1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

497 Phân tích hoạt động sản xuất và kinh doanh của công ty Bến Thành (Sunimex) trong năm 2001 - 2003 và những định hướng nhằm phát triển tổng công ty trong tương lai

111 560 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Hoạt Động Sản Xuất Và Kinh Doanh Của Công Ty Bến Thành (Sunimex) Trong Năm 2001 - 2003 Và Những Định Hướng Nhằm Phát Triển Tổng Công Ty Trong Tương Lai
Trường học University of Economics Ho Chi Minh City
Thể loại Báo Cáo
Năm xuất bản 2003
Thành phố Ho Chi Minh City
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 5,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

497 Phân tích hoạt động sản xuất và kinh doanh của công ty Bến Thành (Sunimex) trong năm 2001 - 2003 và những định hướng nhằm phát triển tổng công ty trong tương lai

Trang 1

CHUONG I

GIGI THIEU KHAI

QUAT VE TONG CONG

TY BEN THANH

Trang 2

hàng xuất nhập khẩu Quận I, tén giao dịch là FIDIMEX

Công ty FIDIMEX được thành lập nhằm mục đích phát huy mọi khả năng và

điều kiện sẵn có của Quận trong sản xuất kinh doanh và phục vụ xuất nhập khẩu

của Thành phố Chức năng ban đầu của công ty FIDIMEX là:

$ Cung ứng hàng xuất nhập khẩu trong Quận và Thành phố

¢ Làm trợ lý cho các tổ chức nước ngoài về mặt nông sản, thủ công mỹ nghệ theo các hợp đồng kinh tế

s Thực hiện các nghiệp vụ hậu cần cho các công ty du lịch và cung ứng tàu

biển

Trong giai đoạn này, một phần do cơ chế quản lý liên quan bao cấp, một phần

do chính sách đóng cửa đã hạn chế hoạt động của công ty Với những chức năng và nhiệm vụ cho phép, công ty FIDIMEX chỉ có thể thực hiện một cách gián tiếp nên không chủ động được trong hoạt động kinh doanh, không thu hút được khách hàng

Vì vậy công ty FIDIMEX chưa tận dụng hết ưu thế của một đơn vị Quận thuộc

Trung tâm Thành phố

Trang 3

2 Giai đoạn từ 1989 đến 1993 : Nhận thấy tình hình phát triển của công ty FIDIMEX và nhu câu phát triển của Quận, ngày 08/05/1989 Uỷ Ban Nhân Dân Thành phố (UBND TP) ra Quyết định số 249/QÐ ~ UB chuyển công ty FIDIMEX thành “ Liên hiệp sẳn xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu Quận I” với tên giao dịch là SUNIMEX ( Sài Gòn Union producing and Trading for Export and Import) theo Quyết định này, công ty SUNIMEX được phép xuất khẩu trực tiếp và bổ sung một số chức năng sau:

¢ Đầu tư mở rộng sản xuất cho các đơn vị kinh tế quốc doanh và ngoài quốc

doanh trên địa bàn Quận I

$ Liên doanh với các tỉnh để huy động các nguồn hàng xuất khẩu theo các ngành thực phẩm đông lạnh, nông hải sản, nhựa cao su, máy móc, nguyên vật liệu và nhập khẩu những mặt hàng phục vụ sản xuất kinh doanh trong

3 Giai đoạn từ 1993 đến 1997 :

Bước sang năm 1993, để sắp xếp và chấn chỉnh tổ chức các doanh nghiệp Nhà

nước trong điều kiện nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, UBND TP căn cứ vào Nghị định số 388/HĐBT ban hành ngày 20/11/1991 và Nghị định 156/HĐBT ngày 07/05/1992 cụ thể là điều 2 của Nghị

định 388 quyết định chuyển “ Liện hiệp sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu

_ Quận ÏI” thành công ty xuất nhập khẩu và dịch vụ Quận I với tên giao dịch là

Công ty SUNIMEX nhằm phù hợp với điều kiện mới cũng như chức năng và nhiệm

vụ của công ty ( Quyết định 28/QÐ — UB ngày 19/01/1993):

$ Xuất nhập khẩu trực tiếp theo giấy phép của Bộ Thương mại Kinh doanh chế biến các mặt hàng nông - lâm - hải sản, hàng may mặc, dệt kim, thủ

Trang 4

công mỹ nghệ, vật liệu xây dựng và trang trí nội thất để xuất khẩu và tiêu dùng trong nước

“ Nhập khẩu nguyên liệu, vật tư máy móc thiết bị và hàng hoá nhằm phục

vụ cho sản xuất kinh doanh

4 Tổ chức các loại hình dịch vụ và kiểu hối

$% Tiếp nhận đầu tư, liên doanh liên kết với nước ngoài để xây dựng khách sạn, cao Ốc

s* Kinh doanh nhà, cho thuê văn phòng

4 Giai đoạn từ 1997 đến nay :

Ngày 26/12/1997 UBND TP Hồ Chí Minh ra Quyết định số 7448/QĐÐ — UB - KINH TẾ thành lập Tổng công ty Bến Thành (TCT BT - BEN THANH INCORPPORATION) trên cơ sở lấy công ty xuất nhập khẩu và dịch vụ Quan I (SUNIMEX) làm nòng cốt, được thừa kế về mặt pháp lý và chịu trách nhiệm toàn

bộ hoạt động của Tổng công ty bao gồm hoạt động của các doanh nghiệp hạch toán độc lập nay trực thuộc Tổng công ty, các doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc, các công ty cổ phần, các công ty liên doanh, liên kết trong và ngoài nước

Il CHỨC NĂNG MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VU CUA TONG CÔNG TY:

1) Chức năng:

a) Thương mại:

Bán sỉ và lẻ các mặt hàng sản xuất và tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí

Minh và các tỉnh thành trong nước Nhập khẩu vật tư, nguyện vật liệu, hàng phục

vụ cho sản xuất và tiêu dùng Xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, hải sản, thủ công

mỹ nghệ, sản phẩm giả da hoặc da, hàng may mặc, văn hóa phẩm v v Nhận làm tổng đại lý, đại lý bán hàng cho tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài

b) Dich vu:

Dịch vụ lữ hành nội và quốc tế Dịch vụ du lịch: nhà hàng; vui chơi giải trí;

passport, visa; kiểu hối, thu đổi ngoại tệ; vận chuyển khách du lịch, đại lý vé máy

Trang 5

bay, tàu hỏa Cho thuê nhà, văn phòng va căn hộ; vận chuyển khách, dịch vụ hải quan, vận chuyển hàng hóa và giao nhận hàng hóa xuất khẩu, dịch vụ kho bãi; tư

vấn thiết kế - xây dựng; dịch vụ địa ốc Dịch vụ vi tính, chế bản; phát hành các

loại văn hóa phẩm, băng đĩa, audio — video Dich vu cho thuê cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp và các dịch vụ khác phục vụ cho khu công nghiệp như: vận chuyển hàng hóa, đưa rước công nhân, phục vụ ăn uống

c) San xuat:

Sản xuất hàng may mặc, hàng giả da hoặc da, thủ công mỹ nghệ, lắp ráp các loại xe gắn máy

Sản xuất các sản phẩm cơ khí: bulông, ốc vít các loại, phụ tùng xe hơi và

xe gắn máy In ấn, sắn xuất các chương trình và phát hành các băng đĩa audio — video, văn hóa phẩm các loại Chế tác vàng bạc, đá quý Chế biến các mặt hàng

lương thực, thực phẩm, rượu bị, nước giải khát, hạt điều nhân v v Xây dựng các

công trình công nghiệp và dân dụng

d) Đầu tư:

Hợp tác và đầu tư với các tổ chức kinh tế trong nước và ngoài nước trong các lĩnh vực: sản xuất, xây dựng, địa ốc, khu công nghiệp, khách sạn, văn phòng,

căn hộ cho thuê, bưu chính viễn thông, cho thuê tài chính và các hoạt động tài

chính: chứng khoán, trái phiếu

2) Nhiệm vụ:

khẩu

nguồn vốn đầu tư, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, làm tròn nghĩa vụ nộp ngân sách cho Nhà nước

e_ Phấn đấu thực hiện các chỉ tiêu có hiệu quả, ngày càng phát triển và đi lên vững chắc

e_ Tiếp cận khai thác thị trường mới ổn định

Trang 6

xuất nhập khẩu và giao dịch đối ngoại hiện hành của Nhà nước Việt Nam 3) Mục tiêu hoạt động:

Mục tiêu chủ yếu của Tổng công ty (TCT) là tiếp tục phát huy mạnh mẽ về nguồn vốn của TCT nhằm ổn định sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp, tích

cực tạo điểu kiện phát triển nhanh một số ngành mà TCT có ưu thé dé tao tién dé

cho sự phát triển của những năm tiếp theo, đồng thời khẳng định mô hình hoạt động kinh doanh của TCT đa ngành

II TỔ CHỨC BỘ MAY QUẦN LÝ CỦA TỔNG CÔNG TY :

1) Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban:

Hệ thống tổ chức bộ máy của Tổng công ty Bến Thành (SUNIMEX) được thiết lập theo mô hình cơ cấu trực tuyến tham mưu

1.1 Hội đồng Quản trị (HĐQT):

Thực hiện chức năng quản lý hoạt động của TCT, chịu trách nhiệm trước

cơ quan quản lý Nhà nước về sự phát triển của TCT theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa và mục tiêu của Nhà nước

1.2 Tổng Giám đốc (TGĐ):

La đại diện pháp nhân cia TCT va chịu trách nhiệm trước HĐQT, Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh và trước pháp luật về điều hành hoạt động và hiệu quả kinh doanh của TCT Thực hiện đầy đủ quyển và nghĩa vụ theo điều lệ của TCT

1.3 Ban kiểm soát:

Do HĐQT thành lập, để giúp HĐQT kiểm tra, giám sát hoạt động điều hành của Giám đốc công ty, bộ máy doanh nghiệp trong hoạt động tài

chính, chấp hành điều lệ doanh nghiệp, nghị quyết, quyết định của HĐQT

và chấp hành pháp luật

Trang 7

1.4 Phó Tổng Giám đốc (PTGĐ): gồm 3 người

Là người giúp TGĐ điều hành doanh nghiệp theo sự phân công và ủy

quyển của TGD, chịu trách nhiệm trước TGĐ và pháp luật về nhiệm vụ

được TGÐ phân công và ủy quyền

1.5 Các phòng nghiệp vu:

a) Phòng Tổ chức - Hành chính quản trị:

TGD về việc tuyển dụng, thôi việc, điều động cán bộ

lương bổng, đào tạo, để bạt cán bộ

- _ Thực hiện công tác tổng hợp, hành chính, quản trị

lĩnh vực trên

b) Phòng Kế hoạch:

- _ Tham mưu cho TGĐ về công tác, lên kế hoạch và tiếp thi

thực hiện kế hoạch của TCT

- _ Nghiên cứu thị trường và thực hiện có hiệu quả công tác marketing

- _ Tổ chức nhiệm vụ ủy thác xuất nhập khẩu

c) Phòng Kế toán - Tài chính:

chuyên môn nghiệp vụ

tài sản vật tư, hàng hóa đúng với pháp luật kế toán thống kê của Nhà nước qui định Lập kế hoạch khai thác nguồn vốn, sử dụng các nguồn

vốn, cân đối kế hoạch tài vụ của TCT

Trang 8

2)

2.1

Tài chính có nhiệm vụ: lập báo cáo chính xác, đúng quy định, có phân

tích đánh giá, so sánh; tổ chức kiểm tra kế toán nội bộ TCT và các đơn

vị trực thuộc định kỳ hoặc đột xuất; phổ biến kịp thời hướng dẫn, quy định mới của Nhà nước liên quan đến công tác tài chính, hướng dẫn

hạch toán kế toán cho các đơn vị thành viên và trực thuộc

d) Phòng Kinh doanh - Đầu tư:

định hướng phát triển chung của TCT

dựng của Nhà nước và của TCT

suất chất lượng sản phẩm

nước về công tác đầu tư, để xuất cho TGĐ xem xét và quyết định

Các công ty trực thuộc Tổng công ty (từ năm 1997 - 2003):

Các công ty trực thuộc:

- _ Khối công ty thành viên:

Doanh nghiệp thành viên có con dấu riêng, vốn riêng, có tư cách pháp

nhân

Doanh nghiệp phải tự lập báo cáo tài chính và nộp lên văn phòng TCT, chịu sự lãnh đạo của TCT Tổng công ty có thể chuyển vốn giữa các don vi thành viên Tổng công ty hiện có 10 đơn vị thành viên:

+ Công ty Dịch vụ và Du lịch Bến Thành

+ Công ty Phát triển nhà và Dịch vụ Quận I (HDSC) + Công ty Dịch vụ tổng hợp Sài Gòn (SAVICO) + Công ty Văn hóa tổng hợp (GCC)

Trang 9

+ Céng ty Kinh doanh nha Quan I

+ Công ty Thương mại tổng hợp Bến Thành + Công ty Nông sản - Thực phẩm

+ Công ty Vàng bạc - Đá quý

+ Xí nghiệp Da giầy Quận I

+ Công ty Xây dựng - Kinh doanh nhà

+ Công ty Vật tư Bến Thành

- - Khối các đơn vị trực thuộc:

Tổng công ty có thể cho vay, thu hộ, chỉ hộ, cấp vốn, thu hồi vốn và điều

chuyển vốn giữa các đơn vị phụ thuộc + Xí nghiệp LIDOVIT

+ Công ty Thương mại và Dịch vụ — Du lịch Tân Dinh (FIDITOURIST) + Khu công nghiệp Bình Chiểu

+ Trung tâm Thương mại — Dịch vụ Quận I + Xưởng hải sản đông lạnh

+ Khách sạn Dakao + Nha hang Maxim’s

+ Cao 6c Nguyén Trung Truc

- Gd6p vốn liên doanh ở các công ty:

+ Công ty liên doanh khách sạn Norfolk (Hongkong) + Công ty liên doanh căn hộ và văn phòng Sài Gòn (Singapore) + Công ty liên doanh khách sạn Sofitel Plaza (Hongkong) + Công ty liên doanh khách sạn Ramada (Hongkong) + Công ty liên doanh khách sạn Mercury (Hongkong)

Trang 11

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ (*————_] DANG UY

TỔNG GIÁM ĐỐC BAN KIỂM SOÁT

Các công ty trực thuộc Tổng công ty

PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC

+ Cty VHTH

+ Cty KD nhà Q.1

+ Cty TMTH Bén Thanh

+ Cty NS — TP

+ CtyVang bac da quy

+ Cty đa giầy xuất khẩu Q.I

KHOI CTY - TV KHOI CTY - CP

+ Cty DV — DL Bén Thanh + Cty CP BCVT Sai Gon

+ Cty PT— DV nha QI + Cty CP TMTP Sai Gon

+ Cty DVTH Sài Gòn + NH TMCP Phương Đông

KHOI LD - LK

+ Cty LD KS Norfolk

+ Cty LD CH ~ VP Sài Gòn + Cty LD KS Sai Gon

KHOI CTY - TT + XN LIDOVIT

+ Cty TM — DVDL Tan Dinh

+ Khu CN Binh Chiéu

+ Trung tim TM —- DV QI

+ Xưởng hải sản đồng

+ Khách sạn Dakao

+ Nha hang Maxim’s

+ Cao 6c Nguyén Trung Truc

Sofitel Plaza + Cty LD KS Ramada + Cty LD KS Mercury

+ Cty LD căn hộ RSC + Cty LD nhôm Việt - Nhật

Trang 12

PHAN TICH TINH HINH SAN XUAT KINH

DOANH CUA TONG

CONG TY BEN THANH

TRONG NAM

2001 - 2003

Trang 13

Sau khi Việt Nam tham gia các tổ chức thương mại trong khu vực và quốc tế như: ASEAN, APEC, AFTA và ký Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ với Chính phủ

Hoa Kỳ, ngành Ngoại thương nói riêng và toàn bộ nền kinh tế của Việt Nam nói

chung đã có nhiều sự phát triển vượt bật, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam được xếp

vào loại cao nhất Thế giới Điều đó đã mở ra một hướng đi cho các doanh nghiệp

kinh doanh xuất nhập khẩu có cơ hội tiếp cận với những quốc gia có nền kinh tế

phát triển mạnh, các thị trường lớn đầy tiểm năng như: Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật

Bản đặc biệt là đối với các doanh nghiệp có mô hình sản xuất — thương mại — dịch

vụ như TCT BT, nó sẽ giúp cho TCT BT phát triển đều trên cả 3 lĩnh vực Sau đây

chúng ta sẽ cùng phân tích các hoạt động kinh doanh của TCT BT:

Tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ trong 3 năm qua (2001 — 2003) cia TCT

BT theo mặt giá trị: áp dụng tỷ giá hối đoái là 1 USD = 15,500 VNĐ

Biểu đồ II.1: Biểu đồ báo cáo tình hình tiêu thụ hàng hóa của Tổng công ty

Bến Thành trong năm 2001 — 2003

200,000,000,000

i Tén dau kỳ

N Nhập trong kỳ L]Xuất tiêu thụ

Trang 14

°

ANBAY

TS LE V A v GVHD

Trang 16

Đánh giá tình hình tiêu thụ hàng hóa của Tổng công ty Bến Thành trong giai đoạn 2001 - 2003, ta có các công thức tính sau:

Trị giá tổn cuối kỳ¡ = Tổn đầu kỳ; + Nhập trong kỳ; - Xuất tiêu thu;

Tỷ lệ hoàn thành thực hiện; (TH;) = Trị giárm; / TrỊ gláTmi -1 Tri giá hoàn thành thực hiện; = TrỊ giáTg; - TTỊ glấTHi -1

¡: năm 2001 đến 2003

Xét bảng II.1, ta thấy doanh số tiêu thụ của năm 2002 chỉ bằng 74.78% (giảm

47,339,296,.200 VNĐ) so với năm 2001 và năm 2003 là 87.42% (giảm

17,656,558,488 VNĐ) so với năm 2002 Điều này cho thấy việc sản xuất và tiêu thụ

sản phẩm của TCT và các đơn vị trực thuộc còn gặp nhiều khó khăn Mặt khác

lượng hàng sản xuất phục vụ cho việc xuất khẩu cũng chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong

tổng doanh số tiêu thụ trong từng năm (năm 2001 lượng hàng xuất khẩu chiếm tỷ

trọng 11.03% trong tổng doanh số tiêu thụ 257,221,858,130 VNĐ, năm 2002 chiếm

tỷ trọng là 5.69% trong tổng doanh số 170,614,330,292 VNĐ và 2003 là 2.95% trong

tổng doanh số 122,723,620,575 VNĐ) Qua đây cũng cho chúng ta thấy được tỷ

trọng hàng xuất khẩu của TCT qua các năm cũng giảm đi nhiều, cụ thể năm 2002,

lượng hàng xuất khẩu giảm 18,667,407,000 VNĐ (giảm 65.80%) so với năm 2001

và năm 2003 giảm 6,048,990,000 VNĐ (chiếm 37.31%) so với năm 2002 Trong

toàn bộ kết cấu hàng xuất khẩu ta thấy mặt hàng công nghiệp được các bạn hàng

nước ngoài quan tâm nhiều nhất và có mức tiêu thụ tương đối cao (chiếm tỷ trọng

cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu - năm 2001, mặt hàng công nghiệp chiếm

83.65%, đạt 23,742,156,000 VNĐ trong tổng số 28,383,569,000 VNĐ; năm 2002

chiếm 75.50%, đạt 7,327,687,000 VNĐ, tuy nhiên trong năm 2003 mặt hàng này lại

giảm một cách đáng kể, chỉ chiếm 23.34% trong tổng số kim ngạch xuất khẩu trong

năm 2003) Điều này cho thấy TCT BT đang mất dẫn thị phần tại các nước tiêu thụ

mặt hàng này Theo kết quả điều tra của phòng Kinh doanh thuộc TCT cho biết tình

hình chiếm lĩnh thị trường của TCT trong 3 năm qua:

Trang 17

LUAN VAN TOT NGHIEP GVHD: TS LE VAN BAY

Bảng II.3: Hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty Bến Thành trong năm

2001 - 2003

DVT: USD

Trị giá % Trị giá % Trị giá % Trị giá % Trị giá %

trong những năm qua, sản lượng kim ngạch xuất khẩu xuất sang 2 nước này luôn

chiếm tỷ trọng cao nhất so với các nước khác Điển hình năm 2001 tỷ trọng xuất

khẩu sang 2 nước này chiếm 75.69%, đạt 1,385,986 USD trong tổng kim ngạch

1,831,196 USD; năm 2002 là 77.61%, đạt 485,990 USD trong 626,204 USD tổng kim

ngạch xuất khẩu và đặc biệt trong năm 2003 là 100% đạt 233,624 USD Điều này

không phải là điều đáng mừng cho TCT mà ngược lại nó còn cho chúng ta thấy được

sự yếu kém của TCT BT trong việc chiếm lĩnh thị trường TCT đã quá thụ động

trong việc mở rộng thâm nhập các phân khúc thị trường mới mà mình đang có ưu thế

về những sản phẩm chủ lực (trong năm 2003, công ty đã không trụ vững tại các thị

trường: Đức, Pháp, Đài Loan, HongKong và đặc biệt là thị trường Hoa Kỳ và Trung

Quốc - là 2 thị trường rộng lớn nhất và giàu tiểm năng nhất mà bất cứ một doanh

nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam nào cũng nhắm tới, dẫn tới việc TCT bị đánh bật hòan toàn ra khỏi những thị trường giàu tiểm năng này) cũng như việc phát triển sâu hơn thị trường cũ (trong năm 2003 kim ngạch xuất khẩu của TCT sang thị trường Nhật Bản giảm 278,013 USD, đạt 16.40% so với năm 2002), chỉ riêng tại thị trường

Trang 18

Hà Lan, do là bạn hang đã có quan hệ lâu năm nên TCT đã tạo được sự tin tưởng

của bạn hàng nên trong năm 2003 trị giá hàng xuất khẩu sang thị trường này tăng 16.71%, dat 25,674 USD Đây là một điều đáng tiếc cho công ty trong bối cảnh Chính phủ Việt Nam đang khuyến khích các doanh nghiệp tích cực xuất khẩu sang nước ngoài Nguyên nhân dẫn đến việc TCT đang mất dần thị phần tại mốt số thị trường là do:

+ TCT bị mất thị phẩn tại các thị trường như: Trung Quốc, Đài Loan,

HongKong, Mỹ, Đức, Pháp là do giá cả và chất lượng của các loại hàng hóa xuất sang các thị trường này chưa đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng tại các quốc gia này Đây luôn là vấn để bức xúc nhất của tất cả các doanh nghiệp xuất

nhập khẩu Mặt khác, TCT còn chưa tận dụng hết các khả năng tuyên truyền, quảng

cáo và tiếp thị để tạo hình ảnh tin cậy cho sản phẩm của công ty nên việc mở rộng

và phát triển thị phần, việc tiêu thụ sản phẩm tại các thị trường mới trở nên rất khó khăn Bên cạnh đó, TCT phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ phía các nhà xuất khẩu trong nước và tại các thị trường Thế giới, cho nên việc không trụ vững và đánh mất thị phần là không tránh khỏi

+ Do nhu cầu nhập khẩu của các nước Nhật Bản, Hà Lan quá lớn trong khi nguồn hàng cung cấp cho TCT thì không ổn định, cung không đủ đáp ứng cầu Vì lượng cầu lớn nên các nhà cung cấp (các sản phẩm nông sản và hải sản chưa qua chế biến hay chỉ mới sơ chế) đã không quan tâm đến chất lượng và các tiêu chuẩn chung của hàng hóa nên khi xuất sang các nước này đều bị các nhà nhập khẩu từ chối nhận hàng, trong khi đó TCT lại chưa có các biện pháp khắc phục kịp thời tình trạng này, TCT đã không hỗ trợ cho phía nhà cung cấp các máy móc, trang thiết bị

hiện đại phục vụ cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm mà quá phụ thuộc vào họ

Điều này vô hình chung đã gây ảnh hưởng đến uy tín của Tổng công ty từ đó dẫn

đến việc mất dân thị phần tại các nước này

Bên cạnh việc xuất khẩu của TCT BT đang gặp nhiều khó khăn thì ngay chính tại thị trường trong nước TCT cũng đang gặp phải sự cạnh tranh gay gắt từ phía các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài đang đầu tư tại Việt Nam

Xét bang II.4:

Trang 19

Bảng II.4: Bắng báo cáo tình hình tiêu thụ hàng trong nước của Tổng công

ty Bến Thành trong 3 năm qua

DVT: VND

Sản phẩm Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Chênh lệch 02/01 Chênh lệch 03/02

so với năm 2001 và năm 2003 doanh thu tiêu thụ trong nước chỉ chiếm 91.14% (giảm 11,571,568,488 VNĐ Đó là do sự ảnh hưởng của việc tiêu thụ hàng nhập khẩu trong 3 năm qua luôn giảm Năm 2001, lượng hàng nhập khẩu tiêu thụ được là

114,419,144,565 VND, nim 2002 lượng tiêu thụ giảm 28,681,889,200 VNĐ, đạt 82.00% so với năm 2001 và năm 2003 tiếp tục giảm xuống 119,102,448,575 VNĐ

(chiếm 91.14%) Tuy nhiên, các mặt hàng hải sản đông lạnh, giầy da và dụng cụ văn phòng của TCT trong những năm qua lại có mức tiêu thụ hết sức khả quan (trong năm 2001 tổng giá trị tiêu thụ của các mặt hàng này là 44,916,761,698 VND, sang năm 2002 thì sản lượng tiêu thụ tăng 5,482,227,219 VNĐ, đạt 112.21% so với cùng kỳ năm 2001 và năm 2003 thì sản lượng tiêu thụ của các mặt hàng này tang mạnh lên đến 16,935,361,827 VNĐ), trong đó 2 mặt hàng hải sản đông lạnh và dụng cụ văn phòng là có mức tăng nhanh đáng kể Năm 2002, sản lượng tiêu thụ của mặt hàng hải san tang 1,348,990,100 VND, chiếm 129.20% và mặt hàng vật tư,

thiết bị tăng 1,056,101,438 VNĐ, đạt 105.39%; nhưng sang năm 2003 thì sản lượng

tiêu thụ của 2 mặt hàng này tăng đột biến so với năm 2002 (hải sản đông lạnh tăng

6,486,782,900 VNĐ, đạt 208.68% và vật tư, thiết bị tăng 15,296,192,829 VNĐ, đạt

174.09 %) Nhưng dù tình hình sản xuất và tiêu thụ trong nước của 3 mặt hàng trên hết sức lạc quan vẫn không thể giúp cho việc tiêu thụ nội địa của TCT tránh khỏi

Trang 20

tình trạng suy giảm Nguyên nhân chung dẫn tới việc giảm doanh thu tiêu thụ nội

địa và xuất khẩu của TCT trong 3 năm qua là:

> Nguyên nhân chủ quan:

+ Do tình hình cung cấp (thu mua) và sản xuất của TCT:

Tình hình tiêu thụ của TCT trước hết phụ thuộc vào tình hình cung cấp đầu

vào từ các nguồn hàng của TCT Tuy nhiên, để có thể vạch ra được kế hoạch thu

mua cụ thể và hợp lý cho năm sau thì cần phải dựa vào tình hình tiêu thụ hàng ở

năm trước và lượng hàng tổn đầu kỳ của năm sau Ta có bảng sau:

Bảng II.5: Tình hình thu mua, sản xuất sản phẩm của Tổng công ty trong

Xuất khẩu 35,500,000,000 30,200,000,000 24,150,000,000 23,900,000,000 1,300,000,000 650,000,000 + SP chế biến từ NS 5,000,000,000 5,000,000,000 4,000,000,000 3,800,000,000 1,000,000,000 500,000,000 + SP chế biến từ HS 500,000,000 200,000,000 150,000,000 100,000,000 50,000,000 50,000,000

+ Hàng công nghiệp | 30,000,000,000 | 25,000,000,000 | 20,000,000,000 | 20,000,000,000 250,000,000 | 100,000,000

Trong nước 116,000,000,000 | 112,096,167,500 | 122,000,000,000 73,185,003,500 82,000,000,000 | 84,316,659,500 + Hải sản đông lạnh 6,000,000,000 5,500,000,000 7,000,000,000 6,000,000,000 | 10,000,000,000 | 13,000,000,000 + Giầy da, Quần áo 25,000,000,000 22,500,000,000 26,000,000,000 23,468,000,000 | 27,000,000,000 | 26,105,000,000

may mac

+ Vật tư, thiết bị 20,000,000,000 17,000,000,000 21,000,000,000 22,000,000,000 | 25,000,000,000 | 33,000,000,000 + Hàng nhập khẩu 65,000,000,000 67,096,167,500 68,000,000,000 21,717,003,500 | 20,000,000,000 | 12,211,659,500 Tong cong 151,500,000,000 | 142,296,167,500 | 146,150,000,000 97,085,003,500 | 83,300,000,000 | 84,966,659,500

Khối lượng hàng mua kế hoạch;

Ta áp dung công thức chung dùng để so sánh:

X 100%

(Nguồn: Phòng Kinh doanh)

Khối lượng hàng mua thực tế; - Khối lượng hàng mua kế hoạch;

Trang 21

Sản phẩm Chênh lệch TH/KH năm 2001 | Chênh lệch TH/KH năm 2002 |_ Chênh lệch TH/KH năm 2063

Trị giá Tỷ lệ (%) Trị giá Tỷ lệ (%) Trị giá Tỷ lệ (%) Xuất khẩu -5,300,000,000 85.07 -250,000,000 98.96 -650,000,000 50.00

1,666,659,500 VNĐ) so với kỳ kế hoạch do TCT đã tập trung sản xuất 2 mặt hàng

chủ lực của mình là hải sản đông lạnh và vật tư, thiết bị văn phòng (năm 2003 sản

lượng nhập thực tế của hải sản đông lạnh tăng 3,000,000,000 VNĐ, đạt 130.00% và

vật tư, thiết bị tăng 8,000,000,000 VNĐ, đạt 132.00% so với kỳ kế hoạch năm 2003),

còn năm 2001 thì lượng hàng nhập thực tế giảm 9,203,832,500 VNĐ (93.92%) so với

kế hoạch và năm 2002 lượng hàng thu mua thực tế chỉ chiếm 66.43% (giảm

49,064,996,500 VNĐ) so với kỳ kế hoạch năm 2002 Nguyên nhân dẫn đến sự

không ổn định trong công tác thu mua sản phẩm của TCT là:

- _ Do lượng hàng tổn kho cuối kỳ qua từng năm quá lớn nên đã làm cho vốn của TCT không được xoay vòng, mặt khác lượng tiền mặt dự trữ chỉ đủ thanh toán

cho các hoạt động trong TCT như: chỉ phí đi lại cho cán bộ thu mua, trả lương cho

nhân viên nên TCT không thể thu mua theo đúng kế hoạch đã dé ra mà chỉ tập

trung thu mua những mặt hàng chủ lực của mình

- _ Thị trường cung ứng các mặt hàng, các nguyên liệu sản xuất lại không ổn định Giá cả các mặt hàng nông sản, hải sản luôn biến động và thường bị trượt giá

do cung lớn hơn câu, đồng thời, chất lượng của các mặt hàng này không đáp ứng

được yêu cầu của người tiêu dùng Còn giá các loại nguyên vật liệu phục vụ cho sản

xuất hàng công nghiệp, hàng may mặc, giầy da thì cao, dẫn tới việc tăng cao chi phí,

Trang 22

ảnh hưởng tới giá thành sản xuất của TCT Nên TCT đã hạn chế nhập khẩu thấp

hơn so với kế hoạch đã để ra

việc thu mua còn diễn ra rải rác, chưa tập trung nên việc vận chuyển và bảo quản

gặp nhiều bất tiện, gây ra tình trạng hao tốn chi phí Mặt khác, các kho bãi lưu trữ

của TCT đã quá cũ và đa số đã bị xuống cấp (được xây dựng từ khi TCT thành lập)

nên không đảm bảo được việc bảo quản và dự trữ hàng hóa với số lượng lớn như kế

hoạch

+ Do tình hình dự trữ hàng hóa:

Xét bảng IL1, ta thấy mức tổn kho đầu kỳ, cuối kỳ của TCT BT rất phù hợp với tình hình tiêu thụ trong 3 năm 2001, 2002 và 2003 Lượng hàng tồn cuối kỳ luôn

thấp hơn lượng hàng tổn đầu kỳ (năm 2001: lượng hàng tổn cuối kỳ giấm

45,423,307,763 VNĐ, đạt 71.07%; năm 2002: lượng hàng tổn cuối kỳ giảm

43,295,175,563 VNĐ, đạt 61.09%; năm 2003: lượng hang tổn cuối kỳ giảm

37,756,961,075 VNĐ, giảm 55.54%) Đó là do sức mua ở thị trường nội địa tăng cao

trong khi TCT lại không đủ vốn lưu động để có thể đẩy mạnh sản xuất, đáp ứng nhu

cầu của thị trường Bên cạnh đó, các mặt hàng TCT phải bao tiêu, thu mua trọn gói

như: nông sản, hải sản thô hay mới chỉ qua sơ chế thì mức tiêu thụ lại quá thấp,

lượng hàng dự trữ quá lớn đã làm ứ đọng vốn của TCT và tăng chí phí bảo quản

hàng tồn kho gây ảnh hưởng đến hiệu quả chung Điều này cho thấy chính sách sản

xuất và tiêu thụ hàng hóa của TCT chưa được hợp lý, các chiến lược nắm bắt thị

trường chưa mang lại hiệu quả cao, mặt khác TCT đã không nắm rõ được tình hình

cung cầu của thị trường cho từng loại ngành hàng nên dẫn tới tình trạng lượng hàng

nhập trong kỳ tăng nhiều nhưng xuất tiêu thụ lại thấp hơn dự tính Điển hình là

ngành hàng công nghiệp, hải sản tinh chế và giầy da Lượng hàng xuất tiêu thụ của

3 ngành hàng này trong năm 2001 là 23,742,156,000 VND; 163,184,000 VND va

14,409,541,465 VND Nhưng sang năm 2002, do không nghiên cứu rõ tình hình biến

động của thị trường của 3 ngành hàng này nên lượng hàng nhập vào tuy phù hợp

với mức tiêu thụ của năm 2001 (trong năm 2001 trị giá hàng nhập trong kỳ của hàng

công nghiệp là 20,000,000,000 VNĐ; hàng hải sản tỉnh chế là 100,000,000 VNĐ;

Trang 23

hang giầy da là 23,468,000,000 VNĐ), nhưng việc xuất tiêu thụ của 3 ngành hàng

này lại rất thấp trong năm 2002 (lượng tiệu thụ hàng công nghiệp: 7,327,687,000 VNĐ; hàng hải sản tinh chế: 77,748,000 VNĐ; hàng giầy da: 19,589,273,233 VNĐ) Điều này đã ảnh hưởng rất nhiều đến các chính sách thâm nhập và phát triển thị

trường của TCT Tuy nhiên, nhờ việc tiêu thụ nội địa tăng và hạn chế nhập khẩu các

mặt hàng có giá trị cao nên lượng hàng tổn cuối kỳ luôn giảm qua các năm

Ngoài ra, tình hình dự trữ của TCT còn chịu ảnh hưởng bởi sự luân chuyển hàng hóa trong những năm qua

chuyển hàng hóa Trị giá hàng tôn kho bình quân

(cua I vong) Số vòng Trong đó: 360 là số ngày của 1 niên độ

Số vòng quay hàng tổn kho càng cao và số ngày cho l vòng quay càng ngắn thì hiệu quả tiêu thụ hàng hóa càng tốt, tuy nhiên nếu số vòng quay kho cao quá sẽ

thể hiện sự trục trặc trong khâu cung cấp , hàng hóa dự trữ không kịp cung ứng kịp

thời cho khách hàng, gây mất uy tín cho doanh nghiệp Xét bảng II.2, ta nhận thấy

số vòng luân chuyển hàng hóa qua từng năm của TCT là rất thấp (năm 2001, số vòng quay kho của TCT là 1 vòng và số ngày cho 1 vòng là 360 ngày; năm 2002 là

1 vòng và số ngày cho 1 vòng là 360 ngày; năm 2003 là 2 vòng và số ngày cho | vong 14180 ngày) Điều này cho chúng ta thấy tình hình tiêu thụ hàng hóa của TCT rất chậm, đặc biệt có một số mặt hàng những năm trước còn là sản phẩm chủ lực của TCT nhưng từ năm 2002 trở đi thì lượng hàng tiêu thụ lại giảm đi rất nhiều,

hàng sắn xuất ra không tiêu thụ được, gây ứ đọng vốn (đó là 2 mặt hàng công

nghiệp và hải sản tinh chế), dù rằng thị trường tiêu thụ 2 mặt hàng này là rất lớn

Bên cạnh đó, việc thiếu vốn đã làm cho TCT không thể nhập khẩu các mặt hàng

cần thiết để phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng Việc luân chuyển hàng hóa chậm

cũng làm cho vốn xoay vòng của TCT chậm, ảnh hưởng đến các kế hoạch kinh

Trang 24

+ Do TCT chưa nâng cao được chất lượng san phẩm, đa dạng hóa sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước

Trước sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp cùng ngành trong nước và từ phía

các doanh nghiệp nước ngoài, TCT đã không có các biện pháp hỗ trợ kịp thời cho

các đơn vị sản xuất trực thuộc TCT (xí nghiệp LIDOVHH, xưởng hải sản đông lạnh )

như: tăng vốn đầu tư sản xuất, trang bị các dây chuyển sản xuất hiện đại, xây dựng

các nhà xưởng với công suất hoạt động lớn Nhưng nếu bỏ ra một số vốn lớn đầu tư

cho những mặt trên thì lại dẫn tới làm tăng chỉ phí sản xuất, từ đó dẫn tới giá thành

sản phẩm cao, sản phẩm bán ra sẽ có giá cao, ảnh hưởng đến lượng cầu thị trường

do giá bán tăng sẽ làm cho đường cung thị trường tăng, nhưng lại làm cho đường cầu

thị trường giảm do người tiêu dùng đã quen mua với mức giá cũ Nếu TCT bán sản

phẩm với mức giá cũ thì sẽ đảm bảo được doanh thu nhưng lợi nhuận lại giảm Bên

cạnh đó, việc hàng lậu, trốn thuế xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường Việt

Nam (đặc biệt là các mặt hàng có xuất xứ từ các nước Đông Nam Á và Trung Quốc

~ vốn là những nước có vị trí địa lý, các lợi thế so sánh tương tự như Việt Nam) với

giá bán thường rẻ hơn so với hàng sản xuất trong nước mà chất lượng cũng gần bằng

với hàng nội địa đã khiến cho tình hình tiêu thụ trong nước của TCT gặp nhiều khó

khăn

+ Phương thức bán hàng của TCT chưa được hiệu qua, TCT chưa có 1 đội ngũ

chuyên nghiên cứu marketing, nghiên cưu thị trường để từ đó có thể phối hợp với

phòng Kinh doanh để lập ra những chiến lược kinh doanh phù hợp với khả năng

Đồng thời, các mạng lưới bán hàng, đại lý chưa được phân bổ hợp lý, rộng khắp nên

không thể tạo được ấn tượng, sức hấp dẫn đối với người mua hoặc các đại lý này

chưa được bố trí tại các vị trí thích hợp, có sức tiêu thụ lớn

> Nguyên nhân khách quan:

+ Trong những năm qua, Việt Nam đã thiết lập được nhiều mối quan hệ thương mại song phương, đa phương với các quốc gia trong khu vục và Thế giới

Việc gia nhập các tổ chức kinh tế, thương mại như: AFTA, ASEAN, APEC và gần

đây nhất là việc ký kết Hiệp định thương mại Việt - Mỹ vào năm 2002 đã giúp cho

nên kinh tế Việt Nam có nhiều sự thay đổi và phát triển Sự thông thương, trao đối

Trang 25

hàng hóa giữa Việt Nam va các nước được nâng lên một tầm cao mới Việc cắt

giảm, tháo bỏ hoàn toàn hay từng phần (tùy theo mặt hàng có mức thuế suất cao hay thấp) hàng rào thuế quan và bảo hộ sản xuất trong nước giữa các quốc gia trong các

tổ chức kinh tế, theo đúng tinh thần mà các tổ chức kinh tế này đã để ra làm cho

ngày càng có nhiều doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế mạnh của Thế giới đầu tư vào

Việt Nam Đồng thời, do tình hình chính trị trên Thế giới ngày càng bất ổn sau sự

kiện ngày 11/09/2001 và việc Chính phủ Hoa Kỳ mở cuộc tấn công vào Afghanistan nhằm tiêu diệt lực lượng khủng bố AI - Queda cũng là nguyên nhân dẫn đến việc Việt Nam trở thành một môi trường đầu tư lý tưởng Chính vì vậy, nền sản xuất

trong nước gặp phải sự cạnh tranh quyết liệt của các sản phẩm ngoại nhập có chất

lượng cao hơn và mẫu mã đa đạng hơn Bên cạnh đó, người tiêu dùng Việt Nam lại

có xu hướng tiêu dùng hàng ngoại, đặc biệt là tầng lớp thượng lưu và giới trẻ Theo

bang báo cáo điểu tra của Phòng Thống Kế thuộc UBND Quận I ngày 2l -

31/12/2002 khảo sát trên 300 học sinh, sinh viên tại các trường học trong Quận cho

biết là có hơn 80% thanh, thiếu niên có xu hướng ưa chuộng hàng ngoại nhập Điều

này đã gây không ít khó khăn cho việc tiêu thụ sản phẩm trong nước của TCT nói riêng và của toàn ngành nói chung

+ Do nền kinh tế Thế giới vẫn còn bị ảnh hưởng của các khủng hoảng kinh tế

- đặc biệt là cuộc khủng hoảng tiền tệ diễn ra tại Thái Lan vào năm 1997, lan rộng

ra khắp Châu Á và Thế giới đã làm nền kinh tế tại một số nước bị suy thoái trầm

trọng (chịu ảnh hưởng nặng nể nhất là các nước trong khu vực Châu Á, đặc biệt là Thái Lan, Nhật Bản - đến tháng 05/2004, nền kinh tế Nhật Bản mới khôi phục lại hoàn toàn và Hàn Quốc vốn là những thị trường trọng điểm của TCT) đã làm cho

việc xuất khẩu, tiêu thụ hàng hóa tại những thị trường này bị giảm nhiều Ảnh

hưởng đến kết quả kinh doanh chung của TCT

Il PHAN TICH CHUNG TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHI PHÍ CỦA TỔNG CONG TY BEN THANH NAM 2001 - 2003:

Chi phí nói chung là sự hao phí thể hiện bằng tiền trong quá trình kinh doanh

với mong muốn mang về một sản phẩm, một dịch vụ hoàn thành hay một kết quả

kinh doanh nhất định Chi phí phát sinh trong các hoạt động sản xuất, thương mại,

Trang 26

dich vụ nhằm đến việc đạt được mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp: Doanh thu

và Lợi nhuận Chính vì vậy việc phân tích tình hình thực hiện chi phí không nằm ngoài mục đích phục vụ nhu cầu Quản trị doanh nghiệp Sau đây chúng ta sẽ đi phân tích tình hình tực hiện chi phí của TCT BT trong 3 năm vừa qua (2001 — 2003)

Dùng phương pháp so sánh, phân tích chung các chỉ tiêu chủ yếu dựa vào các

chỉ tiêu gốc: chỉ tiêu kỳ kế hoạch, kỳ trước, bình quân ngành hoặc thị trường Ta có

KH | 130,000,000,000 5,500,000,000 | 10,000,000,000 10,000,000,000 150,000,000 155,650,000,000

2003 (%) 83.52 3.54 6.42 6.42 0.10 100.00

TH | 115,621,749,267 7,598,857,052 | 11,872,843,228 10,271,496,111 54,781,023 145,419,726,681 (%) 79.51 5.23 8.16 7.06 0.04 100.00

TH 03/ TH 02 -25,994,355,325 1,574,153,425 -288,937,792 | -1,005,190,521 -231,688,199 -25,946,018,412 (%) 81.64 126.13 97.62 91.09 19.12 §4.86

(Nguồn: Phòng Kinh Doanh)

Quan sát bảng II.6 trên thì ta thấy tình hình thực hiện chi phí qua từng năm của

Trang 27

kỳ thực tẾ giảm so với kỳ kế hoạch là 10,203,273,319 VND, dat 93.43%) Tuy

nhiên, việc thực hiện chỉ phí của TCT ở kỳ thực tế giảm so với kỳ kế hoạch trong

các năm qua chưa nói lên được là TCT đã thành công trong việc cắt giảm bớt các khoản chỉ phí từ đó có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh và tối đa hóa lợi nhuận, mà

nó phải dựa vào tình hình tiêu thụ qua các năm của TCT va su chênh lệch chi phí ở

kỳ thực hiện giữa các năm Năm 2002, tình hình thực hiện chi phí giảm

37,738,417,932 VNĐ, giảm 18.05% so với năm 2001; năm 2003 thì tổng chi phí so

với năm 2002 tiếp tục giảm mạnh và chỉ đạt 84.86% (25,946,018,412 VND)

Nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện chi phí của TCT giảm là:

»> Nguyên nhân chủ quan:

+ Do tình hình tiêu thụ của TCT không đạt hiệu quả cao, nên làm cho lượng hàng tổn kho cuối năm dư nhiều (xem bảng II.1 va II.2) dẫn đến việc TCT phải cắt

giảm sản xuất để tránh tình trạng hàng làm ra nhưng không tiêu thụ hết, gây ứ đọng vốn Vì vậy chỉ phí sản xuất của TCT qua các năm đều giảm (năm 2002, chỉ phí sản

xuất của TCT giảm 39,615,622,834 VNĐ, đạt 78.14% so với năm 2001 và năm

2003, tình hình thực hiện chí phí sản xuất của TCT giảm nhiều so với năm 2002 là

Ta có hệ số thực hiện chi phí hoạt động năm 2002 so với năm 2001 1a 0.84

(giảm 3,537,171,128 VNĐ) do nhân tố chi phí bán hàng (giảm 5,955,771,131 VNĐ) giảm nhiều hơn so với chỉ phí quản lý (tăng 2,418,600,003 VNĐ), năm 2003 so với năm 2002 là 1.07 (tăng 1,285,215,633 VNĐ) là do nhân tố chí phí bán hàng (tăng 1,574,153,425 VND, dat 126.13%) tang nhiéu hơn so với chỉ phí quản lý (giảm

288,937,792 VNĐ, đạt 97.62%) |

Trang 28

+ Do chi phi nguyén vat liéu (chi phi NVL) cua TCT trong 3 năm qua luôn

giảm Một phần là do TCT đã đầu tư các dây chuyển sản xuất và các trang thiết bị

hiện đại nên đã làm giảm mức tiêu hao nguyên vật liệu Bênh cạnh đó, TCT đã hạn

chế nhập khẩu các nguyên vật liệu sản xuất thường có giá cả cao hơn so với các

nguyên vật liệu nội địa hoặc liên doanh do nhà cung cấp trong nước sản xuất Đồng

thời, khối lượng sản phẩm sản xuất ra cũng giảm dẫn qua các năm do lượng hàng

tôn kho cuối năm quá lớn làm cho chỉ phí nguyên vật liệu giảm (Chi phí NVL = Khối lượng sản phẩm x mức tiêu tốn NVL cho | san phẩm x Đơn giá NVL)

+ Do TCT đã trực tiếp xuống tận nơi các nhà cung cấp để thu mua các mặt hàng nông sản, hải sản và chế biến tại chổ rồi xuất đi bán thông qua các cửa khẩu biên giới tại các tỉnh miền Tây và trong cả nước; nên đã làm giảm bớt được phần nào tổng chỉ phí Bên cạnh đó, do khối lượng thu mua nông sản và hải sản nhằm chế biến để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu giảm dân qua các năm nên chi phí vận chuyển cũng giảm theo (Chỉ phí vận chuyển chịu ảnh hưởng bởi 3 nhân tố là khối lượng vận chuyển, quảng đường vận chuyển và đơn giá vận tải)

+ Do chi phí tiển lương của TCT ảnh hưởng đấn năng suất lao động trong 3 năm qua Ta có công thực và bảng số liệu về chính sách lương của TCT như sau:

Biểu đô II2: Biểu đỗ so sánh tình hình thực hiện chỉ phí giữa các năm

WW Chi phi bin hang

60,000,000,0004

20,000,000,000 +

Trang 29

Bảng H.7: Bảng báo cáo tình hình sử dụng quỹ lương của Tổng công ty

Bến Thành trong 3 năm vừa qua

Quỹ tiền lương; = Số lao động bình quân; x Lương bình quân;

-Đối với hình thực trả lương theo doanh thu hoặc sản phẩm thì:

Quỹ tiền lương; = Doanh thu (hoặc sản phẩm); x Đơn giá lương//sản phẩm

Năng suất lao

i: nam 2001,2002,2003 Qua bảng trên ta thấy nhân tố doanh thu trong năm 2002 giảm 37,355,437,093 VND, dat 82.37% so với năm 2001 nên làm cho quỹ lương của TCT

x Tiền lương;

cũng giảm theo (quỹ lương của TCT năm 2002 so với năm 2001 giảm 454,446,591

VNĐ, đạt 96.44%) làm cho chi phí hoạt động của TCT giảm; sang năm 2003, tuy

doanh thu của TCT tiếp tục giảm (so với năm 2002, tổng doanh thu của năm 2003

chỉ chiếm 85.72%, gidm 24,918,073,802 VNĐ), nhưng ngược lại quỹ lương của TCT

lại tăng lên 13,736,975,639 VNĐ, tăng 11.50% so với năm 2002 là do nhân tố số lao

Trang 30

động bình quân của TCT trong năm 2003 tang thêm 119 người nên làm cho quỹ

lương của TCT tăng lên từ đó làm tăng chỉ phí hoạt động của TCT trong năm 2003 Mặt khác, ta thấy năng suất lao động bình quân của TCT qua các năm luôn giảm

(năm 2002, năng suất lao động bình quân là 83,278,171 VNĐ, giảm 14.13% so với

năm 2001 và năm 2003 so với năm 2002 giảm 15,723,782 VNĐ, đạt 81.12%) Điều này cũng cho thấy hoạt động sản xuất của TCT không đạt hiệu quả cao TCT đã phải giảm tốc độ sản xuất để tránh lượng hàng tổn kho cuối kỳ phát sinh cao

»> Nguyên nhân khách quan:

+ Do nên kinh tế của Việt Nam ngày càng phát triển và môi trường đầu tư

thuận lợi nên đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước, mở ra nhiều cơ hội

kinh doanh trên lĩnh vực thương mại và tài chính cho các doanh nghiệp Việt Nam,

đặc biệt là các doanh nghiệp trên địa bàn Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh Chính vì

vậy, nên trong năm 2002, TCT đã mạnh dạng đầu tư vào các hoạt động tài chính như mua bán chứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu, đầu tư vào các công ty thành viên

thông qua việc liên doanh, liên kết, thuê kho bãi, nhà xưởng để phục vụ cho việc

phát triển sản xuất trong tương lai nên chỉ phí hoạt động tài chính của TCT trong

năm 2002 tăng mạnh so với năm 2001 (tăng 7,350,667,798 VND, tang 187.23%)

Nhung sang nim 2003, do tai Việt Nam cùng với những quốc gia Châu Á khác và một vài nước trên Thế Giới bị ảnh hưởng bởi dịch cúm gia cầm, nên việc xuất khẩu gia cầm của các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và của Thế giới nói chung bị ảnh hưởng nặng Các doanh nghiệp có chuyên môn trong lãnh vực này, mà TCT có đóng góp cổ phần trong đó, cũng không tránh khỏi tình trạng chung, nên trong năm 2003 hoạt động tài chính của TCT bị giảm nhẹ, số tiền TCT dùng để đầu tư vào hoạt

động tài chính trong năm 2003 giảm 1,005,190,521 VND, dat 91.09%

+ Do các chính sách khuyến khích đầu tư của Chính phủ, các Quyết định của

Thủ tướng nhằm đẩy mạnh việc thu hút nguồn đầu tư nước ngoài (gần đây là Quyết định số 58/2001/QĐÐ — TTG ra ngày 24/04/2001 về vấn đề “Hỗ trợ lãi suất sau đầu

tư”) đã thu hút được nhiều tập đoàn kinh tế lớn mạnh trên Thế giới đầu tư vào Việt

Nam thông qua hình thức 100% vốn nước ngoài hoặc dưới hình thức liên doanh, liên kết Chính vì vậy đã có không ít nhà cung cấp nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất

Trang 31

đã xuất hiện tại Việt Nam Điều này đã giúp cho các doanh nghiệp sản xuất trong

nước ngoài và chi phí vận chuyển, từ đó có thể giảm bớt được chi phí sản xuất

+ Do sức tiêu thụ trong nước và xuất khẩu bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng chính trị đang diễn ra tại các quốc gia Tây Á và chủ nghĩa khủng bố tăng

và có giá trị thấp Từ đó đã làm cho tổng chỉ phí của TCT giảm xuống

IIL PHAN TÍCH TÌNH HÌNH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA TỔNG CÔNG TY BEN THANH TRONG NAM 2001 - 2003:

Trong lĩnh vực ngoại thương, có nhiều doanh nghiệp chủ yếu là hoạt động xuất

nhập khẩu hàng hóa (không có sản xuất) Đối với những doanh nghiệp này, kết quả

kinh doanh cũng chính là doanh thu xuất nhập khẩu (quá trình mua di ban lại) Tuy

nhiên phẩn lớn các doanh nghiệp đều có sản xuất, tiêu thy trong nước và ngoài

nước, đồng thời thực hiện việc xuất nhập khẩu, thực hiện các dịch vụ ngoại thương

phân này, ta đi vào phân tích riêng cho hoạt động xuất nhập khẩu ở TCT BT:

Biểu đồ IIL3: Biểu đồ báo cáo kim ngạch xuất nhập khẩu 2001 — 2003 của

Tổng công ty Bến Thành

BR Kim ngạch xuất khẩu

Trang 32

Bảng II.8: Bảng báo cáo kim ngạch xuất nhập khẩu 2001 - 2003 của Tổng

Chi tiéu Thực hiện 2003 Thực hiện 2002 So sánh 03/02 Thực hiện 2001 So sánh 02/01

Trị giá % Trị giá % Trị giá % Trị giá % Trị giá % Kim ngạch XK 233,024 22.87 626,204 30.89 -392,580 37.31 1,831,198 29.73 1,204,994 34.20 Kim ngạch NK 787,849 77.13 1,401,097 69.11 -613,248 56.23 4,328,785 70.27 -2,927,688 32.37

Tổng kim ngạch

XNK 1,021,473 100 2,027,301 100 -1,005,828 50.39 6,159,983 100 -4,132,682 | 32.91

(Nguồn: Phòng Kinh Doanh)

Qua bảng BIIL§ trên, nhìn chung, kim ngạch xuất nhập khẩu của TCT BT trong

chiếm 77.13% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của TCT, 2002 1a 69.11%, 2001 là

70.27% Điều này chứng tổ nhu cầu tiêu thụ ở nước ta luôn ở mức cao hơn so với

nhu cầu xuất khẩu Sở dĩ có tình trạng này là do công ty phải nhập các trang thiết bị

máy móc phục vụ cho sản xuất, mà giá thành và thuế suất của mặt hàng này rất cao,

mặt khác TCT chỉ xuất khẩu các mặt hàng tiêu dùng, nhu yếu phẩm như: thực phẩm chế biến, nông sản, hang thủ công mỹ nghệ cho nên nhập khẩu luôn chiếm tỷ

trọng cao hơn so với xuất khẩu Nhìn vào bảng trên ta còn thấy hoạt động nhập khẩu

của TCT có xu hướng giảm mạnh, năm sau giảm so với năm trước, điển hình kim

ngạch nhập khẩu năm 2002 so với năm 2001 giảm 67.63% cụ thể giảm 2,927,688

USD, năm 2003 so với 2002 giảm 43.77% cụ thể giảm 613,248 USD Điều này cho

thấy TCT đang bị mất dần các bạn hàng cung cấp hàng hóa cho TCT, đồng thời kim ngạch xuất khẩu của TCT cũng bị giảm Năm 2002, kim ngạch xuất khẩu của TCT

chỉ chiếm 34.20%, giảm 1,204,994 USD so với năm 2001 và năm 2003, kim ngạch

xuất khẩu tiếp tục giảm xuống 37.31%, đạt 233,624 USD Điều này cho thấy việc kinh doanh xuất nhập khẩu của TCT không mang lại hiệu quả cao

Bên cạnh đó, chúng ta đánh giá tình hình thực hiện so với kế hoạch của Tổng công ty trong 3 năm 2001 —- 2003

Trang 33

Bảng II.9: Bảng so sánh kim ngạch xuất nhập khẩu trong kỳ thực hiện với kỳ kế

hoạch của Tổng công ty trong năm 2001 — 2003

Kim ngạch 787,849 1,295,000 61.00 1,401,097 1,965,000 71.30 4,328,785 5,300,000 81.68

nhập khẩu

Tổng kim 1,021,473 1,795,000 57.00 2,027,301 2,615,000 77.53 6,159,983 7,000,000 88.00 ngạch XNK

Qua bắng trên cho ta thấy, chỉ có kim ngạch xuất khẩu của năm 2001 là vượt kế

hoạch (cụ thể là đạt 1,831,196 USD, vượt 7.72%) còn lại các năm 2002 - 2003

doanh số ở kỳ thực hiện bao giờ cũng thấp hơn so với kỳ kế hoạch Điển hình năm

2003, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu chỉ đạt 57%, thấp hơn 43% cụ thể là 773,527

Trang 34

USD so với dự kiến và năm 2002 đạt 77.53%, giảm hơn so với kế hoạch 587,699

USD Điều này cho thấy việc lập kế hoạch kinh doanh cho công tác xuất nhập khẩu tại TCT còn gặp phải nhiều vấn để bất cập và khó khăn, chưa khai thác hết khả

năng vốn có của TCT khiến cho kế hoạch để ra chưa đúng với mong muốn và khả

năng thật sự của TCT Chính vì vậy mà trong 3 năm qua, kim ngạch xuất nhập khẩu

của TCT ở kỳ thực tế luôn thấp hơn so với kỳ kế hoạch Bên cạnh đó, kim ngạch xuất nhập khẩu của TCT qua các năm rất thấp, chưa thể hiện được tầm vóc lớn

mạnh của 1 doanh nghiệp hàng đâu của Quận I và Thành phố Sau đây là bảng so sánh tình hình xuất nhập khẩu của TCT so với các thành viên trong khối

Trang 36

Qua đây ta thấy được tình hình xuất nhập khẩu các công ty thành viên trong khối trong 3 năm qua cũng gặp phải tình trạng khó khăn như TCT Kim ngạch xuất

nhập khẩu của khối trong năm 2002 so với 2001 chỉ chiếm 80.91%, giảm 9,881,926

USD và năm 2003 giảm 14.58%, tức giảm 6,108,350 USD so với năm 2002 Điều

này nói lên không chỉ hoạt động xuất nhập khẩu của TCT giảm đều trong các năm

qua mà các công ty khác trong khối cũng gặp phải tinh trạng giảm tương tự Trong

đó công ty may Bến Thành là đơn vị hoạt động có hiệu quả nhất trong khối với kim

ngạch xuất khẩu trong 3 năm luôn tăng (năm 2001, kim ngạch xuất khẩu của đơn vị

này là 3,214,456 USD; năm 2002 là 3,476,003 USD và năm 2003 là 3,505,511

USD), trong khi đó kim ngạch nhập khẩu lại có mức giảm thấp (năm 2002, kim

ngạch nhập khẩu giảm 16.22% so với cùng kỳ năm 2001; năm 2003 so với năm

2002 giảm 194,751 USD, đạt 93.10%) Bên cạnh đó, ta còn thấy hoạt động xuất

nhập khẩu của TCT so với các công ty thành viên chiếm một tỷ trọng rất thấp, chưa

thể hiện được vị trí đầu đàn của mình (năm 2001, kim ngạch xuất nhập khẩu của

TCT chỉ chiếm tỷ trọng là 11.90% trong tổng kim ngạch xuất nhập toàn khối, đứng

hàng thứ 4/7; nhưng sang năm 2002 thì chỉ chiếm 4.84% và đứng thứ 6/7; năm 2003,

tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu của TCT chiếm 2.85%, đứng thứ 7/7) Điều này

cho ta thấy TCT đã đánh mất vị thế là một doanh nghiệp dẫn đầu của Quận

Nguyên nhân dẫn đến việc hoạt động thương mại kém hiệu quả của TCT là:

> Nguyên nhân chủ quan:

+ TCT đã cắt giảm việc xuất khẩu một số mặt hàng có giá trị kinh tế cao như:

tôm khô, da cá, hải sâm, mực khô, mực nướng do giá cả của các loại hàng này rất

cao, mà việc vận chuyển và bảo quản đòi hỏi phải được đâu tư đúng mức Điều này

sẽ tiêu hao nhiều chỉ phí, trong khi đó vốn xoay vòng của TCT lại rất chậm, hàng ứ

đọng nhiều nên TCT chỉ chú trọng vào việc xuất khẩu các mặt hàng có giá trị thấp

hơn như: bánh tráng, nước măm, cân công nghiệp Mặt khác, các mặt hàng công

nghiệp như: đồ gỗ, kệ sách, bao tay, amply và phụ tùng không cạnh tranh lại các sản

phẩm của các nhà sản xuất tại các thị trường vốn đã có thế mạnh về lĩnh vực nay:

Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia nên TCT cũng đã không

tiếp tục xuất khẩu các mặt hàng này Chính vì vậy cơ cấu ngành hàng của TCT

Trang 37

không được đa dạng, không đáp ứng được yêu cầu cũng như thị hiếu ngày càng cao của các đối tác nước ngoài nên kim ngạch xuất khẩu của TCT trong 3 năm qua luôn

giảm (năm 2002, kim ngạch xuất khẩu của TCT giảm 1,204,994 USD, đạt 34.20% so

với cùng kỳ năm 2001; năm 2003 so với năm 2002 tiếp tục giảm 392,580 USD, đạt 37.31%)

Bảng II.11: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Tổng công ty trong 3 năm qua

(2001 - 2003)

Quan sát bang này ta thay kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng này qua

các đều giảm Năm 2002 so với 2001, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng giảm

1,204,994 USD, chiếm 65.80% và năm 2003 kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của

TCT chỉ bằng 37.31% của năm 2002 (giảm 392,580 USD) Đó là do mặt hàng cân công nghiệp của TCT vốn là mặt hàng được các nước bạn ưa chuộng, nhưng do

chưa được đầu tư đúng mức để nâng cao chất lượng và đa dạng mẫu mã nên mặt hàng này ngày càng mất đi vị trí cạnh tranh của mình trên thị trường hàng xuất khẩu

của TCT (năm 2002, doanh số xuất khẩu mặt hàng cân công nghiệp giảm 1,058,998 USD, đạt 38.86% so với cùng kỳ năm 2001 và năm 2003, mặt hàng này tiếp tục giảm 88.47%, tức giảm 418,224 USD) Việc giảm doanh số tiêu thụ một cách nhanh chóng của mặt hàng này đã làm cho kim ngạch xuất khẩu của TCT giảm theo, dù

mặt hàng thực phẩm chế biến và hải sản tinh chế của TCT trong năm 2003 có tăng (năm 2003 doanh thu thực phẩm chế biến tăng 24,775 USD và hải sản tỉnh chế tăng

1,824 USD so với năm 2002) Nhưng đây cũng là một hướng đi hết sức hợp lý của TCT trong việc loại bỏ dần các sản phẩm nông sản thô, chưa qua chế biến hoặc chế

Trang 38

+ A“ ` L4 4: mA ⁄4 nw 2 nx ~ wx sw 2 A 2

biến sơ mà nhắm tới việc xuất khẩu các sản phẩm đã qua chế biến, đóng hộp Nó

sẽ giúp cho TCT có được doanh thu cao hơn

+ Bên cạnh đó, TCT chưa có một bộ phận chuyên nghiên cứu marketing rõ

rệt nên việc nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng,

điều tra và nắm bắt cụ thể, chính xác các thông tin từ phía đối thủ cạnh tranh và các

nhà cung cấp cũng như nắm bắt chính xác môi trường bên ngoài TCT gặp nhiều khó

khăn, từ đó dẫn đến việc các kế hoạch, các chiến lược đề ra không phù hợp, khiến

cho việc tiêu thụ thực tế khác nhiều so với kế hoạch Cũng chính vì không nắm rõ

được lượng cầu thị trường nên dẫn đến việc hàng sản xuất ra không tiêu thụ được

hoặc tiêu thụ rất ít, gây nên tình trạng hàng tổn cuối kỳ phát sinh cao và tăng các chỉ

phí liên qua khác như chi phí thuê kho bãi, chi phí vận chuyển, chi phí bảo quản

ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh chung của TCT

+ Do sự yếu kém trong công tác chuyên môn nên khiến cho việc thu mua nguyên vật liệu, sản phẩm nông sản, hải sản không được ổn định về mặt số lượng

lẫn chất lượng Các bạn hàng của TCT, đa số là đã có quan hệ kinh doanh lâu năm

nên cũng có lúc vì giữ mối quan hệ hợp tác lâu dài, vị nể nhau mà TCT đã nhập các

mặt hàng chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu của khách hàng làm cho TCT bị mất

thị phần ở nước ngoài Mặt khác, TCT còn quá thụ động trong việc tìm kiếm các

nguồn hàng, nguồn cung cấp tốt để có thể đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường

trong nước và ngoài nước nên kim ngạch nhập khẩu của TCT trong những năm qua

luôn giảm

+ Tình hình tiêu thụ hàng nhập khẩu trong nội địa không mấy khả quan

Doanh số trong 3 năm qua của TCT liên tục giảm (xem Bảng II.4 - trang 17), nên

TCT đã hạn chế rất nhiều trong hoạt động nhập khẩu

+ Việc tách ra riêng, trở thành công ty hạch toán độc lập của công ty Vật tư Bến Thành (14/02/2001) và công ty Văn hóa tổng hợp Bến Thành (07/2001) - vốn

là 2 đơn vị trực thuộc TCT trước đây và là 2 đơn vị mà TCT đã xuất nhập khẩu ủy

thác cho nhiều nhất - đã làm cho TCT mất đi các bạn hàng quen thuộc do họ chuyển

qua trực tiếp kinh doanh với 2 đơn vị này và làm giảm doanh thu xuất nhập khẩu ủy

thác của TCT

Trang 39

Bang 11.12: Bang bao cao tinh hinh nhap khẩu của Tổng công ty trong 3

năm qua

DVT: USD

Trị giá % Trị giá % Trị giá % Trị giá % Trị giá % Kim ngạch NK 787,849 100 | 1,401,097 100 | 4,328,785 100 | -613,248 | 56.23 | -2,927,688 | 32.37

- Khu vực ĐNÁ 434,092 | 55.10 754,895 | 53.88 | 2,175,896 | 50.26 | -320,803 | 57.50 | 1,421,001 34.69 + Indonesia - 8,026 | 1.06 37,252 | 171 -8,023 0 -29,226 | 21.55 + Malaysia 66,876 | 15.41 107,974 | 14.30 559,752 | 25.73] -41098| 6194| -451778| 19.29

+ Philippin - - - - -

+ Singapore 35,136 | 8.09 86,502 | 11.46 252,471 | 11.60 | -51,366 | 40.62 | -165969 | 34.26 + Thái Lan 332,080 | 7650| 552,393 | 73.18 | 1,326,421 | 60.96 | -220,313 | 60.12 -774,028 | 41.65

- Khu vực Nam Á 229,068 | 29.08 429,961 | 30.69 | 1,406,231 | 3229| -200,893| 53.28 -976,270 | 30.58 + Pai Loan 204,320 | 89.20 369,815 | 86.01 | 1,152,703 | 8197| -165495| 55.2 -782,888 | 32.08 + Korea 24,748 | 10.80 51/763 | 12.04 235624 | 1676| -27015| 4781 -183,861 | 21.97 + China - 8,383 | 1.95 17,904 | 1.27 -8,383 0 -9,521 | 46.82

- Khu vực Tây Á 116,635 | 14.80 184,361 | 13.16 447875 | 1034| -67726| 63.26 -236,514 | 41.16 + An DO 116,635 100 182,341 | 98.90 439,681 | 9817| -65/706| 63.97 -257,340 | 41.47 UAE - 2,020} 1.10 8,194 | 1.83 -2,020 0 -6,174 | 24.65

"Km vực EU 8,054 | 1.02 24,143 | 1.72 224/547| 6.09| -16,089| 33.36 -200,404 | 10.75

Pháp - - - - -

Ý - 3,575 | 14.81 18,090 | 8.06 -3,575 0 -14,515 | 19.76 + Thuy Dién 8,054 100 20,568 | 85.19 206,457 | 9194| -12514| 3916| -185,882 | 9.36

Mỹ - 0 7,737 | 0.55 44,236 | 1.02 -7,737 0 -36,499 | 17.49

(Nguồn: Phòng Kinh Doanh)

một phân là do TCT đã không nhập khẩu hàng hóa từ một số nước trong khu vực và

Indonesia, U.A.E, Hoa Kỳ, Y) và chưa thiết lập quan hệ thương mại với một vài

khẩu của TCT không những không tăng mà ngược lại còn giảm

> Nguyên nhân khách quan:

tiểm lực của TCT đối với mặt hàng hải sản còn nhiều hạn chế

+ Mặt khác thiên tai, lũ lụt ở miền Trung và các tỉnh thuộc đồng bằng sông

Trang 40

các nguồn hàng nông, hải sản trong nước để phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ nội địa

phẩm chất lượng cao và sản lượng ổn định nên chất lượng hàng hóa chưa đáp ứng

xuất khẩu chỉ qua sơ chế cho nên chất lượng không cao khiến cho các mặt hàng xuất

khẩu của TCT không thể cạnh tranh lại với các nước trong khu vực Nguồn hàng

xuất khẩu gặp nhiều khó khăn, giá cả nhiễu loại nông sản trên Thế giới giảm mạnh

đã làm cho kim ngạch xuất khẩu của TCT bị giảm theo Thêm vào đó, nền kinh tế

kiện ngày 11/09/2001 và các cuộc chiến tranh chống khủng bố diễn ra trên toàn

cầu) đã làm cho sự trao đổi thương mại giữa các nước bị đình trệ

nên các quốc gia có tiểm lực về kinh tế, khoa học - kỹ thuật không ngừng đầu tư

vào nước ta thông qua các hình thức, các dự án B.O.T, B.T, B.T.O và các khoản viện

trợ, cho vay hoàn lại với lãi suất thấp hoặc không hoàn lại như ODA nén viéc hoc

Nam nói chung và TCT nói riêng có thể tìm kiếm các nhà cung cấp ngay trong nước

các nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất mà không nhất thiết

phải nhập từ nước ngoài về Từ đó có thể giảm thiểu được tối đa các chi phí thương mại

+ Do chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh thương mại, xuất

nghiệp vụ xuất nhập khẩu ủy thác nên doanh thu từ dịch vụ ủy thác của TCT giảm

Ngày đăng: 05/04/2013, 17:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w