1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

501 Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 - 2004 của công ty Teleq - Các giải pháp để nâng cao hiệu quả

79 438 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề 501 Đánh Giá Tình Hình Tổ Chức Sản Xuất Và Hiệu Quả Kinh Doanh Năm 2003 - 2004 Của Công Ty Teleq - Các Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả
Trường học Teleq University
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2003 - 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 3,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

501 Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 - 2004 của công ty Teleq - Các giải pháp để nâng cao hiệu quả

Trang 1

2 _ Ý nghĩa của phân tích kinh tế trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp 6

4 Các chỉ tiêu và hệ thống chỉ tiêu thường dùng trong phân tích kinh tế 7

5 Các nhân tế và phân loại nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh 8

PHAN II: THUC TRANG HOAT DONG CUACONG TY TELEQ 21

1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của công ty TELEQ 23

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ TINH HINH TO CHUC QUAN LY SAN

I_ TỔ CHỨC QUẦN LÝ SẲN XUẤT TẠI CÔNG TY TELEQ 33

1.3.2.1 Dây chuyển sản xuất bo mạch (Module Assembly) 40

Chuyên đề: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2002 và 2003 của công ty

TELEQ, các biện pháp để nâng cao hiệu quả

1

Trang 2

GVHD: Ths Nguyén Thi Len Thuc hién: Dang Van Y QT2_096

Dây chuyển sản xuất dây nguồn, lắp ráp khung máy, gid may (Wires,

Frame, Rack Assembly)

Sản xuất dây nguén (Wire Production):

Lắp ráp khung máy (Frame Assembly):

Lắp ráp giá máy (Rack Assembly)

Sản xuất cáp (Cable Production):

Những vấn để trên các dây chuyển sản xuất

Dây chuyển sản xuất cạc thuê bao Dây chuyển sản xuất dây nguồn, lắp ráp khung máy, giá máy (Wires, Frame, Rack Assembly)

Bộ phận kiểm tra sản phẩm

Đóng gói và lưu kho sản phẩm Tiêu thụ sản phẩm

CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUÁ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT

KINH DOANH CUA CONG TY TELEQ NAM 2003 VÀ 2004

Đặc điểm tình hình chung Đánh giá tình hình sản lượng sản xuất

Đánh giá tình hình sản lượng tiêu thụ

Đánh giá các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh

Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tình hình tài chính của doanh nghiệp

PHAN III : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Trang 3

GVHD: Ths Nguyén Thi Len Thuc hién: Dang Van Ý QT2_096

LOI NOI DAU

Kể từ khi đất nước ta bắt đầu cải tổ kinh tế mạnh mẽ, chuyển đổi nền kinh tế kế

hoạch sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, cũng đòi hỏi sự thay đổi rất lớn về cơ cấu quân lý kinh tế Bỏi vì trong quá trình chuyển đổi này xuất hiện thêm nhiều thành phần kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường, bắt đầu nảy sinh những cạnh tranh gay gắt Để doanh nghiệp tồn tại và phát triển, đòi hỏi nhà quản trị doanh nghiệp phải hết sức nhạy bén, năm bắt kịp thời các thông tin để chọn lọc, xử lý, đưa ra quyết định cho các chiến lược của mình Hiện nay với sự thay đổi từng ngày của kinh tế nước

ta, nay sinh hàng loạt các mối quan hệ kinh tế trong quá trình sẵn xuất kinh doanh Các mối quan hệ này ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn, điều đó đòi hỏi các nhà quản trị phải thu thập và xử lý thông tin nhiều hơn với chất lượng cao hơn Từ khi đổi mới đến nay, chúng ta đã thấy sự xuất hiện của nhiều thành phần kinh tế khác nhau Liên Doanh là một trong những mô hình sẵn xuất kinh doanh mới đối với nước ta Bên

cạnh những thành tựu mà các doanh nghiệp Liên doanh đạt được, không thể phủ nhận là

các doanh nghiệp này đã nhận được rất nhiều những thuận lợi về chính sách ưu đãi đầu

tư của nhà nước, song họ cũng gặp không ít những khó khăn Mỗi doanh nghiệp có những tính chất đặc thù của mình mà có những khó khăn khác nhau

Để đánh giá hiệu quả của công tác tổ chức sẵn xuất kinh doanh của mô hình kinh

tế Liên doanh em xin được trình bày phần nghiên cứu của mình qua việc nghiên cứu

tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Sản xuất thiết bị viễn thông (TELEQ), một Liên

doanh sản xuất sân phẩm công nghệ kỹ thuật cao trong ngành Bưu Chính Viễn Thông với đề tài:

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TỔ CHỨC SẲN XUẤT

VA HIEU QUA KINH DOANH NAM 2003 - 2004 CUA CONG TY TELEQ

CAC GIAI PHAP DE NANG CAO HIEU QUA

Đê tài: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

1/77

Trang 4

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Ý QT2_096

Với mong muốn đánh giá chính xác tình hình tổ chức quản lý sẵn xuất và hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty trong các năm 2003 và 2004 từ đó đề ra một

số biện pháp để nâng cao hiệu quả quản lý sẵn xuất kinh doanh của doanh nghiệp

| nay trong những năm tiếp theo, vì vậy đề tài nghiên cứu được chia thành hai phần

1) Đánh giá tình hình tổ chúc quân lý sẵn xuất của công ty TELEO

2) Đánh giá hiệu quả sẵn xuất kinh doanh của công ty TELEQ

Vì thời gian có hạn và trình độ nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế, nên không thể đi sâu phân tích tất cả các vấn đề liên quan đến tổ chức sẵn xuất ở đây, đồng thời không thể tránh khỏi những sai sót Em kính mong nhận được những đóng góp ý kiến quý báu từ Quý Thầy Cô để em ngày một hoàn thiện hệ thống kiến thức đã lĩnh hội được từ nhà trường

Em xin chân thành cẩn ơn các Thày Cô Trường Đại Học Dân Lập Kỹ Thuật

Công Nghệ Thành Phố HỒ CHÍ MINH đã tận tình truyền đạt và trang bị cho em kiến thức suốt mấy năm qua

Em xin chân thành cảm ơn Cô - The NGUYỄN THỊ LEN đã rất nhiệt tình

giúp đỡ em thực hiện đề tài, đồng thời xin cảm ơn tập thé CBCNV va cdc đồng nghiép tai cong ty TELEQ da tao diéu kién thuén loi dé em hoan thanh céng trinh

nghiên cửu này

Sinh viên thực hiện:Đặng Văn Ý

Đê tài: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

Trang 5

Đề tài: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

3/77

Trang 6

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Ý QT2_096

I1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG PHẦN TÍCH KINH TẾ DOANH NGHIỆP

1 Đối tượng nghiên cứu của phân tích kinh tế

Phân tích , nói chung là việc chia nhỏ sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ hữu

cơ giữa các bộ phận cấu thành của sự vật và hiện tượng đó Trong lĩnh vực tự nhiên, việc chia nhỏ này được tiến hành với sự phụ trợ của các trang thiết bị cụ thể,

sự phân tích các vật chất khác nhau được sử dụng các trang thiết bị riêng biệt, phù hợp với yêu câu của từng đối tượng, ví dụ phân tích các chất hoá học bằng các phản ứng, phân tích các vi sinh vật sử dụng kính hiển vi

Trái lại trong lĩnh vực kinh tế xã hội, các hiện tượngcần phân tích chỉ bao gồm các thông tin, dữ liệu trừu tượng, do đó việc phân tích cũng phải tiến hành với những phương pháp rất trừu tượng

Như vậy phân tích kinh tế là là việc chia các hiện tượng, các quá trình và các kết quả kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thành Trên cơ sở đó, bằng các phương pháp liên hệ, so sánh đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra tính quy luật

và xu hướng phát triển của các hiện tượng nghiên cứu Phân tích gắn liền với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của con người Tuy nhiên trong điều kiện sản xuất kinh doanh chưa phát triển, yêu cầu thông tin cho quản lý doanh nghiệp chưa nhiều, chưa phức tạp, công việc phân tích cũng được tiến hành chỉ là các phép tính

cộng trừ đơn giản Khi nên kinh tế phát triển, yêu cầu trong quản lý kinh tế tăng

lên Để đáp ứng yêu cầu quản lý kinh doanh ngày càng cao và phức tạp phân tích kinh tế được hình thành và đang ngày được hoàn thiện với hệ thống lý luận độc lập Quá trình đó hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan của sự phát triển các

bộ môn khoa học

Dé tai: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

Trang 7

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Ý QT2_096

Là một môn khoa học độc lập, phân tích kinh tế có đối tượng nghjiên cứu riêng Nói chung đối tượng nghiên cứu của Phân tích kinh tế không ngoài các hoạt động sản xuất kinh doanh như là một hiện tượng kinh tế xã hội đặc biệt

Để phân chia, tổng hợp và đánh giá các hiện tượng hoạt động sản xuất kinh

doanh, đối tượng của nghiên cứu của phân tích kinh tế là những kết quả kinh

doanh cụ thể, được biểu hiện qua các chỉ tiêu kinh tế, với sự tác động của các nhân

tố kinh tế

Các kêt quả kinh doanh thuộc đối tượng phân tích có thể là các kết quả phân biệt củ từng khâu, từng giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh như sản xuất ra hàng hóa, tiêu thụ, hoặc mua bán trao đổi hoặc tổng hợp của tất cả các hoạt động

đó thành cả một quá trình trong doanh nghiệp Đó là kết quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp

Thông thường mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều có định hướng, kế hoạch Bởi vậy khi phân tích kinh tế phải hướng vào các kết quả thực hiện các định hướng,

trước(tháng, quí, năm)

Những kết quả kinh đoanh cụ thể của các quá trình sản xuất kinh doanh được biểu hiện bởi các chỉ tiêu kinh tế Bởi vì các chỉ tiêu kinh tế phản ánh nội dung và phạm vi của các kết quả kinh doanh Ví dụ khi nói đến doanh thu bán hàng của

một doanh nghiệp là phải nói cụ thể tổng doanh thu là bao nhiêu và Doanh thu đó

thuộc năm tài chính nào Như vậy nội dung kinh tế của kết quả kinh doanh là doanh thu bán hàng và phạm vi của kết quả kinh doanh là của Doanh nghiệp trong năm tài chính đó

Dé tei: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

5/77

Trang 8

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Ý QT2_096

lợi nhuận còn trị số của chỉ tiêu luôn luôn thay đổi theo thời gian và địa điểm cụ

th

Những kết quả kinh doanh cụ thể chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế

Nghĩa là quá trình sử dụng các yêu tố sản xuất kinh doanh đã ảnh hương như thế nào đế kêt quả kinh doanh của doanh nghiệp

2 Ý nghĩa của phân tích kinh tế trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp

Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường , để tổn tại và

phát triển, đòi hỏi các doanh nghiệp làm ăn phải có lãi Để đạt được kết quả nhất

trong sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải xác định cho mình phương

hướng và mục tiêu đầu tư, biện pháp sử dụng nguồn vốn, nguồn lực sẵn có, muốn

vậy các doanh nghiệp cần nắm vững những yếu tố ảnh hưởng , múc độ và xu

hưứ«ng tác động của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh Điều này chỉ thực hiện được trên cơ sở phân tích kinh tế

Tất cả mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đều nằm trong thế có tác động liên hoàn với nhau Bỏi vậy chỉ có thể tiến hành phân tích các hoạt động kinh doanh một cách toàn diện, mới có thể giúp cho các nhà doanh nghiệp đánh giá đầy

đủ và sâ sắc mọi hoạt động kinh tế trong trạng thái thực của chúng Trên cơ sở đó,

nêu lên một cách tổng hợp về trình độ hoàn thành các mục tiêu- biểu hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật-tài chính của doanh nghiệp

3 Nội dung của phân tích kinh tế

Phù hợp với đối tượng nghiên cứu, nội dung chủ yếu của phân tích kinh tế là:

- Phân tích các chỉ tiêu về king doanh, như : sản lượng sản phẩm, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, giá thành, lợi nhuận

Đề tài Đánh giá nh hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

Trang 9

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Ý QT2_096

- Các chỉ tiêu kết quả kinh doanh được phân tích trong mối quan hệ với các chỉ

tiêu về điều kiện (yếu tố ) của quá trình sản xuất kinh doanh, như : lao động, tiền vốn đất đai

- _ Để thực hiện nội dung trên, phân tích kinh tế cần xác định các đặc trưng về thhặt lượng của các giai đoạn, các quá trình kinh doanh (số lượng, kết cấu, quang hạ, tỷ lệ, ) nhằm xác định các xu hướng và nhịp độ phát triển, xác định những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động của các qúa trình kinh doanh, tính chất và trình độ chặt chẽ của mối liên hệ giữa kết quả kinh doanh

với các điều kiện (yếu tố ) sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

4 Các chỉ tiêu và hệ thống chỉ tiêu thường dùng trong phân tích kinh tế

Có nhiều loại chỉ tiêu kinh tế khác nhau, tuỳ theo mục đích và nội dung phân

tích cụ thể, có thể lựa chọn những chỉ tiêu phân tích thích hợp

Theo tính chất của chỉ tiêu, có :

Chỉ tiêu số lượng: Phần ánh quy mô của kết quả hay điều kiện kinh doanh,

như: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, lượng vốn, diện tích sản xuất

- Chỉ tiêu chất lượng: Phản ánh hiệu xuất kinh doanh hay hiệu xuất sử dụng các

yếu tố sản xuất kinh doanh, như : giá thành đơn vị sản phẩm hàng hoá, mức doanh lợi, năng suất thu hoạch, hiệu suất sử dụng vốn

Theo phương pháp tính toán, có :

- _ Chỉ tiêu tuyệt đối thường dùng để đánh giá quy mô sản xuất và kết quả kinh

doanh tại thời gian và không gian cụ thể như : Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, giá trị sản lượng hàng hoá sản xuất, lượng vốn , lượng lao đông

- — Chỉ tiêu tương đối thường dùng trong phân tích các quan hệ kinh tế giữa bộ phận ( cơ cấu ) hay xu hướng phát triển của chỉ tiêu ( tỷ lệ ) chẳng hạn, như :

Dé tai: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

7/71

Trang 10

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Ý QT2_096

chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch về sản lượng sản phẩm năm 2002 của doanh nghiệp A bằng 110%, tổng mức lợi nhuận thu được hoạt động sản xuất kinh doanh bằng 90%

- — Chỉ tiêu bình quân : là dạng đặc biệt của chỉ tiêu tuyệt đối, nhằm phản ánh ftình độ phổ biến của hiện tượng nghiên cứu, như : giá trị sản lượng bình quân

một lao động, thu nhập bình quân một lao động

Tuỳ theo mục đích và nội dung phân tích có thể dùng chỉ tiêu biểu hiện bằng đơn

vị hiện vật, như: sản lượng từng mặt hàng, mức cung ứng từng loại nguyên vật

liệu hoặc biểu hiện bằng đơn vị giá trị, như : tổng mức giá thành sản phẩm hàng

hoá, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ hoặc biểu hiện bằng đơn vị thời

gian, như: tổng số ngày công làm việc thực tế, tổng số giờ công làm việc thực tế

hoàn toàn v.v

Như vậy, để phân tích kết quả kinh doanh, cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích tương đối hoàn chỉnh với những phân hệ chỉ tiêu khác nhau, nhằm biểu hiện được tính đa dạng và phức tạp của nội dung phân tích

5 Các nhân tế và phân loại nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh

Nhân tố là nhưng yếu tố bên trong của mỗi hiện tượng, mỗi quá trình và mỗi

sự biến động của nó tác động tác động trực tiếp đến độ lớn, tính chất, xu hướng và

mức độ xác định của chỉ tiêu phân tích Chẳng hạn như :

Chỉ tiêu doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ phụ thuộc vào các nhân tố:

- Lượng hàng hoá bán ra (biểu hiện bằng đơn vị hiên vật)

- Kết cấu về số lượng sản phẩm hàng hoá bán ra

-_ Giá bán mỗi đơn vị sản phẩm hàng hoá

Chỉ tiêu giá thành đơn vị sản phẩm, phụ thuộc vào các nhân tố:

Để tài: Đánh giá tình hình tổ chức sẳn xuất và biệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

Trang 11

mà còn đi sâu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh Trên cơ sở

đó, tìm ra những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp

Theo nội dung kinh tế của nhân tố, bao gồm hai loại nhân tố sau đây:

-_ Nhân tố thuộc về điều kiện kinh doanh, như : số lượng lao động, số lượng vật

tư, tiền vốn v.v

Những nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp

- Nhân tố thuộc về kết quả kinh doanh : Thường ảnh hưởng có tính chất dây

truyền, từ khi cung ứng đến sản xuất, đến tiêu thụ và từ đó ảnh hưởng đến tình hình

tài chính của doanh nghiệp

Theo tính tất yếu của nhân tố, bao gồm hai loại:

- Nhân tố chủ quan : Phát sinh và tác động đến kết quả kinh doanh là do sự chỉ phối của bản thân doanh nghiệp Chẳng hạn như: Giảm chỉ phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng thời gian lao động, tiết kiệm hao phí nguyên vật liệu là tuỳ

thuộc vào nỗ lực chủ quan của doanh nghiệp

- Nhân tố khách quan : Phát sinh và tác động đến kết quả kinh doanh như là một

yêu câu tất yếu, ngoài sự chi phối của bản thân doanh nghiệp, chẳng hạn: giá cả thị trường, thuế suất

Dé tai: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

9/77

Trang 12

Việc phân tích kết quả kinh doanh theo sự tác động của các nhân tố chủ quan

và khách quan, giúp doanh nghiệp đánh giá đúng đắn những nỗ lực của bản thân doanh nghiệp và tìm hướng tăng nhanh hiệu quả kinh doanh

Theo tính chất của nhân tố, bao gồm hai loại:

- Nhân tố số lượng: Phần ánh quy mô sản xuất và kết quả kinh doanh, như : số lượng lao động, số lượng vật tư, khối lượng sản phẩm hàng hoá sản xuất, doanh thu

bán hàng

- Nhân tố chất lượng: Phản ánh hiệu suất kinh doanh, như : Giá thành đơn vị

2 nx ~* Ww, 4 oA ^“

sản phẩm, lãi suất, mức doanh lợi, hiệu quả sử dụng vốn

Phân tích kết quả kết quả kinh doanh theo hướng tác động của các nhân tố số lượng và chất lượng vừa giúp ích cho việc đánh giá phương hướng kinh doanh, chất

lượng kinh doanh, vừa có tác dụng trong việc xác định trình tự sắp xếp và thay thế

các nhân tố khi tính toán mức độ ảnh hưởng từng nhân tố đến kết quả kinh doanh Theo xu hướng tác động của nhân tốs, bao gồm hai loại nhân tố:

-Nhân tố tích cực: Có tác dụng làm tăng quy mô của kết quả kinh doanh của

doanh nghiệp

- Nhân tố tiêu cực: Phát sinh và tác động làm ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh

doanh (làm giảm quy mô kết quả kinh doanh)

Phân tích kết quả kinh doanh theo hướng tác động của các nhân tố tích cực và tiêu cực giúp cho các doanh nghiệp chủ động tìm mọi biên pháp để phát huy những

nhân tố tích cực, tăng nhanh kết quả kinh doanh Đồng thời, cũng hạn chế tới mức tối đa những nhân tố tiêu cực, có tác dụng xấu đến kết quả của quá trình sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp

Để tài: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

Trang 13

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Ý QT2_096

a

Trong phân tích cần xác định xu hướng và sự bù trừ về độ lớn giữa các nhân tố

tích cực và tiêu cực để xác định sự ảnh hưởng tổng hợp của tất cả các loại nhân tố đến chỉ tiêu phân tích

Cần lưu ý rằng: Việc phân loại các nhân tố tuỳ thuộc vào mối quan hệ cụ thể cuả nhân tố với chỉ tiêu phân tích Sự phân biệt giữa chúng chỉ có ý nghĩa tương đối

và chúng có thể chuyển hoá cho nhau

Ví dụ : Lượng hàng hoá tiêu thụ là chỉ tiêu phân tích khi đánh giá kết quả tiêu thụ, nhưng lại là nhân tố khi phân tích mức lợi nhuận về tiêu thụ sản phẩm hàng hoá

Cũng cần chú ý rằng: Đối tượng nghiên cứu của phân tích kinh tế là kết quả

kinh doanh, biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế, đưới sự tác động bởi các nhân tố

kinh tế mới là quá trình “định tính” Do vậy, để phân tích cân lượng hoá tất cả các chỉ tiêu phân tích và những nhân tố ảnh hưởng ở những trị số xác định và với mức

độ biến động xác định Như vậy, trong kỹ thuật phân tích ( tính và phân chia các

con số) thì trị số của chỉ tiêu hay trị số của biến động của chỉ tiêu phân tích là đối

tượng trực tiếp của phân chia và tổng hợp, làm cơ sở đánh giá chất lượng kinh doanh và xác định mức tiểm năng còn có thể khai thác trong từng mặt hoạt động

của doanh nghiệp Để thực hiện được công việc đó, cần nghiên cứu khái quát các phương pháp phân tích chủ yếu thường dùng trong phân tích kinh té

II CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KINH TẾ

Đêtài: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

11/77

Trang 14

các ngưỡng, các định mức chuẩn để so sánh Trên cơ sở so sánh về tỷ lệ các chỉ tiêu kinh tế với giá trị của các tỷ lệ định mức chẩn, có thể rút ra những kết luận về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trong phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các tỷ lệ của những chỉ tiêu kinh tế được phân tích từ các nhóm đặc trưng phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp D6 là nhóm tỷ lệ về cơ cấu các loại sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp, nhóm tỷ lệ về lợi nhuận thu được từ các loại sản phẩm hàng hoá hay từ các hoạt động của doanh nghiệp, nhóm tỷ lệ về doanh thu bán hàng từ các loại sản

phẩm hàng hoá, nhóm tỷ lệ về chỉ phí theo khoản mục trong giá thành sản phẩm

hàng hoá, nhóm tỷ lệ về cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời theo vốn sản xuất , nhóm tỷ lệ về chi phí bán hàng hoặc chi phí quản lý doanh nghiệp

Trong mỗi nhóm tỷ lệ lại bao gồm các nhóm tỷ lệ chỉ tiết hay riêng lẻ, từng bộ phận, từng mặt, từng khâu, từng giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp trong mỗi trường hợp khác nhau, tuỳ theo mục tuêu phân tích có thể lựa chọn các nhóm chỉ tiêu khác nhau phù hợp với mục đích phân tích cụ thể của

từng doanh nghiệp , trong từng thời kỳ

2 Phương pháp chỉ tiết

Mọi kết quả kinh doanh đều cần thiết và có thé chi tiết theo những hướng khác nhau Thong thường trong phân tích, phương pháp chỉ tiết được thực hiện theo những hướng sau:

-_ Chỉ tiết theo các bộ phận hay yếu tố cấu thành chỉ tiêu: Mọi kết quả kinh

doanh biểu hiện trên các chỉ tiêu đều bao gồm nhiễu bộ phận Chỉ tiết các chỉ tiêu theo các bộ phận cùng với sự biểu hiện về lượng của các bộ phận đó sẽ giúp ích rất

Dé tai: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quá

Trang 15

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Y QT2_096

nhiều trong việc đánh giá chính xác kết quả đạt được Với ý nghĩa đó, phương pháp chi tiết theo bộ phận cấu thnàh chỉ tiêu theo bộ phận cấu thành chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi trong phân tích mọi mặt két quả kinh doanh của doanh nghiệp

Trong phân tích kết quả sản xuất nói chung, chỉ tiêu giá trị sản lượng (hay giá

trị dịch vụ trong xây lắp, trong vận tải, du lịch, ) thường được chi tiết theo các bộ phận có ý nghĩa kinh tế khác nhau Chẳng hạn: giá trị sản lượng công nghiệp cần được chỉ tiết thành các bộ phận: giá trị sản phẩm làm bằng nguyên vật liệu của

người đặt hàng, giá trị dụng cụ tự chế, giá trị của sản phẩm làm dở, trong xây

dựng: trước hết cần chỉ tiết các phần xây và lắp đặt cấu kiện, sau đó trong phần xây cần chỉ tiết các phần : đổ bê tông, xây tường , công tác đất, công tác gỐv.V

Trong phân tích giá thành, chỉ tiêu giá thành đơn vị sản phẩm hoặc mức phí thường được chỉ tiết theo các khoản mục giá thành (phí)

Trong phân tích tiêu thụ, doanh số tiêu thụ (hay giá trị sản lượng hàng hoá thực hiện) được chỉ tiết theo doanh số từng mặt hàng như những bộ phận cấu thành doanh số

“,

- _ Chỉ tiết theo thời gian: kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bao giờ cũng

là kết quả của cả một quá trình: Do nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan

khác nhau, tiến độ thực hiện quá trình đó trong từng đơn vị thời gian xác định thường không đồng đều Chi tiết theo thời gian sẽ giúp ích cho việc đánh giá kết

quả kinh doanh được sát, đúng và tìm được giải pháp thiết thực cho công việc kinh doanh Tuỳ đặc tính của quá trình kinh doanh, tuỳ nội dung kinh tế của chỉ tiêu phân tích và tuỳ mục đích phân tích khác nhau có thể lựa chọn khoảng thời gian

cần chỉ tiết khác nhau và chỉ tiết khau phải chỉ tiết

- _ Chỉ tiết theo địa điểm: kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là do các bộ phận, các phân xưởng, đội, tổ sản xuất kinh doanh thực hiện Bởi vậy,

Đè tài: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

13/77

Trang 16

phương pháp này thường được ứng dụng rộng rãi trong phân tích kinh tế trong các trường hợp sau:

Một là, đánh giá kết quả hạch toán kinh doanh nội bộ Trong trường hợp này, tuỳ chỉ tiêu khác nhau có thể chi tiết mức thực hiện khoán ở các đơn vị cùng nhiệm

vụ như nhau Chẳng hạn , nếu khoán chi phí( riêng chỉ phí vật chất hoặc cả tiền

lương và chỉ phí quản lý phân xưởng )thì chỉ tiêu cần chỉ tiết là mức hao phí (vật chất hoặc chi phí nói chung) trên một đơn vị sản phẩm hoặc công việc; nếu áp

dụng cách khoán gọn thì chỉ tiêu cần chỉ tiết là mức lợi nhuận bình quân trên một đồng vốn hoặc một lao động

Hai là, phát hiện các đơn vị tiên tiến hoặc lạc hậu trong việc thực hiện các mục

tiêu kinh doanh Tuỳ mục tiêu để ra có thể lựa chọn các chỉ tiêu chỉ tiết phù hợp

về các mặt: năng suất, chất lượng, giá thành v.v

Ba là, khai thác các khả năng tiểm tàng về sử dụng vật tư, lao động , tiền vốn, đất đai v.v trong kinh doanh

3 Phương pháp so sánh

So sánh cụng là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác

địnhxu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích Vì vậy, để tiến hành so sánh phải giải quyết những vấn để cơ bản, như: xác định số gốc để so sánh, xác

định điều kiện để so sánh và xác định mục tiêu để so sánh

Xác định số gốc để so sánh phụ thuộc vào mục đích cụ thể của phân tích:

- Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu, số

gốc để so sánh là trị số của chỉ tiêu ở kỳ trước (năm nay so với năm trước, tháng

này so với tháng trước )

Đê tài: Đánh giá tình hình tổ chức sẩn xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

Trang 17

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len 7 Thực hiện: Đặng Văn Ý QT2_096

- _ Khi nghiên cứu nhịp điệu thực hiện nhiệm vụ kinh doanh trong từng khoảng

thời gian trong một năm thường so sánh với cùng kỳ năm trước (tháng hoặc quý)

- _ Khi đánh giá mức độ biến động so với các mục tiêu đã dự kiến, trị số thực tế

sẽ được so sánh với mục tiêu nêu ra (thường trong kế hoạch sản xuất kỹ thuật - tài chính của doanh nghiệp )

- _ Khi nghiên cứu khả năng đáp ứng nhu cầu của một loại sản phẩm hàng hoá

dịch vụ nào đó trên thị trường có thể so sánh số thực tế với mức độ hợp đồng hoặc

tổng nhu cầu v.v

Các trị số của chỉ tiêu kỳ trước, kế hoạch cùng kỳ năm trước gọi chung là trị số gốc và thời kỳ chọn làm gốc so sánh đó, gọi chung là kỳ gốc, thời kỳ chọn để phân tích gọi là kỳ phân tích

Ngoài việc so sánh theo thời gian, phân tích kinh tế còn tiến hành so sánh kết

quả kinh doanh giữa các đơn vị: so sánh mức đạt được của các đơn vị so với một đơn vị chọn làm gốc so sánh — đơn vị điển hìnhtrong từng kĩnh vực, từng chỉ tiêu phân tích

Điều kiện so sánh cần được quan tâm khác nhau khi so sánh theo thời gian và

so sánh theo không gian

Khi so sánh theo thời gian cần chú ý các điều kiện sau:

a Đảm bảo tính thống nhất về nội dung kinh tế của chỉ tiêu

Thông thường, nội dung kinh tế của chỉ tiêu có tính ổn định và thường được quy

mô thống nhất Tuy nhiên, do phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh nên nội dung kinh tế của chỉ tiêu có thể thay đổi theo các chiểu hướng khác nhau: Nội

dung kinh tế của chỉ tiêu có thể bị thu hẹp hoặc mở rộng do phân ngành sản xuất — kinh doanh : do phân chia các đơn vị quản lý, hoặc do thay đổi của chính sách quản

lý Đôi khi, nội dung kinh tế của chỉ tiêu cũng thay đổi theo chiều hướng “quốc tế

Đề tài Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

15/77

Trang 18

cần tính toán lại trị số gốc của chỉ tiêu theo nội dung mới quy định lại

b Đảm bảo tính thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu

Trong kinh doanh, các chỉ tiêu có thể được tính theo các phương pháp khác nhau Từ các chỉ tiêu giá trị sản lượng, doanh thu, thu nhập đến các chỉ tiêu: năng suất, giá thành có thể được tính toán theo những phương pháp khác nhau Khi so sánh cần lựa chọn hoặc tính lại các trị số của chỉ tiêu theo một phương pháp thống

Tất cả các điều kiện trên gọi chung là đặc tính “có thể so sánh” hay “tính chất

so sánh được” của các chỉ tiêu phân tích

`

Mục tiêu sơ sánh trong phân tích kinh tế là xác định mức biến động tuyệt đối và

mức biến động tương đối cùng xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích

Mức biến động tuyệt đối được xác định trên cơ sở so sánh trị số chỉ tiêu giữa hai

kỳ: kỳ phân tích và kỳ gốc, hay chung nhất là so sánh giữa số phân tích và số gốc Mức biến động tương đối là kết quả so sánh giữa trị số của chỉ tiêu phân tích

với trị số của chỉ tiêu kỳ gốc, nhưng đã được điều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu có liên quan, mà chỉ tiêu liên quan này quyết định quy mô của chỉ tiêu phân

Đề tài: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

Trang 19

GVHD: Ths Nguyén Thi Len Thực hiện: Đặng Văn Ý QT2_096

tích Phương pháp phân tích trên được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực, như: phân tích tình hình sử dụng lao động, tình hình sử dụng vật tư, tiền vốn, lợi nhuận 4_ Phương pháp loại trừ

Trong phân tích kinh tế nhiều trường hợp cân nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả kinh doanh nhờ phương pháp loại trừ

Loại trừ là một phương pháp nhằm xác định mức độ ảnh hưởng lần lượt của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh , bằng cách khi xác định sự ảnh hưởng của

nhân tố này, thì loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác

Chẳng hạn, khi phân tích chỉ tiêu tổng mức lợi nhuận thu dược từ một hoạt động

sản xuất kinh doanh , một loại sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của một doanh nghiệp

có thể quy về sự ảnh hưởng của hai nhân tố:

+ Lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã bán ra được tính bằng các đơn vị tự nhiên (cái , chiếc, suất ăn ) hoặc đơn vị trong lượng ( tấn tạ, kg ) hay khối lượng

dịch vụ hoàn thành (m? xd, tấn/km, người/km vân chuyển )

+ Suất lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm hàng hoá dịch vụ

Cả hai nhân tố đều cùng ảnh hưởng đến tổng mức lợi nhuận, nhưng để xác định

ảnh hưởng của một nhân tố này phải loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác Muốn

vậy, điều này có thể thực hiện bằng hai cách

Cách thứ nhất: Có thể dựa trực tiếp vào mức biến động của từng nhân tố và được gọi là phương pháp “số chênh lệch”

Cách thứ hai: Có thể dựa vào phép thay thế sự ảnh hưởng lần lượt của từng

nhân tố và gọi là phương pháp “thay thế liên hoàn”

Trong trường hợp này, khối lượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ là nhân tố số

lượng, còn suất lợi nhuận là nhân tố chất lượng Có thể khái quát phương pháp xác

Dé tai: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

17/77

Trang 20

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Y QT2_096

định ảnh hưởng của tửng nhân tố số lượng va chất lượng đến chi tiêu phân tích

bằng phương pháp sơ chênh lệch, như sau:

nhân tố số lượng = nhân tố số lượng X chất lượng kỳ gốc

Af(x)=(X1-Xo) Yo

nhân tố chấtlượng = nhân tố chất lượng lượng kỳ phân tích

Af(y)=(y1-Yo) X1

Tổng hợp ảnh hưởng của tất cả các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích nhờ phép

cộng đại số

Af(x,y) = Af(x) + Af(y)

trong trường hợp có nhiều nhân tố số lượng và chất lượng ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích cũng thực hiện dựa trên quy tắc đã nêu

Bằng phương pháp thay “thế liên hoàn”, có thể xác định ảnh hưởng của các nhân tố qua thay thế lần lượt và liên tiếp các nhân tố để xác định trị số của chỉ

tiêu khi nhân tố đó thay đổi Sau đó, lấy kết quả trừ đi chỉ tiêu khi chưa có biến đổi

nhân tố nghiên cứu sẽ xác định được ảnh hưởng của nhân tố này

Có thể khái quát mô hình chung của các phép thế, như sau:

Nếu có f(x,y,z ) = X,Y,Z

Thì: kỳ gốc: f(Xo.,Yo,Zo ) = XoY0Zo

Và kỳ phân tích f(x¡,Y\,Z¡ ) = XIY121

Đ tài: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

Trang 21

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Y QT2_096

Sự ảnh hưởng lân lượt của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích được xác định theo trình tự sau đây:

Af(x) = Í(XIY0Zo ) — £ (XoYoZo ) = XIY0Z0 — XoY0Z0 -

Af(y) = Ẩ(XIY1Zo ) — Ẩ (X1Y0Zo ) = XIY170- — XIY020

Af(Z) = f(XIYy1Z ) — Ê (XIY1Zo ) = XIY1ZI — XIY170:-

Tổng hợp sự ảnh hưởng của tất cả các nhân tố đến chỉ tiêu phân tích bằng

phép cộng đại số:

Af(x,y,z ) = Af (x) + Af(y) Af(z) +

Như vậy, điều kiện vận dụng của phương pháp loại trừ, gồm:

(a) Các nhân tố có quan hệ với chỉ tiêu phân tích được biểu hiện dưới dạng

một tích số ( hoặc một thương số)

(bì Việc sắp xếp và trình tự xác định ảnh hưởng lần lượt từng nhân tố đến

chỉ tiêu phân tích cần tuân theoquy luật “lượng biến dẫn đến chất biến”

5 Phương pháp liên hệ

Mọi kết quả kinh doanh đều có mối liên hệ mật thiến với nhau giữa các mặt các

bộ phận Để lượng hóa các mối liên hệ đó ngoài các phương pháp đã nêu trong

phân tích kinh tế con sử dụng phổ biến các cách nhgiên cứu liên hệ phổ biến như

liên hệ cân đối, liên hệ tuyến tính và liên hệ phi tuyến

Liên hệ cân đối: Cơ sở của phương pháp này là can bằng về lượng giữa hai mặt

của các yếu tố và quá trình kinh doanh: giửa tổng số vốn và tổng số nguồn , giữa nguờn thu, huy động và tình hình sử dụng các quỹ, các loại vốn, giữa nhu cầu và

Đề tài: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

19/77

Trang 22

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Y QT2_096

khả năng thanh toán, giữa thu chi và kết quả kinh doanh v.v Môi liên hệ cân đối vốn về lượng của các yếu tố Dẫn đến sự cân bằng cả về mức biến động( chênh

lệch) giữa các mặt của các yếu tố và quá trình kinh doanh Dựa vào nguyên tắc đó

cũng có thể xáx định ảnh hưởng của các nhân tố có quan hệ với chỉ tiêu phân tích được biểu hiện dươpí dạng “tổng số” hoặc “hiệu số”bằng kiên hệ cân đối

Liên hệ trực tuyến: Là mối liên hệ theo moat hướng xác định giũa các chỉ tiêu

phân tích Trong mối liên hệ trực tuyến này, tùy theo mức độ phụ thuộc giữa các

chỉ tiêu có thể phân thành hai loại quan hệ chủ yếu là Liên hệ trực tiếp hoặc liên

hệ gián tiếp

Liên hệ phi tuyến: là mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trong đó mức liên hệ không

được xác định theo tỷ lệ và chiều hướng liên hệ luôn biến đối

5 Phương pháp hồi quy và tương quan

Hồi quy và tương quan là các phương pháp của toán học, được vận dụng trong phân tích kinh tế để biểu hiện và đánh giá mối liên hệ tương quan giũa các chỉ tiêu kinh tế

Phương pháp tương quan là quan sát mối liên hệ giữa moat tiêu thức kết quả và moat hoặc nhiều tiêu thức nguyên nhân nhưng ở dạng liên hệ thực Còn hổi quy là

là một phương pháp xác định độ biến thiên của tiêu thức nguyên nhân Bởi vậy hai phương pháp này có quan hệ mật thiết với nhau Và còn có thể gọi tắt là phương pháp tương quan Nếu quan sát, đánh giá mối liên hệ giữa một tiêu thức kết quả và một tiêu thức nguyên nhân gọi là tương quan đơn Nếu quan sát, đánh giá mối liên

hệ giữa một tiêu thức kết quả với nhiều tiêu thức nguyên nhân gọi là tương quan bội

Đê tài: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

Trang 23

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Ý QT2_096

PHAN II

THUC TRANG HOAT DONG

CUA CONG TY TELEQ

TRUONG DHDL-KTCN

THU VIEN sG_ Api Ast

Đê tài: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

21/77

Trang 24

Đề tài: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

Trang 25

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Ý QT2_09

——

1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của công ty TELEQ

Trong chiến lược phát triển kinh tế thời kỳ đổi mới, Nhà nước Việt Nam đã xác định viễn thông là một ngành kinh tế, dịch vụ quan trọng, được xem là một trong những chiếc chìa khóa “vàng” để mở ra cách cửa hội nhập Ý thức được tầm quan

trọng đó, TỔNG CÔNG TY BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM (VNPT) đã

mạnh dạn đầu tư hiện đại hóa cho mạng lưới viễn thông qua việc lựa chọn những đối tác đáng tin cậy và phù hợp với điểu kiện phát triển của đất nước, Tập đoàn

cung cấp thiết bị viễn thông hàng đâu thế giới SIEMENS của Cộng Hòa Liên Bang Đức chính là một trong các đối tác lớn nhất đã được VNPT chọn lựa cho công việc

phát triển này

Kết quả của sự lựa chọn này là VNPT và Tập đoàn SIEMENS lién doanh thành

lập “Công Ty TNHH Sản Xuất Thiết Bị Viễn Thông” (Telecommunications

Equipment Ltd - goi tit 1a TELEQ) vào ngày 30/08/1994 theo giấy phép đầu tư

số1244/GP và giấy phép bổ sung — tăng vốn số1244/GPDCI1 ngay 30/07/1997 của

Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư (nay là Bộ Kế hoạch & Dau tu)

Đề tai: Đánh giá tình hình tổ chức sẵn xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

23/77

Trang 26

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Ý QT2_096

Liên doanh TELEQ có tổng vốn đầu tư 15.000.000 USD, trong đó vốn pháp định 4.500.000 USD; tỷ lệ góp vốn: VNPT 40% và SIEMENS AG 60% Thời hạn hoạt động của liên doanh 15 năm kế từ ngày được cấp giấy phép đầu tư

Nhà máy sản xuất đặt tại:

năm 1997 đánh dấu thời điểm bắt đầu phát triển bằng Lễ Khánh thành ngày

27/01/1997

Hình 2: Toàn cảnh công ty TELEQ

Đề tài: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

Trang 27

chất lượng phải được đảm bảo cùng tiêu chuẩn như các các thiết bị do SIEMENS

sản xuất ở nhà máy của SIEMENS tại Cộng Hòa Liên Bang Đức và trên toàn thế giới, TELEQ đã quyết định trang bị cho nhà máy của mình những thiết bị tiên tiến

đời mới nhất của SIEMENS để hình thành dây chuyển công nghệ hiện đại sản xuất

bo mach SLMA (Subscriber Line Module Analog - Cac Thué bao) ding để lắp ráp Tổng đài điện thoại điện tử Kỹ thuật số EWSD (Electronic Switching System Digital), véi cong suất 500.000 đường dây thuê bao/năm mà sản phẩm này trước

đây phải nhập khẩu hoàn toàn

Hình 3: Một góc của xưởng sản xuất và lắp ráp

Đề tài Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng ty

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

25/77

Trang 28

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Ý QT2_096

Những ngày đầu sản xuất, do công nghệ mới cùng với các thiết bị hiện đại nên việc tiếp nhận, lắp đặt và vận hành còn gặp đôi chút khó khăn Nhưng TELEQ

luôn đoàn kết, gắn bó với từng bước trưởng thành của công ty nên qua các khóa huấn luyện dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia nước ngoài giàu kinh nghiệm, các khó khăn đã được khắc phục một cách nhanh chóng, việc chuyển giao kỹ thuật

đã được tiến hành thành công để rổi sau đó dây chuyển sản xuất cho ra đời một loạt sản phẩm có chất lượng đồng đều như nhau Ngay từ những ngày đầu sản xuất công ty đã chuẩn bị xây dựng hệ thống quản lý chất lượng tiêu chuẩn quốc tế 1SO

áp dụng thành công hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế:

- Tháng 04 năm 1999, TELEQ được cấp giấy chứng nhận ISO 9002

- Thang 04 nim 2002, TELEQ được cấp giấy chứng nhận theo phiên bản mới

đc CERTIFICATE

The TOV CERT Certificetion Body

of RWTOV Systems GmbH hereby cortifies in accordance with TOV CERT

proceriure that

TELECOMMUNICATIONS EQUIPMENT LIMITED

Nolignal Highway-Binh An, Bi An District, Binh Duong Frovinee, 5.2.01 Viefnam

MoPUfOCNig and Su00N of Digit Bieckonic suactng Sater SWIX

Proof hae been furnished that the requirements eacording to

are fulliiied The cortiente is valid undil Jaty 2085 Certiicers Registration No 00/0801 The compeny has been certiiad sinac 1608

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

26/77

Trang 29

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Ý QT2_096

Sau nhiều năm hoạt động, hiện nay công việc SXKD của công ty đã đi vào

ổn định Với mục tiêu: “Uy tín - Chất lượng - Phục vụ tốt khách hàng”, sản phẩm của TELEQ đã có mặt tại hầu hết các tỉnh và Thành phố lớn, chiếm khoảng

trên 30% thị phân cung cấp thiết bị Tổng đài điện tử Kỹ thuật số trên toàn lãnh thổ

Việt Nam Đạt được kết quả này chính là nhờ vào sự cam kết với khách hàng về uy tín, chất lượng và cung cách phục vụ khách hàng Từ những kết quả đã đạt được tại

TELEQ có thể khẳng định Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam đã chọn

đúng hướng đi của mình Điều đó một lần nữa còn được khẳng định qua các hợp

đồng được ký kết ngày một nhiều và quan hệ hợp tác kinh doanh của TELEQ ngày

càng được mở rộng

2 Các sản phẩm và dịch vụ

Để nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh công ty TELEQ đã tập trung vào sản xuất, cung cấp các sản phẩm và các dịch vụ chính sau đây:

- Sản xuất bo mạch thuê bao SUMA,

- Lap ráp tổng đài điện tử kỹ thuật số dùng cho các trạm chủ và các trạm vệ tính

- _ Sản xuất tất cá các chủng loại của cáp nội đài và cáp nối tới tủ phân phối chính

- Giám sát lắp đặt

- Cài đặt phần mềm

- _ Sửa chữa và bảo hành thiết bị EWSD

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

21/71

Trang 30

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Ý QT2_096

Hình 5: Sản phẩm của công ty TELEQ

3 Sơ đồ tổ chức của công ty và chức năng của các phòng ban

Cơ cấu tổ chức quần lý của tất cả các bộ phận trong công ty được phân chia theo phòng ban, bộ phận chuyên ngành Các bộ phận, phòng ban này chịu trách

nhiệm và thừa hành trực tiếp từ Giám đốc bộ phận, Trưởng bộ phận, đồng thời gián

tiếp chịu trách nhiệm và thừa hành từ Ban Giám đốc công ty

Điểm đặc biệt trong sơ đồ tổ chức này là các phòng chức năng trực tiếp chịu

| sự điều hành từ Tổng Giám Đốc vì thực tế nhà máy sản xuất thiết bị công nghệ kỹ

thuật cao nên có qui mô nhỏ, cấu trúc các phòng ban gọn nhẹ nhưng hoạt động rất hiệu quả

TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

Trang 32

trực thuộc

- Tổng Giám đốc: Là người đại điện cho công ty giải quyết các vấn để liên quan với đối tác trong và ngoài liên doanh (chuyên về các đối tác nước ngoài) cũng như việc điều hành công ty theo nguyên tắc Tổng Giám đốc có quyển

quyết định và điều hành mọi vấn để liên quan đến việc sản xuất, kinh doanh của công ty

- Phó Tổng Giám đốc: Là người thừa hành công việc quản lý như là một Tổng Giám đốc trong trường hợp Tổng Giám đốc vắng mặt Phó Tổng Giám đốc đại diện cho công ty giải quyết các vấn để liên quan với đối tác trong và ngoài liên doanh (chuyên về các đối tác trong nước) cũng như việc điều hành công ty theo nguyên tắc Phó Tổng Giám đốc có quyển quyết định và điều

hành mọi vấn để liên quan đến việc sản xuất, kinh doanh của công ty Phó

Tổng Giám đốc còn là người tìm kiếm mở rộng thị trường, phát triển kinh doanh và đảm trách luôn vai trò là Giám đốc Nhân sự

3.2 Các bộ phận trực thuộc Ban Giám đốc

Các bộ phận này nhận nhiệm vụ điều hành trực tiếp từ Ban Giám đốc Trong các bộ phận có Giám đốc thừa hành, tiếp đến là các Trưởng bộ phận và

Giám sát dây chuyền

Để tài: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng

ty TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

Trang 33

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len

4 Nguồn nhân lực

Ngay từ những ngày đầu Ban Giám Đốc đã quan tâm đến yếu tố con người

Việc tuyển chọn kỹ lưỡng kết hợp với việc liên tục đào tạo, bổi dưỡng và huấn

luyện đội ngũ nhân viên, kỹ thuật viên đến nay công ty đã có một đội ngũ cán

bộ công nhân viên trẻ có trình độ cao, năng động và nhiệt tình trong công việc

cao chất lượng sản xuất và dịch vụ của TELEQ Bên cạnh đó, lãnh đạo công ty cũng có chính sách đãi ngộ tốt, luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tỉnh thần của nhân viên Mặc dù trong môi trường liên doanh nhưng bên cạnh nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, các hoạt động Đảng, Đoàn, Công đoàn luôn

Liên tục đào tạo nguồn nhân lực là một trong các biện pháp nhằm nâng

nhận được sự hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất

TỔNG CTY BCVT VIỆT NAM (VNPT) 2 NGƯỜI

TONG CONG: 75 _ NGƯỜI

TRÌNH ĐÔ:

Đê tài: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng

ty TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

31/77

Trang 34

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Ý QT2_096

CHUONG II:

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TỔ CHỨC

QUAN LY SAN XUẤT

NAM 2003 VA 2004 TAI CONG TY

TELEQ

Dé tai: Dénh gid tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng

ty TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

Trang 35

1 TO CHUC QUAN LY SAN XUAT TAI CONG TY TELEQ

Trong phần trình bày dưới đây chỉ khái quát về công việc của bộ phận kinh doanh có liên quan tới đàm phán và ký hợp đồng và bộ phận cung ứng vật tư, còn chủ yếu đi sâu vào các khâu tổ chức sản xuất tại công ty TELEQ

1.1 Bộ phận bán hàng

a Nghiên cứu thị trường

Thị trường cung cấp sản phẩm của TELEQ cũng chính là thị trường cung cấp sản phẩm của công ty SIEMENS, vì các thiết bị của SIEMENS và TELEQ

có bộ phận nghiên cứu thị trường và bán hàng hoạt động song song với bộ

phận bán hàng của TELEQ Các thông tin về đối thủ cạnh tranh cũng như các

yếu tố khác về thị trường hai bên phải phối hợp chặt chẽ, thường xuyên cung cấp cho nhau để xây dựng một chiến lược cho sự phát triển thị trường, cũng như những dự đoán cho kế hoạch sản xuất và cung cấp hằng năm

Đề tài: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng

ty TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

33/77

Trang 36

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Ý QT2_096

Dựa vào dự báo trước khi ký hợp đồng cung cấp thiết bị thì bộ phận vật tư

sẽ phối hợp với bộ phận sản suất thông qua kế hoạch sản xuất để có kế hoạch

| đặt vật tư phục vụ sản xuất Căn cứ theo cấu hình của thiết bị được thiết hế bởi

bộ phận dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật của Siemens, bộ phận vật tư sẽ xây dựng một

Dé tai: Dénh gid tinh hinh tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng

ty TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

34/77

Trang 37

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Y QT2_096

theo nhóm, và các lô, do đó cần có các thông tin đây đủ về thời gian cần thiết cho các lô, nhóm về vào thời điểm thích hợp

b Đặt hàng

Do các vật tư phải nhập 100% từ Đức, nên bộ phận vật tư phải xây dựng kế hoạch cho vật tư về đủ số lượng và chủng loại, đồng thời phải đảm bảo tính kịp

thời cho sản xuất Tránh tình trạng về một lúc quá nhiều ảnh hưởng đến tình

trạng lưu kho lâu, và khó khăn cho công việc bảo quản trong kho

c Nhận hàng

Khi vật tư đã được chuyển tới công ty, các chủng loại, và số lượng từng

loại sẽ được kiểm tra (incoming goods inspection)

Phía Siemens đã có thỏa thuận về chất lượng của các vật tư cung cấp, do đó sẽ

rút ngắn được quy trình kiểm tra linh kiện đầu vào Trong quá trình sản xuất nếu phát hiện được linh kiện nào không đảm bảo thì bộ phận vật tư sẽ báo

cho nhà cung cấp đổi để thay thế

Để tránh những rủi ro khi gặp nhiều linh kiện không phù hợp, hoặc cần

thiết ứng cứu đột xuất cho khách hàng, bộ phận vật tư đã có kế hoạch dự phòng đủ vật tư cho xưởng sản xuất 1 ca trong vòng một tháng Nhưng khi phát

hiện có vấn để của bất kỳ loại vật tư nào thì phải lập tức yêu cầu nhà cung cấp

thay thế ngay

Để tài Đánh giá nh hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng

ty TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

35/77

Trang 38

Dé tai: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng

ty TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

36/77

Trang 39

GVHD: Ths Nguyễn Thị Len Thực hiện: Đặng Văn Ý QT2_096

1.3.1 Đặc điểm của xưởng sản xuất

Xưởng sản xuất được xây dựng với tổng diện tích là: 2000 m7 được biên chế 31 người bao gồm:

6 kỹ sư

15 Kỹ thuật viên với trinh độ trung cấp

10 Công nhân kỹ thuật

Có ba dây chuyển sản xuất chính và một bộ phận kiểm tra hệ thống (kiểm

tra chất lượng sản phẩm)

Dây chuyển sản xuất bo mạch (Module Assembly) Công suất của xưởng được tính theo khả năng sản xuất đơn vị thuê bao trong một năm Hiện tại

công suất 500.000 thuê bao / năm

Dây chuyển sản xuất dây nguồn, lắp ráp khung may, gid may (Wires, Frame, Rack Assembly)

Dây chuyển sản xuất cáp (Cable)

- _ Bộ phận kiểm tra hệ thống (kiểm tra sản phẩm)

Bộ phận đóng gói sản phẩm

Quy trình sản xuất của công ty được bố trí theo dây chuyển liên tục từ đầu

vào của vật tư cho đến đầu ra của sản phẩm

Đề tài: Đánh giá tình hình tổ chức sản xuất và hiệu quả kinh doanh năm 2003 và 2004 của cộng

ty TELEQ, các giải pháp để nâng cao hiệu quả

37/77

Ngày đăng: 05/04/2013, 17:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w