Do đó cần phải chú trọng công tác nhập, chọn tạo và nhân nhanh các giống hoa chất lượng cao như hoa hồng, phong lan, li ly… Đồng thời cũng phải chú trọng công đoạn bao gói, bảo quản, vận
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong Đề tài này là trung thực.Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài này đã được cám
ơn và các thông tin được trích dẫn trong chuyên đề này đã được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày15 tháng 4 năm 2012
Sinh viên
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa công nghệ thực phẩm cũng như các thầy cô giáo trong trường đại học Nông nghiệp Hà Nội đã trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản để tôi nghiên cứu đề tài
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo ThS Nguyễn Mạnh Khải đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập và viết đề tài tốt nghiệp
Cuối cùng tôi muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân và tất cả bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ để tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp này
Hà Nội, ngày15 tháng 4 năm 2012
Sinh viên
Trần Thị Tô Uyên
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Sản lượng và giá trị của hoa ở một số nước trên thế giới 4Bảng 2.2 Tổng doanh thu của các nước tiêu thụ hoa chính năm 2008 5Bảng 4.1 Ảnh hưởng của dung dịch đường Saccaroza đến đường kính bông hoa(cm) 19Bảng 4.2: Ảnh hưởng của dung dịch đường Saccaroza đến chất lượng và tuổi thọ cắm lọ của hoa hồng đỏ sau 6 ngày cắm (nhiệt độ 200C; độ ẩm 80% - 85% ) 20Bảng 4.3 Ảnh hưởng của dung dịch GA3 đến đường kính bông hoa(cm) 23Bảng 4.4: Ảnh hưởng của dung dịch GA3 đến chất lượng và tuổi thọ cắm lọ của hoa hồng đỏ sau 6 ngày cắm (nhiệt độ 200C, độ ẩm 80% - 85%) 24Bảng 4.5 Ảnh hưởng của hỗn hợp dung dịch đường Saccaroza và GA3 đến đường kính bông hoa(cm) 27Bảng 4.6 Ảnh hưởng của hỗn hợp dung dịch Đường và GA3 đến chất lượng và tuổi thọ cắm
lọ của hoa hồng đỏ sau 6 ngày cắm 28Bảng 4.7 Đường kính bông hoa lớn nhất vào ngày thứ 6 trong ba thí nghiệm (cm) 30Bảng 4.8 Tuổi thọ cắm lọ của hoa hồng đỏ ở cả ba thí nghiệm (ngày) 31
Trang 5DANH MỤC ĐỒ THỊ
Đồ thị 4.1 Ảnh hưởng của dung dịch đường Saccaroza đến đường kính bông hoa 19
Đồ thị 4.2 Ảnh hưởng của dung dịch đường đến chất lượng và tuổi thọ cắm lọ của hoa hồng
đỏ sau 6 ngày cắm (nhiệt độ 200C; độ ẩm 80% - 85% ) 21
Đồ thị 4.3 Ảnh hưởng của dung dịch GA3 đến đường kính bông hoa (cm) 23
Đồ thị 4.4 Ảnh hưởng của dung dịch GA3 đến chất lượng và tuổi thọ cắm lọ của hoa hồng đỏ sau 6 ngày cắm (nhiệt độ 200C; độ ẩm 80% - 85% ) 25
Đồ thị 4.5 Ảnh hưởng của hỗn hợp dung dịch đường Saccaroza và GA3 đến đường kính bông hoa(cm) 27
Đồ thị 4.6 Ảnh hưởng của hỗn hợp dung dịch Đường và GA3 đến chất lượng và tuổi thọ cắm
lọ của hoa hồng đỏ sau 6 ngày cắm 28
Đồ thị 4.7 Đường kính bông hoa lớn nhất vào ngày thứ 6 trong ba thí nghiệm (cm) 30
Đồ thị 4.8 Tuổi thọ cắm lọ của hoa hồng đỏ ở cả ba thí nghiệm 31
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CT: Công thứcĐC: Đối chứngCTĐC: Công thức đối chứngSac: Đường Saccaroza
GA3: Axit Gibberellic
Trang 7Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hoa là biểu tượng của cái đẹp, là món quà tinh thần mà thiên nhiên ban tặng cho con người, nó là nguồn cảm xúc ngọt ngào của cuộc sống Khi ở tâm trạng nào, dù buồn hay vui thì nhìn thấy bó hoa tươi sẽ có cảm giác thoải mái nhẹ nhàng, thanh thản
và đem lại niềm vui, tạo hứng thú, phấn khích trong công việc Mỗi loài hoa có một vẻ đẹp riêng, hương thơm riêng và tạo cho chúng ta những cảm xúc khác nhau mỗi khi thưởng thức cái đẹp của các loài hoa
Hoa có nhiều tác dụng như để trang trí bày bàn, giúp con người thư giãn, hoa chia sẻ niềm vui nỗi buồn của con người Hoa xuất hiện trong các ngày lễ lớn, trong các dịp lễ hộ, ngày lễ tình nhân, cưới xin…vv Hoa còn được dùng trong mỹ phẩm, làm thuốc chữa bệnh, trong công nghệ thực phẩm Do đó có thể nói rằng hoa trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong cuộc sống của con người Do nhu cầu về hoa và các sản phẩm từ hoa không ngừng tăng lên nên ngành trồng hoa đã và đang trở thành ngành mang lại lợi nhuận kinh tế đáng kể
Ngày nay, cùng với sự phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội, nhu cầu thưởng thức hoa ngày càng phổ biến Trong các loại hoa, được ưa chuộng và ưa thích nhất là hoa hồng do hoa nở to vừa vừa phải, màu sắc đẹp mắt, đa dạng, hương thơm
dịu dàng, quyến rũ Vì vậy hoa hồng thường được coi là “hoàng hậu của các loài hoa” Người ta coi hoa hồng là biểu tượng của tình yêu, sự thủy chung trong tình yêu,
tình bạn, sự hòa hợp của tuổi trẻ, tình hữu nghị, niềm vui và sự tốt lành trong cuộc sống thường ngày
Để có một bình hoa đẹp không phải là điều quá khó nhưng để giữ được vẻ tươi tắn, có hương thơm lâu dài theo thời gian thì phụ thuộc khá nhiều vào phương pháp bảo quản và việc chăm sóc hoa Người ta không những quan tâm đến vẻ đẹp bên ngoài của hoa mà còn quan tâm đến cuộc sống, mùi thơm và thời gian nở của hoa để từ đó kéo dài tuổi thọ của hoa Có nhiều yếu tố tác động làm hoa chóng tàn úa như điều kiện khí hậu, chất lượng hoa ban đầu, kỹ thuật chăm sóc… Điều mong muốn là bông hoa
nở đẹp, tươi lâu trở nên dễ dàng hơn nhờ phương pháp bảo quản thích hợp Đã có nhiều phương pháp bảo quản hoa hồng được sử dụng như: bảo quản trong môi trường lạnh, khí quyển điều chỉnh, điều kiện áp suất thấp, bảo quản bằng chế phẩm cắm hoa, bảo quản chiếu xạ Tuy vậy, các phương pháp trên vẫn còn tồn tại một số nhược điểm như: chi phí bảo quản cao, khó sử dụng, giá thành lớn Hiện nay phương pháp bảo quản bằng chế phẩm cắn hoa vẫn được sử dụng phổ biến Chế phẩm cắm hoa là một
Trang 8tăng tuổi thọ cắm lọ do đó nhu cầu đặt ra hiện nay là cần có một chế phẩm có giá thành hợp lý, không độc hại và dễ sử dụng Được sự hướng dẫn của thầy giáo Nguyễn
Mạnh Khải, em tiến hành nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu ảnh hưởng của chế phẩm cắm
hoa đến đến chất lượng và tuổi thọ cắm lọ của hoa hồng đỏ”
Trang 9Phần II TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ HOA CẮT TRÊN THẾ GIỚI
VÀ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
2.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới
Nghề trồng hoa, cây cảnh đã có từ lâu đời trên thế giới Các sản phẩm từ hoa vô cùng đa dạng và phong phú nhưng buôn bán và trao đổi trên thế giới chủ yếu là hoa cắt Năm 1995, tổng giá trị hoa cắt tiêu thụ trên thị trường thế giới là 31 tỷ UDS trong đó hoa hồng chiếm 25 tỷ USD Dự đoán nhu cầu tiêu thụ hoa tiếp tục tăng mạnh trong những năm tới đây và chiếm nhiều nhất là hoa hồng, cúc, cẩm chướng, lay ơn và một số loại hoa khác
Ngành kinh doanh hoa cắt là ngành công nghiệp có động lực lớn Các thị trường hoa lớn trên thế giới bao gồm Tây Âu, Mỹ, Nhật Bản Năm 2000, Tây Âu là vùng tiêu thụ hoa lớn nhất với 18 tỷ USD, thứ hai là Mỹ với 11 tỷ USD và thứ ba là Nhật Bản với 9 tỷ USD Trong đó thị trường Nhật Bản đuợc đánh giá là thị trường có mức tiêu thụ tăng mạnh nhất và giá mua cũng khá cao, tuy có những yêu cầu khá khắt khe về chất lượng hoa Thị trường châu Á cũng tăng khá mạnh do mức thu nhập của nguời dân ngày càng tăng
Giá trị nhập khẩu hoa và cây cảnh trên thế giới ngày càng tăng: Năm 1982, giá trị xuất khẩu hoa tăng từ 1,2 tỷ lên 3,6 tỷ vào năm 1996 Các nước xuất khẩu hoa lớn trên thế giới là Hà Lan, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Colombia, Italy,… Một số loại hoa đặc trưng của châu Á như hoa Lan rất được ưa chuộng trên thị trường thế giới Các nước xuất khẩu hoa nhiều nhất ở châu Á là Thái Lan, Malaysia, Philipin (1996)
Theo thống kê diện tích trồng hoa trên thế giới không ngừng được mở rộng, hoa cắt sản xuất ra không ngừng tăng về số lượng cũng như chất lượng, mang lại lợi nhuận cao Khu vực châu Á Thái Bình Dương có diện tích trồng hoa là 134000 ha, chiếm 77% tổng diện tích đất trồng hoa của toàn thế giới nhưng chỉ có một lượng nhỏ hoa được xuất khẩu còn lại là phục vụ tiêu dùng trong nước Năm 1994, Trung Quốc ước tính có 60000 ha đất trồng hoa, trong khi đó thì Ấn Độ là 34000 ha, ở Mỹ là 50000 ha
và ở Nhật Bản là 8000 ha
Nhu cầu hoa hồng và hoa cúc trên thế giới hiện nay tương đối lớn nên được trồng rất nhiều Những nước sản xuất hoa hồng chủ yếu trên thế giới là Hà Lan, Hoa Kỳ… Hà Lan là nước trồng và xuất khẩu hoa hồng lớn nhất thế giới, Hoa Kỳ là nước trồng nhiều nhưng cũng nhập nhiều, Trung Quốc cũng là nước trồng nhiều hoa hồng
Trang 10Hiện nay cùng với việc mở rộng diện tích trồng hoa, rất nhiều thành tựu kỹ thuật mới đã được áp dụng vào sản xuất nhằm làm cho chủng loại hoa ngày càng phong phú, đa dạng để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng.
Bảng 2.1 Sản lượng và giá trị của hoa ở một số nước trên thế giới
( triệu cành)
Giá trị(triệu USD)
Nguồn: Nguyễn Xuân Linh 2002
Sau thời kỳ toàn cầu hóa, ngành kinh doanh hoa – cây cảnh trở thành ngành
có thu nhập cao ở nhiều nước Hoa – cây cảnh có tiềm năng giúp các nông hộ có diện tích đất ít có được thu nhập cao, ngay cả xuất khẩu thu ngoại tệ Theo thống
kê vào năm 2005, trên thế giới có khoảng 4 triệu ha hoa Trong đó sản xuất và tiêu thụ hoa, thị trường lớn nhất là ở châu Âu mà đứng đầu là Hà Lan, Columbia, Kenya, Zimbabwe, Ecuador, Ân Độ, Mexico, Trung Quốc, Malaysia Trong đó ngành công nghiệp hoa cắt cành trên thế giới đạt giá trị 40 tỷ USD Nhà sản xuất lớn nhất thế giới
là Dole Fresh Flowers và thị trường nhập khẩu lớn nhất là Mỹ và Đức Phát triển hoa
đã thu hút lao động ở các nước đang phát triển, điển hình nước Ecuador và Columbia chiếm một nửa lượng hoa bán tại Mỹ đã thu hút lượng lao động lên đến 190.000 công nhân, nhưng phần lớn lợi nhuận đều chảy vào công ty Dole Fresh Flower, chỉ một ít thuộc các người trồng hoa
Năm 2008, hoa cắt cành xuất khẩu trên thế giới đạt doanh số 2.34 tỷ USD, tốc
độ tăng trưởng 10%/năm Những nước nhập khẩu chính là châu Âu, Nhật Bản,
Trang 11HongKong, Singapore và các nước Trung Đông, trong khi giá trị xuất khẩu hoa cắt cành của Ân Độ chỉ đạt 25 triệu ruppe Doanh số xuất khẩu hoa các loại trên thế giới đạt 50 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng đạt 15%/năm Những nước nhập khẩu hoa chính là Đức, Pháp, Anh, Mỹ, Thụy Điển, Ý, Áo, Đan Mạch, Bỉ và Nhật Bản Nước xuất khẩu chính là Hà Lan (70%), Colombia (9.2%), Israel (5.8%), Ý (4.9%), Tây Ban Nha (2.3%), Kenya (1.4%), đảo Canary (1.1%), năm loại hoa chính là hoa hồng, hoa cúc, hoa cẩm chướng, hoa tulip và hoa huệ chiếm 70-75% trong số hoa xuất khẩu trên thế giới
Thị trường tiêu thụ hoa trên thế giới trong năm 2008 ước đạt 45 tỷ Euro Các nước tiêu thụ hoa chủ yếu là ở Châu Âu do có GDP và thu nhập cao Ở Châu Á, Nhật Bản là thị trường tiêu thụ chính Trong các sản phẩm nông nghiệp, cây hoa có tốc độ tăng trưởng cao, đặc biệt là hoa cắt cành, do có vòng quay ngắn Nhật Bản nhập khẩu hoa chủ yếu từ các quốc gia lân cận nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí
Bảng 2.2 Tổng doanh thu của các nước tiêu thụ hoa chính năm 2008
Stt Quốc gia Doanh thu (tỷ Euro)
Trang 12Theo điều tra, lượng hoa cắt cành tiêu thụ ở Nhật Bản năm 2008 là 5.73 tỷ cành, trong đó lượng nhập khoảng 1 tỷ cành Các loại hoa tiêu thụ chính ở Nhật Bản gồm: hoa cúc 34%, cẩm chướng 9%, hoa hồng 7%, lily 3%, hoa lan 2% và hoa Cát tường 2% Giá bình quân cao nhất là Lily 142 Yên, Cát tường 110 Yên Lượng tiêu thụ năm 2008 giảm 2% so với 2007 Nguyên nhân chính do nguồn cung hoa hồng giảm Tổng doanh thu năm 2008 là 311.2 tỷ Yên, giảm 8% so với 2007, nguyên nhân do doanh thu hoa cúc và hoa hồng giảm Năm 2008, Malaysia cung cấp hơn 120 triệu cành cúc Chiếm 64% thị phần nhập khẩu của Nhật Bản, lượng cung tăng đều hàng năm từ năm 2004 đến 2008
2.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa ở Việt Nam
Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, quanh năm nóng ẩm, rất thích hợp cho cây trồng sinh trưởng và phát triển trong đó có các loại hoa Hiện nay ngành trồng hoa phát triển khá mạnh ở nhiều địa phương Theo số liệu điều tra của Viện Di Truyền Hà Nội, tại một số địa phương hoa là sản phẩm cây trồng cho thu nhập khá cao Chẳng hạn, có một số nơi ở Hà Nội, so với 2 vụ lúa, 1 vụ hoa màu trong cùng một thời điểm, trên cùng một đơn vị diện tích thì trồng hoa cho lợi nhuận cao gấp 12 lần
Có nhiều doanh nghiệp trồng hoa đã thu lợi nhuận cho hàng trăm triệu đồng/ha/năm từ sản xuất hoa Hiện nay, diện tích trồng hoa của Việt Nam khoảng 5700 ha hoa tập trung ở Hà Nội, Lâm Đồng, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc Ở Hà Nội hoa được trồng nhiều tại các làng hoa như Ngọc Hà, Nhật Tân, Tây Tựu, Phú Thượng… Các vùng trồng hoa đã mang lại hiệu quả kinh tế cao đồng thời đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, nhất là các thành phố lớn Chỉ riêng Hà Nội đã có khoảng 300 cửa hàng bán các loại hoa chất kuợng cao, đó là chưa kể rất nhiều các cửa hàng hoa nhỏ và những người bán rong Ước tính hoa được tiêu thụ từ các nguồn trên cao hơn 1 triệu cành trong một ngày
Hoa ở nước ta đã được xuất khẩu sang nước ngoài nhưng chủ yếu vẫn là hoa của
Đà Lạt Theo phân tích của các chuyên gia, nhu cầu hoa sẽ tăng cả ở trong nước và quốc
tế Nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường, Việt Nam có kế hoạch phát triển diện tích trồng hoa lên 10000 ha, với sản lượng 3,5 tỷ cành và đạt kim ngạch xuất khẩu 60 triệu USD vào năm 2010
Hiện nay không những phải đảm bảo về mục tiêu diện tích trồng hoa mà còn phải đảm bảo về chất lượng hoa và hiệu quả bền vững Các loại hoa được trồng phổ biến ở Việt Nam chủ yếu là hoa cúc, lay ơn, hoa hồng, loa kèn, thược dược… Trong
đó hoa hồng chiếm 35 – 45%, hoa cúc chiếm 23 – 30%, còn lại là các loại hoa khác
Do đó cần phải chú trọng công tác nhập, chọn tạo và nhân nhanh các giống hoa chất lượng cao như hoa hồng, phong lan, li ly… Đồng thời cũng phải chú trọng công đoạn bao gói, bảo quản, vận chuyển, nhất là quá trình vận chuyển hoa đến sân bay đối với loại hoa xuất khẩu
Trang 13Hoa ở Việt Nam vẫn chủ yếu được tiêu thụ trong nước Nếu được đầu tư vốn, giống, kỹ thuật chăm sóc từ khi trồng đến khi thu hoạch, bảo quản và mở rộng thị trường tiêu thụ thì chắc chắn ngành trồng hoa ở Việt Nam sẽ còn phát triển mạnh mẽ hơn nữa
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ BẢO QUẢN HOA CẮT TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.2.1 Tình hình nghiên cứu và bảo quản hoa cắt trên thế giới
Các tác giả Danuta M Goszczynska, Ryszard M Rudnicki - Viện nghiên cứu Pomology and Floriculture Skierniewce, Hà Lan đã nghiên cứu bảo quản hoa cúc cắt sau 15 ngày bảo quản hoa cho chất lượng tốt
Các tác giả Abraham H Halevy và Shimon Mayak trường đại học Jerusalem, rehovot, Israel đã nghiên cứu đặc điểm sinh lý, những biến đổi sinh hoá trong quá trình bảo quản hoa cắt cho thấy: mỗi loại hoa có cấu tạo khác nhau nên cũng có những đặc điểm sinh hoá khác nhau từ đó họ đưa ra quy trình bảo quản cho mỗi loại hoa cũng khác nhau
Theo các tác giả S Meir, S.Alsevia, Y.Huang, A.Schaffer và S Hadas thì bao gói hoa bằng điều biến khí quyển kết hợp với xử lý đường saccaroza và STS (Silver Thiosulphate) đã duy trì được chất lượng của hoa lay ơn trong quá trình bảo quản dài ngày Hoa được đóng gói kín trong túi PE với thành phần khí quyển gồm: 5-8% CO2 và 6-12% O2 Cách đóng gói này đã nâng cao chất lượng và tuổi thọ của hoa, làm chậm sự vàng lá Xử lý cành hoa bằng dung dịch đường saccaroza 10%
Philosoph-và Thiosunphat bạc STS 0.4mM trước khi đóng gói cũng đã nâng cao chất lượng Philosoph-và khả năng nở của hoa
Tất cả các phương pháp bảo quản đều tuân theo nguyên tắc chung là:
Chất lượng hoa cắt đưa vào bảo quản phải khoẻ, có độ nở thu hái phù hợp
Trong quá trình bảo quản phải điều khiển sao cho hoa có cường độ hô hấp thấp, cường độ thoát nước giảm, đảm bảo duy trì nguồn dinh dưỡng nuôi hoa, ngăn cản sự sản sinh Ethylen, sự phát triển của nấm bệnh
2.2.2 Tình hình nghiên cứu và bảo quản hoa cắt ở Việt Nam
Việt Nam có nhiều giống hoa khá phong phú và kỹ thuật trồng có nhiềù bước nhảy vọt Việc đặt ra nghiên cứu kỹ thuật bảo quản hoa bảo quản nguồn gen có ý nghĩa quan trọng, nghiên cứu bảo quản hoa cắt đã trở thành một lĩnh vực mới ở Việt Nam và kết quả còn rất hạn chế Sau đây là một số nội dung mà một số tác giả ở Việt Nam đã bước đầu nghiên cứu:
Trang 14Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của chế phẩm dinh dưỡng và chất kích thích sinh trưởng đến cúc vàng Đài Loan tác giả Đặng Văn Đông cũng rút ra kết luận Gibberellin (GA3) tác động mạnh ở giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng, còn Spray-N-Grow và Atonik tác động mạnh ở giai đoạn sinh thực nâng cao tỷ lệ nở hoa hữu hiệu nâng cao chất lượng hoa, kéo dài tuổi thọ của hoa
Theo tác giả Hoàng Minh Tấn và Nguyễn Quang Thạch: sử dụng Thiosunphat bạc 0,5 ppm có tác dụng rõ rệt nhất đối với hoa cúc Nhật, tuổi thọ của hoa dài hơn 4 ngày so với đối chứng
Các tác giả Nguyễn Quang Thạch - Nguyễn Mạnh Khải - Trần Hạnh Phúc đã nghiên cứu ảnh hưởng của Ethylen đối với một số loại hoa cắt như hoa hồng, cẩm chướng, lan, cho thấy: Ethylen làm tóp, rụng cánh hoa, làm rụng lá, làm mất màu xanh của lá, mất màu sắc sặc sỡ của cánh hoa, ức chế nụ hoa nở Bằng cách bổ sung Thiosunfat bạc 0,5-1ppm vào dung dịch cắm hoa hay nhúng cuống hoa cắt vào dung dịch trên trước khi bảo quản lạnh có thể nâng cao tuổi thọ của hoa cắt đến 2 lần so với đối chứng
Nhóm tác giả Nguyễn Đức Tiến, Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch đã nghiên cứu quy trình bảo quản hoa lay ơn và hoa hồng Pháp đã sử dụng quy trình bảo quản lạnh có sử dụng dung dịch bao gồm các chất dinh dưỡng, chất điều hoà sinh trưởng, chất kháng khuẩn, kháng nấm, chất kháng ethylen
Nhóm tác giả TS Chu Doãn Thành, Viện nghiên cứu Rau quả đã nghiên cứu quy trình công nghệ bảo quản hoa cúc đại đoá phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước
và xuất khẩu
Năm 1994, Nguyễn Quang Thạch và cộng sự đã buớc đầu nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu EM (Effective mirco-organism) Kết quả cho thấy EM có tác dụng làm tăng chất lượng và kéo dài tuổi thọ của hoa
Năm 1999, các tác giả Nguyễn Mạnh Khải, Nguyễn Quang Thạch nghiên cứu giống cúc CN 93 trồng vụ đông bằng mần gốc của vụ hè Kết quả có thể xây dựng được quy trình trồng, chăm sóc để cúc CN 93 ra hoa vào đúng dịp Tết và có thể xử lý
GA3, phun sớm và tăng số lần phun có thể nâng cao chất lượng hoa cắt
2.3 TÌM HIỂU VỀ HOA HỒNG ĐỎ
Cây hoa hồng có tên khoa học là Rosa SP Thuộc họ hoa hồng Rosaceae Cây
hoa hồng là cây có xuất xứ ôn nhiệt đới vùng Bắc bán cầu Trong phân loại thực vật, hồng được xếp vào lớp song tử diệp, thuộc bộ hồng Hoa hồng xuất hiện trên trái đất
từ vài chục triệu năm trước đây, được trồng từ vài ngàn năm nay và được nhân giống, lai tạo Hoa hồng luôn là loài hoa được trồng và tiêu thụ nhiều nhất thế giới Có nhiều
Trang 15giống có nguồn gốc địa phương và có nguồn gốc từ Trung Quốc như Rosa sinensis jacq, có nguồn gốc ở Châu Âu như Rosa damascena Mill
Có nhiều loại hoa hồng khác nhau: Hoa hồng cỏ thì cây nhỏ, hoa nhỏ, ít cánh, màu đỏ, trồng trong chậu Hồng cứng màu đỏ thẫm, nhiều cánh, sai hoa, cây thấp bé, chủ yếu lấy hoa gói bày dĩa để cúng Hoa hồng bạch tuyền, cây trung bình, hoa ít và ít cánh, thường được dùng làm thuốc ho trẻ con Hoa hồng bạch văn khôi màu hoa trắng hồng, cây trung bình, sai hoa, chịu đựng khỏe Hoa hồng quế cây cao to, hoa màu hồng, sai hoa và chóng tàn Hoa hồng bạch cánh xếp, sai hoa, hoa to nhiều cánh, cánh xếp không thử tự, màu trắng hồng Hồng cánh sen hoa to, sai hơn, màu hồng cánh sen Hồng nhung hoa ít, thường ra từng chiếc đơn độc, ít khi thấy ra chùm, màu đỏ thẫm, bông hoa và cánh hoa to, ít cánh Hoa hồng vàng, hoa màu vàng, nhiều cánh, cây vươn dài, có thể làm dàn đỡ Các giống của Đà Lạt có màu hoa đào, màu da cam rất đẹp mắt
và phần lớn ra hoa đơn lẻ Ngoài ra, còn giống hoa hồng tiểu muội hay hồng nhài, cây
bé lá nhỏ, hoa chỉ to bằng bông hoa nhài cũng có giống hoa màu trắng hay đỏ được thấy nhiều ở Đà Lạt, chủ yếu để trồng trong chậu
Có giống hồng dại gọi là tầm xuân, hoa chỉ ra mỗi năm một đợt vào tháng 2 Mùa ra hoa rất tập trung, hoa sai, thân bò dài mọc dại ở nhiều nơi Tầm xuân cũng được trồng phủ hàng rào, phủ nóc tường và trồng làm cảnh, phải có dàn dỡ, màu hoa
hồng đào, bông hoa nhỏ, dáng đều đặn, tên khoa học là Rosa Muitiflora Thung.
Hoa hồng hiện nay có nguồn gốc rất phức tạp, nó là kết quả tạp giao của tầm
xuân (Rosa multiflora) với Mai Khôi (Rosa Rugosa) và hoa hồng (Rosa indica):
Tầm xuân (Rosa multiflora): Là loại cây bụi rụng lá, cành nhỏ, mọc lan như dây
leo, lá kép lông chim, hoa nhỏ và mọc thành cành, một năm chỉ ra hoa một lần Cây có nguồn gốc Tây Âu, Bắc Mỹ
Mai khôi (Rosa Rugosa): Có nguồn gốc từ Trung Quốc, hiện nay có nhiều cây
hoang dại Mai khôi là loại cây thân gỗ rụng lá, cao 2m thân dạng bò, màu thân tro, trên thân có một lớp long nhung và có gai; lá kép lông chim, có 5 - 9 lá nhỏ, hình thuôn hoặc hình trứng dài 2 – 5 cm, mép lá có răng cưa, mặt trên không có gai, mặt dưới có lông
Hoa hồng (Rosa Indica): Nguyên sản Hồ Bắc, Tứ Xuyên, Vân Nam, Tô Châu…
Hiện nay còn tồn tại những cây cổ thụ hoang dại, là loại cây lùm bụi, rụng lá và nửa rụng lá, cây mọc thẳng đứng, lá kép lông chim có từ 3 – 5 lá nhỏ, hình trứng dài 2 – 3cm, đỉnh lá nhọn, mép lá hình răng cưa, hai mặt không có lông Hoa mọc rời hoặc thành chum trên cành, đường kính 5cm, hoa màu trắng đến đỏ thẫm, thơm nhẹ, cuống hoa nhỏ
Trang 16Hoa hồng thường trồng vào tháng 9 – 10 và tháng 2 – 3, cây ra hoa và cho thu hoạch quanh năm.
2.4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ BẢO QUẢN HOA HỒNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.4.1 Tình hình nghiên cứu và bảo quản hoa hồng trên thế giới.
Hoa hồng (Rosa sp) là cây có nguồn gốc ôn đới Trong phân loại thực vật,
Hồng được xếp loại song tử diệp, thuộc bộ hồng Hoa Hồng trên trái đất từ vài chục năm trước, được trồng từ vài ngàn năm nay và được nhân giống, lai tạo từ vài trăm năm trở lại đây
Ở Trung Quốc, thời Hán Vũ Đế (năm 140 TCN) trong cung vua đã có hoa hồng Đến thời Bắc Tống đã có người trồng hoa hồng và đã tạo ra giống hoa hồng ra hoa quanh năm, có mùi thơm do lai tạo giữa hoa hồng và hoa tầm xuân Cuối thế kỷ
XV các giống hoa hồng Trung Quốc đã được nhập vào Pháp qua nhiều lần lai tạo với các giống hoa bản địa (R Gigautua và R.Gallica) Đến năm 1837 người ta tiến hành lai tạo giữa hoa hồng Trung Quốc và Porlands có nhiều ưu điểm chỉ nở hoa được 1-2 lần trong năm Mãi đến năm 1867 mới tạo ra được giống hoa hồng nở nhiều lần trong năm
Theo kết quả chọn lọc và lai tạo của các nhà khoa học và các nhà làm vườn trên thế giới, hiện nay có 20000 giống lai, với nhiều màu sắc khác nhau, hình thái đa dạng hấp dẫn, có thể thích nghi rộng ở các vùng sinh thái, cho năng xuất cao Các giống hồng nhà trồng hiện nay đều là hoa hồng lai với giống trà Trung Quốc sản xuất Trên thế giới phần lớn là những giống đã được lai tạo và chọn lọc trong vòng 60 năm trở lại đây
Theo Từ Thục Quyên (1992), tầm xuân có ý nghĩa quan trọng nhất trong lịch sử phát triển hoa hồng của Trung Quốc Các tỉnh Hồ Bắc, Vân Nam, Tứ Xuyên… đều có hoa hồng dại Người ta cho rằng sự lai tạo giữa tầm xuân hoa to và hoa hồng bốn mùa tạo ra giống hoa thơm nổi tiếng như: Hoa thơm màu phấn hồng, màu vàng, màu nhạt
Năm 1958, ở Mỹ người ta đã lai tạo thành công nhiều giống cây to, có sức chống chịu cao, hoa to như Queen Elizabeth Việc tạo ra các giống chống bệnh, chống rét đồng thời cho hoa to, màu đẹp, tươi lâu, có mùi thơm và hoa nở tập trung… là khuynh hướng chọn tạo giống hiện nay
2.4.2 Tình hình nghiên cứu và bảo quản hoa hồng ở Việt Nam
Các giống hoa hồng được trồng nhiều ở nuớc ta hiện nay chủ yếu là các giống hồng nhập nội theo hai nguồn chính ngạch và tiểu ngạch, hàng năm các giống hoa hồng
Trang 17ở Việt Nam luôn có sự thay đổi, mỗi năm chúng ta có thêm khoảng 8 – 10 giống hoa hồng mới.
Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của nhà nước và một số nhà khoa học ở Viện nghiên cứu, các trường đại học cũng đang thu thập tập đoàn giống hoa hồng trong nước và nhập nội trên thế giới như Viện nghiên cứu rau quả đã nhập nội 11 giống hoa hồng của Trung Quốc về so sánh với 1 giống hoa hồng đang được trồng phổ biến trong nước, kết quả thu được có 3 giống VR1, VR2, VR9 có khả năng sinh trưởng tốt và có khả năng chống chịu sâu bệnh tương đối cao
Các tác giả Đặng Văn Đông, Bùi Thị Hồng (2003) đã nghiên cứu, tuyển chọn ra một
số giống VR2, VR4, VR6 Đặc biệt là giống VR2 đã và đang được sản xuất rộng rãi
Viện di truyền nông nghiệp đã nhập nội và thu thập 1 tập đoàn giống hoa hồng mới và một số con lai F1 đưa vào khảo nghiệm, đánh giá và chọn lọc bước đầu cho kết quả tốt trong điều kiện miền Bắc nước ta
Tác giả Hoàng Ngọc Thuận (2006) khi khảo sát tập đoàn và nghiên cứu sinh trưởng, phát triển của một số giống hoa hồng trên địa bàn Hà Nội đã kết luận: Riêng tập đoàn hoa hồng ở Hà Nội đã có 21 giống (19 giống hoa và 2 giống gốc ghép) Trên căn bản các giống này đều thích nghi với các vùng sinh thái trong cả nước Các giống KS05, VM05, PD05, TX05, PH05, CV05 có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện đồng bằng sông Hồng, các chỉ tiêu năng suất đạt được khá cao Tập đoàn các giống hoa hồng thu thập được có thể là vật liệu khởi đầu trong công tác chọn giống hoa hồng ở nước ta Một số giống có thể nhân và phổ biến trong sản xuất
2.5 HOẠT ĐỘNG SINH LÝ CỦA HOA CẮT SAU THU HOẠCH
2.5.1 Sự già hóa
Già hóa là quá trình liên quan chặt chẽ tới sự sinh sản etylen Đây là một chất đóng vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy quá trình già hóa của hoa cắt Nó làm tăng tính thấm của màng tế bào, tăng cường độ hô hấp, giảm sự hấp thu dinh dưỡng của cành hoa, phá hủy chlorophil…Do đó loại bỏ tác động xấu của etylen trong bảo hoa cắt cũng là điều mà chúng ta quan tâm
2.5.2 Sự hô hấp
Hoa là một cơ thể sống nên cần phải hô hấp Hô hấp là quá trình phân giải các chất dinh dưỡng dự trữ (chủ yếu là đường) và giải phóng ra năng lượng Năng lượng này được sử dụng để duy trì sự sống cho tế bào và mô Hoa cắt bị mất nguồn cung cấp dinh dưỡng nên thiếu nguồn nguyên liệu cho hô hấp và nhanh chóng hoá già Cường
độ hô hấp bị chi phối bởi nhiệt độ: nhiệt độ cao thì cường độ hô hấp cao và hoa nhanh chóng hoá già
Trang 182.5.3 Quá trình thoát hơi nước:
Nước là thành phần chủ yếu trong hoa, thường chiếm hơn 80% khối lượng hoa
Vì vậy khi mất nước sẽ làm mất độ tươi và gây héo hoa Hoa cắt dễ dàng mất nước do
có bề mặt thoát nước lớn Do đó sau khi thu hoạch cần đảm bảo cân bằng nước cho hoa cắt và bảo quản ở độ ẩm cao (trên 95%)
2.5.4 Sự sản sinh Ethylen:
Ethylen là một hormon thực vật thuộc nhóm chất ức chế, gây già hoá ở một số loại hoa Sự tạo thành ethylen trong quá trình bảo quản là yếu tố bất lợi, làm giảm tuổi thọ bảo quản của quả ngay cả khi ở nhiệt độ an toàn nhất Ethylen có hoạt tính sinh lý
ở nồng độ rất thấp (chỉ 0,5 ppm) Sự nhạy cảm với Ethylen khác nhau tuỳ theo loại hoa Tuy nhiên sự tiếp xúc của hoa với Ethylen sẽ tăng tốc độ hoá già Sự tăng hàm lượng ethylen trong hoa sẽ làm tăng cường độ hô hấp Người ta thấy rằng sự tăng cường độ CO2 trùng với sự tăng ethylen, ethylen bắt đầu xuất hiện khi có mặt CO2 Sáu ngày sau khi thu hái cường độ hô hấp đạt cực đại ở mẫu đối chứng (34mlCO2/kg.h) thì cùng ở thời gian này sự tạo ethylen cũng đạt cực đại 86mlC2H2/kg.h.Trong quá trình bảo quản phải khống chế sự tổng hợp ethylen để làm chậm sự chín kéo dài thời gian bảo quản Đặc biệt, trong quá trình bảo quản hoa thường sử dụng một số chất kháng Ethylen như Thiosunfat bạc, Chrysal AVB,
2.5.5 Sự hư hỏng cơ học:
Tốc độ già hóa của hoa càng được đẩy nhanh hơn khi hoa bị dập, nát, bị nhiễm sâu bệnh, nhiễm nấm, khuẩn Hoa cắt bị tổn thương sẽ hoá già nhanh hơn, làm tăng cường độ hô hấp, tăng sự mất nước và tạo ra Ethylen Những bông hoa có dấu hiệu bị tổn thương cần loại ra trước khi bảo quản
2.5.6 Ảnh hưởng của vi sinh vật gây bệnh:
Khi thu hoạch, thân hoa bị cắt tạo thành vết thương, từ đó vi sinh vật gây bệnh dễ dàng xâm nhiễm, gây tắc bó mạch, hoa không hút được nước nên bị héo Để giảm tác hại của vi sinh vật có thể sử dụng nước sạch có bổ sung axit citric để pH của dung dịch bảo quản hoa từ 3-3,5 nhằm ngăn cản sự phát triển của nấm khuẩn và sử dụng một số hoá chất kháng nấm khuẩn như axit benzoic, chlorin, 8- hydroxy quinonlene citrate
2.6 CÁC PHƯƠNG PHÁP BẢO QUẢN HOA CẮT
2.6.1 Bảo quản lạnh
Bảo quản lạnh là cách tốt nhất để hạn chế các hư hỏng sinh lý và bệnh lý trên hoa cắt Nhiệt độ thấp làm giảm hô hấp và các hoạt động trao đổi chất khác, giảm thoát hơi nước, giảm sự sản sinh cũng như tác động của Ethylen và giảm sinh trưởng của nấm, khuẩn
Trang 19Các loại hoa cắt có nguồn gốc ôn đới như: cẩm chướng, loa kèn, thược dược, yêu cầu nhiệt độ ở 0-100 C Các loại hoa cắt có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới rất mẫn cảm với hư hỏng lạnh nên đòi hỏi nhiệt độ bảo quản cao hơn: lay ơn (2-40C), lan (7-100C).
Nhiệt độ tối thích cho hoa cắt bảo quản là vấn đề quan trọng Hoa có nguồn gốc
ôn đới cần nhiệt độ bảo quản thấp hơn hoa có nguồn gốc á nhiệt đới Hoa ở giai đoạn
nụ cần nhiệt độ thấp hơn hoa cắt đã nở một phần hoặc nở hoàn toàn
Mốt số ưu điểm của tồn trữ lạnh hoa cắt:
Bảo quản lạnh hạn chế được cường độ hô hấp của hoa: Theo quy tắc Vanhoff ở một khoảng nhiệt độ nhất định, khi nhiệt độ tăng thì hô hấp cũng tăng, khi nhiệt độ tăng 100C thì vận tốc phản ứng tăng gấp đôi, khi nhiệt giảm thì cường độ hô hấp cũng giảm, sự hao hụt chất khô trong hoa giảm sẽ tăng tuổi thọ của hoa Bảo quản lạnh làm giảm sự sản sinh Etylen: Etylen là hoocmon gây già hóa Nhiệt độ thấp có tác dụng làm giảm sự sản sinh và hoạt động của Etylen dẫn đến hạn chế quá trình già hóa
Bảo quản lạnh còn giảm dịch hại: Nhiệt độ thấp hạn chế sự phát triển của vi sinh vật, giảm sự lây nhiễm nấm hại hoa
Bên cạnh những tác động tích cực, nhiệt độ thấp cũng gây ra một số tác động xấu như:
Do độ ẩm tương đối trong kho lạnh thấp (65 – 75%) tốc độ thoát hơi nước của hoa cắt tăng lên đáng kể Để hoa không héo, khi hoa bảo quản lạnh cần bao gói bằng các vật liệu có khả năng ngăn cản sự thoát hơi nước như túi polyetylen
Các rối loạn sinh lý do lạnh nếu bảo quản hoa dài ngày ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt
độ cho phép Các triệu chứng bệnh lý xuất hiện trên lá, hoa, cành giống biểu hiện do dịch hại
2.6.2 Bảo quản trong khí quyển điều chỉnh
2.6.2.1 Bảo quản trong khí quyển kiểm soát.
Phòng tồn trữ kín, lạnh hoặc không lạnh, có hệ thống thông gió và cung cấp khí oxi, nitơ, CO2 với các thiết bị đo nhiệt độ, độ ẩm, nồng độ các khí này được điều chỉnh
tự động Vì tất cả các thông số kể cả nồng độ các khí được đo và kiểm soát một cánh chặt chẽ nên phương pháp này được gọi là tồn trữ trong môi trường khí quyển kiểm soát Phương pháp này cho chất lượng hoa tốt nhưng tốn kém vì thiết bị đắt Do chi phí tồn trữ cao nên phương pháp này chưa được sử dụng phổ biến ở nước ta
Trang 202.6.2.2 Bảo quản trong khí quyển cải biến
Người ta thường dùng các túi chất dẻo như PE, PVC để bao gói hoa cắt Thành phần không khí trong túi trong quá trình bảo quản bị thay đổi do hô hấp của hoa trong túi Tùy theo lượng chiếm chỗ của hoa so với thể tích túi, giống loại và độ nở cuả hoa, nhiệt độ của môi trường và tính thấm khí của túi mà sự hô hấp, sự bốc hơi nuớc cũng như thời hạn tồn trữ của hoa khác nhau
2.6.3 Bảo quản bằng hóa chất
Dùng hóa chất bảo quản để bảo quản hoa hoa là một phương pháp vô hại vì nó không hoặc ít ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng Phương pháp bảo quản này cho chất lượng hoa tương đối cao đồng thời ít tốn kém Hoa cắt còn có ưu điểm khác
so với nông sản khác là có khả năng hấp thụ nước, dinh dưỡng, các chất khoáng do vết cắt Do đó sử dụng một dung dịch hóa chất hợp lý để bảo quản hoa đúng cách
Quá trình già hóa ở hoa liên quan tới một số hiện tượng như:
Sự giảm hàm lượng nước
Sự giảm Hidratcacbon và các chất dự trữ khác
Sự tăng sản sinh và tác động của Etylen
Sự giảm hấp thụ nước của hoa
Sự xuất hiện nấm khuẩn ở cuống hoaHóa chất dùng bảo quản hoa thường có
Chất dinh dưỡng như đường SaccarozaChất sát khuẩn như cồn
đó hàm lượng đường trong lúc này giảm dần Để cung cấp thêm cho hoa, dung dịch có thể là đường Glucoza hoặc đường Saccaroza
2.6.3.2 Chất kích thích sinh trưởng thực vật
Axit Gibberelic (GA3) là chất kích thích sinh trưởng ở thực vật được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp ở nhiều nước Những tác động chủ yếu của GA3là:
Trang 21Tăng sinh trưởng, kích thích vào năng suất của rau quảPhá vỡ sự ngủ nghỉ của hạt giống và củ giống
Tăng phẩm chất của quảKéo dài quá trình chínChống sự già hóa
Với hoa cắt GA3 có tác dụng kích thích và kéo dài tuổi thọ của hoa, chống sự sản sinh Etylen, giữ cho cánh hoa mềm nhưng không bị rụng