1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

517 Thực tiễn về việc vận dụng phương thức tín dụng chứng từ L - C & Nhữnh giải pháp nâng cao khả năng phòng tránh rủi ro trong thanh tóan Quốc tế tại Việt Nam 

86 679 4
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Tiễn Về Việc Vận Dụng Phương Thức Tín Dụng Chứng Từ L/C & Những Giải Pháp Nâng Cao Khả Năng Phòng Tránh Rủi Ro Trong Thanh Toán Quốc Tế Tại Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài Chính Quốc Tế
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 4,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

517 Thực tiễn về việc vận dụng phương thức tín dụng chứng từ L - C & Nhữnh giải pháp nâng cao khả năng phòng tránh rủi ro trong thanh tóan Quốc tế tại Việt Nam

Trang 1

CAO KHẢ NĂNG PHÒNG TRÁNH RỦI RO TRONG

THANH TOÁN QUỐC TẾ

Đề dẫn

Trang

CHƯƠNG I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ THANH TOÁN BẰNG L/C

1 Tín dụng thư thương mại (LC) <5 S BS keeteeeee 1

1.1 Định nghĩa tin dung thu (L/C) . -ccẶcSSSS‡ + eeeeee 1

1.2 Vai trò của việc thanh toán bằng l/C . - 1

2 cơ sở pháp lý để các bên áp dụng thanh toán bằng L/C 2

Trang 2

4 Các nội dung và các loại L/C cơ bản . -« «se ieseeeree 14

4.1 Các nội dung cơ bản của LC . « «+ Ss sen ng 14

4.2 Các loại L/C cơ bẩn -¿- - <2 +s +<ESEEEEEEE 111 xen re 19

LITD} huỷ ngang và không huỷ ngang . - - - «<< s<=<.e2 20

a) TDT có thể huỷ ngang . 5 se Skerrserrsrrrssres 20

b) TDT không thể huỷ ngang . - 55 5<c<<+xs+2 20

1.2 TDT miễn truy đồi .- s5 HH ưt 23

1.3 TDT chuyển nhựương và giáp lưng -«-«<«- 24

a) TDT chuyển nhượng cccccccsecrrree 24

b) TDT giáp lưng .- - - -<- chen 30

Trang 3

2.4 L/C xác nhận Ă + Ỳ ng hen kh kh 48

3 L/C và một số yêu cầu thường gặp trong bộ chứng từ thanh toán 51

4 Những vấn để cần quan tâm khi sử dụng L⁄C . - 53

CHUONG IIL:

NHUNG GIAI PHAP NANG CAO KHA NANG PHONG TRANH RUIRO

TRONG VIEC THANH TOAN BANG L/C

1 Những giải pháp phòng tránh rủi ro trong thanh toán

Trang 4

1 LOIDAN

Trong xu thế hội nhập toàn cầu, đất nước đang trong giai đoạn phát triển công

nghiệp hóa - hiện đại hóa Đặc biệt, đây là thời kỳ Việt Nam đang chuẩn bị hội nhập

vào WTO thì hoạt động kinh doanh XNK ngày càng trở nên sôi động mang lại nhiều lợi

ích và cơ hội cho các doanh nghiệp Tuy nhiên hoạt động kinh doanh XNK có tính rủi ro

cao Thực tế đã cho thấy không ít doanh nghiệp phải gánh chịu hậu quả nặng nề do

không hiểu rõ về các phươngthức thanh toán quốc tế và cách vận dụng chúng sao cho có

hiệu quả Bên cạnh đó phòng ngừa rủi ro cũng là vấn đề đáng lo ngại cho các doanh

nghiệp hiện nay Nhiều doanh nghiệp đã xuất hàng đi rồi nhưng không thu được tiền

hoặc doanh nghiệp đã chuyển tiền thanh toán hàng nhập khẩu nhưng hàng nhận được

không đảm bảo chất lượng Thậm chí không nhận được hàng Đây là bài toán khó mà

hầu hết các Doanh nghiệp đang tìm hiểu và giải quyết để đem lại một đáp án đúng nhất,

có hiệu quả và phù hợp thực trạng nền kinh tế hiện nay

Theo nghị định số 57/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/7/1998, điều 16 trang

13 trong văn bản chỉ tiết thi hành luật Thương Mại về hoạt động XNK quy định như

sau:

“ Nhà nước thống nhất quản lý Ngoại thương, có chính sách mở rộng giao lưu hàng

hoá với nước ngoài trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi đa

phương hoá, đa dạng hoá, khuyến khích các thành phần kinh tế sản xuất hàng xuất khẩu

theo quy định của Pháp luật; có chính sách ưu đãi để đẩy mạnh xuất khẩu, tạo các mặt

hàng xuất khẩu có sức cạnh tranh, tăng xuất khẩu dịch vụ thương mại; hạn chế những

mặt hàng nhập khẩu trong nước đã sản xuất được và có khả năng đáp ứng nhu cầu, bảo

hộ hợp lý sản xuất trong nước; ưu tiên nhập khẩu vật tư thiết bị công nghệ cao, kỹ thuật

hiện đại để phát triển sản xuất, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất

nước Chính phủ quy định các chính sách cụ thể về Ngoại thương trong từng thời kỳ và

chính sách đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia phát triển ngoại

thương “

Bên cạnh đó Chính phủ cũng có điểu khoản quy định trong sách Hệ thống văn bản Pháp luật Việt nam xuất bản năm 1998 theo chương 2 điều 16 trang 13 như sau:

“ Mục đích chính sách của kinh tế Nhà nước là làm cho Dân giàu nước mạnh, đáp

ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng

mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiểm năng của thành phần kinh tế : kinh tế Quốc

doanh, kinh tế tập thể , kinh tế cá thể, kinh tế Tư bản tư nhân và kinh tế tư bản Nhà

nước dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, mở rộng hợp tác

kinh tế, khoa học, kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới “

Trang 5

Nên kinh tế Việt Nam đang từng bước hội nhập với nên kinh tế khu vực và thế

giới, quan hệ mậu dịch giữa Việt Nam với các nước không ngừng tăng lên trong đó phải

kể đến những đóng góp không nhỏ của hệ thống Ngân hàng nước ta trong việc làm trung

gian thanh toán giữa các Doanh nghiệp trong và ngoài nước để cạnh tranh trong việc thu

hút khách hàng Ngày càng nhiều Ngân hàng đơn giản hóa thủ tục, hạ thấp tỉ lệ ký quỹ,

thậm chí Ngân hàng còn có thể chấp nhận những yêu cầu cuả khách hàng mà có ảnh

hưởng rủi ro về phía Ngân hàng, nhưng trường hợp này không chiếm tỉ lệ cao.Thế

nhưng Ngân hàng và Doanh nghiệp cần phải cân nhắc kỹ càng trong việc lựa chọn

phương thức thanh toán sao cho phù hợp với khả năng tài chính Doanh nghiệp và phù

hợp với cơ cấu ngành hàng XNK Sự lựa chọn đó phải dung hòa giữa lợi ích cũng như rủi

ro cả ba bên tham gia vào thương vụ: bên nhập, bên xuất và Ngân hàng

Trong cơ chế XNK hiện nay, số Doanh nghiệp kinh doanh XNK khá đông Con số

lên đến hàng trăm đơn vị bao gồm quốc doanh trung ương, liên doanh, hợp doanh Tất

cả những đều này thể hiện rằng công việc làm trung gian giữa các Ngân hàng phục vụ

cho vấn đề thanh toán ngày càng trở nên sôi động Trong đó ước tính có 90% sử dụng

phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C) trong giao dịch quốc tế

Việt Nam bước vào thị trường thế giới đa phân là mới lạ, trong điều kiện đó một

số công ty và Ngân hàng đã gặp không nhiều khó khăn việc thanh toán tiền cho bên đối

tác hoặc gặp rắc rối trong việc nhận hàng không đúng chất lượng có trường hợp bị thiệt

hại lên đến hàng triệu đôla điển hình là thương vụ nhập 10.000 tấn phân urê của công ty

Centrimex do công ty Helm của Đức cung cấp hàng Trong thực tế có nhiều người học

ngành XNK và đều biết nghiệp vụ thanh toán quốc tế Thế nhưng qua kinh nghiệm của

các thương vụ trước đây cho thấy rằng vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau cũng như tranh

chấp thương mại giữa bên mua và bên bán hoặc giữa Ngân hàng thông báo và Ngân

hàng phát hành xảy ra trong hoạt động kinh doanh XNK Qua nghiên cứu và tìm hiểu

thực tế nghiệp vụ thanh toán quốc tế cho ta nhận xét rằng, hầu hết các doanh nghiệp

đều sử dụng phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ (L/C) Đây là nghiệp vụ

được áp dụng phổ biến trong giao dịc h quốc tế Vì thế công việc đi sâu vào vấn để

nghiên cứu lĩnh vực L/C là rất cân thiết Dựa trên những cơ sở trên tôi quyết định chọn

đề tài :

* THỰC TIẾN VỀ VIỆC VẬN DỤNG PHƯƠNG THUC TIN DUNG CHUNG

TỪ L/C VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG PHÒNG TRÁNH RỦI RO

TẠI VIỆT NAM” để làm lận văn tốt nghiệp

Trong phạm vi bài viết này, tôi không đi sâu vào phân tích các phương thức thanh toán khác ngoại trừ phương thức thanh toán tín dụng chứng từ vì đây là phương thức

thanh toán được các doanh nghiệp trong và ngoài nước ưa chuộng mặc dù nó không

mang tính an toàn tuyệt đối nhưng nó đảm bảo quyền lợi cho các bên khi tham gia vào

hình thức thanh toán này Người bán đảm bảo thanh toán bằng tiền hàng nếu như xuất

trình bộ chứng từ hoàn chỉnh và hợp lệ Còn người mua cũng đảm bảo nhận được hàng

đúng theo quy định hợp đồng ngoại thương đã ký kết

Trang 6

thanh toán tín dụng chứng từ Đồng thời nghiên cứu những vấn đề thực tế phát sinh khi

vận dụng, trên cơ sở dó chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm, rủi ro và để xuất những giải pháp phòng chống rủi ro

Tuy nhiên vì thời gian có hạn nên để tài này không cho phép việc nghiên cứu tất cả các

tình huống cũng như tất cả các nội dung mà L/C yêu cầu một các hoàn mỹ được Nhưng thông qua khóa luận văn này chắc chắn sẽ phản ánh được phần nào về thực trạng áp

dụng phương thức thanh toán bằng L/C trong các doanh nghiệp hiện nay và việc đi sâu vào nghiên cứu L/C phần nào giúp chúng ta có sự nhìn nhận sâu rộng trong việc sử dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ

Ngoài ra thông qua để tài này, ít nhiều sẽ giúp ít cho các doanh nghiệp lẫn Ngân hang

hạn chế được phần nào sự rủi ro trong thanh toán và có thể lựa chọn hình thức thanh

toán phù hợp hơn trong những thương vụ tới

3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Để tài này được nghiên cứu trên sách, báo, tạp chí và thông qua các tình huống

thực tế đã xảy ra trước đây ở các doanh nghiệp Việt Nam

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Nghiên cứu dựa trên phương pháp thống kê và phương pháp khảo sát thực tế của

việc vận dụng phương thức tín dụng trong kinh doanh XNK của các doanh nghiệp trong thời gian qua

5 BO CUC NGHIEN CUU

Bố cục của luận văn này gồm 4 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về việc thanh toán bang L/C:

Chương II: Thực tiễn về việc vận dụng phương thức thanh toán chứng từ L/C tai Việt Nam và những rủi ro phát sinh trong quá trình vận dụng

Chương II: Những giải pháp nâng cao khả phòng tránh rủi ro trong việc thanh toán bằng L/C

Trang 7

1 THU TIN DUNG THUONG MAI (L/C)

Đây là một công cụ quan trọng của phương thức tín dụng chứng từ trong

thanh toán quốc tế

1.1 Định nghĩa thư tín dụng L/C ( letter of credit )

Thư tín dụng là một văn bản do một Ngân hàng phát hành theo yêu cầu của người nhập khẩu (người xin mở thư tín dụng), cam kết trả tiền cho người xuất

khẩu (người hưởng lợi) một số tiền nhất định trong một thời gian nhất định, với

điều kiện thực hiện đúng và đầy đủ những điều khoản quy định trong văn bản đó

Từ định nghĩa trên cho thấy:

e Thư tín dụng là một văn bản thể hiện sự cam kết Ngân hàng mở tín dụng đối với nhà xuất khẩu để thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo những điều

khoản thanh toán của hợp đồng mua bán ngoại thương,

e Thư tín dụng được soạn thảo dựa trên cơ sở hợp đồng mua bán ngoại thương đã được ký kết giữa người bán với người mua Nhưng thư tín dụng do Ngân hàng mở L/C cam kết là thư tín dụng hoàn toàn độc lập với

hợp đồng mua bán Tính độc lập đó thể hiện ở chỗ Ngân hàng mở thư tín dụng không cần biết đến hợp đồng mua bán mà chỉ căn cứ vào nội dung

của đơn xin mở L/C của nhà nhập khẩu để viết thư tín dụng

1.2 Vai trò của việc thanh toán bằng thư tín dụng L/C:

Thanh toấn bằng thư tín dụng chứng từ (L/C) là phương thức thanh toán cho phép bảo đảm được lợi ích và giảm thiểu những rủi ro cho bên mua và bên bán

trong buôn bán quốc tế Chính vì tiện ích đó mà ước tính trên quốc gia Việt Nam

có khoảng 90% số lượng các giao dịch thanh toán quốc tế là thông qua hình thức

tín dụng chứng từ (/heo tạp chí ngân hàng, số 5 năm 2001, tác giả Trần Quốc

Quýnh )

Nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ L/C được các Ngân hàng thương mại ngày càng mở rộng và phát triển Hiện nay, phương thức thanh toán này được

sử dụng phổ biến và rộng rãi trong buôn bán quốc tế vì nó đảm bảo chất lượng

thanh toán và tạo sự tín nhiệm trong giới kinh doanh Nó đảm bảo quyển và lợi

ích của hai phía:

Trang 8

- Người bán bảo đảm được thanh toán tiền hàng nếu xuất trình bộ chứng từ

hoàn chỉnh và phù hợp với yêu cầu của L/C mà họ nhận được, do Ngân hàng

mà người mua chỉ định mở

- - Người mua cũng an tâm hơn vì họ sẽ nhận được hàng đúng theo quy định hợp

đồng ngoại thương đã được ký kết

Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được xem là phương thức thanh

toán có nhiều thuận lợi so với các phương thức thanh toán quốc tế khác Tuy

nhiên việc vận dụng chúng vào thực tế không đơn giản, trước hết là vì nó có

nhiều biến thể, và việc vận dụng trong mỗi trường hợp cũng hết sức khác nhau

Qua nghiên cứu tìm hiểu thực tế nghiệp vụ thanh toán L⁄C của các Ngân

hàng thương mại cho thấy việc thực hiện nghiệp vụ thanh toán L/C đã mang lại

nguồn thu nhập đáng kể cho Ngân hàng Tuy vậy có một số ngân hàng do không

nắm vững các tình huống cụ thể trong quá trình thanh toán dẫn đến phải gánh

chịu những khoảng nợ khó đòi hoặc phải trả thay cho doanh nghiệp

Nghiệp vụ thanh toán bằng tín dụng chứng từ sẽ giúp các Doanh nghiệp tin

tưởng nhau hơn nhờ vào Ngân hàng làm chiếc cầu nối cho hoạt động giao thương

ngày càng tiến triển Trên cơ sở đó chúng ta có thể tránh được những rủi ro trong

thanh toán và tùy thuộc vào điều kiện kinh doanh của mình mà lựa chọn phương

thức giao dịch thích hợp hoặc phối hợp lựa chọn nhiều phương thức giao dịch

cùng lúc

2 NHỮNG CƠ SỞ PHÁP LÝ MÀ CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG

THUONG MAI QUOC TE CAN NĂM VỮNG KHI ÁP DỤNG THANH

TOÁN BẰNG L/C

Thư tín dụng là cơ sở pháp lý chính của việc thanh toán và nó có liên quan đến các bên tham gia vào phương thức thanh toán tín dụng chứng từ như nhà NK,

nhà XK, Ngân hàng chiết khấu

2.1 Hợp đồng thương mại quốc tế là cơ sở pháp lý quan trọng để các bên mua và

bán tiến hành việc áp dụng thanh toán bằng L/C Căn cứ vào nghĩa vụ được quy

định trong hợp đồng thương mại người mua đề nghị ngân hàng của mình mở một

L/C cho người bán thụ hưởng, những nội dung của L/C phải phù hợp với caé điều

khoản của hợp đồng mua bán và phù hợp với quy tắc thực hành thống nhất tín

dụng chứng từ UCP 500 Người bán được quyển để nghị người mua của mình tu

chỉnh L/C nếu như qui định trong L/C đó không phù hợp với hợp đồng mua bán

trong trường hợp này chi phí tu chỉnh do người mua chịu Trong trường hợp L/C

đã mở đã phù hợp với hợp đồng mua bán nhưng vì lý do nào đó người bán đề nghị

tu chỉnh hợp đồng và L/C thì chi phí đó do người bán chịu

Trang 9

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ VĂN BẢY

2.2 Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ ( uniform customs

and practice for documentary credit ) , đây là những quy định được soạn thảo bởi

phòng Thương Mại Quốc Tế ( Paris) và nó được coi là luật quốc tế về Ngân hàng

trong giao dịch tín dụng chứng từ và được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới,

quy tắc UCP 500 này còn là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để các bên thực hiện

tác nghiệp thanh toán quốc tế bằng L/C , nếu đã chấp nhận tín dụng thư mở theo

quy tắc 500 thì các bên có liên quan: người mở, người hưởng, ngân hàng phát

hành, ngân hàng thông báo, ngân hàng xác nhận ( nếu có), ngân hàng chiết

khấu đều căn cứ vào quy tắc 500 để thực hiện quyển lợi và nghĩa vụ của

mình Quy tắc 500 cũng mở ra một cách thức riêng mà các bên liên quan (chủ

yếu là người yêu cầu mở L/C và bên thụ hưởng ) không muốn quá ràng buộc vào

tất cả các điều khoản của quy tắc 500 “ trừ khi tín dụng thư có quy định khác”, có

nghĩa là tín dụng thư có thể nói rõ không áp dụng một hoặc vài điểu khoản nào

đó của quy tắc 500 Do vậy, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải nắm được ý

nghĩa quan trọng để khi ký kết hợp đồng, nhất là khi thương lượng về điều kiện

thanh toán, vận dụng linh hoạt UCP 500 nhằm bảo đảm an toàn cho mình

3 QUY TRÌNH CƠ BẢN CỦA NGHIỆP VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ

BANG L/C VÀ QUYEN LOI, NGHIA VU CUA CAC BEN TRONG QUA

TRINH THANH TOAN

3.1 Quy trình cơ bản của nghiệp vụ thanh toán quéc té bang L/C

Trang 10

thêm bản sao hạn ngạch nhập khẩu ( đối với hàng hoá không cần có quota

), điều này nhằm tránh tổn thất cho ngân hàng

Issuing bank phat hanh thu tin dụng và cam kết sẽ thanh toán cho nhà nhập

khẩu nếu họ thực hiện đúng chứng từ và Issuing bank gửi L/C đến Ngân

hàng thông báo

Advising bank chuyển L/C đến người XK và tại đây nhà XK xem kỹ L/C

để đảm bảo cho việc thực hiện tốt L/C Sau khi xem xét L/C nếu thấy L/C

có những quy định khác với những thoả thuận trong hợp đồng mua bán thì người bán sẽ để nghị người mua thông báo cho ngân hàng của họ bằng văn bản để tu chỉnh L/C , văn bản tu chỉnh L/C cũng đi theo các giai đoạn như khi mở L/C

Nha XK giao hang cho Nha NK

Nhà XK gửi bộ chứng từ đến Advising Bank để yêu cầu thanh toán Ngân hàng sẽ xem xét tính hợp lệ của bộ chứng từ Nếu có vấn để gì thì Ngân hàng sẽ gửi lại cho nhà XK để chỉnh sửa Nếu bộ chứng từ hợp lệ thì

Advising Bank gửi đến cho Issuing bank

Issuing bank xem xét tính hợp lệ của bộ chứng từ, nếu Ngân hàng thấy L/C

không hợp lệ se gửi lại Advising bank Còn nếu hợp lệ thì Ngân hàng Nhà

XK sẽ thanh toán tiền theo quy định

Advising bank gửi giấy báo có cho nhà XK

Issuising Bank gửi bộ chứng từ cho nhà NK và yêu cầu nhà NK thanh toán

tiền cho Ngân hàng

Nếu nhà NK thấy bộ chứng từ có sai sót thì họ có quyền từ chối thanh toán

vì lỗi của Issuing bank

Trang 11

9 Nếu nhà NK chấp nhận thanh toán thì họ sẽ đến Ngân hàng của mình để

đóng đủ số tiền mà họ phải trả cho người bán để nhận bộ chứng từ ( trong trường hợp ký quỹ không đủ 100% trị giá L/C thì đóng du tiền va xin ký

hậu B/T) , nếu đã đóng đủ tiền ký quy thì chấp nhận để ngân hàng mở L/C tháo khoán số tiền trên

3.1.1 Quan hệ thanh toán giữa nhà nhập khẩu và Ngân hàng phát hành nói

chung và đặc biệt là ở Việt Nam _

_ Khi hợp đồng mua bán ký kết theo phương thức thanh toán L/C thì người

mua phải đến ngân hàng của mình để làm thủ tục xin mở L/C Tùy theo mối quan

hệ giữa Ngân hàng phát hành và nhà NK và loại hàng nhập khẩu mà mức ký quy

mở L⁄C khác nhau Về nguyên tắc người xin mở L/C phải đặt cọc phải đủ tiền tại

Ngân hàng theo trị giá L/C để tránh rủi ro cho Ngân hàng, nếu khi người mua

không muốn nhận hàng thì Ngân hàng sẽ sử dụng số tiền đó trả cho người thụ hưởng L/C Tuy nhiên trong thực tiễn thì ở một số nước các ngân hàng không đòi hồi phải đặt cọc 100% trị giá L/C điển hình như ở Việt Nam, Hàn Quốc và một số

nước khác Điều này không có nghĩa là Ngân hàng chịu rủi ro trong thanh toán,

vì khi đó trong L⁄/C ngân hàng sẽ quy định người nhận hàng ghi trong trong mục

consignee ở trong B/L là theo lệnh của ngân hàng, trong trường hợp xấu nhất nếu

người mua không muốn nhận hàng thì với tư cách là chủ hàng được quy định trên

B/L và với số tiễn do người mua đặt cọc thì ngân hàng có thể phát mãi số hàng

trên mà không bị tổn thất về mặt tài chính Trong trường hợp khi người mua đã

ký quỹ đủ 100% thì ngân hàng sẽ mở L/C trong d6 quy dinh rang consignee trong

B/L là người mua hoặc người do người mua chỉ định, L/C cũng có thể nói rõ 2/3 B/L gốc được gửi thẳng cho người mua và 1/3 B/L gốc gửi thẳng cho ngân hàng

để thực hiện nghiệp vụ thanh toán Trong thực tế tùy theo mối quan hệ giữa

khách hàng với ngân hàng, đặc biệt là uy tín trên thương trường mà mức ký quỹ

khác nhau, có những Doanh nghiệp khi mở L/C lại không cần đặt cọc vì thực tế

họ có đơn vị đứng ra bảo lãnh

Ví dụ: một công ty lớn có quy mô kinh doanh tầm cỡ trên thị trường thỏa thuận và ký hợp đồng với Ngân hàng về hạn mức cho vay tín chấp thì các chỉ nhánh nhỏ trực thuộc công ty này không cần phải ký quỹ khi mở L/C tại ngân

hàng nói trên trong hạn mức mà ban giám đốc Công ty đã chấp nhận và thông báo cho phía ngân hàng biết

Trong thực tế xảy ra nhiều trường hợp ngân hàng giúp vốn cho nhà nhập khẩu theo hợp đồng tín dụng nhập khẩu Khi bộ chứng từ về đến ngân hàng thì

ngân hàng thì ngân hàng sẽ tiến hành kiểm tra chứng từ và thanh toán cho người

bán số tiễn tài trợ nhập khẩu sẽ là phần chênh lệch giữa số tiền đã thanh toán cho

người bán va sé tién mà người mua đã đặt cọc để mở I/C Ngân hành sẽ tiến

Trang 12

hành giám sát việc nhận hàng và yêu cầu đưa hàng vào kho do ngân hàng chỉ

định Nếu là kho do người mua hàng thuê thì trong hợp đồng thuê kho bao giờ

cũng có điều khoản quy định chủ kho chỉ xuất hàng khi có lệnh của ngân hàng

Để lấy được hàng người nhập khẩu phải đóng tiền vào ngân hàng tương đương

với giá trị của lô hàng xuất ra và xin lệnh xuất kho của ngân hàng, số tién đặt cọc

sẽ được thanh toán khi xuất lô hàng cuối cùng , mọi chí phí lưu hàng hoặc những

chỉ phí khác đo người mua chịu Cũng có khi ngân hàng phải tài trợ “bắt buộc”

Đó là khi bộ chứng từ đã về ngân hàng nhưng người mua không đủ tiền đóng để

tháo khoán mặc dù bộ chứng từ hoàn toàn hợp lệ và thời hạn 7 ngày để kiểm tra

chứng từ đã hết Để đảm bảo uy tín của mình ngân hàng miễn cưỡng phải tài trợ

bắt buộc và tiến hành thanh toán cho người bán Trong khi đó người nhập kkẩu

lại không hể kí hợp đồng tài trợ tín dụng nhập khẩu tại ngân hàng điều này gây

khó khăn về mặt cân đối nhu cầu ngoại tệ và vốn của ngân hàng tuy nhiên người

nhập khẩu sẽ bị mất uy tín với ngân hàng và họ sẽ gặp nhưng khó khăn trong các

giao dịch vé sau Phương thức quản chấp lô hàng trong tình huống này cũng

tương tự như đã nói ở trên

Để đảm bảo an toàn cho mình thì ngân hàng phải kiểm soát thật kỹ lô hàng đang

quản chấp để tránh tình trạng người mua thông đồng với chủ kho hàng xuất hàng

ra mà không có lệnh của ngân hàng, trường hợp EPCO ,Minh Phụng là những ví

thành xong nghĩa vụ giao hàng, còn bên NK muốn mau nhận được chứng từ để sở

hữu lô hàng theo hợp đồng đã ký kết thì việc thiết lập mối quan hệ với các Ngân

hàng thanh toán ở nước ngoài là điều rất quan trọng và rất cần thiết Nếu ngân

hàng người bán và ngân hàng người mua có mối quan hệ tài khoản với nhau thì

sẽ thuận lợi hơn và ít tốn kém thời gian cũng như chỉ phí lưu chuyển chứng từ Từ

đó công việc thanh toán sẽ có hiệu quả tốt hơn Cụ thể là sau khi xuất khẩu

hàng hoá thì người xuất khẩu sẽ xuất trình bộ chứng từ tại ngân hàng của mình

sau đó ngân hàng người xuất khẩu sẽ chuyển chứng từ đến ngân hàng nhà nhập

khẩu, ngân hàng nhà nhập khẩu tiến hành kiểm tra bộ chứng từ và sẽ thanh toán

cho người bán bằng cách ghi có vào tài khoản của ngân hàng người bán và điện

báo cho ngân hàng này biết để trả tiên cho người bán, như vậy mặc dù không có

quy định trong L/C nhưng người bán gần như được thanh toán theo phương thức

L/C at sight with TTR

Trang 13

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ VĂN BẢY

Nếu Ngân hàng bên XK không có tài khoản ngoại tệ tại Ngân hàng mở thì

thời gian của việc thanh toán sẽ chậm hơn Ngân hàng bên XK điện đòi tiền

Ngân hàng mở L/C bằng cách chỉ thị cho họ ghi có vào tài khoản cuả mình tại

một Ngân hàng nào đó mà cả hai bên đều có tài khoản ;

Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ của các Ngân hàng trong việc thanh toán |

trước hết chúng ta phải hiểu hoạt động của các tài khoản Nostro va Loro vi chung

được sử dụng hầu hết trong phương thức chuyển tiển quốc tế, việc chuyển tiền

thật sự của các Ngân hàng trong nước được thực hiện bằng cách liên hệ với một

Ngân hàng đại lý thuận tiện ở nước ngoài

> Tài khoản Loro : xét trên quan điểm Ngân hàng Việt Nam, tài khoản Loro |

là tài khoản đồng Việt Nam của một Ngân hàng nước ngoài mở tài khoản

tại một Ngân hàng Việt Nam |

Ví dụ: American bank mở tài khoản VND tại Vietcom bank thì đây là tài

khoản Loro của Vietcom bank

> Tài khoản Nostro : xét trên quan điểm cuả một Ngân hàng, tài khoản

Nostro là tài khoản ngoại tệ được mở dưới tên của Ngân hàng đó trong sổ sách của Ngân hàng nước ngoài

Ví dụ: Vietcom bank có tài khoản bằng dola Mỹ tại American bank thì đây

là tài khoản Nostro của Vietcom bank

Trong thanh toán quốc tế không phải bất cứ lúc nào Ngân hàng cũng thực |

hiện nghiệp vụ chuyển tiển mặt mà thực tế là ghi nợ và ghi có trong tài khoản đối

ứng với nhau, để giải quyết được vấn để này tôi xin để cập đến các mối quan hệ

của các Ngân hàng có tài khoản đối ứng và không có tài khoản đối ứng

Trang 14

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ VĂN BẢY

® Mối quan hệ giữa các Ngân hàng có tài khoản đối ứng :

Barclays bank Landes bank Quy ước thanh toán London

Barclays bank Landes bank

Tài khỏan Nostro

Theo sơ đồ trên thì Ngân hàng Landes bank có tài khoản tại Ngân hàng

Barclays bank, điều này cho thấy rằng Ngân hàng Landes bank muốn thanh toán

tiền cho Barclays bank sau khi đã kiểm tra tính chân thật của bộ chứng từ thì Landes bank chi cần ghi có vào tài khoản Barclays bank DM London DM ở tại

Ngân hàng Landes bank, lúc này Barclays bank sẽ nhận được số dư tăng lên

trong tài khoản cuả mình

Trong trường hơp Ngân hàng người bán và Ngân hàng người mua không có

tài khoản đối ứng thì quy trình thanh toán chuyển tiền như sau:

Trang 15

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ VĂN BẢY

er Mối quan hệ cuả các Ngân hàng không có tài khoản đối ting:

Quy ước thanh toán

DM London DM HKS London HKS

Hangseng bank Hong kong

Giải thích quy trình:

Nếu Ngân hàng XK không có tài khoản tại Ngân hàng mở, để đảm bảo cho việc thanh toán an toàn và dễ đàng thì hai bên xuất khẩu và nhập khẩu cùng

thương lượng và thông báo cho nhau biết về những Ngân hàng mà họ có tài

khoản và dựa trên cơ sơ đó để chỉ định ra một Ngân hàng trong tín dụng thư

Theo sơ đồ trên thì cả hai Ngân hàng Landes bank và Hanseng bank Ltd Hong kong đều có tài khoản tại Barclays bank, nếu Landes bank đóng vai trò là

Ngân hàng phục vụ người XK thì Landes bank sẽ xuất trình chứng từ tại Barclays

bank London, sau khi Barclays bank kiém tra bộ chứng từ nếu thấy phù hợp thì

họ sẽ thông báo cho Hangseng bankLtd, lúc này Hanseng bank sẽ yêu cầu

Barclays bank ghi nợ vào tài khoản của mình và ghi có vào tài khoản Landes

bank, quy trình này sẽ đi ngược lại nếu Hangseng bank đóng vai trò là nhà NK

& Dé cé thé lua chọn đúng Ngân hàng cần giao dịch và có thể thông báo được

những thông tin cần thiết, Ngân hàng cần phải có một danh bạ các Ngân hàng

có quan hệ giao dịch với nhau, danh bạ này bao gồm :

Trang 16

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ VĂN BẢY

* Ký hiệu chính xác của từng Ngân hàng với với dia chỉ bưu điện qua

telexfax, telex và điện thoại

+

“* Mối quan hệ tài khoản Loro và đơn vị ngoại tệ của tài khoản

s* Mã Swift ( mục đích hoạt động swift là hệ thống truyền tin điện tử của

các Ngân hàng là chuyển những thông tin thanh toán, với hệ thống này thông tin được chuyển tiếp nhanh chóng trong ngày, đảm bảo an toàn cho việc chuyển tin thông qua việc mã hoá thông tin ( xin xem thêm chỉ tiết ở

phân phụ lục )

3.2 Quyền lợi, nghĩa vụ và những tác nghiệp chính của các bên tham gia

trong phương thức thanh toán L/C

Người nhập khẩu:

e Nhiệm vụ của người nhập khẩu:

- Làm đơn và nộp đủ hồ sơ cộng với việc thực hiện ký quỹ theo yêu cầu của Ngân hàng để Ngân hàng tiến hành thủ tục mở L/C cho người hưởng lợi

- Phối hợp cùng với Ngân hàng kiểm tra tính hợp lệ của bộc chứng từ

- Thanh toán đầy đủ các lệ phí dịch vụ Ngân hàng như chi phí tu chỉnh L/C,

chi phí kiểm tra bộ chứng từ, chi phí phát hành L/C

e Quyên lợi:

- Quyền từ chối thanh toán nếu bộ chứng từ bất hợp lệ

- Quyền chấp nhận thanh toán nếu bộ chứng từ hợp lệ

- Quyền được nhận hàng hoặc chỉ định người thay thế nhận hàng sau khi họ

đã thanh toán tiển thu cho Ngân hàng

= Issuing Bank:

e Nhiém vu:

- Yéu cau ngudi mua nép di hé so trong đó có đơn xin mở L/C cộng với việc

yêu cầu nhà NK ký quỹ để đảm bảo thanh toán tín dụng cho Ngân hàng

- _ Phát hành 01 L/C theo nội dung của đơn xin mở L/C (do nhà NK lập)

- _ Thực hiện tu chỉnh L/C khi có yêu cầu

- _ Kiểm tra tính hợp lệ của bộ chừng từ

- _ Thanh toán tiển cho người hưởng lợi hoặc chấp nhận thanh toán tiền (đối với

L/C trả chậm) nếu bộ chứng từ hợp lệ

Trang 17

Quyển từ chối thanh toán cho người hưởng lợi nếu bộ chứng từ bất hợp lệ

Quyền được nhận hàng sau khi Ngân hàng đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán

tiền nếu người mua không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán

Advising Bank (Ngan hang thing bao) Nhiém vu:

Chuyển L/C bản gốc đến người hưởng lợi

Kiểm tra ban đầu tính hợp lệ của chứng từ và đưa ra các khuyến cáo về lỗi

bất hợp lệ và để nghị người XK tu chỉnh chứng từ Ở Việt Nam Ngân hàng luôn là người tư vấn đối với vấn đề này, song ở các nước khác các Ngân hàng đều cho rằng người xuất khẩu phải tự mình lo liệu lấy tính phù hợp của bộ

chứng từ

Kịp thời chuyển bộ chứng từ đến Ngân hàng phát hành

Quyên lợi:

Quyền được hưởng phí dịch vụ Ngân hàng

Quyền thanh toán tiên cho Người NK (Khi được ủy quyền thanh toán) Benificary (Người hưởng lợi) :

Nhiém vụ:

Kiểm tra L/C bản gốc và đánh giá khả năng thực hiện được những nội dung

của L/C yêu cầu

Quyền từ chối giao hàng nếu như nội dung của IL/C khác nội dung của hợp

đồng ngoại thương đã thỏa thuận giữa người bán và người muavà người bán

đã đề nghị tu chỉnh nhưng không được đáp ứng

Quyển được nhận tiển hoặc được chỉ định người thay thế nhận tiền sau khi

người bán đã lập bộ chứng từ hoàn chỉnh

Trang 18

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ VĂN BẢY

Ngoài ra còn có những Ngân hàng tham gia vào quá trình thanh toán L/C này như Ngân hàng xác nhận, Ngân hàng chuyển nhượng ,quyển lợi và

nghĩa vụ của họ sẽ được trình bày chỉ tiết ở chương 2

3.2.1 Những công việc nhà NK cần làm để tổ chức thanh toán bằng phương

thức L/C:

Nếu trong hợp đồng ngoại thương quy định rõ sử dụng phương thức thanh toán tín

dụng chứng từ L/C thì người NK thực hiện những công việc sau :

- _ Đến Ngân hàng làm thủ tục mở L/C bao gồm nộp đủ các hồ sơ và ký quỹ.Sau

khi nhận được bản photo của L/C thì nhà nhập khẩu kiểm tra xem có phù hợp

với yêu cầu mở L/C của mình không, nếu không thì phải để nghị tu chỉnh cho

phù hợp

- _ Gửi thông báo đến cho người XK về việc L/C đã mở và đề nghị họ giao hàng

đúng thời gian quy định

- _ Phối hợp với Ngân hàng phát hành kiểm tra tính hợp lệ của bộ chứng từ xuất

khẩu của người bán

- Thanh toán tiền với Ngân hàng để lấy bộ chứng từ gốc và mang nó đến xác

nhận với các đơn vị vận tải để làm thủ tục nhận hàng

- Lam thủ tục hải quan và thực hiện giám định chất lượng hàng (với những hàng

NK có nhu cầu giám định) 3.2.2 Những công việc nhà XK cần làm khi quy định thanh toán bằng L/C:

- _ Nhắc nhở người mua làm thủ tục mở L⁄/C đúng thời hạn quy định

- Tiếp nhận L/C và kiểm tra nội dung của L/C Thận trọng so sánh với hợp

đồng ngoại thương đã thỏa thuận, tự đánh giá khả năng thực hiện những nội dung của I/C quy định nếu điều khoản nào không thực hiện được thì phải kiên quyết tu chỉnh L/C

e© Tu chỉnh L/C

Khi người bán và người mua thống nhất tu chỉnh L/C thì người mua sé dé

nghị Ngân hàng của mình tiến hành tu chỉnh.Tu chỉnh là việc là Ngân hàng sẽ

thay đổi, hủy bỏ hoặc bổ sung một số nội dung của L/C gốc đã phát hành Khi đó

trong tu chỉnh L/C sẽ có dòng chữ như là: ¡n field 47A pls insert a new clause sl

No 9: a clean report of fingding (CFR) is to be issue by inspectorate griftfith (

CRF) hay 1a in field 44D now to read tuy nhiên có những trường hop L/C

được mở ghi sai do lỗi chính tả ví dụ như tên người hưởng lợi thì không phải bao

giờ người hưởng lợi cũng yêu cầu tu chỉnh 1L/C vì rất mất thời gian mà thời hạn

giao hàng lại gần đến, hàng hoá đã chuẩn bị xong nếu không giao ngay sẽ tốn phí

Trang 19

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ VĂN BẢY

lưu kho hoặc lưu hàng, cần lưu ý người bán phải nắm rõ những sai sót này để lập

chứng từ phù hợp với nội dung của L/C, ví dụ tên nhà xuất khẩu là công ty XNK

mỹ nghệ Thăng Long mà trong L/C lại ghi “ công ty XNK mỹ nghệ Tăng Long “

thì người bán cần phải lập bộ chứng từ theo nội dung của L/C đã quy định là tên

công ty XNK mỹ nghệ Tăng Long Nếu L/C cần phải tu chỉnh thì việc tu chỉnh

này phải thực hiện theo nguyên tắc sau:

s* L/C muốn được tu chỉnh phải có sự chấp thuận bằng văn bản của các

bên có liên quan với nhau

» Việc tu chỉnh chỉ được thực hiện trong thời hạn có hiệu lực của L/C

Ai đề nghị tu chỉnh thì người đó phải chỉ trả phí tu chỉnh L/C

s* Nếu L/C không mang tính hủy ngang thì văn bản tu chỉnh cũng mang

tính chất không hủy ngang

s% Việc tu chỉnh L/C được thực hiện thông qua Ngân hàng mở L/C, những

điểu khoản trong L/C gốc sẽ được thay thế bởi các điều khoản đã được

nêu trong tu chỉnh

s* Giao hàng theo đúng quy định của L/C và các văn bản tu chỉnh

* Lập bộ chứng từ theo đúng quy định của L/C và các văn bản tu chỉnh để

xuất trình cho Ngân hàng đúng thời hạn quy định

4 NHUNG NOI DUNG CO BAN TRONG L/C VA CAC LOAILIC

4.1 Những nội dung cơ bản trong L/C

1 Ngân hàng phát hành L/C› ( ghi sau chữ FM Ór received from )

Đây là nội dung quan trọng đối với người hưởng lợi L/C vì tính an toàn trong thanh toán phụ thuộc vào uy tín của Ngân hàng phát hành

Người phát hành nên thoả thuận trước với người mua về Ngân hàng phát hành

ngay từ khâu ký hợp đồng đó phải là Ngân hàng có uy tin tai nudc NK

2 Số hiệu, địa điển, ngày mở L/C

%* Số ký hiệu L/C: Tất cả các L/C đều phải có số hiệu riêng của nó Tác

dụng số hiệu của L/C còn được dùng để ghi vào các chứng từ có liên quan trong bộ chứng từ thanh toán L/C

“ Dia điểm mở L/C: Là nơi mà Ngân hàngphát hành L/C cam kết trả tiền cho người XK Địa điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc chọn luật

áp dụng khi xảy ra tranh chấp nếu có xung đột pháp luật

Trang 20

* Ngày mở L/C: Là ngày bắt đầu phát sinh sự cam kết của Ngân hàng mở

L/C đối với người xuất khẩu

3 Loai thu tin dung: (form of document credit)

Là một nội dung quan trong cua L/C vi mỗi loại L/C có tính chất, nội dung

khác nhau, quyển và nghĩa vụ của những người có liên quan đến L/C cũng rất

khác nhau

4 Newoi hudng loi L/C: (Benificary or in favour of )

Người hưởng lợi L/C là người sẽ lĩnh tiền của 1L⁄C Nội dung này cần phải

được kiểm tra kỹ về tên, dia chi cilia ngưởi hưởng lợi, nếu thấy sai thì cần để nghị

chỉnh sửa

5 Số tiền cuả thư tín dụng: (Amount)

Số tiền cuả thư tín dụng là nội dung rất quan trọng Vì vậy việc quy định nó

trong L/C rất chặt chẽ Số tiền của thư tín dụng vừa được ghi bằng chữ và số thống nhất với nhau Không thể chấp nhận một L/C có số tiền bằng số và bằng chữ mâu thuẫn nhau

s* Tên của don vi tién tệ phải rõ ràng vì cùng một tên gọi là đôla nhưng trên

thế giới có nhiều loại đôla khác nhau như đôla Mỹ, đôla Úc HH

s* Không nên ghi số tiền dưới dạng một số tuyệt đối như USD 1.000.000.00

vì như thế người XK khó có thể giao hàng có giá trị hoàn toàn đúng như

L/C quy định Cách ghi số tiền tốt nhất là ghi một số giới hạn mà người XK

có thể đạt được dù hàng giao có tính chất nguyên hay hàng rời Ví dụ ta ghi “for a sum or sum not exceding a total of USD 1.000.000.00 ” hoặc có

thể ghi một giới hạn chênh lệch hơn kém” more or less 5%”

s* Ngoài ra, điều khoản 39 (b) UCP-500 phiên bản 1993 còn quy dinh “tri khi L/C quy định không được giao hàng nhiều hơn hay ít hơn số lượng hàng

quy định thì một dung sai 5% hơn kém có thể được chấp, nhưng tổng giá tiền được trả không vượt quá số tiền của L/C Dung sai này không áp dụng

khi số lượng L/C quy định được tính bằng đơn vị bao kiện hoặc chiếc”

6 Thời gian hiệu lực, thời hạn trả tiền, và thời hạn giao hàng -

Thời hạn hiệu lực: Là thời hạn mà Ngân hàng mở L/C cam kết tra tién cho nhà XK nếu là nhà XK xuất trình bộ chứng từ trong thời hạn quy định và phù hợp với những điều kiện quy định trong L/C Thời hạn hiệu lực L/C tính từ ngày mở

L/C đến ngày hết lực của L/C, trong thực tế Ngân hàng mở sẽ nói rõ thời điểm hết hạn xuất trình chứng từ và sẽ có lợi hơn nếu địa điểm xuất trình chứng từ tại

ngân hàng thông báo

Trang 21

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ VĂN BẢY

Thời hạn hiệu lực của L/C kéo dài quá thì người NK bị tổn động vốn, người

XK có lợi vì thời gian rộng rãi hơn cho việc lập và trình chứng từ thanh toán

Ngược lại, thời hạn hiệu lực của L/C quá ngắn thì một mặt tránh ứ động vốn cho

người NK, nhưng mặt khác lại gây khó khăn cho người XK trong việc lập và trình chứng từ thanh toán Vì vậy, khi thương lượng ký hợp đồng hai bên không nên bố trí thời gian quá eo hẹp hoặc quá kéo dài

s%% Đối với người xuất khẩu cần phải nắm vững các nguyên tắc sau :

Khoản thời gian giữa ngày mở L/C và ngày giao hàng chậm nhất được quy

định trong L/C phải hợp lý nghĩa là khoản thới gian đủ để chuyển L⁄/C từ Ngân hàng phát hành tới người bán và khoản thời gian đủ để người bán chuẩn bị háng hoá Khoản thời gian từ lúc giao hàng tới thời điểm hết hiệu lực của L/C cũng phải thích hợp để người bán đủ thời gian lập bộ chứng từ thanh toán và chuyển tới Ngân hàng người mua thông qua Ngân hàng thông báo hoặc Ngân hàng thương lượng nào đó Thông thường ngày hết hiệu lực của L/C phải sau ngày giao hàng

là 21 ngày bao gồm số ngày lập bộ chứng từ thanh toán, số ngày lưu giữ bộ chứng

từ tại Ngân hàng thông báo, số ngày vận chuyển chứng từ đến Ngân hàng mở

LIC

“ Thdéi gian tra tiền của L/C: (date of payment)

Thời gian trả tiền của L/C chỉ việc trả tién ngay hay tra tién sau Diéu nay

hoàn toàn phụ thuộc vào quy định của hợp đồng và L⁄C Néu 1a L/C at sight thi

thời hạn trả tiễn ngay kể từ lúc nhận được hối phiếu, nếu là L/C trả chậm thì ngày thanh toán sẽ là số ngày được xác định trên hối phiếu Thời hạn trả tiền có thể nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C nếu như trả tiển ngay hoặc có thể nằm ngoài

hiệu lực của L/C nếu như trả tiển có kỳ hạn Song có điều quan trọng là những hối phiếu có kỳ hạn phải được xuất trình để được chấp nhận trong thời hạn hiệu lực của L/C Mặc dù L/C được quy định là trả tiền ngay nhưng thực tế là khi

Ngân hàng phát hành nhận được bộ chứng từ yêu cầu thanh toán thì họ sẽ thông

báo cho người mua trong vòng 7 ngày làm việc để người mua xem xét chứng từ

và thanh toán Như vậy khái niệm L/C at sight chỉ có ý nghĩa là thanh toán ngay

trong khoản thời gian hợp lý mà UCP 500 đã quy định

“¢ Thoi han giao hang (date of delivery):

Thời hạn giao hàng được xdc dinh trong L/C là do hợp đồng mua bán quy định, thời hạn giao hàng có quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C Nếu

vì lý do nào đó, hai bên thỏa thuận phải kéo dài thời hạn giao hàng thêm bao nhiêu ngày thì người mua phải yêu cầu ngân hang tu chỉnh L/C kéo dài thời hạn

hiệu lực của L/C thêm bấy nhiêu ngày (nếu người bán thấy cần thiết)

Trang 22

7 Nhiing noi dung vé hang héa(desription of goods):

Tên hàng hóa, số lượng, trọng lượng, giá cả, quy cách, phẩm chất, bao bì, ký

mã hiệu cũng được ghi vào L/C một cách ngắn gọn, day di, phù hợp với hợp

đồng ngoại thương

8 Những nội dung về vận tải, giao nhận hàng hóa:

Thông thường nơi xếp hàng và nơi đỡ hàng, phương thức vận chuyển ( đường biển đường hàng không hoặc đường bộ, được chuyển tải hay không chuyển

tải, được hay không được phép giao hàng từng phần đều có quy định rõ trong

L/C)

* Luuy: Người XK căn cứ vào khả năng thuê phương tiện vận tải của mình

và so sánh với quy định của L/C, nếu không thực hiện được thì phải để nghị tu

chỉnh ngay

9 Những chứng từ mà_người XK phải xuất trình:

Đây là là những nội dung then chốt vì bộ chứng từ thanh toán trong quy định

của L/C là một bằng chứng của người XK chứng minh rằng mình đã hoàn thành

nghĩa vụ giao hàng và làm đúng những điều kiện của L/C Do vậy, Ngân hàng

mở L/C phải dựa vào đó để tiến hành trả tiền cho người XK nếu bộ chứng từ

thanh toán phù hợp với quy định của L/C

Về chứng từ, Ngân hàng thường yêu cầu người XK phải thỏa mãn những điều

kiện sau:

* Các loại chứng từ mà người XK phải xuất trình, các loại chứng từ nhiều hay

ít phụ thuộc vào yêu cầu của người NK mà các yêu cầu đó thường được nêu

trong hợp đồng ngoại thương

* Số lượng của mỗi chứng từ thanh toán mà người XK phải xuất trình phải phù hợp với yêu cầu của L/C và phù hợp với thông lệ quốc tế

* Yéu cau ky phát các loại chứng từ phải được nêu rõ ràng, cụ thể và chặt chẽ trong L/C

Thông thường Ngân hàng yêu cầu người xuất khẩu phải xuất trình bộ chứng

từ bao gồm: chứng từ vận tải (B/L), Packing list ( phiếu đóng gói), commercial

invoice ( hoá đơn thong mại ), certificate of origin ( chứng nhận xuất xứ ),

certificate of quality ( chứng nhận chất lượng ), certificate of quantity and weight (chứng nhận số lượng và trọng lượng ), insurance policy ( chứng nhận bảo hiểm )

Trang 23

10._ Sự cam kết trả tiền của Ngân hàng mở tín dụng thư :

Sự cam kết trả tiền của Ngân hàng mở tín dụng thư là nội dung cuối cùng

của L/C và nó ràng buộc trách nhiệm của Ngân hàng mở L/C đối với L/C này

Nói chung, nội dung cam kết trả tiền của Ngân hàng mở L/C trong các mẫu

L/C tương tự nhau Ví dụ những đoạn văn tiêu biểu dười đây của Ngân hàng mở

L/C cam kết:

e_ Ngân hàng ngoại thương Việt Nam:

“ We hereby engage with the drawers endorers and bona fide holders of draft(s)

drawn and presented in accordance with the terms of this credit that the draft(s)

shall be dully honored on presentation”

(Chúng tôi cam kết với những người ký phát, ký hậu và những người chân thật

cầm hối phiếu đã được ký phát và được xuất trình phù hợp với những điều kiện

của thư tín dụng này rằng các hối phiếu đó sẽ được tôn trọng khi xuất trình)

e Ngan hang ANZ (Australia and New Zeland Bank Ltd.)

“ Australia and New Zealand Bank Ltd engage with the drawers, endorsers and

bona fide holders of draft drawn under and in compliance with the terms of this

credit that such draft will be dully honored on due presentation to the drawee

bank if negotiated or preseted acceptance or for payment on or before the expiry

date mentioned”

( Ngân hàng hữu hạn Autralia và New Zealand cam kết với những người ký phát,

ký hậu và những người chân thật cầm hối phiếu đã được ký phát theo và phù hợp

với những điều kiện của thư tín dụng này rằng các hối phiếu như thế sẽ được tôn

trọng khi xuất trình cho Ngân hàng trả tiền đúng hạn Nếu có các hối phiếu đó

được chiết khấu hoặc được xuất trình để chấp nhận hoặc để thanh toán vào ngày

hoặc hết hạn hiệu lực của L/C nói trên)

Như vậy sự cam kết thanh toán của Ngân hàng là sự cam kết có điều kiện

tức là Ngân hàng chỉ thanh toán cho những người xuất trình hối phiếu và bộ

chứng từ đúng hạn và phù hợp với điểu kiện của L⁄/C Còn việc có trả tiền hay

không phụ thuộc vào việc xem xét bộ chứng từ có phù hợp với L/C hay không

11 _ Những điều khoản đặc biệt:

Ngoài những nội dung kể trên, khi cần thiết Ngân hàng mở L/C và người

NK có thêm những nội dung khác như có điều khoản cho phép bồi hoàn bằng

điện

Với điều khoản này trong L/C cho phép Ngân hàng dịch vụ người hưởng lợi

sau khi kiểm tra tính hợp lệ của bộ chứng từ phù hợp với điều kiện và điều khoản

Trang 24

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ VĂN BẢY

của L/C, sẽ cho phép đánh điện đòi tiền Ngân hàng phát hành hoặc Ngân hàng

thanh toán được chỉ định trong thư tín dụng (bộ chứng từ sẽ gởi ngay sau đó) Khi

có điều khoản TTR trong L/C thì tốc độ thanh toán rất nhanh (thông thường chỉ

03 ngày làm việc) điều này có lợi cho nhà XK vi ho mau chóng nhận được tiền

thanh toán

12 Chữ ký của Ngân hàng mở tín dụng thư:

L/C thực chất là một khế ước dân sự Do vậy, người có thẩm quyền ky L/C

cũng là người có đủ năng lực hành vi, năng lực pháp lý để tham gia và thực hiện

một quan hệ dân luật cho nên khi một L/C được mở bằng văn bản thì phải có chữ

ký ủy quyển của phía Ngân hàng mở L/C ( nếu là chi nhánh )

Nếu L/C được mở bằng Telex hoặc bằng điện ( swift ) thì trên L/C không có

chữ ký mà có mật mã quy ước giữa các Ngân hàng để tránh trường hợp giả mạo

Thông thường ngân hàng thông báo sẽ đóng dấu xác nhận nội dung của tín dụng

thư được chuyển bằng swift

L/C đối ứng

L/C dự phòng

L/C điều khoản đỏ

L/C tuần hoàn

Ngoài ra thư tín dụng còn được phân tán thành các loại:

e Thư tín dụng thanh toán

e Thư tín dụng chấp nhận

e Thư tín dụng thương lượng

e Thu tin dung nhé thu

Việc vận dụng một số loại L/C chính sẽ được đề cập ở chương 2

Trang 25

CHUONG II

THUC TIEN VE VIEC VAN DUNG PHUONG THUC

THANH TOAN TiN DUNG CHUNG TU (L/C) TAI VIET

_NAM VA NHUNG RỦI RO CÓ THỂ PHÁT SINH

1 CÁC LOẠI L/C PHỔ BIẾN VÀ VIEC VAN DUNG CHUNG TRONG THỰC TIÊN

1.1 Thư tín dụng có thể huỷ ngang và không thể huỷ ngang

a Thư tín dụng không huỷ ngang :

Theo UCP-400, nếu L/C không ghi rõ “Jrrevovable” hoặc “Revocable” thì

đều được xem là loại L/C có thể hủy bỏ nhưng theo UCP-500 trên L/C phải ghi rõ Revocable” thì mới coi là loại L/C có thể hủy bỏ

L/C có thể huỷ ngang là loại L/C mà Ngân hàng mở L/C có thể sửa đổi, bổ

sung hoặc có thể hủy bỏ bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho người hưởng

lợi L/C Loại L/C có thể hủy bỏ này trong thanh toán quốc tế ít được sử dụng bởi

vì rất rủi ro đối với nhà xuất khẩu

b Thư tín dụng không thể hủy ngang:

Là thư tín dụng sau khi Ngân hàng mở phát hành và thông báo cho người

bán thì không được sửa đối, bổ sung hay hủy bỏ nó trong thời gian còn hiệu lực

của thư tín dụng nếu không có sự đồng ý của các bên có liên quan

Thư tín dụng loại này là sự cam kết của Ngân hàng phát hành đảm bảo

thanh toán khi người thụ hưởng xuất trình một số chứng từ phù hợp với quy định của thư tín dụng L/C không thể hủy ngang được sử dụng phổ biến nhất trong

thanh toán quốc tế bởi vì nó đảm bảo quyền lợi của nhà XK và NK Chính vì lẽ

đó mà UCP 500 trong lần sửa đổi mới nhất đã quy định rằng nếu trong L/C

không quy rõ “irevocable” hay “revocable” thì mặc nhiên phải hiểu là L/C không huỷ ngang ( rích từ điều 6 UCP 500 phiên bản 1993)

Hầu hết các doanh nghiệp VN khi ký kết các hợp đồng xuất nhập khẩu với

doanh nghiệp nước ngoài đều sử dụng phương thức thanh toán này

Mặc dù phương thức tín dụng chứng từ được xem là phương thức thanh toán dung hoà lợi ích và rủi ro giữa người mua và người bán và việc áp dụng đã trở

thành phổ biến Nhưng như thực tế đã chứng minh ngay cả những ngân hàng và

các doanh nghiệp lớn có nhiều kinh nghiệm trong buôn bán và thanh toán quốc tế -

Trang 26

cũng đã mắc những sai lầm nghiêm trọng khi thực hiện phương thức này Từ đó dẫn đến những tổn thất rất khó khắc phục Điển hình là là việc nhập khẩu 10.000

tấn phân urê của công ty Cetrimex do công ty Helm (Đức) cung cấp , Sự việc xảy

ra nhu sau: /1/

Ngày 19/07/2000 công ty Centrimex đã thoả thuận đồng ý ký hợp đồng nhập khẩu 10.000 tấn phân urê trị giá 1.451.935,75 USD do công ty Helm cung

cấp, thanh toán bằng L/C không huỷ ngang do Sở giao dịch 1-Ngân hàng nông

nghiệp & phát triển nông thôn (SGD1-NHNG&PTNT) mở

Ngày 2/10/2000 nhận được chứng từ do Ngân hàng BHF xuất trình, SGDI1-

NHNG&PTNT kiểm tra và phát hiện một số sai sót ( Hối phiếu ghi sai số tiền

bằng chữ và không ghi tên người thụ hưởng, vận đơn không ghi chú ngày xếp hàng lên tàu)

Ngày 3/10/2000 SGD1-NGNG&PTNT thông báo sai sót cho Centrimex , nhận được thông báo này Centreimex đã yêu cầu Ngân hàng của mình không thanh toán cho Ngân hàng BHE

Ngày4/10/2000, SGD1-NHNG&PTNT ra quyết định từ chối thanh toán cho

bên NK do bộ chứng từ xuất trình không hoàn hảo, Ngân hàng BHF không chấp

nhận sai sót do SGDI1 nêu ra và yêu cầu Ngân hàng này phải thanh toán tiển , sau

đó Ngân hàng BHF tự động trích tài khoản của SGD1-NHNG&PTNT với số tiền

là 1.451.935,75 USD để trừ cấn vào tiển hàng, vì sự việc đã xảy ra như thế nên

SGDI đã chấp nhận thanh toán cho Ngân hàng BHF va ghi nợ tài khoản vay bắt buộc đối với Centrimex

Còn về phần con tàu Dewan chở hàng, do hơn 1 tháng lưu tại cảng Sài Gòn

nhưng không ai đứng ra nhận hàng vì vậy tàu đã rời cảng VN để về Pakistan

cùng với 10.000 tấn phân urê

Sau đó chủ tàu đệ đơn lên toà án Pakistan để bán thanh lý hàng hoá nhưng toà ra

quyết định giữ nguyên hiện trạng để các bên giải quyết tiếp Sau đó đại diện của

công ty Cetrimex và SGDI đã sang nước này để thương lượng với chủ tàu để đưa

hàng quay trở lại VN Đáng tiếc là cuộc hoà giải không thành , cuối cùng toà án

đã ra quyết định phong toả lô hàng để trang trải chi phí Ai sẽ là người chịu trách nhiệm về tổn thất này? Để có câu trả lời chúng ta hãy đi vào phân tích sự việc

Trang 27

nên đã tư chối thanh toán, vì cho rằng họ đã hành động đúng theo tỉnh thần của

điểu14(b) UCP-500 : “Khi nhận chứng từ, Ngân hàng mở, Ngân hàng xác nhận (nếu có) hay Ngân hàng được chỉ định phải xác nhận chứng từ đó có hay không phù hợp với các điều kiện cuả thư tín dụng Các Ngân hàng sẽ từ chối không nhận

chứng từ nếu chúng không phù hợp với điều kiện của thư tín dụng ”

Đứng về phía Centrimex trong bài báo “Cái sảy nảy cái ung “tác giả Võ

Văn Tạo viết rằng “ neười bán giao hàng chậm 12 ngày so với thời gian quy

dinh trong L/C nhưng cố tình xin thuyền trưởng ký vận đơn lài ngày”/1/ và việc

giao hàng chậm đó là lý do hợp lý để từ chối thanh toán Vấn để là rất khó để

chứng minh được điều này, cho dù chứng minh được cũng rất khó từ chối thanh

toán bởi vì Ngân hàng phải dựa vào sự phù hợp của chứng từ trong khi đó ngày

giao hàng trên B/L phù hợp với yêu cầu của L/C Ngay cả trong trường hợp trên

B/L chỉ ngày phát hành mà không ghi rõ ngày xếp hàng lên tàu thì B/L đó vẫn hợp lệ Tác giả Nguyễn Hữu Đức phân tích như sau : “Nếu vận đơn xuất trình có

in sang noi dung shipped on board the vessel named above in good order and condition .thi van don có thể được xem như là hợp lệ, trường hợp này ngày phát hành của vận đơn được xem như là ngày xếp hàng lên tàu, mặc dù không trực tiếp cầm vận đơn trong tay nhưng chúng tôi đoán chắc rằng vận đơn xuất trình có

in sẵng nội dung trên nên Ngân hàng BHF mới có cơ sở bác bỏ sai só do SGDI nêu ra”/2/ Có lẽ chính vì việc viện dẫn vào ngày giao hàng chưa là cơ sở pháp lý

vững chắc nên SGDI và centrimex đã dựa vào mâu thuẫn trên hối phiếu để từ chối thanh toán

Tuy nhiên đứng trên góc độ khách quan mà xét, thì vào thời điểm này là thời điểm giá phân urê trong nước liên tục giảm giá trong khi thị trường đầu ra

chính là Đông Bằng Sông Cư Long lại đang bị ngập lụt nên việc tiếp nhận lô

hàng này có thể làm cho công ty Centrimex bị lỗ nặng, cũng có thể vì lý do đó

mà Centrimex vẫn quyết định từ chối thanh toán nhưng họ lại quên rằng SGDI

đang có tài khoản tại ngân hàng BHF, nếu Centrimex viện lý do không thanh

toán tiền hàng thì ngân hang BHF có quyền trích số tài khoản trên để trả cho

công ty Helm

(⁄1⁄ thời báo kinh tế Sài Gòn số 47 năm 2002)

(⁄2⁄+ Bài học kinh nghiệm từ một thương vụ” Tạp chí Ngân hàng số 6 năm 2003 )

Trang 28

Thử giả thuyết nếu vào thời điểm đó phân urê trong nước không bị rớt giá

và nhu cầu thị trường đầu ra ở Đồng Bằng Sông Cửu Long đang tăng thì

Centrimex và SGDI có làm như thế không? Hay SGDI sẽ thuyết phục khách hàng của mình chấp nhận sai sót cuả bộ chứng từ để nhanh chóng nhận lô hàng

và giao cho khách mua nội địa Đây là vấn đề mà chỉ có Centrimex mới trả lời được

Sai lầm đáng tiếc của SGDI là sau khi nhận được thông báo của Ngân hang BHE về việc tài khoản của mình bị phong toả thì lẽ ra Ngân hàng này nên tiến

hành có biện pháp quản lý lô hàng để thu nợ vay bắt buộc đối với Centrimex vì

theo nguyên tắc của Ngân hàng cho vay là món vay phải có vật tư, hàng hoá bảo đảm Ở đây SGD1 không làm như thế mà lại để cho con tau Dewan rời cảng Sài

Gòn mang theo toàn bộ hàng về nước, đáng tiếc hơn và sai lầm càng trầm trọng

hơn là đoàn đại điện VN đã không mang được hàng về vì thương lượng không thành công với chủ tàu

Với cách xử lý của SGDI và Centrimex đã gây ra hậu quả thật nghiêm trọng vì cả Doanh nghiệp lẫn Ngân hàng đều bị thiệt hại nặng khi toà án Pakistan

ra thông báo phong toả lô hàng trên để trang trải chi phí , sự việc này xảy ra là trách nhiệm của cả hai bên, Ngân hàng phải chiụ trách nhiệm vì để con tàu Dewan rời cảng VN mang theo toàn bộ số hàng về nước và Doanh nghiệp phải

có trách nhiệm trước pháp luật về món nợ vay bắt buộc phải thanh toán cho

SGD1 , day là số tiễn không nhỏ

Thương vụ kinh doanh kết thúc thật bi thảm, mất tiền mất trắng hàng mà

còn phải chiụ trách nhiệm trước pháp luật về hành động và cách giải quyết không

đúng đắng giữa các bên với nhau Qua bài học kinh nghiệm này cho ta thấy việc vận dụng L/C trong thực tiễn rất phức tạp đòi hồi cán bộ, nhân viên Ngân hàng

thực hiện kiểm tra chứng từ theo L/C một cách thận trọng và hiểu đúng về tinh thần của UCP —500., đặc biệt đối với những lô hàng có trị giá lớn khi xảy ra các

tranh chấp thì các bên cần phải thương lượng cách giải quyết với nhau để tránh

gây thiệt hại cho đôi bên

1.2 Thư tín dụng miễn truy doi

Là loại hình thức L/C mà sau khi người XK được trả tiền thì Ngân hàng mở

L⁄/C không có quyền đồi tiền từ người XK trong bất kỳ trường hợp nào Khi dùng loại L⁄C này, người XK khi ký phát hối phiếu phải ghi câu “wihou£ recourse f0 drawer” (miễn truy đồi lại người ký phát) Miễn truy đòi chỉ áp dụng đối với việc chiết khấu Cụ thể là người bán xuất trình bộ chứng từ tại Ngân hàng thông báo

hoặc Ngân hàng nào đó và Ngân hàng này đã kiểm tra bộ chứng từ đồng thời

chấp nhận chiết khấu, thanh toán tiền cho người bán Nếu không có thoả thuận

Trang 29

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ VĂN BẢY

khác với người xuất khẩu thì khi xuất trình bộ chứng từ tại Ngân hàng mở L/C và

bộ chứng từ bị từ chối do không phù hợp với yêu cầu của L/C , mọi rủi ro do

Ngân hàng chiết khấu gánh chịu Trong trường hợp này Ngân hàng chấp nhận

chiết khấu không được quyền truy đòi người bán

Trong thực tiễn đôi khi người bán vì lý do nào đó không có khả năng cung

cấp hàng hóa cho người mua theo hợp đồng đã ký kết thì họ có thể van dung L/C

chuyển nhượng hoặc L/C giáp lưng để cung cấp hàng hoá cho khách hàng của

mình Trong điểu kiện này người bán thứ nhất đóng vai trò là người trung gian là

nhịp cầu nối cho bên cần bán và bên cần mua, đương nhiên người trung gian sẽ

hưởng được phí chênh lệch trong thương vụ kinh doanh này

1.3 L/C chuyển nhượng và L⁄C giáp lưng

a Tín dụng thư chuyển nhương :

Là loại L/C không thể hủy ngang Trong đó quy định quyền được chuyển

nhượng toàn bộ hay một phần số tiền của L/C cho một hay nhiều người theo lệnh

của người hưởng lợi đầu tiên Nhưng chỉ được chuyển nhượng 01 lân thôi chi phi

chuyển nhượng do người hưởng lợi đầu tiên trả

Sơ đồ thực hiện L/C chuyển nhượng:

Người mua Người trung gian hưởng lợi Người bán

Trang 30

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ VĂN BẢY

Giải thích quy trình;

1 Người mua kí hợp đồng với người trung gian ( người hưởng lợi 1)

2 Người trung gian kí hợp đồng với người hưởng lợi thứ 2

3 Sau khi người hưởng lợi thứ 1 kí xong hợp đồng với người mua thì người

mua sẽ đến Ngân hàng phát hành làm đơn xin mở L/C gốc

4 Ngân hàng mở phát hành L/C và thông báo nội dung của L/C cho Ngan

hàng chuyển nhượng

5 Ngân hàng chuyển nhượng thông báo xác nhận nội dung của L/C đã mở

đến cho người hưởng lợi 1

6 Sau khi xem xét nội dung của L/C người trung gian này sẽ đến Ngân hàng của mình để để nghị chuyển nhượng cho người bán thứ hai hưởng lợi Khi

yêu cầu chuyển nhượng người hưởng lợi thứ 1 phải nói rõ ý định của mình cho Ngân hàng chuyển nhượng biết là họ từ chối hay cho phép Ngân hàng

này thông báo các sửa dối của tín dụng thư cho người thứ 2 và quyết định này phải được Ngân hàng chuyển nhượng ghi rõ trong thông báo chuyển nhượng của mình

7 Ngân hàng chuyển nhượng thông báo nội dung L/C chuyển nhượng cho Ngân hàng thông báo

§ Sau khi ngân hàng thông báo nhận bản photo nôi dung L/C chuyển nhượng thì họ sẽ điện báo cho người bán thứ 2 biết và trên cơ sở yêu cầu của L/C

người thụ hưởng thứ 2 sẽ giao hàng cho người mua Trên thực tế tín dụng thư chuyển nhượng có thể được thực hiện cho người hưởng

lợi thứ 2 ở trong nước hoặc ở nước ngoài

Trong trường hợp điều khoản của L⁄/C quy định rõ Ngân hàng chuyển

nhượng là Ngân hàng chiết khấu thì ngân hàng này phải có trách nhiệm thanh

toán cho người xuất khẩu khi họ xuất trình bộ chứng từ hợp lệ, nếu tín dụng thư

có giá trị tại bất cứ Ngân hàng nào thì Ngân hàng phát hành phải ghi rõ tên Ngân

hàng chuyển nhượng, đây là điểu khác biệt giữa uỷ quyển chuyển nhượng với uỷ

quyển chiết khấu / thanh toán chứng từ được nêu ở phần 10 (b) UCP 500 phiên

bản 1993, theo đó bất cứ Ngân hàng nào cũng được chỉ định là Ngân hàng chiết

khấu nếu tín dụng thư không giới hạn chiết khấu Tín dụng thư cần phải ghi rõ

Ngân hàng được phép chuyển nhượng và chỉ có Ngân hàng đó được quyền mà

thôi

Trang 31

Tín dụng thư có thể chuyển nhượng một phần hay toàn bộ giá trị, tuỳ theo

từng thương vụ Có những trường hợp 2 nhà xuất khẩu cùng cung ứng một lô

hàng cho một khách hàng và theo đó tín dụng thư được chuyển nhượng cho từng

khách hàng theo số lượng và giá trị thoả thuận Có thể người bán không đủ hàng

giao phải chuyển nhượng phần còn lại cho một hoặc nhiều người thứ hai Và

Ngân hàng chuyển nhượng không chịu trách nhiệm về hệ quả phát sinh do hành động chuyển nhượng của mình vì đơn giản họ chỉ là Ngân hàng được chỉ định Việc chuyển nhượng L/C không có nghĩa là hợp đồng mua bán cũng được chuyển nhượng Người huởng lợi ban đầu vẫn là người chịu trách nhiệm chính với người NK Người được chuyển nhượng được phép thay mặt người hưởng lợi ban đầu để lập chứng từ hoá đơn giao hàng có liên quan, chứng từ này được xem như

chứng từ gốc để làm cơ sở nhận tiền hoặc người hưởng lợi thứ nhất có thể lập hai

chứng từ trên cơ sở chứng từ do người chuyển nhượng lập nên

Trường hợp người hưởng lợi thứ hai không giao hàng hay không giao đúng

hàng hoặc chứng từ không hoàn hảo thì người thứ nhất phải chịu trách nhiệm về

phía bên XK theo hợp đồng đã ký

Một số điều kiện của I/C gốc như:

Cảng xếp, cảng dời hàng kho chuyển nhượng không được phép thay đổi, những yếu tố sau được phép thay đổi:

* Tên và địa chỉ của người hưởng ban đầu có thể thay thế cho tên và địa chỉ của người mở L/C trên chứng từ nào đó Đơn giá và tổng kim ngạch của L/C chuyển nhượng có thì được giảm xuống, khoảng chênh lệch đó là thu nhập

của người thụ hưởng ban đầu

* Giai đoạn giao hàng, thời hạn hiệu lực của L/C có thể được rút ngắn

* Thư tín dụng muốn chuyển nhượng được phải ghi câu “ To be transferable “

(có thể chuyển nhượng) Khi người ÑK mở L/C có thể chuyển nhượng, chứng tỏ

họ đồng ý cho người XK chỉ định người khác làm thế công việc giao hàng và xuất trình chứng từ ( để hiểu rõ thêm nội dung chỉ tiết xin xem cuốn Quy tắc

thực hành thống nhất tín dụng chứng từ UCP 500 phiên bản 1993 trang 214 ) Trên thực tế sửa đổi của tín dụng thư thương mại khác với sửa đổi của tín

dụng thư chuyển nhượng, việc sửa đổi tín dụng thư thương mại được thực hiện

trên cơ sở thoả thuận giữa người mở và người hưởng tín dụng thư, đối với tín dụng thư chuyển nhượng thì người hưởng thứ 2 không thể trực tiếp yêu cầu người

mở sửa đổi tín dụng thư mà phải thương lượng với người hưởng thứ 1 Đó là các sửa đổi liên quan đến phẩm chất qui cách hàng hoá, đóng gói, kí mã hiệu, thời

gian giao hàng Nhưng người hưởng và người mở có thể thoả thuận tăng hoặc

Trang 32

giảm giá số tiễn do biến động thị trường, hoặc điều khoản thuê tàu của tin dung thư gốc, hoặc các điều khoản đặc biệt mà được sửa đổi mà không liên quanvà

ảnh hưởng đến nghĩa vụ, quyền lợi của người hưởng thứ 2 do vậy không cần phải thông báo cho người cung cấp hàng hoá

Chúng ta cần phải phân biệt quyền cho phép hay từ chối việc thông báo sửa đổi tín dụng thư cho người hưởng thứ 2

a_ Người hưởng thứ 1 có thể giữ lại hoặc chuyển giao sửa đổi tín dụng thư cho người hưởng thứ 2 Ngân hàng thông báo chỉ chỉ thông báo chuyển nhượng đó cho người được chuyển nhượng khi có yêu cầu

a Quyển chuyển giao một phần sửa đổi tín dụng thư : trường hợp này Ngân hàng được phép thông báo tất cả các sửa đổi của tín dụng thư

chuyển nhượng cho người hưởng thứ 2 trừ sửa đổi tăng tiễn hoặc

kéo dài hiệu lực ( hoặc một trong 2 điểu kiện đó phải được chấp

nhận của người hưởng thứ 1

a Quyển thông báo tất cả các sửa đổi tín dụng thư cho người hưởng lợi: trong trường hợp này người hưởng thứ I ghi rõ yêu cầu chuyển

nhượng là tất cả các sửa đổi theo tín dụng thư chuyển nhượng bất

kể liên quan đến số tiễn, ngày hiệu lực được thông báo cho người

hưởng thứ 2

Về nguyên tắc người hưởng thứ 2 khi lập chứng từ sẽ ghi tên nguời mua tức

là người mở tín dụng thư Tuy nhiên người chuyển nhượng có thể yêu cầu người hưởng thứ 2 ghi tên của mình vào các chứng từ đó như là người mở Điều này có thể tạo ra nhiều phân vân cho người hưởng lợi thứ 2 là liệu việc thay đổi tên người trả tiền như vậy có vi phạm nguyên tắc lập chứng từ của tín dụng thư chuyển nhượng không hoặc có làm thay đổi nghĩa vụ của người mở hoặc có ảnh

hưởng đến việc thu tiễn xuất khẩu 2

Điều 48 (h) UCP 500 đảm bảo cho việc thay đổi tên như vậy trên các chứng

từ nhằm tạo thuận lợi cho người hưởng thứ 1 nhưng vẫn không ảnh hưởng đến

quyển lợi của người hưởng thứ 2 Tuy nhiên mỗi khi người mở quy định rõ trong tín dụng thư là tên mình phải được thể hiện trên các chứng từ thì người hưởng thứ

1 không được yêu cầu thay thế như trên

Trong trường hợp nếu người hưởng lợi thứ 1 vì lý do gì không có hoặc thiếu hàng hoá, họ có thể chuyển nhượng tín dụng thư cho phía thứ 3 và tín dụng thư

này sẽ không có sự thay đổi hoá đơn, hối phiếu , người hưởng thứ 2 được trọn

quyển giao hàng và sử dụng số tiền ghi trong tín dụng thư chuyển nhượng Để

đảm bảo quyển lợi các bên trong thanh toán bằng tín dụng chuyển nhượng điều

48 (1) cho phép Ngân hàng chuyển nhượng chuyển giao toàn bộ chứng từ nhận

Trang 33

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ VĂN BẢY

được từ người hưởng thứ 2 cho ngân hàng phát hành nếu người hưởng thứ 1 không

đáp ứng yêu câu về thời gian trong việc thay thế hối phiếu và hoá đơn Đây là điều người chuyển nhượng cần lưu ý để đảm bảo quyền lợi của mình về số tiền

chênh lệch giữa hợp đồng cung cấp và hợp đồng tiêu thụ hàng hoá trong thương

vụ mua bán tay 3

Để thấy rõ tính phức tạp và những rủi ro có thể phát sinh của loại L⁄C chuyển

nhượng thì chúng ta tiến hành xem xét ví dụ sau: (**)

Ngày 15-3 theo yêu câu của công ty Y, tín dụng thư chuyển nhượng được Ngân

hàng P phát hành trị giá 325 000 USD cho phép chiết khấu ở bất cứ đâu, thời

gian hết hiệu lực tín dụng thư là 30-4

Ngày 18-3 theo yêu cầu của công ty X người hưởng lợi thứ 1, Ngân hàng B (Ngân hàng được phép chuyển nhượng ) chuyển nhượng thư tín dụng cho người hưởng lợi thứ 2 là công ty H qua Ngân hàng C với sự điều chỉnh đơn giá là 295

000 USD Nhu vậy công ty X là người trung gian trong thương vụ mua bán tay

ba nay

Ngày 8-4 công ty H giao hàng xuất trình chứng từ tại Ngân hang C va Ngan hàng C gửi chứng từ thanh toán tại Ngân hàng P trị giá 295 000 USD

Ngày 15-4 Ngân hàng P thông báo bất hợp (số tiền thấp hơn trị giá L/C là 30

000 USD) và được người mở chấp nhận thanh toán Ngày 18-4 công ty X liên lạc với công ty H về việc giao hàng và được biết

chứng từ đã được xuất trình thanh toán xong cho công ty H

Ngày 19-4 Ngân hàng B gửi telex cho Ngân hàng P và nói rõ người hưởng thứ

1 được quyển thanh toán số tiễn chênh lệch trong tín dụng thư chuyển nhượng

là 30 000 USD Ngân hàng P từ chối thanh toán với lý do sau:

Tín dụng thư không cho phép đòi tiển 2 lần Không có chứng từ giao hàng xuất trình

Do không thể đòi được tiển nên Ngân hàng B yêu cầu công ty X thương

lượng với công ty Y để thu lại số tiền chênh lệch trên, tuy nhiên công ty X đã từ chối thanh toán vì lúc này đã là 2-5 L/C không còn trong thời gian hiệu lực nữa

và cho rằng tín dụng thư đã thanh toán xong cho người thụ hưởng ngày 17-4, hợp

đồng xem như kết thúc, song với sự tổn thất trên ai sẽ là người chịu trách nhiệm

( (**) Nguồn tư liệu lấy từ sách phân tích các tình huống trong giao dich TDCT, trang

183, tác giả Nguyễn trọng Thùy, xuất bản năm 2000)

Trang 34

Phân tích tình huống

Qua sự việc trên chúng ta nhận thấy nghiệp vụ chuyên môn của Ngân hàng

chuyển nhượng B còn non yếu trong vấn để mua bán quốc tế thông qua trung

gian

Theo UCP 500 thì tín dụng thư chuyển nhượng thông thường chỉ định Ngân hàng

chuyển nhượng đồng thời là Ngân hàng chiết khấu, tuy nhiên UCP 500 vẫn cho phép tín dụng thư được một Ngân hàng chuyển nhượng nhưng có thể chiết khấu ở

bất cứ Ngân hàng khác

Trong kinh doanh mua bán tay ba thì Ngân hàng chuyển nhượng đóng vai

trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi cho khách hàng của mình có nghĩa

là người thụ hưởng thứ 1 trong tình huống này là công ty X nhưng thực tế Ngân

hàng B đã không thực hiện điều đó

Tại sao Ngân hàng C lại gửi chứng từ thanh toán trực tiếp tại Ngân hàng P

mà không thông qua Ngân hàng chuyển nhượng B, thiết nghĩ đã làm kinh tế thì ai

cũng mong tìm được lợi nhuận đặc biệt là người trung gian lại càng muốn hưởng

được phần chênh lệch thông qua hợp đồng mà họ đã ký nhưng trong tình huống

này tại sao công tyX lại không sửa đổi trị giá lô hàng để nhận khoản chênh lệch

là 30 000 USD

Tất cả những thắc mắc trên đều đưa ra một hệ quả tất yếu là cả Doanh

nghiệp lẫn ngân hàng chuyển nhượng không có nhiều kinh nghiệm trong việc thực hiện nghiệp vụ phức tạp này

Lé ra trong thư tín dụng chuyển nhượng Ngân hàng B phải thông báo cho

người hưởng lợi thứ 2 biết rằng khi xuất trình chứng từ thanh toán phải có chỉ thị

của Ngân hàng chuyển nhượng , nhưng trong trường hợp này tín dụng thư sau khi được chuyển nhượng hoàn tòan không có chỉ thị của Ngân hàng B nếu Ngân hàng

C chuyển giao chứng từ trực tiếp đến Ngân hàng P, điều này chứng tỏ Ngân hàng

C đã hành động đúng theo yêu cầu của tín dụng thư, họ không hề có lỗi và không

phải chịu trách nhiệm

Sở dĩ công ty X không nhận được 30 000 USD là vì họ không điều chỉnh giá

trong L/C chuyển nhượng mặt khác do tính chủ quan không thường xuyên liên lạc với người bán hàng về tiến độ giao hàng , trong thương vụ kinh doanh này công

ty X là nạn nhân của sự thiếu cẩn thận và sự non yếu nghiệp vụ của Ngân hàng

B, việc trả lại khoản tiền chênh lệch chỉ trong chờ vào thiện chí của người mở

L/C, nhưng đã là kinh doanh thì hầu hết các Doanh nghiệp đều mong muốn mang lại lợi nhuận càng nhiều càng tốt ít có đơn vị nào xử lý công việc bằng tình cảm

Trang 35

nhưng làm như thế thì công ty Y không đủ phong cách của nhà kinh doanh lớn, liệu 30 000 USD có thể mua lại danh dự và uy tín cho doanh nghiệp

Đứng ở một gốc độ kinh doanh để nhìn tổng quát vấn để, tác giả bài viết

nghĩ rằng Ngân hàng P cố ý bỏ qua việc xuất trình chứng từ tại Ngân hàng C để cho công ty Y hưởng lợi thêm 30 000 USD Ngân hàng P biết chắc chắn tín dụng

thư đã được chuyển nhượng cho người thứ 2 nhưng việc thay đổi hóa đơn, hối

phiếu lại không thực hiện, để đảm bảo tính công bằng trong kinh doanh lẽ ra Ngân hàng P phải khách quan hơn đối với việc xử lý chứng từ, nếu Ngân hàng có

trách nhiệm hơn thì họ nên tiếp xúc với Ngân hàng B để thương lượng về việc thay đổi trị giá lô hàng nhằm bảo vệ quyển lợi chính đáng cho người hưởng lợi

thứ 1 nhưng rất tiếc Ngân hàng P đã không làm như thế và kết thúc thương vụ

kinh doanh là công ty X lãnh chịu hậu qua

Nguyên nhân tạo nên tình huống trên là do lỗi của Ngân hàng chuyển nhượng, đây là bài học lớn cho cả doanh nghiệp lẫn Ngân hàng trong các thương

vụ mua bán tay ba, tuy nhiên yếu tố trung thực vẫn đóng vai trò then chốt trong

kinh doanh vì chúng ta không thể thực hiện việc mua hoặc bán một lần mà phải

trải qua thời gian dài, tiếp xúc với nhiễu đối tác khác nhau ở nhiều quốc gia, trên

cơ sở đó chúng ta duy trì tốt mối quan hệ thương mại bền lâu

Lỗi chủ yếu do Ngân hàng B nhưng họ không hề bị thiệt hại gì, tuy nhiên

điều cần thiết và quan trọng nhất của các Ngân hàng là uy tín và năng lực nghiệp

vụ để thu hút khách hàng Chỉ vì sơ xuất nhỏ của Ngân hàng B mà gây ra ấn tượng không tốt cho các khách hàng khác và trong tương lai họ không đủ can đảm

để yêu cầu một Ngân hàng không đủ năng lực và trình độ chuyên môn tư vấn kinh doanh Khi đã tìm hiểu thực tế L/C giáp lưng và L/C chuyển nhượng thì

chúng ta có nhận định rằng mỗi loại L/C khác nhau có những ưu nhược điểm

khác nhau nhưng điều mà các Doanh nghiệp cần phải quan tâm là tìm hiểu kỹ về

đối tác có tính thiện chí trong kinh doanh không

b Tin dung thu gidp lung:

Là loại L/C được mở dựa vào L/C khác, nghĩa là sau khi nhận được L/C

(Master L/C) còn gọi là L/C gốc do người NK mở cho người XK, người XÉ yêu

cầu Ngân hàng mình mở L/C khác dựa vào L/C gốc cho nhà cung cấp hàng hoá,

L/C sau được hiểu là L/C giáp lưng , chú ý trong các văn bản về thanh toán không có khái niệm” back to back” mà chỉ tổn tại một L/C khác được mở dựa

Trang 36

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS LÊ VĂN BẢY

hàng và người mở L/C không biết là do ai cung cấp hàng hoá, thứ 2 là giảm được

bớt phần ký quỹ hoặc không phải ký quỹ khi mở L⁄/C này

Về cơ bản L/C giáp lưng và L/C gốc giống nhau, ngoài một số điểm khác biệt

nhau :

e_ Trị giá của L/C giáp lưng phải nhỏ hơn L/C gốc Khoảng chênh lệch này do người trung gian hưởng Thời gian giao hàng của L/C giáp lưng phải sớm hon L/C géc , về hình thưé L/C giáp lưng là một loại L/C

thông thường nhưng chúng phải có điều khoản riêng

e_ Ngoài hối phiếu và hoá đơn, các chứng từ không ghi trị giá và đơn giá

e Một số chứng từ (B/L, giấy giám định hàng hoá .) phải ghi dẫn chiếu của L/C gốc

Nguyên nhân là người thụ hưởng sẽ thay thế hối phiếu, hoá đơn của mình vào bộ

chứng từ với giá trị cao hơn để được khoảng chênh lệch Đồng thời họ không

muốn cho người thụ hưởng gốc biết đơn giá, trị giá và phần chênh lệch đó

Trong giao dịch thương mại, người trung gian có thé ding L/C giáp lưng để

thay thế cho L/C chuyển nhượng và ngược lại

Nghiệp vụ thư tín dụng giáp lưng rất phức tạp và mang nhiều rủi ro Hơn

nữa các Doanh nghiệp Việt Nam trên thực tế rất e ngại về việc kiện tụng đặc biệt

là tranh chấp quốc tế vì họ không hiểu rõ về luật quốc tế, song chi phí và thủ tục

đi lại ở nước ngoài cũng là điều rắc rối lúc này luật sư các nước nhân cơ hội để

nâng giá dịch vụ thật cao Chính vì lý do trên mà một khi Doanh nghiệp Việt Nam muốn sử dụng phương thức thanh tóan L/C giáp lưng cần phải thận trọng

trong việc lựa chọn đối tác kinh doanh phải có sự kết hợp khéo léo và chính xác

các điều kiện của L/C gốc và L/C giáp lưng nhất là các vấn đề có liên quan đến

vận đơn và các chứng từ hàng hoá khác, mặc dù thực tế nhiều Ngân hàng lẫn

Doanh nghiệp có kinh nghiệm trong mua bán quốc tế nhưng họ sẽ không bao giờ lường hết những rủi ro sẽ xảy ra trong tương lai, để chứng minh được điều này chúng ta tiến hành nghiên cứu và phân tích thương vụ sau : ( ** )

Công ty X và công ty Y thỏa thuận ký hợp đồng mặt hàng sắn lát trị giá 215 000 USD , Ngân hàng BCCI Hongkong theo yêu cầu khách hàng của mình ( công ty

Y) mở L/C có trị giá bằng trị giá hợp đồng cho người thụ hưởng là công ty X chiết khấu tại Ngân hàng C, hàng giao từ cảng Thành phố HCM đến cảng Trung Quốc

Trang 37

Sau khi hàng giao lên tàu “ Sea Dragon”, người hưởng xuất trình chứng từ tại

Ngân hàng C để chiết khấu

Ngân hàng C gửi chứng từ cho Ngân hàng phát hành thông báo đã xác nhận

chứng từ phù hợp với các điều khỏan của L/C và đã chiết khấu, nhưng khi nhận

được bộ chứng từ (BCT) Ngân hàng phát hành điện cho Ngân hàng C thông báo

bất hợp lệ 'Tín dụng thư yêu cầu xuất trình chứng nhận chất lượng và số lượng

nhưng người thụ hưởng xuất trình chứng nhận chất lượng và chứng nhận số lượng

riêng từng loại, chứng từ đang được giữ và chờ người mở chấp nhận “

Ngân hàng C không chấp nhận với lý luận trên của Ngân hàng phát hành và yêu

câu Ngân hàng này phải thanh toán tiền

Sau đó Ngân hàng phát hành điện báo cho Ngân hàng C biết là người mở chỉ

chấp nhận thanh toán 190 000 USD, công ty X từ chối giảm giá đồng thới tìm đối

tác khác để bán lô hàng đó nhưng đến 2 tuần sau do giá mặt hàng này trên thị

trường tăng vọt nên công ty Y chấp nhận thanh toán 100% trị giá hóa đơn và

`Ngân hàng phát hành cho phép họ chuyển giao chứng từ cho công ty Y, lúc này

công ty X từ chối dé nghị trên và yêu cầu nhận lại chứngtừ -

Khi sở hữu chứng từ công ty X ký hợp đồng với khách hàng mới để bán số hàng

trên với giá tăng 25% so với giá ban đầu tuy nhiên số hàng trên đã được một

khách hàng Trung Quốc nhận trên cơ sở bảo lãnh của Ngân hàng địa phương

(Ngân hàng thương mại và đầu tư Trung Quốc)

Công ty X lập thủ tục khởi kiện chủ tàu Sea Dragon vì làm mất hàng của họ, kết

quả cuối cùng toà buộc chủ tàu bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn, để đảm bảo

quyển lợi của mình chủ tàu lại kiện Ngân hàng bảo lãnh tại địa phương Trung

Quốc

Ngân hàng bảo lãnh yêu cầu người nhận hàng giao nộp vận đơn như cam kết

hoặc trả tiền lô hàng đã nhận nhưng người nhận đã từ chối trả tiền vì họ không

được nhà cung cấp yêu cầu thanh toán

Phân tích tình huống:

Vấn để chính ở đây là do chứng từ bất hợp lệ không phù hợp với điều kiện

và điều khoản của thư tín dụng, nhưng xét về mặt khách quan chứng nhận chất

lượng và số lượng của hàng hóa được ghi trong cùng một chứng từ hoặc tách ra

làm 2 thực chất không ảnh hưởng gì đến tính chất của việc sử dụng hàng hóa, đây

chỉ là cớ để công ty Y và Ngân hàng phát hành từ chối thanh tóan

Trong trường hợp này nhà XK không nhận ra đây là thương vụ mua bán qua trung gian nên họ cứ nghĩ rằng công ty Y không nhận hàng thì họ có thể bán

lô hàng đó cho người khác Có lẽ công ty X thiếu kinh nghiệm trong mua bán

Trang 38

quốc tế nên không nhận ra bản chất của vấn để Do thỏa thuận với khách hàng

mới bán lô hàng với giá cao hơn trong tín dụng tư dù có chậm thanh toán nhưng công ty vẫn có lời, đây chính là lý do họ yêu cần Ngân hàng trả lại chứng từ

nhưng thực tế không như mong muốn vì khách Trung Quốc đã sở hữu hàng đó với

sự bảo lãnh của ngân hàng thương mại và đầu tư Trung Quốc

Đến lúc này nhà XK Việt nam mới cảm thấy vấn để vô cùng phức tạp vì khách hàng Trung Quốc không có mối liên hệ nào đến công ty X mà họ chỉ biết rằng hợp đồng thương mại mặt hàng sắn lát chỉ ký kết với công ty Y tại

Hongkong, ưu điểm của vấn để này là cho dù khách hàng Trung quốc có bị phá

sản hoặc không có khả năng thanh toán thì cũng không ảnh hưởng gì đến công ty

nhưng điểm nổi bật này lại mang đến những rủi ro do chính nhà XK Việt Nam, vì

trên thực tế công ty Y không nhận hàng và đã trả lại chứng từ, trong trường hợp này công ty X chỉ còn một cách là kiện chủ tàu :

Nếu công ty X sớm phát hiện ra đây là L/C giáp lưng thì có lẽ họ sẽ có cách tính khôn ngoan hơn trong tình huống này, nguyên nhân chính của việc tranh

chấp là do công ty X không nắm rõ thực chất của giao dịch chủ quan trong tính

toán mà không lường hết mọi rủi ro có thể xảy ra , điều đáng nói ở đây là công ty

Y cố ý gây khó khăn cho người thụ hưởng (sai sót chứng từ không hề gây thiệt hại

về hàng hóa cho người nhận) bên cạnh đó Ngân hàng phát hành là tác nhân chính

làm cho công ty Y càng yên tâm hơn vì họ cho rằng việc từ chối thanh toán là hành động đúng của họ, nhưng nếu suy nghĩ sâu hơn thì chúng ta dễ dàng nhận ra rằng công ty Y cố tình không thanh toán và Ngân hàng phát hành cố tình không hiểu vấn để nhằm tạo thuận lợi cho khách hàng của mình trong việc thương lượng

giảm giá Với sự trợ giúp của Ngân hàng BCCI công ty Y biết được tình thế của đối tác nên yêu cầu giảm giá 25 000 USD, rồi sau đó đồng ý thanh toán với giá

gốc đo giá trên thị trường Hongkong tăng họ nghĩ rằng công ty X không còn lựa chọn nào hơn vì khách hàng Trung Quốc đã nhận được hàng mà không liên quan

gì đến họ Khi bị từ chối giảm giá và biết công ty X tìm được khách hàng mới nên

công ty Y đồng ý trả chứng từ cho Ngân hàng C mà không thanh toán mặc dù họ

biết không còn hàng để trả lại

Về mặt lý thuyết thì công ty X không có quyển kiện công ty Y vì họ đã trả

chứng từ và không nhận hàng, trên thực tế công ty X phải kiện chủ tàu làm mất hàng của họ Nhưng điểu đáng trách nhất ở đây là công ty Y cố ý xử lý tình

huống một cách vô trách nhiệm mang tính chất trả thù đối tác , họ đã không yêu câu khách hàng Trung Quốc thanh toán tiền vì vậy Ngân hàng BCCI Hongkong không thể chuyển giao số tiển trên cho người xuất khẩu Việt Nam và tất cả mọi trách nhiệm họ chỉ muốn đẩy cho chủ tàu Song chủ tàu lại kiện Ngân hàng

thương mại và đầu tư Trung Quốc vì đứng ra bảo lãnh nhận hàng Đây là sự tính

Trang 39

tóan có chủ ý do công ty Y sắp xếp trước mà chính họ hiểu rằng họ không phải

lãnh bất cứ trách nhiệm nào trong thương vụ này

Trong kinh doanh có rat nhiéu cam bay chỉ cần một chút chủ quan hay không cẩn thận trong việc xử lý chứng từ thì các Doanh nghiệp lẫn Ngân hàng

đều phải hứng chịu những rủi ro đáng tiếc có khi mất hàng mà không nhận được

tiền hoặc đã hòan thành nghĩa vụ giao hàng nhưng vẫn bị kiện tụng tranh chấp,

điển hình như thương vụ kinh doanh mặt hàng sắn lát nói trên, chủ tàu là người

vô tội vì họ đã làm đúng theo luật kinh doanh quốc tế, khi Ngân hàng đứng ra

bảo lãnh nhận hàng thì tất nhiên lô hàng đó sẽ được chuyển quyển sở hữu cho

người nhận mặc dù không có vận đơn, chỉ vì công ty Y xử lý theo tình cảm cá nhân mà cố ý đưa chủ tàu vào tình huống tiến thoái lưỡng nan, thông qua sự việc này chúng ta thấy rằng bản chất của công ty Y là đơn vị kinh doanh không mang

tính trung thực lợi dụng sự sơ hở của công ty X để tranh thủ lợi nhuận một cách không chính đáng cho riêng mình, liệu sau này các Doanh nghiệp khác còn đủ lòng tin hợp tác với công ty Y ? nếu có chăng đi nữa thì các đối tác mới sẽ nhìn

họ bằng cặp mắt nghi ngờ dè đặt và mất thiện cảm trong kinh doanh Kể cả Ngân

hàng BCCI Hongkong cũng là đơn vị đáng chê trách trong thương vụ này vì họ đã tiếp tay cho vụ kinh doanh không trong sáng

Thông qua tình huống trên chúng ta có thể nhận ra rằng nghiệp vụ xuất

nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam theo phương thức thanh toán L/C giáp

lưng còn rất kém, không có sự tỉnh vi như đối tác, hơn nữa đây là nghiệp vụ rất

phức tạp đòi hỏi phải có nghiệp vụ và giàu kinh nghiệm nhưng điều quan trọng nhất là việc lựa chọn đối tác trong kinh doanh có thiện chí và mang tính chân

thật

[Ml Điểm khác biệt giữa L/C giáp lưng và L/C chuyển nhượng:

Qua lý thuyết chúng ta thấy rằng mua bán trung gian thường áp dụng hai

loại tín dụng thư chuyển nhượng và tín dụng thư giáp lưng Đối với thư tín dụng

chuyển nhượng quyển lợi của người xuất khẩu không được đảm bảo vì những lý

do sau:

Hợp đồng bán ký với một đối tác khác ( trung gian ) lại không phải là người chịu trách nhiệm thanh toán mà hoàn toàn tùy thuộc vào người mua là người mở

tin dung thu (TDT)

Người xuất khẩu không thể biết được người mở TDT có thiện chí hoặc là

doanh nghiệp có tầm cỡ Bộ chứng từ (BCT) rất dễ bị từ chối vì một lỗi rất nhỏ

nếu hàng bị rớt giá trên thị trường, khả năng tiêu thụ khó hoặc người mở TDT có

dau hiéu thua 16 , mac di người bán đã thực thi đầy đủ nghĩa vụ trong hợp

đồng Nhà xuất khẩu không thể kiện hoặc hoặc khiếu nại người ký hợp đồng (

Trang 40

người trung gian) hoặc Ngân hàng chuyển nhượng vì họ làm đúng qui định của TDT và bản điều lệ của UCP 500

Người bán chỉ trông chờ vào thiện chí của người trung gian có tích cực đòi

tiên Ngân hàng mua hay không nhưng trước mắt người xuất khẩu sẽ bị thiệt hại

Nhà xuất khẩu không thể biết được nội dung của tín dụng thư chuyển

nhượng và tín dụng thư gốc đều như nhau ( trừ những điều cho phép sửa đổi ) khi

mà người hưởng thứ 1 có quyền không thông báo các sửa đổi tín dụng thư cho

người hưởng lợi thứ 2 Do vậy bộ chứng từ xuất trình theo tín dụng thư chuyển nhượng là hoàn hảo nhưng hẳn chưa phù hợp với các điểu khoản và điều kiện của

tín dụng thư gốc

Còn đối với tín dụng thư giáp lưng thì quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn

so với người trung gian bởi vì:

Người trung gian dựa trên TDT gốc mở cho mình hưởng sẽ phải mở TDT

giáp lưng cho người xuất khẩu hưởng

Người xuất khẩu biết rõ nội dung của TDT giáp lưng và họ chỉ cần làm đúng

theo các điểu kiện và điều khoản của TDT giáp lưng thì họ sẽ được thanh toán

cho dù người trung gian có được người mua (người mở L/C gốc) thanh toán hay không

Về cơ bản L/C chuyển nhượng là 1 L/C độc lập còn L/C giáp lưng phải có 2

L/C liên quan với nhau ( L/C géc va L/C thu’ 2 được mở dựa trên nội dung của

LUC gốc ), trách nhiệm thanh toán của 2 ngân hàng này ở 2 loại tín dụng thư cũng

khác nhau, điểu khác biệt cơ bản và quan trọng nhất của L/C giáp lưng so với

L/C chuyển nhượng là ngân hàng phát hành tín dụng thư giáp lưng hoàn toàn chịu trách nhiệm thanh toán bộ chứng từ hợp lệ xuất trình theo tín dụng thư của mình,

do vậy người cung cấp hàng hoá tức là người hưởng tín dụng thư giáp lưng hoàn toàn yên tâm về mặt thanh toán Còn ngân hàng phát hành tín dụng thư chuyển

nhượng lại không chịu trách nhiệm thanh toán khi người xuất khẩu xuất trình bộ

chứng từ thanh toán tại đây vì vậy trong phần thông báo tín dụng thư chuyển nhượng của ngân hàng chuyển nhượng, cụm từ sau đây luôn được sử dụng “ /h£ø

lệnh và không có cam kết gì vê phía chúng tôi, chúng tôi chuyển nhượng tín

dung thu này số ” ( by eorder of and without any engagement from our

part, we hereby transfer the letter of credit No ), Ngan hang chuyển nhượng

chỉ chấp nhận thanh toán khi đồng thời họ là Ngân hàng xác nhận

Về nguyên tắc, tín dụng thư gốc sẽ là vật thế chấp hoặc là vật bảo đảm cho việc thanh toán tín dụng thư giáp lưng Trách nhiệm là phải trả nợ theo tín dụng

thư giáp lưng cũng chính là quyển được đời tiền theo tin dung thư gốc Nếu hàng

không giao có nghĩa là việc thanh toán cả hai tín dụng đều không phát sinh Tuy

Ngày đăng: 05/04/2013, 17:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w