502 Tình hình quản lý và thu thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại phòng quản lý doanh nghiệp khác số 1 - Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 11 Lich sit hinh thanh va phat trién cha Thué
1.1 Lịch sử hình thành Thuế 1.2 Quá trình phát triển của Thuế
2 Những khái niệm về Thuế, bản chất của Thuế và phân loại Thuế
2.1 Những khái niệm về Thuế 2.2 Bản chất của Thuế
2.3 Phân loại Thuế
2.3.1 Phân loại theo tính chất kinh tế
2.3.2 Phân loại dựa vào tính chất lũy tiến và lũy thoái
2.3.3 Phân loại theo chế độ phân cấp quản lý, điều hành ngân sách
2.3.4 Phân loại theo phương thức sử dụng
3 Chức năng và vai trò của Thuế đối với nền kinh tế — xã hội
3.1 Chức năng của Thuế
3.1.1 Chức năng phân phối và phân phối lại 3.1.2 Chức năng điều tiết kinh tế
3.2 Vai trò của Thuế trong nền kinh tế thị trường
3.2.1 Thuế là công cụ tập trung chủ yếu cho nguồn thu
3.2.2 Thuế - công cu quần lý và điều tiết vĩ mô nên kinh tế 11
3.2.3 Thuế - công cụ phân phối thu nhập và ổn định hóa nên
3.2.6 Thuế còn là công cụ kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản
2 Các hình thức quản lý và thu Thuế 16
Trang 2
2.1 Nội dung cơ bắn của quản lý Thuế 16 2.2 Tổ chức quần lý và thu Thuế —_ 16
4, Nhà nước quần lý thuế ở Việt Nam qua các thời kỳ 18
CHƯƠNG II
TÌNH HINH QUAN LY VA THU THUE DOI VOI CAC DOANH NGHIEP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI PHÒNG DOANH NGHIỆP KHÁC SỐ 1 CỤC THUẾ TP HỒ
CHÍ MINH
I DAC DIEM -TINH HINH KINH TE XA HỘI TẠI TP HỒ CHÍMINH 23
1 Tp Hồ Chí Minh - trung tâm văn hóa, kinh tế, xã hội — của cả nước 23
1.1 Ví trí địa lý và điều kiện tự nhiên tại Tp Hồ Chí Minh 23
1.2 Tp Hồ Chí Minh trung tâm kinh tế 24
II TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẦN LÝ VÀ THU THUẾ TẠI VIỆT NAM 27
1 Tổ chức và chức năng bộ máy thu thuế nói chung 27
II CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA PHÒNG DOANH NGHIỆP KHÁC SỐ 1 35
2.2.1 Nhiệm vụ của bộ phận quần lý thuế các doanh nghiệp
2.2.2 Nhiệm vụ của bộ phận kiểm soát 38 2.2.3 Nhiệm vụ của bộ phận hoàn thuế và tổng hợp 39
3 Đối tượng quản lý của phòng Doanh nghiệp khác số 1 39
4 Tình hình công tác quản lý thuế trong thời gian qua 41
4.2 Những tổn tại trong công tác quần lý và thu thuế 41
Trang 3
5 Nội dung và công tác quản lý thuế các doanh nghiệp khác 42
5.1 Quản lý các đối tượng nộp thuế 42
6 Tổ chức công tác quản lý và thu thuế cùng những kết quả đạt được
ở phòng Quần lý doanh nghiệp khác số 1 quan các năm 44 6.1 Công tác quần lý đối tượng nộp thuế 44
6.2 Tình hình thực hiện nhiệm vụ thu Ngân sách Nhà nước 44
6.2.1 Kết quả đạt được qua các năm 44
6.3.1 Công tác kiểm tra, quyết toán thuế năm 2001 56 6.3.2 Công tác kiểm tra, quyết toán thuế năm 2002 56
6.3.3 Công tác kiểm tra, quyết toán thuế năm 2003 57
IV NHẬN XÉT CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUAN LY VA THU THUE
1 Nhận xét chung về công tác quần lý tại Phòng quản lý doanh nghiệp
2 Những nhận xét, đánh giá chủ quan về kết quả thu thuế mà Phòng đã
CHUONG II NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUAN LY VA THU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI PHÒNG
QUAN LYDOANH NGHIEP KHAC SO 1 NOI RIENG VÀ TẠI CỤC THUẾ TP HỒ CHÍ MINH NÓI CHUNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
IL MOT SỐ TAC DONG CUA LUẬT THUẾ MỚI ĐỐI VỚI NỀN
II MOT số NHẬN XÉT VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUÁ CÔNG TÁC QUẦN LÝ VÀ THU THUẾ TẠI CỤC THUẾ
TP HO CHi MINH NOI RIENG VA CUA NGANH THUE NOICHUNG: 69
2 Xây dựng lực lượng cán bộ thuế chuyên nghiệp 71
3 Ứng dụng công nghệ khoa học quản lý hiện đại vào công tác quản lý
Trang 4
va thu thué
4 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra
5 Một số kiến nghị về cơ chế tự khai, tự nộp thuế
6 Một số giải pháp hỗ trợ đối tượng nộp thuế
Trang 5Đồ thị 1.1 : Thể hiện mối quan hệ giữa các loại thuế theo tiêu thức Lũy tiến — lũy
thoái
Hình 2.1 : Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy ngành thuế
Hình 2.2 : Sơ đỗ cơ cấu bộ máy Cục Thuế Tp Hồ Chí Minh
Hình 2.3 : Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy phòng Quần lý doanh nghiệp khác số 1
Bảng 2.2 : T ổng hợp tình hình thu các loại thuế tại phòng Quản lý doanh nghiệp
khác số 1 qua các năm
Biểu đồ 2.1 : Các loại thuế thu qua các năm
Biểu đồ 2.2 : Tỷ trọng các loại thuế thu được qua các năm ở phòng Quản lý doanh
nghiệp khác số 1
Bảng 2.3 : So sánh số liệu tình hình nợ đọng qua các năm
Biểu đồ 2.3 : So sánh giữa nợ đọng bất khả thu và nợ đọng khả thu
+ KÝ HIỆU VÀ CÁCH VIẾT TẮT:
GTGT : Thuế giá trị gia tăng
TNDN : Thuế thu nhập doanh nghiệp
TNCN : Thuế thu nhập cá nhân
QLDNKI: Phòng quản lý doanh nghiệp khác số 1
NSNN: Ngân sách Nhà nước
NQD : Ngoài quốc doanh
KCN-KCX: Khu công nghiệp - Khu chế xuất
TTDB : Thuế tiêu thụ đặc biệt
+ TÀILIỆU THAM KHẢO:
Giáo trình thuế
Tài liệu tập huấn thuế
Giáo trình quản lý thuế
Tạp chí thuế Nhà nước
Các thông tư, Nghị định hướng dẫn thi hành các Luật thuế
Website Thông tấn xã Việt Nam, Website Cục Thuế Tp HCM, Website Bộ Tài Chính,
Quy trình quản lý thuế đối với doanh nghiệp và cơ chế tự kê khai tự nộp thuế của
Tổng Cục Thuế
Trang 6
LOI NOI DAU
| Trong những ngày tháng đầu của công cuộc đổi mới đất nước, cùng với
s chuyển mình của toàn bộ nên kinh tế đổi mới từ hạch toán bao cấp sang kinh
thị trường có sự quản lý của Nhà nước, tổ chức bộ máy quản lý và thu thuế
củng đã có những cải cách sửa đổi cơ bản Kể từ năm 1990 đến nay, Ngành thuế
đã có những bước chuyển mình nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý
: nh chính về thuế Do nhu cầu của thời đại cùng với sự phát triển của nền kinh
, quá trình toàn cầu hóa là những xu hướng chung của thời đại, và Việt Nam
với một nền kinh tế non trẻ, năng động, sẵn sàng với những thách thức của thời
đài Hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa quốc tế đang lôi cuốn tất cả các
nước trên thế giới, bao trùm hết mọi lãnh vực Đây là một quá trình hợp tác để
phát triển, đồng thời cũng là một quá trình cạnh tranh rất phức tạp Đối với nước
ta, tiến trình hội nhâp trong thời gian tới, gắn liên với việc thực hiện các cam
kết quốc tế Trong bối cảnh đó, cải cách hệ thống thuế ngoài mục tiêu là bảo
đắm nguồn thu, còn phải góp phần thúc đẩy nền kinh tế hội nhập, đây là giai
đbạn cải cách thuế trong điều kiện hội nhập
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng hệ thống thuế công bằng và hiệu
uẩ, lại phải luôn đảm bảo tính thông lệ quốc tế, công cuộc cải cách thuế gặp
hiểu khó khăn, chủ yếu là do hệ thống thuế cũ của chúng ta để lại:
1L Do cơ cấu nguồn thu của thuế bị phụ thuộc nhiều vào thuế xuất nhập
khẩu
2` Do cơ cấu nền kinh tế làm giảm khả năng áp dụng và tạo ra những khó
khăn trong việc quản lý một số sắc thuế, đặc biệt là thuế thu nhập cá
nhân, thuế tài sản và thuế giá trị gia tăng
3 Năng lực quản lý và điều hành thuế còn nhiều hạn chế ở cả nguyên nhân
chủ quan và khách quan Do đó, để thực hiện mục tiêu cải cách hành
chính nhằm nâng cao năng lực quản lý và thu thuế của Nhà nước, quá trình cải cách cần chú ý đến cả hai mặt là cải cách chính sách thuế và cải
cách các thủ tục hành chính thuế
Theo tinh thần của Chính Phủ và Bộ Tài Chính đã để ra cho mục tiêu cải ách hệ thống thuế đến năm 2010, phải đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà
lước, tỷ lê động viên từ thuế, phí và lệ phí cần tăng dần (từ 19% -20% GDP
rong gian đoạn từ năm 2001-2005 và đảm bảo ở mức 20%-21% GDP trong gia1
loạn từ năm 2006-2010) Bên cạnh đó, hệ thống thuế cần thực hiện tốt các chức
lăng vai trò quan trọng của nó, và bảo đảm công bằng xã hội, sự hài hòa lợi ích
tiữa các bên, đồng thời phải phù hợp với thông lệ và xu hướng cải cách của thế
Trang 7
giới, góp phân thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế
Gắn với quá trình cải cách này, tại Cục thuế Tp Hồ Chí Minh cũng đang tiến hành tổ chức lại cơ cấu bộ máy quản lý thuế trên địa bàn thành phố Cục
ế đã có những thay đổi, cải tiến ở mỗi khâu quản lý thuế, dần dan da dat
được những kết quả như mong muốn Trong những năm qua, tình hình quản lý
và công tác thu thuế tại Cục thuế Tp Hồ Chí Minh luôn vượt mức chỉ tiêu để ra,
lưôn gặt hái được những thành công to lớn và bước đầu đưa vào thí điểm cơ chế
tự kê khai, tự tính và tự nộp thuế trên địa bàn thành phố
Sự nỗ lực phấn đấu của tập thể Lãnh đạo và hơn 3.372 cán bộ công chức,
trong hon 10 năm qua Cục Thuế Tp Hồ Chí Minh đã được Nhà nước tặng
thưởng 01 Huân chương Lao động hạng nhì, 18 Huân chương Lao động hạng ba,
0] cá nhân đạt Chiến sĩ Thi đua toàn quốc, 35 cá nhân đạt danh hiệu Chiến sĩ
tHi đua ngành Tài chính và 75 Chiến sĩ thi đua ngành Thuế, 02 cờ thi đua của
Chính phủ, 05 cờ thi đua của Bộ Tài Chính, nhiều bằng khen của Thủ tướng
Chính phủ, Bộ Tài Chính và UBND Thành phố Năm 2002 và tiếp tục năm 2003
Bộ Tài chính và Ủy ban nhân dân Thành phố thống nhất để nghị Nhà nước
phong tặng Cục Thuế Tp Hồ Chí Minh danh hiệu “Đơn vị anh hùng lao động
trong thời kỳ đổi mới ”
Với những thành tích xuất sắc nêu trên, Cục Thuế Tp Hồ Chí Minh đã
o được niềm tin của Đảng và Nhà nước đối với ngành Thuế và bản thân cán
Ô Thuế cũng tự tin hon trong công tác của mình Để tiếp tục phát huy những
t anh quả đã đạt được và theo xu hướng cải cách thuế bước 3 hiện đại ngành
uế khi nên kinh tế nước ta hòa nhập vào nên kinh tế thế giới, Cục thuế Thành
ố tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ viên chức ngành thuế Thành phố trở thành
hột tập thể “ đoàn kết, năng động, sáng tạo, kỷ cương” và không ngừng tự hoàn
thiện mình, kiên quyết khắc phục những tổn tại trong bộ máy, trong cán bộ công
chức nhằm lành mạnh hóa đội ngũ cán bộ để sẵn sàng nhận nhiệm vụ và hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao và cũng để xứng đáng đón
nhận danh hiệu cao quí của Đảng và Nhà nước phong tặng
tại phòng Quản lý doanh nghiệp khác số 1 Em nhận thấy được những thay đổi
trong công tác quản lý về thuế, những cải cách thủ tục hành chính về thuế của
Phòng Quản lý doanh nghiệp khác số 1 nói riêng và của Cục thuế Tp Hé Chí
Minh nói chung, nên em đã chọn để tài nghiên cứu là:
Trang 8
anh, cùng những cải cách của Phòng cũng như của Cục thuế Tp Hồ Chí
Hoh trong công tác quan lý các đối tượng nộp thuế
| Phương pháp nghiên cứu của dé tài: trong quá trình thực tập và lầm VIỆC
tại Phòng Quản lý doanh nghiệp khác số 1, ứng dụng những lý luận cơ bản ở
Trường vào công việc thực tiễn của công tác quản lý thuế ở Phòng, bằng những
kiến thức sẵn có, và những tìm hiểu thêm về những qui định, những chính sách
của Ngành thuế, nghiên cứu những hệ thống pháp luật về thuế hiện hành cũng
như những gui trình quản lý và bộ máy tổ chức quản lý của ngành thuế, để từ đó
u thập những số liệu từ những năm trước, thống kê và so sánh tình hình quản
ly qua từng năm, rút ra những nhận xét của công tác quản lý ở Phòng và đưa ra
một số những kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý ở Phòng trong thời
gian tới Trong quá trình viết chuyên để, ngoài những số liệu thực tế thu thập
được tại Phòng, sử dụng các hệ thống luật thuế, những văn bản của ngành, em
cồn tham khảo ý kiến của các cán bộ trực tiếp quản lý của Phong, tim hiéu thém
từ sách, báo, tạp chí, cũng như mạng internet để tìm số liệu và tư liệu, giúp
chuyên để thêm phong phú hơn
Kết cấu của chuyên đề: chuyên đề tốt nghiệp kết cấu gồm 3 chương:
* Chương I: trình bày cơ sở lý luận chung về thuế có liên quan đến đề tài
+ Chuong II: từ những cơ sở lý luận ở Chương I, tập hợp trình bày về tổ
chức bộ máy quan lý của ngành thuế, tổ chức ở Cục thuế Tp Hồ Chí Minh và cơ
cấu tổ chức cơ cấu của Phòng Quản lý doanh nghiệp khác số 1, nhận xét về tình
hình chung của các doanh nghiệp khác trong nên kinh tế, nêu rõ vai trò và trách
nhiệm của từng cơ quan thuế và tập hợp số liệu của công tác quản lý đối tượng
nộp thuế của Phòng Quản lý doanh nghiệp khác số 1, từ đó đưa ra nhận xét tổng
quát về tình hình và những cải cách của Phòng trong công tác quản lý
+ Chương HT: từ sự trình bày và phân tích ở hai chương trước, trong chương
này nêu lên những đánh giá, những nhận xét chung và những đánh giá khái quát
tình hình quản lý thuế của Phong Quản lý doanh nghiệp khác số 1, và cuối cùng
Trang 9
là nêu những kiến nghị, giải pháp ở tầm vĩ mô trong công cuộc cải cách hành
chính về công tác quản lý thuế
Và mặc dù đã có những cố gắng trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu
để hoàn thành chuyên đề này, nhưng do còn hạn chế về kinh nghiệm cũng như
trình độ lý luận, và cũng do đây là lần đầu tiên phát triển chuyên để này, nên
không tránh khỏi những sai sót nhất định trong chuyên để Kính mong nhận
được sự thông cảm và tận tình góp ý của Quy Thay Cô, cũng như các Anh Chi
động nghiệp, để chuyên để thêm phần sâu sắc và hoàn thiện hơn
Trang 10
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Thạc Sỹ TRỊNH NGỌC ANH
TONG QUAN VỀ THUẾ - QUY TRÌNH QUẢN LÝ VÀ THU THUÊ
1 Lịch sử hình thành và phát triển của Thuế:
1.1 Lịch sử hình thành Thuế:
Thuế có một quá trình lịch sử hình thành và phát triển gắn liễn với quá trình phát triển của xã hội loài người
Loài người, từ khi xuất hiện trên trái đất với cuộc sống bây đàn, công việc
hằng ngày là săn bắn hái lượm, họ đã cùng ăn, cùng ở, cùng nương tựa vào nhau, không có sự phân biệt người mạnh kẻ yếu, không có sự phân biệt giàu nghèo Họ sống với nhau công bằng, bình đẳng, cùng chia xẻ với nhau những gì tìm kiếm được trong ngày và cùng đoàn kết với nhau chống lại những thiên tai, dịch họa của thiên nhiên
Trãi qua hàng trăm năm với cuộc sống như vậy, loài người đã tích lũy được những kinh nghiệm sống, loài người đã có được những phát triển cơ bản về nhận thức, về công cụ lao động, cuộc sống đã có những tiến bộ và phát triỂn rõ rệt Với những hiểu biết mới, những phát minh mới của mình, trong xã hội loài người lúc này đã xuất hiện những người mạnh, kẻ yếu, có những người đã làm ra được
nhiễu của cải hơn và tích lũy được ngày càng nhiều hơn nên đã trổ nên giàu có,
đồng thời cũng có người không làm ra được nhiều của cải hoặc không có của cải
nên trở thành những người nghèo hơn Những người có nhiều của cải, vì quyền lợi của mình đã dân tách ra khỏi bầy đàn, hình thành nên một lớp người mới, một
giai cấp mới, từ đó trong xã hội đã hình thành sự phân chia giai cấp Những giai
cấp này dần hình thành nên những mâu thuẩn trong xã hội, trong đời sống, và dẫn đến những xung đột giai cấp, đấu tranh giai cấp, mặt khác, con người cũng phải đương đầu với những tai họa do thiên nhiên gây ra Và để bảo vệ cho quyển lợi của giai cấp mình, cũng như để đương đầu với những tai họa, giai cấp mạnh nhất
trong xã hội đã đứng ra, thành lập nên một tổ chức nhằm bảo vệ quyển lợi cho
giai cấp của mình, đồng thời cũng nhằm cai trị các giai cấp khác, đây là hình thức
sơ khai của Nhà nước
Nhà nước do giai cấp thống trị trong xã hội xây dựng nên, Nhà nước có
những nhiệm vụ và vai trò đối với toàn xã hội, do đó Nhà nước đã hình thành
nên các cơ quan quyển lực nhằm hỗ trợ cho Nhà nước thực thi những vai trò và
Trang 11
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac S¥ TRINH NGOC ANH
nhiệm vụ đối với toàn xã hội Nhưng Nhà nước không thể tự nó tổn tại được, nó
phải có của cải để tổn tại, phải chỉ tiêu cho bộ máy của mình, phải có nguồn thu
Từ đó, Nhà nước bằng quyền lực của mình, đã đặt ra những khoản thu, bắt buộc
mọi thành viên trong xã hội phải nộp cho Nhà nước Các khoản thu này chính là
hình thức sơ khai của thuế
Qua sự phân tích trên ta thấy: thuế là những khoản thu bắt buộc do Nhà nước - bằng quyển lực của mình - đã đặt ra với các thành viên trong xã hội, nhằm thỏa mãn những nhu cẩu tiêu dùng của Nhà nước Có thể nói: thuế gắn liền với
Nhà nước, Nhà nước và thuế là hai phạm trù không thể tách rời nhau
1.2 Quá trình phát triển của Thuế:
Sự ra đời của thuế gắn với sự ra đời của một Nhà nước, quá trình phát triển
của thuế cũng gắn liễn với sự phát triển của Nhà nước trong xã hội loài người, nó mang đầy đủ đặc điểm và bản chất của Nhà nước đó
Thuế có một quá trình phát triển rất lâu đời - từ khi xuất hiện Nhà nước đầu tiên trong lịch sử - (Nhà nước chiếm hữu nô lệ) đã có thuế Gắn với Nhà nước chiếm hữu nô lệ, cũng như Nhà nước ở chế độ phong kiến, thuế là khoản thu chủ yếu, thường xuyên nhất được thu bằng các hiện vật gồm các khoản thu như:
các khoản phụ thu, thuế muối, thuế thân, ngoài các khoản phụ thu bằng hiện
vật, người dân phải đi phu dịch, di lính cho Nhà nước, làm công nhân xây dựng các đển đài, cung điện, làm công ích cho Nhà nước Dưới hai chế độ này, Nhà
nước thu thuế chủ yếu dùng để xây dựng cung điện, đền đài, đúc vũ khí, nuôi quân, trả lương cho quan lại, Nói chung, ở chế độ Chiếm hữu nô lệ và chế độ Phong kiến thì các khoản thuế chỉ nhằm mục đích nuôi dưỡng bộ máy của Nhà
nước mà chưa có mục đích kinh tế
Khi xã hội loài người phát triển sang chế độ mới - chế độ Tư bản chủ nghĩa
và chế độ Xã hội chủ nghĩa - cùng với nên kinh tế phát triển, gắn liển với nó là sự
phát triển của các quan hệ phức tạp khác trong xã hội, nhất là các mối quan hệ trong lĩnh vực kinh tế, quan hệ hàng hóa phát triển kéo theo quan hệ tiền tệ cũng
phát triển, đổng thời lúc này Nhà nước cũng nhận thấy rằng: cần phải tác động mạnh đến nền kinh tế, Nhà nước tham gia điểu tiết vào nền kinh tế quốc gia nhiều hơn Từ đó, Nhà nước cần một nguồn vật chất lớn hơn nhiều so với trước kia để có thể thực hiện được vai trò và mục đích của mình Nhưng nếu chỉ với
những khoản thu từ thuế như trước đây thì không thể đáp ứng đủ nhu cầu đó, do
đó, đòi hỏi Nhà nước phải xây dựng một chính sách thuế với một hệ thống thuế
Trang 12
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac Sy TRINH NGQC ANH
chuẩn mực hơn, hoàn chỉnh hơn Nhà nước, ngoài việc bãi bỏ các khoản thuế
không còn phù hợp trước kia, còn phải đưa vào nhiều loại thuế với nhiều thuế suất khác nhau cho nhiều đối tượng khác nhau Với hệ thống thuế mới này, Nhà nước tạo ra một nguồn thu déi đào hơn, không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu chỉ tiêu của
Nhà nước mà với hệ thống thuế gồm những sắc thuế đa dạng và có thuế suất linh
hoạt thuế đã trổ nên tỉnh xảo hơn, và hơn thế nữa, thuế đã trở thành một công cụ
hữu hiệu, đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế của Nhà nước
Đông thời, cũng do quan hệ tiền tệ phát triển mà giờ đây, thuế không còn
là các khoản thu về hiện vật nữa, mà thay vào đó là những khoản thu bằng tiển
Việc thu bằng tiền dễ dàng hơn nhiều và tiện lợi hơn trong việc bảo quản và sử
dụng Mặt khác, cùng sự phát triển của các hình thái xã hội, sự phát triển của Nhà
nước, giờ đây hệ thống thuế đã được Nhà nước Luật hóa hầu như toàn bộ, nghĩa là
thuế không chỉ còn là những qui định như một thời đã như vậy, mà Nhà nước đã
xây dựng thuế thành một hệ thống Luật thuế
Ta có thể khẳng định rằng sự phát triển của thuế gắn liền với quá trình
phát triển của xã hội loài người, nó mang bản chất của Nhà nước xây dựng lên nó
Khi xã hội loài người phát triển càng cao, các mối quan hệ trong xã hội ngày
càng phức tạp, thì thuế trở nên sắc bén hơn, tinh xảo hơn và đóng một vai trò hết
sức quan trọng đối với xã hội nói chung và đối với Nhà nước nói riêng
2 Những khái niệm về Thuế, bản chất của Thuế và phân loại Thuế
2.1 Những khái niệm về Thuế:
Cho đến ngày nay, đã có nhiều những học thuyết về thuế và nó là một bộ phận cấu thành quan trọng của khoa học về tài chính Các học thuyết này nghiên cứu về các quan hệ sản xuất trong sự tác động hỗ tương với lực lượng sẩn xuất và kiến trúc thượng tầng Sự đa dạng của quan hệ sản xuất - vốn đã bao trùm lên tất
cả các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội — đã làm cho một số quan hệ phân
phối tách ra thành các quan hệ tài chính và từ đó hình thành các quan hệ phân
phối mang hình thức thuế có tính độc lập tương đối
Và dù vẫn còn nhiều bất đồng, song hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng:
“Thuế là những khoản thu có tính chất bắt buộc, cưỡng chế, không có tính bồi hoàn trực tiếp hoặc ngang giá do Nhà nước đặt ra, bắt buộc các thành phan trong
xã hội phải đóng góp vào Ngân sách Nhà nước nhằm làm thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước ”
+ Theo Seliman: “Thuế là sự đóng góp cưỡng bức của mỗi người cho
Trang 13
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac S¥ TRINH NGOC ANH
Chính phủ để trang trải các chi phí và lợi ích chung không căn cứ vào lợi ích riêng
Với những nhận định trên, thuế được khái niệm tùy vào góc độ xem xét
một sắc thuế và tùy thuộc vào bản chất của Nhà nước ban hành sắc thuế đó:
+ Ở góc độ pháp luật: “Thuế là một khoản thu của Nhà nước đối với mọi
tổ chức, thành viên trong xã hội, khoắn thu đó mang tính chất bắt buộc được pháp luật qui định và không được hoàn trả trực tiếp hoặc ngang giá”
+ Ở góc độ kinh tế: “Thuế là một bộ phận sản phẩm quốc dân GDP được
Nhà nước tập trung hình thành quỹ tài chính Nhà nước nhằm thỏa mãn nhu cầu chỉ tiêu của Nhà nước”
Các khái niệm trên đây có thể đúng, tùy từng góc độ khác nhau Nhưng qua đó, ta có thể đưa ra khái niệm chung về thuế như sau:
Thuế là một phần thu nhập mà mỗi tổ chúc, cá nhân có nghĩa vụ đóng
góp vào Ngân sách Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chỉ tiêu của Nhà nước Người nộp thuế không được hoàn trả giá trị tương ứng với khoắn thuế đã
nộp trực tiếp, phần thu nhập còn lại, người nộp thuế được hưởng hợp pháp
2.2 Bản chất của Thuế:
Các khoản thu của Nhà nước mang hình thức thuế đều là những khoản thu
do Nhà nước đặt ra và bằng quyển lực của mình, Nhà nước bắt buộc các thành
viên trong xã hội phải nộp phần thuế của mình vào Ngân sách Nhà nước Như
Trang 14
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac S¥ TRINH NGQC ANH
vậy, ta thấy rằng bản chất thứ nhất của thuế là tính cưỡng chế:
+ Tính cưỡng chế đã làm cho thuế trổ thành một phạm trù độc đáo và mang
một nét đặc biệt riêng Để tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước thì ngoài việc thu thuế, Nhà nước còn nhiễu công cụ khác để tạo nguồn thu như: thu các khoản phí, lệ phí, vay của nhân dân, vay của nước ngoài, Nhưng các khoản thu này
không thể do Nhà nước tự quyền áp đặt, mà nó hoàn toàn mang tính tự nguyện và
mặt khác Nhà nước cồn phải trả một cái giá đối với các khoản thu này, có thể là
một thứ hàng hóa dịch vụ nào đó mà Nhà nước cung cấp cho nhân dân, nếu là vay
thì Nhà nước còn phải trả lại, ngoài ra còn nhiều những rủi ro kèm theo Ngược
lại với thuế, Nhà nước tự mình đặt ra các loại thuế và bằng quyền lực của mình,
Nhà nước buộc các thành viên trong xã hội phải đóng góp, hoàn toàn không có tính tự nguyện của người nộp, với các khoản thu được Nhà nước toàn quyền sử
dụng mà không phải gánh chịu một khoản nào khác hoặc hầu như không có bất cứ
một rủi ro nào (nếu hệ thống thuế là hoàn chỉnh) Do đó, đối với hầu hết Nhà
nước thì thuế là nguồn thu chủ yếu quan trọng nhất Ngoài ra, tính cưỡng chế còn
được thể hiện qua việc Nhà nước “ luật hóa hệ thống thuế ” nhằm đảm bảo chắc
chắn nguồn thu ổn định và lâu dài vào Ngân sách
Do tính cưỡng chế mà thuế được xem là một nghĩa vụ không thể thoái thác
của mỗi người dân trong xã hội, thì khối lượng lợi ích mà người dân nhận được từ
việc nộp thuế cho Nhà nước lại không phụ thuộc vào khối lượng khoản thuế đã nộp Điều đó cho thấy : việc nộp thuế không hể kèm theo sự hoàn trả trực tiếp hoặc ngang giá, đó chính là bản chất thứ hai của thuế “Tính hoàn trả không trực
tiếp hoặc ngang giá”
+ Người dân khi nộp thuế của mình vào Ngân sách Nhà nước, hoàn toàn
không nhận trực tiếp lợi ích nào từ việc nộp thuế đó Khác hẳn với việc người dân
tự bỏ tiền túi của mình để mua một món hàng hóa nào đó, hoặc hưởng thụ một lợi ích nào đó thông qua giá cả thị trường Điều này làm cho thuế khác hẳn với giá
cả, nó cũng giải thích tại sao khi việc tăng giá một mặt hàng nào đó khiến cho người dân sẽ dễ chấp nhận hơn là việc Nhà nước tăng lên một khoản thuế nào đó
+ Người dân sẽ được hưởng lợi ích từ việc nộp thuế của mình thông qua các
lợi ích công cộng do Nhà nước cung cấp, do đó phần lợi ích nhận được của mỗi người dân không phụ thuộc vào số thuế mà họ đã nộp Thuế không có giá trị đối ứng ngang giá dành cho người nộp thuế
Trang 15
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac Sy TRINH NGOC ANH
2.3 Phan loai Thué:
Có nhiễu tiêu thức được chọn để phân loại thuế, tùy thuộc vào góc độ nhìn
nhận một sắc thuế mà thuế có thể được phân loại như sau:
2.3.1 Phân loại theo tính chất kinh tế:
Đây là cách phân loại truyền thống đã hình thành từ rất lâu, dựa vào tính
chất kinh tế, thuế được chia thành hai loại:
^ Thuế trực thu: thường được hiểu là một loại thuế được đánh trực tiếp lên một khoắn thu nhập hoặc tài sản nào đó của người nộp thuế Thuế trực thu đã được hình thành từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX, và chỉ được áp dụng rộng rãi vào thế kỷ XX Tại các nước có nền kinh tế phát triển, các loại thuế Thu
nhập cá nhân, thuế Tài sản được xem là các sắc thuế trực thu, có vai trò quan trọng trong việc huy động quỹ tài chính Nhà nước
^ Thuế gián thu: là một loại thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ, và được ấn
định dưới hình thức một khoản phụ thêm, đóng vai trò là một bộ phận cấu thành trong gía cả hàng hóa hoặc cước phí dịch vụ được tiêu dùng Khi áp dụng hình
thức thuế gián thu, mối quan hệ giữa Nhà nước và người nộp thuế được thể hiện một cách gián tiếp
2.3.2 Phân loại dựa vào tính chất lñy tiến và lũy thoái:
Dựa vào tiêu thức này, thuế có thể được phân loại thành: thuế lũy tiến, thuế theo tỷ lệ và thuế lũy thoái
^ Thuế lũy tiến: là loại thuế có tỷ lệ đóng thuế tăng lên theo sự tăng thêm
Trang 16
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac S¥ TRINH NGOC ANH
Quan hệ giữa các loại thuế theo tiêu thức lity tiến — lũy thoái:
Đồ thị 1.1: Thể hiện mối quan hệ giữa các loại thuế lũy tiến — lũy thoái
2.3.3 Phân loại theo chế độ phân cấp quản lý, điểu hành ngân sách:
Dựa vào tiêu thức này, thuế thường được phân thành: Thuế Nhà nước và thuế địa phương
4> Thuế Nhà nước: là loại thuế được huy động bởi Chính phủ-Trung ương,
trên cơ sở luật pháp và được tập trung vào Ngân sách Nhà nước ở Trung ương
+ Thuế địa phương: là loại thuế được chính quyền địa phương thu trên
phạm vi lãnh thổ được phân công và được nộp vào Ngân sách địa phương
2.3.4 Phân loại theo phương thức sử dụng:
Dựa theo phương thức sử dụng, thuế được chia thành: thuế tổng hợp và thuế chuyên dùng
+ Thuế tổng hợp: là loại thuế tuy được thu từ nhiều nguồn đơn lẻ khác
nhau nhưng được tập trung vào một quỹ tập trung duy nhất và được sử dụng cho
mục đích phát triển kinh tế — xã hội có tính chất toàn quốc
+ Thuế chuyên dùng: là loại thuế được thu từ nhiều nguồn hoặc từ một
nguồn đơn lẻ nào đó và được tập trung vào một quỹ nhất định, và quỹ nào cũng
được sử dụng với mục đích đã được xác định trước
Trang 17
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac S¥ TRINH NGQC ANH
3 Chức năng và vai trò của Thuế đối với nền kinh tế — xã hội:
3.1 Chức năng của Thuế:
Kể từ khi ra đời cho đến nay, thuế được xem là một nguồn thu chú yếu của Nhà nước và cho đến thế kỷ thứ XIX thì những ý kiến chủ yếu cũng cho thuế là nguồn tài trợ chính cho Chính phủ Nhưng đến nay, thuế đã được sử dụng nhằm đạt đến nhiều mục tiêu khác Thông thường, nhiễu tác giả cho rằng: thuế có hai chức năng chính đó là: chức năng thứ nhất là phân phối và phân phối lại, và chức năng thứ hai là chức năng điều tiết kinh tế
Theo chuyên gia về thuế nổi tiếng ở Mỹ - Richard A Masgarave — cho rằng: thuế có 3 mục tiêu chính: 1: Phan phối các nguồn lực; 2: Tái phân phối thu nhập; 3: Ổn định nên kinh tế
3.1.1 Chức năng phân phối và phân phối lại:
Là chức năng cơ bản và đặc thù nhất của thuế mà tất cả Quốc gia trên thế
giới đều dựa vào đó, bằng chức năng này, các quỹ tài chính của Nhà nước được hình thành, đây chính là nguồn sức mạnh cơ sở vật chất đảm bảo cho sự hoạt động
và tổn tại của Nhà nước
Chức năng phân phối và phân phối lại, có vị trí ngày càng tăng đối với quỹ
tài chính của Nhà nước Khi mà thu nhập của Nhà nước ngày càng tăng do thu nhập từ thuế đem lại, điều đó làm cho thuế trở thành công cụ được Nhà nước sử
dụng thường xuyên và lâu dài Nhưng mục tiêu thật sự của chính sách thuế, theo
nhiều nhà kinh tế là “rút bớt sức mua khỏi những người đóng thuế để những người
đóng thuế từ bỏ sự kiểm soát đối với các tài nguyên, làm cho tài nguyên này là
khả dụng đối với Nhà nước”
Theo Jonh Mikesell sự chuyển dịch tài nguyên đó bao gồm:
+ Sự chuyển dịch khả năng mua hàng giữa các nhóm người trong khu vực các doanh nghiệp
S Sự chuyển dịch quyền kiểm soát đối với khả năng mua hàng từ khu vực
các doanh nghiệp sang tay Nhà nước
Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế khi được Nhà nước vận
dụng diễn ra với kết quả là quá trình “Nhà nước hóa”, một phần GDP dưới hình
thức tiễn tệ hình thành quỹ tài chính Nhà nước, tạo điểu kiện khách quan vô cùng
cần thiết cho sự can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo
Trang 18
định hướng xã hội chủ nghĩa, thì việc vận dụng chức năng phân phối và phân phối lại của chính sách thuế sẽ tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức
năng điểu tiết kinh tế của thuế đối với xã hội
3.1.2 Chức năng điều tiết kinh tế:
Khi xem thuế là một tác nhân tích cực đối với nền kinh tế xã hội, thì ta sẽ
thấy được chức năng điều tiết nên kinh tế của thuế Thuế có những tác động trực tiếp đến quá trình phân phối và phân phối lại, và thông qua đơ, thuế cũng có
những tác động hiệu quả đến quá trình tái sản xuất của các doanh nghiệp
Chức năng điểu tiết chính của thuế không thể tách rời khỏi chức năng phân
phối và phân phối lại, và cả hai chức năng này có tác động hỗ tương rất chặt chẽ
Trong khi Nhà nước sử dụng thuế để huy động một bộ phận sản phẩm Quốc gia
(GDP) vào tay mình, thì Nhà nước đã đặt thuế vào thế tiếp cận với các yếu tố
tham gia vào quá trình sản xuất của xã hội Tại các nước phát triển và đang phát
triển có hệ thống thuế ổn định, thuế tác động vào quá trình sản xuất của các doanh nghiệp trên cả 3 yếu tố mà chúng sử dụng: sức lao động, đối tượng lao
động và tư liệu lao động Khi người công nhân và người làm thuê, sử dụng tiền
lương nhận được của mình vào việc chi tiêu mua sắm hàng hóa, dịch vụ và nộp
thuế, thì lúc này, thuế sẽ tác động đến quá trình sản xuất theo 3 hướng:
<> Thuế sé ảnh hưởng đến mức độ và cơ cấu của tổng cầu, đồng thời thông qua cơ
chế của mức thị trường có thể thúc day hoặc kìm hãm quá trình sản xuất
+ Mức độ đánh thuế trên thu nhập cũng ảnh hưởng đến việc xác định tiền lương, bởi vì khi tính toán tiền lương, người đi thuê và người làm thuê bao giờ cũng chú
ý đến tiền thuế như là một yếu tố của tiền lương phải được xem xét tới
+ Thuế còn tác động đến việc mua sắm, sử dụng và phục hổi tài sản cố định
trong doanh nghiệp, thông qua các qui định của Nhà nước về hình thành và sử
dụng khấu hao
3.2 Vai trò của Thuế trong nền kinh tế thị trường:
Càng ngày người ta càng nhận ra vai trò quan trọng của thuế đối với nền kinh tế, đối với xã hội Nhìn ở những khía cạnh khác nhau, thuế có những vai trồ
quan trọng sau:
Trang 19
3.2.1 Thuế là công cụ tập trung chủ yếu cho nguồn thu Ngân sách
Nhà nước:
Kể từ khi Nhà nước đầu tiên ra đời cho đến nay, dù bất kỳ ở chế độ nào, với bất kỳ hình thái Nhà nước nào, thì thuế vẫn luôn là nguồn tập trung tài chính chủ yếu vào Ngân sách Nhà nước Thuế thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng thu Ngân sách Nhà nước Hiện nay, ở hầu hết các nước trên thế giới, sau khi cải
cách và hoàn thiện hệ thống thuế thì số thu từ thuế luôn chiếm trên 90% tổng thu Ngân sách Nhà nước
Nhà nước sử dụng quyển lực của mình — thông qua hệ thống thuế Quốc Gia — để huy động một bộ phận tổng Quốc gia tập trung vào Ngân Sách Nhà Nước Tuy nhiên, về bản chất thì việc tập trung này phụ thuộc vào bản chất của Nhà nước, vào chính sách kinh tế và mục tiêu của chính sách thuế, nhưng dù thế nào, thì việc tập trung này cũng phải có một giới hạn phù hợp nhất định Nếu Nhà
nước dùng quyển lực tập trung quá mức phần GDP vào Ngân Sách thì phần còn
lại của GDP giành cho các doanh nghiệp và cá nhân giảm xuống, không còn đủ
để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và việc sử dụng để tái sản xuất ở các doanh nghiệp,
điều đó sẽ dẫn đến việc các doanh nghiệp muốn tổn tại buộc họ phải tìm cách
trốn thuế hoặc chuyển gánh nặng thuế cho các đối tượng khác hoặc buộc họ phải
chuyển đổi hình thức kinh doanh mới
Ta có thể xây dựng một công thức với mục tiêu là xác định mức thuế có thể
thu ở mỗi kỳ như sau:
- Gợi T„ là tổng số thu từ thuế tối đa có thể tập trung vào Ngân Sách Nhà Nước, ta sẽ có khả năng thu thuế trên tổng GDP là: T„ / GDP
- Gọi T, là tổng số thu thực tế từ thuế năm, ta sé tinh được chỉ tiêu nỗ lực thu thuế:
Nỗ lực thué = -
Chi tiêu này phản ảnh khả năng thu thuế tối đa mà Nhà nước có thể thực hiện thu tính trên tổng sản phẩm quốc dân (GDP) Nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn một
(1) thì phải giảm thu Trong đó, T„ là giá trị được xác định trước dựa trên sự phân
tích tình hình kinh tế quốc dân, giá trị này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng kế hoạch thu trong năm, phan ánh mục tiêu và chính sách huy động nguồn
Trang 20
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac Sy TRINH NGOC ANH:
tài chính từ thuế của Nhà nước
3.2.2 Thuế - công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế:
Khác với cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, trong cơ chế kinh tế thị trường, Nhà nước không trực tiếp can thiệp vào các hoạt động kinh tế, xã hội bằng các mệnh lệnh hành chính, các chỉ tiêu khối lượng, chất lượng, giá cả, mà
thay vào đó, Nhà nước thực hiện quản lý diéu tiết nén kinh tế ở tầm Vĩ mô Tức là Nhà nước chỉ đưa ra các chuẩn mực mang tính định hướng trên một diện rộng và
bằng các công cụ đòn bẩy để hướng các hoạt động kinh tế — xã hội thực hiện
trong khuôn khổ luật pháp
Mỗi Nhà nước đêu có thể thực hiện quần lý, điều tiết vĩ mô kinh tế bằng nhiễu biện pháp và nhiều công cụ quần lý điểu tiết, trong đó, thuế là một trong những công cụ sắc bén nhất thuộc lĩnh vực tài chính để thực hiện quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Như đã biết, chu trình sản xuất xã hội có bốn khâu: sản xuất - phân phối — trao đổi - tiêu dùng Thuế thuộc khâu phân phối, có tác động đến cả sản xuất và tiêu ding Sản xuất và tiêu đùng luôn có quan hệ nhân quả với nhau: sản xuất là tiền để của tiêu dùng, tiêu dùng là mục tiêu của sẩn xuất, và sản xuất và tiêu
dùng được nối với nhau qua phân phối và trao đổi Có thể mục đích bên ngoài của
sản xuất là phục vụ tiêu dùng; mục đích bên trong của sẩn xuất là thu được lợi
nhuận, có lợi nhuận thì mới có tái sản xuất mở rộng Nhưng có được lợi nhuận đến
đâu là do tiêu dùng, thể hiện ở quan hệ cung — cầu trên thị trường quyết định
Các-mác đã mô tả cơ cấu giá trị của sản phẩm hàng hóa bằng:
C + V+ m,trong đó:
Vx+m làthunhập
Thuế tác động mạnh mẽ và trực tiếp vào cả V và m, nên có khả năng làm
thay đổi quan hệ cung — câu trên thị trường, từ đó làm thay đổi cả sản xuất và tiêu dùng
Đối với tiêu dùng, nhu câu trên thị trường luôn luôn phụ thuộc vào kha năng thanh toán, khả năng thanh toán tăng khi nhu cầu tiêu dùng tăng lên và
ngược lại Khả năng thanh toán phụ thuộc vào hai yếu tố: số lượng thu nhập có
được và giá cả hàng hóa, dịch vụ trên thị trường Thuế trực thu tác động trực tiếp
vào số thu nhập có được của mỗi thể nhân, pháp nhân; thuế gián thu tác động gián tiếp vào thu nhập có được thông qua giá cả về số lượng và cơ cấu của yếu tố
“cầu” trên thị trường Cho nên, xét về phía câu (phía tiêu dùng), việc đánh thuế
Trang 21
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac S¥ TRINH NGOQC ANH
~ £42 A “ ^^ nw a : nw ^“
cũng có tác động đến sản xuất, đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đối với sản xuất — khả năng cung cấp trên thị trường cũng phụ thuộc vào hai yếu tố chính là: nhu cầu trên thị trường và giá cả hàng hóa, dịch vụ trên thị
trường Nhu cầu trên thị trường thông qua giá cả hình thành theo quan hệ cung —
câu, nhu cầu này sẽ phát ra những tín hiệu cho các nhà sản xuất kinh doanh biết nên lựa chọn đâu tư vào đâu, nên sản xuất cái gì, khối lượng bao nhiêu, mẫu mã như thế nào, dùng công nghệ nào, giải quyết “đầu vào”, “đầu ra“ như thế nào để
đạt hiệu quả cao nhất
Thuế -— cả gián thu và trực thu - đều có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến sản xuất, đến khả năng cung cấp trên thị trường
Thuế gián thu làm tăng giá bán của hàng hóa, do đó, làm giảm sức mua của giới tiêu dùng, làm tăng giá thành sản phẩm và lợi nhuận của nhà sản xuất
giảm đi tương ứng Đông thời, thuế trực thu còn tác động trực tiếp vào số lợi nhuận làm ra, dẫn đến thay đổi số lợi nhuận còn lại mà nhà sản xuất được hưởng
Do đó, thuế góp phần điều chỉnh cả sản xuất và tiêu dùng trong xã hội
Tóm lại, tuy thuế ở khâu phân phối, nhưng qua việc thu thuế, Nhà nước có
thể sử dụng thuế như một công cụ điểu tiết sản xuất và tiêu dùng xã hội, điều tiết
vĩ mô nền kinh tế Ngày nay, nhiễu quốc gia đã sử dụng thuế như một công cụ để quần lý và điều tiết nền kinh tế đạt đến trình độ cao Và hơn thế nữa, thuế không chỉ điều tiết nền kinh tế trong phạm vi từng nước mà đã mang tầm vóc quốc tế và
là một trong những nội dung quan trọng trong việc thiết lập mối quan hệ kinh tế
giữa các nước, trong từng khu vực và trên phạm vi toàn cầu
3.2.3 Thuế - công cụ phân phối thu nhập và ổn định hóa nền kinh tế:
Đây là một trong những công cụ đóng vai trò hết sức quan trọng của thuế trong nền kinh tế và còn gây nhiễu tranh cãi bất đồng giữa các nhà kinh tế học
với các nhà chính tri
4 Như ta đã biết, trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội, thì “phân
phối“ là một trong những giai đoạn quan trọng nhất của quá trình này Khi thị trường thực hiện việc phân phối sản phẩm hay chính là việc phân phối thu nhập,
thì đòi hỏi ở mỗi hộ gia đình đối với sắn lượng đâu ra của nển kinh tế lại phụ
thuộc vào nguồn lực tài chính do mỗi cá nhân trong hộ gia đình tạo ra, từ tiên
Trang 22
lương thu được do làm công, lợi tức cho vay, tiễn cho thuê và lợi nhuận, điều
này là hoàn toàn khác nhau ở mỗi gia đình Trong khi xã hội, có những người không tạo ra được thu nhập cho bản thân và gia đình như: những người khuyết tật, bệnh hoạn, thất nghiệp, thì có những người lại có được những khoản thu nhập
rất to lớn do: được kế thừa tài sản, vốn tích lũy được qua nhiều thế hệ, hoặc do tài
năng kinh doanh của họ, Điều này tạo nên sự chênh lệch to lớn trong thu nhập
của mỗi người trong toàn xã hội trong việc phân phối lần đầu Do đó, việc tái phân phối lại sản phẩm cũng như thu nhập của mỗi người là điều hợp lý, và thuế
được xem là một công cụ sắc bén để thực hiện công việc đó Thông qua công cụ
thuế, Nhà nước sẽ thực hiện việc tái phân phối trên toàn xã hội, với việc sử dụng những sắc thuế trực tiếp thì một phần thu nhập của người này sẽ được chuyển qua cho người khác, Nhà nước sẽ cung cấp thêm nhiều dịch vụ công cộng phục vụ cho
xã hội, giảm giá hoặc trợ cấp những mặt hàng thiết yếu cho người dân, Từ đó
sẽ tạo công bằng trong xã hội, thu hẹp khoảng cách giữa người giàu và người
nghèo, góp phần nâng cao đời sống của người dân
+ Ổn định nên kinh tế là động lực cho sự phát triển kinh tế trên toàn xã
hội, và khi xét đến vấn để này, nhiều nhà kinh tế đã nhận định rằng: thuế chính là một trong những công cụ giúp Nhà nước thực hiện điều đó Bằng việc ban hành
những chính sách thuế hợp lý, Nhà nước sẽ tác động vào nền kinh tế trên tầm vĩ
mô, định hướng phát triỂn kinh tế trong tương lai, bởi thuế có thể kiểm hãm hoặc
thúc đẩy quá trình sản xuất kinh đoanh, hạn chế hoặc có thể triệt tiêu một nén san xuất Do đó, thuế là một công cụ mạnh mẽ nhưng rất nhạy cảm trong việc điều
tiết nhằm ổn định nên kinh tế, Nhà nước cần phải cân nhắc kỹ khi ban hành một
sắc thuế
Từ những điểu trên ta có thể thấy rằng: thuế là phạm trù tài chính và được
sử dụng để tạo ra các nguồn lực thực hiện các chức năng của Nhà nước, đồng thời
nó cũng là công cụ điều tiết vĩ mô nên kinh tế Bằng vai trò to lớn đó, thuế phải
không ngừng được hoàn thiện và thích ứng kịp thời với từng chu kỳ của quá trình phát triển
3.2.4 Thuế - công cụ khắc phục khiếm khuyết kinh tế thị trường:
Về lý thuyết thì thị trường là một nơi hoàn hảo để người dân có thể thỏa
mãn các nhu cầu cần thiết của mình, nhằm đạt được mức tối ưu hóa các phúc lợi nhận được Nhưng kinh tế học hiện đại và thực tiễn đã chỉ ra rằng: đôi khi thị
trường phải chịu thất bại như trong trường hợp một số dịch vụ hàng hóa công cộng, người dân có nhu cầu nhưng thị trường không thể cung ứng nổi hoặc chỉ
Trang 23
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac S¥ TRINH NGQC ANH
được cung ứng dưới mức nhu cầu Đây là lúc cần phải có vai trò của thuế và các chỉ tiêu công cộng chứa những sự bất lực về phân phối của thị trường
+ Hàng hóa công cộng: hay dịch vụ công là loại hàng hóa hay dịch vụ mà khi có phát sinh thêm người tiêu dùng thì hoàn toàn không làm tăng chi phí
Không một nhà sản xuất tư nhân nào sẵn sàng cung cấp loại hàng hóa dịch vụ này
trên thị trường, đó là nguyên nhân thất bại của thị trường và ở đây, việc đánh thuế
sẽ đóng vai trò cung cấp các nguồn lực tài chính cho Nhà nước cung cấp các loại
hàng hóa dịch vụ này
+ Độc quyển: trong cơ chế thị trường sẽ xảy ra trường hợp độc quyền, dẫn đến việc không thực hiện được vấn để phân phối các nguồn lực và vấn để cạnh
tranh không lành mạnh Độc quyển làm giảm sản lượng đầu ra, nhằm mục đích
thu được nhiều lợi nhuận thông qua việc nâng cao giá cả hàng hóa dịch vụ Đối
với trường hợp này, nhiều nhà kinh tế cho rằng: thuế hoàn toàn không làm gì
được để thay đổi mức sẩn lượng đâu ra mà tại đó, nhà độc quyền có thể tối ưu hóa lợi nhuận Nhưng ngược lại, cũng có quan điểm cho rằng: thuế có thể loại trừ
được lợi nhuận độc quyền khi thuế được thiết kế phù hợp với vai trò phân phối mà
tự nó lúc nào cũng được khẳng định
“+ Hàng khuyến dụng: một số loại hàng hóa và dịch vụ do khu vực công
sản xuất được đặt dưới tên là hàng khuyến dụng, đây là loại hàng hóa mà Nhà
nước cho là người dân nên dùng, và nó không phụ thuộc vào thu nhập cá nhân của
mỗi người như: muối iod, vaccin cho trẻ em, giáo dục phổ cập, những mặt hàng
này phân lớn là nhằm tạo điều kiện sống tốt cho người dân, hoặc đạt được những
mục tiêu quốc gia ở tầm vĩ mô
3.2.5 Thuế - công cụ bảo hộ sản xuất trong nước, hạn chế nhập
khẩu và khuyến khích xuất khẩu:
Thực hiện vai trò bảo hộ nên sản xuất trong nước và hạn chế nhập khẩu,
đó là thuế nhập khẩu Thuế nhập khẩu là loại thuế đánh trên hàng hóa và dịch vụ
từ nước ngoài nhập vào thị trường nội địa Dưới tác dụng của thuế nhập khẩu, làm
hạn chế hàng hóa nhập khẩu vào thị trường nội địa nhằm bảo hộ các ngành sản
xuất non trẻ trong nước, tạo thị trường nội địa cho hàng hóa sản xuất trong nước
thúc đẩy quá trình sắn xuất phát triển, tăng lợi thế cạnh tranh hàng hóa trong nước so với hàng hóa nhập khẩu và hạn chế tiêu dùng sản phẩm hàng hóa nhập từ
nước ngoài có tác dụng hướng dẫn tiêu dùng của người dân
Trang 24
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac S¥ TRINH NGQC ANH
Nhưng đối với xu thế hiện nay là hội nhập kinh tế thế giới - các chính sách thuế xuất nhập khẩu dẫn bị gở bỏ - thì việc sử dụng công cụ thuế như một công cụ bảo hộ sản xuất là không thể Mặt khác, sử dụng thuế làm công cụ bảo hộ sản
xuất dẫn đến việc các doanh nghiệp được bảo hộ kém phát triển, không phát triển
đầu tư, sản xuất ra sản phẩm kém chất lượng làm ảnh hưởng đến lợi ích của người
tiêu dùng Do đó, việc sử dụng thuế làm công cụ bảo hộ phải hạn chế và phải cân
nhắc kỹ khi đưa ra một loại thuế bảo hộ bất kỳ
3.2.6 Thuế còn là công cụ kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản
xuất kinh doanh:
Trong quá trình thực thi việc hành thu thuế hiện nay, thực tế đã làm nảy
sinh một vấn để là: làm thế nào để có thể huy động toàn bộ lượng thuế phải thu
vào Ngân sách và phải thu đúng, thu đủ theo đúng Luật thuế Nhà nước đã ban
hành? Điểu đó đồi hồi cơ quan thuế và các cơ quan có liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, qui mô của các cơ sở sẩn xuất, kinh doanh, loại
hình kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, mặt hàng họ được phép kinh doanh Từ
công tác thu thuế như vậy mà cơ quan thuế có thể phát hiện những việc làm sai
trái, vi phạm pháp luật của các cá nhân, đơn vị, tổ chức sản xuất kinh doanh hoặc phát hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp họ tìm cách tháo gỡ Như vậy, qua công tác hành thu mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các
mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý về mọi mặt
của đời sống kinh tế — xã hội
Ngày nay, trong cơ chế thị trường thuế là công cụ thuộc lĩnh vực tài chính hết sức nhạy cảm và quan trọng đối với mỗi Nhà nước trong vấn để tạo nguồn thu, quần lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Dù nước ta có một hệ thống thuế với
nhiều khó khăn, việc nghiên cứu và xây dựng một hệ thống thuế hoàn chỉnh hơn
là vấn để cần thiết, đòi hỏi phải được tiến hành đồng nhất, đúng, đủ, và phải phù hợp với tình hình kinh tế đất nước và thế giới
1 Mục tiêu và các nguyên tắc của quản lý Thuế:
1.1 Mục tiêu của quản lý Thuế:
Là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý tài chính
Nhà nước, quần lý thuế không thể tách rời quản lý Nhà nước nói chung và quản lý
Nhà nước về kinh tế nói riêng
Công tác quần lý thuế trong nên kinh tế quốc dân nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản sau đây:
Trang 25
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac S¥ TRINH NGOC ANH
> Tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời cho số thu vào Ngân sách Nhà
nước trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu
+ _ Phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong nên kinh tế Vai trò của thuế
mang tính toàn diện trên nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, những vai trò đó không mang tính khách quan, mà nó là kết quả của những tác động
từ phía con người Những tác động này được thực hiện thông qua
những nội dung, những công việc cụ thể của công tác quản lý thuế
-© Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh tế và dân cư
1.2 Nguyên tắc quản lý Thuế:
Để đạt được mục tiêu trên đây, công tác quản lý thuế cần tuân thủ một số
nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Nguyên tắc tập trung dân chủ
- Nguyên tắc công khai
- Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả
2 — Các hình thức quản lý và thu Thuế:
2.1 Nội dung cơ bản của quản lý Thuế:
Là một phần quan trọng của quần lý tài chính Nhà nước, quản lý thuế
phẩi được xem xét và nhìn nhận ở tầm vĩ mô, nó phải bao gồm toàn bộ
những công việc thuộc lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp về thuế,
nghĩa là bao gồm các công việc:
- Lựa chọn và ban hành hệ thống các luật thuế
- Tổ chức và thực hiện các luật thuế
Tuyên truyền, hướng dẫn tình hình thi hành các luật thuế
- Thanh tra thuế
2.2 Tổ chức quản lý và thu Thuế:
Hàng năm, trên cơ sở đăng ký kinh doanh của các đối tượng sản xuất kinh doanh, cơ quan thuế phải tiến hành đăng ký đối tượng nộp thuế, trên
cơ sở đó sẽ tiến hành quản lý và thu thuế đối với các đối tượng này Có hai phương thức đăng ký mà đối tượng nộp thuế thường được áp dụng:
Trang 26
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac S¥ TRINH NGOC ANH
ảnh và lưu trữ trong sổ này
Phương thức này chỉ nên áp dụng trong trường hợp số lượng đối tượng nộp thuế ít và khá tập trung, điều kiện cho việc cơ giới hóa công tác
quần lý thuế chưa thực hiện được Khi đối tượng nộp thuế tăng khá nhanh thì việc quần lý đối tượng nộp thuế bằng phương pháp này sẽ phức tạp, dễ
bị nhằm lẫn, mất nhiễu thời gian, công sức mà hiệu quả lại không cao
Đây là một phương thức quản lý hiện đại, đã và đang được áp dụng
ở nhiều nước trên thế giới, phương thức này giúp tiết kiệm được chi phí quần lý thuế Đặc biệt với phương thức này, cơ quan thuế có thể nhanh chóng, dễ dàng phát hiện được các trường hợp gian lận về thuế, ngay cả khi số lượng đối tượng nộp thuế tăng lên rất lớn
3 Qui trình thu thuế:
Qui trình quần lý thuế phần ánh trình tự các bước công việc phải làm nhằm
tập trung đây đủ, kịp thời số thu thuế vào Ngân Sách Nhà Nước
Có hai dạng qui trình quần lý thu thuế khác nhau như sau:
4 Cơ quan tính thuế và ra thông báo số thuế phải nộp:
Định kỳ theo thời gian hoặc theo chuyến hàng, trên cơ sở những qui định
trong các luật thuế và hoạt động sản xuất kinh doanh, các đối tượng nộp thuế sẽ phẩi kê khai thuế và nộp tờ khai cho cơ quan thuế Cơ quan thuế nhận tờ khai thuế sẽ tiến hành kiểm tra và tính thuế, sau đó ra thông báo số thuế phải nộp cho các đối tượng nộp thuế Trong thời hạn theo thông báo, đối tượng nộp thuế phải
có trách nhiệm nộp đầy đủ số thuế theo thông báo vào Kho Bạc Nhà nước
Với phương thức này, cơ quan thuế sẽ đẩm bảo được việc tính toán chính
xác số thuế phải nộp của các đối tượng nộp thuế Tuy nhiên, khối lượng công việc
mà cơ quan thuế phải đảm nhận sẽ rất nhiều và rất phức tạp, đặc biệt là khi đối
tượng nộp thuế ngày càng tăng rất nhanh như hiện nay, đối tượng lại phải nộp nhiễu loại thuế khác nhau Do đó, khó có điều kiện để tinh giảm biên chế của bộ máy ngành thuế
Trang 27
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Thạc Sỹ TRỊNH NGỌC ANH
+ _ Đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự tính thuế và nộp thuế
Khác với qui trình trên đây, định kỳ theo thời gian hoặc theo chuyến hàng,
các đối tượng nộp thuế tự kê khai tính và nộp thuế vào Kho Bạc Nhà nướ, với phương thức này, nhiệm vụ của cơ quan thuế sẽ đơn giẩn hơn rất nhiều Tuy nhiên, phương thức này sẽ chỉ mang lại kết quả tốt khi mọi người đã nắm vững và
tự giác chấp hành nghĩa vụ thuế của mình, đồng thời tính pháp lý của các luật
thuế cao và công tác kiểm tra, thanh tra thuế được thực hiện thường xuyên, có
hiệu quả
Phương thức này hiện đang được áp dụng khá phổ biến tại các nước có nền
kinh tế thị trường phát triển
(Từ ngày 1/1/2004, thí điển áp dụng cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế đối với một số cơ sở kinh doanh đăng ký kê khai, nộp thuế tại Cục Thuế Tp Hồ Chí Minh và Cục Thuế Tình Quảng Ninh)
Tổ chức thu thập tiền thuế:
Các cá nhân, các đơn vị sản xuất kinh doanh nộp thuế cho Nhà nước qua các hình thức:
+ Nộp thuế vào Kho bạc Nhà nước : Với hình thức này, người nộp thuế trực tiếp nộp vào Kho bạc Nhà nước, bằng tiền mặt hoặc bằng chuyển khoản, do đó khắc phục được tình trạng chiếm dụng, xâm tiêu tiển thuế của Nhà nước Tuy vậy, cần có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa Kho bạc, Ngân hàng và Cơ quan thuế trong việc kiểm soát thu
Ngân Sách Nhà Nước, phải có một quy chế chặt chẽ trong việc lưu chuyển chứng
từ giữa ba cơ quan này nhằm đảm bảo cho việc kiểm tra đôn đốc các đối tượng
nộp thuế thực hiện đúng, đủ, kịp thời đối với nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước
4 Nộp bằng tiền mặt qua cơ quan thuế:
Đối với số ít các đối tượng buôn bán không có cơ sở ổn định, các hộ kinh
doanh nhỏ, phân tán, số tiền nộp ít và những trường hợp không có điều kiện nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước, cán bộ thu trực tiếp từ các đối tượng nộp thuế, sau đó nộp tiển thuế thu được vào Kho bạc Nhà nước
4 Nhà nước quản lý thuế ở Việt Nam qua các thời kỳ:
4.1 Thời kỳ trước năm 1990:
Chế độ thu Ngân Sách Nhà Nước thời kỳ này mang nặng tính bao cấp đối với kinh tế quốc doanh và cải tạo đối với các thành phần kinh tế Ngoài Quốc
Doanh và được thực hiện với các hình thức như sau:
Trang 28
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac Sy TRINH NGOC ANH
+ Đối với kinh tế quốc doanh, áp dụng các khoản thu:
- Thu quốc doanh
- Thu trích nộp lợi nhuận
- Thu khấu hao cơ bản và các khoản thu khác
+ Đối với khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh, áp dụng các loại thuế:
- Thuế hàng hóa
- Thuế doanh thu
- Thuế lợi tức
- Thué doanh nghiép
- Thuế buôn chuyến
- Thuế sát sinh,
+ Đối với nông dân:
- Áp dụng chính sách thuế nông nghiệp và thu chủ yếu bằng hiện vật
+ Đối với hoạt động ngoại thương:
- Áp dụng chế độ thu bù chênh lệch ngoại thương đối với hàng hóa nhập khẩu phi
khoản từ khu vực công, thương nghiệp ngoài quốc doanh
<> Vu thuế nông nghiệp và các Phòng thuế nông nghiệp các Tỉnh, Thành phố chịu trách nhiệm thu thuế nông nghiệp
Ngoài ra, cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm thu thuế đới với hoạt động
xuất, nhập khẩu
Trang 29
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac S¥ TRINH NGOQC ANH
4.2 Thời kỳ từ năm 1990 đến nay:
Về hệ thống chính sách thuế:
Trong thời kỳ này chúng ta đã tiến hành các cuộc cải cách thuế
+ Cải cách thuế bước một: (từ năm 1990 — 1995), với nội dung chủ yếu là xây
dựng một hệ thống chính sách thuế áp dụng thống nhất trong cả nước và áp dụng
cho mọi thành phân kinh tế Từ năm 1990 đến năm 1999, Quốc Hội và Ủy Ban
Thường Vụ Quốc Hội đã lần lượt ban hành 9 Luật Thuế, Pháp lệnh thuế và một
số loại phí, lệ phí áp dụng chung cho các thành phần kinh tế như sau:
- Luật thuế doanh thu
- Luật thuế tiêu thụ đặc biệt
- Luật thuế xuất — nhập khẩu
- Luật thuế lợi tức
- Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp
- Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất
- Pháp luật thuế tài nguyên
- Pháp lệnh thuế nhà đất
- Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
Ngoài ra còn có một số loại thuế mang tính chất phí, lệ phí như: thuế môn
bài, phí xăng dầu, lệ phí trước bạ, lệ phí chứng thư, Riêng thuế chuyển lợi
nhuận ra nước ngoài, tiền thuê đất, mặt đất, mặt nước, mặt biển đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được áp dụng phù hợp với qui định trong Luật
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Chế độ thu về sử lý vốn Ngân Sách Nhà Nước
chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp quốc doanh
+ Cải cách thuế bước hai: (bắt đầu từ năm 1996), với nội dung chủ yếu là tiếp tục
hoàn thiện hệ thống thuế cho phù hợp với nền kinh tế nước ta trong điều kiện mở cửa và hội nhập Trong giai đoạn này, các sắc thuế đã ban hành ở giai đoạn một không ngừng được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Đặc biệt, kể từ ngày 1 tháng 1
năm 1999, hệ thống chính sách thuế của Việt Nam đã có những sự thay đổi cơ
bản trên những nội dung sau:
- Ap dung luật thuế giá trị gia tăng (VAT) thay cho luật thuế doanh thu
- Ap dụng luật thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) thay cho luật thuế lợi
tức
- Áp dụng luật thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi, bổ sung
- Áp dụng luật thuế luật thuế xuất — nhập khẩu sửa đổi, bổ sung
- Áp dụng pháp lệnh sửa đổi một số điều về thuế thu nhập đối với người có
thu nhập cao
- Một số luật thuế khác như thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế tài nguyên
Trang 30
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Thạc Sỹ TRỊNH NGỌC ANH
được sửa đổi ở những điểm cần thiết cho phù hợp với tình hình mới, đặc
biệt là ban hành pháp lệnh phí và lệ phí, tránh những thất thoát trong thu
và sử dụng các loại phí và lệ phí
- Và cho đến đầu năm 2004, Nhà nước đã đưa vào áp dụng ba hệ thống luật
thuế đã được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện là Luật thuế GTGT, Luật thuế
TNDN và Luật thuế Xuất nhập khẩu, đồng thời đã sửa đổi bổ sung pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
Với việc ban hành những luật thuế mới này, hệ thống thuế của Việt Nam
đã thật sự có nhiễu sự thay đổi tích cực trong từng sắc thuế, là một bước tiến to lớn
trong quá trình cải cách thuế ở Việt Nam
Bên cạnh những thay đổi về hệ thống các sắc thuế, qua hai cuộc cải cách
thuế (từ năm 1990 đến nay), Nhà nước đã thực hiện các thỏa thuận và cam kết
Quốc tế về thuế như: Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần, cam kết về giảm thuế - nhập khẩu theo hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung
(CEPT) dé thực hiện khu vực thương mại tự do của các nước ASEBAN (AFTA)
Những thay đổi trên đây, đã đánh dấu một bước ngoặc quan trọng Và cơ
ban về hệ thống thuế Việt Nam với xu hướng đổi mới để hội nhập
Về bộ máy quần lý thuế:
Cùng với cải cách hệ thống chính sách thuế - ngày 7 tháng 8 năm 1990 -
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 281/HĐBT về việc tổ chức hệ thống bộ máy ngành thuế Theo tỉnh thần của Nghị định này, bộ máy quần lý thuế được qui định lại theo ngành dọc từ Trung ương đến các địa phương trên cơ sở hợp nhất ba bộ phận trước đây là cục thu quốc doanh, cục thuế công - thương nghiệp ngoài quốc doanh và Vụ thuế nông nghiệp thành: Tổng Cục Thuế trực thuộc Bộ Tài Chính
Về cơ cấu tổ chức trong nội bộ của các cơ quan thuế từ Trung ương đến các địa
phương, thì các vấn để nghiệp vụ cụ thể trong qui trình hành thu cũng có những
thay đổi nhất định, trong từng thời kỳ nhằm phù hợp với sự thay đổi về hệ thống
các chính sách thuế được áp dụng và các thay đổi khác
Có thể khái quát những nét cơ bản trong tổ chức bộ máy ngành thuế ở Việt Nam hiện nay như sau:
+ Hệ thống ngành thuế có nhiệm vụ quản lý thống nhất trong phạm vi cả nước
tất cả các loại thuế, các loại phí, lệ phí (thu nội địa) của Ngân Sách Nhà Nước
Các khoản thu từ xuất, nhập khẩu do ngành Hải quan đảm nhận Bộ máy ngành
thuế được tổ chức theo ngành dọc từ Trung ương đến địa phương Ở Trung ương,
có Tổng Cục Thuế trực thuộc Bộ Tài Chính, Tổng Cục Thuế không trực tiếp quản
Trang 31
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac S¥ TRINH NGOC ANH
lý thu thuế mà nhiệm vụ chính của cơ quan này là nghiên cứu, xây dựng và hoàn
thiện bộ máy chính sách thuế như: hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các luật
thuế, kiểm tra các cơ quan thuế cấp đưới trong việc quần lý thu các loại thuế, phí
và lệ phí Ngoài các phòng ban thông thường (Phòng Hành Chính, Phòng Tổ
Chức, ) như bao cơ quan khác, Tổng Cục Thuế còn có các khối phòng ban chuyên môn nghiệp vụ (đối tượng theo ngành kinh tế)
+ Cơ quan thuế ở địa phương có nhiệm vụ trực tiếp quản lý thu thuế và các khoản thu khác, chịu sự lãnh đạo song trùng của cơ quan thuề cấp trên và của Ủy Ban Nhân Dân cùng cấp
+ Ở cấp Tỉnh, Thành phố có Cục Thuế trực thuộc Tổng Cục Thuế Cục Thuế có nhiệm vụ trực tiếp thu các loại thuế, phí, lệ phí đối vối các doanh nghiệp, hướng
dẫn, chỉ đạo và kiểm tra các Chi Cục Thuế trong việc tổ chức quản lý thu các
khoắn thu đã được phân cấp Cơ cấu bộ máy Cục Thuế hiện nay tổ chức chủ yếu theo đối tượng nộp thuế (đối tượng theo thành phần sở hữu) và theo chức năng
+Ở cấp Huyện, Quận, Thị Xã, Thành phố thuộc Tỉnh có Chi Cục Thuế trực thuộc Cục Thuế Chi Cục Thuế có nhiệm vụ trực tiếp quản lý thu từ những hộ cá thể và một số công ty trách nhiệm hữu hạn Bộ máy của các Chi Cục Thuế hiện nay được
tổ chức theo đối tượng nộp thuế (đối tượng theo địa giới hành chính các phường,
xã) và được chia thành từng đội thuế
Thuế và công tác quản lý và thu thuế luôn là vấn để quan trọng đối với mỗi Nhà nước, việc làm sao để thực hiện tốt công tác quần lý và làm sao để thu
được đúng và đủ thuế luôn là một bài toán khó giải quyết đối với những người làm công tác quản lý Nhà nước nói chung và quản lý kinh tế nói riêng Và do đó, không phải chỉ có hệ thống chính sách thuế hoàn hảo mà đồi hỏi còn phải có một
cơ chế công tác quản lý thuế hiệu quả toàn diện, khi đó thuế mới thực sự thể hiện hết vai trò của nó đối với kinh tế - xã hội, và trở thành một công cụ sắc bén trong việc quản lý và điều tiết nền kinh tế và xã hội
Trang 32
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac S¥ TRINH NGOC ANH
CHUONG II
TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ THU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI PHÒNG
DOANH NGHIỆP KHÁC SỐ 1
CỤC THUẾ TP HỒ CHÍ MINH
I _ ĐẶC ĐIỂM - TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HOI TAI TP HO CHI MINH:
Là một trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội đứng đầu cả nước, Thành pho
Hồ Chí Minh chiếm 0,6% diện tích và 6,6% dân số so với cả nước, nằm trong
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là một trung tâm kinh tế có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
1 Tp Hô Chí Minh — trung tâm văn hóa, kinh tế, xã hội - của cả nước:
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Tp Hồ Chí Minh:
Là một thành phố còn khá trẻ so với thủ đô Hà Nội của đất nước 4000 năm
văn hiến Thành phố Hồ Chí Minh có một vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên rất
thuận lợi trong việc phát triển văn hóa, kinh tế, xã hội
Diện tích: 2.985 km”
Dân số : 5285454 người ( 2001 )
Dân tộc : Việt Nam, K me, Cham
Đơn vị hành chính: bao gồm 24 quận, huyện,
Có khí hậu hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa
trung bình năm là 1979 mm Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình 27,55°C, không có mùa đông
Thanh phố Hồ Chi Minh nam trong toa d6 dia ly khodng 10°10’ — 10°38” vĩ
độ Bắc và 106°22' - 106°54” kinh độ Đông, phía Bắc giáp với tỉnh Bình Dương,
phía Tây giáp với tỉnh Tây Ninh, phía Đông và Đông Bắc giáp với tỉnh Đồng Nai, phía Đông Nam giáp với tỉnh Bà Rịa — Ving Tau, Tay va Tay Nam giáp với tinh
Long An và Tiền Giang
Thành phố Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730 km đường bộ, nằm
ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang
Tây, là một tâm điểm của khu vực Đông Nam Á Trung tâm thành phố cách bờ biển 50 km theo đường chim bay, đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh
Trang 33
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac S¥ TRINH NGQC ANH
trong vùng và là cửa ngõ quốc tế Với hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nước, cắng Sài Gòn với năng lực hoạt động 10 triệu tấn/năm Sân bay quốc tế Tân Sơn
Nhất với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7 km
12 Tp Hồ Chí Minh trung tâm kinh tế:
Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 0,6% diện tích là 6,6% dân số so với cả
nước, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là trung tâm kinh tế của cả nước, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi có hoạt động kinh tế năng động nhất, đi đầu trong cả nước về tốc độ tăng trưởng kinh tế Nếu như năm 1998 tốc độ tăng GDP
của thành phố là 9,2% thì đến năm 2002 tăng lên 10,2% Phát triển kinh tế với tốc
độ tăng trưởng cao đã tạo ra mức đóng góp GDP lớn cho cả nước Tỷ trọng GDP
của thành phố chiếm 1/3 GDP của cả nước
Có thể nói thành phố là hạt nhân trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN) và trung tâm đối với vùng Nam Bộ Với mức đóng góp GDP là 66,1%
trong vùng (KTTĐPN) và đạt mức 30% trong tổng GDP của cả khu vực Nam Bộ
Kinh tế thành phố có sự chuyển dịch mạnh mẽ, năm 1997 giá trị sản xuất của thành phố đạt 65,2% của vùng (KTTĐPN), về công nghiệp chiếm 58,7% giá trị sản lượng công nghiệp vùng Thành phố là trung tâm của vùng về phát triển
công nghiệp, dịch vụ Giá trị sản lượng công nghiệp thành phố năm 2000 là 76,66
ngàn tỷ đồng, gấp 2,2 lần Bà Rịa - Vũng Tàu, 3,7 lần Hà Nội và 4 lần Đông Nai Kinh tế quốc doanh vẫn giữ vị trí chỉ phối, đóng góp 45% GDP, dịch vụ thương mại chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu GDP
Thành phố là nơi thu hút vốn đầu tư nước ngoài mạnh nhất cả nước, kể từ khi luật Đầu tư được ban hành Số dự án đầu tư vào thành phố chiếm khoảng 1/3
trên tổng số dự án đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trên cả nước Nếu như trong
giai đoạn 1988 — 1998 thành phố có 786 dự án với tổng vốn đầu tư là 9.540,7
triệu USD thì cả nước có 2.453 dự án với tổng số vốn là 38.856,8 triệu USD
Thành phố luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu ngân sách Nhà
nước, mặc dù gặp nhiều khó khăn, song thu ngân sách vẫn không ngừng tăng
Thời kỳ 1986 — 1990, thu ngân sách thành phố chiếm 26,4% trên tổng thu
ngân sách của cả nước, đến năm 1999 chiếm 36,46%
SOUTH: Apuybe Thi Wgee Dung KHOA: Q72-2001 24
Trang 34
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac S¥ TRINH NGOC ANH
Về mặt thương mại và dịch vụ, thành phố là trung tâm xuất nhập khẩu lớn
nhất nước ta Kim ngạch xuất nhập khẩu ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
kim ngạch xuất nhập khẩu của cá nước Thành phố có hệ thống chợ và siêu thị khá lớn, trong tương lai, thành phố sẽ xây dựng một số chợ mới thuận tiện và hiện
đại phù hợp với quy hoạch phát triển đô thị
Hoạt động du lịch của thành phố phát triển mạnh, chưa bao giờ thành phố
Hồ Chí Minh có nhiều du khách như năm 2002, với lượng khách quốc tế lên đến
1.433.000 người, tăng 20% so với năm 2001 Kể từ năm 1990, kinh doanh du lịch của thành phố luôn chiếm từ 28% đến 35% doanh thu du lịch cả nước, để phát
triển du lịch, ngành du lịch thành phố đã đề ra các giải pháp phát triển du lịch giai đoạn 2001 — 2005
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm tài chính ngân hàng lớn nhất Việt Nam, thành phố dẫn đầu cả nước về số lượng ngân hàng và doanh số quan hệ tài chính — tín dụng Doanh thu của hệ thống ngân hàng thành phố chiếm khoảng 1/3
trên tổng doanh thu toàn quốc
Trong tương lai, thành phố phát triển các ngành kinh tế chủ lực, là địa phương tập trung phát triển các ngành cơ khí gia dụng, sản xuất phương tiện vận
tải, chế tạo máy, các ngành công nghệ cao, vẫn là đầu mối xuất nhập khẩu, du
lịch của cả nước với hệ thống cảng biển phát triển Việc hình thành các hệ thống giao thông như đường Xuyên Á, đường Đông Tây, sẽ tạo điều kiện cho kinh tế
thành phố tăng trưởng mạnh mẽ
Trong quá trình phát triển và hội nhập, thành phố Hồ Chí Minh luôn khẳng
định vai trò là một trung tâm kinh tế - tài chính - thương mại - dịch vụ của cả
nước Là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, một trong 3 vùng kinh
_tế trọng điểm lớn nhất nước và cũng là vùng động lực cho công cuộc phát triển
kinh tế — xã hội ở địa bàn Nam Bộ, và cả nước theo chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2 Thực trạng các doanh nghiệp ngoài quốc doanh:
Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm các loại hình doanh nghiệp là công
ty cỗ phần (Cty CP), công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), doanh nghiệp tư nhân
(DNTN), chi nhánh (CN) các công ty, hay còn gọi là các doanh nghiệp vừa và nhé (DNV&N)
Trang 35
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: Thạc Sỹ TRỊNH NGỌC ANH
Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, kể từ khi Luật Doanh nghiệp được
chính thức đưa vào áp dụng trong thực tế (có hiệu lực 1/1/2000), đã có 37.005
doanh nghiệp — riêng trong bốn năm thi hành Luật Doanh Nghiệp - đã có 26.236 đoanh nghiệp mới thành lập (bằng 2,4 lần so với thời kỳ từ 1991-2000)
Đa số các doanh nghiệp mới thành lập và đăng ký kinh doanh đều là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ, rất đa dạng phong phú về qui mô, vốn lao động, ngành nghề sản xuất kinh doanh và chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực Thương mại —
Dịch vụ chiếm trên 50%, trong đó có nhiều doanh nghiệp kinh doanh bất động
sản chiếm gần 5%, kế đến là sắn xuất công nghiệp, xây dựng chiếm trên 35%, còn lại là các ngành nghề khác
Sự ra đời và phát triển của các loại hình doanh nghiệp - trong bốn năm qua
- đã góp phân quan trọng đến quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế của thành phố Mặt khác, đã tác động tích cực đến sự hình thành
cơ cấu kinh tế của thành phố, là một cơ cấu có nhiều thành phần kinh tế tham gia, nhiều ngành nghề đa dạng, phong phú, cho phép khai thác hết tiểm năng và
hướng tới khai thác hiệu quả lao động
Trong năm 2003, trên địa bàn thành phố các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tạo ra 40% GDP, trong thương mại — dịch vụ là 80%, nông nghiệp 92%, góp phần giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động (bình quân một doanh nghiệp có 94,5
lao động)
Tuy vậy các loại hình doanh nghiệp này vẫn còn tổn tại nhiều mặt hạn chế
khách quan và chủ quan như sau:
S Những mặt hạn chế khách quan:
Tổng số doanh nghiệp còn quá nhỏ so với mức yêu cầu — bình quân trên
địa bàn thành phố có 140 người/1 doanh nghiệp - là một con số thấp so với các nước trên thế giới Mặc dù Luật Doanh Nghiệp đã đi vào thực tế cùng với những
cải cách hành chính, cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh, chính quyền thành phố
đã cố gắng tỉnh giản, tạo sự thông thoáng và hỗ trợ doanh nghiệp được thành lập
dễ dàng hơn, nhưng ở một số khâu vẫn còn khá rườm rà, cẩn trở tiến trình thành
lập các doanh nghiệp Và trong việc kinh doanh, các doanh nghiệp cũng gặp phải
những khó khăn khách quan khác như: khu vực lao động ở khu vực kinh tế này —
nhất là khu vực kinh tế tư nhân - còn quá nhỏ bé, chú yếu là lao động phổ thông, trình độ thấp nên chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của sản xuất kinh doanh, năng lực công nghệ hạn chế, kỹ thuật thấp,
Trang 36
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac S¥ TRINH NGOC ANH
<> Nhiing han ché chi quan:
Ở bản thân của các chủ doanh nghiệp — phần lớn có trình độ kém — chưa được đào tạo tốt nhất, năng lực quản lý và trình độ nghiệp vụ chuyên môn còn
hạn chế, với nguồn vốn thường không lớn nên không có điểu kiện dau tu lâu dài
và không có cơ hội áp dụng các công nghệ kỹ thuật cao vào trong sản xuất kinh
doanh dẫn đến năng suất lao động thấp, sản phẩm làm ra vì thế cũng kém chất
lượng hơn so với hàng hóa từ nước ngoài cũng như từ những doanh nghiệp cố qui
mô lớn hơn, Trong kinh doanh, chưa nắm bắt được những thời cơ, chưa tiếp cận được thị trường trong nước và thế giới, ít tự tiếp xúc tìm hiểu những định hướng phát triển của Nhà nước, nhất là sự hạn chế nhận biết về các qui định, các chính
sách về thuế của Nhà nước trong các văn bản pháp luật Do đó, phần lớn thường
làm sai luật, sai các qui định của Nhà nước nên nhiều khi doanh nghiệp tự gây khó khăn cho mình trong việc tiếp xúc với các cơ quan chức năng của Nhà nước,
nhất là cơ quan quần lý hành chính về thuế, Vì vậy, với khu vực kinh tế này còn rất nhiều những hạn chế to lớn, cho nên, Nhà nước cần phải có những biện pháp tích cực hỗ trợ khu vực kinh tế này, giúp khu vực kinh tế này có điều kiện phát
triển mạnh mẽ, vì đây là tiểm năng rất lớn của nền kinh tế quốc dân
Đó là tình trạng chung của các doanh nghiệp khác trên địa bàn thành phố, nhưng trong đó cũng có những doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ, luôn gắn liền
với quá trình phát triển của kinh tế thành phố và đã có những đóng góp rất tích
cực vào những thành công chung của thành phố Về phía các cơ quan Nhà nước,
trong thời gian qua đã tuyên dương và tặng bằng khen cho các doanh nghiệp — những doanh nghiệp đã luôn hoàn thành nghĩa vụ thuế của mình đối với Nhà nước
và thực hiện đúng những qui định quản lý về thuế Trong thời gian tới chính quyền thành phố sẽ tiếp tục tham gia giải quyết những khó khăn, vướng mắc của từng doanh nghiệp, tạo điều kiện tốt cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, bắt kịp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
I TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ VÀ THU THUẾ TẠI VIỆT NAM:
1 Tổ chức và chức năng bộ máy thu thuế nói chung:
Cùng với quá trình đổi mới của nền kinh tế, tổ chức bộ máy tài chính nói
chung và tổ chức bộ máy thu thuế nói riêng, luôn được hoàn thiện nhằm phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế tài chính
Trước khi tiến hành cải cách thuế bước 1 (trước ngày 1/10/1990), bộ máy quần lý và thu thuế ở nước ta được tổ chức thành ba bộ phận:
+ Cục thuế quốc doanh và quản lý tài chính xí nghiệp quốc doanh:
Chịu trách nhiệm các khoản thu từ xí nghiệp quốc doanh
Trang 37
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac S¥ TRINH NGQC ANH
+> Cuc thué néng nghiép:
Chịu trách nhiệm quản lý thu thuế nông nghiệp và tài vụ hợp tác xã nông
nghiệp
“+ Cục thuế công thương nghiệp:
Chịu trách nhiệm thu thuế đối với các cơ sở kinh doanh công, thương nghiệp tập thể và cá thể
phòng nghiệp vụ được tổ chức theo các sắc thuế Tổng Cục Thuế do một Tổng
Cục Trưởng phụ trách và có một số Phó Tổng Cục Trưởng giúp việc
+ 6 cdc Tinh, Thanh phố, khu vực trực thuộc Trung Ương (sau đây gọi chung là
Tỉnh):
Có các Cục Thuế trực thuộc Tổng Cục Thuế, đồng thời chịu sự chỉ đạo song trùng của Tổng Cục Thuế và Ủy Ban Nhân Dân (UBND) cùng cấp Cục
thuế do một Cục Trưởng phụ trách và có một số Phó Cục Trưởng giúp việc
+ Ở Quận, Huyện và cấp tương đương:
Có Chi Cục Thuế trực thuộc Cục Thuế, đồng thời chịu sự chỉ đạo song trùng của UBND cùng cấp
Tính thống nhất và tính hệ thống trong tổ chức bộ máy thu thuế được thực
Trang 38Bộ Trưởng Bộ Tài Chính qui định chức năng nhiệm vụ của hệ thống thu
thuế Nhà nước Các cơ quan thuế đặt tại địa phương phải chịu sự lãnh đạo của cả
Bộ Trưởng Bộ Tài Chính và Chủ Tịch UBND Tỉnh, trong đó:
4 Bộ Trưởng Bộ Tài Chính chịu trách nhiệm trước Chính Phủ về công tác thu
thuế trong phạm vi cả nước thông qua hệ thống thu thuế Nhà nước
+ Trong phạm vi quyển hạn do Luật định, Chủ Tịch UBND các cấp chịu trách
nhiệm chỉ đạo công tác thu thuế trên địa bàn; căn cứ vào thẩm quyển qui định
trong luật thuế, được ra quyết định hoặc để nghị cấp trên qui định miễn thuế, giảm thuế theo tờ trình của cơ quan thuế; chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của cơ quan thu thuế trong việc thi hành các qui định của Nhà nước về thuế và thu khác, chỉ đạo các cơ quan chuyên môn có liên quan phối hợp chặc chẽ với cơ quan thuế,
đảm bảo thực hiện tốt kế hoạch thu Ngân Sách Nhà Nước trên địa bàn
Ngoài ra, đối với mỗi phân cấp từ Trương Ương đến địa phương, hệ thống
quần lý thu thuế Nhà nước lại được qui định những chức năng và nhiệm vụ cụ thể, đảm bảo cho công tác thu thuế được vận hành thông suốt và mạch lạc, tránh hiện
tượng quản lý chồng chéo
SOTH: Upuyln Tht Ugee Dung 20c: QØ2.2oor 29
Trang 39
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY NGÀNH THUẾ
- Phong Thanh tra ( từ 2-3 Phòng) <—
- Phòng Quản lý Ấn Chỉ thuế ~— +»Ban Hợp tác Quốc tế
- Phòng TCCB và đào tạo ¬E +»Ban Thanh Tra -Phong Tai vu- Quantri <4 CUC THUE +» Ban tổ chức cán bộ và đào tạo
- Tổ Nghiệp vụ — hỗ trợ +>Ban tuyên truyền và hỗ trợ
- Tổ xử lý dữ liệu ———— +»Ban tai vu quan trị
- Tổ thanh tra, kiểm tra ~— ++Văn phòng
- Tổ Quản lý ấn chỉ ~©— +>ĐÐại diện TCT Phía Nam
- Đội thu quản lýLPTB & thu khác ~—L_ +>TT Bồi dưỡng nghiệp vụ thuế
- Đội Quản lý DN <+— ++>TT Tin học & Xử lý dữ liệu
- Đội thuế liên xã, phường, <— +>Tạp chí thuế thị trấn, đội thuế chợ —
Tổng Cục Thuế là bộ máy cao nhất trong hệ thống thu thuế Nhà nước, có
các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Giúp Bộ Tài Chính soạn thảo các văn bản pháp quy về thuế và các khoản
Z2440‹4QØ2200z 30
Trang 40
LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: Thac S¥ TRINH NGOC ANH
thu khác để trình các cơ quan chức năng các cơ quan có thẩm quyền ban hành và
tổ chức thực hiện thống nhất các văn bản này trong cả nước Tổng Cục Thuế cũng
được quyền tự ban hành theo sự ủy quyển của Bộ Trưởng Bộ Tài Chính các văn bản về nghiệp vụ quản lý thu thuế khác Đồng thời, hướng dẫn cơ quan thuế cấp dưới và các đối tượng nộp thuế thực hiện thống nhất các qui định đã đuợc ban
hành
- Hướng dẫn việc lập kế hoạch và tổng hợp kế hoạch thu thuế và thu khác
trình Bộ Trưởng Bộ Tài Chính xem xét để trình các cấp có thẩm quyển quyết
định Tổng Cục Thuế xem xét giao chỉ tiêu thu thuế và thu khác cho các cơ quan
thuế cấp dưới, hướng dẫn nộp thuế, thông qua đó kiểm tra, đôn đốc cơ quan thuế cấp dưới trong việc tổ chức công tác thu thuế và thu khác trên địa bàn, bảo đảm
thu nộp đầy đủ, kịp thời mọi khoản thu vào Ngân Sách Nhà Nước
- Tổ chức công tác thông tin, báo cáo, thống kê, phân tích tình hình và kết
quả thu thuế, phục vụ kịp thời cho việc chỉ đạo, điều hành các cơ quan cấp trên
- Quan lý về tổ chức, biên chế, cán bộ, kinh phí chỉ tiêu và ấn chỉ của toàn
bộ hệ thống thu thuế theo đúng các qui định của Nhà nước và phân cấp của Bộ Trưởng Bộ Tài Chính Tổ chức công tác tuyên truyền thi đua, tổ chức bổi dưỡng
chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ thuế trong cả nước
- Được quyển yêu cầu các Bộ, Ngành, các cơ sở sản xuất kinh doanh cung
cấp các tài liệu, số liệu, các bản kế hoạch kinh tế xã hội - tài chính có liên quan đến việc lập kế hoạch và quần lý thu thuế và thu khác
- Tổ chức công tác thanh tra việc chấp hành các qui định về thu và thu khác
của Nhà nước trong bộ máy thuế và đối với các đối tượng nộp thuế Xử lý các vi phạm chính sách, chế độ thuế trong ngành, giải quyết các khiếu tố theo thẩm quyển được luật thuế qui định
Ra lệnh thu các khoản phải thu, ra lệnh nêu tên các đối tượng nộp thuế chưa đủ, nộp chậm hoặc vi phạm các điều khoản của Luật, pháp lệnh và các văn
bản khác về thuế Lập biên bản kiến nghị với các cơ quan chính quyển các cấp xử
lý hành chính đối với các đơn vị, cá nhân vi phạm nghiêm trọng các trường hợp nghiêm trọng thì lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật định
3 — Cục thuế Tp Hồ Chí Minh:
Cục thuế Tp Hồ Chi Minh là tổ chức trực thuộc Tổng Cục Thuế (có đại
diện ở Phía Nam), là cơ quan có trách nhiệm quản lý và thu thuế Nhà nước trên
toàn địa bàn Tp., có trách nhiệm và chức năng cụ thể như sau:
Nhiệm vụ và chức năng của Cục Thuế:
- Hướng dẫn, tổ chức chỉ đạo các Phòng, Ban và các Chi Cục Thuế trực thuộc việc thực hiện thống nhất chính sách, chế độ, thể lệ, nguyên tắc về quản lý