490 Phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn tại doanh nghịêp Mãn Thành
Trang 2
Luận văn tốt nghiệp GVHD:Th.s Đoàn Văn Liên
CO SO LY LUAN CHUNG VE TAI
SAN VA NGUON VON
Vốn là một trong hai diéu kiện tiên quyết của hoạt động sản xuất kinh
doanh Để tạo lập doanh nghiệp, trước tiên cần phải có vốn ban đầu và khi
cần mở rộng doanh nghiệp cần phải có vốn bổ sung Ngoài ra, trong quá
trình sản xuất kinh doanh, nếu thiếu vốn thì doanh nghiệp có thể bổ sung
vốn Vốn có thể bổ sung từ nhiều nguồn và hiệu quả cuối cùng của hoạt động tùy vào nguồn vốn và việc quản lý vốn tốt hay xấu
I./_ KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA VỐN
Vốn là khái niệm chung của nền sản xuất hàng hóa, là một trong hai
điểu kiện quan trọng có tính quyết định đến sản xuất và lưu thông Trong
điều kiện tổn tại sản xuất hàng hóa, do vốn tổn tại dưới các hình thức: giá
trị và hiện vật nên xuất hiện sự mua bán hay trao đổi tư liệu lao động và
đối tuợng lao động để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành sản xuất kinh doanh, điều
trước tiên phải có một lượng tiền nhất định để thực hiện các khoản đầu tư
ban đầu cho việc xây dựng nhà xưởng, mua sắm nguyên vật liệu, mua sắm
trang thiết bị máy móc, trả lãi vay, nộp thuế, trả lương, mở rộng doanh nghiệp nhằm đáp ứng sự tăng trưởng của doanh nghiệp Vì vậy doanh
nghiệp cần phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định để đáp ứng nhu cầu đó
ngay trong những ngày đầu mới thành lập hay chuẩn bị mở rộng sản xuất
kinh doanh Như vậy, vốn là tiền mặt và tín dụng cần thiết để khởi sự và
khai thác một doanh nghiệp Tuy nhiên, không được xem xét tiển và tín
dụng đơn giản như vậy, mà cần phải xem xét chúng theo góc độ nguồn của chúng, thời gian cân thiết đã kiểm tra, hoàn trả và ý định sử dụng
Trang 3
Hơn nữa, trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn luôn vận động và thay
đổi hình thái để khi khép kín một chu kỳ hoạt động thì vốn trở lại hình thái
ban đầu với số lượng lớn hơn số vốn đã bỏ ra Trên góc độ của nền kinh tế,
sự vận động của vốn không chỉ hạn hẹp trong một chu kỳ sản xuất, mà sự
vận động của vốn còn trực tiếp liên quan tới tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội: sản xuất - phân phối -— trao đổi - tiêu dùng Chính sự
vận động này đã làm nấy sinh hàng loạt các quan hệ kinh tế trong tất cả
các khâu của quá trình sản xuất, những quan hệ kinh tế đó tuy chứa đựng
các nội dung khác nhau nhưng nhìn chung đều là những quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị Tùy theo đặc điểm ngành nghề, loại hình doanh nghiệp khác nhau thì có nhu cầu vốn, sản xuất kinh doanh khác nhau
Trong điểu kiện tổn tại một nên sản xuất hàng hóa — tiền tệ, vốn sản
xuất kinh doanh được biểu hiện dưới hai hình thức hiện vật và giá trị, có
những đặc trưng sau đây:
lý và sử dụng của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, là lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và vô hình
mới có thể phát huy được tác dụng Các nhà quản lý không chỉ khai thác mọi tiểm năng vốn của doanh nghiệp mà còn phải cân nhắc, tính toán tìm cách chọn nguồn huy động đủ để đảm bảo các yêu cầu của quá trình sản
xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh tế của đồng vốn
có tiễn là có vốn Tiền là dạng tiểm năng của vốn Để biến thành vốn thì
tiên phải được đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh và sinh lời
Vốn còn được thể hiện trên những mối quan hệ xã hội như:
— Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường, bao gồm thị trường hàng
hóa, thị trường tiền tệ và thị trường lao động Quan hệ này bao gồm các
Trang 4
Luận văn tốt nghiệp GVHD:Th.s Đoàn Văn Liên
quan hệ thanh toán tiền mua bán hàng, tiền công lao động, tiền trả khoản
phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân Mối
quan hệ giữa Nhà nước với các doanh nghiệp được thể hiện thông qua những khoản thuế mà doanh ngiệp phải nộp vào ngân sách Nhà nước theo
luật định Riêng đối với Doanh nghiệp Nhà nước thì được nhà nước cấp vốn
- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: mối quan hệ này biểu hiện sự
chuyển dịch giá trị, tổ chức luân chuyển vốn trong quá trình sản xuất kinh
doanh của mỗi doanh nghiệp Mối quan hệ này gồm quan hệ tạm ứng và
thanh toán tiền giữa các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp
~ on ww
Trong doanh nghiệp, vốn có nhiều chủng loại, nhiều hình thái vật chất khác nhau và nằm rải rác khắp nơi trong phạm vi họat động của doanh nghiệp Trong nền kinh tế hàng hóa, vốn được biểu hiện dưới hai hình thức
giá trị và hiện vật Do đó có những đặc điểm sau:
e Vốn được biểu hiện toàn bộ tài sản thuộc quyển quản lý và sử
dụng của doanh nghiệp tại một thời điểm nhấ định
| chưa hẳn có tiền là có vốn Để biến thành vốn thì tiền phải được đưa vào
sản xuất kinh doanh và sinh lời Đồng thời vốn phải không ngừng được bảo
toàn, bổ sung và phát triển sau mỗi quá trình vận động để thực hiện việc tái
sản xuất giản đơn và mở rộng doanh nghiệp
° Mỗi đồng vốn luôn gắn liễn với một chủ sở hữu nhất định, không
có đồng vốn nào là vô chủ
Trang 5
Luận văn tốt nghiệp GVHD:Th.s Đoàn Văn Liên
° Vốn là một thứ hàng hóa đặc biệt, người ta chỉ mua bán quyền sử
dụng chứ không mua bán quyền sở hữu
a Cdn cứ vào cấu thành giá trị sản phẩm, hàng hóa của
phận vốn quan trọng không thể thiếu đối với sự tổn tại và phát triển của
mỗi doanh nghiệp Đặc điểm của tài sản cố định là chúng tham gia vào
nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, giá trị của chúng được kết chuyển dan vào chỉ phí sản xuất kinh doanh
- _ Vốn lưu động: Doanh nghiệp cần có vốn để trang trải vật tư, trả
lương, lưu kho, quảng cáo, bảo trì Hơn nữa, còn cần để duy trì doanh
nghiệp trong thời gian trì hoãn giữa thời điểm bán hàng và thời điểm thanh
toán số hàng đó Vốn dùng để trang trải những chỉ phí này thường gọi là
vốn lưu động
b Căn cứ theo nguồn hình thành vốn:
thành lập doanh nghiệp Đó là vốn tối thiểu, cần thiết khi tạo lập doanh
nghiệp
Vốn ban đầu của doanh nghiệp Nhà nước là do ngân sách Nhà nước cấp
Vốn ban đầu của các đơn vị kinh tế tập thể, các công ty cổ phần là do
các xã viên, các cổ đông đóng góp
Vốn ban đầu của các đơn vị tư doanh cá thể do chủ cơ sở xuất vốn riêng
nghiệp hoạt động bằng nhiều nguồn khác nhau như: từ lợi nhuận còn lại, từ các quỹ của doanh nghiệp, huy động thêm vốn cổ phần bằng cách phát
hành cổ phiếu, trái phiếu, vay ngân hàng
Trang 6
c Căn cứ vào thời gian vay vốn:
- _ Vốn ngắn hạn: là khoản tiền vay trong kỳ hạn một năm hay ngắn
hơn Mục đích vay là để thanh toán tiền vật tư, nhân công, hay các khoản
chi phí khác phục vụ việc sản xuất ra những sản phẩm để hoàn tất và bán
trong tuơng lai rất gần
- _ Vốn trung hạn: là khoản tiền vay trong kỳ hạn vài năm, rất ít khi
vượt quá năm năm Mục đích vay là để mua sắm máy móc thiết bị, dụng
cụ
năm, thậm chí có thể kéo đài tên 50 năm Mục đích vay là để mua đất đai,
xây cất nhà cửa hay mua sắm máy móc, thiết bị cơ bản có tuổi thọ lâu bền
lL/ VAI TRÒ CỦA VỐN ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
Vốn có vai trò quyết định trong việc tạo ra của cải vật chất và những
tiến bộ xã hội Vì thế, nó là nhân tố vô cùng quan trọng để thực hiện quá
trình ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát triển cơ sở hạ tâng, chuyển
dịch cơ cấu và đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Nhờ đó đời sống của
nhân dân ngày một nâng cao, các nguồn lực về con người, tài nguyên và các mối ban giao cũng được khai thác hiệu quả hơn Từ đó tác động mạnh
đến cơ cấu kinh tế của đất nước được chuyển dịch nhanh chóng theo hướng
công nghiệp hóa - hiện đại hóa, làm cho nên kinh tế các ngành công
nghiệp, dịch vụ chiếm tỷ lệ cao và hướng mạnh về xuất khẩu Chính điều
đó đã dẫn tới nên kinh tế sẽ có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định
Đối với tình hình sản xuất kinh doanh ở trong doanh nghiệp thì vốn là nguồn lực rất cần thiết, việc hình thành củng cố cho đến vấn để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh cả chiểu rộng lẫn chiều sâu đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn Một doanh nghiệp nếu ổn định được lượng vốn, hay có
nguồn vốn lớn thì việc sản xuất kinh doanh được đảm bảo tránh được những trở ngại, rủi ro
Trang 7
Như ta đã biết, vốn trong doanh nghiệp được hình thành từ hai loại
vốn: vốn cho tài sản cố định và vốn cho tài sản lưu động Vai trò của vốn sản xuất kinh doanh cũng chính là vai trò của tài sản cố định và tài sản lưu
động
Tài sắn cố định trong sản xuất kinh doanh thể hiện cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ Nó phản ánh trình độ kỹ thuật sản xuất công nghệ trong
từng thời kỳ Nó là yếu tố quan trọng để thúc đẩy tăng năng suất lao động,
tăng chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế
Ngày nay, máy móc thiết bị được áp dụng các thành tựu khoa học mới
nhất, công nghệ tiên tiến hiện đại để đưa vào sản xuất ở các doanh nghiệp,
đem lại các nguồn sản phẩm ngày càng đa dạng phục vụ cho người tiêu dùng Đó là nguyên nhân mà các đơn vị sản xuất kinh doanh cạnh tranh với
nhau
Tài sản cố định trong quá trình hoạt động sản xutấ kinh doanh một mặt được giảm dần do trích khấu hao và thanh lý tài sản cố định, mặt khác lại
tăng thêm giá trị do đầu tư xây dựng cơ bản đã hoàn thành Như vậy giá trị
vốn cố định sẽ được thay đổi một cách dẫn dẫn: giảm phân giá trị tài sản cố
định sản xuất đã chuyển dịch vào sản phẩm hoàn thành và tăng thêm các chỉ phí đầu tư xây dựng cơ bản và chỉ phí sửa chữa lớn
Tài sản cố định vô hình mặc dù không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh nhưng nó có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến cả quá
trình sản xuất kinh đoanh của doanh nghiệp vì đó là các chi phí thành lập
doanh nghiệp, chi phí thiết lập các dự án đâu tư, các kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh dài hạn, bằng sáng chế, lợi thế thương mại
Nguyên liệu nói riêng và tài sản lưu động nói chung là 1 yếu tố không thể thiếu được trong bất cứ quá trình sản xuất nào Do đó đảm bảo cả về số
Trang 8
Luận văn tốt nghiệp GVHD:Th.s Đoàn Văn Liên
hưởng đến việc nâng cao hiệu quả của việc sử dụng yếu tố khác trong các
doanh nghiệp Đặc biệt đối với các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp
chế biến, nguyên liệu có ý nghĩa lớn trong việc sử dụng đầy đủ công suất
máy móc thiết bị, việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu, tài
sản lưu động là biện pháp chủ yếu tiết kiệm chỉ phí sản xuất, nâng giá
thành sản phẩm và nâng cao lợi nhuận
lượng, chất lượng, chủng loại nhằm đáp ứng yêu cầu của kết quả sản xuất
và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội
thác nguyên liệu, sử dụng nguyên liệu và sản xuất chế biến đảm bảo hiệu
quả của việc phát triển sản xuất kinh doanh đồng thời sử dụng tốt nguồn tài
nguyên và góp phần bảo vệ môi trường
xuất và chế biến nguyên liệu trên cả 2 phương diện về mặt giá trị và mặt
a./ Khái niệm
Trong một doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền nhất định để đầu
tư vào nhà xưởng, bến bãi, kho máy móc thiết bị, phương tiện vận tải,
phương tiện truyền dẫn Các tư liệu lao động này có công dụng khác nhau
tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh Các tư
Trang 9
Luận văn tốt nghiệp GVHD:Th.s Đoàn Văn Liên
liệu lao động này có thời hạn sử dụng khác nhau, có giá trị cao thấp khác
nhau Do đó để thuận tiện cho việc quản lý, chế độ tài chính hiện hành của
nước ta quy định các tư liệu lao động phải hội đủ đồng thời 4 điều kiện sau đây mới được gọi là TSCĐ:
“_ Có giá trị sử dụng trên 10 triệu đồng trở lên
= Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài
sản đó
Để thành lập, tổn tại và phát triển, doanh nghiệp không chỉ phải đầu tư
vào những TSCĐ có hình thái hiện vật mà còn phải đầu tư vào những TSCĐ
không có hình tái hiện vật như: quyển sử dụng đất, bản quyền, bằng sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, phẩm mềm máy tính, giấy phép Những tài sản
này không có thể hiện bằng hiện vật, chúng ta không thể nhận thức chúng
bằng trực giác Tuy nhiên, các tài sản này đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh Vì vậy người ta gọi chúng là những TSCPĐ vô hình
Như vậy, TSCĐ trong doanh nghiệp bao gồm TSCĐ hữu hình và TSCĐ
vô hình Toàn bộ số vốn ứng ra cho các loại tài sản này được gọi là vốn cố định Hay nói cách khác, vốn cố định của doanh nghiệp là giá trị TSCĐ - là
số tiền doanh nghiệp ứng ra để mua sắm TSCĐ TSCĐ tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình họat động san xuất kinh doanh của doanh
nghiệp
b./ Dac diém
Đặc điểm của tài sản cố định là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp nhưng vẫn giữ nguyên hình thái ban đầu Tuy nhiên, giá trị TSCĐ được chuyển dần vào giá trị sản phẩm và dịch vụ Giá trị này được doanh nghiệp thu hồi lại dưới hình thức khấu hao TSCĐ và
Trang 10
được bù đắp bằng doanh thu bán hàng Số tiền khấu hao sẽ được doanh
nghiệp sử dụng vào việc khôi phục và tái sản xuất TSCĐ
Như đã biết, thành phân tài sản cố định trong doanh nghiệp bao gồm:
nhà xưởng, đất đai, máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển Trong quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giá trị TSCĐ chuyển dẫn vào giá trị sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ Giá trị TSCĐ chuyển dịch
này phụ thuộc vào phần khấu hao quy định đối với từng loại TSCĐ
Khấu hao là khoản tiền được tính như chỉ phí sản xuất biểu thị sự giảm
giá trị TSCĐ Việc xác định đúng giá trị khấu hao trong hình thức thời gian, phụ thuộc chủ yếu vào việc xác định nguyên giá và thời gian sử dụng TSCD
Thời gian sử dụng là khoản thời gian trung bình trong đó TSCĐ cùng loại được sử dụng tối ưu trong những điều kiện kinh tế nhất định Nó khác với tuổi thọ của TSCĐ - là khoản thời gian TSCĐ có thể hoạt động trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đến khi hoàn toàn hao mòn về vật chất
Có nhiều phương pháp tính khấu hao đối với tài sản cố định Nhưng Ở đây sẽ trình bày 1 phương pháp khấu hao được sử dụng phổ biến trong các doanh nghiệp đó là phương pháp tính khấu hao tuyến tính hay còn gọi là
phương pháp khấu hao theo đường thẳng
Công thức xác định:
KHE _NG NSD Trong đó:
" KH: là mức khấu hao trung bình hàng năm của TSCD
= NG: 1a nguyén gid cua TSCD
Trang 11
Luận văn tốt nghiệp GVHD:TH.s Đoàn Văn Liên
Nguyên giá = Giá mua + Chi phí vận chuyển, lắp đặt chạy thử và
chi phí gắn liền với TSCĐ trước khi đưa vào sử dụng
" NSD: thời gian sử dụng (năm)
Trong thực tế để đơn giản thủ tục tính toán người ta thường tính khấu
hao bằng cách xác định tỷ lệ khấu hao trước
Với K°: là tỷ lệ khấu hao và T: là thời gian sử dụng hữu ích, ta có:
K -1 x 100%
T
Ưu điểm: Dễ tính toán, đơn giản, mức tính khấu hao đều đặn làm chỉ
phí lưu thông và giá thành sản phẩm ổn định
Nhược điểm: Khả năng thu hổi vốn chậm, không khắc phục được tình
trạng hao mòn vô hình của TSCĐ
2 — Quản lý và sử dụng tài sản lưu động
Ngoài tư liệu lao động, doanh nghiệp còn phải đầu tư vào đối tượng lao động và sức lao động Đối tượng lao động khi tham gia vào quá trình sản
xuất sẽ không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu mà một bộ phận chủ yếu của chúng cấu thành nên thực thể sản phẩm, bộ phận còn lại sẽ hao phí mất đi trong quá trình sản xuất Đối tượng lao động chỉ tham gia vào l chu
kỳ sản xuất kinh doanh, đến chu kỳ sản xuất kinh doanh tiếp theo doanh nghiệp lại phải có đối tượng lao động khác để thay thế Giá trị của đối
tượng lao động sẽ chuển dịch hoàn toàn, ngay một lần vào giá trị sản phẩm
làm ra
Bên cạnh TSLĐ, doanh nghiệp còn phải có một số vốn để dự trữ hàng
hóa, chọn lọc đóng gói, tích lũy thành từng lô hàng phục vụ cho việc thanh toán với khách hàng Các tài sản này nằm trong quá trình lưu thông nên được gọi là tài sản lưu thông
Trang 12
Luận văn tốt nghiệp GVHD:Th.s Đoàn Văn Liên
Nhu câu về tài sản lưu động và tài sản lưu thông luôn luôn tổn tại do
tính liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh Số vốn ứng trước về TSLĐ
và các khoản tài chính ngắn hạn được gọi là vốn lưu động
b./ Dac điểm tai sản lưu động
Do giá trị và thời gian sử dụng khác với tài sản cố định nên tài sản lưu động có các đặc điểm sau:
chu kỳ kinh doanh
trị vào trong giá thành sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ
Tài sản lưu động là một bộ phận quan trọng trong tổng số vốn sản xuất
kinh doanh Để quản lý và sử dụng tài sản lưu động một cách có hiệu quả
người ta tiến hành phân lọai tài sản lưu động như sau:
s* Tài sản dự trữ: bao gồm:
khi tham gia sắn xuất chúng hợp thành thực thể sản phẩm
cho việc sản xuất sản phẩm bên hơn, đẹp hơn nhưng không cấu thành nên
thực thể sản phẩm
trữ để thay thế khi sửa chữa TSCĐ
s%* Tài sản sản xuất trực tiếp: bao gồm:
trong quá trình chế tạo
Trang 13
hoàn thành một hay một vài công đoạn sản xuất nhất định
- _ Phí tổn đợi phân bổ: là các khoản chi phí phát sinh trong kỳ nhưng chưa tính vào giá thành sản xuất trong kỳ mà được tính vào giá thành ở các
kỳ sau
+% Tài sản lưu động năm trong quá trình lưu thông: bao gồm:
phí chọn lọc, đóng gói chuẩn bị đưa vào tiêu thụ
- Hàng hóa mua ngoài: là giá trị sản phẩm do nhu cầu tiêu thụ mà
doanh nghiệp phải mua ở bên ngoài
- Tiển: bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang
chuyển
bán hàng hóa hay thanh toán nội bộ
xuất ra nhưng chưa thu tiền do áp dụng phương thức thanh toán nhờ thu
Kết cấu tài sản lưu động là tỷ trọng từng loại tài sản trong tổng số tài
sản lưu động Tùy theo từng ngành nghề và đặc điểm kinh doanh, các doanh
nghiệp khác nhau có kết cấu tài sắn lưu động khác nhau Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu tài sản lưu động như:
xuất, trình độ sản xuất, quy trình công nghệ, tính phức tạp của sản phẩm
— Những nhân tố về mặt cung tiêu: điều kiện cung ứng hàng hóa,
điểu kiện thu mua nguyên vật liệu càng dễ dàng, nhanh chóng thì khối
lượng vốn lưu động cần thiết nằm trong khâu dự trữ và khâu lưu thông càng
it
thanh toán khác nhau, điểu kiện bán chịu khác nhau thì số vốn chiếm dụng
SVTH: Lê Thị Mỹ Hạnh Trang 15
Trang 14
Luận văn tốt nghiệp GVHD:Th.s Đoàn Văn Liên
trong thanh toán cũng khác nhau Lựa chọn phương thức thanh toán hợp lý,
giải quyết kịp thời các vấn để thủ tục, đôn đốc thu nợ sẽ giảm đáng kể nhu cầu vốn lưu động trong khâu thanh toán
“+ Quan lý tiền
Quản lý tiền có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì tiền là yếu tố không thể
thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, không có hoặc
không đủ tiền doanh nghiệp sẽ không thể có hoặc không đủ vật tư hàng hóa
để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất kinh doanh
Phương pháp quản lý các khoản bằng tiền là lập ra bảng dự toán thu chỉ ngắn hạn, có thể là hàng tuần hoặc hàng tháng Bang này bao gồm 2
phần:
tién vOn tang thém, tién nhugng bán tài sản
vật liệu, chi trả lương nhân viên, chỉ nộp tiền BHXH, tiền thưởng, chỉ nộp
thuế cho ngân sách nhà nước, chi cho đầu tư dài hạn như thanh toán tiền
mua tài sản cố định, thanh toán tiễn vay
BANG DU TOAN NGAN SACH THU CHI
Tiển từ nhượng bán TSCĐ | Tiền nộp thuế cho ngân
sách Nhà Nước
Thu từ khoản nợ của khách | Thanh toán khoản chi phí
Trang 15
Trong mỗi kỳ kế hoạch, sau khi liệt kê các khoản thu chỉ cần tiến
hành, so sánh, xác định mức bội thu hoặc bội chi Từ đó tìm ra những biện
pháp nhằm tiến tới cân bằng tích cực
Cụ thể: nếu bội thu thì tính đến việc trả bớt các khoản nợ cho khách
hàng, các khoản vay cho ngân hàng, khoản nộp cho ngân sách nhà nước, hoặc có thể dùng tiền bội thu đầu tư vào những công việc mang lại doanh lợi cho doanh nghiệp
Trường hợp nếu thấy bội chỉ thì tìm cách tăng thêm tốc độ thu hồi
những khoản nợ phải thu khách hàng, đẩy mạnh chiến lước kinh doanh bán
hàng, vay thêm ngân hàng hoặc giảm bớt các khoản chi không cần thiết nếu
2 ~
có thể
% Quản lý các khoản phải thu Phương pháp chung để quản lý các khoản phải thu là lập sổ theo dõi
và đôn đốc thanh toán khi nhhững khoản nợ phải thu đến hạn
Trong điều kiện kinh tế thị trường, vấn đề đáng quan tâm là việc bán
chịu, bán trả góp Bán chịu, bán trả góp có thể giúp cho doanh nghiệp đẩy mạnh bán ra, tăng thêm doanh thu, nhưng đồng thời làm cho khoản phải thu khách hàng tăng lên Thời hạn bán chịu, bán trả góp càng dài thì khoản
phải thu khách hàng càng tăng, mức độ rủi ro cũng tăng theo Bởi vậy, mỗi
doanh nghiệp tùy theo tình hình, cần có những chính sách bán chịu, bán trả
góp cụ thể Khi hoạch định chính sách này cần chú ý:
Việc bán chịu, bán trả góp sẽ làm tăng thêm chi phí cho những khoản
thu khách hàng Chi phí này bao gồm tiền vốn đi vay của doanh nghiệp cộng với chi phi quan lý, chi phí trong quá trình thu hôi nợ Khi quyết định bán chịu, bán trả góp cần tính toán các khoản chi phí và bảo đảm cho doanh nghiệp có được mức lãi hợp lý
Mức độ rủi ro làm tăng các khoản nợ khó đồi phụ thuộc vào tình hình
tài chính của khách hàng Bởi vì chỉ nên bán chịu đối với những khách hàng
Trang 16
thân thiết, thanh toán nợ đúng hạn, và có đủ khả năng chỉ trả Muốn biết rõ
các thông tin trên, đòi hỏi phải có sự tìm hiểu thật kỹ lưỡng về khách hàng
Đối với khách hàng mua khối lượng lớn, việc bán chịu cần phải thận trọng
vì nếu gặp rủi ro khách hàng không đủ khả năng chi trả được nợ thì sẽ ảnh
hưởng đến chính sách của doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng đến tình hình
tài chính của doanh nghiệp
“ Quan ly hàng tồn kho Thực tế, doanh nghiệp thường muốn bán được hàng và ghi ở các khoản
phải thu hơn là ở tổn kho Tính thanh khoản của các khoản phải thu cao hơn
so với tính thanh khoản của tồn kho
Các yếu tố quyết định mức tổn kho là: khối lượng sản phẩm tiêu thụ,
thời gian hoàn thành sản phẩm, và sự lâu bền hay dễ hỏng hay kiểu mẫu sản phẩm
Quản lý tổn kho giống như quán lý bất kỳ sản phẩm nào, cùng một phương pháp được áp dụng cho tổn kho hoặc tiền mặt:
xuất nhập, mức độ của tổn kho tùy thuộc vào việc xuất nhập đều đặn hay
không
dự trữ an toàn, nó tượng trưng 1 khoản tăng thêm về tổn kho để tránh những tổn thất do thiếu hụt nguyên liệu cho sản xuất hay sản phẩm khi có nhu cầu
tiêu thụ
cầu tăng trưởng của doanh nghiệp
3 — Hiệu suất của việc sử dụng tài sản
‹*» Ý nghĩa của việc sử dụng tài sản có hiệu quả
Sử dụng tài sản có hiệu quả là vấn để then chốt gắn liền với sự tổn tại
và phát triển của doanh nghiệp Phân tích việc sử dụng tài sản có hiệu quả
có tác dụng đánh giá chất lượng công tác quản lý, chất lượng của công tác
quản lý sản xuất kinh doanh Trên cơ sở đó, để ra biện pháp nhằm nâng cao
Trang 17
Luận văn tốt nghiệp GVHD:Th.s Đoàn Văn Liên
hơn nữa việc sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn của doanh
nghiỆp
Trong doanh nghiệp, việc sử dụng vốn có hiệu quả được biểu hiện qua các mặt sau:
Về mặt kinh tế: phân tài sản của các doanh nghiệp không ngừng
được bảo toàn, bổ sung và phát triển sau mỗi chu kỳ kinh doanh và đây
chính là điều kiện cần thiết để các doanh nghiệp thực hiện được quá trình
tái sản xuất giắn đơn và tái sản xuất mở rộng
mình đối với nhà nước mà còn không ngừng tạo điều kiện mức thu nhập của
người lao động
Việc sử dụng tài sản có hiệu quả là 1 biện pháp sử dụng tài sẵn hợp lý, đúng mục đích, hạn chế tối đa những khoản phí tổn nhưng vẫn mang lại
hiệu quả cao Việc sử dụng tài sản có hiệu quả còn là việc tiết kiệm lao
động sống, nâng cao năng lực sản xuất của doanh nghiệp
4 — Các chỉ tiêu đánh giá
Để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động ta có các chỉ tiêu sau:
* Tốc độ luân chuyển tài sản lưu động
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản lưu động vận động không ngừng từ khâu dự trữ sang khâu sản xuất, lưu thông rồi lại trở về khâu dự
trữ — tức là trở về hình thái ban đầu của nó Một chu kỳ vận động như vậy
được gọi là một vòng tuần hoàn
Tốc độ luân chuyển tài sẵn lưu động là số vòng quay tài sản lưu động
trong kỳ hoặc là thời gian của một vòng quay tài sản Để đánh giá tốc độ
luân chuyển tài sản lưu động ta dùng các chỉ tiêu sau:
Doanh thu thuần
Tổng Tài sản lưu động bình quân
Số vòng quay TSLĐ =
Trang 18
Luận văn tốt nghiệp GVHD:Th.s Đoàn Văn Liên
Chú ý: Doanh thu thuần là doanh thu bán hàng trừ thuế và các khoản
giảm trừ
Chỉ tiêu này cho biết số vòng quay của tài sản lưu động trong 1 thời kỳ nhất định Nếu số vòng quay càng lớn thì càng tốt, và ngược lại Nghĩa là
tài sản luân chuyển càng nhanh thì sẽ giải quyết nhu cầu và nâng cao hiệu
quả sử dụng tài sản lưu động, và ngược lại Số vòng quay tài sản lưu động
còn được gọi là hệ số luân chuyển TSLĐ
Chỉ tiêu còn thể hiện số ngày cần thiết bình quân để thực hiện 1 vòng
quay tài sản lưu động của doanh nghiệp Nếu số ngày 1 vòng quay càng
ngắn thì hiệu quả sử dụng tài sản lưu động càng cao và ngược lại /
s%* Sức sinh lợi tài sản lưu động
Để đánh giá sức sinh lợi tài sản lưu động, ta dùng công thức sau:
Lợi nhuận thuần
Sức sinh lợi TSLĐ = 3
Tổng TSLĐ bình quân
Chỉ tiêu này phan ánh hiệu quả sử dụng của một đồng tài sản lưu động
sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này dùng để so sánh các
kỳ với nhau và chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sử dụng tài sản lưu động càng tốt và ngược lại
b./_ Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
+% Sức sản xuất tài sản cố định
n 4 “4 cA ⁄, ` wn Z z tA
Để đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản cố định có các chỉ tiêu sau:
TSCĐ bình quân
Chỉ tiêu này cho biết từ 1 đồng tài sản cố định tham gia vào quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
trong hoạt động và ngược lại
Trang 19
Trong quá trình hoạt động, giá trị tài sản cố định giảm dân do trích
khấu hao nhưng năng lực hoạt động của nó thì dường như không đổi Nói
cách khác, TSCĐ tuy giảm dẫn theo thời gian hoạt động của TSCĐ nhưng
vai trò của chúng thì vẫn không đổi Vì vậy, để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cố định người ta căn cứ vào nguyên giá của TSCĐ chứ không căn cứ
vào giá trị còn lại của TSCĐ Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng TSCPĐ là 1 chỉ tiêu
tổng hợp nói lên cứ 1 đồng TSCĐ có thể làm ra bao nhiêu đồng doanh thu sản phẩm hàng hóa tiêu thụ trong kỳ
Doanh thu thuần
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
s* Sức sinh lợi tài sản cố định
Ta có công thức sau:
Lợi nhuận thuần
Nguyên giá TSCĐ bình quân
Sức sinh lợi TSCĐ=
Các chỉ tiêu này phần ánh số tiễn lãi thu được trên 1 đồng tài sản cố định nói chung Chỉ tiêu này càng cao thể hiện doanh nghiệp sử dụng càng
có hiệu quả và ngược lại
s+* Suất hao phí tài sản cố định trên doanh thu
Để phân tích chỉ tiêu này ta dùng công thức:
Tài sản cố định bình quân
Doanh thu thuan
Chỉ tiêu này thể hiện sự hao phí của tài sản cố định bình quân để tạo ra
1 đồng doanh thu
XUẤT KINH DOANH
THU VIEN
Trang 20
Đối với tài sản lưu động, các biện pháp nhằm sử dụng tài sản có hiệu
quả có nội dung rộng hơn Ngoài các biện pháp tăng tốc độ luân chuyển tài
sản, còn có các biện pháp sau:
cường vốn cho khâu sản xuất, giảm vốn ở khâu dự trữ và tiêu thụ bằng cách
giảm bớt số ngày dự trữ
- - Phải đảm bảo sự cân đối nhu cầu vốn với khả năng sản xuất, 2 khâu này phải ăn khớp với nhau Khi thiếu vốn phải tìm mọi biện pháp để tăng vốn lưu động tự có và coi như tự có Mở rộng liên doanh, liên kết sản xuất
n ˆ x ^ ^^ ` Ẩ ` ` nw ⁄
để giảm nhu cầu về vốn mà vẫn hoàn thành kế hoạch sản xuất
- _ Hoàn thiện công tác tổ chức sản xuất, đảm bảo dây chuyển sản xuất
cân đối, giảm bớt mức tối thiểu về lượng sản phẩm đở dang, bán thành
phẩm Tăng cường công tác quản lý kinh tế, áp dụng kỹ thuật tiên tiến, phương pháp công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá
thành bảo đắm cho kế hoạch sản xuất và kế hoạch tiêu thụ gắn liển với
thiết bị, đổi mới công nghệ và phương tiện làm việc
Ngoài ra doanh nghiệp còn dựa vào chiến lược sản phẩm để nhận biết sản phẩm chủ yếu, sản phẩm thế mạnh trong cơ cấu sản phẩm, có ảnh
hưởng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong thời
kỳ để phân bố nguồn vốn hợp lý cũng như có thể dùng phương pháp toán
học để lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao nhất để tập
trung đầu tư vốn đúng mức hơn nữa, cần tiến hành phân chia loại hàng hoá
Trang 21
tổn kho để nhận biết cơ cấu và giá trị của từng loại hàng từ đó thực hiện phân nhóm hợp lý Trên cơ sở đó, phân bố vốn hợp lý cho từng loại hàng
phải hết sức chú ý đến loại hàng có tỷ trọng thấp trong tổng số hàng hoá
nhưng lại có giá trị cao
Trang 22
UAN LY VA SU DUNG VON
TAI DOANH NGHIEP
Trang 23Luận văn tốt nghiệp GVHD:Th.s Đoàn Văn Liên
PHẦN HAI
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
QUAN LY VA SU DUNG VON
CUA DOANH NGHIEP
MAN THANH
./ GIỚI THIỆU TÌNH HÌNH CHUNG CỦA DOANH NGHIỆP MÃN THÀNH
Tên giao dịch trong nước: DNTN TM-DV MÃN THÀNH
Tên giao dịch trong xuất nhập khẩu: MAN THANH ENTERPRISE Trụ sở chính: 100K - 1001 Hùng Vương, P9, Q5
Doanh nghiệp tư nhân thương mại dịch vụ Mãn Thành là một đơn VỊ hạch toán kinh tế độc lập, có con dấu riêng, và có tài khoản giao dịch tại ngân hàng Doanh nghiệp được thành lập theo giấy phép thành lập số 3208 GP/TLDN do Uỷ Ban Nhân Dân TPHCM ký ngày 30/12/1997 và giấy đăng
ký kinh doanh số 015984 do Sở kế hoạch và đầu tư TPHCM ký ngày
21/01/1998 Ngành nghề kinh doanh chính là mua bán vật tư, máy móc,
thiết bị ngành in công nghiệp
Doanh nghiệp tư nhân thương mại dịch vụ Mãn Thành tiễn thân là một
cửa hàng kinh doanh vật tư ngành in công nghiệp từ năm 1996 Sau thời gian hoạt động doanh nghiệp đã từng bước tạo được mối quan hệ với nhiều
doanh nghiệp trong nước Vì vậy ngoài ra việc kinh doanh vật tư, máy móc,
thiết bị ngành in doanh nghiệp mới đăng ký bổ sung thêm ngành kinh doanh
pha trộn mực in công nghiệp Đến nay với 10 năm hoạt động, doanh nghiệp
Trang 24
Luận văn tốt nghiệp GVHD:TH.s Đoàn Văn Liên
đã có được một bể dày kinh nghiệm đáng kể trong lĩnh vực kinh doanh vật
tư, thiết bị máy móc ngành ¡in công nghiệp với lượng sản phẩm đa dạng
2 — Cơ cấu tổ chức quản lý bộ máy của doanh nghiệp
Việc tổ chức bộ máy của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý, nâng cao hiệu quả kinh doanh Bộ máy quản lý của doanh
nghiệp theo kiểu trực tuyến, đứng đầu là Giám Đốc Bộ máy quản lý của
doanh nghiệp thể hiện qua sơ đổ sau:
SƠ ĐỒ BO MÁY QUẦN LÝ CỦA DNTN TM - DV MÃN THÀNH
Giám Đốc
phối hợp nhịp ngàng và hiệu quả
Trang 25
- Giám đốc: là người trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty, toàn quyền quyết định các biện pháp để giải quyết những vấn để phát sinh trong quá trình kinh doanh, song cũng phải chịu mọi trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trước pháp luật
phương pháp kinh doanh, tìm kiếm thị trường và cải thiện chất lượng mẫu
mã qui cách hàng hóa, thu hút khách hàng phục vụ cho quá trình kinh doanh
của doanh nghiệp Trong đó bộ phận tiếp thị có nhiệm vụ tiếp xúc với
khách hàng, khai thác khách hàng tiềm năng Bộ phận bảo trì được coi là bộ
phận hậu mãi, chịu trách nhiệm bảo trì, bảo hành và sửa chữa các thiết bị
máy móc ngành in Bộ phận bán hàng có nhiệm vụ báo giá, tiếp xúc với khách hàng qua điện thoại, fax hoặc email
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo đúng chế độ tài chính
kế toán hiện hành Theo dõi tình hình nhập xuất, tổn kho vật tư, thành phẩm, kiểm tra, giám sát việc thực hiện đúng định mức tiêu hao nguyên vật liệu Lập các báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán thuế hàng năm gửi cho giám đốc và các cơ quan chức năng chịu trách nhiệm theo dõi các khoản thu chi của công ty
pha mực, đồng thời là giao hàng đến cho khách hàng
II./ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CHUNG CỦA DOANH NGHIỆP
Mục đích của phân tích chung về tình hình tài chính là nhằm thực hiện việc đánh giá sơ bộ về hoạt động tài chính của doanh nghiệp
Để phân tích tình hình chung của doanh nghiệp thì cần có những tài
liệu sau:
- Bảng cân đối kế toán
SVTH: Lê Thị Mỹ Hạnh Trang 26
Trang 26
— Bảng thuyết minh báo cáo tài chính
tổng quát toàn bộ tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Bảng cân đối tài sản thực chất là bảng
cân đối kế toán, các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán phản ánh tình hình hoạt động tài chính ở một thời điểm nhất định Ở phần này chỉ phân tích tình hình chung của phần tài sản trên bảng cân đối kế toán
Do nội dung bảng cân đối kế toán khái quát tình trạng tài chính của
một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, thường là cuối kỳ kinh doanh, nên bảng cân đối kế toán có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quần lý doanh nghiệp Số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản, nguồn vốn và cơ cấu
nguồn vốn hình thành các nguồn vốn đó Thông qua bảng cân đối kế toán,
có thể nhận xét, nghiên cứu và đánh giá khái quát tình hình tài sản và
nguồn vốn, có thể phân tích tình hình sử dụng vốn, khả năng huy động nguồn vốn vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
chính của doanh nghiệp Thuyết minh báo cáo tài chính được lập để giải thích và bổ sung thông tin về hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các báo cáo tài chính khác không thể hiện rõ ràng và chi tiết được
Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái quát đặc điểm hoạt động
của doanh nghiệp, nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp lựa chọn để áp dụng, tình hình và lý do biến động của một số đối tượng sản xuất và nguồn vốn quan trọng, phân tích một số chỉ tiêu chủ yếu và các kiến nghị của doanh nghiệp
Doanh nghiệp phải trình bày đầy đủ các chỉ tiêu theo nội dung đã qui định trong thuyết minh báo cáo tài chính Ngoài ra doanh nghiệp cũng có
thể trình bày thêm các nội dung khác nhằm giải thích chỉ tiết hơn tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 28
|0€/T9//PE 6SS“I0/“9SS
Trang 29Luận văn tốt nghiệp GVHD:Th.s Đoàn Văn Liên
1 — Tình hình của tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn
Năm 2004 so với năm 2003 tăng 9,59% tương ứng với mức tăng
3.609.584.402 đồng Tình hình này là do những cơ cấu sau:
tương ứng với tỷ lệ tăng 0,50% Trong đó tiền mặt tại quỹ tăng 327.527.386
đồng, tương ứng với tỷ lệ 1,96% Tiển gửi ngân hàng giảm 242.218.264
đồng, tương ứng với tỷ lệ giảm 58,28% Nguyên nhân tiền gửi ngân hàng
giảm là do doanh nghiệp đã rút tiền gửi ngân hàng về nhập quỹ tiền mặt để
phục vụ cho việc mua sắm một số trang thiết bị máy móc và cũng là để đáp ứng nhu cầu thanh toán vào cuối năm Đồng thời tiền tăng nguyên nhân là
do doanh nghiệp đã thu hồi các khoản phải thu từ khách hang để huy động
một lượng lớn tiển mặt đầu tư vào xây dựng nhà xưởng, mở rộng quy mô của doanh nghiệp Tuy nhiên có một điểm cần lưu ý về vốn bằng tiền đó là nếu lượng tiễn mặt tại quỹ quá cao so với nhu cầu thanh toán ngay thì sẽ
ảnh hưởng không tốt đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Do vậy doanh
nghiệp cần lưu ý đến tình hình này
tăng lên 1.238.928.481 đồng, tương ứng tỷ lệ 14,03% Đây là 1 biểu hiện
tiêu cực của doanh nghiệp Số vốn nằm bên ngoài nhiều đã làm tăng vốn ứ động trong khâu thanh toán Nếu vấn để này tăng lên do doanh nghiệp mở rộng mối quan hệ kinh tế thì khoản này tăng lên thì không nên quá lo lắng
Vấn để là xem xét các khoản phải thu có thu hồi được hay không
với số tuyệt đối 2.496.786.627 đồng Trong đó có sự gia tăng tương đối lớn
là thành phẩm tổn kho, tăng 208,68% và sự gia tăng của hàng hoá tổn kho tăng 13,07% Hàng hóa tổn kho và thành phẩm tổn kho tăng nhằm mục đích
phục vụ nhu cầu cung ứng theo yêu cầu của khách hàng
năm 2003, ứng với tỷ lệ 37,84% Nguyên nhân là khoản tạm ứng giảm
Trang 30
mạnh, giảm 51,8% trong khi đó chi phí trả trước và chi phí chờ kết chuyển tăng nhẹ
2._ — Tình hình của tài sản cố định và đầu tư dài hạn
Để đánh giá sự biến động của TSCĐ và đầu tư dài hạn, trước hết ta xét
qua tỷ suất đầu tư Tỷ suất đâu tư là tỷ số giữa tài sản cố định và đầu tư dài
hạn với tổng tài sản Tỷ số này phản ánh tỷ lệ phần trăm của tài sản cố định chiếm trong tổng tài sản
Tỷ suất dau tư tăng 5,45% (8,55% - 3,10%), chứng tỏ doanh nghiệp
tăng việc đâu tư và mua sắm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
2.654.189.168 đồng, tương ứng với tỷ lệ 220,64% Tình hình này là do:
TSCĐ năm 2004 so với năm 2003 tăng 53.108.261 đồng, ứng với 4,41%
Điều này cho thấy doanh nghiệp không những cố gắng bảo toàn mà còn
phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật tạo điểu kiện thuận lợi để mở rộng sản
xuất kinh doanh
- Chi phí xây dựng cơ bản đở dang tăng 1.345.000.000 đồng
Nguyên nhân là do doanh nghiệp đang đầu tư vào dự án mở rộng chi nhánh nhà xưởng, mở rộng hoạt động sản xuất
III./ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG
TAI SAN CUA DOANH NGHIEP
1 — Phân tích tình hình biến động về tài sản cố định
SVTH: Lê Thị Mỹ Hạnh Trang 29
Trang 31
a./ Phan tich về tình hình kết cấu tài sản cố định Kết cấu TSCĐ là tỷ trọng giữa nguyên giá của 1 loại TSCĐ chiếm
trong tổng nguyên giá toàn bộ tscđ của doanh nghiệp
Qua bảng phân tích ta thấy doanh nghiệp có nhà cửa, vật kiến trúc và
máy móc thiết bị chiếm phần lớn trong tổng số tài sản cố định
tương ứng với số tiền 1.014.694.917 đ Đến cuối năm tăng 89.686.927 đ, như vậy nhà cửa vật kiến trúc vào cuối năm là 1.104.381.844 đ ứng với tỷ trọng
54,44% Như vậy tuy nguyên giá so với đầu năm có tăng nhưng vỀ tỷ trọng
NGUYÊN GIÁ ĐẦU 2 „ ws CHENG LECH
Số tiền Y 9D s#tiển ÿtr0"| cưyiện | °Ÿ 958
răm, ứng với tỷ lệ tăng 11,13% Nguyên nhân là do doanh nghiệp đầu tư trang thiết bị máy móc để chuẩn bị cho nhà xưởng doanh nghiệp đang chuẩn
bị đưa vào hoạt động
15,467,593 đ, ứng với tỷ lệ tăng 12,42%
NHẬN XÉT: