Tuy không nằm trong trung tâm của “siêu địa chấn” đó, nhưng đối với Việt Nam, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 đã có những tác động không nhỏ đến tình hình kinh tế xã hội trong n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ _
NGUYỄN THỊ THU HOÀI
KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU : ỨNG PHÓ CỦA THẾ GIỚI VÀ CỦA VIỆT NAM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là của riêng Tôi, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận án đều có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận án
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thu Hoài
Trang 3MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT…
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ.……
MỞ ĐẦU……… ………
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU………… ………
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ NHẬN DIỆN CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU 2008………
TRANG 1 3 4 8 27 1.1 Khủng hoảng tài chính toàn cầu: Quan niệm, bản chất, đặc trưng………… 27
1.1.1 Quan niệm về khủng hoảng tài chính và khủng hoảng tài chính toàn cầu……… 27
1.1.2 Những biểu hiện ban đầu, bản chất và tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu… 37
1.1.3 Một số dạng khủng hoảng tài chính đặc thù……… 46
1.2 Nhận diện cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 47
1.2.1 Diễn biến, đặc điểm, nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 49
1.2.2 Tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 đối với nền kinh tế nói chung và các quốc gia nói riêng………… 65
1.3 Các giải pháp chung nhằm ứng phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu 80
1.3.1 Ứng phó bằng chính sách tài khóa và tiền tệ ……… 82
1.3.2 1.3.3 1.3.4 Sử dụng các chính sách nhằm ổn định kinh tế và tạo việc làm
Quan tâm đến chính sách bảo đảm an sinh xã hội
Phối hợp và hợp tác giữa các Nhà nước trong việc ứng phó với khủng hoảng
84
85
86
Trang 4Chương 2: ỨNG PHÓ TOÀN CẦU VÀ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA
TIÊU BIỂU VỚI KHỦNG HOẢNG TÀI CH ÍNH TOÀN CẦU 2008 88
2.1 Khái quát thực trạng việc ứng phó toàn cầu với khủng hoảng tài chính 2008……… … 88
2.1.1 Chính sách tài khóa và tiền tệ……… 89
2.1.2 Chính sách kích thích kinh tế và tạo việc làm……… 96
2.1.3 Chính sách bảo đảm an sinh xã hội……… 100
2.1.4 Phối hợp quốc tế để ứng phó ……… 103
2.2 Ứng phó khủng hoảng tài chính toàn cầu của một số quốc gia tiêu biểu… 106
2.2.1 Các giải pháp ứng phó khủng hoảng tài chính toàn cầu của Chính phủ Hoa Kỳ… 106
2.2.2 Các giải pháp ứng phó khủng hoảng tài chính toàn cầu của Chính phủ Trung Quốc……… 116
2.2.3 Giải pháp ứng phó khủng hoảng tài chính toàn cầu của các nước ASEAN……… 128
2.3 Đánh giá chung về kết quả ứng phó khủng hoảng tài chính toàn cầu của các nước và những kinh nghiệm rút ra 136
2.3.1 Đánh giá chung về các biện pháp ứng phó khủng hoảng tài chính toàn cầu của các nước……… 136
2.3.2 Những kinh nghiệm qua việc ứng phó với khủng hoảng 137
Chương 3: VIỆT NAM VỚI CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU 148
3.1 Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến nền kinh tế Việt Nam và giải pháp ứng phó của Chính phủ………… 148
3.1.1 Tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu đến nền kinh tế Việt Nam 148
3.1.2 Các giải pháp của Việt Nam trong việc ứng phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu toàn cầu 156
Trang 53.2 Những vấn đề mới đặt ra sau khủng hoảng tài chính toàn cầu và giải pháp nhằm tạo sức đề kháng với những tác động từ bên ngoài
và tạo sức bật mới cho nền kinh tế đất nước 172
3.2.1 Những vấn đề mới đặt ra sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 172
3.2.2 Giải pháp nhằm tạo sức đề kháng với những tác động từ bên ngoài và tạo sức bật mới cho nền kinh tế đất nước …… 179
3.3 Một số bài học bổ ích 191
3.3.1 Phân tích, dự báo đúng tình hình; khi khủng hoảng xảy ra cần có những phản ứng chính sách mạnh mẽ và liên tục Tăng cường kiểm soát rủi ro trong hoạt động ngân hàng 191
3.3.2 An sinh xã hội phải đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế 193
3.3.3 Nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường Xác định rõ thể chế kinh tế và cơ chế kinh tế thị trường 194
3.3.4 3.3.5 Nâng cao tính độc lập và tự chủ của nền kinh tế đất nước
Kiên định vận dụng và phát triển sáng tạo những quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về phát triển kinh tế
196 197 KẾT LUẬN……… ………
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1……… ………
PHỤ LỤC 2……… …………
PHỤ LỤC 3……… ………
198
202
204
211
214
218
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
AMC Công ty quản lý tài sản
APEC Tổ chức Hợp tác kinh tế Châu á- Thái Bình Dương
ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam á
ASEAN+3 Là một cơ chế hợp tác giữa ASEAN với Trung Quốc, Hàn Quốc
và Nhật bản BOJ Ngân hàng Trung ương Nhật Bản
CLEEP Tên gọi của chương trình kế sinh nhai toàn diện và việc làm khẩn
cấp của Philippines CNTB Chủ nghĩa tư bản
ECB Ngân hàng Trung ương Châu Âu
Eurozone Khu vực đồng tiền chung Châu âu
FAO Tổ chức lương nông của Liên hợp quốc
FED Cục dự trữ Liên bang Mỹ
G-20 Diễn đàn của 20 nền kinh tế lớn gồm 19 quốc gia có nền kinh tế
lớn nhất (tính theo GDP) và Liên mnh Châu Âu (EU) G7 Bao gồm 7 vị bộ trưởng tài chính của bảy nước kỹ nghệ tiên tiến
trên thế giới: Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Anh, Hoa Kỳ G8 Nhóm 8 quốc gia dân chủ và công nghiệp hàng đầu của thế giới
bao gồm Pháp, Đức, Italy, Nhật, Anh, Hoa Kỳ, Canada và Nga GDP Tổng sản phẩm quốc nội
IDA Hiệp hội phát triển quốc tế
Trang 7ILO Tổ chức lao động quốc tế
IMF Quỹ Tiền tệ quốc tế
IRBD Ngân hàng tái thiết và phát triển Quốc tế
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
Oxfam Tổ chức phi chính phủ quốc tế hoạt động trong lĩnh vực viện trợ
nhân đạo
PBC Ngân hàng Trung ương Trung Quốc
PNPM Chương trình quốc gia về phát triển quyền năng con người của
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN
Trang
Bảng 1.1 Suy giảm trong tăng trưởng ở khu vực Mỹ Latin và
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 như một cơn “siêu địa
chấn” kinh tế với sức tàn phá trầm trọng nhất kể từ sau cuộc Đại suy thoái
1929-1933 Chỉ trong một thời gian ngắn, cuộc khủng hoảng đã để lại những hậu quả rất nghiêm trọng, từ sự sụp đổ hoặc khó khăn trầm trọng của hàng loạt định chế tài chính lớn, cho đến việc ngừng trệ các hoạt động thương mại, sụt giảm tăng trưởng xuất khẩu, đầu tư và tăng trưởng kinh tế toàn cầu
Để ứng phó với “siêu địa chấn” đó, bằng tất cả ý chí, nghị lực và sức mạnh cùng với hàng loạt các giải pháp tổng hợp, cả thế giới và từng nền kinh tế để từng bước khắc phục những tổn hại và di chứng mà cuộc khủng hoảng đó đã gây ra Vừa phối hợp tiến hành hàng loạt các giải pháp khẩn cấp chống đỡ với cơn khủng hoảng, vừa nhanh chóng tổ chức nhiều chương trình nghiên cứu, hội thảo, tranh luận và cả đại tranh luận trên quy mô toàn thế giới, chưa bao giờ vấn đề đi tìm những giải pháp cứu nguy cho nền kinh tế toàn cầu, khu vực và đối với từng nền kinh tế lại được đặc biệt quan tâm đến thế
Có rất nhiều sách báo, kỷ yếu của các cuộc hội thảo quốc tế và khu vực đã viết và bàn về cuộc KHTC toàn cầu này nhưng dường như vẫn chưa đủ và người ta vẫn buộc phải nghĩ về nó, viết về nó vì nó vẫn đang ảnh hưởng và tác động mạnh
mẽ đến đời sống kinh tế xã hội và chính trị của mỗi quốc gia, mỗi khu vực và toàn thế giới Các tổ chức tài chính, các trung tâm nghiên cứu quốc tế và nhiều học giả nổi tiếng vẫn tiếp tục đưa ra dự báo về những di chứng dai dẳng của cuộc đại khủng hoảng này và nguy cơ của các cuộc khủng hoảng mới có thể tiếp tục xảy ra
Tuy không nằm trong trung tâm của “siêu địa chấn” đó, nhưng đối với Việt Nam, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 đã có những tác động không nhỏ đến tình hình kinh tế xã hội trong nước Bằng những nỗ lực cao của chính phủ, của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và tổng lực toàn xã hội, chúng ta đã ứng phó khá thành công đối với cuộc khủng hoảng Nền kinh tế mặc dù đang gặp rất nhiều khó khăn nhưng về cơ bản vẫn tương đối ổn định, xã hội vẫn giữ được bình yên
Trang 10Cho đến nay, ở những mức độ khác nhau, các nền kinh tế trên thế giới đã có những chuyển biến bước đầu, một số nền kinh tế đã tăng trưởng trở lại nhưng rất chậm Kinh tế thế giới vẫn đứng trước những thách thức to lớn, vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường Đó là sự suy thoái kinh tế và nạn thất nghiệp chưa từng
có ở Mỹ, là quốc nạn nợ công ở nhiều nước Tây Âu, thậm chí làm chia rẽ cộng đồng kinh tế Châu Âu về giải quyết vấn đề đó; là sự suy yếu hầu hết các nền kinh tế trên thế giới và sự sụt giảm nghiêm trọng thương mại toàn cầu Chính điều đó làm cho nhiều nhà nghiên cứu kinh tế quan niệm, cuộc khủng hoảng này có phần dịu đi nhưng dường như vẫn tiếp tục với những biến thái mới Có nhiều vấn đề lớn hết sức
bức thiết cả về lý luận lẫn thực tiễn đang đặt ra Một là, những đặc trưng cơ bản nhất của cuộc khủng hoảng này là gì và tại sao lại như vậy? Hai là, việc ứng phó
vừa qua với cuộc khủng hoảng đó đã kịp thời và hiệu quả chưa, nguồn lực đổ vào
việc đó là lớn hay nhỏ, là thừa hay thiếu? Ba là, kết quả ứng phó cuộc khủng hoảng
đã thật chắc chắn chưa, hiệu quả như vậy là cao hay thấp? Bốn là, qua việc ứng phó
với đầy quyết tâm và cố gắng như thế, có thể rút ra những kinh nghiệm gì, đặc biệt
là cách thức để ứng phó với những di chứng của cuộc khủng hoảng này? Và vấn đề cần hết sức quan tâm là từ kinh nghiệm ứng phó với khủng hoảng vừa qua ở thế giới và ở cả trong nước, có thể rút ra bài học gì đối với Việt Nam?
Để góp phần lý giải những điều rất bức thiết lại cơ bản đó, vấn đề “Khủng hoảng tài chính toàn cầu: Ứng phó của thế giới và của Việt Nam " được chọn lựa làm luận án nghiên cứu của tác giả
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu đặc điểm, nguyên nhân và tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 cũng như cách thức cơ bản để ứng phó với nó, từ đó phân tích, đánh giá những kết quả ứng phó với khủng hoảng của cộng đồng quốc tế
và của nước ta để rút ra kinh nghiệm chung, đặc biệt là những bài học quý cho Việt Nam trong việc phòng, chống khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhằm ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đất nước
Trang 112.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Luận án sẽ giải quyết 3 nhiệm vụ cơ bản
- Làm rõ quan niệm, bản chất, biểu hiện, đặc trưng của khủng hoảng tài chính toàn cầu nói chung và nhận diện cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008
- Phân tích những giải pháp cơ bản để ứng phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng như đánh giá hiệu quả của các giải pháp đó và rút ra những kinh nghiệm chung
- Đề xuất một số giải pháp đối với Việt Nam trong việc ngăn ngừa và ứng phó với khủng hoảng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
2008 và việc ứng phó với cuộc khủng hoảng 2008 của cộng đồng quốc tế và của Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Về nội dung
- Luận án không nghiên cứu toàn bộ nội dung của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu mà chỉ nghiên cứu bản chất, đặc điểm, diễn biến, tác động và di
chứng của cuộc khủng hoảng tài chính 2008 để xem xét hướng ứng phó với nó
- Không nghiên cứu toàn bộ quá trình ứng phó với cuộc khủng hoảng này ở tất
cả các nước và tất cả các ngành nghề mà chỉ nghiên cứu thực trạng ứng phó của quốc tế nói chung, đặc biệt là của các nước tác động lớn trực tiếp đến sự ổn định
của kinh tế thế giới và nền kinh tế nước ta như Mỹ ( nước đầu tiên xảy ra khủng
hoảng tài chính 2008); Trung Quốc (nước có vai trò to lớn trong việc ứng phó với khủng hoảng, lại có thể chế tương đồng với Việt Nam); và một số quốc gia trong
khu vực Đông Nam Á
3.2.2 Về không gian
Nghiên cứu cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và quá trình ứng phó trong phạm vi quốc tế và nước ta
3.2.3 Về thời gian
Nghiên cứu cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra từ năm 2008 và ảnh
hưởng của nó cho tới thời gian hiện nay
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
- Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Mácxít và những nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin để nhận diện những nét chính yếu nhất của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và phân tích, đánh giá các giải pháp ứng phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu
- Phương pháp tiếp cận hệ thống để xem xét khủng hoảng tài chính toàn cầu như là một chỉnh thể bao gồm nhiều chủ thể, nhân tố gắn kết hữu cơ với nhau như thể chế, cơ chế, chính sách, tiền tệ, hàng hóa…
- Phương pháp phân tích và phương pháp thống kê được sử dụng trong luận
án để đánh giá những tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới kinh tế thế giới và nền kinh tế Việt Nam Phân tích định tính để đưa ra các nhận xét, đánh giá, làm rõ những hệ quả mà khủng hoảng đã gây ra
- Luận án phân tích và tổng hợp kinh nghiệm của một số nước trong việc ứng phó với khủng hoảng và có sự đối chiếu với Việt Nam để từ đó đưa ra các nhận xét
và khuyến nghị cần thiết
5 Những đóng góp mới của luận án
- Làm sáng tỏ tính toàn cầu của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và vai trò điều tiết của Nhà nước trong việc ứng phó trước những tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu
- Hệ thống hóa những giải pháp ứng phó khủng hoảng của cộng đồng quốc tế
và đúc rút những kinh nghiệm chung từ việc ứng phó với những tác động của khủng hoảng
- Đề xuất một số giải pháp để nền kinh tế nước ta phát triển bền vững, tăng cường khả năng phòng vệ trước các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt, luận án được trình bày gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về khủng hoảng tài chính toàn cầu và nhận diện cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008
Chương 2: Ứng phó toàn cầu và của một số quốc gia tiêu biểu đối với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008
Chương 3: Việt Nam với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Trang 13TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Khủng hoảng tài chính toàn cầu và những tác động của nó đến nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng đã được nhiều học giả trong
và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu Cã thÓ chia thµnh hai nhãm c«ng tr×nh nh-
sau: Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về khủng
hoảng tài chính toàn cầu nói chung đặc biệt là cuộc khủng hoảng 2008 và tác động của nó đối với đối với từng khu vực, đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội và
những giải pháp ứng phó với khủng hoảng Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu
của các tác giả trong nước về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tác động của nó tới kinh tế Việt Nam và các biện pháp ứng phó của Việt Nam
1 Công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Có thể chia các công trình của các tác giả nước ngoài thành 5 nhóm
1.1 Về nhận dạng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Cuốn sách đầu tiên kể đến trong danh sách này là cuốn “The global financial
crisis” (Khñng ho¶ng tµi chÝnh toµn cÇu) của tác giả Noah Berlatsky và Greenhaven
Press; tác phẩm “So sánh suy thoái hiện nay và Đại suy thoái 1930” và tác phẩm The Ascent of Money (Sự đi lên của tiền ) của Ferguson
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã trình bày một cách cô đọng và dễ hiểu nhất về dáng dấp của khủng hoảng tài chính toàn cầu Các tác giả cho rằng, sự
ra đời của trái phiếu (bắt nguồn từ việc một đất nước thuộc đế chế La Mã cần tiền chi trả cho chiến tranh) và thị trường cổ phiếu (do người Hà Lan tạo ra đầu thế kỷ XVII), tài chính, vừa là ngọn nguồn của sự tiến bộ (đưa tiết kiệm vào đầu tư sinh lợi), vừa là mầm mống của sự bất ổn định Kể từ khi “bong bóng” South Sea và
“bong bóng” Mississippi nổ ra ở Anh và Pháp đầu thế kỷ XVIII, sự hoang mang tài chính, sự tăng đột biến trong hoạt động rút tiền gửi và sự sụp đổ của thị trường dần dần trở thành sự kiện thường xuyên của nền kinh tế Bên cạnh đó, các tác giả đã nhận diện cuộc khủng hoảng gần đây khác các cuộc khủng hoảng trong quá khứ Mặc dù vậy, các tác giả vẫn chưa chỉ rõ cuộc khủng hoảng gần đây là không bình thường về tốc độ và bề rộng của nó và loại quốc gia bị ảnh hưởng Bởi lẽ, các cuộc khủng hoảng trong quá khứ, cuộc khủng hoảng đã được giới hạn phần lớn trong các vùng cụ thể hoặc các loại nền kinh tế các nước Bắc Âu trong đầu những năm 1990,
Trang 14châu Mỹ La tinh vào giữa những năm 1990, châu Á vào cuối những năm 1990, và các nền kinh tế thị trường mới nổi của đầu những năm 2000 Cuộc khủng hoảng gần đây là không bình thường trong bản chất toàn cầu, ảnh hưởng đến các quốc gia với một tốc độ và tính độc hại chưa từng thấy kể từ cuộc Đại suy thoái, với các nước lớn và các nước tiên tiến gần đây đã tích hợp với Liên minh châu Âu (EU) ảnh hưởng nhiều nhất
1.2 Về nguyên nhân của cuộc khủng hoảng
Hàng loạt tác phẩm có thể coi là cuộc “Đại phẫu khủng hoảng kinh tế hiện nay”
viết về nguyên nhân cuộc khủng hoảng diễn ra gần đây, đó là các tác phẩm The
Trillion Dollar Meltdown: Easy Money, High Rollers and the Great Credit Cash
( Hàng ngàn tỷ đô la đã bốc khói…) của Charles R Morris Là cây bút có trên dưới
10 cuốn sách viết về kinh doanh và tài chính, Morris là một trong những người đầu tiên nhận ra chính sự nở rộ của hoạt động thế chấp nhập nhằng là đòn kích, châm ngòi cuộc khủng hoảng
Trong những cuốn sách viết về nguyên nhân cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu này, có một phần không nhỏ tập trung phân tích ảnh hưởng của bong bóng bất động sản đối với cơn sóng gió mà thế giới đang phải chống chịu Điển hình
trong những cuốn sách thuộc dòng này là Financial Shock: Global Panic and
Government Bailouts (Cú sốc tài chính: Sự hoảng sợ của toàn cầu và những biện
pháp cứu trợ của Chính phủ) của Mark Zandi và The Housing Boom and Bust ( Sự
bùng nổ và phá sản của thị trường nhà ở) của Thomas Sowell Với cách viết xúc tích và dễ hiểu, Zandi đã đưa ra những thông tin hết sức thú vị về nỗi ám ảnh của người dân Mỹ đối với quyền sở hữu nhà đất Nếu như người Nhật chỉ tiêu xài 1/7 thu nhập cho nhà ở thì tỉ lệ này ở Mỹ là 1/3 Sự ám ảnh thái quá đã khiến Mỹ tiêu dùng nhiều hơn vào bất động sản và là nguyên nhân trực tiếp khiến thị trường địa ốc bùng nổ và dẫn đến khủng hoảng tài chính
Nếu như Financial Shock chỉ dành một phần để nói về sự sụp đổ của thị trường bất động sản thì The Housing Boom and Bust của Sowell lại thực hiện cuộc
đại phẫu toàn bộ những ngóc ngách sâu kín nhất của thị trường ấy Theo ông, những chủ ngân hàng đầu tư và môi giới thế chấp tham lam là nguyên nhân chính đã gây ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Trang 15Hầu hết những cuốn sách kể trên đều nặng về phân tích thì các tác phẩm đầy
kịch tính khi tìm hiểu về cuộc khủng hoảng hiện thời như: House of Cards: A Tale
of Hubris and Wretched Excess on Wall Street (Ngôi nhà làm bằng những quân bài:
Câu chuyện về sự ngạo mạn và sự khốn cùng tột độ ở phố Wall) của William
D.Cohan; cuốn “Nguồn gốc Khủng hoảng tài chính” của George Cooper, xuất bản
bởi NXB Lao Động-Xã Hội, tháng 10/2008; tác phẩm: “Xã hội mở- Cải cách chủ
nghĩa tư bản toàn cầu” của George Endangered và cuốn “Khủng hoảng: Sự thất bại
của chủ nghĩa tư bản?” của tác giả Francis Fukuyaman đã phân tích rằng cuộc
khủng hoảng hiện nay không phải là sự thất bại của chủ nghĩa tư bản, mà là sự thất bại của khuynh hướng tự phát vô chính phủ trong toàn xã hội v.v…
Quan điểm chủ đạo của các cuốn sách trên là lý giải nguyên nhân tại sao nền kinh tế toàn cầu nói chung và nền kinh tế Mỹ nói riêng lại bị mắc kẹt trong đám bong bóng giá tài sản tưởng chừng như vô tận do các cuộc khủng hoảng tín dụng gây
ra, đồng thời miêu tả quá trình tạo nên những vòng quay luẩn quẩn và sau đó, chỉ ra
lý do đằng sau những sai lầm trong chính sách đã làm trầm trọng thêm những chu kỳ
ấy Hệ thống tài chính không vận hành theo các quy luật của thuyết thị trường hiệu quả, như nhận thức phổ biến về kinh tế hiện nay Hệ thống tài chính vốn bất ổn, không hề có trạng thái cân bằng ổn định và thường thiên về hướng tạo nên những chu kỳ bùng vỡ nguy hại Các tác giả cho rằng tình trạng không ổn định này đòi hỏi các ngân hàng trung ương phải quản lý quá trình tạo tín dụng Tuy nhiên, các tác giả cũng lý giải việc các chính sách của ngân hàng trung ương theo thời gian đã trượt từ mục tiêu bình ổn các hoạt động kinh tế sang thái cực ngược lại, khuyếch đại các chu
kỳ bùng – vỡ, làm bất ổn thêm nền kinh tế gây nên khủng hoảng
1.3 Về đặc điểm của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Những cuốn sách đầu tiên thuộc dạng này của các tác giả nước ngoài đã
được dịch sang tiếng Việt là: “The Great Crash 1929” của John Kenneth Galbraith
(Ác mộng đại khủng hoảng 1929, Alpha Books & NXB Trí Thức phát hành) Hay
“The Return of Depression Economics and the Crisis 2008” ( Sự trở lại của kinh tế
học suy thoái và khủng hoảng năm 2008) của nhà kinh tế đoạt giải Nobel Paul Krugman Một loạt cuốn sách kinh điển và nổi tiếng của George Soros như cuốn
Trang 16“The Alchemy of Finance” (Giả kim thuật tài chính) của George Soros và Paul A Volker (1987); Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu của George Soros,
1998 với việc vạch rõ những nguy cơ tiềm ẩn của xã hội mở và các cách thức ứng
phó với nó; cuốn (Mô thức mới cho thị trường tài chính) (2007) Cuốn sách kế tiếp viết về đặc điểm các cuộc khủng hoảng đã được dịch sang tiếng Việt là: “Manial,
Panics and Crashes” ( Hoảng loạn, Hỗn loạn và Cuồng loạn) của tác giả Charles
P.Kindleberger và Robert Z.Aliber, do công ty Sách Alpha dịch và phát hành tháng 9/2009 Súc tích, giàu thông tin Kindleberger đã tiếp cận chủ đề khủng hoảng theo
cách thức khác biệt mà rất ít người lựa chọn Hay Tính bất ổn của hệ thống tài
chính quốc tế của Oliver Davanne, 2000,v.v… Để nhận rõ đặc điểm của cuộc khủng
hoảng lần này, các tác giả đã đưa đến cái nhìn tổng quan sáng tỏ về các cuộc khủng hoảng có ảnh hưởng lớn trong những năm gần đây Đó là cuộc khủng hoảng nợ ở
Mỹ La tinh trong những năm 1980, một thập kỷ đình trệ của kinh tế Nhật Bản trong những năm 1990, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu Á năm 1997-1998 và cuộc khủng hoảng hiện nay Thay vì liệt kê hàng loạt phương trình toán học phức tạp, các tác giả lại lý giải các cuộc khủng hoảng xác thực hơn bằng những giai thoại
và ví dụ thực tiễn Chẳng hạn, Hoảng loạn, Hỗn loạn và Cuồng loạn thâu tóm gần
400 năm lịch sử tài chính thế giới với 10 cuộc khủng hoảng lớn Xuyên suốt cuốn sách, tác giả đưa ra một câu hỏi mấu chốt là liệu những người cho vay cuối cùng có xuất hiện trong các cuộc khủng hoảng đó không, và nếu không thì liệu thực tế có khác đi Việc tăng luồng tiền từ một quốc gia nước ngoài hầu như luôn dẫn đến giá giao dịch chứng khoán trong nước đó tăng khi những nhà đầu tư bán chứng khoán trong nước cho các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng phần lớn tiền thu được để mua các chứng khoán trong nước khác từ những nhà đầu tư nội địa Những người bán này lại làm tương tự, sử dụng số tiền thu được để mua chứng khoán từ những người bán trong nước khác Các giao dịch chứng khoán này đạt mức giá cao chưa từng có dẫn tới bong bóng cổ phiếu Khi bong bóng nổ lập tức hàng loạt vụ sụp đổ và dẫn đến Đại suy thoái? Theo tác giả, khủng hoảng tài chính toàn cầu đối với một tổ chức
là biến cố đặc biệt đe dọa đến sự tồn tại của tổ chức đó Ít nhất nó cũng gây ra những tổn thất về tài sản, tổn hại nghiêm trọng đến hình ảnh và uy tín của tổ chức
Trang 17đú Hay trong “Mụ thức mới cho thị trường tài chớnh” của Soros, tỏc giả đó dựng
kinh nghiệm và lý luận của mỡnh để phõn tớch một cỏch sõu sắc và thẳng thừng cuộc khủng hoảng tài chớnh toàn cầu 2008 Theo tỏc giả, nền kinh tế toàn cầu khụng thể thoỏt khỏi quy luật tăng trưởng rồi suy tàn Khi khủng hoảng xảy ra, người ta coi đú như quy luật tất yếu sau một thời kỳ tăng trưởng núng và là dấu hiệu tốt cho thấy một sức sống mới sắp bắt đầu Từ đú khủng hoảng được coi là biện phỏp đào thải hiệu quả để loại bỏ một số phần tử yếu kộm, lạc hậu và chỉ cú những gỡ thực sự khỏe mạnh mới cú thể tồn tại Những cỏ nhõn, tổ chức và xó hội vượt qua được cỏc cuộc khủng hoảng tài chớnh toàn cầu đó rỳt ra cho mỡnh những bài học lớn, thậm chớ
họ cũn vươn dậy mạnh mẽ và bền vững hơn Nhưng họ sẽ thực hiện như thế nào để vượt qua được khủng hoảng tài chớnh toàn cầu, bài học lớn rỳt ra cho mỡnh sau khủng hoảng là gỡ thỡ cỏc tỏc phẩm trờn chưa chỉ ra giỳp họ
1.4 Về những giải phỏp ứng phú và bài học kinh nghiệm
Tỏc phẩm: The global economic and financial crisis – Regional impacts,
responses and solutions, United Nations publication (Kinh tế toàn cầu và khủng
hoảng tài chính - ảnh h-ởng theo khu vực, phản ứng và giải pháp) Cuốn sỏch lý giải cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã nhanh chóng mở ra một cuộc khủng hoảng kinh tế mà hiện nay có nguy cơ làm thụt lùi các tiến bộ phát triển của những thập kỷ vừa qua và kết đọng thành bi kịch của con ng-ời ở các n-ớc đang phát triển Vấn đề này mang tính toàn cầu: nó ảnh h-ởng tới mọi quốc gia phát triển ở khắp các khu vực và điều này đòi hỏi mỗi quốc gia đ-a ra một chiến l-ợc để giải quyết những thách thức Đồng thời hợp tác liên chính phủ, cả toàn cầu và khu vực tập trung đảm bảo các giải pháp công bằng và hiệu quả Mỗi khu vực đối mặt với những thách thức khác nhau, nh-ng tỏc giả xác định những cơ hội xa hơn cho hợp tác và phối hợp chính sách ở cấp khu vực và liên vùng
Ngày 16-6-2010 nhà kinh tế Edwin Truman, cụng bố bỏo cỏo nghiờn cứu với
tựa đề "Khủng hoảng kinh tế toàn cầu: Bài học và thỏch thức đối với cỏc nước đang
phỏt triển" Nhà kinh tế Edwin Truman nhận định nguyờn nhõn của khủng hoảng cú
thể gồm một vài hoặc cả bốn yếu tố: chớnh sỏch kinh tế vĩ mụ; điều tiết và giỏm sỏt lĩnh vực tài chớnh; kỹ thuật tài chớnh; cỏc thiết chế tài chớnh tư nhõn lớn Trong đú,
Trang 18tiết, giám sát tài chính Cơ chế liên kết tài chính và toàn cầu hóa tuy không phải là nguyên nhân trực tiếp, cũng góp phần làm khủng hoảng trầm trọng hơn Chính sách kinh tế vĩ mô của Mỹ và các nước phát triển đóng góp vào việc châm ngòi khủng hoảng Tại Mỹ, chính sách tài chính đã làm giảm tỷ lệ tiết kiệm và cho phép duy trì trong một thời gian dài các chính sách tiền tệ lỏng lẻo Hậu quả là bùng nổ về nhà ở, kéo theo bùng nổ tín dụng toàn cầu, làm tăng giá cổ phiếu tài chính Sự lỏng lẻo trong quản lý và điều tiết đối với lĩnh vực tài chính, cùng với môi trường kinh tế, tài chính thiếu lành mạnh góp phần làm khủng hoảng trầm trọng hơn Nhưng dù nguyên nhân được xác định là gì, thì cũng có thể thấy cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính đang diễn ra khác với các cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra trong lịch sử
ở hai điểm chính Thứ nhất, chính Mỹ đã châm ngòi cho khủng hoảng, chứ không phải quốc gia nào khác như những lần khủng hoảng trước Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách và chuyên gia kinh tế chưa hề được chuẩn bị trước việc Mỹ rơi vào khủng hoảng, nên chậm đưa ra giải pháp cứu nền kinh tế đầu tàu này của thế giới
Sau gần 3 năm kể từ khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu: Crisis
Management and Resolution: Early Lessons from the Financial Crisis (Quản lý và
giải pháp cho khủng hoảng Những bài học đầu tiên từ cuộc khủng hoảng tài chính)
là một công trình nghiên cứu công phu của IMF năm 2011 Trong đó IMF nhấn mạnh 3 bài học quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách để tránh nguy cơ sa trở lại vào khủng hoảng đó là:
Thứ nhất, IMF tin rằng ổn định tài chính nên tập trung vào việc duy trì sử dụng những chính sách thận trọng vĩ mô nhằm tìm kiếm sự đảm bảo ổn định tài chính bằng cách giảm thiểu sự tích tụ các nguy cơ mang tính hệ thống Các công cụ thận trọng vĩ mô bao gồm các đòi hỏi về vốn, khả năng dự báo thất thoát, khả năng thanh toán tiền mặt Báo cáo của IMF cũng cho rằng tất cả các thể chế hệ thống tiềm năng và thị trường nên hoạt động trong phạm vi điều hành của sự thận trọng vĩ
mô Các ngân hàng Trung ương nên đóng vai trò chủ đạo cho dù họ có hay không đóng vai trò điều tiết chính
Thứ hai, IMF khẳng định rằng ổn định giá nên tiếp tục là mục tiêu chủ đạo của chính sách tiền tệ Báo cáo cho biết "Ngân hàng trung ương phải duy trì sự ổn
Trang 19định về lũng tin đối với ổn định về giỏ mà họ cú được trước khi xảy ra khủng hoảng
và lũng tin này phải được bảo vệ Việc kiểm soỏt và phõn tớch diễn biến và rủi ro của hệ thống tài chớnh cú thể hũa nhập tốt hơn trong việc hỡnh thành thực thi chớnh sỏch tiền tệ"
Thứ ba, IMF tin rằng việc ngõn hàng trung ương cần cú những thay đổi đối với hoạt động tiền mặt và cơ cấu quản lý khủng hoảng Theo cơ quan này, "thay đổi
để tăng cường sự linh hoạt trong cơ cấu tổ chức của cỏc hoạt động của ngõn hàng trung ương sẽ cải thiện khả năng phục hồi của hệ thống" Tuy vậy IMF chưa tiến hành thống kờ những phản ứng chớnh sỏch tiờu biểu mà cỏc quốc gia đó vận dụng trong quỏ trỡnh ứng phú với cuộc khủng hoảng
1.5 Những bài viết tiờu biểu đăng trờn cỏc tạp chớ đề cập đến nhiều khớa cạnh của cuộc khủng hoảng này
Cú thể kể đến như: On the political economy of the Financial crisis and
bailour of 2008, (Về vấn đề kinh tế chớnh trị của cuộc khủng hoảng tài chớnh và giải
phỏp cứu trợ của năm 2008) của Roger D.Congleton đăng trờn tạp chớ Newsweek
Bài viết này cung cấp cái nhìn tổng quan về quyết định kinh tế và chính trị gây ra cuộc khủng hoảng tài chớnh toàn cầu năm 2008 Nó bắt đầu với các nỗ lực của Mỹ thúc đẩy quyền sở hữu nhà đất và những chính sách này cùng với quy định của ngân hàng cuối những năm 1990 đầu những năm 2000 tạo ra gói đầu t- quốc tế chứng khoán thế chấp đòn bẩy cao và rủi ro cao Giá nhà giảm tác động chính tới bảng cân
đối và danh mục đầu t- của các tổ chức tài chính trên toàn thế giới bởi rủi ro của chứng khoán thế chấp bị định giá quá thấp Những ảnh h-ởng của chứng khoán thế chấp gấp đôi hiệu lực thông th-ờng của sự nổ bong bóng nhà đất Bài nghiên cứu kết luận bằng sự thảo luận tính cần thiết của lựa chọn công cộng, kinh tế chính trị hiến pháp và học thuyết điều chỉnh để giải thích sự điều tiết khủng hoảng theo chứng khoán thế chấp
Bài viết: The financial crisis and the policy responses: An empirical analysis of
what went wrong (Khủng hoảng tài chớnh và cỏc chớnh sỏch ứng phú- một phõn tớch
toàn diện về nguyờn nhõn đến thất bại) của John B.Taylor trờn
Trang 20năm 2007 Nó tích hợp và tóm tắt một số dự án nghiên cứu thực nghiệm đang diễn
ra với mục đích học tập từ chính sách tr-ớc đó và từ đó cải thiện chính sách trong t-ơng lai Bằng chứng đ-ợc trình bày qua một số bảng đ-ợc hỗ trợ bằng phân tích số liệu trong dự án nghiên cứu này Nguyên nhân của khủng hoảng tài chính là gì? Điều gì làm nó kéo dài và tại sao nó trở nên tồi tệ hơn một năm sau khi nó bắt đầu? Tỏc giả cho rằng, những nguyên nhân của khủng hoảng tài chính hiện nay là; cho vay thế chấp thiếu thận trọng; hiện tượng bong bóng nhà đất; sự mất cân bằng toàn cầu; sự thiếu minh bạch và trách nhiệm trong tín chấp tài chính; sự lỏng lẻo của
pháp luật và thất bại của hệ thống quản lý rủi ro Cựng đề cập đến vấn đề này, bài:
Causes of the Financial Crisis ( Nguyờn nhõn của khủng hoảng tài chớnh) của tỏc
giả Mark Jickling trờn http://www.au.af.mil đó đưa ra những nhận định khỏ xỏc đỏng Tỏc giả cho rằng những mắc mớ tài chớnh hiện nay chứng tỏ rằng, cỏc khiếm khuyết của thị trường tự do phải được sửa chữa bằng sự can thiệp chủ động và tớch cực của Nhà nước, để cỏc quy luật kinh tế khỏch quan vận động cú lợi nhất cho xó hội Đõy là một quan niệm đỳng, song vấn đề là hiện nay cả thị trường và Nhà nước đều khỏc trước Theo tỏc giả, thế giới đang cần một hướng đi mới trong hành trỡnh tỡm kiếm vai trũ, xỏc định liều lượng và cỏc cụng cụ can thiệp của mụ hỡnh Nhà nước kiểu mới, mang tớnh đại diện cao hơn cho cỏc lợi ớch chung của nhõn loại Trong đú, sẽ cú yờu cầu cao hơn về tăng cường vai trũ của luật phỏp, chế tài, điều tiết Nhà nước, kiểm soỏt cỏc thể chế thị trường và cho vay tớn dụng, thiết lập hệ thống thụng tin cụng khai, minh bạch, phỏt triển cỏc cụng cụ dự bỏo, cảnh bỏo và trừng phạt cỏc sai trỏi và gian lận… sao cho vừa tuõn thủ cỏc yờu cầu và lợi ớch thị trường, vừa khụng làm xấu đi sự ổn định kinh tế vĩ mụ và bảo đảm hài hũa cỏc lợi ớch trong quỏ trỡnh phỏt triển, nhất là khụng lạm dụng sức chịu đựng và đổ gỏnh nặng khủng hoảng lờn người dõn, người tiờu dựng Ngoài ra, cú thể kể đến hàng loạt
cỏc bài viết và cụng trỡnh nghiờn cứu như; The Current Financial Crisis: Causes
and Policy Issues ( Cuộc khủng hoảng tài chớnh hiện nay: Nguyờn nhõn và cỏc giải
phỏp) của Adrian Blundell- Wignall, Paul Atkinson and Se Hoon Lee đăng tải trờn http://www.oecd.org.pdf
Bài: Financial Crisis: Paulson Panics as UK, Germany find own solution (
Trang 21của F.William Engdahl đăng tải trên http://tinyurl.com/ Bài viết: “Long Term
Solutions to the Economic Crisis” (Các giải pháp dài hạn đối với khủng hoảng tài
chính) của DavidJ.Shestokas đăng tải trên Bank blogs Worldbank.org Bài viết:
“Posible’s Solution to the Economic Crisis What Is to be Done” (Các giải pháp có thể đối với khủng hoảng tài chính) của tác giả Paul Craig Roberts, bài: “The
U.S.economic crisis: Causes and solutions”
(Khủng hoảng tài chính Mỹ: Nguyên nhân và giải pháp) của Fred Moseley được
đăng trên tạp chí Newsweek Bài “Global Economic Prospects 2010: Crisis,
Finance and Growth.” ( Triển vọng kinh tế toàn cầu năm 2010; khủng hoảng, tài
chính và tăng trưởng, Washington D.C ) trên tạp chí Worl Bank 2010 Bài: “
Economics is in crisis; it is time for a profound revamp” (Kinh tế học đang bị khủng
hoảng: Đây là thời điểm cho một cuộc đại phẫu sâu rộng) của Grauwe, P.2009 đăng
tải trên tạp chí Financial Times, 21/07/2009, London Bài: “A crisis for the center of
the system” ( Một cuộc khủng hoảng vì trung tâm của hệ thống) của tác giả Kliman,
đăng tải trên , International Socialism, No 120, 10/2008 Bài: “Face it: Marx was
partly righ about capitalism” ( Đối mặt với nó: Trong chừng mực nào đó Mác đã có
lý về CNTB) của Wiliam, R 2009 đăng trên Spectator, 24/09/2008 Bài:
“Financial Crisis: Contending Explanations” ( Khủng hoảng tài chính: Những sự lý
giải gây tranh cãi) của McIntyre R.2008 đăng trên Tạp chí điện tử Rethinking
Marxism Bài: “Capitalist crisis, Marx’s shadow” ( Khủng hoảng CNTB, cái bóng
của Mác) của Wolff đăng tải trên Tạp chí điện tử MR Zine, 09/2008 Bài:
Understanding Subprime Mortgage Crisis” ( Hiểu biết về khủng hoảng cầm cố và
thế chấp) của Federal Reserve Bank of St Louis trên tạp chí của Wordl Bank…
Cuốn s¸ch tËp hîp hàng loạt nh÷ng bµi viÕt vÒ khñng ho¶ng tµi chÝnh Ch©u ¸,
nguyªn nh©n vµ gi¶i ph¸p có thể kể đến các bài viết như: The Asian Financial Crisis
: Origins, implications, and solutions của William C Hunter, Geotge G Kaufman,
and Thomas H Krueger, Edotors (khñng ho¶ng tµi chÝnh Châu Á: Nguồn gốc, tác
động và giải pháp) Bài : The Asian Financial Crisis: causes, contagion and
consequences (Khñng ho¶ng tµi chÝnh Châu Á- Nguyên nhân lây lan và hậu quả)
Bài : Lessons from the financial crisis: causes, consequences, and our economic
Trang 22future ( Bài học từ khñng ho¶ng tµi chÝnh: Nguyên nhân, hậu quả và nền kinh tế
tương lai của chúng ta) Bài : “The Asian Financial Crisis: lessons for a resilient
asia” (Khñng ho¶ng tµi chÝnh Châu Á: Bài học cho một Châu Á có sức bật mạnh
mẽ) Bài: “Asian financial crisis: The role of China and Japan in the post- Asian
crisis era (or solution)”
(Khñng ho¶ng tµi chÝnh Châu Á- Vai trò của Trung Quốc và Nhật Bản trong kỷ
nguyên hậu khủng hoảng (giải pháp)) của tác giả Pettway, Richard H Bài viết: Is
China headed towards an economic crisis ( Liệu Trung Quốc đang tiến về một cuộc
khủng hoảng kinh tế) của Jordon Cooper Bài: The Global Financial Crisis:
Analysis and Policy Implications ( Khủng hoảng tài chính toàn cầu: Phân tích và
các chính sách tác động) của Dick K Nanto, Coordinator được đăng tải trên trang http://www.fas.org/spg/crs/misc
Ý tưởng chung cho hàng loạt các tác phẩm và bài viết trên là một nước nào
đó trải qua càng nhiều chấn động kinh tế, càng nhiều điểm yếu được loại bỏ, và khi kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, càng mạnh hơn trước Hơn nữa, khủng hoảng có thể làm tiền đề cho nền kinh tế những nước công nghiệp phát triển chuyển đổi khoa học kỹ thuật và kinh tế - xã hội lên cấp độ mới Nhìn một cách khách quan cuộc khñng ho¶ng tµi chÝnh toàn cầu bên cạnh việc đã gây ra một loạt các tác động xấu nhưng trong một chừng mực nào đó cũng mang lại những tác động tích cực, đó là đem toàn bộ nền kinh tế Châu Á nói chung và Đông Nam Á, Đông Bắc Á nói riêng
sang một giai đoạn phát triển mới, thoát khỏi tình trạng nóng trước đó
2 Công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước
Có thể chia các công trình của các tác giả trong nước thành 2 nhóm;
2.1 Nhóm công trình dưới dạng sách, tạp chí, đề tài nghiên cứu khoa học đề cập
lý thuyết chung về khủng hoảng tài chính toàn cầu và nhận dạng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lần này
Cuốn sách đầu tiên được kể đến là: “Chủ nghĩa tư bản hiện đại - khủng hoảng kinh tế và điều chỉnh” (NXB Lao động xã hội, 2002) của PGS.TS Lê Bộ
điểm về khủng hoảng kinh tế của C.Mác” của nhóm nghiên cứu Vũ Thùy Linh,
Trang 23đó là cuốn “ Khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng trong kinh tế học” của GS Trần Hữu Dũng do NXB lao động ấn hành Tác phẩm “Khủng hoảng kinh tế theo quan
điểm lịch sử” của nhiều tác giả do Học viện tài chính biên soạn và phát hành năm
2008 Ngoài các nghiên cứu dưới dạng sách trên, ở Việt Nam cũng đã có nhiều bài
nghiên cứu, bài viết có liên quan đến vấn đề này như; “Khủng hoảng tài chính toàn
cầu từ góc nhìn lợi ích” đăng trên tạp chí Cộng sản tháng 5.2009 của tác giả Tạ
Ngọc Tấn Bài “Khñng ho¶ng tµi chÝnh toàn cầu và suy thoái kinh tế- Những thách
thức về lý thuyết kinh tế” bài đăng trong Kỷ yếu kỳ họp thứ 9 Hội đồng lý luận
trung ương tháng 9/2009 của T.S Lê Đăng Doanh Bài viết “Một vài suy nghĩ về
cuộc khñng ho¶ng tµi chÝnh - suy thoái toàn cầu hiện nay và các lý thuyết kinh tế”
đăng trong trong Kỷ yếu kỳ họp thứ 9 Hội đồng lý luận trung ương tháng 9/2009 của PGS.TS Phí Mạnh Hồng Bài “Một số lý thuyết kinh tế chính trên thế giới hiện
nay qua cuộc khñng ho¶ng tµi chÝnh toàn cầu và những vấn đề đặt ra cho Việt nam”( Báo cáo đề dẫn tại Kỳ họp thứ 9 Hội đồng lý luận trung ương tháng 9/2009)
của GS.TS Đỗ Hoài Nam và bài viết: “Một số quan điểm cơ bản của C.Mác và
V.I.Lênin về kinh tế thị trường tự do cạnh tranh và việc vận dụng vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam” đăng trên website Đảng cộng sản 12/2009 của GS.TS Đỗ Thế
Tùng Bài “Kinh tế thị trường Mỹ, hậu quả và giải pháp đối với Việt Nam” của Bùi
Kiến Thành đăng trên http:// www.ecna.gov.vn/ht/List/Baiviet Bài “Đánh giá tổng
quan về tình hình kinh tế thế giới, khu vực sau KHTC và những tác động đến kinh tế Việt Nam ” của Lê Văn Được đăng trên http:// www.ecna.gov.vn/ht/List/Baiviet
Quan điểm chủ đạo trong các bài viết này là
Xuất phát từ các tác giả cho rằng khủng hoảng tài chính h
K
quan trọng trong tiến trình phát triển, là điểm nút làm bộc lộ rõ những mâu thuẫn hoặc mất cân bằng của một hệ thống nhất định do sự tác động của những yếu tố nội tại cũng như bên ngoài quy định sự phát triển của hệ thống đó Đồng thời, hầu hết
Trang 24các tác giả đã nhận định đúng rằng, khi khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 xảy ra, khi nghiên cứu về khủng hoảng, tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng tài chính toàn cầu và các giải pháp để phòng ngừa khủng hoảng, người ta nhìn lại và nhận thấy những lý thuyết của C.Mác không hề lỗi thời, mặc dù tình hình đã thay đổi và có nhiều biểu hiện khác thường nhưng những nguyên lý cơ bản vẫn đúng Tuy vậy, trong các công trình nghiên cứu nêu trên, các tác giả đã không đồng nhất khi nhận diện, đánh giá nguyên nhân và bản chất của cuộc khủng hoảng toàn cầu, thậm chí có người còn đồng nhất nguyên nhân và bản chất của cuộc khủng hoảng
2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu đối với Việt Nam và các biện pháp ứng phó của Chính phủ
Cuốn sách đầu tiên kể đến thuộc nhóm này là: “Khủng hoảng tài chính toàn
cầu và giải pháp của Việt Nam”của NXB Tổng hợp TP.HCM tháng 11/2009 Cuốn
sách này không chỉ cung cấp thông tin về sự kiện khủng hoảng tài chính nói chung
mà còn đưa ra những phân tích, đánh giá thực trạng cũng như triển vọng của các giải pháp khắc phục khủng hoảng tài chính toàn cầu qua các bài viết đã đăng trên
"Thời báo kinh tế Sài Gòn" của các chuyên gia kinh tế uy tín ở trong và ngoài nước như: GS Trần Văn Thọ, TS Vũ Quang Việt, TS Lê Đăng Doanh đặc biệt là các cuộc phỏng vấn hai nhà kinh tế học nổi tiếng thế giới Paul Krugman và Michael Porter nhân dịp hai ông đến Việt Nam Với cách đề cập vừa bao quát vừa mang tính chuyên sâu, nội dung cuốn sách này đã giải đáp nhiều câu hỏi của độc giả về cuộc
khủng hoảng tài chính đã làm chao đảo toàn cầu
Cuốn sách " Giải pháp phòng ngừa khủng hoảng tài chính - Tiền tệ ở Việt
Nam" của Học viện Tài chính xuất bản năm 2003 Nội dung chính của cuốn sách là
trên cơ sở phân loại, hệ thống hoá các quan điểm trong và ngoài nước về khủng hoảng tài chính - tiền tệ, phân tích đánh giá nền tài chính tiền tệ Việt Nam để làm rõ những nguyên nhân, mầm mống có thể gây ra khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Việt Nam hoặc/và chịu tác động nặng nề từ khủng hoảng trong khu vực và toàn cầu từ
đó đề xuất xây dựng hệ thống giải pháp khả thi nhằm tiêu diệt các " mầm mống " có thể gây ra khủng hoảng có tác dụng thiết lập hệ thống phòng ngừa, miễn dịch đối với khủng hoảng cho Việt Nam tương lai
Trang 25Tiếp đó là cuốn sách; “Giảng dạy kinh tế sau khủng hoảng 2008” của
Nguyễn Hoài Bảo, Đại học kinh tế TP.HCM Một trong những nội dung được trình bày trong cuốn sách này là những tranh luận về sự thất bại của lý thuyết kinh tế với
cuộc khủng hoảng 2008 Đề tài mã số B0011 “Khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu
á & tác động của chúng đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam”
đã nghiên cứu nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu Á và những tác động của chúng đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, những thuận lợi, vướng mắc và yếu kém trong việc thu hút FDI, từ đó đề xuất một
số giải pháp cho việc ổn định và phát triển kinh tế trong nước
"Mở mắt ra thấy khủng hoảng, nhắm mắt lại nghe khủng hoảng, chiêm bao màng được khủng hoảng, tỉnh dậy ngộ ra khủng hoảng " đó là tựa đề của cuốn
sách “Đi tìm bóng ma khủng hoảng” của TS Nguyễn Đức Hưởng, Phó Chủ tịch HĐQT - Tổng Giám đốc Ngân hàng Liên Việt, tác giả chủ biên cuốn " Khủng
hoảng tài chính toàn cầu Thách thức với Việt Nam" (Nhà Xuất bản Thanh Niên
-2010) Cuốn sách thể hiện sự công phu của người biên tập trong việc chọn lọc, hệ thống hóa một cách lôgic các sự kiện được quan tâm Điểm trong đó, là lịch sử của các cơn khủng hoảng Qua đó, nhóm tác giả đã tìm ra mối liên kết, phân tích sức ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này với nền kinh tế Việt Nam trong năm 2008 và năm 2009, đặc biệt là trong 3 lĩnh vực: bất động sản, chứng khoán và ngân hàng
Cuốn sách “Khủng hoảng tài chính toàn cầu…, một năm nhìn lại” của GS.TS Đỗ
Hoài Nam, NXB Khoa học xã hội, 2010 đã tổng hợp và đánh giá thực chất của khủng hoảng tài chính toàn cầu và những chính sách đã thực thi của Chính phủ Việt Nam trước khủng hoảng
Cuốn “Giấc mơ trứng vàng” của Ngô Sơn Dương do Alpha Book ấn hành
Cuốn sách mô tả góc nhìn thực tế về thị trường chứng khoán Việt Nam và những mánh khóe trên thị trường Những ai ngủ quên trên đỉnh vinh quang của chứng khoán Việt Nam đều từng trải qua cơn bĩ cực khi con tim đập loạn nhịp với đà tụt dốc không phanh của giá trị các cổ phiếu khi nền kinh tế trải qua những thăng trầm
Ngoài các cuốn sách kể trên, có thể kể đến các bài viết như; “Khủng hoảng tài
chính và suy giảm kinh tế thế giới tác động và ảnh hưởng đến khu vực ASEAN và hệ
Trang 26thống tài chính Việt Nam” của Tiến sĩ Cao Sĩ Kiêm trong hội thảo ASEAN CSK/2009
Bài viết nhận định khủng hoảng không thể hoạch định trước bởi ai đó được Chúng là cấu thành khăng khít của hệ thống chủ nghĩa tư bản thế giới Điều chủ yếu là phải rút
ra được những kết luận đúng từ lịch sử và không phí thờì gian vô ích
Đề tài: “Khủng hoảng tài chính toàn cầu và những tác động đến Việt nam:
Nhìn từ góc độ Ngân hàng và Chứng khoán” của TS Lê Vũ Nam khoa kinh tế-
ĐHQG TP HCM Tư tưởng xuyên suốt của công trình là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang diễn biến hết sức phức tạp với sức công phá nặng nề, là nổi ám ảnh đối với nền kinh tế của nhiều nước Việc ngăn chặn sự tàn phá khủng khiếp của cơn bão Tsunami tài chính này không còn nằm trong phạm vi khả năng của một quốc gia mà trở thành trách nhiệm và sự nỗ lực chung của tất cả các nước, trước hết
là các nước có nền kinh tế lớn Tuy nhiên, đối với mỗi quốc gia, tùy theo đặc thù của nền kinh tế như mức độ hội nhập và trình độ phát triển mà có thể có những giải pháp riêng Trong đó, các giải pháp liên quan đến hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán – vốn là tâm điểm của cuộc khủng hoảng là rất quan trọng
Ngoài các sách và đề tài nêu trên còn có hàng loạt bài viết được đăng tải trên các báo, tạp chí và trên các diễn đàn hội thảo liên quan đến chủ đề khủng hoảng
như; “Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và một số vấn đề đặt ra với Việt nam” của Vũ
Khoan đăng trên tạp chí Cộng sản tháng 5.2009 Bài viết trong hội thảo lý luận lần thứ năm giữa Đảng cộng sản Trung Quốc và Đảng cộng sản Việt Nam tháng
12/2009 “Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường nhìn từ cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu” của GS.TS Vũ Văn Hiền Bài “Công nghiệp Việt Nam ứng phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu” của PSG.TS Phan Đăng Tuất tại hội
thảo lý luận lần thứ năm giữa Đảng cộng sản Trung Quốc và Đảng cộng sản Việt
Nam tháng 12/2009 Bài viết “Thấy gì qua cách ứng phó với khủng hoảng tài chính
toàn cầu của các nước Asean” của tác giả Nguyễn Ngọc Thanh và Phạm Thị Thanh
Bình đăng trên tạp chí cộng sản tháng 3/2010 GS.TS Phùng Hữu Phú với bài viết
“Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến lĩnh vực xã hội của Việt
nam và giải pháp ứng phó”, tại hội thảo lý luận lần thứ năm giữa Đảng cộng sản
Trung Quốc và Đảng cộng sản Việt Nam tháng 12/2009 Trần Văn Thọ, Trần Lê
Trang 27Anh với loạt bài “KHTC Mỹ và những ảnh hưởng với Việt Nam” đăng tải trờn thanhnien.com.vn Bài “Tsunami tài chớnh Mỹ và bài học cho Việt Nam”của Trần
Sỹ Chương đăng trờn httt//www2.sanotc.com TS Nguyễn Trọng Nghĩa với bài
“Khủng hoảng tài chớnh phố Wall: nguyờn nhõn và mức độ tỏc động cú thể tới Việt
Nam” đăng trờn tạp chớ Chứng khoỏn Việt Nam số 11/2008…
Túm lại, qua cỏc cụng trỡnh, tư liệu trong và ngoài nước cú nội dung liờn quan đến chủ đề khủng hoảng tài chớnh toàn cầu cú thể khỏi quỏt ở cỏc nội dung sau:
Một là: Các công trình của các tác giả n-ớc ngoài t-ơng đối đa dạng và đã
phân tích lý giải nhiều nội dung quan trọng liên quan đến khủng hoảng tài chớnh toàn cầu Cú thể sơ bộ chia ra ba quan điểm chớnh của cỏc học giả về khủng hoảng tài chớnh toàn cầu:
+ Quan điểm thứ nhất, cho rằng, khủng hoảng tài chớnh toàn cầu là do sự hoảng loạn của hệ thống ngõn hàng (banking panics), gõy nờn sự co hẹp cung tiền
tệ, dẫn đến sự suy thoỏi trong tổng cầu tiờu dựng và đầu tư Họ bỏ qua những nguyờn nhõn thực như: sự sụt giảm hiệu quả của nền kinh tế, sự suy sụp của nhiều doanh nghiệp Vỡ vậy, theo họ sự can thiệp của Chớnh phủ là khụng cần thiết, và thậm chớ cú hại, bởi vỡ những doanh nghiệp muốn phải để cho bị phỏ sản lại được cứu vớt, gõy nờn sự gia tăng quỏ mức về cung tiền tệ và dẫn tới lạm phỏt Nhúm này
là những người theo chủ thuyết tiền tệ (Monetarists View)
+ Quan điểm thứ hai cú quan niệm rộng hơn về khủng hoảng tài chớnh và tiền
tệ, bao gồm sự sụt giảm hầu hết giỏ trị cổ phiếu, sự vỡ nợ của nhiều cụng ty tài chớnh và phi tài chớnh, nạn giảm phỏt đi kốm với sự rối loạn của thị trường ngoại hối Những yếu tố này gõy nờn sự sụt giảm mạnh về tổng cầu đầu tư và tiờu dựng, vỡ thế cần phải cú sự can thiệp của nhà nước Điều đỏng núi là họ khụng đưa ra một đặc trưng rừ ràng về nguồn gốc của khủng hoảng, để làm tiền đề cho một chớnh sỏch kớch thớch cú hiệu quả Vỡ vậy, sự can thiệp của Chớnh phủ rất dễ dẫn đến lạm phỏt
và trỡ trệ, như những người theo chủ thuyết tiền tệ đó lưu ý Nhúm thứ hai này đối lập với chủ thuyết tiền tệ mà đại diện là Kindleberger (1978) và Misky (1972) + Quan điểm thứ ba nhấn mạnh tới bản chất rủi ro của hoạt động tài chớnh, theo họ, hoạt động của hệ thống tài chớnh, đặc biệt là ngõn hàng, chịu rủi ro cao, do
Trang 28ngõn hàng đầu tư hay tổ chức cho vay thường khụng nắm rừ thụng tin về khả năng sinh lợi và mức độ rủi ro của dự ỏn đầu tư bằng cỏ nhõn hay tổ chức đi vay; tức là những người chủ dự ỏn Sự khỏc biệt về thụng tin (asymetry of information), hay sự thiếu minh bạch về thụng tin dự ỏn, khiến cho hệ thống tài chớnh cú thể cú vấn đề, bởi vỡ ngõn hàng muốn ộp lói suất thực, cộng cỏc phớ dịch vụ cho vay tăng lờn để bự cho rủi ro mất vốn cú thể xảy ra
Cho dự thuộc nhúm nào thỡ các tác giả đều khẳng định nguyờn nhõn trực tiếp
nổ ra cỏc cuộc khủng hoảng tài chớnh toàn cầu là do chớnh sỏch kinh tế vĩ mụ sai lệch, kinh tế ảo mở rộng quỏ mức, thiếu sự giỏm sỏt, quản lý của Chớnh phủ cỏc nước tư bản Đú là thời kỳ tới giới hạn, là một thời điểm lịch sử nguy hiểm, trong
đú người ta sẽ trỏnh được sự kết thỳc thụng qua cỏc điều chỉnh mới bằng cỏch đưa
ra cỏc quyết định và thực hiện sự chuyển đổi Hầu hết những nghiờn cứu của cỏc học giả nước ngoài về khủng hoảng tài chớnh đều hướng đến việc tỡm ra cỏch thức, giải phỏp nhằm giỳp cỏc nền kinh tế vượt qua khủng hoảng, hướng đến thiết lập mụ thức mới bảo đảm cho sự vận hành hiệu quả hơn của hệ thống trong thời kỳ hậu khủng hoảng và trong tương lai
Cú thể núi, về cơ bản, những nghiờn cứu của cỏc học giả nước ngoài dự dưới dạng lý thuyết hay thực tiễn đều đó hàm ý giải quyết những nguy cơ khủng hoảng; trong cỏc nghiờn cứu dự khỏc nhau về phương diện tiếp cận hay khỏc nhau về tớnh chất, thời gian và khụng gian diễn ra cuộc khủng hoảng nhưng việc đi đến cỏc đề xuất vượt qua khủng hoảng luụn được đề cao trong hầu hết cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu Cỏc kết luận được đưa ra trong những nghiờn cứu này cú giỏ trị khoa học cao, một mặt nú là kết quả của việc sử dụng cỏc phương phỏp phõn tớch hiện đại, mặt khỏc nú đó cung cấp một cỏi nhỡn tổng quan về khủng hoảng tài chớnh toàn cầu với cỏch tiếp cận, giải quyết thực tế và khoa học
Tuy nhiờn, cỏch phõn tớch và cỏc quan điểm của cỏc tỏc giả nước ngoài phần nhiều vẫn căn cứ vào cỏc lý thuyết của cỏc học giả tư sản về chớnh sỏch bảo thủ hoặc thuyết tự do mới cũng đi vào luận giải căn nguyờn của khủng hoảng ở những giỏc độ khỏc nhau nhưng để cú thể đưa ra cỏc giải phỏp vượt qua khủng hoảng cỏc tỏc giả đó thường tiếp cận dưới dạng khỏi quỏt thành những lý thuyết hay đỳc rỳt
Trang 29tổng quỏt Điều dễ nhận thấy là, cuối cựng hầu hết cỏc tỏc giả đều thừa nhận vai trũ điều tiết kinh tế của Nhà nước là vụ cựng quan trọng trong việc giải quyết hậu quả
do khủng hoảng tài chớnh toàn cầu gõy ra Cỏc nghiờn cứu đều tập trung vào việc
tỡm kiếm cơ sở cho việc điều tiết kinh tế vĩ mụ cũng như việc vận hành cỏc chớnh sỏch khỏc của nhà nước Trong lựa chọn điều tiết kinh tế vĩ mụ thỡ việc cõn nhắc vai trũ của nhà nước và vai trũ của thị trường luụn là trọng tõm của cỏc nghiờn cứu
Hai là: Những nghiờn cứu của các tác giả trong n-ớc đã b-ớc đầu phân tích
nguyờn nhõn và tác động của khủng hoảng tài chớnh toàn cầu 2008 tới nền kinh tế nước ta, tuy vậy do cũn cú tớnh khỏc biệt về quan niệm hoặc khỏc biệt về cỏch thức tiếp cận nờn cú những ký giải khỏc nhau về bản chất của cuộc khủng hoảng này hay đỏnh giỏ những tỏc động kinh tế, xó hội của chỳng…nhưng dường như cỏc kết quả nghiờn cứu của cỏc tỏc giả trong nước đều trực tiếp, hoặc giỏn tiếp thừa nhận khủng hoảng tài chớnh là một thực tế khỏch quan trong quỏ trỡnh phỏt triển kinh tế, nú được hỡnh thành, tồn tại cựng với sự vận hành của cỏc quỏ trỡnh kinh tế và bựng nổ khi nền kinh tế hoặc một khu vực kinh tế trọng yếu rơi vào trạng thỏi “quỏ núng” Hầu hết cỏc nghiờn cứu đều cho rằng, khủng hoảng tài chớnh toàn cầu là một hiện tượng kinh tế cú hỡnh thỏi biểu hiện đa dạng và khụng nhất thiết gắn với một khụng gian địa lý nhất định; đú là sự thay đổi cỏc trạng thỏi của cựng một sự vật dẫn đến sự biến thỏi của nú, hay núi cỏch khỏc đú là hệ quả tất yếu của những biến đổi trong cỏc điều kiện kinh tế Nú cú thể diễn ra với những mức độ khỏc nhau ở từng quốc gia và từng thời điểm nhưng đều cú thể quy về là sự biểu hiện của những dạng thức
cơ bản của khủng hoảng như khủng hoảng chu kỳ, khủng hoảng cơ cấu hay hỗn hợp nhiều dạng thức khủng hoảng Quan điểm tiếp cận này được ỏp dụng phổ biến trong cỏc nghiờn cứu để từ đó đ-a ra ph-ơng h-ớng, giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của khủng hoảng nhằm gúp phần duy trỡ việc làm và sự ổn định vĩ mụ của nền kinh
tế trong quỏ trỡnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tuy vậy, ở Việt Nam, do ớt nhiều cú sự ảnh hưởng của yếu tố hệ tư tưởng nờn những nghiờn cứu về khủng hoảng của cỏc học giả trong nước cũn ớt và dường như
đú là một chủ đề cú tớnh chuyờn biệt cao và thường được gắn với bản chất của CNTB hay thuộc tớnh cố hữu của nền sản xuất khủng hoảng tài chớnh
Trang 30Ba là, mặc dự cỏch tiếp cận cú khỏc nhau nhưng cỏc tỏc giả trong và ngoài
nước đều cho rằng, do khủng hoảng tài chớnh toàn cầu là hiện tượng đồng hành của tiến trỡnh phỏt triển xó hội, nờn khủng hoảng trở thành mối quan tõm chung của cỏc nhà nghiờn cứu ở khắp mọi nơi Cho dự thuộc trường phỏi kinh tế nào, thỡ vẫn cú một sự nhất trớ rằng, hệ thống tài chớnh cần phải được giỏm sỏt chặt chẽ, do tớnh phức tạp và rủi ro của hoạt động này và việc thiếu sự quản lý, giỏm sỏt luụn dẫn đến bong búng đầu cơ Tuy nhiờn, chỉ khi việc mất cõn đối vĩ mụ trỡ nờn rất nghiờm trọng thỡ bong búng đầu cơ mới cú thể dẫn đến khủng hoảng tài chớnh và kinh tế trờn quy mụ lớn Những nhà đoạt giải thưởng Nobel kinh tế đó phỏt biểu quan điểm này bao gồm: Paul Krugman, Edmund S.Phelps, Reinhard Selten, và Josep Stiglitz
Họ nhấn mạnh rằng, khủng hoảng cú thể trỏnh được nếu cú một hệ thống giỏm sỏt tài chớnh và cảnh bỏo rủi ro tốt Vỡ vậy, họ cho rằng, khụng phải cứ tự nhiờn mà cú
sự can thiệp của Chớnh phủ thụng qua cỏc gúi kớch thớch, nếu như khụng hiểu rừ khiếm khuyết gỡ trong thể chế tài chớnh đó đẩy đến khủng hoảng
Hơn nữa, ngày nay, toàn cầu húa kinh tế trở thành xu hướng chủ đạo chi phối cỏc quỏ trỡnh phỏt triển kinh tế, bởi vậy khủng hoảng tài chớnh trong điều kiện toàn cầu húa thường là khủng hoảng tài chớnh khu vực hay khủng hoảng tài chớnh toàn cầu Điểm khởi đầu của khủng hoảng thường là những trung tõm kinh tế năng động xột trong tổng thể nền kinh tế khu vực hay toàn cầu Trong đú nhõn tố “kinh tế ảo” được coi là những căn nguyờn trực tiếp làm khủng hoảng “bựng phỏt” Khi khủng hoảng tài chớnh nổ ra thỡ suy giảm kinh tế nhanh chúng lan rộng trờn phạm vi toàn cầu và hệ lụy của nú là khụng thể dự liệu trước
Bốn là, cỏc cụng trỡnh của cỏc nhà nghiờn cứu trong và ngoài nước đó nờu ở
trờn mặc dự cú nhiều cỏch tiếp cận d-ới các góc độ khác nhau nhưng đã cung cấp một số t- liệu cần thiết cho luận án Cỏc nghiờn cứu cú nhiều nội dung phong phỳ, sõu sắc, đó ớt nhiều đề cập đến nguyờn nhõn, diễn biến, bản chất và cỏc giải phỏp ứng phú khủng hoảng nhưng chưa cú nghiờn cứu nào tập trung tổng hợp và phõn tớch sõu về giải phỏp ứng phú khủng hoảng tài chớnh toàn cầu của cỏc quốc gia và của Việt Nam Vậy nờn, trờn cơ sở nghiên cứu, phân tích về nguyờn nhõn, bản chất, tỏc động của khủng hoảng tài chớnh toàn cầu núi chung và cuộc khủng hoảng tài
Trang 31chính toàn cầu 2008, luận án sẽ phân tích, đánh giá các giải pháp ứng phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu của các quốc gia trên thế giới (đặc biệt là Mỹ, Trung Quốc và Asean) và giải pháp ứng phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu ở Việt Nam để từ đó rút ra bài học hữu ích cho việc dự báo, chống đỡ khủng hoảng nhằm
ổn định và phát triển kinh tế ở Việt Nam
Đề tài luận án “ Khủng hoảng tài chính toàn cầu: Ứng phó của thế giới và Việt Nam” có sự kế thừa, tiếp thu một cách chọn lọc những kết quả nghiên cứu của
các công trình kể trên Mặc dù vậy, đây là đề tài có nội dung không trùng lặp với các công trình đã đƣợc công bố Vì thế, đề tài này là một công trình khoa học có tính độc lập và có những đóng góp mới cả về lý luận và thực tiễn
Trang 32CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ NHẬN
DIỆN CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU 2008
1.1 Khủng hoảng tài chính toàn cầu: Quan niệm, bản chất, đặc trưng
1.1.1 Quan niệm về khủng hoảng tài chính và khủng hoảng tài chính toàn cầu Khủng hoảng kinh tế (tiếng Anh: economic crisis), là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo dài và trầm trọng hơn cả suy thoái trong chu kỳ kinh tế Suy thoái kinh tế (tiếng Anh: recession/economic downturn) được định nghĩa trong Kinh tế
học vĩ mô là sự suy giảm của Tổng sản phẩm quốc nội thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp trong năm (nói cách khác, tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý) Cơ quan nghiên cứu kinh tế quốc gia (NBER) của Hoa Kỳ đưa ra
định nghĩa về suy thoái kinh tế “là sự tụt giảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo
dài nhiều tháng” Suy thoái kinh tế liên quan sự suy giảm đồng thời của các chỉ số
kinh tế của toàn bộ hoạt động kinh tế như việc làm, đầu tư, và lợi nhuận doanh nghiệp Các thời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại tăng nhanh giá cả (lạm phát)
Khủng hoảng tài chính (KHTC) xảy ra khi nhu cầu tiền vượt quá nguồn cung của xã hội, nhu cầu về tiền của dân cùng với các nhà đầu tư trong và ngoài nước lớn hơn khả năng đáp ứng đã gây ra sức ép cho hệ thống ngân hàng và tổ chức tài chính khiến cho ngân hàng và các tổ chức tài chính có thể sụp đổ Khủng hoảng tài chính thường gây ra thiệt hại lớn vì trong điều kiện tự do thương mại, nguồn vốn được di chuyển qua những nước khác nhau nên khủng hoảng tài chính xảy ra tại một nước
sẽ lây lan đến nhiều nước trên thế giới vào những thời điểm tiếp đó
Xét về nguồn gốc, KHTC có một lịch sử khá dài gắn với sự ra đời và phát triển của hệ thống tài chính trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa (TBCN) Nếu tính từ
“khủng hoảng bong bóng hoa Tuylip Hà Lan” năm 1636 đến KHTC toàn cầu năm
2008 thì KHTC nói chung đã có lịch sử gần 400 năm Với cả chiều dài thời gian mà các cuộc KHTC đã nổ ra và cũng có rất nhiều các nghiên cứu về khủng hoảng tài chính đã được công bố nhưng cho tới nay lại có rất ít các định nghĩa về KHTC Các kết quả nghiên cứu về KHTC thường được tiếp cận và xem xét theo những khía
Trang 33cạnh chủ yếu sau: Một là, xem xét KHTC dựa trên những số liệu biến động của các chỉ số kinh tế đang diễn ra Hai là, KHTC như một tất yếu trong chu kỳ phát triển kinh tế của CNTB nên mặc nhiên không định nghĩa về nó Ba là, chỉ tiếp cận những khía cạnh riêng biệt của từng cuộc khủng hoảng diễn ra trong lịch sử, từ đó phân tích diễn biến, nguyên nhân và tác động ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội
Theo quan niệm truyền thống, KHTC là “Tình trạng sản xuất hàng hóa quá
thừa dẫn đến những rối loạn lớn trong thị trường tài chính, trong đời sống kinh tế, nạn thất nghiệp và sự bần cùng trầm trọng của nhân dân lao động” 43, tr.47 Đã
có một số nghiên cứu theo cách tiếp cận chỉ số hoạt động định nghĩa KHTC là sự kết hợp của nhiều loại khủng hoảng khác nhau Theo Azis và cộng sự (2000) thì KHTC có thể gồm: khủng hoảng tiền tệ, khủng hoảng ngân hàng và khủng hoảng
nợ Một định nghĩa khác lại cho rằng KHTC là “…những rối loạn trầm trọng trên
các thị trường tài chính và cản trở sự vận hành hiệu quả của hệ thống này và gây nên những hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế…” 26 Theo TS Lê Hồng Nhật1, KHTC được hiểu là sự sụp đổ của thị trường tài chính, khiến cho nó không thể thực hiện được hai chức năng cơ bản nhất: (1) Ổn định giá trị đồng tiền hoặc các tài sản tài chính như một phương tiện giao dịch, cất trữ tài sản; (2) Là trung gian chuyển vốn tiết kiệm vào những dự án đầu tư có hiệu quả nhất Hệ quả là nền kinh tế bị đẩy
ra khỏi quỹ đạo tăng trưởng tiềm năng, gây nên sự sụt giảm mạnh về sản lượng, việc làm, đi kèm với giảm phát, hoặc gây nguy cơ bùng nổ lạm phát
Có thể sơ bộ chia ra bốn quan điểm chính về khủng hoảng tài chính:
* Quan niệm về khủng hoảng tài chính trong hệ thống lý luận Mácxit
Trong Bộ Tư bản ở chương 34; mục Nguyên lý lưu thông tiền tệ và đạo luật
Ngân hàng Anh năm 1844, … C.Mác đã viết: “KHTC tiền tệ trước tiên là ở chỗ tất
cả “của cải” bỗng nhiên bị mất giá” 8, tr.168 Theo học thuyết của Marx, trong
hệ thống tư bản, hoạt động kinh doanh thành công đem lại cho các công nhân một lượng tiền lương ít hơn so với giá trị của hàng hóa được các công nhân này sản xuất
ra Vì thế nền kinh tế TBCN là nền kinh tế vô chính phủ do lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu cho mọi hành vi kinh tế, đây là nguyên nhân gây ra nguy cơ khủng hoảng
Trang 34tiềm tàng bên trong CNTB K.Marx đã chỉ ra rằng, để tạo ra nhiều lợi nhuận, tăng vòng quay của đồng vốn, CNTB sẽ phát triển việc phát hành cổ phiếu, tín phiếu và trái phiếu để kích thích gia tăng giá trị của tư bản giả Kinh doanh tư bản giả, một loại tư bản không trực tiếp sản xuất ra giá trị hàng hóa nhưng có khả năng tích trữ giá trị của hàng hóa sản xuất được của xã hội, có thể chuyển hóa thành tiền trong những điều kiện thuận lợi, vừa có khả năng làm giàu nhanh chóng, vừa có điều kiện phòng chống rủi ro cao hơn là làm nhà tư bản sản xuất Cũng vì mục tiêu lợi nhuận
mà các nhà đầu tư trở thành các nhà đầu cơ (những nhà đầu tư chạy theo lợi nhuận bất chấp rủi ro) trên các thị trường phi sản xuất như là thị trường tài chính, thị trường bất động sản Chỉ đến khi một mắt xích nhỏ nào đó bị trục trặc, chẳng hạn, một doanh nghiệp mất khả năng chi trả hay một cá nhân bị thất nghiệp, thì nhà kinh doanh không thu được tiền từ tín dụng thương mại, nhà ngân hàng không có tiền để chi trả và mất khả năng thanh toán, lúc này tư bản giả đã phình to quá mức, trở thành “bong bóng” dẫn đến khủng hoảng kinh tế và kéo theo là khủng hoảng tài
chính K.Marx đã viết: chế độ tiêu dùng đẩy nhanh tốc độ phát triển các lực lượng
sản xuất (LLSX) vật chất và sự hình thành một thị trường thế giới đến một mức độ nhất định với tư cách là cơ sở vật chất (CSVC) của một hình thái sản xuất mới và lịch sử của nền sản xuất TBCN Tín dụng đẩy nhanh sự bùng nổ dữ dội của mỗi mâu thuẫn, tức là những cuộc khủng hoảng đó cũng làm tăng thêm những yếu tố làm tan rã phương thức sản xuất cũ 9, tr.674 Đây là nguyên nhân của các cuộc đổ
vỡ, mất cân bằng ở tất cả các thị trường, từ thị trường tài chính đến thị trường sản xuất, thị trường hoàng hóa đến thị trường tiền tệ, từ cung đến cầu, từ sản xuất đến tiêu dùng
Theo Mark, biểu hiện của khủng hoảng rất đa dạng từ vấn đề trắc trở trong việc mua và bán đến việc mất cân đối trong sản xuất; từ việc vi phạm quy luật về lưu thông tiền tệ dẫn đến rối loạn hệ thống tín dụng, đến việc mất cân đối giữa sản xuất và nhu cầu có khả năng thanh toán; từ việc xây dựng nhà ở không theo đơn đặt hàng mà chạy theo thị trường và mang tính chất đầu cơ đến việc chứng khoán không đại biểu cho tư bản thực tế, không có bảo đảm ngày càng được phát hành nhiều hơn…các loại của cải giả tưởng nêu trên nếu đột nhiên hệ thống tín dụng bị
Trang 35trục trặc thì những chứng từ ảo ấy sẽ lộ rõ bộ mặt thật và vỡ như “bong bóng”, tất yếu xảy ra khủng hoảng 9, tr.32,34,64 Theo ông, nguyên nhân cuối cùng của mọi cuộc khủng hoảng thật sự bao giờ cũng là sự nghèo khổ của quần chúng và tính hạn chế của sự tiêu dùng của họ
Có thể là chưa đầy đủ, và mặc dù không nghiên cứu KHTC một cách trực tiếp
và hệ thống chung trong một tác phẩm, tuy nhiên qua những phát hiện và phân tích của Mark và Ăngghen về KHTC cho thấy những nhận định đó hoàn toàn phù hợp với CNTB thời kỳ ông đang sống và cho cả CNTB hiện nay, cho dù có một số thay đổi Chẳng hạn, hiện vẫn có khủng hoảng cơ cấu, nhưng không phải là sản xuất thừa một thứ hàng hóa nào đó mà là thiếu dẫn đến giá cả một số mặt hàng tăng cao Hiện nay, KHTC cũng tự phát nổ ra, và các chủ thể thị trường cũng phải tự điều chỉnh, tự cân đối, chỉ có điều khác biệt là nhà nước phải can thiệp để đẩy nhanh sự điều chỉnh
và giảm bớt tác hại Nguyên nhân của khủng hoảng tài chính đến nay cũng vẫn là mâu thuẫn giữa tính tư nhân và xã hội của quá trình sản xuất, tuy cũng đã có sự khác biệt Tính tư nhân đã không chỉ thuộc một công ty gia đình mà thuộc những tập đoàn xuyên quốc gia; tính xã hội cũng không chỉ trong một nước mà đã là xã hội toàn cầu Chính vì vậy, nhà sử học Êrin Hốpxbao khi trả lời phỏng vấn trên báo Sin Permisso (Achentina) đã nói “Chúng ta không chút ngạc nhiên rằng các nhà chính trị cũng như các doanh nhân thành đạt nhất phương Tây, nhất là những người hoạt động trong lĩnh vực tài chính toàn cầu giờ đây đang quay trở lại nghiên cứu học thuyết Mark và đang tìm thấy trong đó lời giải thích về nguyên nhân dẫn đến sự sụp
đổ của hệ thống tài chính của thế giới đương đại”
* Quan niệm về khủng hoảng tài chính trong Lý thuyết “cầu hiệu quả của J.M.Keynes”
Cuộc KHTC vừa qua đã làm cho cả thế giới bước vào thời kỳ suy thoái nghiêm trọng và có thể kéo dài trong nhiều năm tiếp theo buộc chính phủ các quốc gia không thể khoanh tay đứng nhìn Hàng loạt các gói giải cứu kinh tế ở khắp các nước trên thế giới đổ ra khiến người ta nhớ đến một nhà kinh tế vĩ đại John Maynard Keynes trong những năm 30 của thế kỷ trước: Quan điểm bao trùm nhất của lý thuyết J.Keynes cho rằng những mất cân đối kinh tế vĩ mô có nguồn gốc
Trang 36chính ở sự giảm sút “cầu hiệu quả” tức là cầu có khả năng thanh toán “Cầu có hiệu quả” theo ông bao gồm cả cầu về tiêu dùng cá nhân và cầu đầu tư Nếu khuynh hướng tiêu thụ và đầu tư với tư cách là hai bộ phận trong thu nhập quốc dân không
có sự kết hợp để tạo ra một lượng cầu có hiệu quả đầy đủ, nạn thất nghiệp sẽ xuất hiện, khủng hoảng tất yếu sẽ diễn ra
Tuy nhiên, trong thời kỳ của Keynes đã có thay đổi lớn trong tính chất và vai trò của cầu, giá cả không còn là cơ chế lý tưởng xác lập cân bằng giữa cung và cầu Cầu luôn luôn tụt lại so với cung do người ta có xu hướng “muốn tiêu dùng một
phần thu nhập ít hơn dần khi thu nhập thức tế tăng” 27, tr.25 Do đó phát sinh
“cầu hiệu quả”, cung trở nên thừa và điều này tạo điều kiện giảm đầu tư vào sản xuất, tức là thất nghiệp và khủng hoảng xuất hiện Nhận định này dẫn đến sự khẳng định Nhà nước là lực lượng duy nhất có khả năng tác động vào “số cầu bị gác lại”, tức là tạo ra “cầu có hiệu quả” Ngược lại, thông qua các chính sách duy trì, khuyến khích đầu tư tư nhân và mở rộng tiêu dùng xã hội, Nhà nước có thể đảm bảo cầu vững chắc, không để nổ ra khủng hoảng và có khả năng loại trừ khủng hoảng Sau cuộc đại suy thoái kinh tế 1929-1933, Keynes đã cảnh báo rất đúng rằng: “chúng ta
có thể thấy rõ ràng cái đích nguy hiểm của con đường chúng ta đang đi Nếu chính phủ không hành động, chúng ta sẽ thấy sự suy đổ của cơ cấu hợp đồng hiện có và các công cụ nợ, cùng với sự mất lòng tin hoàn toàn vào hệ thống tài chính và chính phủ Chúng ta sẽ không dự đoán được hậu quả cuối cùng.” Nói theo cách phân tích của J.Keynes, cuộc khủng hoảng trên phạm vi toàn cầu là hậu quả của “cầu hiệu quả yếu” trên quy mô thế giới Điều này được người ta viện dẫn nhiều khi giải thích tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay
Thời đại ngày nay rất khác với thời đại của J.Keynes, khi mà nền kinh tế thế giới đã toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng, vì thế suy thoái kinh tế đồng nghĩa với thiếu hụt cầu trên quy mô toàn thế giới chứ không phải là sự thiếu hụt cục bộ ở một
số nhóm nước, vì thế các thể chế toàn cầu và khu vực có vai trò quan trọng trong việc phối hợp ngăn chặn sự suy giảm…Mặc dầu vậy, các nguyên tắc “cầu hiệu quả”, “cầu có khả năng thanh toán” bằng các gói cứu trợ, kích thích kinh tế bằng chi ngân sách, mở rộng thị trường Nhà nước và thực hành tín dụng rẻ để kích thích đầu
tư và tiêu dùng…do Keynes đề xuất, ít nhiều vẫn còn nguyên giá trị
Trang 37* Quan niệm về khủng hoảng tài chính dưới góc nhìn của chủ nghĩa tự do mới
Chủ nghĩa tự do mới ( Neoliberalism), còn gọi là trường phái cổ điển mới (Neoclassical) có nguồn gốc sâu xa từ những tư tưởng kinh tế của trường phái kinh
tế học tư sản cổ điển với đặc trưng nổi bật của nó là đề cao chủ nghĩa tự do kinh tế được ra đời khoảng từ thế kỷ XVIII
Mặc dù có những xuất phát điểm khác nhau, phương pháp luận khác nhau với trình độ, cấp độ phản ánh khác nhau nhưng nói chung lý luận kinh tế của các trường phái tự do mới đều xoay quanh và bảo vệ tự do kinh tế theo quan điểm: “Thị trường tối đa và Nhà nước tối thiểu” Họ chủ trương: tự do cho thị trường, nhưng có sự điều tiết của Nhà nước Những người đứng đầu trường phái này là Milton Friedman, Schwartz, Henry Simons, Geogre Stiglr…Lý thuyết kinh tế của chủ nghĩa tự do mới
đã phát triển ở Mỹ với chủ nghĩa bảo thủ mới, ở CHLB Đức với hình thức kinh tế thị trường (KTTT) xã hội, ở Anh với chủ nghĩa cá nhân mới, ở Áo và Thụy Điển với chủ nghĩa giới hạn mới…
Những chính sách chủ yếu do trường phái này đề xuất là: giảm thuế, thu hẹp phạm vi hành động của Nhà nước về tài chính, tư nhân hóa- giảm công cụ kinh tế quốc doanh trong tay Nhà nước- giảm điều tiết, giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước, tự do hóa kinh tế- gia tăng phạm vi tác động của thị trường…Tuy nhiên, mức
độ tự do hóa kinh tế, mức độ can thiệp của Nhà nước nặng, nhẹ khác nhau tùy theo từng nước Theo quan điểm của trường phái này, KHTC là do sự hoảng loạn của hệ thống ngân hàng gây nên, do sự co hẹp cung tiền tệ, dẫn đến sự suy thoái trong tổng cầu tiêu dùng và đầu tư Họ bỏ qua những nguyên nhân thực, như sự sụt giảm hiệu quả của nền kinh tế, sự suy sụp của nhiều doanh nghiệp Vì vậy, theo họ, sự can thiệp của Chính phủ là không cần thiết, và thậm chí có hại, vì những doanh nghiệp đáng ra phải để cho bị phá sản, lại có thể được cứu vớt, gây nên sự gia tăng quá mức về cung tiền tệ và gây lạm phát
Do dựa trên nền tảng là sở hữu tư nhân, coi nó là trung tâm chi phối các cơ chế, chính sách kinh tế, lại bị chi phối bởi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên Nhà nước được xác định chỉ có vai trò tối thiểu trong can thiệp vào các quá trình vận hành kinh tế Trong khi đó, các hoạt động kinh tế được chi phối và vận hành bởi
Trang 38những sở hữu tư nhân- cá thể, do đó, nền kinh tế vận hành mang tính cục bộ, rời rạc; mọi cá thể trong nền kinh tế cùng hướng tới mục tiêu lợi nhuận nhưng là lợi nhuận của từng cá thể và được tiến hành với những cách thức khác nhau…kết cục là nền kinh tế được dẫn dắt bởi lợi ích cục bộ, vận hành tự phát và thiếu sự kiểm soát, giám sát cần thiết, nên khủng hoảng là điều không thể tránh khỏi
Theo đánh giá của George Soros2, KHTC đó là hệ quả của nhiều trạng thái mất cân bằng tiềm tàng âm thầm trong bản thân nội tại mỗi nền kinh tế, là thế bất ổn của tài chính quốc tế và khủng hoảng nổ ra- đó là sự cáo chung của một mô hình kinh tế…Các lý thuyết về chu kỳ kinh doanh điển hình như: Lý thuyết mô hình gia tốc- số nhân của P.Samuelson, lý thuyết tiền tệ của M.Friedman, lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế của P.Long…tiếp cận lý giải KHTC do các yếu tố bên ngoài hệ thống kinh tế gây ra như chiến tranh, những phát kiến mới về khoa học, công nghệ,
do những vấn đề nội tại của nền kinh tế…Theo cách tiếp cận này thì mọi sự mở rộng của sản xuất, kinh doanh tự nó đã tiềm ẩn khả năng suy thoái, thu hẹp và mọi
sự thu hẹp sản xuất lại nuôi dưỡng sự phục hồi và mở rộng sản xuất kinh doanh theo một chu kỳ lặp đi, lặp lại Họ thừa nhận “khủng hoảng thừa” là có thật và là vấn đề khó giải quyết của nền KTTT phương Tây hiện đại Nhưng trường phái chính sau Keynes đưa ra cách giải thích khác hẳn Mác về nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng Theo họ “khủng hoảng thừa” là do các ngành sản xuất một số loại hàng hóa nào đó biến động không bình thường, các khoản chi phúc lợi xã hội tăng quá giới hạn chịu đựng của nền kinh tế, do cơ cấu thị trường lao động và kỹ thuật thay đổi…, ngoài
ra, còn do các xí nghiệp độc quyền và tổ chức công đoàn thay nhau kiểm soát vật giá và tiền công, từ đó nạn thất nghiệp và tiền công đều tăng lên, đồng thời lạm phát cũng nảy sinh, lan rộng Lý thuyết sóng dài của Kondrachep và những biến thái của
nó cho rằng cùng với các chu kỳ kinh tế bình thường còn có các chu kỳ lớn với thời gian từ 48-55 năm (các chu kỳ này thường được gọi là sóng dài) Tất cả các biến đổi của một loạt các quá trình về kinh tế như sản lượng, giá cả, lãi suất, tiền lương…đều
“một tay che cả bầu trời”, là người có thể làm mất giá bất cứ một thứ tiền tệ nào trên thế giới, hoặc thậm chí gây ra những cuộc khủng hoảng kinh tế lớn với quy mô toàn cầu.
Trang 39có ảnh hưởng tương tác hình thành nên những chuyển biến kinh tế, chính trị, xã hội dẫn đến KHTC
Với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay, không ít người đã lên án chủ nghĩa tự do mới gay gắt, coi đó là căn nguyên về mặt tư tưởng và lý luận dẫn đến cuộc khủng hoảng và cho rằng nó đã thất bại Thế nhưng, tại sao chủ nghĩa tự do mới lại thắng thế cùng với sự thắng thế của khuynh hướng thực dụng diễn ra bên trong nền KTTT thế giới trong suốt một thời gian dài từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX đến sát nút cuộc khủng hoảng toàn cầu 2008 là một vấn đề đáng được lưu tâm
* Quan niệm về khủng hoảng tài chính trong học thuyết của Hyman Minsky
Hyman Minsky (1972) một nhà kinh tế Mỹ, đã đề xuất một cách giải thích hậu Keynes và học thuyết do Minsky đề xuất áp dụng chủ yếu đối với một nền kinh tế đóng cửa Cùng nhóm theo chủ thuyết tiền tệ với Minsky là Kindleberger (1978), họ
có quan niệm rộng hơn về KHTC và tiền tệ, mà nó bao gồm sự sụt giảm của hầu hết giá trị cổ phiếu, sự vỡ nợ của nhiều công ty tài chính, nạn giảm phát, đi kèm với sự rối loạn của thị trường ngoại hối Những yếu tố này gây sự sụt giảm mạnh về tổng cầu đầu tư và tiêu dùng, nên cần phải có sự can thiệp của Nhà nước Minsky cho rằng tính dễ vỡ của nền kinh tế là một đặc điểm đặc trưng của nền kinh tế TBCN Tính dễ
vỡ cao dẫn đến nguy cơ xảy ra khủng hoảng tài chính cao Để củng cố cho phân tích của mình, Minsky đã đưa ra 3 cách tiếp cận mà các doanh nghiệp có thể lựa chọn tùy theo mức độ rủi ro mà doanh nghiệp có thể chấp nhận Đó là: tài chính bao vây (hedge finance), tài chính đầu cơ (speculative finance), và tài chính Ponzi (Ponzi finance), trong đó tài chính Ponzi dẫn đến tình trạng nền kinh tế dễ vỡ cao nhất Trong mô hình tài chính bao vây, dòng thu nhập được dự đoán là đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính trong các thời kì, bao gồm cả gốc và lãi của khoản vay Trong mô hình tài chính đầu cơ, một công ty phải đảo nợ vì dòng thu nhập dự kiến chỉ có thể chi trả cho các khoản lãi Các doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản gốc vay Trong mô hình tài chính Ponzi, dòng thu nhập dự kiến thậm chí còn không đủ để chi trả bất cứ một khoản lãi nào, do đó công ty phải vay thêm hoặc bán bớt tài sản để chi trả các khoản nợ Người vận hành mô hình tài chính này hi vọng giá trị thị trường của tài sản hoặc thu nhập có thể tăng lên đủ để trả cả gốc và lãi vay
Trang 40Mức độ dễ vỡ của nền kinh tế sẽ vận hành tương ứng với chu kì kinh doanh Sau quá trình suy thoái, các công ty sẽ bị hao hụt tài chính và họ sẽ chỉ chọn mô hình tài chính bao vây để đảm bảo tính an toàn Khi nền kinh tế phát triển, lợi nhuận
dự kiến tăng lên, các công ty có xu hướng tin tưởng rằng họ có thể áp dụng mô hình tài chính đầu cơ Trong trường hợp này, họ biết rằng lợi nhuận sẽ không đủ để chi trả tất cả các khoản lãi Tuy nhiên, các công ty lại tin tưởng rằng doanh thu sẽ tăng
và khoản nợ sẽ được thanh toán sau một thời gian ngắn Vay nhiều sẽ dẫn đến đầu
tư nhiều và nền kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh hơn Bên cho vay bắt đầu tin tưởng rằng họ có khả năng thu lại khoản vay
Vì vậy, họ sẵn sàng cho vay mà không cần đảm bảo hoàn toàn về sự thành công trong đầu tư Bên cho vay biết rằng các công ty này sẽ có vấn đề trong việc thanh toán khoản vay Tuy nhiên, họ vẫn tin tưởng rằng các công ty này sẽ tái huy động vốn được từ nơi khác vì lợi nhuận ước tính đang tăng Đây chính là mô hình tài chính Ponzi Theo đó, nền kinh tế sẽ rơi vào tình trạng rủi ro tín dụng Không phải công ty nào cũng có khả năng tái thu xếp vốn, rất nhiều công ty sẽ vỡ nợ Nếu không có luồng tiền mới đi vào trong nền kinh tế để phục vụ cho quá trình tái thu xếp vốn, một cuộc KHTC thực sự sẽ nổ ra Và trong suốt thời kì suy thoái này, các công ty lại bắt đầu với mô hình tài chính bao vây
Như vậy, KHTC là một chủ đề chiếm một vị trí quan trọng trong nội dung
nghiên cứu của rất nhiều học giả kinh tế Mặc dù những nghiên cứu về KHTC tòa cầu còn có những khác biệt nhất định về quan niệm hay các cách thức tiếp cận nhưng dường như các kết quả nghiên cứu đều hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp thừa nhận KHTC là một thực tế khách quan trong các quá trình phát triển kinh tế TBCN Các công trình nghiên cứu đã công bố của các học giả dù dưới dạng lý thuyết hay thực tiễn đều đã hàm ý giải quyết những nguy cơ của khủng hoảng; các nghiên cứu đều xem xét KHTC như một hiện tượng tiềm ẩn, gắn liền với quá trình phát triển, vì thế
dù khác nhau về cách thức tiếp cận hay tính chất, thời gian, không gian diễn ra cuộc khủng hoảng nhưng có thể thấy rằng, các nghiên cứu của các học giả về khủng hoảng
có giá trị khoa học cao, đã cung cấp cho mọi người một nhận thức và cái nhìn tương đối toàn diện về KHTC với cách tiếp cận và giải quyết vấn đề thực tế và khoa học