trong nước và đất, hiện tượng phú dưỡng nguồn nước mặt, liên quan đến quá trình tích luỹ lân và đạm.Việc sử dụng các loại phân bón chua với lượng lớn và liên tục có thể làm đất bị chua,
Trang 1Chương 1 - Nhu cầu sử dụng phân bón trong sản xuất nông nghiệp
1.Vai trò của phân bón trong sản xuất nông nghiệp (1,5 tiết)
Việc bón phân hợp lý cho cây trồng mang lại nhiều lợi ích như: tăng năng suất, phẩm chất nông sản; ổn định và tăng độ phì của đất; tăng thu nhập cho người sản xuất bảo vệ môi trường
1.1 Vai trò của phân bón đối với năng suất cây trồng
1.1.1 Phân bón với năng suất và sản lượng cây trồng
Qua điều tra, tổng kết về vai trò của phân bón với cây trồng ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam cho thấy: Trong số các biện pháp kỹ thuật trồng trọt liên hoàn (làm đất, giống, mật độ gieo trồng, BVTV ), bón phân luôn là biện pháp kỹ thuật có ảnh
hưởng lớn nhất, quyết định nhất đối với năng suất và sản lượng cây trồng Giống mới cũng chỉ phát huy được tiềm năng của mình, cho năng suất cao khi được bón đủ phân và bón hợp lý.
Từ thực tiễn sản xuất ở các nước này cũng cho thấy: Không có phân hoá học thì không có năng suất cao Ở các nước có hệ thống nông nghiệp phát triển trong hơn
100 năm trở lại đây (từ khi bắt đầu sử dụng phân bón hoá học), việc sử dụng phân khoáng làm tăng hơn 60% năng suất cây trồng
Cách mạng xanh ở Ấn Độ: Năm 1950, khi nông dân Ấn Độ chưa biết dùng phân bón chỉ sản xuất được 50 triệu tấn lương thực/năm, bị thiếu đói trầm trọng Năm
1984 nhờ sử dụng 7,8 triệu tấn phân bón/năm đã đưa sản lượng lương thực lên 140 triệu tấn, khắc phục nạn đói triền miên cho Ấn Độ.
Kết quả điều tra của FAO trong thập niên 70 – 80 của thế kỷ 20 trên phạm vi toàn thế giới cho thấy: tính trung bình phân bón quyết định 50% tổng sản lượng nông sản tăng lên hàng năm và bón 1 tấn chất dinh dưỡng nguyên chất thì thu được 10 tấn hạt ngũ cốc.
Ở các nước châu Á, Thái bình dương (1979 – 1989) phân bón làm tăng
75% năng suất lúa
Tổng kết về vai trò của các yếu tố kỹ thuật trong nông nghiệp hiện đại ở Mỹ: Năng suất quyết định bởi 41% do phân khoáng, 15-20% do thuốc bảo vệ thực vật, 15% do hoàn thiện các biện pháp kỹ thuật, 8% do chọn giống và tưới nước, 11-18% do các yếu tố khác.
Trang 2Năm 1997, kết quả điều tra ở Việt Nam tính trung bình phân bón làm tăng38-40% tổng sản lượng, dự báo sẽ lớn hơn có thể tới 75% năng suất lúa và bón 1tấn dinh dưỡng nguyên chất thu được 13 tấn ngũ cốc.
1.1.2 Ảnh hưởng gián tiếp của phân bón tới các biện pháp kỹ thuật trồng trọt làm tăng năng suất cây trồng
Sử dụng phân bón hợp lý luôn là cơ sở quan trọng cho việc phát huy hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật khác (làm đất, giống, mật độ gieo trồng, tưới tiêu, bảo vệ thực vật )
- Làm đất: Để việc cầy sâu trong làm đất đạt hiệu quả cần quan tâm bón phân phù hợp với sự phân bố dinh dưỡng trong các tầng đất Trên đất bạc
màu, sự chênh lệch về độ phì giữa tầng canh tác và các tầng dưới rất lớn, cày sâu
mà bón ít phân và không bón vôi, không những không làm tăng năng suất mà cònlàm giảm năng suất khá rõ so với cày nông
- Giống cây trồng: Các giống cây trồng khác nhau có nhu cầu dinh dưỡng
khác nhau do vậy cần phải bón phân cân đối theo yêu cầu mới phát huy hết tiềmnăng năng suất của giống
Bảng 1.1 Nhu cầu dinh dưỡng của các giống lúa
có tiềm năng năng suất khác nhauGiống lúa Năng suất
Nguồn: Viện Thổ nhưỡng–Nông hoá 2003
- Mật độ gieo trồng và chế độ bón phân có quan hệ rất mật thiết và phức
tạp, phải được xây dựng một cách thích hợp đối với mỗi cây
- Tưới tiêu: Đất được tưới tiêu chủ động làm tăng hiệu quả phân bón, có
khả năng bón nhiều phân để đạt hiệu quả sản xuất cao hơn Yêu cầu về phân bón ởcác vùng có tưới và không tưới khác nhau Đồng thời, phân bón làm giảm lượngnước cần thiết để tạo nên một đơn vị chất khô nên tiết kiệm được lượng nước cầntưới
vd: Kết quả nghiên cứu ở Liên Xô cũ cho thấy hiệu lực của phân trên đất cótưới tăng gấp 2-4 lần trên đất không có tưới
Trang 3- Trong công tác bảo vệ thực vật: bón phân cân đối và hợp lý là cơ sở
quan trọng cho việc quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) đạt hiệu quả tốt tạo cho câytrồng khoẻ mạnh ít sâu bệnh hại, giảm chi phí thuốc bảo vệ thực vật, đem lại thunhập cao cho người trồng trọt Các loại phân lân và kali còn có tác dụng làm tăngtính chống chịu (vd: chịu hạn, chịu rét) cho cây
Vậy: có thể dùng chế độ bón phân tốt để khắc phục những nhược điểm của
kỹ thuật trồng trọt Ngược lại, các biện pháp kỹ thuật khác cũng ảnh hưởng đếnhiệu lực của phân bón Theo tổng kết của FAO có 10 nguyên nhân làm giảm hiệulực của phân bón
Bảng 1.2 Các nguyên nhân làm giảm hiệu lực của phân bón
STT Nguyên nhân làm giảm hiệu lực phân bón Mức độ giảm (%)
6 Vị trí và cách bón phân không thích hợp 5-10
1.2 Vai trò của phân bón đối với chất lượng sản phẩm
1.2.1 Vai trò tích cực của phân bón tới chất lượng sản phẩm
Nhờ bộ rễ cây trồng hút các chất dinh dưỡng có trong đất và phân bón để cung cấp các nguyên tố cần thiết cho mọi hoạt động sống, tạo nên năng suất và chất lượng sản phẩm Phẩm chất nông sản do nhiều loại hợp chất hữu cơ chi phối, và sự hình thành những hợp chất hữu cơ đó là kết quả của những quá trình sinh hoá do nhiều loại men điều khiển Phân bón (nhất là phân kali và vi lượng) tác động mạnh nên tính chất và hàm lượng của các loại men nên cũng có khả năng tạo phẩm chất tốt
Trang 4- Phân Kali: có nhiều ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm của cây trồng,
đặc biệt có ảnh hưởng tới hàm lượng đường, bột và chất lượng sợi
- Vi lượng: Có vai trò chủ yếu là hình thành và kích thích hoạt động của các hệ thống men trong cây Cho nên vi lượng xúc tiến, điều tiết toàn bộ các hoạt
động sống trong cây: Quang hợp, hô hấp, hút khoáng, hình thành, chuyển hoá vàvận chuyển các hợp chất hữu cơ trong cây
- Phân lân: làm tăng phẩm chất các loại rau, cỏ làm thức ăn gia súc và chất
lượng hạt giống
- Phân đạm làm tăng rõ hàm lượng protein và caroten trong sản phẩm, và
làm hàm lượng xenlulo giảm xuống
Vậy: bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng không chỉ làm tăng năng
suất mà còn làm tăng chất lượng sản phẩm về hàm lượng các chất khoáng, protein,đường và vitamin
1.2.2 Bón phân gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng sản phẩm
Thực tế sản xuất đã cho thấy rằng: việc bón thiếu, thừa hay bón phân không cân đối đềulàm giảm chất lượng nông sản Điều này thấy rõ nhất với yếu tố N
- Nếu bón quá nhiều đạm: có thể dẫn đến nhiều bất lợi cho cây trồng và ảnh hưởng xấu
tới chất lượng nông sản: làm tăng tỷ lệ nước trong cây, tăng hàm lượng NO3- trong rau gây tác hạicho người sử dụng, làm giảm tỷ lệ Cu trong chất khô của cỏ có thể gây vô sinh cho bò; cây trồng
dễ bị sâu bệnh, kéo dài thời gian sinh trưởng, gây ô nhiễm môi trường
- Bón thiếu đạm: Cây trồng rút ngắn thời gian sinh trưởng, năng suất phẩm chất giảm vd:
tỷ lệ vitamin B2 trong rau giảm
- Bón thừa kali: làm giảm hàm lượng magiê trong cỏ làm thức ăn gia súc, làm động vật
nhai lại dễ mắc bệnh co cơ đồng cỏ
Vậy: Bón phân không cân đối cho cây trồng tạo ra thức ăn không cân đối, thiếu các
vitamin, thiếu nguyên tố vi lượng khiến người và động vật dù ăn nhiều vẫn không tăng trọng được
và vẫn mắc các bệnh suy dinh dưỡng, thiếu máu, vô sinh…
Trang 51.3 Vai trò của phân bón đối với đất và môi trường
1.3.1 Ảnh hưởng tích cực của phân bón tới môi trường:
Việc bón phân hợp lý cho cây trồng vừa nhằm đạt năng suất cây trồng caothoả đáng với chất lượng tốt, hiệu quả sản xuất cao, đồng thời để ổn định và bảo
vệ được đất trồng trọt Bên cạnh đó bón phân còn có thể làm môi trường tốt hơn,cân đối hơn
- Phân hữu cơ và vôi là các phương tiện cải tạo môi trường đất toàn diện và hiệu quả:
+ Phân hữu cơ về lâu dài có tác dụng làm cho đất có điều kiện tích luỹ
nhiều mùn, dinh dưỡng, nâng cao độ phì của đất, cải thiện tính chất lý, hoá sinhcủa đất trên cơ sở đó có thể tăng lượng phân hoá học để thâm canh đạt hiệu quảcao
+ Bón vôi có tác dụng cải tạo hoá tính, lý tính, sinh tính, giúp cây có thể hút
được nhiều dinh dưỡng từ đất, tạo môi trường pH thích hợp cho cây trồng hút thức
ăn cũng như sinh trưởng và phát triển
- Bón phân hoá học: với liều lượng thích đáng làm tăng cường hoạt động của vi sinh vật có ích, do đó làm tăng cường sự khoáng hoá chất hữu cơ có sẵn trong đất, chuyển độ phì tự nhiên của đất thành độ phì thực tế
+ Bón lân làm tăng cường độ phì một cách rõ rệt, đồng thời lại đảm bảo giữ cho đất khỏi bị hoá chua, vì hầu hết các loại phân lân thông thường đều có
chứa một lượng canxi cao
+ Bón kali có tác dụng cải tạo hàm lượng kali cho đất và tăng cường hiệu quả của phân kali bón về sau.
Vậy: Bón phân hoá học cân đối và hợp lý kết hợp bón phân hữu cơ vừa tạo được năngsuất và chất lượng nông sản tốt, vừa làm đất trở nên tốt hơn
1.3.2 Khả năng gây ảnh hưởng xấu của phân bón tới môi trường
Các loại phân bón có thể tạo ra các chất gây ô nhiễm môi trường nếu chúng
ta bón phân không hợp lý và đúng kỹ thuật
- Khả năng gây ô nhiễm môi trường từ phân hữu cơ có khi còn cao hơn cả phân hoá học Việc sử dụng không hợp lý cộng với khả năng chuyển hoá của phân
ở các điều kiện khác các loại phân hữu cơ có thể tạo ra nhiều chất khí CH4, CO2,
Trang 6H2S… các ion khoáng NO3 vd: Ở Việt Nam do sử dụng phân bắc tươi trong trồngrau đã gây ô nhiễm môi trường đồng thời ảnh hưởng tới sức khoẻ của người sử dụng.
- Các loại phân hoá học (đặc biệt là phân đạm) có thể làm ô nhiễm nitrat nguồn nước ngầm, hiện tượng phản đạm hoá dẫn đến mất đạm, gây ô nhiễm không khí, làm đất hoá chua, hiện tượng tích đọng kim loại nặng Cu, Pb, Zn, Cd trong nước và đất, hiện tượng phú dưỡng nguồn nước mặt, liên quan đến quá trình tích luỹ lân và đạm.Việc sử dụng các loại phân bón chua với lượng lớn và liên tục có thể làm đất bị chua, ảnh hưởng trực tiếp đến cây trồng và còn làm cho
đất tăng tích luỹ các yếu tố độc hại như sắt, nhôm, mangan di động
- Ngoài ra việc bón phân không đủ trả lại lượng chất dinh dưỡng mà cây trồng lấy đi theo sản phẩm thu hoạch, làm suy thoái đất trồng đang là vấn đề môi
trường không nhỏ ở Việt Nam cũng như nhiều nơi trên thế giới
1.4 Phân bón với thu nhập của người sản xuất
Phân bón là yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến năng suất, phẩm chất cây trồng, đồng thời có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu lực của các biện pháp kỹ thuật làm tăng năng suất cây trồng khác nên người sản xuất rất quan tâm đến yếu tố này
Việc sử dụng phân bón hợp lý và hiệu quả làm tăng nhiều thu nhập cho người sản suất Trong sử dụng phân bón, tồn tại một định luật mà dựa vào đó người trồng trọt có thể bón phân để đạt lợi nhuận tối đa từ một đơn vị diện tích trồng trọt thông qua việc xác định
được lượng phân bón và năng suất tối thích kinh tế
Vậy: Phân bón có vai trò rất quan trọng và không thể thiếu được đối với sản xuất nôngnghiệp, là cơ sở cho việc sản xuất nông nghiệp thâm canh đạt hiệu quả cao và bền vững Để sửdụng phân bón đạt hiệu quả cao người sử dụng cần có những hiêủ biết cần thiết về phân bón vàmối quan hệ giữa phân bón với đất và cây trồng
Trang 72 Nhu cầu dinh dưỡng của cây (3 tiết)
3 Khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây của đất (2 tiết)
4 Nhu cầu sử dụng phân bón trong sản xuất nông nghiệp (0,5 tiết)
4.1 Quá trình phát triển các kiến thức về dinh dưỡng cây trồng và sử dụng phân bón
Phân bón đã được loài người sử dụng từ rất lâu đời (khoảng 3000 nămtrước) Loại phân mà loài người sử dụng khi đó là các phân hữu cơ động vật (phânchuồng) rồi sau mở rộng các loại phân hữu cơ khác (phân xanh và tàn tích hữu cơ)vd: Trong sử thi của Odixe của Homes (900 – 7000 TCN) đã nêu việc bón phâncho ruộng nho
Đến khoảng 400 năm trước công nguyên loài người biết cầy vùi tàn thể
thực vật để làm tốt đất Xênôphôn đã nêu biện pháp cày vùi tàn thể thực vật để làmtốt đất
Théophrast (372 – 287 TCN) đã nêu biện pháp độn chuồng để giữ và nâng cao chất lượng phân chuồng Théophrast đã sắp xếp phân chuồng theo thứ tự chất lượng giảm dần như sau: Người - Lợn - Dê - Cừu – Bò đực - Ngựa.
Giữa thế kỷ XVI, Bernard Palissy đã nêu vai trò của chất khoáng trong đất, tro của cây có nguồn gốc từ đất.
Đến đầu thế kỷ XIX, loài người vẫn lầm tưởng rằng cây trồng hút thức
ăn trực tiếp bằng mùn, do chịu ảnh hưởng của thuyết dinh dưỡng mùn của
Aristot
Năm 1840, Liebig (nhà bác học người Đức) đưa ra thuyết dinh dưỡng khoáng của thực vật, thuyết này cho rằng: “Toàn bộ giới thực vật đều được nuôi dưỡng bằng các nguyên tố vô cơ hay nguyên tố khoáng Phân hữu cơ không tác động trực tiếp đến cây qua các chất hữu cơ trong phân bón mà gián tiếp qua sản phẩm phân giải của chất hữu cơ” Liebig còn đưa ra Lý
thuyết bón phân xây dựng trên cơ sở trả lại các nguyên tố dinh dưỡng cho đất saunày còn được gọi là Luật trả lại
Ở Nga, D I Mendeleev đã hướng dẫn làm những thí nghiệm đầu tiên đốivới phân hoá học ở những vùng khác nhau, đặt nền móng cho việc xây dựng mạnglưới phân bón sau này
Trang 8Những kết quả nghiên cứu và luận điểm dinh dưỡng cây trồng nói trên
đã kích thích sự phát triển mạnh mẽ các công trình nghiên cứu về lĩnh vực phân bón Nửa đầu thế kỷ XX Nông hoá học đã đem lại những thành tựu to lớn
cho sản xuất nông nghiệp Ở châu Âu nhờ sử dụng phân hoá học đã đưa sản lượng
tăng gấp 3 lần so với trước khi có phân hoá học Song do quá lạm dụng phân hoá học cũng để lại những hậu quả nghiêm trọng (chất lượng sản phẩm kém,
gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khoẻ con người) Người ta nghingờ vai trò của phân hoá học, muốn loài người quay trở lại nền nông nghiệp hữu
cơ Nhưng nông nghiệp hữu cơ không thể đáp ứng yêu cầu của xã hội và ngườinông dân Buộc loài người phải tìm đến nền nông nghiệp sinh thái bền vững haythâm canh bền vững tổng hợp, thông qua việc sử dụng hợp lý phân hữu cơ và phânhoá học trong hệ thống dinh dưỡng cây trồng tổng hợp (Integrated Plant NutritionSystem - IPNS) hay quản lý dinh dưỡng tổng hợp cho cây trồng (Integrated PlantNutrition Management - IPNM)
4.2 Tình hình sử dụng phân bón
4.2.1 Khái niệm về các chất dinh dưỡng và các loại phân bón cho cây trồng
Các công trình nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng: 92 nguyên tố hoá họccủa bảng tuần hoàn Mendeleep có trong thành phần của cây, trong đó có 15nguyên tố được coi là quan trọng nhất, được chia ra thành các nhóm nguyên tốdinh dưỡng theo tỷ lệ tích luỹ trong cây giảm dần, gồm:
Bảng 1 3 Các chất dinh dưỡng thiết yếu và có ích cho cây trồng
TT
Chất dinh
dưỡng
Ký hiệu Dạng cây hút TT
Chất dinh dưỡng
Ký hiệu Dạng cây hút
-9 Lưu huỳnh S SO 42 -, SO 2 19 Coban Co Co +
10 Sắt Fe Fe ++ , Fe +++ 20 Nhôm Al Al +++
Trang 9- Nitơ (N), lân (P), kali (K), magiê (Mg), canxi (Ca), lưu huỳnh (S) là các
nguyên tố dinh dưỡng chiếm 7,4% trọng lượng chất khô của cây Đây là cácnguyên tố thường không có nhiều trong tự nhiên nên phải quan tâm cung cấpnhiều cho cây trồng bằng phân bón Trong đó:
+ N, P, K: là những nguyên tố thường tích luỹ trong cây với tỷ lệ vài % mà
trong đất thường bị thiếu nên cây trồng cần được cung cấp thêm nhiều bằng phânbón Vì vậy, các nguyên tố dinh dưỡng này là những nguyên tố dinh dưỡng đalượng, các phân chứa các nguyên tố này gọi là phân bón đa lượng
+ Mg, Ca, S: là những nguyên tố chiếm tỷ lệ ít hơn trong cây (khoảng 1%
TLCK), trong đất thường cũng không đủ cho cây trồng Chúng là những nguyên tốdinh dưỡng trung lượng, các phân chứa những nguyên tố này gọi là phân trunglượng
+ Cu, Fe, Mn, Mo, B, Zn (Cl): là những nguyên tố chiếm tỷ lệ rất ít trong
cây (0,6% TLCK) nhưng có vai trò xác định không thể thay thế, đất cũng thườngthiếu Chúng là những nguyên tố dinh dưỡng vi lượng, phân chứa những nguyên
tố này gọi là phân vi lượng
+ Na, Si, Co, Al: là những nguyên tố có ích cho một số cây.Vd: Si cần
nhiều cho lúa, Na: Cần nhiều cho nhóm cây có củ
4.2.2 Tình hình sử dụng phân bón
Nhờ những lợi ích mà phân bón đã mang lại trong việc tăng năng suất,phẩm chất nông sản, tăng thu nhập cho người nông dân mà trong 1 thế kỷ vừa qua
ở trên thế giới, sản xuất và sử dụng phân bón hoá học đã tăng rất mạnh Năm
1906, toàn thế giới chỉ sử dụng tổng lượng phân bón (N + P2O5 + K2O) là 1,9 triệutấn thì đến năm 1999 đã sử dụng 138,22 triệu tấn
Tuy nhiên việc sử dụng phân bón không hợp lý (về liều lượng, tỷ lệ, thờigian bón ) đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng như: chất lượng cây trồng
Trang 10giảm, ô nhiễm nguồn nước, đất, không khí Chính vì vậy trong những năm gầnđây ở những nước phát triển có xu hướng giảm sử dụng phân bón, còn những nướcđang phát triển lại có xu hướng tăng việc sử dụng phân bón.
- Ở Việt Nam, phân bón (phân hữu cơ) cũng đã được người nông dân sử
dụng từ rất lâu đời và có xu hướng tăng dần
Trước năm 1955 việc sử dụng phân bón ở nước ta vẫn còn rất ít chủ yếu làphân chuồng với lượng bón phân bón: 2,7-5,0 tấn/ha
Thập kỷ 60: phong trào nghiên cứu và sử dụng phân hữu cơ (bèo dâu, điềnthanh, than bùn, phân chuồng) vẫn là chủ yếu Phân hoá họrc sử dụng với lượng ít
Thập kỷ 90: phân hoá học sử dụng chiếm 70-80% tổng lượng bón K trởthành yếu tố hạn chế năng suất
4.3 Xu hướng phát triển nông nghiệp và sử dụng phân bón
Lịch sử phát triển nông nghiệp thế giới đã trải qua các hình thức phát triểnnông nghiệp là:
+ Nông nghiệp hữu cơ (nền nông nghiệp sinh học): không dùng phân hoá
học và thuốc bảo vệ thực vật mà thay bằng phân chuồng, phân xanh, tàn dư thựcvật, luân canh cho đất nghỉ để tái tạo độ phì của đất đồng thời dựa vào vi sinh vậtđất và tạo điều kiện phát triển chúng nhằm cung cấp thức ăn cho cây
Nền nông nghiệp này khó có thể đạt năng suất cây trồng cao, vì lượng phân
có hạn, lại có nhiều hạn chế về khả năng cung cấp dinh dưỡng dễ tiêu Kinhnghiệm ở Việt Nam cho thấy, để đạt năng suất lúa 5 tấn/ha phải cung cấp 100 -
120 kg N/ha Nếu chỉ bón bằng phân chuồng thì phải cần hơn 30 tấn/ha mới cungcấp đủ đạm tổng số (trong khi đó chúng ta chỉ cố thể bón trung bình 8-10 tấnPC/ha/năm) Theo Bùi Huy Đáp nếu dựa vào chăn nuôi thì lượng thóc sản xuấtđược trên 1 ha (5 tấn) vừa đủ để nuôi đàn lợn để có 30 tấn PC Chính vì vậy nền
Trang 11nông nghiệp hữu cơ không thể đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày mộttăng với yêu cầu ngày càng cao của con người.
+ Nông nghiệp thâm canh cao: là hình thức phát triển nông nghiệp đã diễn
ra mạnh ở các nước có nông nghiệp phát triển trong thời gian 1950-1974 với việchoá học hoá cao độ (sử dụng tối đa phân hoá học và hoá chất bảo vệ thực vật)nhằm đạt năng suất cây trồng cao với thu nhập lớn nhất dẫn đến hiện tượng suythoái môi trường và chất lượng sản phẩm nông nghiệp bị giảm sút nghiêm trọng
Đứng trước những hạn chế của nền nông nghiệp hữu cơ và nền nông nghiệpthâm canh cao đã đặt ra một vấn đề cho chúng ta đó là phải dùng phân hoá họcnhư thế nào để vừa thâm canh cây trồng đạt năng suất cao, phẩm chất tốt, đạt hiệuquả sản xuất cao mà không làm nguy hại tới môi trường
+ Nông nghiệp thâm canh bền vững tổng hợp: (nền nông nghiệp sinh
thái) Trong nền Nông nghiệp này cùng với giống mới và các biện pháp kỹ thuậttiên tiến, sử dụng phân bón (cả hoá học lẫn hữu cơ) cao, hợp lý về lượng, cân đối
về tỷ lệ trong hệ thống quản lý dinh dưỡng tổng hợp (IPNM-IPNS), sử dụng thuốcbảo vệ thực vật trong hệ thống quản lý dịch hại (IPM), để vẫn đạt năng suất câytrồng cao với phẩm chất tốt đồng thời giảm tới mức tối đa những chất phế thải vàmất chất dinh dưỡng để không làm ô nhiễm môi trường
Đứng trước sức ép của sự tăng dân số (đất chật, người đông) nên để đảmbảo an toàn lương thực theo Uỷ ban dân số & Kế hoạch hoá gia đình năng suất lúabình quân của nước ta ngày càng phải tăng mạnh
Năm 1995 2000 2010 2025Dân số (Triệu người) 75,0 82,6 95,0 116,0
NS lúa cần đạt (tạ/ha) 36,5 40,8 50,0 57,5 Vậy xu hướng phát triển nông nghiệp của Việt Nam chỉ có một con đườngduy nhất là phát triển một nền nông nghiệp thâm canh bền vững tổng hợp - nềnnông nghiệp sinh thái
Trang 12Chương 2 - Các loại phân vô cơ và kỹ thuật sử dụng
1 Phân đạm và kỹ thuật sử dụng (3 tiết)
1.1 Các dạng phân đạm, thành phần, tính chất, chuyển hóa và đặc điểm sử dụng (2 tiết)
1.1.1 Phân đạm amôn
Đặc điểm chung của nhóm phân đạm amôn: N có trong phân đạm ở dạngamôn (NH4+) hay được chuyển hoá thành NH4+ để cây có thể sử dụng dễ dàng,mang điện tích dương (+) nên có thể được keo đất hấp phụ, ít bị rửa trôi phân khiđược bón nhiều vào đất Ngoài ra sau khi bón vào đất các phân amôn có thể bịnitrat hoá (ở nhiệt độ, pH và ẩm độ thích hợp)
* Amoniac khan
- CTHH: NH3
- Thành phần: 82% N (là loại phân đạm có tỷ lệ đạm cao nhất)
- Tính chất: Dạng chất lỏng linh động, không màu, sôi ở 34 0 C, nhanh chuyển sang thể hơi và tăng thể tích nên phải được bảo quản và vận chuyển
trong các bình thép đặc biệt để tránh cháy, nổ gây nguy hiểm, giá thành rất rẻ(bằng 40% của phân amôn nitrat)
- Đặc điểm sử dụng: cần có máy chuyên dùng để đưa trực tiếp chất lỏng vào tầng đất sâu (10-14cm) nhằm tránh mất đạm (vì ngoài không khí amoniac khan nhanh chóng chuyển từ thể lỏng sang thể khí) và để phân hút ẩm trong đất tạo thành NH4OH rồi phân ly thành NH4 + cung cấp đạm cho cây hoặc được keo đất hấp phụ, rồi dần cung cấp cho cây
* Nước amoniac
- CTHH: NH4OH
- Thành phần: 16,5% N (nếu là phụ phẩm của kỹ nghệ luyện cốc) - 20,5% N
(nếu được tổng hợp trực tiếp).
Trang 13+ Khi nước amôniac có trộn thêm NH4NO3 tạo thành một dạng phân đạm lỏng hỗn hợp có tên gọi amônicat (30-50%N) nên tăng hiệu quả sử dụng của phân.
+ Trong nước amoniac, đạm nằm dưới dạng NH3 tự do và NH4OH.
Trong đó NH3 có tỷ lệ cao do vậy cần chú ý trong quá trình bảo quản và vậnchuyển để khỏi bay mất NH3
- Đặc điểm sử dụng:
+ Thường dùng các đường ống bằng nhựa dẫn trực tiếp nước amôniac
từ nơi sản xuất đến nơi sử dụng
+ Phải bón sâu vào đất để tránh mất đạm Phân cũng được keo đất giữ dưới dạng NH4 + , ngoài ra cũng có thể tham gia các quá trình chuyển hoá như các dạng phân amôn khác trong đất.
+ Phân có dạng tinh thể màu trắng hay xám trắng, xám xanh lục, ít hút
ẩm, ít đóng tảng trong bảo quản, dễ bón phân bằng máy
+ Nếu bảo quản phân lâu ở điều kiện nhiệt độ, ẩm độ cao ( 30 0 C) S.A
dễ bị mất đạm ở dạng NH3 Kết quả vừa bị mất N (tạo mùi khai nơi lưu giữ) vừa làm tăng độ chua tự do của phân.
- NH3
(NH4)2 SO4 NH4 HSO4
300C
+ SA có thể bị mất đạm một phần ở thể khí do sau khi phân ly thành NH4+
có thể chuyển thành NH4OH, rồi chuyển tiếp thành NH3
Trang 14NH4OH NH3 + H2O
+ Phân S.A vừa gây chua hoá học do trong thành phần của phân có chứa axit
H2 SO4 tự do, vừa gây chua sinh lý do phân có chứa gốc axit.
+ Phân S.A sử dụng thích hợp trên các loại đất kiềm, đất nghèo lưu huỳnh
(đất xám bạc màu, đất đỏ vàng, đất sử dụng lâu đời) do phân có tác dụng làm giảmtính kiềm và bổ sung lưu huỳnh cho đất
+ Bón liên tục phân S.A, nhất là trên đất chua rất cần bón vôi để trung hoà
độ chua do phân gây ra, cần có kế hoạch bón vôi theo tỷ lệ 1,3 bột đá vôi : 1
phân SA
+ Phối hợp sử dụng SA cùng với phân chuồng, phân lân tự nhiên có tác
dụng trực tiếp cung cấp N đồng thời lại có tác dụng gián tiếp cung cấp lân tốt hơncho cây trồng
+ Không nên bón tập trung phân với số lượng lớn mà cần chia ra bón làm nhiều lần, cần chú ý rải phân cho đều khi sử dụng.
Trang 15+ Để tránh tác dụng xấu mà phân có thể gây ra, không nên sử dụng phân S.A trên đất trũng, lầy thụt, đất phèn, đất mặn vì trong điều kiện yếm khí, giàu chất
hữu cơ, S có trong thành phân của phân dễ bị khử thành H2S có thể gây độc chocây
+ Hạn chế sử dụng phân này trên đất mặn sẽ làm tăng nồng độ SO42 – trongđất, tăng độ mặn của đất
+ Cần bón phân cho đều vì: Phân S.A có khả năng hoà tan nhanh trong nước, nên sau khi được bón vào đất phân nhanh chóng cung cấp NH4 + cho cây trồng, một phần NH4 + được hấp phụ khá chặt trên bề mặt keo đất ở ngay vị trí
So với sulfat đạm phân Clorua đạm có mấy điều bất lợi là:
- Tốc độ Nitrat hoá chậm hơn sulfat đạm
- Bón liên tục dễ gây thiếu lưu huỳnh đối với cây trồng có nhu cầu lưu huỳnh cao
Trang 16- Ion Clo ảnh hưởng xấu tới chất lượng nông sản của nhiều loại cây trồng như: thuốc lá, nho,cam quýt và độc đối với vi sinh vật.
Tuy vậy, ion Clo không bị keo đất giữ nên có thể bị nước mưa rửa trôi, do vậy nếu bónClorua amôn sớm thì các tác hại của ion Clo cũng giảm
- Đặc điểm sử dụng:
+ Đây là loại phân rẻ tiền, có hiệu lực với nhiều loại cây trồng (mía, ngô, cây lấy sợi, cọ
dầu, dừa) nhất là với cây lúa
+ Sử dụng trong thời gian dài cần phải trung hòa độ chua với tỷ lệ 1 NH4Cl : 1,4 CaCO3 hay bón kết hợp với phân chuồng và các loại phân lân thiên nhiên khác.
+ Do phân chứa Cl- nên không bón phân cho những cây mẫn cảm với Cl - , nếu bón
phải bón lót sớm
1.1.2 Phân đạm nitrat
Đặc điểm chung của nhóm phân này: hoà tan mạnh trong nước, chứa N ở dạng NO3-,mạng điện tích âm nên không được đất giữ, dễ được cây hút, dễ bị rửa trôi và tham gia vào quá trìnhphản đạm hoá dẫn đến mất đạm cả ở thể khí Thích hợp cho cây trồng trong điều kiện khó khăn,phân phát huy hiệu lực cao ở đất cạn đều là các phân kiềm sinh lý
* Canxi nitrat
- Công thức hoá học: Ca(NO3)2
- Thành phần: 13,0 – 15,5 % N; 25 -36% CaO Phổ biến nhất là loại phân chứa 15 – 15,5% N và 25% CaO.
của Việt Nam
+ NO3 - không bị đất hấp phụ nên dễ được cây hút, ngay cả trong điều kiện không thuận lợi cho việc hút dinh dưỡng của cây (khô hạn, lạnh, đất chua,
Trang 17mặn ) nhưng cũng dễ bị rửa trôi.
+ Không bị mất đạm ở thể khí như phân đạm amôn, nhưng NO3- nếu
không được cây trồng sử dụng hết, lại dễ bị rửa trôi hoặc tham gia vào quá trình phản nitrat hoá
NO3- NO2- N2
- Đặc điểm sử dụng:
+ Phân Caxi nitrat rất thích hợp với các cây trồng cạn đặc biệt cho các cây gặp điều kiện khó khăn (khô hạn, đất mặn, chua, cây trồng vụ đông, cây trồng trên đất có thành phần cơ giới nặng ).
+ Phân cũng rất thích hợp để bón lót trên đất chua, đất mặn, đất phèn
do tác động làm giảm độ chua của đất
+ Thích hợp để phun lên lá cho cây trồng.
+ Dạng phân đạm này được sử dụng nhiều trong trồng cây không dùng đất (trồng cây trong dung dịch, trong cát, trên giá thể) để vừa cung cấp đạm, vừa cungcấp Ca cho cây
+ Sử dụng cho lúa có hiệu quả không cao do NO3 - dễ bị rửa trôi, nhưng dùng lượng vừa phải để bón thúc ở thời kỳ làm đòng đến trổ bông cho lúa trên đất chua phèn lại có hiệu quả cao.
* Nitrat natri
- Công thức hoá học: NaNO3
- Thành phần : 15 - 16% N, 25 – 26 % Na và một số yếu tố vi lượng
- Tính chất: Dễ hoà tan trong nước, dễ hút ẩm, chảy nước, có tính kiềm Do có nhiều
Na nên dễ làm keo đất phân tán, đất chai lại, không tơi xốp.
- Đặc điểm sử dụng: Thích hợp cho cây có nhu cầu Na cao (củ cải đường), cây lấy rễ và thích hợp bón cho đất chua.
1.1.3 Phân đạm amôn nitrat (đạm hai lá)
Là phân vừa có tính chất của phân Amôn lại vừa có tính chất của phân Nitrat
- CTHH: NH4NO3
Trang 18- Thành phần: amôn nitrat nguyên chất chứa 35% N
Do Amôn nitrat dễ hút nước và chảy rữa, nên các nhà sản xuất thường đưa
thêm chất bổ trợ dễ bảo quản Chất bổ trợ có thể là CaCO3, Sét, hoặc Kisengua.
Do vậy, có nhiều loại phân đạm Amôn nitrat.
Phân amôn nitrat tỷ lệ đạm thấp 22%N.
Phân amôn nitrat tỷ lệ đạm trung bình 26 – 27,5%N.
Phân amôn nitrat tỷ lệ đạm cao 33 – 34,5%N
- Tính chất:
+ Dạng tinh thể thô, màu trắng
+ Là phân chua sinh lý yếu do cây hút NH4+ mạnh hơn để lại NO3-, tạo khả
năng gây chua đất nhưng tác dụng gây chua không cao.
+ Phân không có ion thừa
+ Phân khó bảo quản do hút ẩm mạnh, chảy rữa.
* Phân Urê
Phân đạm Urê hay Cacbomit là dạng phân đạm tiêu biểu của nhóm phânđạm amit và là dạng phân đạm phổ biến nhất trong thực tế sản xuất nông nghiệp ởViệt Nam hiện nay
- CTHH: CO(NH2)2
- Thành phần: Chứa 46% N và không quá 2% biurê (nếu >2% sẽ gây độc
cho hầu hết các loại cây trồng, giảm hiệu quả của phân)
Trang 19- Tính chất:
+ Phân urê có dạng tinh thể, viên tròn như trứng cá, kích thước hạt 1 – 3mm, màu trắng đục hay trắng ngà, không mùi, hoà tan nhanh trong nước, rất linh động
+ Phân urê có thể coi là có phản ứng trung tính sinh lý, do sau khi bón
vào đất urê chuyển hoá thành cacbonat amon tuy tạm thời làm cho đất kiềm nhờphản ứng sau đây:
(NH4)2CO3 + H2O NH4HCO3 + NH4OH
Ion NH4+ được tạo thành có thể được cây, vi sinh vật sử dụng, hoặc keo đấthấp phụ, ngoài ra có thể bị nitrat hoá thành HNO3 mà tạm thời làm cho đất chua.Nhưng sau 1 thời gian cây hút đạm ở hai dạng NH4+ và NO3-, gốc axit và gốc kiềmđều biến mất, nên độ pH trong đất thay đổi không đáng kể
+ Ở nhiệt độ > 20 0 C phân hút ẩm chảy nước, trở nên nhớt và lạnh, có thể vón cục và đóng tảng gây ảnh hưởng xấu đến trạng thái vật lý và sử dụng của phân.
+ Phân urê còn được gọi là phân amôn hiệu quả chậm, do sự chuyển hoá
của urê trong đất thành amôn cần thiết cho việc cung cấp dinh dưỡng thuận lợi chocây lại tuỳ thuộc nhiệt độ, ẩm độ, chất hữu cơ, pH đất, vi sinh vật… Trong đóquan trọng nhất là nhiệt độ Nhiệt độ môi trường 300C quá trình xẩy ra nhanh (3ngày) nhiệt độ thấp 100C quá trình xẩy ra chậm hơn nhiều (10 ngày)
CO(NH2)2 + H2O
VSV
(NH4)2CO3
10 – 300C(10 – 3 ngày)
+ Phân urê có thể bị mất NH3 khi bón vãi phân trực tiếp trên mặt đất
(không vùi phân vào đất sau khi bón) do phân sau khi được chuyển hoá thànhcacbonat amôn, chất này không bền vững, dễ bị phân huỷ thành amoniac vàbicacbonat amon mà dẫn đến mất đạm dưới dạng NH3 Quá trình này xẩy ra mạnhtrong môi trường từ trung tính đến kiềm
Trang 20(NH4)2CO3 pH kiềm NH
3 + NH4HCO3
Khi đất có ẩm, NH3 có thể tạo thành NH4OH mà hạn chế việc mất NH3
NH3 + H2O = NH4OH
+ Phân urê còn có thể bị mất đạm trong điều kiện nhiệt độ cao vì sau
khi đã chuyển thành cacbonat amôn, chất này có thể hợp với nước và CO2 chuyểnthành bicacbonat amôn
+ Phân sử dụng tốt cho nhiều loại cây trồng (do thành phần của phân
không có ion gây hại)
+ Phân có thể sử dụng tốt trên các loại đất khác nhau đặc biệt thích hợp trên đất chua, đất bạc màu, đất rửa trôi mạnh.
+ Phân có thể sử dụng dưới nhiều hình thức: Bón lót, bón thúc, bón vào
đất hoặc phun trên lá, (nên sử dụng phân có hàm lượng biurê thấp tốt nhất là <0,25%; chú ý tới nồng độ dinh dưỡng để phun)
Ví dụ: 1 – 2%: cây hoà thảo
0.5 – 1.0%: cây ăn quả 0.5 – 1.5%: cây rauNồng độ cụ thể còn tuỳ thuộc vào thời kỳ sinh trưởng của cây
+ Urê còn có thể sử dụng cho vào khẩu phần thức ăn chăn nuôi, có nhiều ứng dụng khác trong công nghiệp.
+ Để tránh quá trình amôn hoá phân urê trên mặt đất, dẫn đến mất đạm cần bón phân sâu 10 – 14cm vào đất (bón cho cây trồng cạn cần vùi phân
sâu vào đất hay dùng nước tưới hoà phân đưa phân thấm xuống sâu, bón cho lúa
Trang 21* Phân Canxi xianamit
- Công thức hoá học: CaCN2 được tạo thành do phản ứng của carbua canxi
CaC2 với đạm có 21 – 22%
- Thành phần: 20 – 23% N; 20 – 54% CaO
- Tính chất: Phân nguyên chất có dạng bột màu trắng Phân lẫn tạp chất
có dạng bột màu đen Phân không tan trong nước, dễ gây bỏng và tính sát trùng cao (diệt nấm, bệnh u rễ bắp cải, sâu bọ hung, bổ củi, tuyến trùng, ký sinh trùng gia súc), có phản ứng kiềm.
Bón vào đất CaCN2 thuỷ phân dần dần qua nhiều bước cuối cùng thành urênhư sau:
2CaCN2 + 2H2O Ca(HCN2)2 + Ca(OH)2
(đất hơi chua)2Ca(HCN2)2 + 2H2O -> (CaOH)2CN2 + 3 H2CN2
6Ca(HCN2)2 + 2H2O -> Ca(OH)2 + (H2CN2)2
H2CN2 + H2O CO(NH2)2
- Đặc điểm sử dụng:
+ Bón phải trộn đều với đất và bón trước khi gieo cấy ít nhất 2 – 3 tuần
Vì các chất trung gian hình thành có thể gây độc cho vi sinh vật trong đất
+ Ngoài tác dụng làm phân bón xianamit canxi còn có tác dụng diệt trùng, diệt nấm bệnh do phân chứa 20 – 54% CaO ở dạng rất hoạt động đồng thời thích hợp để cải tạo các loại đất sét và đất đã mất nhiều vôi.
Trang 22+ Có tác dụng làm rụng lá bông để có thể thu hoạch bằng máy
+ Có thể dùng làm phân bón thúc, nhưng phải ủ trước với đất.
1.1.5 Phân đạm hiệu quả chậm
- Khái niệm: Phân đạm tác dụng chậm là các dạng phân đạm có lớp màng bọc hay các chất bổ trợ để phân không tan nhanh mà được giải phóng dần cung cấp cho cây.
Tỷ lệ dinh dưỡng trong phân này thường thấp hơn so với phân thông thường cùng loại vd: ure bọc lưu huỳnh chứa 38% N Hiệu quả phân tăng lên
nhưng giá thành phân cũng tăng cao nên chưa được sử dụng phổ biến
Các loại phân đạm tác dụng chậm đã được sử dụng ở nước ngoài:Urefocmoldehit, ure bọc lưu huỳnh, ure viên to, oxamit…
Trang 231.2 Kỹ thuật bón phân đạm (1tiết)
Để đảm bảo bón phân đạm cho cây trồng đạt hiệu quả cao, tránh ảnh hưởngxấu mà phân có thể gây ra cho cây trồng và môi trường, khi sử dụng phân đạmcần chú ý những điểm sau:
1.2.1 Trong bón phân cho cây trồng không thể thiếu việc bón phân đạm, bón phân đạm là cơ sở cho việc bón các loại phân khác cho cây, bón phân đạm là then chốt của việc bón phân cho cây trồng.
+ Bón phân đạm cho hiệu quả cao, có ảnh hưởng quyết định đến hiệu lựcchung của việc bón phân và hiệu lực của từng loại phân bón khác cho cây trồng
+ Khi các điều kiện để cây sinh trưởng tốt được thoã mãn (giống cây, đặcđiểm kỹ thuật canh tác, bón phân cân đối, điều kiện sinh thái….) thì chính mứcbón phân N cho phép khai thác đến mức đối đa tiềm năng năng suất cây trồng
1.2.2 Khi bón phân đạm cần xác định cẩn thận không chỉ về lượng phân bón
mà cả phương pháp bón phân để đảm bảo bón phân đạt hiệu quả cao, đồng thời tránh được những ảnh hưởng xấu có thể xẩy ra đối với cây trồng và môi trường.
+ Nếu bón thiếu đạm so với yêu cầu năng suất của cây trồng, cây sinh
trưởng phát triển kém, năng suất, phẩm chất thấp đồng thời việc cây phải khácthác nhiều đạm từ đất dẫn đến suy kiệt đất và không thể sinh trưởng phát triểnbền vững
+ Nếu bón thừa đạm so với yêu cầu năng suất của cây trồng thì cây phát
triển quá mạnh các cơ quan sinh trưởng, kéo dài thời gian sinh trưởng, tạo điềukiện cho sâu bệnh hại tấn công, gây hiện tượng “lốp”, đổ ở cây hoà thảo, giảmnăng suất và phẩm chất, ảnh hưởng xấu tới môi trường
+ Khi xác định phương pháp bón đạm (thời kỳ bón, vị trí bón và phối hợp dạng phân đạm với các dạng phân khác nhau) không phù hợp điều kiện cây trồng, đất trồng cũng có khả năng làm cho cây bị thiếu hay thừa đạm cục bộ
và cũng có thể gây ảnh hưởng xấu tới cây và môi trường.
Trang 24Vd: Việc bón phân đạm không đúng vị trí, bón phân vào tầng oxy hoá củađất lúa cũng làm phần lớn phân đạm bị mất do phản đạm hoá và rửa trôi bề mặt.Việc trộn phân đạm amôn với các phân có phản ứng kiềm (lân nung chẩy, tro bếp)khi bón sẽ làm mất đạm một cách vô ích.
1.2.3.Những cơ sở xác định lượng phân đạm bón hợp lý cho cây trồng:
+ Đặc điểm sinh lý và mục tiêu năng suất của cây trồng cần đạt: Mỗi
loại cây trồng và ứng với mọi mức năng suất của nó, có đặc điểm sinh lý về nhucầu N khác nhau
Bảng 2.1 Nhu cầu bón đạm của các loại rau (kg N/ha)
đỏ, cải bắp
(sớm)
Cải thìa, bí đỏ, cà rốt muộn, tỏi tây, cải Bixen, cải bắp
Cải bao, dưa chuột, tỏi, su hào, mùi, đậu rau, cà rốt sớm,
cà chua, hành
Đậu trắng, đậu
Hà Lan, hành ta
Nguồn: Nguyễn Như Hà, 2006
Ví dụ: Để đạt năng suất lúa 5 tấn thóc/ha/vụ trên đất PSSH cần hơn 80 –
120 kg N/ha
+ Yếu tố đất đai: Mỗi loại đất trồng có khả năng cung cấp đạm cho cây khác nhau, thể hiện thông qua các chỉ tiêu: Hàm lượng đạm tổng số; hàm lượng
đạm thuỷ phân; tỷ lệ C/N của đất; thành phần cơ giới đất, điều kiện sinh thái đất
Do vậy, nếu trồng cây trên đất có khả năng cung cấp nhiều đạm thì giảm lượng phân bón mà vẫn đạt năng suất cao và ngược lại Thành phần cơ
giới đất nhẹ hoặc nằm ở vị trí thoáng khí (chân vàn, vàn cao) có điều kiện thuận đểquá trình chuyển hoá từ N tổng số đến N dễ tiêu
+ Đặc điểm và tình hình phát triển của cây trồng trước, cho biết khả
năng để lại hay lấy đi nhiều đạm từ đất và từ phân bón cho cây trồng sau trong
hệ thống luân canh
Ví dụ: Cây trồng có khả năng để lại đạm cho đất: cây họ đậu
Trang 25Cây lấy đi nhiều N từ đất: Ngô
Ngoài ra, còn có thể do cây trồng trước phát triển kém và dịch hại, thiên tai mà lượng đạm bón cho nó chưa được sử dụng hết có thể để lại N cho vụ sau.
+ Đặc điểm khí hậu thời tiết vụ tính lượng phân bón: Có liên qua tới khả năng chuyển hoá và cung cấp N của đất nhiều hay ít hơn Vụ đang trồng
có thời tiết thuận lợi có thể giảm lượng bón và ngược lại
Ví dụ: Lượng bón cho lúa mùa thường thấp hơn lúa xuân, do khả năng cungcấp đạm của đất trong điều kiện vụ mùa thường cao hơn vụ xuân
1.2.4 Những cơ sở cho việc xác định thời kỳ bón phân N hợp lý cho cây trồng.
+ Đặc điểm sinh lý của cây trồng về nhu cầu đạm trong quá trình sinh trưởng:
Ở thời kỳ đầu sinh trưởng sinh dưỡng, cây có nhu cầu đạm cao để phát
triển các cơ quan sinh trưởng
Ở giai đoạn sinh trưởng sinh thực, nhu cầu N của cây ít đi, nếu bón thừa
N ở giai đoạn này có nhiều khả năng ảnh hưởng xấu tới cây và không còn khảnăng khắc phục như ở giai đoạn trước
+ Đặc điểm thành phần cơ giới đất.
Đất có thành phần cơ giới nhẹ (có khả năng hấp phụ kém, giữ phân kém):
Nếu bón tập trung 1 lượng phân đạm lớn sẽ dễ dàng mất đạm do rửa trôi Để hạn
chế mất đạm trên đất này phải chia tổng lượng phân đạm cần bón ra làm nhiều lần bón, theo sát nhu cầu của cây ở từng thời kỳ sinh trưởng.
Đối với đất có thành phần cơ giới nặng, do đất có khả năng giữ phân
tốt, lại có thể bón tập trung một lượng phân đạm lớn nhằm cung cấp dinhdưỡng cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng mà không sợ bị mất, giảmđược công bón phân
1.2.5 Những cơ sở cho việc xác định vị trí bón phân N hợp lý cho cây trồng là:
+ Cần tránh bón vãi phân trực tiếp trên mặt đất: do phân N đều là
Trang 26những dạng phân rất linh động, dễ bị mất do rửa trôi hay bay hơi.
+ Cần chú ý đến sự chuyển hoá các loại phân N trong các điều kiện khác
nhau khi bón phân để hạn chế mất N
+ Các dạng phân đạm Nitrat dễ được cây sử dụng ngay cả trong điều kiện
bất thuận, nhưng không được đất hấp phụ nên dễ bị rửa trôi và tham gia vào quátrình phản nitrat hoá Vì vậy, nên bón các phân nitrat cho cây trồng cạn, nếu bóncho lúa chỉ nên bón thúc nông và bón từng ít một theo sát yêu cầu của cây
+ Phân đạm Amôn dễ bị mất trong môi trường kiềm, khô hạn và nhiệt
độ cao vì vậy khi bón các phân này cho cây trồng cạn cần bón sâu và trộn đều vàođất hoặc dùng nước tưới đưa phân xuống sâu Bón phân đạm amôn và urê cho lúacần bón sâu vào tầng khử của đất lúa
Các phân đạm amit cần bón sâu hơn vào trong đất so với các loại phân kháccho phù hợp với yêu cầu của cây trồng
1.2.6 Cần chú ý khắc phục nhược điểm có thể có của phân đạm
Một số loại phân đạm có các nhược điểm như: gây chua đất (S.A), có cácion đi kèm (ion Cl-, ion S) do vậy:
+ Khi bón liên tục các loại phân đạm gây chua (chua hoá học và sinh lý)
cần có kế hoạch, bón vôi cải tạo đất, hay cũng có thể kết hợp sử dụng các dạngđạm gây chua với các loại phân hữu cơ, phân lân thiên nhiên, phân lân nung chảycũng hạn chế được tác dụng gây chua của phân
+ Cần chú ý tới các ion đi kèm có chứa trong phân đạm để vừa tăng
cường hiệu quả phân bón vừa hạn chế tác hại mà chúng có thể gây ra cho câytrồng và đất
Ví dụ: Không nên bón phân đạm có chứa gốc SO42- trên đất yếm khí nghèosắt vì các dạng phân này có thể gây độc cho cây do tạo thành H2S trong quá trìnhchuyển hoá, trong khi đó lại bón rất tốt phân này cho đất trồng cây trên cạn thiếu S
và cho các cây có nhu cầu S cao
Trang 271.2.7 Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phân đạm trong trồng trọt
+ Bón phân đạm đều cho diện tích trồng cây: Trộn phân đạm với cát, đất
bột, phân chuồng mục để tăng khối lượng cho dễ bón, không nên trộn phân đạmamôn với vôi, tro bếp, hay với các loại phân có phản ứng kiềm vì sẽ làm mất đạm
do bay hơi
+ Tránh để thời tiết ảnh hưởng xấu tới việc bón phân: không bón phân
đạm vào lúc trời nắng to, sắp mưa vì có thể làm mất đạm do bay hơi hoặc rửa trôi
+ Áp dụng các biện pháp kỹ thuật trồng trọt tiên tiến (làm đất, giống tốt,
thời vụ và mật độ gieo trồng, tưới nước, luân canh, bón phân cân đối…) và hợp lýkhi bón phân cũng làm tăng hiệu quả sử dụng phân rõ
+ Việc chọn dạng phân đạm bón phù hợp với đối tượng sử dụng (cây
trồng, đất trồng và điều kiện sinh trưởng) sẽ phát huy ưu thế của phân trong điềukiện cụ thể mà làm tăng hiệu lực của phân
2 Phân lân và kỹ thuật sử dụng (2 tiết)
2.1 Các dạng phân lân, thành phần, tính chất, chuyển hóa và đặc điểm sử dụng
2.1.1 Khái niệm về các nhóm phân lân
* Phân loại theo khả năng hoà tan của phân và khả năng đồng hoá lân của cây chia thành 2 nhóm:
- Phân lân dễ tiêu:
+ Chứa lân ở dạng H2PO4- hoà tan trong nước, dễ được cây trồng sử dụngvd: Supe lân đơn, supe lân giàu và supe lân kép
+ Phân lân ở dạng HPO42- ít hoà tan trong nước nhưng hoà tan trong axit yếunên cũng dễ tiêu với cây như: lân nung chảy, phân xỉ lò Tomas, phân lânprexipilat
- Phân lân khó tiêu: là các dạng phân lân có chứa lân ở dạng PO43- khônghoà tan trong nước và axit yếu nên rất khó tiêu đối với cây trồng như apatit,photphorit, phân lèn, bột xương
Trang 28* Phân loại theo dạng sử dụng và phương pháp chế biến chia thành 2 nhóm:
- Phân lân tự nhiên: là các loại phân lân được khai thác từ các nguồn có
sẵn trong tự nhiên apatit, photphorit, phân lèn, bột xương
- Phân lân chế biến: là các loại phân lân chế biến theo công nghệ, do có
quy trình sản xuất khác nhau nên phân biệt: phân lân chế biến bằng axit (supe lân
và phân lân kết tủa) và phân lân chế biến bằng nhiệt (phân nung chảy, phân xỉ lòtomas)
2.1.2 Phân lân tự nhiên
Khái niệm: Phân lân thiên nhiên là các loại phân lân được khai thác từ cácnguồn có sẵn trong tự nhiên như apatit, photphorit, phân lèn, bột xương
* Apatit
Là một loại khoáng phosphas, có nguồn gốc phún xuất, cấu trúc tinh thểhình lục giác, thành phần hoá học ổn định
- Công thức hoá học: Ca10(PO4)6.X2 hay [Ca3(PO4)2] 3.CaX2
X- biểu thị một anion hoá trị I có thể là OH, F, CO3
Thành phần: Chứa 18 42% P2O5 thường > 30%; 22 47% CaO, thường khoảng 40%; 7,7% SiO2; F2 < 3%; R2O3 3%.
- Tính chất: Là một loại khoáng phosphat có nguồn gốc phún xuất, có cấu trúc tinh thể hay vi tinh thể, rắn chắc, màu xám hay xám trắng, có tỷ lệ P 2O5 tan trong axit yếu rất thấp (2,5 – 3,5%) nên không dùng để bón trực tiếp cho cây mà chỉ dùng để chế biến phân hoá học.
Bón phân này vào đất nhờ độ chua có trong đất mà một phần phosphat khó tiêu có thể chuyển thành phosphat hoà tan trong axit yếu.
Các axit yếu được tạo ra do hoạt động của vi sinh vật và rễ cây cũng có
thể chuyển hoá một phần phosphat khó tiêu thành phosphat hoà tan trong axit yếu
Trang 29- Công thức hoá học: Ca10(PO4)6.X2 hay [Ca3(PO4)2]3.CaX2;
+ Khi bón phân này vào đất cũng giống như đối với apatit nhờ độ chua có
trong đất và các axit được tạo ra do hoạt động của vi sinh vật và rễ cây mà hoà tanđược lân cho cây trồng sử dụng
Trang 30- Giữa photphorit và apatit có những đặc điểm khác biệt cần lưu ý sau đây:+ Tỷ lệ P2O5 trong photphorit biến đổi rất lớn ngay trong một mỏ.
+ Tỷ lệ lân dễ tiêu tan trong axit yếu của photphorit cũng cao hơn so vớiapatit
+ Tỷ lệ Secquioxit trong photphorit cao hơn trong apatit
+ Trong photphorit có tỷ lệ chất hữu cơ còn trong apatit không có
+ Tỷ lệ SiO2 và Flo trong photphorit thấp hơn trong apatit nhiều
+ Tỷ lệ CaO trong photphorit thường cao hơn trong apatit Nhưng do apatit
ở Lao Cai của Việt Nam là loại apatit đặc biệt nên tỷ lệ CaO trong apatit Lào Caicao hơn trong photphorit
Do những đặc điểm trên mà photphorit không dùng làm nguyên liệu để sảnxuất phân lân mà thường được sử dụng trực tiếp làm phân bón
+ Tính chất: Như phosphorit dạng bột, tồn tại dưới dạng như đất bột, rời rạcmàu trắng hoặc xám, dễ khai thác, không đóng tảng như photphorit thường
- Xương động vật:
+ Thành phần: Chứa 58 – 62% Ca3(PO4)2; 1 – 2% Mg3(PO4)2; 6 -7 %
Trang 31CaCO3; 1,8 - 2,0% CaF2; 25 – 30% chất hữu cơ; 4 – 5% N.
+ Đặc điểm sử dụng Dùng làm thức ăn cho gia súc (cho gà công nghiệp,vịt) có lợi hơn
Bột xương nghiền còn dùng trong kỹ nghệ lọc đường
* Đặc điểm sử dụng các dạng phân lân thiên nhiên
- Các dạng phân lân thiên nhiên chỉ được dùng để bón lót cho cây trồng và nên bón lót sớm vào đất trong quá trình làm đất, nhằm tạo điều kiện cho quá trình
chuyển hoá từ lân khó tiêu thành lân dễ tiêu
- Nên bón theo hàng, theo hốc, càng gần rễ cây càng tốt.
- Nên bón cho đất có pH < 5, rất ngèo lân (P2O5 < 0,06 %) và bón với liều lượng cao để đảm bảo cho hiệu quả nhanh và rõ.
- Hiệu lực của phân lân thiên nhiên phụ thuộc vào độ mịn của phân và kéo dài qua nhiều vụ Đây là dạng phân lân có hiệu lực tồn tại lâu nhất.
- Phân này chỉ phát huy được hiệu quả khi được bón đủ đạm.
- Nên bón các dạng phân này kết hợp với các loại phân chuồng, phân xanh, phân chua sinh lý, supe lân để làm tăng hiệu lực của phân bón
- Nên bón các phân lân thiên nhiên cho cây phân xanh, cây bộ đậu để
vận dụng khả năng đồng hoá khó tiêu cao của cây phân xanh
- Đây là các dạng phân lân rất thích hợp cho việc bón phân cải tạo đất.
2.1.3 Phân lân chế biến bằng axít
Supe lân (supe photphat) là dạng phân lân thuộc nhóm phân lân chế biếnbằng axit (tác động H2SO4 đặc với quặng apatit để chuyển apatit thành photphat 1Canxi) Có 3 loại supe lân khác nhau trên thế giới: đơn, giàu và kép Ở Việt Namhiện đang chỉ sản xuất phân lân supe đơn
- Công thức hoá học: Ca(H2PO4)2 H2O + CaSO4
- Thành phần: 16 – 18% P2O5 (dao động 14 – 21%); 8 - 12% S; khoảng 23% CaOvà 5% H3PO4; CaSO4 chiếm 40% trọng lượng của phân.
- Tính chất:
Trang 32+ Có mùi hắc, độ ẩm khá, màu xám trắng hay xám sẫm (tuỳ theo nguyên liệu chế biến), dạng bột hay dạng viên.
+ Chứa lân ở dạng H2PO4 - hoà tan trong nước, rất dễ được cây sử dụng Đây là loại phân bón vừa chứa lân vừa chứa lưu huỳnh đều ở dạng rất dễ tiêu đối vối cây.
+ Phân có độ chua hoá học do lượng axit dư trong thành phần của phân,
nhưng cũng chứa lượng khá lớn CaO nên tự có tác dụng khử chua
+ Ở dạng viên phân thường có hàm lượng lân cao hơn, lượng axit thấp hơn
và có thêm các nguyên tố vi lượng hay có các chất khác (mùn) trộn thêm vào
thuận lợi cho cây trồng cạn, hạn chế H2PO4 - tiếp xúc với đất nên nâng cao hiệu lực của phân, tiện lợi hơn cho vận chuyển bảo quản, tạo ra hiệu quả kinh
tế cao Tuy nhiên trong điều kiện ẩm độ cao của Việt Nam, nhất là khi bón cho
cây lúa nước phân viên dễ bị tả thành bột và có hiệu quả không hơn supe dạng bột
+ Khi bón trên đất rất chua, nghèo chất hữu cơ, giàu sắt nhôm di động
photphat hoá trị I của phân có thể tạo thành các phosphat sắt nhôm khó tiêu đối vớicây làm giảm hiệu lực của phân bón này Đồng thời cũng tạo khả năng khử độcnhôm của supe lân ở đất quá chua giàu nhôm di động
Ca(H2PO4)2 + 2Al(OH)3 2AlPO4 + Ca(OH)2 + 4HO
+ Ở đất chua H2PO4- không chỉ phản ứng với Fe3+, Al3+ hoà tan mà còn phảnứng với các oxit ngậm nước: gilesit (Al2O3.3H2O), goethit (Fe2O3 3H2O) tạo thành cácchất không tan nên H2PO4- càng làm giảm hiệu lực của phân
Al2O3.3H2O + H2PO4- AlPO4 2H2O
+ Khi bón trên đất kiềm, phophat hoá trị I của supe lân có thể tạo thành các
photphat khó tiêu với Canxi làm cây trồng không sử dụng được
Ca( H2PO4)2 + 2Ca(HCO3)2 Ca3(PO4)2 + 4H2O + 4CO2
Quá trình hấp thu hoá học trên dẫn đến việc chuyển lân hoà tan trong supe lânthành khó tiêu do môi trường đất chua hay kiềm, có thể giảm đi nhiều nếu trong đất có
Trang 33tỷ lệ mùn cao.
- Đặc điểm sử dụng :
+ Supe lân sử dụng tốt nhất trên đất trung tính, nếu bón cho đất quá chua thì phải bón vôi trước để trung hoà độ chua của đất tới khoảng pH = 6,5 thì phân mới phát huy được hiệu quả Vì trong môi trường chua hay kiềm dạng dinh dưỡng
lân H2PO4- hoà tan trong nước của supe lân sẽ bị sắt, nhôm hay Ca cố định chặt(thành dạng khó tiêu với cây) làm mất ưu thế rất dễ tiêu đối với cây trồng của loạiphân này
+ Supe lân có thể dùng để bón lót, bón thúc cho các loại cây trồng, nhưng bón lót vẫn cho hiệu quả cao nhất Do phân có chứa lân ở dạng hoà tan trong nước nên Supe lân là loại phân lân duy nhất có thể dùng để bón thúc.
+ Đối với đất trồng màu nên dùng supe lân viên để hạn chế việc tiếp xúc
giữa Ca(H2PO4)2 và đất, xẩy ra quá trình hấp thu hoá học (hạn chế việc cố định lân
trong đất) Đối với đất trồng lúa thì supe lân viên và bột có hiệu quả như nhau.
+ Để nâng cao hiệu quả sử dụng của supe lân, nên trộn supe lân với phân lân tự nhiên (apatit, photphorit…) phân chuồng, nước giải trước khi bón
cho cây trồng
+ Bón supe lân cho các loại cây mẫn cảm với lưu huỳnh như: Cây họ
đậu, cây họ thập tự, các loại rau, cây thuốc
+ Phân supe lân chỉ có hiệu quả khi bón cho đất có đủ đạm hoặc được kết hợp cân đối với phân đạm
2.1.4 Phân lân chế biến bằng nhiệt
Là dạng phân lân chế biến bằng cách dùng nhiệt độ cao (Apatit 1400 – 1500o Cphân lân nung chảy) nên còn có tên là phân lân nhiệt luyện hay Tecmophosphat ỞViệt Nam dạng phân này do 2 công ty phân lân nung chảy Văn Điển và Ninh Bìnhsản xuất nên còn thường được gọi là phân lân Văn Điển hay Ninh Bình
- Công thức hoá học: Phức tạp, lân tồn tại dưới dạng tetra canxi phosphat Ca4P2O9 và muối kép tetra canxi phosphat và canxi silicat: Ca4P2O9 CaSiO3.
Trang 34Thành phần: Chứa 15 20% P2O5; 24 30% CaO, 18 20% MgO; 28 30% SiO2; 4,5 - 8,0% R2O3 và một số nguyên tố vi lượng.
Tính chất:
+ Phân có phản ứng kiềm, pH = 8 - 10, dạng bột, viên hay hạt có cạnh sắc, khô (độ ẩm <1%), không hút ẩm, bảo quản dễ, có màu xám đen, óng ánh như thuỷ tinh (nên còn được gọi là phân thuỷ tinh).
+ Phân chứa lân dưới dạng HPO 2- 4, hoà tan trong axit yếu nên cũng dễ tiêu với cây trồng, dễ bảo quản Do phân có tỷ lệ CaO và MgO khá cao, lại có phản ứng kiềm nên rất thích hợp với chân đất bạc màu pH chua, Ca, Mg
(nhất là Mg) bị rửa trôi nhiều
+ Khi bón phân nung chảy vào đất, phân tuy không hoà tan trong nước,
nhưng dưới tác động của độ chua đất, các axit yếu do rễ cây và vi sinh vật có ở
trong đất tiết ra làm cho dạng phân này trở thành dễ tiêu với cây Dạng phân này
có nhiều ưu điểm khi sử dụng trong điều kiện đất lúa ngập nước, đất nghèo
Si, Ca, Mg hay cho các cây có nhu cầu về các chất trên cao.
+ Hiệu lực của phân lân nung chảy phụ thuộc vào độ mịn của phân, tuy
nhiên độ mịn 0,175mm đang được sản xuất được xác định là hợp lý vì nhỏ hơn sẽgây bụi
- Đặc điểm sử dụng:
+ Đây là các dạng phân lân thích hợp nhất cho cây trồng trên đất chua hay cây trồng có phản ứng xấu với độ chua do tính kiềm và khả năng cải tạo
độ chua đất của phân.
+ Phân cũng rất thích hợp cho các loại đất bạc màu, đất trũng, đất đồi chua có pH <5,0 thường thiếu các chất dinh dưỡng Si, Mg, Ca là các chất dinh
dưỡng đi kèm có trong phân lân nung chảy
+ Đây là dạng phân lân thích hợp cho nhiều loại cây trồng, đặc biệt là các cây có nhu cầu Mg, Si, Ca cao Bón dạng phân này cho cây lúa trồng trong
Trang 35điều kiện ngập nước phân trở nên dễ tiêu hơn lại ít rửa trôi, ngoài ra lúa là cây yêucầu Si cao, nhất là trong điều kiện thâm canh.
+ Để đảm bảo hiệu quả dạng phân này cũng chỉ nên dùng để bón lót cho cây (do chứa dinh dưỡng không hoà tan trong nước) Khi bón cho cây trồng cạn cần bón theo hàng, theo hốc, bón càng gần rễ càng tốt nhằm tạo điều kiện cho cây hút lân được tốt hơn.
+ Do phân có phản ứng kiềm, cần tránh trộn phân lân nung chảy với phân đạm amôn và có thể làm mất đạm ở dạng NH3 Cũng không nên dùng phân lân nung chảy để ủ với phân hữu cơ vì có thể làm mất đạm vô cơ trong quá trình phân giải.
2.2 Kỹ thuật sử dụng phân lân
2.2.1 Chọn dạng phân bón:
Để phát huy hết hiệu quả của phân lân đối với cây trồng, trước khi sử dụngphân lân chúng ta cần lựa chọn loại phân lân phù hợp dựa trên các cơ sở sau:
- Căn cứ vào pH đất:
+ Supe lân nên bón trên đất trung tính, khi bón supe lân trên đất chua, trước
đó phải bón vôi để trung hoà độ chua đến pH = 6,5 thì phân này mới phát huy hếthiệu quả
+ Phân lân thiên nhiên, phân lân nung chảy bón cho đất chua, đất bạc màu,đất trũng, đất lầy thụt
- Căn cứ các yếu tố dinh dưỡng đi kèm trong phân lân: cũng có vai trò
quan trọng để nâng cao hiệu quả của phân bón Nhiều trường hợp dạng phân bónnày tỏ ra tốt hơn dạng phân bón kia là do yếu tố dinh dưỡng đi kèm
+ Supe lân do có chứa S nên thể hiện tính ưu việt với các cây có nhu cầu S cao.+ Phân lân nung chảy nhờ có chứa Mg, SiO2 nên thể hiện tính ưu việt rất rõtrên đất thoái hoá rửa trôi mạnh hay khi bón cho các cây trồng có nhu cầu về cácchất này cao
Tuy nhiên, sự phối hợp nhiều loại phân lân trong sử dụng thường cho hiệu
Trang 36quả cao hơn Do mỗi dạng phân lân đều có những ưu điểm và nhược điểm nhấtđịnh sự phối hợp chúng trong sử dụng sẽ phát huy được những ưu điểm, khắc phụcđược nhược điểm của từng dạng phân, tạo nên hiệu quả sử dụng phân bón chungtốt hơn.
2.2.2.Vai trò của đạm đối với hiệu quả của việc bón lân
Phân lân chỉ phát huy tác dụng khi đất có đủ đạm hay được bón cân đối vớiphân đạm theo yêu cầu của cây Trong trồng trọt nếu chưa có khả năng tăng đượclượng phân N bón thì chưa nên tăng lượng lân bón vì sẽ không đem lại hiệu quả
2.2.3 Thời kỳ bón phân lân
Đối với hầu hết tất cả các loại cây trồng ở thời kỳ đầu sinh trưởng (thời
kỳ cây con) rất cần lân để ra rễ và nếu thiếu lân ở thời kỳ này sẽ dẫn đên tình trạng
khủng hoảng lân Hơn nữa lân được tích luỹ vào trong cây ở giai đoạn sinh trưởng trước có thể chuyền hoá để tái sử dụng cho giai đoạn sau khi trong đất thiếu Vì vậy, cần chú ý bón phân lân đủ cho cây trồng ngay từ đầu đối với tất cả
các loại cây trồng Bất cứ loại phân lân nào, cũng lấy bón lót là chính
Việc bón thúc phân lân có thể cần thiết khi cây trồng có biểu hiện thiếu lân,hay vì lý do nào đó chưa bón lót toàn bộ lượng phân lân cần bón Riêng trong sảnxuất hạt giống, rất cần bón thúc phân lân trước thời kỳ hình thành hạt nhằm làmtăng tỷ lệ lân trong hạt giống, làm tăng sức nảy mầm và các chất lượng khác chohạt giống Việc bón thúc phân lân chỉ đạt hiệu quả khi bón bằng phân supe lân
2.2.4 Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phân lân
Để nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phân lân khi sử dụng chúng ta cần chú
Trang 37+ Bón phân lân kết hợp với phân chuồng, theo tỷ lệ so với phân chuồng,
2% đối với supe lân, 3 - 5% đối với photphorit
+ Phối hợp supe lân với các loại lân khác trong sử dụng.
+ Bón phân lân theo đất: Đất chua nghèo lân dùng phân lân thiên nhiên;
đất bạc màu, đất nhẹ nghèo Mg dùng phân lân nung chảy Đất kiềm, trung tínhdùng phân supe lân
+ Bón phân lân theo cây: Ưu tiên bón phân lân cho các cây có nhu cầu lân
cao, cây trồng cạn đặc biệt là các cây ngắn ngày nên bón supe lân, lúa nên bónphân lân nung chảy hay phân lân thiên nhiên, cây bộ đậu và phân xanh nên dùngphân lân thiên nhiên
+ Chỉ supe lân mới có thể được dùng để bón thúc còn các loại phân lân khácchỉ dùng bón lót
2.2.5 Có thể bón phân lân cải tạo và bón lân duy trì
- Bón phân cải tạo: Là bón lượng lân lớn hơn nhiều so với nhu cầu của cây
nhằm làm tăng hàm lượng lân có trong đất đến một mức thoả đáng tạo khả năng
để đất cung cấp lân tốt cho cây và thường làm đối với đất nghèo lân
- Bón phân duy trì: Là bón lượng phân vừa đủ bù đắp lượng lân mà cây
trồng lấy đi hàng năm, để ổn định lượng lân (P2O5) có trong đất
Trong thực tế người ta có thể bón tập trung lượng phân lân lớn của một số
vụ cây trồng vào một lần bón cho cây trồng nào có nhu cầu lân cao nhất trong hệthống luân canh để giảm chi phí vận chuyển và bón phân (tiện cho việc cơ giớihoá) (bón cải tạo)
Tuy nhiên bón một lượng phân lân cải tạo lớn có thể dẫn đến việc cản trở hút cácnguyên tố vi lượng đặc biệt là Zn ở cây (do bị cố định) Ngoài ra khi trong đất cónhiều sắt, nhôm ở dạng hoà tan và khoáng sét nếu bón lượng phân lân quá lớn vàođất chúng dễ chuyển thành dạng khó tiêu hiệu lực còn lại rất thấp gây lãng phí,ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cây Vì vậy cần bón phân đúng lúc
và liên tục để tăng hàm lượng lân dễ tiêu trong đất khác
Trang 383 Phân kali và kỹ thuật sử dụng (2 tiết)
3.1 Các dạng phân kali, thành phần, tính chất, chuyển hóa và đặc điểm sử dụng
Tính chất chung của nhóm phân kali: dễ hoà tan trong nước, đều là phânchua sinh lý, hệ số sử dụng dinh dưỡng cao (60 – 70%)
3.1.1 Nhóm phân kali thiên nhiên và phụ phẩm công nghiệp
- Công thức hoá học: KCl.MgSO4 3H2O, lẫn với NaCl
- Thành phần: Chứa 10- 20% K2O; 8%MgO; và lượng đáng kể Cl và Na
- Tính chất: Dạng tinh thể thô, màu xám hồng, hoà tan trong nước, chuasinh lý
- Đặc điểm sử dụng: Sử dụng tốt cho các cây củ cải đường, cây ăn củ, bắpcải và đất có thành phần cơ giới nhẹ
* Bụi xi măng
- Công thức hoá học: Kali có trong bụi xi măng nằm dưới dạng cacbonat(K2CO3), bicabonat (KHCO3) và Sunphat kali (K2SO4 ) đều là các dạng hoà tantrong nước và khá nhiều CaO
- Thành phần: Chứa 14-38% K2O và khá nhiều CaO
- Đặc điểm sử dụng: Bón tốt trên đất chua, bón cho các loại cây mẫn cảmxấu với Clo có hiệu quả không kém Kalisulfat
* Clouruakali điện phân
Trang 39Là phụ phẩm của quá trình sản xuất magiê (từ karnalit).
- Công thức hoá học: là hỗn hợp các muối KCl với NaCl và MgCl2
- Tính chất: Dạng bột mịn màu vàng chứa 32 – 45 % K2O, ngoài ra cònchứa 8% MgO và 8% Na2O và dưới 50% clo
3.1.2 Phân kali chế biến
* Kali clorua (KCl)
Kali clorua được chế biến từ quặng silvinit (KCl NaCl) dựa vào độ tan khácnhau của hai loại muối này khi tăng nhiệt độ Là loại phân phổ biến nhất trên thếgiới cũng như ở Việt Nam
+ Khi bón vào đất, K+ bị keo đất hấp thu rất mạnh và có thể đẩy các cationkhác (Ca2+, Mg2+, H+, Al3+, Mn2+ ) vào dung dịch đất làm đất mất vôi, hoá chua cókhả năng ảnh hưởng xấu trực tiếp đến sự sinh trưởng của cây và hoạt động của visinh vật có ích trong đất
+ KCl còn là phân chua sinh lý, nên Cl- có trong thành phần của phân còn
có thể làm đất chua đi hơn nữa Vì vậy trên đất chua việc bón phân kali liên tụccần kèm theo việc trung hoà độ chua gây ra nhằm tránh ảnh hưởng xấu tới câytrồng và đất để tăng hiệu lực của phân bón
- Đặc điểm sử dụng:
+ Là loại phân kali có thể dùng để bón lót cho nhiêu loại cây trồng
+ Ion Cl- gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng và có thể cả năng suất củanhiều loại cây trồng (nho, thuốc lá, cam quýt, hành tỏi ) Nhưng do ion Cl- khôngđược keo đất giữ nên khi bắt buộc phải sử dụng các loại phân này cho nhóm cây
Trang 40trồng mẫn cảm thì chúng ta phải tiến hành bón lót sớm.
H,n89y7jui* Kali sulphat
Sunphat kali có thể chế biến bằng phương pháp tạo phản ứng trao đổi giữaKCl và MgSO4
+ Là phân chua sinh lý nên 2
4
SO có trong thành phần của phân còn có thểlàm chua đất đi hơn nữa Vì vậy liên tục bón cho cây đặc biệt cho các cây có nhucầu kali cao và trên những đất có độ bão hoà bazơ thấp làm đất có xu hướng chuađi
* Muối Kali 40%
Là hỗn hợp của KCl với silvinit
- Công thức hoá học: gồm hỗn hợp của NaCl + KCl
- Thành phần: 38 – 42% K2O
- Đặc điểm sử dụng: Sử dụng tốt cho các loại cải củ, khoai lang nhưng có