1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

514 Nghiên cứu một số vấn đề về việc mở rộng thị trường xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam 

69 520 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Một Số Vấn Đề Về Việc Mở Rộng Thị Trường Xuất Khẩu Hàng Dệt May Việt Nam
Trường học Vietnam National University
Chuyên ngành Textile and Garment Export
Thể loại Luận văn
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 4,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

514 Nghiên cứu một số vấn đề về việc mở rộng thị trường xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam

Trang 2

Trong thời gian hơn bốn năm học tập tại trường, em đã trang

bị cho mình một vốn kiến thức cần thiết để có thể tự tin hơn khi bước vào cuộc sống Để có được những điều này em rất biết ơn sự

quan tâm của các thầy cô giáo trong trường, những người đã trực

tiếp giảng dạy cho chúng em

Luận văn tốt nghiệp này em có thể hoàn thành được là nhờ

sự hướng dẫn rất nhiệt tình của thầy Lê Văn Bảy, em xin chân thành cám ơn Thay!

Em cũng rất biết ơn sự giúp đỡ, dạy bảo của các thầy cô giáo trong khoa Quản trị kinh doanh, các thầy cô đã tạo những điều kiện

thuận lợi cho em được học tập, trưởng thành trong những năm học tại trường

Em xin kính chúc các thầy cô luôn đổi dào sức khoẻ và thành

công trong sự nghiệp giảng dạy của mình!

Trang 3

NHAN NET CUA GIAO VIEN HUONG DAN

⁄ ⁄

Vir var niny dllir: ent vitn loeb Mare

tà£z£ la — uae thank ban ding Yes Ci CMA 2ý

Ven Luli din njp hel Le hp “;z =

" hả mm oy) hy lô¿.22/, ÁL ấu eT brn

đưa Ue La Hit ill chilli chitefc 20e

hu!.yéd l He Te

Trang 4

NAN XET CUA GIAO VIEN PHAN BIEN

Trang 5

CHƯƠNG I : TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM

1 Khái quát tình hình xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam - 03

1.1 Những thị trường xuất khẩu chủ yếu -~~~~~~~~~~~~~~~~rr~~~r=rrr 05 1.2 Cơ cấu những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu -~ -¬~~~~~~~~~~~~~~~" 07

2 Những thuận lợi và khó khăn của ngành dệt may Việt Nam - 09

2.1 Những thuận lợi của ngành dệt may Việt Nam -~ =~==~===~=~~" 09 2.2 Những khó khăn của ngành dệt may Việt Nam -~ ~ ==~~==~~==" 10

2.3 Những thách thức đối với ngành dệt may Việt Nam hiện nay - 11

2.4 Những cơ hội đối với ngành đệt may Việt Nam -~ ~~~~~~~=~~~" 12

CHƯƠNG II: KHẢ NĂNG CẠNH TRANH VÀ NHỮNG NHÂN TỐ CHÍNH TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC MỞ RỘNG THỊ TRUONG NGANH DET MAY VIỆT NAM TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

1 Thực trạng những đặc điểm và xu hướng biến đổi của những thị trường

xuất khẩu chủ yếu -~-~=~~~==~~~===~~=~~~r=~“ 13

1.1 Thị trường EU -~-~~-~-~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~T~~TTTTTTTTTTTTTTD7 13 1.1.1 Khái quát những đặc điểm chung của thị trường EÙ - 13

1.1.2 Phân tích đặc điểm và xu hướng biến đổi của thị trường EU 14

1.2 Thị trường Nhật Ban - - -17 1.3 Thị trường Mỹ -~-~~-~~=~~=~~~~~~~r~~=~z==~=T~r=TT-TETTTTTTTDTD 18 1.4 Những thị trường xuất khẩu khác -~ ~-~~==~=~~~~~=~r=~~=~=======” 28 1.5 Phân tích lợi thế so sánh giữa các thị trường chủ yếu - 29

2 Đánh giá khả năng cạnh tranh và những nhân tố chính tác động đến việc

mở rộng thị trường ngành dệt may trong giai đoạn VỪAa QUâ -~ ~~~~~~~~~~~" 33

Trang 6

4 Qúa trình gia nhập WTO và những ảnh hưởng của nó đến ngành dệt

TAY -~~<=~=~===~==~~=rrrrer=zrrrrrmmrer=rzrrrree=rr==r==r==~TTTTTTTTTTTTTTTTTTTT7 45

5 Những cơ chế quần lý vĩ mô và những tác động của nó -~~-~~¬~¬“ 47

5.1 Định hướng, chủ trương của nhà nước và khả năng vận dụng - 47 5.2 Vai trò của Hiệp hội dét may trong qué trình tham gia và sự tác

1 Vai trò quản lý của nhà nước -~ ~ ~~~~~~~~~~~~==~=~z==r====r=r=====” 57

2 Vai trò của các doanh nghiệp thành viên và sự liên kết giữa các doanh nghiỆp -~~ ~~-~~~====~~======rr=rerr=r=rrrrrr=rr=rrr=~=-T—TTTTTETTTTTTTTTTD 58 KET LUAN.

Trang 7

Xây dựng, phát triển nền kinh tế nước nhà ngày càng ổn định hơn, vững mạnh hơn trong quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế là nhiệm vụ hàng đầu và đầy thách thức của Đảng và Nhà nước Để thực hiện được nhiệm vụ đó, Đảng và Nhà nước trước hết cần xác định được nội lực kinh tế của mình để định hướng xây dựng và phát huy thế mạnh, và ngành Dệt may là một trong bốn ngành được xem là ngành

chủ lực của Việt Nam

Ngành Dệt may chiếm địa vị quan trọng trong lĩnh vực công nghiệp của nước

Việt Nam Một cống hiến rất lớn trong việc phát triển nên kinh tế Việt Nam Sau

năm 1984 đến nay kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt may đứng thứ 2 trong cả nước với tốc độ tăng bình quân khoảng 12% Chính vì lẽ đó, tại Đại hội Hiệp hội Dệt may nhiệm kỳ 2 (14/11/2001) Thủ tướng Phan Văn Khải đã nhấn mạnh:” Lầm sao trong vòng 5 năm tới hình thành một ngành Dệt may Việt Nam hoàn chỉnh để chiến lược

10 năm ngành Dệt may chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân- Một

ngành giải quyết nhiều công ăn việc làm và ngày càng có thu nhập cao ”.(*)

Với những định hướng phát triển của Đảng và nhà nước, ngành Dệt may Việt

Nam đang hình thành những bước đi vững chắc với các mối quan hệ quốc tế mở

rộng, quan hệ đối ngoại gia tăng, xuất khẩu tăng trưởng với kim ngạch gia tăng hàng năm, đến năm 2002 vừa qua ngành Dệt may đạt hơn 2,7 tỷ USD, tăng hơn 37% so

với kế hoạch để ra, đóng góp rất lớn cho nguồn ngân sách nhà nước và tạo công ăn

việc làm cho hơn 1,6 triệu dân lao động Trong mục tiêu 5 năm tới, do Đại hội Đảng

lần thứ 9 để ra đối với ngành đệt may đến năm 2005 phải đạt được 750 triệu mét vải, xuất khẩu đạt 4-4,5 tỷ USD, tự sẳn xuất bông trong nước từ 2,5-3 vạn tấn bông,

tỷ lệ nguyên liệu trong nước trong giá trị xuất khẩu đạt được 50%, giải quyết thêm

công ăn việc làm từ 500.000 đến 700.000 lao động

Để đạt được những mục tiêu Đảng và Nhà nước để ra, ngành Dệt may Việt Nam

sẽ phẩi nỗ lực rất nhiều trong tương lai vì ngành đệt may Việt Nam hiện nay chỉ đạt được những thành tựu rất hạn chế so với những quốc gia khác Thị trường dét may thế giới rất rộng lớn nhưng cũng đầy thách thức trong sự cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia Hơn nữa, trong xu hướng hội nhập nên kinh tế thế giới hiện nay, với các Hiệp định thương mại được ký kết có những ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của

ngành Dệt may, các thị trường xuất khẩu chủ yếu của ngành Dệt may Việt Nam

luôn thay đổi và luôn thách thức sự không ngừng đổi mới và mở rộng của ngành Dệt

may Việt Nam Hơn nữa, kể từ ngày 01/01/2005 chế độ hạn ngạch đối với ngành dệt

SVTH: HO BICH NGOC Trang I

Trang 8

may sẽ bị bãi bỏ theo lịch trình của Hiệp định hàng Dệt may trong khuôn khổ tổ chức thương mại thế giới (WTO) chấm đứt thời kỳ dài cứ nhắc đến hàng dệt may là nhắc đến hạn ngạch, một bức tranh thế giới về ngành đệt may sẽ được vẽ lại trong

sự cạnh tranh vốn đã gay gắt có thể trở nên rất khốc liệt và phần thắng sẽ thuộc về những ai có sức mạnh thật sự Chính vì thế, chúng ta cần phải xem xét việc mở rộng thị trường xuất khẩu ngay từ bây giờ, để tranh thủ tạo được sức mạnh và uy tín trong thị trường tiêu dùng hàng dệt may thế giới

Do đó “ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG VIỆC MỞ RỘNG THỊ

TRƯỜNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM” là cần thiết và mang tính cấp bách, để chúng ta có thể tranh thủ chuẩn bị từ bây giờ những việc cần phải

làm nhằm bảo đảm được những hiệu quả cao hơn trong tương lai phat triển của

ngành dệt may Việt Nam Thủ tướng Phan Văn Khải đã nhấn mạnh: “ Trong thời kỳ này, ngành dệt may có đủ điêu kiện và năng lực để tăng tốc Vì vậy phải bàn xem,

tổ chức như thế nào, hoạt động như thế nào để có hiệu qua.” (**)

Mục đích nghiên cứu: của để tài này là phân tích một số đặc điểm và xu hướng

biến đổi của các thị trường chủ yếu và những nguyên nhân chủ quan khách quan hạn chế sự phát triển của ngành dệt may trong thời gian qua Qua đó nêu ra giải pháp chung cho ngành dệt may để có thể củng cố thị trường cũ và phát triển thị trường mới trong xu hướng chịu tác động chung của thị trường Dệt may thế giới

Phương pháp nghiên cứu: để tài này được thực hiện dựa trên cơ sở những kiến thức em được học tại trường kết hợp với kinh nghiệm thực tế trong thời gian em thực tập tại công ty Dệt Phong Phú khi làm báo cáo tốt nghiệp Để hoàn thành bài viết một cách trọn vẹn em đã nghiên cứu tài liệu, thống kế, khảo sát và xử lý dữ liệu để phân tích

(*),(**): Nguôn trích từ bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải,

tại Đại hội lần thứ 2 Hiệp hội dệt may Việt Nam

Trang 9

CHUONG I: TINH HINH XUAT KHAU CUA NGANH DET MAY VIET NAM

1 Khái quát tình hình xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam:

Ngành đệt may Việt Nam hiện nay ngày càng \ thể hiện vai trò quan trọng của mình trong nên kinh tế quốc dân, mang về một nguồn ngoại tệ tương đối lớn trong hoạt động xuất khẩu của cả nước, chiếm một vị trí chính yếu trong việc phát triển nên kinh tế đất nước Nếu như năm 1995 kim ngạch xuất khẩu hàng đệt may chỉ đạt

850 triệu USD thì đến năm 2000 kim ngạch đạt đến 1.892 triệu USD tăng nhanh qua các năm 2001 là 1.975 triệu USD, đặc biệt năm 2002 vừa qua là năm đầu tiên ngành dệt may Việt Nam đã đạt kim ngạch xuất khẩu 2.750 triệu USD tăng hơn 37% so với

kế hoạch đóng góp rất lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (Hình I) Năm tháng đầu năm 2003 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đã đạt được 1.376

triệu USD tăng 78,8% so với cùng kỳ năm 2002, đánh dấu một bước phát triển mới

và mang nhiều triển vọng của ngành dệt may Việt Nam Mặc di day 1a những con

số rất đáng khích lệ thể hiện những bước thành công rất lớn đối với ngành dệt may

Việt Nam trong giai đoạn này, nhưng việc làm thế nào để duy trì và tăng mức kim ngạch xuất khẩu này trong tương lai đó mới là điểu quan trọng và đáng xem xét nhất, vì xung quanh có rất nhiều biến đổi đang và sẽ tác động rất lớn đến ngành dệt may trong từng giai đoạn chẳng hạn như vấn để về quota, thị hiếu của từng thị

trường, việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới(WTO) những vấn đề này tác giả

xin phân tích cụ thể ở những phần sau

Để đạt được mức kim ngạch như hiện nay, trước hết là nhờ sự quan tâm chỉ đạo của Chính Phủ, các Bộ Ngành, và đặc biệt Hiệp định thương mại Việt- Mỹ có hiệu lực (12/2001) đã mang lại những thuận lợi rất lớn cho việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may nói riêng và một số ố ngành khác nói chung sang thị trường Mỹ, điều đó thể hiện rõ nhất ở con số kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ năm 2002 là

975 triệu USD tăng 20 lần so với năm trước Nhưng yếu tố quan trọng nhất đó chính

là sự nỗ lực, năng động của các doanh nghiệp đệt may trong ngành Hiện nay, tổng

số doanh nghiệp dệt may trên toàn quốc có 1031 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm 22% với 231 doanh nghiệp điều này cho thấy các doanh nghiệp trong nước đã năng động lên rất nhiều trong việc tự chủ kinh doanh thoát khỏi tình trạng phụ thuộc quá nhiều vào việc quản lý của nhà nước phù hợp với tình hình nên kinh tế thị trường, và 449 doanh nghiệp chiếm 43,5% là những doanh nghiệp tư nhân, cổ phần và trách nhiệm hữu hạn, còn lại là các doanh nghiệp đầu tư

SVTH: HỒ BÍCH NGỌC Trang 3

Trang 10

nước ngoài với 351 doanh nghiệp chiếm 34,5% chứng tỏ ngành dệt may Việt Nam

đã có khả năng thu hút một nguồn vốn đầu tư lớn từ nước ngoài 1.804 triệu USD

.Trong đó, Tổng công ty Dệt may Việt Nam (VINATEX) gồm 451 doanh nghiệp Dệt may trong nước, đóng một vai trò quan trọng trong ngành Dệt May nước nhà.(*)

Ngành dệt may Việt Nam có một vai trò rất lớn trong việc tạo ra công ăn việc làm cho người lao động bình dân, năm 2000 ngành dệt may giải quyết hơn 1,6 triệu

người lao động chưa kể đến lao động phục vụ cho ngành như: trồng bông, trồng dâu nuôi tầm, như vậy ngành dệt may hiện nay chiếm khoảng 25% lực lượng lao động công nghiệp của cả nước và dự kiến đến năm 2005 số người lao động phục vụ cho

ngành dệt may từ 2,5 đến 3 triệu người điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc

phát triển kinh tế xã hội đất nước Cũng chính vì lẽ đó tại Đại hội lần thứ 2 Hiệp hội

dệt may Việt Nam thủ tướng chính phủ Phan Văn Khải đã nhấn mạnh: “ Đối với

Việt Nam mới là thời kỳ đầu của công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước, dân số nhiễu, đất ít, nhiều lao động chưa có việc làm nên phải tận dụng để phát triển ngành

đệt may ”

KIM NGẠCH XUẤT KHẨU NGÀNH DỆT

MAY VIỆT NAM

trung é

Trang 11

1.1 Những thị trường xuất khẩu chủ yếu:

Trong những năm trước đây, thị trường xuất khẩu chủ yếu của hàng dệt may Việt Nam là Nhật Bản, EU và Đài Loan đó là những thị trường truyền thống có quan hệ lâu năm Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, hàng dệt may Việt Nam đã có những thay đổi mạnh mẽ không những về kim ngạch mà cả về cơ cấu thị trường xuất khẩu Trong khi xuất khẩu sang EU và Nhật Bản đang giảm sút trầm trọng thì kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ tăng rất nhanh

Đối với thị trường Mỹ ngay từ sau khi Hiệp định thương mại Việt Mỹ có hiệu lực (12/2001) các doanh nghiệp Việt Nam đã tích cực tận dụng cơ hội, tiếp cận tốt thị trường Mỹ tạo nên sự chuyển dịch đột biến về thị trường xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ vươn lên dẫn đầu, vượt qua các thị trường truyền thống khác như

EU, Nhật Bản năm 2002 đạt 975 triệu USD, chiếm 35,5% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành, trong khi đó năm 2000 kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ chỉ đạt 49,5 triệu USD ( chiếm 2,6%) và năm 2001 là 47,5 triệu USD (chiếm 2,4%), nổi bật hơn

là chỉ trong vòng 2 tháng đầu năm 2003 kim ngạch đã đạt 428, 286 triệu USD quả thật là một bước tiến rất xa, có như vậy chúng ta mới thấy rõ được ý nghĩa của việc

ký kết Hiệp định và vai trò của việc mở rộng liên kết kinh tế có ý nghĩa như thế nào,

vì đó chính là đòn bẩy tất yếu tạo điều kiện thuận lợi cho một nên kinh tế phát triển Tuy nhiên, những thành công này chỉ mang yếu tố tạm thời, vì việc xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Mỹ sẽ gặp những khó khăn rất lớn đó chính là vấn để về hạn ngạch, trong thời gian qua các doanh nghiệp tranh thủ thời gian Mỹ chưa áp dụng hạn ngạch đối với ngành dệt may Việt Nam nên tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu nhưng kể từ nay đến năm 2004 tổng kim ngạch hàng dệt may xuất khẩu vào

Mỹ không được vượt quá 1,7 tỷ USD/năm và sẽ tăng hàng năm là 10% Như vậy, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc xuất khẩu hàng vào thị trường Mỹ

Đối với thị trường EU, Nhật Bản hai thị trường truyền thống rất lớn thì trong những năm gần đây kim ngạch xuất khẩu hàng đệt may giảm sút đáng kể Năm

2000 EU và Nhật Bản là hai thị trường lớn nhất, Nhật Bản chiếm 32,7% với 619 triệu USD còn đối với EU đạt 609 triệu USD chiếm 32,1%, thì đến năm 2002 thị

trường Nhật Bản chỉ còn chiếm 17,8% với 490 triệu USD giảm 14,9%, EU đạt kim

ngạch 540 triệu USD chiếm 19,6% (Hình.2) Trước tình hình như vậy, ngành dệt may Việt Nam rất dễ mất đi những khách hàng quen thuộc của mình trong hai thị trường truyền thống lớn này, vì tập trung quá nhiễu vào thị trường Mỹ Điều này cũng cho thấy sự yếu kém của ngành dệt may Việt Nam, chưa có khả năng tập trung

Trang 12

không còn khả năng để đáp ứng nhu cầu cho các thị trường khác, mặc dù đó là

những thị trường rất quen thuộc như: Nhật Bản và EU

Ngoài 3 thị trường chủ yếu trên, còn có những thị trường khác mà ngành dệt may Việt Nam cũng đạt được những mức kim ngạch xuất khẩu đáng kể như: Đài

Loan với mức kim ngạch đạt được năm 2001 là 304 triệu USD (chiếm 15,5%) và

năm 2002 đạt 232,7% (chiếm 8,5%) Phần còn lại những thị trường khác chiếm 27,5% đạt 751 triệu USD năm 2002 Như vậy, đối với ngành dệt may Việt Nam bất

kỳ một thị trường nào ngoài Mỹ, EU, Nhật Bản đều có thể trở thành những thị

trường tiểm năng và đây hứa hẹn , điều cơ bản là làm sao ngành dệt may Việt Nam

phải ngày càng phát triển nội lực của mình để chiếm lĩnh những thị trường đó và chọn ra một hướng đi đúng đắn, bởi vì mọi điểu luôn biến đổi, biết đâu trong tương lai ngành dệt may Việt Nam sẽ tìm được những thị trường mới mà sức cạnh tranh không còn là yếu tố sống còn như hiện nay Vấn để này tác giả xin phân tích cụ thể

ở những phần sau

KIM NGẠCH XUẤT KHẨU DỆT MAY VIỆT NAM

SANG CÁC THỊ TRƯỜNG CHÍNH NĂM 2002

Trang 13

1.2 Cơ cấu những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu:

Ngành dệt may Việt Nam mặc dù còn gặp rất nhiêu hạn chế và thể hiện sự yếu kém trong khâu thiết kế sản phẩm, tuy nhiên với mức kim ngạch mà ngành dệt

may Việt Nam đạt được trong những năm gần đây chứng tỏ rằng ngành dệt may Việt

Nam cũng phần nào xác định được một số mặt hàng chủ lực nhằm đáp ứng được nhu cầu của thị trường các nước Mặc dù biết rằng những thị trường khác nhau sẽ có những nhu câu và thị hiếu tiêu dùng khác nhau, điểu này phụ thuộc rất nhiều vào yếu

tố văn hoá, tổ chức xã hội, hành vi tiêu dùng, điều kiện tự nhiên của từng quốc gia, chẳng hạn như đối với Nhật Bản thì mới có nhu cầu về áo Kimônô, đối với thị trường Saudi Arabia thì mới có nhu cầu về áo dài Ả Rập Do đó, chúng ta cần phải thực hiện tốt hơn trong khâu thiết kế sản phẩm thì mới có thể đáp ứng được nhu cầu đa dạng của mỗi thị trường ,có như vậy chúng ta mới có khả năng mở rộng thị trường

Trong số những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu, thì hiện nay những mặt hàng sau đây đạt kim ngạch xuất khẩu khá cao:

ÁO THUN: là mặt hàng xuất khẩu đạt kim ngạch 339 triệu USD năm

2002, và chỉ trong 4 tháng đầu năm 2003 đã ước đạt trên 192 triệu USD, tăng 19%

so với cùng kỳ năm trước và tiếp tục là mặt hàng đạt kim ngạch cao nhất Trong đó

thị trường xuất khẩu chủ yếu là Mỹ với kim ngạch trên 52 triệu USD, chiếm tới trên 80% tổng kim ngạch xuất khẩu và những thị trường nhập khẩu mặt hàng này đạt kim

ngạch cao tiếp theo đó là những thị trường EU, Nhật Bản, Đài Loan Một số doanh

nghiệp dệt may Việt Nam tham gia nhiều vào quá trình sản xuất và xuất khẩu áo

thun : công ty TNHH Quốc tế Chutex, công ty May Hưng Yên, công ty Dệt Thành Công, công ty TNHH J&K Vinako

ÁO SƠ MI: trong vòng 12 tháng năm 2002, kim ngạch xuất khẩu áo

sơ mi của cả nước đạt trên 202 triệu USD, và là mặt hàng đạt kim ngạch lớn thứ 4

sau áo jacket, quân và áo thun Trong đó, EU là thị trường nhập khẩu áo sơ mi nhiều

nhất của ta với kim ngạch ước đạt trên 60 triệu USD, tiếp đến là Mỹ 59,4 triệu USD,

Nhật Bản gần 42 triệu USD Tuy nhiên, những tháng đầu năm 2003 kim ngạch xuất khẩu áo sơ mi sang thị trường EU giảm cùng với tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này, và thị trường Mỹ vượt lên dẫn đầu với mức kim ngạch đạt trên 37 triệu trong 3 tháng đầu năm 2003 trong tổng số 86 triệu USD kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này Với mức giá xuất khẩu áo sơ mi hiện nay thì thị trường Nhật

Bản là thị trường đạt đơn giá xuất khẩu cao nhất trên 12USD/ sản phẩm giá FOB so với mức 4,488 USD của EU và 4,7756 USD của Mỹ Vì vậy, chúng ta cần hướng tới

Trang 14

tập trung xuất khẩu mặt hàng này vào thị trường Nhật Bản có như vậy thì chúng ta mới đạt được lợi nhuận kim ngạch xuất khẩu cao Những đơn vị đạt kim ngạch xuất khẩu cao chủ yếu là các doanh nghiệp trong nước như công ty May 10, công ty cổ phần May Bình Minh, công ty May Việt Tiến, công ty May Đức Giang

ÁO JACKETT: Được xem là một trong những mặt hàng truyền thống của ta, áo jacket luôn là một trong 4 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất cùng với áo thun, áo sơ mi và quân Năm 2002 vừa qua kim ngạch xuất khẩu áo jacket đạt trên 345 triệu USD 4 tháng đầu năm 2003 kim ngạch xuất khẩu đạt 45 triệu USD tăng 21,8% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó xuất khẩu sang thị trường

Mỹ đạt cao nhất trên 27 triệu USD, tiếp theo là các nước EU,Đài Loan và Nhật Bản Một số đơn vị tham gia xuất khẩu áo jacket đạt kim ngạch cao như: công ty May Việt Tiến, công ty May Thăng Long, công ty May Nhà Bè, công ty cổ phần May Bình Minh, công ty TNHH SX Upgain (Việt Nam)

QUẦN: năm 2002 kim ngạch xuất khẩu quần đạt trên 317 triệu USD,

và chỉ trong vòng 3 tháng đầu năm đã đạt được 128 triệu USD, thị trường Mỹ vẫn là thị trường đứng đầu về nhập khẩu mặt hàng này, tiếp đó vẫn là các thị trừơng truyền thống EU, Nhật Bản, Đài Loan Đối với mặt hàng quần ngành dệt may Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng sau : quần âu, quần dài nam nữ, quần soóc tuỳ vào nhu cầu của thị trường theo mốt, và theo mùa mà việc xuất khẩu mặt hàng này thay đổi nhiều theo từng tháng Các đơn vị tham gia xuất khẩu chủ yếu mặt hàng này:

công ty TNHH Domex Việt Nam, công ty TNHH May mặc Sing Việt, công ty

TNHH Phú Hán, công ty May XK Thái Bình

KHĂN BÔNG: trong năm 2002 kim ngạch xuất khẩu khăn bông đạt

19,05 triệu USD, và 2 tháng đầu năm 2003 đạt kim ngạch 1,5 triệu USD, trong đó

thị trường xuất khẩu chủ yếu là Nhật Bản chiếm hơn 90% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam và đây được xem là một mặt hàng truyền thống tại thị trường Nhật, tiếp theo là các thị trường Đài Loan và Hàn Quốc Các đơn vị dệt may xuất khẩu mặt hàng khăn bông chủ yếu: công ty Dệt Phong Phú, công ty Dệt Hải Phòng, công ty XNK Dệt may

Ngoài những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu như kể trên, ngành dệt may Việt Nam cũng đang từng bước cố gắng đa dạng hoá các sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của nhiều thị trường khác nhau, mặc dù chưa đạt kim ngạch cao ở hiện tại nhưng nó cũng góp một phần nào việc đa dạng hoá sản phẩm trong xu hướng mở rộng ngành dệt may Việt Nam như các mặt hàng: túi xách, áo len, quân áo thể thao, đồ lót, vải,

Trang 15

GVHD: TS LE VAN BAY Luận văn tất nghiệp

chỉ hiện tại để đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng này chúng ta cần phải nâng cao năng lực ở khâu thiết kế mẫu mã sản phẩm và giảm giá thành thì mới có khả năng cạnh

tranh với các nước khác

2 Những thuận lợi và khó khăn của ngành Dệt may Việt Nam:

2.1 Những thuận lợi của ngành Dệt may Việt Nam:

- Việt Nam là một nước có nguồn lao động đổi dào và cần cù, giá nhân công lại tương đối rẻ

- Ngành Dệt may có được sự quan tâm của Đáng của Chính Phủ trong quá trình

xây đựng và phát triển, Chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển ngành Dệt

may đến năm 20010, đây là chiến lược tăng tốc phát triển và để hỗ trợ cho chiến lược này Chính phủ đã có một cơ chế chính sách rất thoả đáng và cởi mở đối với

ngành Dệt may như:

+ Tín dụng được cho vay với lãi suất ưu đãi 3%/năm với thời gian vay 12-15 năm trong đó có 3 năm ân hạn

+ Tao diéu kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường thông qua các

chuyến viếng thăm của các nhà lãnh đạo và các bộ

- Ngành thời trang Việt Nam ngày càng phát triển và phần nào đã thể hiện được

nét riêng của mình trong các cuộc trình điễn thời trang quốc tế và dần dần hình thành một số nhà thiết kế thời trang có tên tuổi như: Minh Hạnh, Minh Khoa, Trần

Công Trí

- Tổ chức các hiệp hội được hình thành và ngày càng có vai trò quan trọng trong

việc giúp đỡ các doanh nghiệp trong hiệp hội mở rộng và nắm bắt thông tin thị

trường

- Việt Nam là một đất nước có dầu, có ga, có thể hoá dâu, có nhiều gỗ, có nhiều tre nứa, vì vậy chúng ta có thể mở rộng tìm kiếm nguồn nguyên liệu bằng Vitsco Ở Việt Nam có đủ điểu kiện, đủ cơ sở nguyên liệu để phát triển ngành dệt một cách đa dạng , có nhiều sản phẩm từ bông đến các loại sợi tổng hợp

SVTH: HỒ BÍCH NGỌC Trang 9

Trang 16

2.2 Những khó khăn của ngành Dệt may Việt Nam:

- Nhiều doanh nghiệp dệt may Việt Nam chưa đầu tư và xây dựng thương hiệu doanh nghiệp và thương hiệu sản phẩm tại thị trường nước ngoài Trong khi đó, yếu

tố về thương hiệu ngày càng trở nên quan trọng trong lĩnh vực xuất khẩu hàng Dệt may bởi cùng chất lượng như nhau nhưng những sản phẩm có thương hiệu uy tín và được người tiêu dùng biết đến sẽ có khả năng tiêu thụ cao hơn và có mức giá bán

cao hơn

- Gía cả các sản phẩm Dệt may còn cao hơn so với các nước khác, làm giảm đổi tính cạnh tranh của hàng Dệt may Việt Nam, chủ yếu do các nguyên nhân sau:

+ Trình độ thiết bị công nghệ và trình độ quản lý, kỹ thuật của công

nhân chưa cao nên năng suất lao động còn hạn chế Nguyên nhân chủ yếu do

nhiều công ty đệt may Việt Nam chưa chú trọng trong việc đào tạo nguồn nhân

lực và công tác đầu tư, thay đổi trang thiết bị hiện đại, không xây dựng và đưa ra

được những dự án phát triển hợp lý, mang tính khả thi cao trong tương lai để có

thể thu hút vốn đầu tư

+ Nguồn nguyên vật liệu và nguyên phụ liệu trong nước đáp ứng cho

ngành Dệt may chiếm tỷ trọng rất thấp trong giá trị xuất khẩu, chỉ có thể đáp ứng được từ 20-25%, phần còn lại phẩi nhập khẩu từ các nước, đây cũng là một yếu tố rất quan trọng làm giảm đi tính cạnh tranh về giá của hàng Dệt may Việt Nam

Nguyên nhân của tình trạng này là do sự phát triển không tương xứng, đồng đều

giữa ngành đệt - ngành may và các ngành sản xuất những sản phẩm bổ trợ cho

ngành may

+ Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay vẫn còn thực hiện gia

công rất nhiễu, hay chủ yếu xuất khẩu theo hình thức trung gian, chứ rất ít có khả năng xuất khẩu trực tiếp Cho nên, giá thành của các sản phẩm bị đội lốt lên rất nhiều khi đến tay người tiêu dùng

.- Các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam vẫn còn thể hiện sự yếu kém trong năng lực thiết kế mẫu mã, chủng loại sản phẩm, cho nên còn rất hạn chế trong khả năng

đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của các khách hàng Do các doanh nghiệp dệt may hiện

nay, phần lớn thực hiện xuất khẩu theo hình thức nhận đặt hàng theo mẫu mã và kiểu đáng của khách hàng yêu cầu Trong đó có nhiễu hình thức mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm do khách hàng yêu cầu, nhiều doanh nghiệp không thể đáp ứng được vì

Trang 17

công tác tạo mẫu còn thấp kém Cho nên hầu hết các sắn phẩm xuất khẩu hiện nay

chủ yếu là những sản phẩm phổ thông chưa có sản phẩm cao cấp

-Đa số các doanh nghiệp chưa có văn phòng đại diện hay chỉ nhánh tại thị trường

các nước, do đó việc năm bắt thông tin, kha năng tiếp xúc và nắm rõ những nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng một cách trực tiếp vẫn là một vấn để nan giải Thật sự,

các doanh nghiệp đệt may Việt Nam chưa chú trọng đến công tác nghiên cứu thị

trường mà đây lại là một yếu tố rất quan trọng trong việc xác định và mở rộng những

thị trường xuất khẩu Phần lớn các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay khi

thực hiện những chuyến công tác ở thị trường nước ngoài chủ yếu dành nhiều thời gian gặp gỡ các đối tác làm ăn bàn bạc về những hợp đông đã và sẽ ký, chứ rất ít khi

có những chuyên viên phụ trách công tác nghiên cứu thị trường đi kèm để tìm hiểu thêm những thông tin về thị trường một cách chuyên nghiệp, mà chỉ đơn giản là

những cuộc gặp gỡ tiếp xúc trao đổi với các “khách hàng trung gian ” để thực hiện

ký kết hợp đông Tác giả xin nhấn mạnh “khách hàng trung gian “ ở đây, điều này

có nghĩa các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay, chủ yếu ký kết với các

Công ty trung gian để xuất khẩu các săn phẩm của mình sang các thị trường, và sản phẩm xuất khẩu sẽ từ những khách hàng trung gian này phân phối đến thị trường tiêu thụ theo những nhãn hiệu riêng của họ Cho nên, việc tìm hiểu những thông tin phản hôi từ những người tiêu dùng cuối cùng đối với các doanh nghiệp thật sự rất hạn chế

- Cuối cùng, một trong những yếu điểm của hầu hết các doanh nghiệp dệt may Việt Nam có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng mở rộng thị trường đó chính là việc yếu kém trong công tác Marketing Hâu hết, các doanh nghiệp dệt may chưa chú

trọng nhiều đến công tác Marketing, đa số chưa có những bộ phận Marketing riêng

biệt Như một ví dụ mang tính điển hình, tại công ty Dệt Phong Phú bộ phận xuất

nhập khẩu thực hiện luôn công tác Marketing, nhưng công việc Marketing đơn giản chỉ là việc giới thiệu công ty với những khách hàng thông qua các địa chỉ trên trang web và chào hàng đối với những khách hàng cũ đã quen biết, chứ thật sự chưa mang tính chuyên nghiệp của một bộ phận Marketing riêng biệt

2.3 Những thách thức đối với ngành Dệt may Việt Nam hiện nay:

- Mỹ áp đặt hạn ngạch đối với ngành Dệt May Việt Nam Cho nên trong thời

gian tới kim ngạch xuất khẩu hàng đệt may sang thị trường này sẽ bị hạn chế rất nhiều

Trang 18

-Môi trường cạnh tranh rất gay gắt với các đối thủ cạnh tranh rất mạnh như: Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc đặc biệt kể từ khi Trung Quốc gia nhập WTO, Trung Quốc vốn đã mạnh nay càng trở nên chiếm ưu thế hơn không chỉ riêng đối với Việt Nam mà còn đối với bất kỳ nước nào tham gia vào việc xuất khẩu hàng Dệt may trên thế giới

-Việt Nam đang trong tiến trình gia nhập AFTA, cho nên thuế suất các mặt hàng nhập khẩu sẽ được cắt giảm theo lộ trình từ năm 2006 thuế nhập khẩu các mặt hàng vào Việt Nam từ 0-5%, đến năm 2015 sẽ là 0% Vì vậy, ngay cả đối với thị trường

nội địa trong nước ngành Dệt may Việt Nam cũng đã phải chịu một sức cạnh tranh

rất lớn.(*)

- Thời hạn Hiệp định hàng Dệt ATC của WTO sẽ kết thúc vào năm 2004 Từ 01/01/2005 sẽ xoá bỏ chế độ áp dụng hạn ngạch đối với ngành dệt may, vì vậy đây

sẽ là một thách thức rất lớn đối với ngành Dệt may Việt Nam

2.4 Những cơ hội đối với ngành Dệt may Việt Nam:

- Việc ký kết Hiệp định thương mai song phương với Hoa Kỳ đã tạo những điều kiện thuận lợi cho chúng ta mở rộng việc thâm nhập thị trường này, một thị trường

được xem là thị trường lớn nhất thế giới

- Sau sự kiện khủng bố ngày 11/09/2001 Việt Nam được thế giới đánh giá là một

nước ổn định về an toàn xã hội và chính trị, đây là điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư tại Việt Nam

- Việt Nam và Liên minh Châu Âu ký kết hiệp định sửa đổi và bổ sung về

thương mại hàng Dệt may Trong đó, kể từ năm 2003 tất cả các CAT “ nóng” của Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường này sẽ tăng từ 50-70% Đây có thể là tín hiệu đáng mừng cho sự tăng trưởng của ngành Dệt may trong thời gian tới

Những yếu tố trên đây sẽ được tác giả phân tích kỹ ở những phần sau

(*): Nguôn trích từ sách công nghiệp dệt may Việt Nam và thời trang Việt Nam-

Tổng quan tiềm năng và triển vọng công nghiệp dệt may Việt Nam- trang 229

SVTH: HO BÍCH NGỌC Trang 12

Trang 19

GVHD: TS LE VAN BẢY Luận văn tốt nghiệp

CHƯƠNG II: KHẢ NĂNG CẠNH TRANH VÀ NHUNG

1.1.1 Khái quát những đặc điểm chung của thị trường EU:

Liên minh Châu Âu (EU) là một khối liên minh lớn nhất bao gồm 15 nước

thành viên: Ai Len, Anh, Ao, Bi, Bồ Đào Nha, Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Hy Lap, Italia, Nauy, Phần Lan, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ với dân số trên

377 triệu người (năm 2000) như vậy có nghĩa đây là thị trường lớn gấp 3 thị trường

Nhật Bản, lớn hơn thị trường Mỹ khoảng 40% và lớn hơn toàn bộ khu vực mậu dịch

tự do Bắc Mỹ (NAFTA) với khoảng 360 triệu dân Về mặt dân số và quy mô thị

trường đang tôn tại sự khác biệt rất lớn ngay chính trong bản thân EU Đức có số dân lớn nhất với 82 triệu dân, Anh,Ý và Pháp mỗi nước có khoảng 60 triệu Các khu vực

có mật độ dân số cao nằm ở vùng tây bắc của nước Đức, Hà Lan, tây nam nước Anh

và miền Bắc nước Ý Hà Lan cũng là một khu vực có mật độ dân số gần như cao nhất trong liên minh Châu Âu Mật độ dân số cao cũng có thể dễ nhận thấy ở thủ đô của các nước EU Các quốc gia vùng tây bắc EU cũng là những quốc gia được đô thị

thời tiết này là yếu tố quyết định đến hành vi mua hàng của người tiêu dùng trong

EU Nhu cầu về mặt hàng cụ thể như: hàng may mặc và đồ đạc nội ngoại thất chịu

sự ảnh hưởng rất lớn bởi sự khác biệt về thời tiết

SVTH: HỒ BÍCH NGỌC Trang l3

Trang 20

Trong cơ cấu độ tuổi, Châu Âu có đặc tính biểu hiện của một xã hội đang già đi

Điều này có thể nhận thấy ở toàn bộ các quốc gia trong khối, nhưng tại các quốc gia

thuộc vùng tây bắc EU nó xảy ra nghiêm trọng hơn, Hà Lan là một ví dụ: có khoảng

3 triệu dân , hay 20% dân số ở độ tuổi 55 hoặc hơn và tỉ lệ này vẫn đang tiếp tục

tăng, những người ở độ tuổi này hình thành nên một loại thị trường đáng quan tâm Không phải vì con số những người có tuổi ngày càng cao mà vì sức mua đáng kể của

họ Có một điều rõ ràng rằng những người ở độ tuổi này có những nhu câu đặc biệt

về quần áo, vật dụng cá nhân, sản phẩm chăm sóc sức khoẻ, thực phẩm và những đồ dùng tiện nghi khác Đồng thời những người lớn tuổi không dễ dàng được chấp nhận sống cùng với con cháu họ Bởi vậy trong nhiễu trường hợp họ phải sống theo cách riêng của họ, mặc dù họ đã cao tuổi Các thành viên trong gia đình và các tổ chức

chăm sóc chuyên nghiệp sẽ giúp đỡ tại nhà, giúp đỡ họ các việc lặt vặt và nấu ăn Một trong những hệ quả của hiện tượng gia tăng số lượng các gia đình có quy mô

nhỏ là sự gia tăng nhu câu các sản phẩm thiết yếu ở cả hai thế hệ trẻ và già

Sự khác biệt cũng tôn tại trong cấu trúc sắc tộc ,sự đa dạng sắc tộc là phổ biến trong EU, hiện tại có khoảng 10 triệu người không phải là người gốc EU đang sinh sống tại đây, ví dụ như: Hà Lan và Đức, người nhập cư chủ yếu đến từ Thổ Nhĩ Kỳ

và Ma Rốc, trong khi ở Anh thì phần lớn họ đến từ Ấn Độ và Pakixtan Sự thật là tính đa dạng giữa các quốc gia thành viên EU được phan ánh bởi nền văn hoá của

chính họ Sự đa dạng tương đối về văn hoá không chỉ giữa các quốc gia thành viên

mà còn chính trong nội bộ mỗi quốc gia Chẳng hạn như người tại Tây Ban Nha,

người xứ Bascơ miễn bắc có nền văn hoá khác căn bản với người Tây Ban Nha khác Trên thực tế điểu này xảy ra ở tất cả các quốc gia thành viên Cùng với sự khác nhau cơ bản về văn hoá, sắc tộc đã dẫn đến sự khác nhau về thói quen tiêu dùng và hành vi mua sắm cũng khác nhau giữa các quốc gia và ngay trong mỗi quốc

gia Cụm từ : “người tiêu dùng Châu Au” không tổn tại Cụ thể như, tại các khu vực

ở phần tây bắc sung túc hơn của EU người dân sử dụng phần lớn thu nhập vào việc mua sắm nhà cửa, các đồ dùng đắt tiễn, du lịch, giải trí và chăm sóc y tế và tại vùng này yếu tố chất lượng trở nên rất quan trọng, mặc dù trên toàn EU chất lượng đã được xem như một nhân tố quan trọng đối với quyết định mua sắm

1.1.2 Phân tích đặc điểm và xu hướng biến đổi cuả thị trường EU:

Thị trường EU được xem là một khu vực thương mại lớn nhất thế giới, với tổng sin phẩm quốc nội (GDP) đạt 9785 tỷ USD (năm 2000), nếu so sánh thì tổng sản

lượng quốc nội của EU lớn hơn Mỹ khoảng 13%, hơn Nhật Bản 38% Bốn thị trường

chính là Đức, Pháp, Ý và Anh chiếm 72% tổng sản phẩm quốc nội của EU Nếu tính

SVTH: HO BICH NGOC Trang 14

Trang 21

cả thương mại trong khối, EU chiếm 40% khối lượng hàng hoá xuất nhập khẩu trên toàn thế giới Vai trò quan trọng của EU như một khối thương mại lớn và sẽ ngày

càng tăng lên với việc ngày càng mở rộng sự gia nhập của một vài quốc gia Đông

Âu khác trở thành thành viên mới của khối Những thống kê cho thấy hàng hoá được

nhập khẩu vào EU từ các quốc gia đang phát triển đang tăng và cơ cấu các mặt hàng

nhập khẩu từ các quốc gia này cũng đang thay đổi theo hướng nhập khẩu hàng công nghiệp chế tạo Tuy nhiên phần lớn lượng hàng hoá nhập khẩu đó là từ Trung Quốc

và một số thị trường mới nổi lên ở Châu Á và Mỹ La tỉnh Và sau đây, là một vài

phân tích đặc điểm của thị trường này:

- Đâu tiên phải kể đến sự đa dạng của thị trường EU và nó sẽ trở nên đa dạng

hơn mỗi khi có thêm một thành viên mới gia nhập, chẳng hạn như nhu cầu thị trường

của EU chắc chắn sẽ có thêm một phần thay đổi khi có sự gia nhập của một thành

viên mới trong tháng 6/2003 vừa qua đó là Ba Lan Và đến tháng 7-2004 sẽ mở rộng thêm 10 nước và người tiêu dùng sẽ tăng thêm 500 triệu người Như vậy đây sẽ là

một thị trường rất rộng lớn và đây tiểm năng Mặc dù về ngôn từ kỹ thuật EU được gọi là một thị trường thống nhất, nhưng sự thật thì thị trường EU là một nhóm các quốc gia và thị trường khác nhau, mỗi thị trường lại có những đặc điểm riêng của mình Điều cốt lõi trong sự khác nhau giữa EU và các quốc gia độc lập khác ở chỗ là hàng hoá, vốn, dịch vụ và con người trong EU có thể được di chuyển một cách tự do

giữa các thành viên với nhau Tuy nhiên, các nhà xuất khẩu ở các nước đang phát

triển thường không nhận ra điều này Các quốc gia khác nhau trong EU đem đến những cơ hội khác nhau và yêu cầu những cách tiếp cận khác nhau Cho nên vấn để

đặt ra đối với các doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường EU là phải xác định từng

thị trường mục tiêu một cách cụ thể và cân nhắc kỹ lưỡng các chiến lược, phương án

cụ thể

- Thị trường EU nổi lên bởi sự cạnh tranh gay gắt, buộc các doanh nghiệp, công

ty phải mang lại cho khách hàng nhiễu lợi ích hơn so với các đối thủ của họ Điều này có nghĩa là chất lượng sản phẩm phải liên tục được cải tiến, sản phẩm phải liên tục được đổi mới hơn so với trước và dịch vụ ngày càng tốt hơn Các nhà xuất khẩu ở các nước đang phát triển không thể chỉ dựa vào chỉ phí lao động thấp để mà cạnh tranh được nữa Chất lượng cao, liên tục đổi mới sản phẩm, luôn tạo hình ảnh tốt về doanh nghiệp, công ty và dịch vụ tốt nhất cũng đã quan trọng không kém việc đưa ra

giá chào cạnh tranh

- Mối quan tâm về sức khoẻ, sự an toàn cho người lao động và khách hàng cũng

như môi trường, tất cả những điểu này đã thúc đẩy việc cần thiết phải có những

SVTH: HỒ BÍCH NGỌC Trang

Trang 22

chứng nhận, nhãn hiệu và tiêu chuẩn quốc tế Những điều này hoặc bị bắt buộc bởi

luật pháp hoặc bị đồi hỏi bởi chính bản thân thị trường Như vậy để có thể mở rộng

được thị trường thì những nhà xuất khẩu ở những nước đang phát triển phải tuân theo những luật lệ này Người tiêu dùng Châu Âu ngày nay trở nên khắt khe hơn đối với các khía cạnh xã hội liên quan đến vấn để sản xuất hàng hoá Những nhãn hiệu thương mại được thừa nhận là đảm bảo sự phân chia thu nhập công bằng cho người

sản xuất thực sự, trong những điều kiện lao động phù hợp, không lạm dụng lao động

trẻ em , đang được xem là rất quan trọng đối với cơ quan quản lý và người tiêu dùng Điều này đặc biệt được chú ý ở vùng tây bắc EU

Đối với ngành dệt may :

Khối liên minh Châu Âu là một đối tác mậu dịch lớn của Việt Nam ,là khách hàng truyền thống nhập khẩu các hàng dệt may, trung bình hàng năm chiếm gần 35% tổng số xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam Thị trường EU gồm 15 nước thành viên, là nơi nhập khẩu nhiễu nhất đồng thời cũng là nhà xuất khẩu lớn thứ 2 thế giới về hàng dệt may Đây là một thị trường thống nhất về mức thuế, điều lệ

chung, cùng quan điểm về hàng đưa vào 15 nước thành viên EU đã áp dụng hiệp

định về hàng đệt may (ATC) đáp ứng được đầy đú quy định của WTO trong lĩnh vực này Tuy nhiên, EU vẫn duy trì hạn ngạch nhập khẩu một số sản phẩm trong đó có hang dét may va phan lớn đều được tăng dân hàng năm EU cũng ấp dụng việc miễn

nhập khẩu hàng đệt may theo hạn ngạch cho các nước kém phát triển nhất, theo đó

các nước này được hưởng mức thuế nhập khẩu bằng 0, một số nước đang phát triển cũng được hưởng những ưu đãi này Tính đến nay, EU vẫn duy trì 209 hạn ngạch khác nhau cho xuất khẩu của 25 nước và vùng lãnh thổ trong đó có Việt Nam

Quy trình xuất khẩuhàng dệt may vào thị trường EU có thể tóm tắt như sau: trên cơ sở thảo thuận hạn ngạch hàng dệt may được ký kết giữa Việt Nam và Liên

minh Chau Au, nếu như trước đây do Bộ thương mại và Công nghiệp quản lý và phân chia hạn ngạch cho các doanh nghiệp nay là Hiệp hội dệt may Việt Nam sẽ đứng ra phân bổ hạn ngạch cho các doanh nghiệp, văn bản phân bổ này sẽ được báo cáo cho cơ quan quản lý nhà nước ( Bộ công nghiệp- Bộ thương mại) và EU biết

Trên cơ sở này các doanh nghiệp tiến hành ký kết hợp đồng với đối tác và tiến hành sản xuất xuất khẩu thông thường , sau đó nhà xuất khẩu sẽ đến cơ quan quản lý của

Bộ thương mại để được cấp giấy phép xuất khẩu (Export License) và người mua hàng sử dụng Export License để tiến hành làm thủ tục nhập khẩu sản phẩm vào EU

Trang 23

1.2 Thị trường Nhật Bản:

Đối với ngành dệt may Việt Nam, thị trường Nhat Ban là một thi trường truyễn thống, với dân số trên 127 triệu người (ước tính đến tháng 7/2001), và tổng

diện tích chiếm 377.853 km2GDP ước tính năm 2000 đạt 3,15 nghìn tỷ USD Đất

nước Nhật Bản là một quốc gia giàu có, có nên kinh tế phát triển nhất Châu Á và có nên công nghiệp đứng thứ 2 trên thế giới (sau Mỹ) và nền kinh tế đứng thứ 3 thế giới (sau Mỹ và Trung Quốc) Một đặc trưng của nước này là các nhà sản xuất, cung ứng,

và phân phối kết nối chặt chế với nhau thành những tập đoàn Đặc trưng thứ 2 là lực lượng công nhân thành thị chiếm một vị trí quan trọng

Ngày nay, thị trường Nhật Bản là một thị trường mở, quy mô lớn đối với các nhà đầu tư và sản phẩm nước ngoài Đặc biệt hàng nước ngoài có thể thâm nhập được tại thị trường Nhật Bản Người tiêu dùng Nhật Bản đánh giá tính cạnh tranh của các sản phẩm trong nước và nước ngoài theo những tiêu chí như nhau Họ chấp nhận trả giá cao hơn một chút cho những sản phẩm có chất lượng tốt Nhật Bản là một thị trường hết sức cạnh tranh vì lượng hàng hoá nhập khẩu rất nhiều Để bán được hàng ở Nhật, các nhà xuất khẩu cần phải hết sức chú trọng đến việc đóng gói

và bao bì sản phẩm Ở Châu Âu và Mỹ người ta cho rằng, nếu một sản phẩm là tốt thì việc hoàn tất và đóng gói là không quan trọng Nhưng điều này hoàn toàn không đúng đối với Nhật Bản, trong rất nhiều trường hợp, doanh số bán hàng tại Nhật Bản

lệ thuộc vào việc sản phẩm được đóng gói xấu hay đẹp

Người tiêu dùng Nhật Bản có những đặc tính như sau:

- Trong số những người tiêu dùng tại Nhật Bản thì 90% người tiêu dùng cho

rằng họ thuộc về “tầng lớp trung lưu”

- Người tiêu dùng Nhật Bản có những yêu cần rất khắt khe và họ rất kỹ tính,

Trang 24

Những lý do khiến người tiêu dùng Nhật Bản mua hàng nhập khẩu:

- Những sản phẩm này lạ, không có tại thị trường Nhật Bản

- Do những sản phẩm này được sản xuất tại các nước, mà họ nổi tiếng về những sản phẩm đó Ví dụ như: đồng hổ được sản xuất tại Thuy Sỹ, nước hoa được

làm tại Pháp

-Do những sản phẩm nhập khẩu có giá rẻ hơn các sản phẩm sản xuất trong nước nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu về chất lượng và mẫu mã

- Người Nhật là những người giàu có, họ sin sang mua những sản pham gid

rất cao, đó là những sản phẩm có những nhãn hiệu nổi tiếng thể hiện được vị trí, địa

vị của họ trong xã hội Họ thích mua những sản phẩm mà khi nhắc đến nhãn hiệu của nó người ta có thể liên tưởng đến một số tiền rất lớn mà họ đã bỏ ra để mua nó

Thị trường Nhật Bản là một thị trường tiểm năng đối với ngành đệt may Việt Nam, nhưng hiện nay yếu tố cạnh tranh tại thị trường này rất gay gắt và Trung Quốc hiện nay đang chiếm lĩnh phân lớn thị phần tại thị trường này.(*)

1.3 Thị trường Mỹ:

Mỹ là một thị trường có sức mua lớn nhất, với tổng diện tích 9.629.091 km? va

được chia ra làm 50 bang, với số dan trén 285,822 trigu ngudi (2001), chiếm khoảng 5% dân số thế giới và mật độ dân số khoảng 30 người/km” Mỹ là nước đông dân thứ

3 trên thế giới sau Trung Quốc và Ấn Độ Đây là một quốc gia có đa dân tộc có nền văn hoá đa dạng và phong phú, đại dân số là người da trắng chiếm gân 70% dân số,

người da đen chiếm 12%, người Tây Ban Nha và Bô Đào Nha 12%, người gốc Châu

Á gần 4% và thổ dân gần 1% Mỹ có tỷ lệ tăng dân số hàng năm vào khoảng 1%

Trang 25

GVHD: TS LE VAN BAY

Theo thống kê của bộ thương mại, Mỹ có khoảng 98 triệu hộ gia đình ,, trong đó có

khoảng 1 triệu hộ có tài sản trên 1 triệu USD Số còn lại có thể chia thành 4 nhóm:

- Nhóm 1: có thu nhập thấp nhất khoảng 17.000USD/năm

- Nhóm 2: Hộ có thu nhập khoảng 30.000 USD/năm

- Nhóm 3: Gồm những hộ có thu nhập khoảng 45.000 USD/năm

- Nhóm 4: Nhóm có thu nhập cao nhất khoảng 67.000USD/năm

Qua các số liệu trên ta thấy rằng các hộ thuộc nhóm 1 chi chiếm 15% dân số

Nhưng ngay cả nhóm này cũng có thu nhập cao hơn thu nhập bình quân của Việt

Nam gấp 40 lân Họ vẫn có sức mua đáng kể đối với hàng tiêu dùng các loại, đặc

biệt là các hàng hoá bình dân có xuất xứ từ các nước đang phát triển.(*)

Người dân Mỹ có mức sống khác nhau nên nhu cầu tiêu dùng cũng khác nhau Tuy nhiên, cơ chế thị trường ở một xã hội tiêu thụ như Mỹ cũng đã có những

giải pháp đáp ứng nhu cầu cho các tầng lớp nhân dân Bên cạnh các cửa hàng cho

người thu nhập cao với các hàng hoá cao cấp còn có những cửa hàng dành riêng cho

người thu nhập thấp với các mặt hàng thiết yếu với giá cá phải chăng Bởi vì, hàng hoá nhập vào Mỹ cũng rất đa dạng về chủng loại và chất lượng, có cả hàng cao cấp

và hàng bình dân Mỹ nhập hàng từ nhiều nước khác nhau, cả nước phát triển và nước đang phát triển phục vụ cho những yêu cầu tiêu dùng khác nhau

Mỹ là nước có xu hướng đâu tư chiều sâu vào công nghệ (hơn 2 tỷ USD mỗi

năm) trang thiết bị máy móc hiện đại, hình thành ngành may hàng cao cấp với các

nhãn hiệu nổi tiếng và nhân công có tay nghề cao, riêng đối với các mặt hàng bình dân, sơ cấp các nhà sản xuất Mỹ dường như bỏ ngỏ, hoặc Mỹ thực hiện chiến lược xuất khẩu vải và nguyên phụ liệu rồi sau đó nhập khẩu thành phẩm, chẳng hạn như 80% quần áo từ Mêhicô được nhập khẩu vào Mỹ được may bằng vải do Mỹ sản xuất Với kim ngạch nhập khẩu khoảng 60 tỷ USD mỗi năm, bằng cả khối lượng

hàng đệt may của Nhật và EU cộng lại, cho nên Mỹ là thị trường khổng lô đối với

các nước sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may nhất là thị trường hàng dệt may dành

cho tầng lớp trung lưu trở xuống Tuy nhiên, để thâm nhập và mở rộng thị trường tại

Mỹ đòi hỏi các nước nhất là đối với Việt Nam phải vượt qua những đòi hồi cao của

một thị trường chuyên nghiệp và phải vượt qua được sự cạnh tranh rất gay gắt của

(*) Nguồn lấy từ sách tham khảo “ Tìm hiểu Hoa Kỳ cho mục đích kinh doanh”

Trang 104,105 Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia

Trang 26

các đối thủ cạnh tranh đáng kể như: Mêhicô, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc,

Thái Lan

Trong những năm vừa qua, ngành dệt may Việt Nam cũng đạt được những

thành tựu đáng kể trên thị trường Mỹ, đặc biệt kể từ khi Hiệp định thương mại Việt-

Mỹ có hiệu lực (12/2001) đã tạo ra một hướng đi mới trong quan hệ kinh tế giữa hai quốc gia, và trong mối quan hệ mới này đa góp phần tạo nên những thay đổi rất lớn

có những thuận lợi và bên cạnh đó cũng tổn đọng những khó khăn, những tác động

của Hiệp định thương mại Việt-Mỹ tác giả xin phân tích cụ thể ở những phẩn sau

Cụ thể hơn, trong năm 2002 vừa qua giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng đệt may vào

Mỹ đạt con số cao nhất từ trước đến nay 975 triệu USD, tuy nhiên đây chỉ là con số đáng khích lệ đối với riêng ngành dệt may Việt Nam, vì con số này còn rất thấp so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Mỹ, một thị trường day tiém năng cũng

như đầy khó khăn và rủi ro Để hiểu rõ những thuận lợi -khó khăn ,rủi ro của thị trường Mỹ tác giả xin phân tích những khía cạnh sau đây:

* Mỹ nhập nhiều hàng hoá, đa dạng cả về chủng loại lẫn cấp bậc chất lượng Điều đó cũng có nghĩa là mọi loại hàng hoá với mọi cấp bậc chất lượng đều có khả năng được thị trường Mỹ chấp nhận - hàng cao cấp thì dành cho những người có thu

nhập cao và hàng chất lượng vừa phải dành cho những người có thu nhập trung bình

và thu nhập thấp Cho nên, thị trường tiêu thụ hàng may mặc của Mỹ bao gồm các dải thị phần trải rộng từ cấp thấp đến cấp cao nhất với những kênh phân phối và yêu cầu đẳng cấp chất lượng cũng như giá cả sản phẩm khác nhau rất xa Đối với đại bộ phận tiêu dùng có thu nhập thấp thì họ sẵn sàng mua sẵn phẩm từ các cửa hiệu bình dân của người Mêhicô, ến Độ, Trung Quốc mà tại đó không cần nhãn hiệu, chỉ cần

hợp thời vụ và giá rẻ Đối với người tiêu thụ có thu nhập trung bình trở lên thì đã bắt

đầu chú ý đến nhãn hiệu sản phẩm và thương hiệu bán lẻ với đẳng cấp và giá cả

trung bình Phần lớn giới này mua hàng tại các siêu thị bình dân, siêu thị giảm giá hay siêu thị bán buôn như Wal-Mart, K-mart ,Cosco Giới có thu nhập trung bình cao thì chọn các nhãn hiệu cao hơn như JC Penny, Macy’s, The Limited dĩ nhiên la giá cũng cao hơn Giới có thu nhập khá hơn thì chọn các cửa hàng Collection hoặc

siêu thị cao cấp với các nhãn hiệu có đẳng cấp cao hơn như: Fifth Avenue, Liz

Claibone Giới có thu nhập cao thì thường chọn các nhãn hiệu cao cấp nhất hoặc các

cửa hàng thời trang đặc biệt có thể thiết kế và may riêng lẻ

Khi xem xét những đặc điểm của hệ thống phân phối tại thị trường Mỹ các

doanh nghiệp dét may Việt Nam sẽ đánh giá năng lực bản thân của mình, tuỳ đặc

điểm trình độ và khả năng sản xuất, mỗi doanh nghiệp cần xác định thị trường mục

Trang 27

tiêu của mình là thị trường đại chúng có thu nhập thấp hay thị trường giới tiêu thụ có

thu nhập trung bình, trung bình cao hoặc cao cấp Đối với thị trường đại chúng thì

giá cả sản phẩm là yếu tố quyết định cho sự thành công của chiến lược tiếp thị Còn đối với thị trường có thu nhập trung bình và trung bình cao trở lên thì yếu tố quyết định là nhãn hiệu sản phẩm, đẳng cấp chất lượng, và khả năng đáp ứng nhanh Hơn nữa, việc nắm bắt được các đầu mối phân phối tại Mỹ sẽ giúp các doanh nghiệp đệt

may Việt Nam rất nhiều trong việc tạo dựng được mạng lưới tiêu thụ Ví dụ như:

công ty Dệt Phong Phú vừa qua để giành được hợp đồng 4 triệu USD từ công ty Target nhờ đấu thâu qua mạng, trước tiên công ty phải bắt đâu từ việc quan hệ tiếp xúc với một số đâu mối là các công ty mua hàng cho một số công ty lớn như hệ

thống JC Penny hay Wal-Mart Các công ty này sẽ xét duyệt các danh sách các công

ty cung cấp về nhiễu khía cạnh như khả năng sản xuất, chất lượng, xét duyệt mẫu

làm thử, môi trường lao động công ty nào đáp ứng đủ yêu cầu mới được tham gia

đấu thầu

* Với thị hiếu tiêu dùng đa dạng và luôn luôn biến đổi của người tiêu dùng

Mỹ, họ thường nôn nóng nhưng lại mau chán, vì thế các doanh nghiệp sản xuất phải thường xuyên sáng tạo thay đổi nhanh đối với các sản phẩm của mình, thậm chí phải còn có “phản ứng trước” nếu như muốn vượt lên được những đối thủ cạnh tranh khác Cho nên, mẫu mã đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng và xem xét xu hướng biến đổi cũng là yếu tố quan trọng để chiếm lĩnh thị trường Mỹ Đó cũng chính là những

kinh nghiệm quý báu của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc Ví dụ như: nhờ thường

xuyên thay đổi mẫu mã nên xe hơi của Nhật Bản vẫn được người tiêu dùng Mỹ ưa

thích và tiêu thụ mạnh trong khi ngành công nghiệp xe hơi của Mỹ cũng phát triển

rất mạnh Đặc biệt, đối với ngành dệt may một mặt hàng rất nhạy cảm trên thị trường tiêu đùng theo từng thời điểm, thì các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may càng phẩi nắm rõ thị hiếu và xu hướng của người tiêu dùng Mỹ hơn bất cứ một mặt

hàng nào khác Trong tình hình xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ hiện nay, cho thấy đặc điểm xu hướng của thị trường này đối với hàng dệt may tiêu dùng như sau:

- Tổng lượng hàng dệt may bán trên thị trường Mỹ năm 2001 đạt 272 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 3,8% trong vòng 10 năm qua Như vậy, chứng tỏ thị trường Mỹ có một sức tiêu thụ rất lớn, người dân thích mua sắm và tiêu dùng tuỳ theo mức thu nhập của mình

- Gía cả các sản phẩm dệt may trên thị trường Mỹ có xu hướng giảm trong vòng 5 năm qua, vì vậy yếu tố giá cả cũng được xem là một yếu tố mang tính cạnh tranh rất cao đối với các nhà xuất khẩu dệt may tại thị trường Mỹ hiện nay

SVTH: HO BICH NGOC JaUENG SHOL- KEN Trang 21

TU VIÊN

ị i |

R |

Trang 28

có xu hướng ít chỉ tiêu cho trang phục của mình, từ 65 tuổi trở lên nhu cầu cho hàng tiêu dùng quần áo chỉ chiếm 7% Trong đó độ tuổi có nhu cầu tiêu dùng hàng may mặc nhiễu nhất là từ 35-54 tuổi chiếm 29%, và nhu cầu tiêu thụ quần áo của nhóm

độ tuổi 13-17 và tuổi từ 18-24 cao hơn tỉ lệ đân số tính theo độ tuổi của chúng, hai

nhóm tuổi này chiếm 28% Và hàng may mặc dành cho phụ nữ chiếm thị phần lớn

nhất 54 % hơn rất nhiều so với mức tiêu thụ của đàn ông và trẻ con (Hình 3)

XU HƯỚNG TIÊU DÙNG HÀNG MAY MẶC

- Một số biến đổi chính trong thị hiếu tiêu dùng của người Mỹ hiện nay họ có

xu hướng mặc quần áo may sẵn hơn, họ ưu chuộng hàng đan hơn là hàng dệt và nhu

cầu về quân áo có cỡ lớn “big size” có tốc độ tăng trưởng rất nhanh Về thị hiếu màu sắc có tốc độ thay đổi rất nhanh, theo Hiệp hội về màu sắc ở New York thì xu

hướng ưu chuộng màu sắc theo từng phân khúc thị trường và theo mùa năm 2003-

Trang 29

* Đối với phụ nữ màu đỏ, trắng và xanh lơ là mầu được ưu chuộng cho trang phục mùa hè

Đối với thị trường Mỹ, các nhà xuất khẩu hàng đệt may phải đánh giá và

nhận thức được sự biến đổi của nhu cầu thị trường từng ngày, từng giờ vì đó là yếu tố

rất quan trọng trong xu hướng cạnh tranh gay gắt hiện nay tại thị trường Mỹ Để có thể phần nào nâng cao khả năng cạnh tranh đó các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

không chỉ nắm bắt thị hiếu tạo ra những sản phẩm thoả mãn nhu cầu đa dạng với định hướng tăng dần các mặt hàng có chất lượng cao mà còn phải tạo được cơ cấu

hàng hoá khác biệt với hàng hoá của các đối thủ cạnh tranh Vì các doanh nghiệp Việt Nam khó có thể cạnh tranh với những mặt hàng đang tổn tại tại thị trường này,

cho nên vấn để cốt lõi của chúng ta là phẩi tạo ra những mặt hàng khác biệt mang

những nét đặc trưng riêng có sự mới lạ Chỉ có như vậy mới có khả năng thu hút thị hiếu tiêu dùng của người Mỹ chứ không còn giới hạn ở việc đáp ứng nữa Người tiêu

dùng Mỹ vốn rất đa dạng họ dễ dàng chấp nhận những cái mới lạ vì đây là một xã hội được hình thành từ nhiễu nên văn hoá khác nhau, một đất nước đa chủng tộc và

đa văn hóa

Tuy nhiên, điểu cơ bản nhất để hàng đệt may xuất khẩu của Việt Nam thâm

nhập được vào thị trường Mỹ, đó là các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam phải tuân thủ theo những quy định, luật lệ của Mỹ đối với hàng Dệt may như thủ tục hải quan,

những quy định về tiêu chuẩn hàng hoá Một vấn để cơ bản và quan trọng cần quan

tâm là trong Hiệp định thương mại Việt- Mỹ, chương về thương mại hàng hoá quy định rõ hàng hoá đệt may sẽ bị hạn chế về số lượng, nghĩa là có hạn ngạch Và cho

đến khi này, các vòng đàm phán về Hiệp định dét may đã đi vào kết thúc, theo Hiệp định được ký kết 04/2003, hạn ngạch cho hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang thị

trường Mỹ sẽ được áp dụng từ 01/05/2003 với kim ngạch 1,7 tỷ USD và tăng 10%

mỗi năm

Vấn đề then chốt cho việc nhập khẩu hàng dệt may vào Mỹ là:

Tuân thủ các quy định về hạn ngạch và “visa”, nộp các bản kê khai về xuất

xứ hàng hoá theo Luật xác định sản phẩm sợi đệt và Luật về nhãn hiệu sản phẩm

bằng len Tuân theo các tiêu chuẩn về cháy nổ theo luật sản phẩm dệt dễ cháy do ủy ban an toàn sắn phẩm tiêu dùng Mỹ chứng nhận và không ảnh hưởng xấu đến sức

khoẻ của người tiêu dùng Các sản phẩm nhập khẩu vào Mỹ không đáp ứng được

các quy định của chính phủ Mỹ có thể áp dụng những hình phạt cũng như tịch thu

các hàng hoá đó

Trang 30

GVHD: TS LE VAN BAY

- Luật áp dụng chủ yếu về nhãn hàng hoá là luật xác định sản phẩm sợi đệt

và luật về nhãn hiệu sản phẩm bằng len Trừ một vài trường hợp ngoại lệ, tất cả các

sản phẩm sợi dệt khi nhập khẩu vào Mỹ đều phải được đóng dấu, niêm phong kín

và ghi nhãn hoặc được ghi những thông tin sau:

+ Tên riêng của các loại sợi và tỷ lệ % trọng lượng của các chất sợi có trong sản phẩm (không kể các chất trang trí) có trọng lượng từ 5% trở lên được ưu

tiên ghi trước , sau đó tỷ lệ % của các loại sợi mà được quy định là “các loại sợi khác” sẽ được ghi cuối cùng Các loại sợi có tỷ lệ trọng lượng 5% hoặc thấp hơn phải được xem là “ các loại sợi khác ”

+ 'Tên của nhà sản xuất hoặc tên hay số đăng kí “chứng minh “ của một hay nhiều người phụ trách tiếp thị hoặc điều hành sản phẩm sợi dệt Số đăng kí

“chứng minh” này do Ủy ban thương mại Hoa Kỳ cấp Một thương hiệu viết bằng

chữ mà đã đăng kí với cơ quan bản quyền Hoa Kỳ có thể được ghi trên nhãn hang

hoá thay cho tên, nếu chủ thương hiệu đó nộp một bản sao đăng kí thương hiệu cho

Ủy ban thương mại Liên bang trước khi sử dụng

- Luật xác định sản phẩm sợi dệt, ngoài các thông tin quy định , các thông tin sau phải được ghi trên hoá đơn thương mại và phải theo các quy định về nhãn hàng

hoá:

+ Chất liệu sợi hoặc tổng hợp các sợi, xác định theo tên chủng loại cho mỗi loại sợi thiên nhiên hoặc sợi nhân tạo theo tỷ lệ trọng lượng từ thấp đến cao, nếu sợi đó có trọng lượng từ 5% hoặc hơn trong tổng trọng lượng sản phẩm đơ

+ Tỷ lệ trọng lượng của mỗi loại sợi có trong sắn phẩm + Tên đặc điểm nhận dạng khác của nhà sản xuất hoặc của một hay

nhiều người phụ trách tiếp thị hoặc điều hành sản phẩm sợi dệt đã được đăng ký tại

ủy ban thương mại Liên Bang Hoa Kỳ

+Tên quốc gia gia công hay sản xuất sản phẩm

Tất cả các hoá đơn nhập khẩu hàng đệt sợi vào Mỹ phải có thông tin về:

- Trọng lượng sợi

- Sợi đơn hay sợi khác

- Sợi có dùng cho bán lẻ hay không

- Sợi có làm chỉ may hay không Nếu trọng lượng chủ yếu của sợi là tơ thì hoá

đơn phải ghỉ rõ tơ đó được xe lại hay tơ sợi nhỏ

Trang 31

GVHD: TS LE VAN BẢY Luận văn tốt nghiệp

Hơn nữa, trong quan hệ mua bán giao dịch với các doanh nghiệp Mỹ, rất

nhiều doanh nghiệp Mỹ yêu cầu các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu phải có trách nhiệm xã hội bằng cách cùng họ thực hiện các nguyên tắc đạo đức hay các tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội Hầu hết các doanh nghiệp Mỹ xem yếu tố con người

có vai trò rất quan trọng bên cạnh các yếu tố khác như máy móc, thiết bị, nguyên

phụ liệu Việc tạo ra một môi trường làm việc tốt và đảm bảo quyền lợi của người

lao động được đối tác Mỹ xem như là cơ sở để tạo ra những sản phẩm có chất lượng tốt vì khi đó những người lao động sẽ gắn bó lâu dài với các doanh nghiệp sẵn xuất

Cho nên, các doanh nghiệp xuất khẩu Dệt may Việt Nam nói riêng cũng như các

doanh nghiệp xuất khẩu ở những ngành khác nói chung cần phải xem xét và thực hiện tốt những tiêu chuẩn này Để tăng được khả năng cạnh tranh các doanh nghiệp cần phải phấn đấu từng bước để đạt được những tiêu chuẩn như SA 8000 và WRAP

Đây là một nhiệm vụ quan trọng

1 Tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội SA 8000:

SA 8000 là tiêu chuẩn quốc tế đầu tiên về trách nhiệm xã hội được Hội đồng các tổ chức công nhận về ưu tiên kinh tế CEPAA (Council on Economic Priorities Accreditation Agency) mà sau này đổi tên thành Tổ chức quốc tế về trách nhiệm xã hội SAI (Social Accountability International) biên soạn Tiêu chuẩn này được các tổ

chức phi chính phủ, các hãng sản xuất và kinh doanh lớn, các hiệp hội góp ý thông

qua và nhiều doanh nghiệp trên thế giới cùng quan tâm áp dụng Phiên bản đầu tiên

của tiêu chuẩn ra đời năm 1997, phiên bản thứ 2 và mới nhất được phát hành năm

2001 Nên tầng của tiêu chuẩn là các Công ước của Tổ chức lao động Quốc tế ILO, các văn kiện về nhân quyển bao gồm Tuyên bố toàn cầu về nhân quyền và Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em Mục tiêu của tiêu chuẩn là nhằm cải thiện

điểu kiện làm việc cho người lao động trên phạm vi toàn câu Tiêu chuẩn SA 8000

bao gồm 9 yêu cầu như sau:

- Lao động trẻ em

- Lao động cưỡng bức

- An toàn và sức khoẻ

- Tự do hội họp và quyền thoả ước lao động tập thể

- Phân biệt đối xử

- Kỷ luật

- Thời gian làm việc

- Đền bù ( tiền lương và các phúc lợi khác)

- Hệ thống quản lý

Trang 32

Đây là chương trình chứng nhận trách nhiệm trong sản xuất hàng may mặc

trên quy mô toàn cầu- một chương trình tuân thủ toàn điện nguyên tắc WRAP một

cách tự nguyện, được một tổ chức đánh giá độc lập giám sát và do Ban chứng nhận WRAP cấp giấy chứng nhận Khác với tiêu chuẩn SA 8000, các nguyên tac nêu trong tiêu chuẩn WRAP được các Hội viên của Hiệp hội May Mỹ AAMA sau này

khi hợp nhất các Hiệp hội Giây và thời trang Mỹ đổi tên thành Hiệp hội Giầy may

Mỹ AAFA (American Apparel & Footwear Association) cam kết thực hiện Chính

sự cam kết này đồi hỏi các doanh nghiệp sản xuất giầy, dệt may và thời trang khắp

nơi trên thế giới xuất hàng vào Mỹ thực hiện tiêu chuẩn này

Tiêu chuẩn WRAP được hình thành và được AAFA áp dụng từ năm 1998 Tuy nhiên chỉ sau khi Ban chứng nhận WRAP thành lập vào tháng 06/2000 thì các doanh nghiệp đầu tiên mới được WRAP chứng nhận Kể từ tháng 06/2000 đến nay, khoảng

700 doanh nghiệp ở các nước đã đăng ký thực hiện và khoảng 200 doanh nghiệp đã

được chứng nhận Số liệu này cho thấy số doanh nghiệp tự nguyện thực hiện tăng lên rất nhanh Tiêu chuẩn WRAP gồm 12 nguyên tắc với nội dung chính như sau:

- Tuân thủ luật và những nội quy lao động: doanh nghiệp phải cập nhật

những thông tin về luật quốc tế, luật địa phương và các nội quy liên quan đến từng nguyên tắc WRAP ( lương, giời làm việc, tự do hội đoàn, tuổi lao động tối thiểu, tiêu chuẩn an toàn lao động ) và thực hiện tốt các yêu cầu này

- Cấm lao động cưỡng bức: doanh nghiệp không được sử dụng lao động

cưỡng bức, ràng buộc hoặc các hình thức khác Người lao động làm việc trên cơ sở

hoàn toàn tự nguyện

- Cấm lao động trẻ em: doanh nghiệp không được sử dụng lao động

dưới 15 tuổi ( theo luật Việt Nam) và tuân thủ đúng pháp luật đối với lao động trẻ

em

- Cấm quấy nhiễu và lạm dụng: doanh nghiệp phải tạo một môi trường làm việc không có sự quấy nhiễu, lạm dụng hay hình phạt về thể xác dưới bất cứ

hình thức nào

Trang 33

- Thu nhập và phúc lợi: doanh nghiệp phải trả lương theo luật định ,

phúc lợi và phụ cấp

- Giờ làm việc: số giờ làm việc mỗi ngày không được vượt quá giới hạn

quy định, phải có ít nhất 01 ngày nghỉ trong tuân Trong trường hợp cần làm thêm giờ, người lao động tự nguyện làm và được trả lương theo đúng quy định của Luật

lao động

- Cấm phân biệt đối xử: tất cả phải được đánh giá dựa trên cơ sở ở khả

năng làm việc

- An toàn và sức khoẻ: tạo ra một môi trường làm việc an toàn và đảm

bảo sức khoẻ (môi trường làm việc, hướng dẫn về an toàn lao động, sơ đồ thoát

hiểm )

- Tự đo hội đoàn: thừa nhận và tôn trọng quyển hợp pháp của người lao động về tự do hội đoàn

- Môi trường: tuân thủ các nguyên tắc, quy định về môi trường làm

việc, các biện pháp phòng và kiểm tra được các chất thải ra môi trường xung quanh

- Tuân thủ Luật Hải quan: doanh nghiệp phải tuân thủ Luật Hải quan

đang có hiệu lực, đặc biệt thiết lập và duy trì chương trình liên quan đến việc vận

chuyển bất hợp pháp các sản phẩm của mình

- Ngăn ngừa may tuý: doanh nghiệp kết hợp với hải quan địa phương

và quốc tế đê phòng chống việc buôn lậu ma tuý.Phải duy trì và đảm bảo không vận

chuyển ma tuý bất hợp pháp Phải kiểm tra kỹ quá trình làm việc trước đó của những

nhân viên làm bảo vệ, vận chuyển bốc, dỡ hàng

Để có thể tạo dựng được uy tín và làm vững lòng tin của các doanh nghiệp

Mỹ khi giao thương với các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, nhằm giúp cho mối

quan hệ kinh tế này ngày càng phát triển và bển vững thì các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần xem xét và đáp ứng những yêu cầu, tiêu chuẩn được nêu ra như trên

* Đây là một số những đặc điểm, xu hướng biến đổi và những điêu kiện thiết yếu để ngành dệt may Việt Nam có thể thâm nhập trên những thị trường chủ yếu Nếu các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phát huy và đáp ứng được những yêu cầu

đó thì tin chắc ngành dệt may Việt Nam sẽ có một bước tiến xa hơn nữa trên những

thị trường đầy tiềm năng này

Trang 34

GVHD: TS LE VAN BAY

1.4 Những thị trường xuất khẩu khác:

Ngoài các thị trường xuất khẩu chủ yếu kể trên, các doanh nghiệp dệt may

Việt Nam cũng nên chú trọng và mở rộng sang một số thị trường khác Điều đó cho phép ổn định được hoạt động của ngành dệt may khi những thị trường xuất khẩu

chủ yếu có những biến động lớn

- Thị trường Úc: Úc là một trong những thị trường mở cửa nhất thế giới với

dân số trên 19 triệu người, cơ cấu dân số đa dạng, đa văn hoá Quan hệ thương mại

giữa Úc và Việt Nam phát triển hết sức tốt đẹp Nhiều hiệp định hợp tác về kinh tế,

thương mại, đầu tư, thuế đã được Chính phủ hai nước ký kết Kim ngạch xuất khẩu

hai chiều Việt Nam-Úc, năm 2001 đạt trên 2 tỷ USD Úc Đây là một thị trường xuất khẩu tiểm năng và cũng là nguồn cung cấp bông đáng tin cậy cho ngành dệt may

Việt Nam Tuy vậy, cho tới nay ngành đệt may Việt Nam mới chỉ khai thác được

rất ít Năm 2002 hàng dét may Việt Nam mới xuất khẩu được 25 triệu USD vào thị

trường Úc

- Thị trường Châu Á khác: trong bối cảnh hội nhập khu vực đang diễn ra mạnh mẽ, thị trường Châu Á đầy hứa hẹn cho các nước xuất khẩu trong đó có Việt Nam Xuất khẩu Việt Nam sang các nước Châu Á chiếm tới 30% tổng kim ngạch

xuất khẩu Với sự hình thành của khu vực mậu dịch tự do giữa các nước Đông Nam

Á (AFTA), các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội được tiếp cận vớ một thị trường

rộng mở với GDP trên 580 triệu USD và dân số trên 460 triệu người, thuế xuất

giảm còn 0-5% Năm 2001, giá trị xuất khẩu hàng dệt may vào các nước Àsean chỉ

mới đạt mức rất khiêm tốn 84,5 triệu USD và năm 2002 là §1 triệu USD Trong những năm nữa các doanh nghiệp đệt may sẽ phải nỗ lực hơn rất nhiều để xâm nhập thị trường có tiểm năng này

- Thị trường Nam Mỹ: là một thị trườg khoảng 500 triệu dân có thị hiếu đa dạng với sức mua tương đương thị trường Nhật Bản Đây cũng là một thị trường tiềm năng mà các doanh nghiệp đệt may Việt Nam nên hướng đến

- Thị trường Châu Phi: bước đầu, hàng dệt may Việt Nam đã thâm nhập thị

trường này bằng con đường tiểu ngạch Thị trường Châu Phi cũng được đánh giá là

một thị trường có nhiều tiểm năng: nhu cầu lớn, yêu cầu về chất lượng không quá

khắt khe và đặc biệt đây có thể là thị trường trung gian để thâm nhập vào thị trường

My va Chau Au, tận dụng lợi thế ưu đãi về chính sách thương mại

SVTH: HO BICH NGOC Trang 28

Ngày đăng: 05/04/2013, 17:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w