VINH- HIẾN
- Dữ liệu sơ cấp: thu thập tại công ty INVESCO Trung tâm TƯ VẤN-THIẾT KẾ- XÂY DỰNG-INVESCONS
2 Phương pháp chọn mẫu:
- Xây dựng những biểu đồ kiểm soát cho xây dựng công trình
- Xây dựng mục tiêu tiến độ đối với công trình
- Kiểm tra từng hạng mục thi công nghiệm thu
Trang 9
S1
uận văn tốt nghiệp Quản lý chất lượng công trình xây dựng
CHƯƠNG II:
CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
I CHAT LUGNG SAN PHẨM
Il QUẦN LÍ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
II.THỰC TRANG NGÀNH XÂY DỰNG HIỆN NAY
IV.NHỮNG KHÓ KHĂN VỀ CHẤT LƯỢNG TRONG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
Trang 10
Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp Trang 8
CHUONG II: CO SO PHUONG PHAP LUAN
1 CHẤT LƯỢNG SAN PHAM
1 Khái niệm:
Chất lượng là một phạm trù phức tạp, có nhiều định nghĩa khái nệm
về chất lượng:
Ở góc độ nhà quản lý, chất lượng cao thấp được đo bằng tỷ lệ sản
phẫm được chấp nhận qua kiểm tra số lượng phế phẩm
Nhiều người cho rằng chất lượng là:
- Không bị khiếm khuyết lỗi hư hỏng
- Mức độ hoàn hảo
Theo Juran(Quản trị chất lượng, 1998), Chất lượng là “Sự thích hợp khi sử
dụng”
Theo Philip B Crosby(Chất lượng là thứ cho không,1989), Chất lượng là “Sự
phù hợp với các yêu cầu cụ thể”
Theo Ishikawa(Quản lý chất lượng theo phương pháp người Nhật, 1990),
Chất lượng là “sự thoả mãn khách hàng với chỉ phí thấp nhất”
Theo Deming(Quản trị chất lượng, 1998), Chất lượng là “Mức độ dự báo về
sự đồng đều và sự tin cậy với chi phí thấp và sự phù hợp với thị trường”
Đối với người tiêu dùng chất lượng là sự thỏa mãn nhu cầu hoặc hơn nữa
nhưng với chi phí thấp
Theo TCVN 5814-1994, Chất lượng là “Tập hợp các đặc tính của một thực
thể, đối tượng tạo cho đối tượng đó khả năng thỏa man nhu cau đã nêu ra hoặc
tiểm ẩn”
Qua đó chất lượng sản phẩm là sự phù hợp những chỉ tiêu đặc trưng của sản
phẩm thể hiện mức thoả mãn những nhu cầu trong điều kiện tiêu dùng xác định
Sản phẩm có chất lượng là phải phù hợp với mong muốn của khách hàng ở một
giới hạn nhất định Chất lượng sản phẩm phải được nhìn nhận dưới quan điểm
của người tiêu dùng cùng với chất lượng của sản phẩm:
- Là tập hợp những chỉ tiêu, tính năng kỹ thuật và tính hữu dụng của nó
- Được thể hiện cùng với chi phí
- Gắn liền với điều kiện tiêu dùng của từng người, từng địa phương sao cho
phù hợp với phong tục tập quán
Khi xét đến chất lượng sản phẩm thường quan tâm tới 3 yếu tố:
- Tính năng hoàn hảo
Trang 11
Mô hình quản lý chất lượng công trình xẩy dựng dân dụng và công nghiệp Trang 9
2.Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
a Yếu tố bê ngoài:
- Nền kinh tế
- Đồi hỏi nhu cẩu về thị trường của sản phẩm
- Khả năng kinh tế, trình độ sản xuất
- Chính sách kinh tế, hướng đầu tư phát triển vào sản phẩm và múc độ thỏa
mãn nhu cầu của chính sách kinh tế
- Khoa học kỹ thuật, sánh tạo vật liệu mới, công nghệ mới sản phẩm mới
- Cơ chế quản lý: Kế hoạch phát triển kinh tế, chính sách đầu tư và tổ chức
quản lý chất lượng
b.Yếu tố bên trong:
Con người là nhân tố căn bản có quyết định tác động đến chất lượng sản phẩm và dịch vụ Trình độ chuyên môn, kinh nghiệm ý thức trách nhiệm tính kỷ
luật, tỉnh thân hợp tác, khả năng thích ứng với sự thay đổi, nắm bắt thông tin của
mỗi thành viên trong doanh nghiệp tác động trưc tiếp đến chất lượng sản phẩm
Phương pháp tổ chức quản lý sản xuất, góp phần đẩy mạnh tốc độ cải tiến chất lượng sản phẩm
Máy móc thiết bị công nghệ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
Thông tin giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chức năng quản trị
của doanh nghiệp, | rất cần thiết cho việc ra quyết định
I.QUẢN LÍ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
1.Khái niệm
“Quản trị chất lượng là một hệ thống các hoạt động, các biện pháp và quy định hành chính, xã hội, kinh tế, kỹ thuật dựa trên thành tựu của khoa học kỹ
thuật hiện đại nhằm sử dụng tối ưu những tiểm năng để đảm bảo duy trì và
không ngừng nâng cao chất lượng nhằm thoả mắn tối đa nhu cầu xã hội với chi
phí thấp nhất (Tạ kiều An, Ngô thị Anh, Nguyễn Hoàng Kiệt, Định Phương
Vương- Quản trị chất lượng, Nhà xuất bản giáo dục, 1998)
Theo G.S.A.G Robertson: “Quan ly chat lugng là ứng dụng các phương
pháp thủ tục và kiến thức khoa học kỹ thuật đảm bảo cho sản phẩm sẽ hoặc
đang sản xuất phù hợp với nhu cầu thiết kế và các yêu cầu trong hợp đồng kinh
tế, bằng con đường hiệu quả nhất, kinh tế nhất”
2 Đặc điểm của quản lý chất lượng
Lấy phòng ngừa là chính thay vì sửa chữa, làm đúng ngay từ đầu
Hệ thống phòng ngừa theo quy tắc PPM:
Trang 12
Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp Trang 10
- Chất lượng chứ không phải số lượng
- Quần lý chất lượng liên quan đến chất lượng con người
- Định hướng vào người tiêu dùng
Nhu cầu thị trường Thiết kế P San xuất Người tiêu dùng
3.Quá trình quản lý chất lượng
Sản phẩm phải đáp ứng những nhu cầu sau:
- Thỏa mãn một số nhu cầu nhất định
- Thoả mãn mong muốn của người tiêu dùng
- Đạt được tiêu chuẩn chất lượng đã đề ra hoặc thỏa thuận trong hợp đồng
- Phù hợp với luật pháp và qui luật xã hội
- Giá cả sản phẩm phải mang lại khả năng cạnh tranh và lợi nhuận
a Quản lý chất lượng trong thiết kế
Mục đích: Căn cứ vào thông tun thu thập trên thị trường, xác định mong
muốn của người tiêu dùng, từ đó để xuất ý tưởng về sản phẩm
Nhiệm vụ:
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Từ Phú Hưng
Trang 13Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp Trang 11
- Thiết kế những công trinh đạt chất lượng cao phù hợp với thị trường và chi
phí thấp
- Chọn công nghệ thi công thữ
- Phân tích giá trị thực tế về chất lượng công trình chế thử, so sánh với tài liệu
gốc, ý kiến của khách hàng sử dụng thữ, sửa đổi những nhu cau về chất lượng
yêu câu, từ đó có kế hoạch cho việc sản xuất hàng loạt
b Quản lý chất lượng trong quá trình sản xuất
Mục đích : Khai thác, huy động huy động có hiệu quả quy trình công
nghệ, máy móc thiết bị và con người đã lựa chọn đã lựa chọn để thi công phù
hợp với thiết kế
Nhiêm vụ:
- Kiểm tra nguyên vật liệu, số lượng chất lượng và chủng loại
- Thiết lập và thực hiên các quy trình, thủ tục thao tác
- Kiểm tra chất lượng các chỉ tiết hạng mục công trình sau từng công đoạn,
phát hiện sai sót và tìm nguyên nhân và loại bỏ chúng
- Kiểm tra chất lượng công trình
- Kiểm tra điều chỉnh định kỳ các dụng cụ kiểm tra đo lường chất lượng
- Kiểm tra thường xuyên máy móc thiết bị, công nghệ, duy tu bảo dưỡng kịp
thời
c Quản lý chất lượng trong tiêu thụ
Mục đích: Đảm bảo thỏa mãn khách hàng nhanh nhất, thuận lợi nhất với
chi phí thấp nhất
Nhiệm vụ:
- Tổ chức thực hiện đúng tiến độ
- Hướng dẫn đầy đủ các thuộc tính về sản phẩm
- Thu thập thông tin phần hồi từ khách hàng
Ấp dụng quy tắc 5 Zero:
Zero defect( Không sai phạm)
Zero storage(Không lưu kho)
Zero paper( Không thủ tục)
Zero delay(Khéng cham tré)
Zero error( Khéng 161)
III THUC TRANG NGANH XAY DUNG HIEN NAY
1.Vị trí và vai trò của ngành xây dựng
Trong thời gian qua xây dựng là ngành kinh tế quốc dân có tốc độ phát
triển khá cao Vì vậy những dịch vụ có liên quan đến tư vấn thiết kế và xây lắp
có cơ hội phát triển mạnh Các dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài cũng như
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Từ Phú Hưng
Trang 14Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp Trang 12
đầu tư trong nước đã thực hiện một khối lượng cơ bản rất lớn Đó là những tác
nhân góp phần cho lĩnh vực dịch vụ nói chung được nâng cao cả về số lượng và chất lượng
Khác với các lĩnh vực dịch vụ khác, dịch vụ tư vấn thiết kế, xây lắp đã có
từ rất lâu ở Việt Nam, trong những năm trước đây, thời kỳ bao cấp với nền kinh
tế tập trung, mệnh lệnh, dịch vụ xây dựng do các công ty hoặc các Viện thiết kế trong và ngoài nước, độc quyền cung ứng theo kế hoạch, ngày nay mặc dù các công ty và tổng công ty xây dựng xây dựng thuộc sở hữu nhà nước vẫn còn đang chiếm tỷ trọng cao trong lĩnh vực cung ứng, dịch vụ tư vấn thiết kế và xây lắp,
nhưng bên cạnh đó cũng đã có khá nhiễu công ty tư vấn thiết kế và xây lắp thuộc khu vực kinh tế tư nhân được thành lập
Đặc biệt là có sự tham gia của các nhà cung ứng dịch vụ tư vấn thiết kế và
xây lắp nước ngoài
Có thể nói, địch vụ tư vấn thiết kế và xây lắp là lĩnh vực dich vu chiy tac động mạnh nhất từ sự tăng trưởng với tốc độ cao của nên kinh tế Việt Nam
Từ năm 1992 đến nay lĩnh vực xây dựng luôn có tốc độ tăng trưởng cao hơn
so với tốc độ tăng trưởng GDP Cũng giống như ở nhiều nước trong giai đoạn đầu
trong sự phát triển các nước đều có nhu cầu rất lớn để đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tẳng các công trình công nghiệp Trong giai đoạn nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung ở Việt Nam ta tập trung nhiều vào đầu tư xây dựng nền công nghiệp nặng
mà chưa chú trọng vào ngành công nghiệp dịch vụ, nhà ở của nhân dân Do đó
khi bước sang cơ chế mới và cùng với sự cải thiện về đời sống kinh tế của các hộ gia đình, nhu cầu xây dựng nhà ở của các khu vực hộ gia đình tăng lên rất nhanh Điều nầy trở thành nhân tố thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực dịch vụ xây dựng
Một nhân tố khác góp phần đáng kể vào lĩnh vực dịch vụ xây dựng đó là đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam Trong những năm qua đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam không ngừng tăng lên các dự án đều có khối lượng và
quy mô khá lớn
Lĩnh vực địch vụ xây dựng không chịu sự tác động của sự phát triển kinh tế
mà còn có vai trò tác động tích cực đối với kinh tế phát triển nói chung và sự
phát triển của các ngành cụ thể trong nền kinh tế đặt biệt dịch vụ tư vấn còn là
sự hôi tự tích lũy cuả trí tuệ, khoa học công nghệ, văn hóa nghệ thuật Dịch vụ xây dựng còn là ngành nghề sử dụng nhiều lao động, sự phát triển của dịch vụ này tạo ra nhiều công ăn việc làm, góp phần giải quyết các van dé xã hội liên
quan đến lao động Do vậy để thực hiện chính sách của quốc gia mở cửa hội nhập hoàn toàn cần phải đánh giá sự hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động
xây dựng và tư vấn xây dựng Các chính sách và biện pháp nhằm tạo cơ sở để nhà nước hổ trợ các doanh nghiệp trong thời gian trước mắt,mặt khác phải có các SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Từ Phú Hưng
Trang 15Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp Trang 13
biện pháp nhằm tăng cường năng lực để trong một thời gian nhất định các doanh
nghiệp của Việt Nam ta tự vươn lên để cạng tranh với các doanh nghiệp nước
ngoài
2 Hiện trạng của các tổ chức tư vấn xây dựng
Cơ cấu tổ chức và hoạt động Hiên nay có khoản 550 tổ chức tư vấn xây dựng -
với cơ cấu như sau:
- Doanh nghiệp nhà nước chiếm 75% -412
- Công ty liên doanh 3%-12
- Công ty ngoài quốc doanh 22% -121
Trong đó doanh nghiệp hạng I và II chiếm gần 50% số còn lại là doanh nghiệp
hạng Ivà hạng IV chủ yếu là của địa phương
Số lượng tư vấn xây dựng trong 3 năm 1996-1998 đả tăng lên gấp hơn hai
lânso với số đã có tính đến năm 1995 và đồng thời chất lượng đã được nâng cao
rõ rệt,đặt biệt số doanh nghiệp ngoài quốc daonh tăng lên rõ rệt
Số lượng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 75% trong đó hơn 50%
hoạt động theo luật doanh nghiệp nhà nước còn lại là các doanh nghiệp hoạt
động tổ chức sự nghiệp có thu nhập và tư vấn trực thuộc các công ty xây lắp
hang I cdc công ty va tổng công ty đa ngành
Có thể phân tích cơ cấu và hoạt động của từng loại hình như sau:
a Các doanh nghiệp tư vấn xây dựng hoạt động theo luật doanh nghiệp
Nhà Nước
Loại hình doanh nghiệp này thường là tiền thân của các Viện thiết kế, các
công ty, xí nghiệp khảo sát thiết kế trước đây được tổ chức xắp sếp theo cơ chế
mới Thường có đội ngủ chuyên gia chủ nhiệm đổ án có nhiều kinh nghiệm, đội
ngũ cán bộ đông từ thời bao cấp để lại Trang thiết kế bị cũ khấu hao gần hết
vốn phần lớn do nhà nước cấp Do không có điều kiện để đổi mới thiết bị và
công nghệ, số người lao động, kiến thức và trình độ công nghệ mới, chưa đào tạo
kịp, nên gặp nhiiều khó khăn Tuy vậy có một số doanh nghiệp đã năng động
mạnh dạng vay vốn đầu tư trang bị đổi mới công nghệ (điển hình là các công ty
trực thuộc bộ giao thông vận tải hoặc công ty tư vấn xây dựng dân dụng việt nam
có dự án do liên hiệp Anh tài trợ) đã đáp ứng được yêu câu thị trường Một số
đơn vị khác vẫn giữ nguyên tổ chức cũ thời kỳ trước tự tìm kiếm việc làm, trang
thiết bị máy móc do các cá nhân hoặc từng nhom theo nghề tự mua Do việc tổ
chức sản suất sắp xếp chưa phù hợp với công nghệ mới, việc giao khoán và phân
phối chưa có cơ chế phù hợp làm mất đi sức mạnh của tổ chức Hiện vẫn còn
tình trạng vì thu nhập chênh lệch quá cao
b) Các đơn vị sự nghiệp
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Từ Phú Hưng
Trang 16
Loại hình này chiếm khoản 15% phần lớn là các Viện, Trường, Ban quản lý
công trình, Trung tâm của bộ ngành đặc biệt của loại hình này là khai thác được
các phương tiện nghiên cứu giảng dạy, có chuyên gia giỏi Song hoạt động còn
tắn mạng, chưa có sâu vào chuyên ngành theo lĩnh vực của công ty, mặt khác
cần xem xét lại các tổ chức của đơn vị tư vấn ở loại hình này sao cho phù hợp và
có hiệu quả hơn để sử dụng hết tìm năng của trí tuệ, mà không ảnh hưởng đến
nhiệm vụ chính của họ và tránh tạo ra những tiêu cực trong quản lý
c) Các tổ chức tư vấn thuộc các công ty xây dựng hạng I và các công ty
đa ngành (công ty cũng được coi là đa ngành)
Loại hình này chiếm xấp xỉ10% hiện nay đang có xu hướng phát triển mạnh
vì số lượng loại hình này phần lớn mới thành lập, Bộ xây dựng có chủ trương mở
rộng và nâng cao hoạt động của các tổ chức xây dựng trong các tổng công ty để
dan dần nâng cao chất lượng việc quản lý đâu tư xây dựng và tiến tới thầu các
dự án lớn
d) Các công ty tư vấn xây dựng ngoài quốc doanh
Hiện Tây các tổ chức xây đựng ngoài quốc doanh chủ yếu là công ty TNHH
công ty cổ phần, hợp tác và chưa được hình thành loại hình nầy chiếm khoảng
22%, phát triển mạnh nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh sau đó là Thành phố Hà
Nội Trong loại hình này bao gồm các công ty thuộc các tổ chức hiệp hội như:
Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật, Hội cầu đường .Nói chung các công ty
này tập hợp được nhiều các chuyên gia giỏi từ các trường, Viện có nhiều mối
quan hệ rộng, chịu đầu tư trang bị vào công nghệ mới, chịu tìm hiểu thị trường
e) Doanh nghiệp liên doanh
Hiện nay có khoản 12 công ty liên doanh, tư vấn xây dựng, chiếm khoản
3%, loại doanh nghiệp này hoạt động không như mong muốn của (ta, phần lớn
các công ty nước ngoài không đua các chuyên gia giỏi và các trang thiết bị hiện
đại, công nghệ tiên tiến đều không đạt được Tuy nhiên có thể do tỷ lệ phân phối
lợi nhuận hoặc cơ chế chưa thích hợp nên loại hình nay chưa phát hiện được sức
mạnh và cũng chiếm được thị trường trong nước cho nên các dự án xây dựng lớn
đều rơi vào các công ty nước ngoài Một nhược điễm khác của công ty liên
doanh là chi phí lương và điều kiện cho phía nước ngoài khá cao trong khi thu
nhập còn thấp, không đáp ứng được nên không có điểu kiện phát triển và do vậy
đa phần các công ty liên doanh điều bị thua lo, một số không trụ nổi phải giải thể
f) Việc liên doanh liên kết với các tổ chức xây dựng nước ngoài
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Từ Phú Hưng
Trang 17
Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp Trang 15
Trong những năm qua bộ xây dựng đã cấp 133 giấy phép thầu xây dựng
cho các công ty tư vấn nước ngoài vào thực hiện dự án Nhưng vì chất lượng hợp
đông và nội dung công ty mà phía Việt Nam tham gia chỉ ở dạng:
- Xin các thủ tục giấy phép cho các công ty nước ngoài
- Khảo xác công rình và điều kiện thuỷ văn
- Thiết kế phần bao che một số công trình và lập văn bắn hướng dẫn thi
công
- Quần lý giám xác kỹ thuật xây dựng các công trình dưới sự hướng dẫn của
tư vấn nước ngoài
Hầu hết các công trình quan trọng và các công trình chất lượng cao đều do
nước ngoài đảm nhiệm làm thầu chính, phía Việt Nam làm thâu phụ kể cả các
công trình mà ta đã có kinh nghiệm nhiều năm, xây dựng nhà máy xi măng, xây
dựng câu cống, nhà cao tầng
Đặc biệt về thiết kế công nghệ, lựa chọn thiết kế vật tư thì các cơ quan tư vấn của ta quá ít
3 Hiện trạng của các doanh nghiệp xây lắp
Đến nay có khoản 3400 doanh nghiệp xây lắp thuộc mọi lĩnh vực xây dựng hoạt động trong phạm vi toàn quốc Trong đó có 1000 doanh nghiệp và 2300 là
ngoài quốc doanh
Qua khảo sát lực lượng xây dựng tập trung ở một số chuyên ngành như :
- Bộ xây dựng
- Bộ giao thông vận tải
- Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Bộ quốc phòng
- Bộ công nghiệp
Các Bộ này quản lý 464 doanh nghiệp với 26 tổng công ty với gần 50%
doanh nghiệp nhà nước trong toàn quốc Ngoài ra các bộ ngành đoàn thể khác
cũng điều có lực lượng xây dựng nhưng với quy mô nhỏ, số lượng các doanh
nghiệp thuộc các bộ ngành trung ương khá mới Nhưng phần đông đăng ký tập
trung ở Hà Nội(40%) và Thành phố Hồ Chí Min(29%)
Nền kinh tế nhiễu thành phần dựa trên sự tổn tại, đan xen nhiều hình thức,
bước đầu đã khơi dậy các nguồn lực trong nước tạo ra sự năng động trong hoạt
động kinh tế, thúc đẩy nên kinh tế tăng trưởng, do sự sắp xếp lại nên số lượng
doanh nghiệp nhà nước có giảm, nhưng tỷ trọng đóng góp của khu vực quốc
doanh trong tổng sản phẩm xã hội và trong thu nhập quốc dân vẫn tăng
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển rộng rãi trong lĩnh vực xây lắp
gồm phần lớn trong việc giải quyết việc làm và nâng cao mức sống cho người
lao động Các xí nghiệp tư nhân, công ty TNHH, các công ty liên doanh và nước
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Từ Phú Hưng
Trang 18
ngoài đã được thành lập, một số phát triển lên quy mô lớn thu hút nhiều lao động
kinh doanh có hiệu quả
Các doanh nghiệp Nhà Nước nhìn chung có quy mô lớn hơn các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh, hầu hết các doanh nghiệp ngoài quốc doanh có số
lượng lớn hơn 1000 trong đó phần lớn các doanh nghiệp nhà nước có số lao động
> 100 ngàn, có những tổng công ty có số lao động lê đến vạn người, nhìn chung
mô hình tổ chức của các doanh nghiệp của ta vẩn còn manh múng, chưa tập hợp
đủ sức để cạnh tranh với nước ngoài, thậm chí còn làm yếu mình và làm cho các
chức tư vấn xây dựng Chuyển đổi sang tư vấn đòi hỏi ngành thiết kế không
những phải làm tốt hơn công việc chuyên môn mà còn phải có những kiến thức
tổng hợp hoặc chuyên xâu vào một lĩnh vực nào đó, dat biệt là những kiến thức
về thị trường, đánh giá dự án luật xây dựng, thông lệ quốc tế và những kinh nghiệm và những hiểu biết về thực tế và quản lý dự án
Những năm qua sự phát triển của các tổ chức xây dựng gắn liển với việc tổ
chức nâng cao, trình độ chuyên môn theo từng lĩnh vực, nhiều tổ chức đã nhận
thầu tư vấn thiết kế được một số công trình lớn
Về cơ cấu tổ chức đã sắp xếp lại theo hướng tăng cường năng lực, song trong thực tế, những tổn tại của thời kỳ trước cũng không giải quyết ngay được các trang thiết bị, phần mêm phục vụ cho công tác khảo xác thiết kế được nâng cấp nhằm đáp ứng yêu câu vế chất lượng, một số công ty đã đầu tư phòng thí
nghiệm, các thiết bị kiệm định với quy mô chất lượng tốt, lực lượng cán bộ công
nhân viên đã được đào tạo, bổi dưỡng nâng cao trình đo, kiến thức về thị trường quốc tế theo kịp xu thế thời đại
Tuy nhiên do nhận thức về tư vấn chưa đầy đủ, nên thời gian qua việc thành lập các tổ chức tư vấn tương đối tràn lan, chất lượng chưa bảo đảm, nhiều công ty đặt biệt là công ty TNHH lực lượng rất mỏng, nhiều nơi chưa có các cán
bộ khung, nhưng vẩm đảm bảo công việc tư vấn từ khâu lập dự án đến khâu thực hiện dự án Việc gì cũng làm nhưng không có đầu tư chuyên sâu, nên chất lượng
tư vấn không cao, nhất là chất lượng lập dự án đầu tư còn thấp do việc tiếp cận, nắm bắt các thông tin từ thị trường thế giới còn hạn chế, công tác thiết kế công
nghệ,cơ điện và đặt biệt là quản lý thực hiện dự án lớn chúng ta chưa đảm
nhiệm được, do trình độ về chuyên môn ngoại ngư, hiểu biết về thông lệ quốc tế
Còn yếu kém, kinh nghiệm chưa có nhiều Đặc biệt tư vấn quản lý giám sát công SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Từ Phú Hưng
Trang 19
Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp Trang 17
trình, có số vốn hầu như hoàn toàn để cho nước ngoài đảm nhiệm Một số công
trình đo ta tự quần lý thì hoặc chất lượng không đạt hay chậm tiến độ
b Doanh nghiệp xây lắp trong nước
+ Khả năng độc lập:
Hiện nay lực lượng xây dựng quốc doanh vẫn là lực lượng chủ đạo và
chiếm tỷ trọng lớn về giá trị đầu tư, cũng như giá trị sản lượng doanh nghiệp xây
lắp, lực lượng xây dựng tập trung ở một số bộ có lực lượng tập trung chuyên
ngành xây dựng dân dụng công nghiệp giao thông thuỷ lợi, lắp đặt và sản xuất
cấu kiện
Tuy nhiên trong thời gian gần đây, việc đầu tư xây dựng có đan xen một số
đơn vị lớn như các công ty loại I và một số công ty xây dựng chú trọng phát triển
toàn diện kinh doanh đa ngành mở rộng lĩnh vực hoạt động: như đầu tư xây dựng
dân dụng công nghiệp nay đầu tư thêm lực lượng xây dựng móng và đường bộ
Đơn vị chuyên lắp đặt máy nay đầu tư xây dựng công nghiệp, một số đơn vị giao
thông, thuỷ lợi cũng nhận thầu công trình dân dụng và công nghiệp, đặt biệt để
dam bảo khả năng cạnh tranh trong đầu tư quốc tế, các doanh nghiệp đã hoàn
thiện dần lực lượng tư vấn nội bộ của mình để chuẩn bị hồ sơ đấu thâu, thiết kế
các giải pháp thi công
Với sự phát triển theo hướng đó, các nhà thầu trong nước đã từng bước
chuyển dẫn từ vai trò làm thâu phụ sang làm đồng thầu chính với doanh nghiệp
nước ngoài và đã giành làm thâu chính với nhiều gói thầu về giao thông đường
bộ và các gói thâu về nhà dan dụng và công nghiệp, trong các dự án đấu thầu
quốc tế hoặc các dự án có vốn đầu tư nước ngoài
Trong những năm qua nhiều doanh nghiệp xây dựng đã đầu tư đổi mới nhiều trang thiết bị công nghệ mới đến nay nói chung có thể đáp ứng mọi yêu
cầu mọi công trình với các quy mô từ nhỏ đến lớn Tuy nhiên còn một số thiết bị
công nghệ doanh nghiệp của ta chưa được đầu tư như thi công móng, tường vây
cho các tầng hầm cao ốc, khoan giếng lớn mà không cần đào mặt đất
Nhìn chung về khả năng nội lực nếu biết phối hợp hợp tác giũa các đơn vị
trong nước, có sự bảo lãnh của cả nuớc về tài chính thì lực lượng trong nước có
khả năng thắng thầu và điều hành xây dựng, các công trình đấu thầu quốc tế về
giao thông công trình công nghiệp nhe, công trình công nghệ xi măng và vật liệu
xây dựng cong trìng cao óc trung bình
Tuy nhiên khả năng quản lý toàn diện một dự án công nghiệp hoặc dự án cao ốc, du lịch, thương mại còn có những hạn chế về kiến thức, năng lực nắm bắt
thị trường về cung cấp vật tư và thiết bị công nghệ Cũng như sư điều hành phối
hợp giữa các khâu từ cung cấp cho đến hoàn thiện còn kém chưa chủ động hoàn
toàn được và gọi thầu cơ điện và trang bị nôi thất để có thể đáp ứng các yêu cầu
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Từ Phú Hưng
Trang 20
của chủ đầu tư về chất lượng và tiến độ Về mặt nầy chắc chắn lực lượng xây
dựng trong nước cần phải cũng cố và tự vượt lên nhiều
+ Khả năng phối hợp với các lực lượng xây dựng trong nước
Nếu biết về khả năng độc lập của từng đợn vị xây dựng trong nước theo các
chuyên ngành có những chổ mạnh tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây
dựng trong nước là gay gắt, đều nây mang tính tích cực khi đấu thầu, các dự án
đầu tư trong nước Song đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài hoặc có đấu
thầu quốc tế các doanh nghiệp của ta thiếu phối hợp với nhau để hình thành các
tổ hợp cạnh tranh, với nhà thầu nước ngoài, nên đua nhau cạnh tranh thậm chí
cạnh tranh không lành mạnh, đìm giá bỏ thâu với giá rất thấp dẫn đến những
thiệt thà không đáng có cho các doanh nghiệp Đây là yếu tố cần khắc phục
Nếu các doanh nghiệp chuyên ngành khác nhau biết liên kết và phối hợp
với nhau thì chúng ta có thể giành được nhiều công trình ở nước ngoài trong khu
vực Đông Nam Á, sự phối hợp này không chỉ đối với các doanh nghiệp xây dựng
với nhau mà còn gồm cả các đơn vị tư vấn thiết kế, thương mại xuất nhập khẩu
và thậm chí cả sự phối hợp của các tổ chức ngoại giao của nhà nước
Để khắc phục tình trạng này cân có tổ chức thống nhất để hợp tác với
doanh nghiệp trong nước với các hình thức liên doanh liên kết hoặc Tập Đoàn
+ Khả năng phối hợp với nhà thầu nước ngoài
Với sự phát triển của lực lượng xây dựng trong nước, những năm gần đây
chúng ta đã có khả năng cạnh tranh với nhà thầu nước ngoài trong đó thâu quốc
tế ở một số khâu.Vì vậy trong giai đoạn trước mắt khi lực lượng xây dựng của
chúng ta còn làm thâu phụ, thì cần có các biện pháp hạn chế dần hình thức thầu
phụ nhân công như hiện nay
Thực hiện các chính sách hiện hành thời gian qua hình thức liên kết bình
đẳng giửa các nhà thầu trong và ngoài nước đã giúp cho một số doanh nghiệp
thắng thâu ở nhiễu dự án giao thông đường bộ, dự án công nghiệp và dự án cơ sở
hạ tầng cấp thoát nước Phương thức nầy giúp các doanh nghiệp xây lắp của ta
vương lên và rút được nhiều kinh nghiệm trong điều hành các dự án và tiến tới
quyển giành thầu chính các dự án quốc tế
+ Khả năng của các liên doanh xây dựng
Hiện nay đã có trên 30 công ty liên doanh xây dựng trong lĩnh vực xây lắp
được thành lập, các công ty này có vốn đầu tư thấp từ 1 - 2.000.000 USD, đó là
số vốn đầu tư ít ỏi và không đáng kể trong tổng số vốn đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam Mặt khác công nghệ do các công ty nây đầu tư vào Việt Nam hầu như
không có gì mới , một số thiết bị không đáp ứng được mục tiêu đầu tư Do đó
khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nầy là rất thấp trên thị trường Việt
Nam phần lớn các liên doanh về xây dựng đều bị lỗ và không giành được việt
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Ti Phú Hưng
Trang 21
Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp Trang 19
Vì vậy đối với các liên doanh đang tổn tại cần thay đổi cơ cấu để chứ nhân
sự cho thích hợp, giảm nhân sự nước ngoài tăng cường nhân sự phía Việt Nam,
thông qua chính sách đào tạo và chuyển giao công nghệ Đối với các liên doanh
đã thành lập cần quán triệt phương châm thu hút công nghệ mới là sử dụng tối đa
nhân sự của Việt Nam ngay từ đầu
Về tỷ lệ vốn gốp của phía Việt Nam cần quy định tối thiểu là 50% có khả
năng phải mở rộng thêm phạm vi hoạt động cho các liên doanh nầy, cho phép
đấu thầu xây dựng cả các công ty trong nước
+ Khả năng đấu thầu của các nhà thầu nước ngoài đã và đang hoạt
động tại việt nam
Đến nay đã có 90 nhà thâu xây lắp nước ngoài thuộc 20 quốc gia và lãnh
thổ vào nhận thầu tại Việt Nam Nước có nhiều nhà thầu nhất là Nhật với 37 nhà
thâu các nhà thầu này nhận phần lớn các công trình quan trọng do Nhật đầu tư
- hoặc vay vốn
Nhìn chung các nhà thầu nước ngoài có thế mạnh hơn các nhà thầu của ta
về khả năng tài chính về kinh nghiệm đấu thầu quốc tế họ đã từng thực hiện
nhiều công trình tương tự và cao hơn so với các gói thầu quốc tế cung cấp vật tư
thiết bị cũng như kinh nghiệm về hợp tác liên kết dự thầu
Thông thuờng các nhà thầu lớn của nước ngoài đã có văn phòng đại diện
tại Việt Nam nhiều năm đã nghiên cứu và nắm chắc thị trường Lực lượng xây
dựng trong nước Việt Nam cũng như hiểu về chính sách pháp luật Việt Nam, do
đó họ có được đối sách hợp lý trong việc dự thầu và giành thầu nhằm thu được
lợi nhuận cao hơn và tránh rủi ro
Các nhà thầu chính nước ngoài thường kéo theo các nhà thầu phụ nước
ngoài khác vì cung cấp và lắp đặt cơ điện mà họ có kinh nghiệm hợp tác với
nhau trong các dự án trước đó trong khu vực và tại Việt Nam có nhiều trường
hợp các nhà thâu chính phải chấp nhận các nhà thâu phụ nước ngoài về phần cơ
điện và cung cấp lắp đặt trang bị nội thất đả được chũ đầu tư chỉ định trước
Nhiều nhà thầu nước ngoài khi dự án đấu thầu tại Việt Nam họ cố gắng giành thầu độc lập cho nên họ tìm mọi cách bỏ qua các aui định về hố sơ mời
thầu và liên kết với thầu phụ tại việt nam Rất chung chung không có giá trị pháp
lý ràng buột và không có liên kết gì cụ thể Đây là điểm yếu của chủ đầu tư Việt
Nam khi lập hồ sơ mời thầu
Về chính sách vấn để nầy đã được khắc phục qui định trong quy chế quản
lý đâu tư và xây dựng mới ban hành theo nghị định 88/CP Các nhà thầu Việt
Nam cần nắm bắt việc này để khi dự thầu phải hợp tác với nhà thầu nước ngoài
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Từ Phú Hưng
Trang 22
thì khi thắng thầu nhà thầu nước ngoài mới không còn ép nhà thầu Việt Nam
nhận giá thấp hơn hiện tại
IV NHỮNG KHÓ KHĂN VỀ CHẤT LƯỢNG TRONG CÔNG TRÌNH XAYDUNG
Ngành xây dựng mang nhiều đặc tính chung của cả công nghiệp sản xuất
và công nghiệp dịch vụ Tất nhiên như những ngành sản xuất khác nó cũng có
các sản phẩnm vật chất và chúng thường gây ấn tượng về kích thước, giá thành
và sự phức tạp đa dạng Nhưng mặt khác xây dựng lại mang dáng vẻ của một
ngành công nghiệp dịch vụ bởi lẽ nó không tích luỹ một lượng vốn đáng kể so
với các ngành công nghiệp khác như : thép, giao thông vận tải, dầu khí và khai
thác mỏ Người ta nhìn thấy rõ ràng điểu này trong các điểu tra so sánh tài
chính, chẳng hạn như các bảng liệt kê về 500 doanh nghiêp hàng đầu của các tạp
chí FOFBES và FORTUNE (được gọi là TOP 500 ) Mặc dù có rất nhiều công ty
xây dựng lớn nhất đã được liệt kê mỗi năm về thu nhập, và đôi khi trên cơ sở lợi
nhuận, nhưng có chăng thì chỉ có rất ít cộng ty xây dựng vươn tới được danh sách
“TOP 500” về mặt tài sản mà thôi cũng như những ngành công nghiệp dịch vụ
khác sự thành công hay thất bại trong xây dựng phụ thuộc vào phẩm chất và
năng lực của con người nhiều hơn là vào kỹ thuật, mặc dù yếu tố sau đôi khi
cũng rất quan trọng
Xây dựng là một ngành bị cắt rời cao độ và đôi khi chia rẽ, nhưng trong
công việc đồi hỏi đáp ứng những yêu cầu cấp bách của quốc gia, chẳng hạn
trong thời chiến thì có ít ngành công nghiệp nào có thể huy động được tiểm lực
mạnh nhất, nhanh chóng nhất Mỗi thành phần của ngành xây dựng: Thiết kế,
xây dựng, điều phối, tiêu thụ và cung ứng tập thể công nhân đều có thể đạt đựoc
trình độ cao trong lĩnh vực của mình nhưng có rất ít triển vọng để cho các bộ
phận đó ohù hợp tốt với nhau, quả thật ngành xây dựng chưa có một trung tam
hội tụ
Thật vậy người ta chưa đưa ra được một định nghĩa rõ ràng về công nghiệp
xây dựng, tất nhiên nó sẽ bao gồm hàng trăm ngàn chủ thầu xây dựng tổng hợp
và chuyên ngành khác nhau Nhưng để hiểu ngành công nghiệp này một cách
thật sự đòi hỏi người ta phài mở rộng phạm vi của nó nghĩa là phải kể đến các
nhà tư vấn, thiết kế, các nhà cung cấp vật liệu và các nhà sản xuất thiết bị
Các tổ chức lao động lại tạo thêm ra một chiều khác và cũng như các khách hàng tư nhân và công cộng của các dịch vụ xây dựng, các cơ quan ban hành qui
chế của Nhà Nước trong các lĩnh vực như an toàn lao động, sức khoẻ, sử dụng
nhân công và kinh doanh đúng luật cũng đóng một vai trò ngày càng quan trọng
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Từ Phú Hưng
Trang 23Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp Trang 21
Công nghệ xây dựng được định hướng rất rõ rệt phục vụ khách theo kiểu
thửa đặt hàng, người ta cảm nghĩ mạnh mẽ rằng: Nếu có một cái gì đó là duy
nhất thì nó sẽ tốt hơn Tuy nhiên sự định hướng này cũng có nghĩa là ngành công
nghiệp đã hưởng ứng một cách chậm chạp các lợi ích của các ngành sản xuất lớn, cơ cấu của nó đã được chuyên môn hoá và phân tầng một cách cao độ với
các quyên lợi và truyén thong dan xen nhau phức tạp Đặc điểm của ngành xây
dựng là làm chơ nó đạt được hiệu quả cao trong các vấn đề thực tế hoặc dự án
nhưng thường kém hiệu quả trên những vấn để chung hoặc về mặt chương trình.Về nghiên cứu khoa học, Tuy chưa có đầy đủ các số liệu thống kê chính xác nhưng nói chung người ta thừa nhận rằng chỉ có một phần rất nhỏ khoảng 1%
tổng thu nhập của ngành xây dựng được đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng và ngừoi ta bổ qua quá trình nghiên cứu khoa học cơ bản Đây là điều tương phản mạnh mẽ so với các ngành công nghiệp khác, chẳng hạn ngành công nghiệp điện
tử theo ước tính người ta đã dành tới 10% thu nhập cho nghiên cứu và khai triển,
Theo đó con số đâu tư này đã giải thích dần các bước tiến nhảy vọt của ngành
công nghiệp có trình độ công nghê cao mà nó đã đạt được trong những năm gần đây
Người ta nhận xét rằng hoạt động trong ngành xây dựng hầu hết đều được
định hướng theo kiểu khuyến khích, ở đây ít có hoạt động nghiên cứu một cách
hệ thống bởi vì nó ít được thúc đẩy đầu tư vào những hoạt động như vậy sự
không hào hứng đầu tư này có lẽ bắt nguồn từ lí do là các tiến bộ kỹ thuật trong xây dựng có xu hướng phát triển từ các cải tiến hoặc “sáng kiến”, hầu hết những sáng kiến đó không thể được bảo vệ bằng giữ gìn bí mật hoặc bằng bản quyển phát minh Do đó sáng kiến này sẽ dễ dàng được phổ biến một cách nhanh
chóng trong toàn ngành, Vì vậy ít có một công ty nào chấp nhận bỏ ra một
khoảng đầu tư lớn cho phát triển kỹ thuật mới để rồi sau đó những công ty cạnh
tranh khác cũng được hưởng lợi ngang như mình
Xét trên toàn cục ngành công nghiệp xây dựng với một số lượng lớn đơn vị
kinh doanh rất lớn và qui mô nhỏ với những đặc tính về phục vụ về tính chia cắt, rời rạc của mình đã không thể chi phối nhu cầu một cách mạnh mẽ đối với sản phẩm đầu ra của mình hoặc kiểm soát tự cung cấp, sự không ổn định của nhu
cầu đã chế ngự mọi thứ, chẳng hạn tính thời vụ là một hiện tượng kinh niên và
việc xây dựng đã có một phản ứng rộng lớn đến kinh doanh hạ tầng và các chu
kỳ kinh tế, các vấn để kinh tế khác trong công nghiệp xây dựng liên quan đến sự thiếu linh hoạt cơ động của nguồn tài nguyên Do đó thường có quá nhiều công
việc trong cùng thời gain trên một số vùng trong khi một số vùng khác chịu cảnh
suy thoái, các vấn để chủ yếu lại tiếp diễn ra cả trong các dự án lớn, nhỏ và sự cạnh tranh Nhà Nước để sử dụng các quỹ tiền tệ rất hạn chế hiện có đã làm trầ
SVTH: Nguyén Quang Ninh THỨ VIÊN BY 2 GVHD: Tw Phu Hung
15g 101600 5 40
tere Z“
Trang 24Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp Trang 22
trọng thêm những khó khăn này, ngành xây dựng thường được đưa vào vị trí hàng đầu trong chính sách tài chính của ngân sách Nhà Nước
Trong nền kinh tế thị trường, chất lượng sản phẩm hay một dịch vụ là công
cụ cạnh tranh có sức mạnh nhất, song trong giai đoạn hiện nay yếu tố chất lượng cũng được nhìn nhận là quan trọng nhưng mang tính hình thức nhiều hơn Em
muốn lấy ví dụ điển hình qua việc thực hiện qui chế đấu thâu:
“Hành vi đấu thầu là một hình thức canh tranh văn minh trong nền kinh tế thị trường” Nhưng trong giai đoạn đầu của nên kinh tế thị trường ở nước ta đã
bộc lộ những mặt trái, vận dụng cơ chế đấu thầu nhiễu chủ thể coi việc ép giá,
ép tiến độ là chính nên dẫn tới nhiều công trình giá thấp nhưng chất lượng không
tương xứn, một khi công trình đã hoàn thành cái ngọt ngào của giá thấp nhưng
chất lượng không trương xứng còn cái đắng cay của chất lượng kém sẽ đọng lại rất lâu đồng thời nó tiểm ẩn một hiểm hoạ khôn lường, giá cả thấp đến mức vô
lý, thời gian thúc ép trái cả qui luật của vật chất vấn để đặt ra là các yêu cầu kỹ
thuật có được tôn trọng hay không Vì lẽ đó tiêu chuẩn chính là công cụ lập lại
trật tự thị trường xây dựng, tiêu chuẩn hoá phải là căn cứ duy nhất để đảm bảo cho chất lượng công trình xây dựng
1.Vai trò của tiêu chuẩn hoá trong công tác quản lý chất lượng Công trình xây
dựng
Như chúng ta đã biết “Chất lượng là sự tổng hoà các đặc trưng và đặc tính”
phần ánh năng lực của sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng các yêu cầu được chỉ rõ
trong các hợp đồng, trong các tiêu chuẩn quy phạm và trong các yêu cầu về kỹ
trường ngày càng khắt khe thì đòi hỏi vai trò của công cụ tiêu chuẩn quan trọng
vô cùng trong nội dung nghiệm thu đánh giá chất lượng công trình
Trong công cuộc đổi mới đất nước phần lớn các công trình, sản phẩm vật
liệu và các dịch vụ khác được thực hiện bởi các nhà đâu tư, các nhà thầu xây lắp
và tư vấn nứơc ngoài hoặc dưới sự giám sát của Quỹ tiền tệ quốc tế thì vị trí của
các tiêu chuẩn đặt biệt được coi trọng, sự áp dụng tiêu chuẩn và chất lượng được
đánh gía phù hợp tiêu chuẩn gần như là đương nhiên đối với phần lớn của sản phẩm xây dựng đó Trong khi đó, nhiều công trình xây dựng ở Việt Nam vừa trong tình trạng không có thói quen đùng tiêu chuẩn kỹ thuật cùng với việc đổi mới và xu thế hội nhập thì nhiều tiêu chuẩn các nước và quốc tế được áp dụng ở
Việt Nam
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Từ Phú Hưng
Trang 25Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp Trang 23
Từ năm 1991 TCVN không bắt buộc phải áp dụng, nhiều tiêu chuẩn
chuyển sang hình thức khuyến khích áp dụng, chủ trương đó đã bị nhiều người
hiểu sai lệch về cơ chế tự nguyện áp dụng Họ cho rằng họ không bị bắt buộc áp
dụng tiêu chuẩn, thật là sai lầm“ tự nguyện” ở đây là tự nguyện lựa chọn tiêu
chuẩn phù hợp với yêu cầu của khách hàng
Trong những sự cố công trình, theo thống kê thì có đến :
2 60% sự cố công trình đang xây dựng hoặc vừa khánh thành
2 63% có sự cố kỹ thuật, nhiều sự cố kỹ thuật có nguyên nhân là sai so
với tiêu chuẩn và bên cạnh đó nhiều công trình được khảo sát, thiết kế
không theo tiêu chuẩn, nhiều cán bộ kỹ thuật không hiểu, không biết
tiêu chuẩn áp dụng, dẫn đến nhiều sự cố đáng tiếc xảy ra do không hiểu tiêu chuẩn, không dùng tiêu chuẩn Chẳng hạn những qui định thông thường như kích thước cấu kiện, kích thước khe biến dạng
Điều đáng lo và đáng buồn nhất là khá nhiều nhà chuyên môn không thuộc
tiêu chuẩn mà cái gọi là biết là kinh nghiệm lâu năm, nên bị các chủ đầu tư bị cơ
quan quản lí điều khiển và họ trở thành người vi phạm pháp luật do làm sai tiêu
chuẩn quy định
2 Tiêu chuẩn chất lượng đang được áp dụng ở Việt Nam
Vấn để chất lượng được trình bày ở phần trên ngày càng được coi trọng và
chất lượng thường được đánh giá theo 6 tiêu chí : công năng, độ tin cậy, tính phà
hợp, tính an toàn, tính kinh tế và tính thời gian càc tiêu chí đó phải được xây
dựng trên cơ sở tiêu chuẩn lựa chọn, Chủ đầu tư lựa chọn cho mình và Nhà Nước
cũng áp đặt các tiêu chuẩn mà chủ đầu tư phải tuân thủ vì lợi ích đó qui địhn lợi
ích giữa công trình của chủ đâu tư và cộng đồng Bộ tiêu chuẩn xây dựng Việt
Nam(TCXDVN) có còn thiếu tính hệ thống không đồng bộ và nhiều tiêu chuẩn
lạc hậu (*) Viêc cho phép áp dụng tiêu chuẩn ở Việt Nam và các tiêu chuẩn
Quốc tế và tiêu chuẩn của một số nước tuy tạo cơ hội để tự nguyện lựa chọn,
nhưng cũng đặt ra nhiều điểu phải bàn để phù hợp hơn các tiêu chí đã nêu về
chất lượng trong điều kiện Việt Nam Xin đơn cử một vài bất cập:
Một là, Việc sử dụng bắt buộc các TCVN vì điều kiện đặc thù tải trọng và
khí hậu với việc tự nguyện áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật khác liên quan, cũng
để lạinhững vấn để phải bàn về tiêu chí độ tin cậy, tính an toàn và tính kinh tế
vấn để ở đây là tìm lới giải cho 2 phương pháp tư duy của 2 tiêu chuẩn Đông
vàTây Au, nhất là những nội dung liên quan như phương pháp tổ hợp tải trọng,
lựa chọn hệ số
Hai là, việc áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam có liên quan đến trình độ của
nên kinh tế xã hội và trình độ dân trí không hẳn đã phù hợp khi một số bộ phận
của nên kinh tế có liên quan lại sử dụng hệ tiêu chẩn khác
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Từ Phú Hưng
Trang 26
Vi du:
- Hệ thống phòng cháy chữa cháy của một toà nhà thì sẽ lei6n quan đến
hệ thóng phòng chỳa chữa cháy công cộng
- Khoảng cách an toàn của đường ống theo công nghệ của nước ngoài áp dụng ở Việt Nam có quan hệ đến trình độ dân trí
Ba là, Các qui định kỹ thuật của nhiễu công nghệ nhập từ nước ngoài thì
liên quan đến những thông số nhân trắc học, thể trạng người Viêt nam tạo nên
những trường hợp bất cập: một trò chơi cảm giác mạnh ở Tây Âu, Bắc Mỹ chưa
hẳn đã phù hợp với người Việt Nam
Xuất phat từ yêu câu thực tế, Vấn để nan giải của việc đầu tư xây dựng phải nói đến trước tiên là thủ tục hành chính, thực tế của việc cải cách thủ tục
hành chính nhằm thực hiện có hiệu quả đường lối đổi mới theo chiến lược phát
triển kinh tế xã hội ở nước ta thời kì 1991- 2000 Ngày 04/05/1994 Chính Phủ đã
có nghị quyết số 38/CP nhằm tập trung thực hiện cải cách thủ tục hành chính đối
với 7 lĩnh vực trọng tâm và bức xúc nhất trong đó 2 vấn để nổi cộm có quan hệ
trực tiếp đến lĩnh vực quần lí đầu tư và xây dựng là việc giao đất và cấp phép
xây dựng Kết quả của 6 năm thực hiện nghị quyết 38/CP cho thấy thủ tục hành
chính đầu tư và xây dựng không chỉ bao gồm việc giao đất và cấp phép xây dựng
mà còn bao trùm nhiều lĩnh vực khác nữa rộng lớn hơn, trực tiếp hơn, như là:
- Quản lý qui hoạch
- Quản lý đất đai
- Quản lý đầu tư và xây dựng
- Quản lý nhà
Qua đó ta xét thấy rằng điểu kiện cần và đủ để một dự án hình thành, đi
vào hoat động và khai thác thì đã vấp phải những yếu tế pháp lý, thủ tục gây
ảnh hưởng không nhỏ cho ngành xây dựng Thực tế cho thấy để thực hiện một dự
án thì trình tự đầu tư xây dựng co bản đòi hỏi phía trải qua 18 bước, theo đó thời
gian thủ tục các thủ tục hành chính đối với một dự án đâu tư là quá dài tối thiểu
phải từ 3 tháng và tối đa phải mất đến vài ba năm nhưng vẫn chưa đạt được hiêu
quả mong muốn Tính trạng này làm cho các chủ đầu tư Nước Ngoài thiếu kiên
nhẫn nhiều khi phải bỏ cuộc còn các chủ đầu tư trong nước phải chịu đựng gian
khổ, tỉ lệ giải ngân thấp Như vậy khó khăn trong đầu tư hiện nay không phải là
thiếu vốn mà chính là việc thực hiện các thủ tục hành chính và qui trình đầu tư
còn quá nhiều điều đã làm giảm tốc độ giải ngân và thiết nghĩ thật sự khó khăn
cho các nhà đầu tư là thực hiện dự án đầu tư với một thực tế đáng lo ngại
Hầu hết các văn bản qui phạm pháp luật chưa có qui định thời gian cụ thể
để có thễ hoàn thành thủ tục hành chính đối với một số bước như :
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Từ Phú Hưng
Trang 27
Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp Trang 25
Ngoài ra các qui định của pháp luật về thủ tục hành chính mới chỉ là lý
thuyết, thực tế diễn ra không đúng như vậy:
- Hai lĩnh vực đầu tư và xây dựng lỗng ghép còn nhiều bất cập
- Năng lực và sự hiểu biết về pháp luật của các chủ đầu tư và cơ quan tư
vấn quá hạn chế không nắm bắt được tình hình đổi mới của pháp luật về đầu tư
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Ti Phi Hung
Trang 28
và xây dựng nên khi chuẩn bị thủ tục đã tỏ ra lung ltúng tốn nhi62u thời gian vô
ích đôi khi còn làm trái qui định của pháp luật
- Cơ quan quản lí Nhà Nước có thẩm quyên và các cán bộ thụ lý hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính cũng gây ra những phiền hà chậm trễ không đáng có
nguyên nhân của những tình trạng này có thể là:
+ Do kém năng lực gây chậm trễ
+ Do đạo đức kém, gây phiền hà sách nhiễu dân
+ Do sợ trách nhiệm,đùn đẩy công việc cho nhau
+ Do sự phối hợp liên ngành kém
+ Do bộ máy tổ chức không hợp ly Nhiều địa phương quan niệm đơn giản
là cứ nhập nhiều Sở, Ban ngành lại thì có thể giảm bớt nhiều đầu mối có như vây thì có thể giảm bớt nhiều thủ tục hành chính
+ Do thiếu công khai dân chủ, các thủ tục hành chính không được niêm yết
rõ ràng và không có cán bộ tiếp dân đủ năng lực để có thể hương đã cho
người dân
+ Do lương của cán bộ công nhân viên chưa tương xứng với năng lực và
hao phí lao động bỏ ra, Do vậy một bộ phận công chức có tỉnh thần traéh
nhiệm thấp, thếu nhiệt tình trong giải quyết công việc
+ Do chi phí cho việc giải quyết thủ tục hành chính cho các cơ quan hành
chính sự nghiệp còn quá thấp
+ Do qui định của pháp luật đôi khi còn quá cứng nhắc, nặng về cơ chế
“Xin Cho” không phù hợp với thực tế khách quan
Ví dụ : Việc thu hổi đất, giao đất không nên để Thủ Tướng Chính Phủ quyết định quá nhiều mà nên phân cấp cho UBND các Tỉnh, Thành trực
thuộc trung ương Chính phủ nên chỉ đạo về kế hoạch qui hoạch, chính
sách, kiểm tra và đình chỉ thu hồi đất đối với những công trình đầu tư xây
dựng phục vụ cho quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng Còn đối với
những dự án đầu tư xây dựng công trình sản xuất kinh doanh thì chỉ nên cho phép chuyển quyền sử dụng đất thông qua giao dịch dân sự (*)
Việc đến bù giải phóng mặt bằng là khâu then chốt trong xây dựng, thường chiếm đến 60% thời gian thực hiện đâu tư và có thể kéo dài từ 2 —- 3 năm không
chỉ do giá cả mà còn do các chính sách không phù hợp, đặc biệt là việc chuẩn bị
các khu tái định cư
Xét về mặt tổng thể những cái chung là như thế nhưng trong thực tế triển khai áp dung trong ngành xây dựng đối với các công ty, doanh nghiệp thí tất yếu
phải còn nhiều khó khăn mà tiềm năng của các công ty khó mà thưc hiện được
- Về việc cung cấp vật tư, trong xây dựng vật tư thường chiếm khoảng 60%
của chi phí xây dựng công trình, một công trìng để được gọi là chất lượng đảm
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Từ Phú Hưng
Trang 29Mơ hình quản lý chất lượng cơng trình xây dựng dân dụng và cơng nghiệp Trang 27
bảo thì yếu tố nguyên vật liệu ( cát, đá, ximăng, các chat phu gia )cần phải
được bảo đảm ngay từ đầu Ở đây cịn một vấn để cần quan tâm và nan giải cho
các nhà thầu xây dựng là tình hình trượt giá ngay tại thời điểm thi cơng, gây khĩ
khăn cho các cơng trình thi cơng và đặc biệt là các gĩi thầu “chìa khố trao tay”
làm cho các cơng ty và các nhà thâu phải điêu đứng và cĩ khi dẫn đến phá san
- Thời tiết cĩ tác động mạnh mẽ nhất cho tiến độ của cơng trình, thật là khĩ
khăn cho các cơng trình bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thời tiết (nắng nĩng mưa
nhiều ) thời tiết khơng ổn định gây tác động mạnh đến chất lượng cơng trình Do
cơng ty phải chạy theo tiến độ và yêu cầu của chủ đầu tư nên chất lượng cơng
trình khĩ lịng mà đảm bảo được Ngoại trừ những tác động thiên tai bất khả
kháng cịn ngược lại thì là những hậu quả khơng thể lường trước được
- Việc tiếp nhận thơng tin và phản hồi thơng tin trong trong các dự án xây
dựng thường là vấn để nan giải như trong các quan hệ sau:
đổi thiết kế, chỉnh sửa thiết kế
- Và những bất cập khơng thể lường trước được khi đang thi cơng
Từ những thực tế trên cho thấy ngành xây dựng phải đối phĩ với những vấn
để đầy khĩ khậ và bế tắt Để giải quyết được những vấn đề này thì địi hỏi cả
một cơng trình nghiên cứu, thu thập đữ liệu và lượng thời gian dài để xúc tiến
và giải quyết
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Từ Phú Hưng
Trang 30
Bên cạnh đó ta phải đi sâu ngay từ đầu, từ những mô hình nhỏ, những tổ chức công ty, xí nghiệp và luôn cả các ban ngành để xem đây là những điểm
cần phải giải quyết , do vậy chúng ta hãy đi sâu vào mô hình và cách thức giải
quyết vấn đề chất lượng tại công ty TNHH VINH- HIẾN
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Ti Pht Hung
Trang 31
uận văn tốt nghiệp Quản lý chất lượng công trình xây dựng
CHUONG III:
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VIỆC QUẢN LÍ
CHẤT LƯỢNG TẠI CÔNG TY
I GIGI THIBU VE CONG TY
H CƠ CÂU TỔ CHỨC-NGUỒN NHÂN LỰC
HI.MỤC TIÊU VÀ CHÍNH SÁCH CHẤT LƯỢNG
IV.MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
V TRÁCH NHIỆM TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHẤT LƯỢNG
Trang 32
CHƯƠNG III : GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VIỆC QUẢN LÍ CHẤT LƯỢNG
I GIGI THIEU VE CONG TY
Công ty TNHH tư vấn thiết kế và xây dựng VINH-HIỂN được thành lặp theo giấy phép số 2899GP/TLDN do UBND Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/12/1999,
Giấy phép kinh doanh số 073540 do Sớ Kế Hoạch va Đầu Tư Thành phố
Hồ Chí Minh cấp ngày 20/12/1999
Công ty TNHH tư vấn thiết kế và xây dựng VINH-HIẾN là một công ty đa
ngành hoạt động trong nhiều lĩnh vực :
- Tư vấn quản lý xây dựng
- Thiết kế và thi công các công trình xây dung
- Trang rtí nội thất
1 Chức Năng
a Xây dựng
- Kinh doanh phát triển nhà ở
- Thi công các công trình
+Xây dựng dân dụng và công nghiệp
+Trường học +Cu xa va chung cu +Nhà tư nhân
+Nhà lắp ghép
-Thi công trang trí nội thất
b.Tư vấn quản lý xây dựng
- Lập đự án đầu tư (Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi )
- Tư vấn đấu thầu
- Thẩm định dự toán — Dự toán công trình
- Lập tổng dự toán -Dự toán công trình
- Giám sát thi công
- Khảo sát thi công
2 Nhiệm vụ
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Tw Phú Hưng
Trang 33
Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp Trang 30
Phát triển mở rộng sản xuất, không ngừng cải tiến công nghệ, đầu tư máy
móc thiết bị hiện đại, nâng cao vị thế trên thị trường ngành xây dựng
Không ngừng đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng các yêu cầu về sản xuất và
kinh doanh
Không ngừng nâng cao đời sống vật chat va tinh thần của nhân viên
Tích cực tham gia công tác xã hội và môi trường
II CƠ CẤU TỔ CHỨC- NGUỒN NHÂN LỰC
Công ty TNHH tư vấn thiết kế và xây dựng VINH-HIẾN hiện có 12 nhân
viên có trình độ nghiệp vụ cao dưới sự điểu hành của Giám Đốc Từ Phú Hưng,
có các phòng ban sau:
- Phòng kế hoạch
- Phòng thiết kế
- Phòng tổ chức thi công
Các phòng ban đều được tạo lập mối quan hệ gắn kết với nhau trong hoạt
động cũng như trong sinh hoạt
1 Chiến lược kinh doanh
Sự cạnh tranh và thách thức trong ngành xây dựng luôn đòi hỏi các doanh
nghiệp phải đâu tư nâng cao năng lực sản xuất và không thể thiếu vấn để dim
bảo chất lượng, có thể nói đây là một qui trình đào thầy, đòi họi sự phấn đấu để
cạnh tranh trong hấu hết các hoạt dộng kinh doanh của bản thân các doanh
nghiệp Do vậy khi đi vào hoạt động thì Công ty TNHH tư vấn thiết kế và xây
dựng VINH-HIEN đã đưa ra chiến lược kinh doanh của mình như sau :
- Đầu tư và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm hướng tới mở
rộng thị trường
- Không ngừng nghiên cứu thiết kế mới tạo nhiều mẫu mã mới phù hợp theo
yêu cầu của khách hàng
- Kiểm soát chặt chẽ, không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng
2 Qui trình công nghệ
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường về chất lượng, kiểu dáng,
công ty không ngừng đầu tư trang thiết bị hiện đại, hiện tại công ty công ty đã có
những phân mêm để thực hiện và quần lý dự án một cách có hiệu qua:
- Phần mềm Autocad
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Từ Phú Hưng
Trang 34
Mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp Trang 31
- Phan mém Microsoft Project
- Phan mém Sap
- Phần mềm dự toán công trình
Đây là nỗ lực nhằm thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá nằm
trong chủ trương của Nhà Nuớc đến năm 2020
Do là doanh nghiệp tư nhân nên nguồn vốn đầu tư kinh doanh còn hạn chế,
vì thế công ty còn phải sử dụng nguồn vốn vay và vốn tích luỹ qua kinh doanh là
chủ yếu Ngoài một số thiết bị nhập từ nước ngoài về, công ty còn tập hợp một
số:Thạc sĩ, Kỹ sư và Kiến trúc sư nhiều năm kinh nghiệm đã được huấn luyện ở
nước ngoài cũng như đã kinh qua thực tế các công trình đầu tư trong và ngoài
nước, cùng với trang thiết bị máy móc hiện đại góp phân đáng kể trong chiến
lược kinh doanh của công ty, không ngừng nâng cao vị thế của công ty trên thị
trường ngành xây dựng Ngoài ra công ty cũng sẵn sàng hợp tác trong và ngoài
nước với mọi thành phần kinh tế trong lĩnh vực đầu tư, xây dựng và kinh doanh
II MỤC TIÊU VÀ CHÍNH SÁCH CHẤT LƯỢNG
Hoạt động của công tyTNHH tư vấn thiết kế và xây dựng VINH- HIEN căn
bản dựa trên việc thoả mãn mọi yêu cầu và ước muốn của khách hàng, bang
việc áp dụng các phương pháp quan lí chất lượng đồng bộ ( TQM) và cải tiến
liên tục không ngừng nâng cao tính tin cậy và chất lượng của các công trình, sao
cho: sản phẩm của công ty thật sự là niềm tự bào của các chủ đầu tư
Việc quần lí của công ty dựa trên nguyên tắc “Chỉ cung cấp những sản
phẩm đạt chất lượng đến tay khách hàng — chủ đầu tư ”
Do là công ty mới tham gia vào thị trường ngành xây dựng nên chưa thể
thiết lặp và xây dựng hệ thống quản lí chất lượng theo tiêu chuẩn ISO được
Nhưng nhìn chung công ty triển khai công việc trong mối liên hệ chặt chẽ với tất
cả các chức năng quản lí trong đó yếu tố con người được đặt lên hàng đầu, việc
xác định sự phù hợp của trang thiết bị với công trình và với các yêu cầu vế mức
độ đồng đều, được đánh giá trên cơ sở các luận chứng khách quan về chất lượng:
-Chỉ đưa vào thi công những nguyên vật liệu có chất lượng đạt tiêu chuẩn
theo qui định, qui chuẩn dé ra
-Chỉ thi công các công trình với điều kiện an toàn
-Chỉ nghiệm thu bàn giao những sản phẩm đã đươc kiểm tra, kiểm nghiệm
IV.MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY
1 Khách hàng chính và các yêu cầu chủ yếu
Khách hàng trong nước: là các công ty, tổ chức và các cá nhân
SVTH: Nguyễn Quang Ninh GVHD: Từ Phú Hưng