1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam

72 399 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 683 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Em đã lựa chọn đề tài "Huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam" làm đề tài khóa luận tốt nghiệp với hy vọng có thể phác họa được bức tranh toàn cảnh

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt bốn năm học tại khoa Tài chính ngân hàng, trường Đại họcThương Mại, em đã nhận được nhiều kiến thức và kĩ năng quý báu, là hành tranggiúp em vững bước trong công việc sau này Em xin cảm ơn Ban Giám hiệu trườngĐại học Thương Mại, Ban chủ nhiệm khoa Tài chính ngân hàng và tất cả các thầy

cô đã dạy em trong suốt thời gian qua Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thànhnhất đến cô Đặng Thị Minh Nguyệt Em rất biết ơn cô đã dành nhiều thời gian vàcông sức hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này

Em cũng xin cảm ơn Ban lãnh đạo cũng như tập thể nhân viên tại Hội sở Ngânhàng Quốc tế Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực tập,điều tra, phỏng vấn và thu thập tài liệu của Ngân hàng

Do hạn chế về thời gian thực tập và các kiến thức, hiểu biết của bản thân nênkhóa luận của em không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận đượccác ý kiến đóng góp của thầy cô để bài khóa luận của em hoàn thiện hơn

Em xin trân trọng cảm ơn!

Sinh viên

Trần Bích Ngọc

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Các chỉ tiêu tài chính của Ngân hàng Quốc tế Việt Nam

Bảng 2.5 Cơ cấu tiền gửi tiết kiệm theo loại tiền 51

Bảng 2.7 So sánh Biểu lãi suất gửi tiết kiệm VND – lãi trả cuối kì

Trang 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn TGTK của VIB

Biểu đồ 2.2 Cơ cấu tiền gửi tiết kiệm theo loại tiền 52Biểu đồ 2.3 Cơ cấu tiền gửi tiết kiệm theo kì hạn 53

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam 35

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Một ngân hàng muốn hoạt động không thể thiếu vốn Vốn của ngân hàng đượcxem như là một phương tiện điều tiết sự tăng trưởng, đảm bảo cho sự phát triển củangân hàng Trong tổng nguồn vốn, tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất Peter Rose cónói trong cuốn Quản trị Ngân hàng thương mại rằng "Tiền gửi là nền tảng cho sựthịnh vượng và phát triển của Ngân hàng Năng lực của đội ngũ nhân viên cũng nhưcủa các nhà quản trị Ngân hàng trong việc thu hút tiền gửi giao dịch và tiền gửi tiếtkiệm từ doanh nghiệp và cá nhân là thước đo quan trọng về sự chấp nhận của côngchúng đối với Ngân hàng" Vì vậy, vấn đề huy động vốn tiền gửi này sao cho hiệuquả luôn là vấn đề khiến các nhà quản trị ngân hàng phải đau đầu, nhất là tình hìnhchính trị và kinh tế thế giới có nhiều bất ổn như hiện nay đã tác động đến tâm lýngười gửi tiền và gây những ảnh hưởng xấu đến công tác huy động vốn của ngânhàng

Tại đơn vị nơi em thực tập, Ngân hàng Quốc tế Việt Nam, công tác huy độngvốn, đặc biệt là huy động vốn tiền gửi tiết kiệm có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt độngcủa cả ngân hàng Là một ngân hàng có đối tượng khách hàng mục tiêu là kháchhàng cá nhân nhưng kết quả hoạt động huy động vốn tiền gửi tiết kiệm ngày cànggiảm sút qua các năm 2010-2012 và liên tục không đạt được kế hoạch đề ra Năm

2013 tiếp tục là một năm đầy thử thách với ngành ngân hàng nói chung và VIB nóiriêng, nhất là với tình hình lãi suất đang có xu hướng giảm dần, việc huy động vốntiền gửi tiết kiệm sẽ càng gặp nhiều khó khăn Đối mặt với những khó khăn trên,VIB cần phải áp dụng nhiều biện pháp để tăng khả năng huy động vốn tiền gửi tiết

kiệm Em đã lựa chọn đề tài "Huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam" làm đề tài khóa luận tốt nghiệp với hy vọng có

thể phác họa được bức tranh toàn cảnh về huy động vốn tiền gửi tiết kiệm trong 3năm vừa qua để đưa ra được những biện pháp phát triển hoạt động huy động vốntiền gửi tiết kiệm trong thời gian tới

Trang 7

2 Mục đích nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát: phân tích tình hình huy động tiền gửi tiết kiệm của Ngânhàng Quốc tế Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2012 và đưa ra một số giải pháp đểphát triển hoạt động này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là công tác huy động tiền gửi tiết kiệm,tức vốn tiền gửi từ dân cư của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Khóa luận sử dụng thông tin, số liệu liên quan tới

đề tài nghiên cứu từ các văn bản có sẵn Đó là thống kê dữ liệu tại các phòng bancủa Ngân hàng Quốc tế, báo cáo kinh doanh, tình hình hoạt động kinh doanh từ năm

2010 đến năm 2012 Ngoài ra, phương pháp thu thập thông tin từ những nguồn nhưtạp chí, mạng internet cũng rất quan trọng, giúp người nghiên cứu nắm được tìnhhình chung của nền kinh tế và những biến động của nó ảnh hưởng thế nào tới hoạtđộng huy động tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng

Trang 8

- Thu thập dữ liệu sơ cấp: Trong quá trình nghiên cứu, khóa luận đã sử dụngphương pháp điều tra trắc nghiệm Các câu hỏi được thiết kế dưới dạng trắc nghiệm,

có đáp án sẵn Nội dung câu hỏi xoay quanh sản phẩm tiền gửi tiết kiệm, các đặcđiểm và nhận xét của khách hàng về sản phẩm Trong khoảng thời gian từ ngày1/4/2013 đến 5/4/2013, 25 khách hàng của VIB với tỷ lệ nam/nữ của mẫu điều tra là11/14 đã được chọn để thực hiện khảo sát

b Phương pháp tổng hợp đánh giá kết quả dữ liệu

- Tổng hợp đánh giá kết quả dữ liệu thứ cấp: Phương pháp so sánh đượcdùng để so sánh các chỉ tiêu, mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh khác nhau củahoạt động kinh doanh, huy động vốn tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng Quốc tế ViệtNam Các chỉ tiêu được so sánh giữa các năm hay giữa các ngân hàng với nhau đểthấy được sự biến động của vốn TGTK của Ngân hàng Quốc tế Việt Nam trong giaiđoạn 2010 – 2012 cũng như vị thế với các ngân hàng khác

- Tổng hợp đánh giá kết quả dữ liệu sơ cấp: phương pháp thống kê được sửdụng để dụng để thống kê kết quả trong các mẫu phiếu điều tra trắc nghiệm Qua đóbiết được số lượng và tỷ lệ % các ý kiến và đánh giá được mức độ hài lòng củakhách hàng đối với sản phầm tiền gửi tiết kiệm và các dịch vụ của ngân hàng

5 Nội dung kết cấu của khóa luận

Ngoài các mục như danh mục các từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, cácdanh mục bảng biểu, biểu đồ… Khóa luận được chia làm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về huy động tiền gửi của các ngân hàng thương mạiChương 2: Thực trạng huy động tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng TMCP Quốc

tế Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động tiền gửi tạingân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam

Trang 9

CHƯƠNG 1: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG

TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Một số vấn đề lý luận về Ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm ngân hàng, ngân hàng thương mại

Hệ thống ngân hàng đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liềnvới sự phát triển của kinh tế hàng hoá Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệmthống nhất về ngân hàng Một cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét ngânhàng trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp Định nghĩa này

được đề cập trong cuốn "Quản trị ngân hàng thương mại" của Peter Rose: "Ngân

hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đadạng nhất – đặc biệt là dịch vụ tín dụng, thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tàichính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế"

Đối với ngân hàng thương mại, đạo luật ngân hàng ở mỗi quốc gia lại có mộtđịnh nghĩa khác nhau

- Ở Mỹ: "Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính"

- Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) định nghĩa: "Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên

đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính".

- Còn ở Việt Nam, theo Điều 4, Luật các TCTD: "Ngân hàng thương mại là

loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận" Luật NHNN định nghĩa hoạt động ngân hàng như sau: "Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ, và dịch vụ ngân hàng với nội dung là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán".

Trang 10

1.1.2 Vai trò của Ngân hàng thương mại

Cùng với sự phát triển đa dạng các nghiệp vụ kinh doanh, ngân hàng ngàycàng thực hiện nhiều vai trò mới để có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứngnhu cầu xã hội Các ngân hàng ngày nay có những vai trò cơ bản sau:

- NHTM là trung gian tài chính, thực hiện vai trò điều chuyển các khoản tiếtkiệm, chủ yếu từ hộ gia đình thành vốn tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và cácthành phần kinh tế khác để đầu tư vào nhà cửa, thiết bị và các tài sản khác

- NHTM giữ vai trò là trung gian thanh toán, thay mặt khách hàng thực hiệnthanh toán các giao dịch mua bán hàng hóa và dịch vụ của họ

- NHTM giữ vai trò là người bảo lãnh, cam kết trả nợ cho khách hàng khikhách hàng mất khả năng thanh toán

- NHTM giữ vai trò đại lý, thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của

họ, phát hành hoặc chuộc lại chứng khoán…

- NHTM là người thực hiện các chính sách kinh tế của Chính phủ, góp phầnđiều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội

- NHTM là cầu nối cho việc phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia.1.1.3 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức trung gian tài chính hình thành lâuđời nhất trong lịch sử Một NHTM đi vào hoạt động luôn tồn tại 3 loại hình hoạt độngchính yếu Đó là: huy động nguồn vốn, cho vay và đầu tư, cung cấp các dịch vụ thanhtoán và các dịch vụ khác

1.1.3.1 Hoạt động huy động vốn

Huy động vốn là một hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM Đây là hoạt độngđầu tiên và chính yếu, đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng hoạt độngcủa ngân hàng Nguồn vốn của NHTM nằm bên phải bảng cân đối kế toán bao gồmnguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn vay

- Huy động nguồn vốn chủ sở hữu: Đây chính là việc gia tăng qui mô vốn chủ

Trang 11

tiến hành: Phát hành cổ phiếu, Tăng vốn điều lệ, Lợi nhuận giữ lại… Nguồn vốnchủ sở hữu thường dùng để tài trợ cho các Tài sản dài hạn của ngân hàng.

- Huy động nguồn vốn vay: Bao gồm huy động vốn vay có kỳ hạn và không

kỳ hạn thông qua các nghiệp vụ như: Nhận tiền gửi, vay các tổ chức tín dụng và cácNHTM khác, vay của NHNN, phát hành trái phiếu ngân hàng, phát hành tín phiếungắn hạn… Khi NHTM thực hiện việc huy động nguồn vốn vay luôn phải cân nhắctới yếu tố chi phí vốn – lãi vay, để tiến hành lựa chọn những kênh huy động vốnphù hợp với khả năng của ngân hàng đó

1.1.3.2 Hoạt động cho vay và đầu tư

Nguồn vốn sau huy động sẽ được NHTM tập trung lại và phân bổ sử dụng vàocác mục tiêu nhằm tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, đảm bảo bù đắp được chi phívốn Các nghiệp vụ chủ yếu bao gồm:

- Nghiệp vụ cho vay: đây là hoạt động chính yếu của ngân hàng và cũng làhoạt động tạo ra phần lớn thu nhập cho ngân hàng Bản chất của nghiệp vụ cho vay

là việc ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng đối với một lượng vốn nhất định củamình cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định, khi hết hạn, khách hàng

sẽ hoàn trả lại cho ngân hàng phần vốn vay ban đầu cộng với phần lãi suất Hìnhthức của nghiệp vụ tín dụng bao gồm:

+ Nghiệp vụ cho vay

+ Nghiệp vụ bảo lãnh

+ Nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu

+ Nghiệp vụ thuê mua

- Nghiệp vụ đầu tư: bao gồm đầu tư vào các loại chứng khoán với hai mục tiêuchủ yếu là đảm bảo tính thanh khoản và sinh lời Trong đó, mục tiêu đảm bảo tínhthanh khoản được ưu tiên hàng đầu Nên các NHTM thường nắm giữ những chứngkhoán có độ rủi ro thấp như tín phiếu kho bạc… Những loại chứng khoán này tỉ lệsinh lời thấp nhưng tính thanh khoản của nó rất cao, tính an toàn cao, dễ bán

Trang 12

1.1.3.3 Cung cấp dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác

Cùng với sự phát triển của công nghệ và sự đa dạng trong nhu cầu của kháchhàng, các NHTM ngày nay không ngừng đổi mới và gia tăng các hoạt động củamình bên cạnh những hoạt động truyền thống NHTM còn cung cấp cho khách hàngmột số các dịch vụ khác như:

- Dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế

- Dịch vụ bảo quản tài sản hộ

- Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ

- Dịch vụ bảo hiểm

- Dịch vụ môi giới và đầu tư chứng khoán…

1.2 Cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng thương mại

Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền tệ mà ngân hàng tạo lập, huyđộng được để cho vay, đầu tư và thực thi các dịch vụ ngân hàng Nguồn vốn củaNHTM bao gồm: vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn đi vay và một số vốn khác.1.2.1 Vốn chủ sở hữu

- Vốn điều lệ: là vốn đầu tư ban đầu của ngân hàng, được ghi trong bản điều lệ

và phải đạt mức tối thiểu theo quy định của pháp luật, còn được gọi là vốn phápđịnh Tùy từng loại hình ngân hàng mà Chính phủ quy định mức vốn pháp địnhkhác nhau

- Vốn bổ sung trong hoạt động

+ Bổ sung vốn từ nguồn lợi nhuận: luật pháp cho phép ngân hàng giữ 1 phầnlợi nhuận để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Việc trích từ nguồn lợi nhuậnbao nhiêu tùy thuộc vào quyết định của ban lãnh đạo Thông thường, những ngânhàng có thời gian hoạt động dài và làm ăn hiệu quả thì nguồn tích lũy từ lợi nhuận

sẽ cao và ngược lại, những ngân hàng mới thành lập, kinh doanh kém hiệu quả thìnguồn vốn bổ sung từ lợi nhuận sẽ thấp

+ Bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm

Trang 13

• Đối với ngân hàng TMCP, phát hành thêm cổ phần là cách tăng vốn nhanh,hiệu quả Ngân hàng phát hành quyền mua cổ phần cho cổ đông hiện hữu theo tỷ lệ

cổ phần nắm giữ

• Đối với ngân hàng liên doanh, việc tăng vốn là do các bên góp vốn thựchiện

• Đối với các NHTM nhà nước: việc bổ sung vốn là do ngân sách nhà nước cấp

• Đối với ngân hàng tư nhân: chủ ngân hàng tăng vốn bằng cách rót thêm vốn

- Các quỹ

+ Quỹ thặng dư cổ phần: là phần đánh giá lại tài sản của ngân hàng và chênhlệch giữa thị giá với mệnh giá cổ phiếu khi phát hành cổ phiếu mới Nguồn thặng

dư này sẽ chuyển thành cổ phần trong tương lai

+ Quỹ dự phòng tổn thất: được trích lập hàng năm nhằm bù đắp tổn thất xảy ratrong quá trình hoạt động của ngân hàng

+ Quỹ bảo toàn vốn: nhằm bù đắp hao mòn của vốn dưới tác động của lạmphát trong trường hợp ngân hàng chưa có hoặc chưa kịp có những ứng phó tronghoạt động kinh doanh

+ Các quỹ khác: quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng, quỹ giám đốc… Các quỹ nàydùng vào mục đích làm tăng giá trị ngân hàng, tạo gắn kết với người lao động.1.2.2 Vốn tiền gửi

- Tiền gửi thanh toán là tiền của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàngnhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ Lãi suất của khoản tiền trong tài khoản thanhtoán thường có lãi suất rất thấp hoặc bằng không Tài khoản thanh toán thực chất làtài khoản tiền gửi không có kì hạn nên số dư cũng không ổn định Tiền gửi thanhtoán cung cấp lượng vốn lớn cho ngân hàng Khi khách hàng sử dụng dịch vụ này

sẽ tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt và giảm rủi ro mất mát khi khách hàng tựquản lý tiền mặt

- Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội là tiền gửi của doanhnghiệp, các tổ chức cá nhân tại ngân hàng trong một thời gian nhất định Họ gửi tiềnvào ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lời Tiền gửi có kì hạn của khách hàngdoanh nghiệp, tổ chức có đặc điểm: lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi thanh toán, số dư

Trang 14

ổn định hơn tiền gửi thanh toán, tuy nhiên khách hàng vẫn có thể rút tiền bất cứ lúcnào nhưng không thể thực hiện các giao dịch thanh toán Mỗi lần khách hàng rút tiềnphải xuất trình sổ tiền gửi và chỉ được thực hiện các giao dịch ngân quỹ.

- Tiền gửi tiết kiệm là tiền gửi của dân cư gửi vào ngân hàng trong mộtkhoảng thời gian xác định nhờ ngân hàng giữ hộ và hưởng lãi Đây là nguồn vốn cótính chất ổn định cao, lãi suất cao Tiền gửi tiết kiệm là nguồn tiền gửi có quantrọng bậc nhất trong hoạt động của NHTM

- Tiền gửi của các ngân hàng khác là số tiền mà 1 ngân hàng gửi tại ngân hàngkhác Vai trò của tiền gửi của Ngân hàng khác là đảm bảo khả năng thanh khoảnhoặc nhờ thanh toán hộ hoặc nằm trong chiến lược sử dụng vốn của ngân hàng gửi.1.2.3 Các nguồn vốn phi tiền gửi

- Tiền vay

+ Vay NHNN: NHNN đóng vai trò là người cho vay cuối cùng trong nền kinh

tế Khi rơi vào trạng thái thiếu vốn hoặc cần giải quyết nhu cầu cấp bách trong chitrả, các NHTM có thể vay tiền của NHNN Hình thức chủ yếu là tái chiết khấu hoặctái cấp vốn NHNN thường ưu tiên chiết khấu cho những giấy tờ có giá có thời gianđáo hạn ngắn, khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ cao, đặc biệt là đáp ứng yêu cầuđặt ra của Chính phủ trong từng thời kì NHTM có thể cầm cố hoặc tái cầm cố cácthương phiếu tại NHNN Biện pháp cuối cùng là xin tái cấp vốn trong hạn mức tíndụng Ngoài ra, NHNN có hình thức cho vay thanh toán đối với các NHTM Có 2phương thức: vay qua đêm và vay thấu chi

+ Vay các tổ chức tín dụng khác: Các NHTM chuyển vốn cho nhau trong thờigian ngắn với mức lãi suất hợp lý để đảm bảo mức dự trữ tiền gửi theo quy định vàđáp ứng được nhu cầu ngân quỹ đột xuất Có 2 hình thức: vay có tài sản đảm bảo vàkhông có tài sản đảm bảo Các bước cơ bản: 2 NHTM trao đổi trực tiếp về số tiền,lãi suất, thời hạn ngân hàng đi vay sẽ đến ngân hàng cho vay để lấy tiền và kí hợpđồng Hợp đồng lập thành 4 liên, mỗi bên giữ 2 liên (1 liên lưu hồ sơ và 1 liên lưu

kế toán) Đối với vay cần tài sản đảm bảo phải có thêm thủ tục chứng minh tài sảnđảm bảo

+ Vay trên thị trường tài chính

Trang 15

• Huy động vốn ngắn hạn: ngân hàng phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn như:

kì phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu…

• Huy động vốn trung và dài hạn: phát hành trái phiếu

Thực chất đây là khoản vay không có đảm bảo nên thông thường, các ngânhàng có uy tín, trả lãi suất cao sẽ vay mượn được nhiều hơn

- Tiền trong thanh toán

+ Thanh toán quốc tế: là các khoản tiền kí quỹ của khách hàng cho chuyểntiền quốc tế, nhờ thu và mở thư tín dụng trong khoảng thời gian chờ thanh toán + Thanh toán trong nước: là khoản tiền khách hàng chuyển ủy nhiệm chi đềnghị chuyển tiền nhưng qua giờ thanh toán bù trừ; tiền chờ thanh toán séc bảo chi+ Thanh toán nội bộ: là khoản thuế chưa nộp, lương chưa trả, phúc lợichưa chia…

- Các khoản treo chờ xử lý: trong quá trình hoạt động thường có những giaodịch chưa xác định đúng phát sinh mà phải chờ xử lý, khi đó ngân hàng sẽ hạchtoán giao dịch đó vào tài khoản treo chờ xử lý ngân hàng có thể coi đây là nguồnvốn và sử dụng khi chưa xác định đc nguyên nhân và quyết toán

- Tiền ủy thác: là nguồn tiền mà NHNN hoặc các tổ chức tín dụng khác ủynhiệm cho ngân hàng thực hiện 1 nhiệm vụ nào đó

1.3 Huy động tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng thương mại

1.3.1 Các khái niệm về tiền gửi tiết kiệm

Trong dân chúng luôn tồn tại các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng Khi

đó, họ có thể tớ ngân hàng để nhờ ngân hàng giữ hộ và mong muốn ngân hàng trảlãi Đó là hành vi gửi tiết kiệm tại ngân hàng Đối với ngân hàng hiện đại, tiền gửitiết kiệm là một trong những nguồn quan trọng bậc nhất nhờ tính ổn định cao

Tại Việt Nam, theo Quyết định của Thống đốc NHNN số NHNN ngày 13/09/2004 về việc ban hành quy chế về tiền gửi tiết kiệm:

1160/2004/QĐ Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản TGTK,được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhậnTGTK và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi

Trang 16

- Người gửi tiền là người thực hiện giao dịch liên quan đến TGTK Ngườigửi tiền có thể là chủ sở hữu TGTK, hoặc đồng chủ sở hữu TGTK, hoặc ngườigiám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu TGTK, của đồng chủ

sở hữu TGTK

- Chủ sở hữu TGTK là người đứng tên trên thẻ tiết kiệm

- Đồng chủ sở hữu TGTK là 2 cá nhân trở lên cùng đứng tên trên thẻ tiết kiệm

- Giao dịch liên quan đến TGTK là giao dịch gửi, rút TGTK và các giao dịchkhác liên quan đến TGTK

- Tài khoản TGTK là tài khoản đứng tên một cá nhân hoặc một số cá nhân vàđược sử dụng để thực hiện một số giao dịch thanh toán theo quy định tại Quy chế này

- Thẻ tiết kiệm là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của chủ sở hữu TGTKhoặc đồng chủ sở hữu TGTK về khoản tiền đã gửi tại tổ chức nhận TGTK

- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là TGTK mà người gửi tiền có thể rút tiềntheo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ chứcnhận TGTK

- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là TGTK mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiềnsau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận TGTK

- Kỳ hạn gửi tiền là khoảng thời gian kể từ ngày người gửi tiền bắt đầu gửitiền vào tổ chức nhận TGTK đến ngày tổ chức nhận TGTK cam kết trả hết tiền gốc

và lãi TGTK

1.3.2 Phân loại tiền gửi tiết kiệm

1.3.2.1 Căn cứ vào thời hạn

- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: TGTK không kỳ hạn là TGTK mà ngườigửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kì ngày làmviệc nào của tổ chức nhận TGTK Mục đích của loại tiền gửi này là nhằm nhờngân hàng cất trữ, bảo quản hộ tài sản, tích lũy tài sản nên khách hàng thường phảitrả lệ phí cho ngân hàng, nhưng do cạnh tranh và các ngân hàng sử dụng nguồnvốn này để hoạt động nên khách hàng không phải trả phí mà ngân hàng trả lãi chokhách hàng với lãi suất khuyến khích (thấp) Do vậy, loại nguồn này chỉ được sử

Trang 17

dụng một phần, phần lớn còn lại được sử dụng để đảm bảo thanh toán cho kháchhàng.

- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: TGTK có kỳ hạn là TGTK mà người gửi tiềnchỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhậnTGTK Tiết kiệm có kỳ hạn là hình thức tiết kiệm với mục đích chủ yếu là hưởnglãi căn cứ vào thời hạn chọn khi gửi tiền Với tiết kiệm có kỳ hạn, khách hàng gửitiền một lần và rút vốn gửi ban đầu, tiền lãi trả vào đúng thời điểm đáo hạn của sổtiết kiệm Mục đích của tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là khách hàng muốn đầu tư đểhưởng lãi chứ không phải để cất trữ hay thanh toán Chính vì vậy lãi suất của nguồnnày tương đối cao, nhưng lại khá ổn định Các hình thức thường thấy là phiếu tiếtkiệm, chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm, tiết kiệm nhà ở… Kỳ hạn TGTK của NHTM rất

đa dạng, bao gồm nhiều mức kỳ hạn khác nhau như: kỳ hạn theo tuần, 1 tuần, 2tuần, 3 tuần; kỳ hạn theo tháng, 1 tháng, 3 tháng, 12 tháng, 18 tháng… Lãi có thểtrả đầu kỳ, cuối kỳ hoặc hàng tháng

1.3.2.2 Căn cứ vào phương thức trả lãi

- Tiền gửi tiết kiệm lãi trả trước: Sản phẩm tiết kiệm phù hợp với những kháchhàng gửi tiền nhưng muốn nhận lãi trước để chi tiêu Ngân hàng sẽ trả lãi ngay tạithời điểm gửi tiền, gốc được trả vào cuối kì Nếu như khách hàng rút tiền trước hạn,khách hàng sẽ phải trả lại lãi suất trả trước đã nhận và được nhận lãi suất không kìhạn Đối với ngân hàng, lãi suất thực (NEC) của khoản tiền gửi tiết kiệm lãi trảtrước được tính theo công thức: NEC = i/(1-i)

- Tiền gửi tiết kiệm trả lãi sau: Ngân hàng sẽ thanh toán cả gốc và lãi vào cuối

kì Nếu khách hàng rút tiền trước thời hạn, khoản tiền gửi sẽ chỉ được tính lãi suấtkhông kì hạn Nếu quá hạn mà khách hàng không rút tiền, ngân hàng sẽ tự độngchuyển toàn bộ số dư sang kì hạn mới tương ứng

- Tiền gửi tiết kiệm trả lãi định kì: Tài khoản tiết kiệm trả lãi định kỳ là tàikhoản tiền gửi có kỳ hạn, theo đó, khách hàng được lĩnh lãi định kỳ hàng tháng/quý

để phục vụ nhu cầu chi tiêu của mình hoặc người thân Lãi suất được trả định kìhàng tháng hoặc hàng quý Nếu đến hạn thanh toán mà khách hàng không đến, phần

Trang 18

lãi của kỳ cuối cùng sẽ tự động được chuyển vào tài khoản cá nhân hoặc tài khoảntrả lãi của khách hàng, và chuyển số tiền gốc sang một kỳ hạn mới tương đương với

kỳ hạn ban đầu Khách hàng cũng được phép tất toán trước hạn và hưởng lãi suấtkhông kỳ hạn Lãi suất thực của phương thức trả lãi định kì là : NEC = (1+ i/k)k – 1.Tiền gửi tiết kiệm còn có thể phân theo tiêu thức loại tiền gửi: VND, USD,EUR hoặc vàng…

1.3.3 Vai trò của tiền gửi tiết kiệm

1.3.3.1 Vai trò của tiền gửi tiết kiệm đối với ngân hàng

- Nguồn vốn tiền gửi là nguồn vốn chủ yếu để thực hiện các hoạt động chovay và đầu tư Trong ngân hàng, vốn là đối tượng kinh doanh chủ yếu, là cơ sở đểngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh Ngoài vốn chủ sở hữu có sẵn, ngânhàng phải đi huy động vốn, từ tiền vay và tiền gửi Nguồn vốn tiền gửi, đặc biệt làtiền gửi tiết kiệm làm giảm sự phụ thuộc vào tiền vay cho ngân hàng Bên cạnh đó,quy mô tiền gửi tiết kiệm cũng đóng vai trò lớn trong việc quyết định thu hẹp hay

mở rộng quy mô tín dụng Ngân hàng nào có nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm huy độngđược càng lớn thì khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế càng được mở rộng

- Là nguồn tạo ra chi phí chính trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.Khoản mục chi phí trả lãi luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí của ngân hàng.Đây là nguồn vốn chủ yếu được ngân hàng sử dụng So sánh với việc sử dụng vốntiền vay thì vốn tiền gửi tiết kiệm thường có lãi suất thấp hơn Các ngân hàngthường tìm cách huy động được vốn tiền gửi tiết kiệm nhiều nhất có thể để phục vụhoạt động kinh doanh của ngân hàng

- Quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng Quy mô nguồn vốn tiền gửitiết kiệm thể hiện năng lực tài chính và uy tín của ngân hàng Nguồn vốn huy độngcàng lớn càng thể hiện năng lực tài chính mạnh mẽ và sự tin tưởng của khách hàngvào ngân hàng, góp phần củng cố vững chắc vị thế của ngân hàng trên thị trường

1.3.3.2 Vai trò của tiền gửi tiết kiệm đối với khách hàng

Trang 19

- Đảm bảo an toàn cho khoản tiền nhàn rỗi: Người dân luôn dành một khoảntiền trong tổng thu nhập của mình để tiết kiệm Thay vì để tiền tiết kiệm ở nhà,người dân có thể gửi chúng vào ngân hàng để tránh rủi ro trộm cắp.

- Đem lại khoản lãi dùng cho việc chi tiêu: Đối với tiền gửi tiết kiệm, kháchhàng được hưởng lãi và có thể tích lũy tiền để thực hiện mục đích nào đó cho tươnglai Không những thế, trong những trường hợp khách hàng gặp khó khăn về mặt tàichính, ngân hàng có thể tài trợ cho khách hàng bằng các hình thức cầm cố, chiếtkhấu sổ tiết kiệm, cho vay, bảo lãnh,…

- Hưởng các dịch vụ đi kèm: Khi gửi tiền vào ngân hàng, ngoài tính chất

an toàn, khách hàng còn được hưởng các dịch vụ thanh toán an toàn, nhanhchóng, tiện lợi như thanh toán séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thanh toán qua hệthống máy ATM, thanh toán thông qua Internet,

1.3.4 Thanh toán chi trả gốc và lãi của tài khoản tiền gửi tiết kiệm

- Cách thức trả gốc tiền gửi tiết kiệm: Thông thường số tiền gốc gửi tiết kiệm

sẽ được trả khi đến ngày đáo hạn Đến ngày đáo hạn mà bạn không đến rút gốc thì

số tiền này sẽ tự động cộng lãi và quay vòng sang kỳ hạn mới với mức lãi suất ápdụng cho kỳ hạn tại thời điểm hiện tại Khi quá cần thiết bạn vẫn có thể rút trướchạn (trong trường hợp này nhiều ngân hàng sẽ chỉ tính lãi suất tiền gửi không kỳhạn cho thời gian mà bạn thực gửi) Ngoài ra, một số ngân hàng còn cung cấp sảnphẩm tiết kiệm rút gốc linh hoạt tạo điều kiện cho khách hàng có thể rút số tiền gốcthành nhiều lần phù hợp với nhu cầu đột biến của mình

- Cách thức trả lãi: Tiền lãi của khoản tiền gửi tiết kiệm được tính như sau: Tính theo tháng:Tổng số tiền lãi = Số tiền gốc x lãi suất(theo năm) / 12 x sốtháng gửi

Tính theo ngày: Tổng số tiền lãi = Số tiền gốc x lãi suất(theo năm) / 360 x sốngày gửi

Tiền lãi thông thường được trả cuối kỳ (khi đáo hạn sổ tiết kiệm) Tuy nhiên,nhiều ngân hàng có loại hình tiết kiệm trả lãi tháng, trả theo quý hoặc trả theo năm,tức là cứ hết mỗi tháng/quý/năm bạn có thể đến nhận tiền lãi cho tháng/quý/năm đó

Trang 20

và tiền gốc vẫn gửi lại ngân hàng cho đến khi đáo hạn Ngoài ra, cũng có nhiềungân hàng áp dụng hình thức trả lãi trước dành cho những khách hàng có nhu cầuchi tiêu ngay.

1.3.5 Các phương pháp định giá tiền gửi:

Hiện nay, cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng là việc cạnh tranhgay gắt giữa các ngân hàng Do đó, chi phí trả lãi tiền gửi của các ngân hàng ngàymột tăng cao Trong việc tính toán chi phí trả lãi, các ngân hàng phải tìm cách cânbằng được hai mục tiêu: tăng trưởng tiền gửi và khả năng sinh lời Lãi suất ngânhàng đưa ra phải đủ cao để thu hút và giữ chân khách hàng, đồng thời mức lãi suất

đó không được quá cao để tránh dẫn đến tình trạng giảm sút lợi nhuận của ngânhàng Vì vậy, việc định giá các dịch vụ liên quan đến tiền gửi rất quan trọng TheoPeter Rose, các phương pháp định giá tiền gửi nói chung và tiền gửi tiết kiệm nóiriêng bao gồm:

1.3.5.1 Định giá tiền gửi theo phương pháp tổng hợp chi phí - thu nhập

Trong hoạt động ngân hàng ngày nay, các nhà quản lý nhìn chung không chấpnhận quan điểm cho rằng khách hàng là người phải chịu toàn bộ chi phí dịch vụ liênquan đến tiền gửi Cho đến vài năm gần đây, luận điểm "khách hàng nên được sửdụng miễn phí các dịch vụ về tiền gửi" được xem như một đường lối khôn ngoannhằm đối phó với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt phía các trung gian tài chínhkhác trên thị trường truyền thống của ngân hàng Khách hàng chỉ phải trả mộtkhoản lệ phí nhỏ, thấp hơn chi phí hoạt động và chi phí quản lý chung cho việccung cấp các khoản tiền gửi giao dịch và các khoản tiền gửi khác Kết quả là tỷ lệthu nhập khách hàng được hưởng tăng lên đáng kể, người ta gọi đây là lãi suất ẩn –chênh lệch giữa chi phí cho việc cung cấp dịch vụ tiền gửi và số tiền thực tế kháchhàng phải thanh toán

Ngân hàng tiến hành định giá tiền gửi độc lập, tách biệt khỏi các khoản chovay và các dịch vụ khác Đồng thời, mỗi dịch vụ liên quan tới tiền gửi thường đượcđịnh giá sao cho khoản thu đủ bù đắp tất cả hoặc phần lớn chi phi cho việc cung cấpdịch vụ đó Giá của các dịch vụ này được xác định theo công thức tổng hợp chi phí

Trang 21

- thu nhập như sau:

vụ tiền gửi

+

Chi phí quản lýcung dự tính phân

bổ cho bộ phậnnhận tiền gửi

+

Định mức lợinhuận từ 1đơn vị dịch

vụ tiền gửiPhương pháp định giá theo chi phí như công thức trên khuyến khích các ngânhàng đặt giá sát hơn với chi phí và loại bỏ nhiều dịch vụ trước đây miễn phí Tronghầu hết các trường hợp, những khoản phí dịch vụ này dường như tăng nhanh hơn tỷ

lệ lạm phát Kết quả của những xu hướng này nói chung có lợi cho ngân hàng, thunhập từ phí dịch vụ vượt trội tổn thất do những khách hàng khó tính đóng tài khoảncủa họ tại ngân hàng

1.3.5.2 Phương pháp đánh giá chi phí dịch vụ tiền gửi trung bình

Việc định giá theo phương pháp tổng hợp chi phí – thu nhập đòi hỏi ngân hàngphải tính toán chính xác chi phí cho mỗi dịch vụ tiền gửi Điều này đòi hỏi ngân hàng:(1) Phải tính toán tỉ lệ chi phí cho mỗi nguồn vốn (được điều chỉnh theo

tỷ lệ dự trữ bắt buộc, chi phí bảo hiểm tiền gửi và ngân quỹ )

(2) Nhân từng tỷ lệ chi phí với tỉ lệ quỹ tương xứng, hình thành từ cácnguồn khác nhau

(3) Cộng tất cả các kết quả thu được để xác định chi phí nguồn vốn trungbình của ngân hàng

Phương pháp này được xây dựng dựa trên giả định rằng : ngân hàng chỉ quantâm đến chi phí trung bình của tất cả nguồn vốn mà không quan tâm tới chi phí củatừng loại tiền gửi

1.3.5.3 Phương pháp tập trung nguồn vốn

Phương pháp tập trung nguồn vốn giúp nhà quản lý ngân hàng có thể xác địnhđược ảnh hưởng của bất kỳ sự thay đổi nào trong chi phí huy động vốn Chẳng hạn,nhà quản lý có thể tiến hành thử nghiệm với các giao dịch về chi phí tiền gửi khácnhau (lãi suất, lệ phí và dự trữ hối phiếu) cho bất kỳ kế hoạch huy động vốn nào vàđánh giá ảnh hưởng của chúng đến chi phí huy động vốn của ngân hàng Đương

Trang 22

nhiên, các nhà quản lý cần phải xác định tiền gửi tối thiểu mà tại đó ngân hàng vẫnđảm bảo hoạt động có lãi Có như vậy chính sách định giá dịch vụ về tiền gửi mớithực sự an toàn Hơn nữa, việc định giá quá dễ dãi dựa trên tình cảm giữa ngânhàng với các khách hàng lớn có thể dẫn đến sự tăng lên đột biến trong chi phi huyđộng vốn trong khi tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng tăng không đáng kể.

1.3.5.4 Phương pháp sử dụng chi phí cận biên để xác định lãi suất tiền gửi

Nhiều nhà phân tích tài chính cho rằng nếu như điều kiện cho phép, các ngânhàng không nên dùng chỉ tiêu chi phí bình quân mà nên sử dụng chi tiêu chi phí cậnbiên – chi phí tăng thêm cho một đồng vốn mới - trong việc định giá các khoản tiềngửi và các nguồn vốn khác của ngân hàng Lý do ở đây là sự thay đổi liên tục củalãi suất sẽ làm cho chi phí trung bình trở thành một tiêu chuẩn không trung thực vàphi thực tế trong việc định giá tiền gửi Ví dụ, nếu lãi suất đang giảm, chi phí tăngthêm (chi phí cận biên biên) để huy dộng một nguồn vốn mới có thể giảm đáng kể,xuống dưới mức chi phí nguồn vốn bình quân của ngân hàng Một số khoản tíndụng và đầu tư có thể được coi là không sinh lợi khi đánh giá theo chi phí nguồnvốn trung bình nhưng lại có thể là sinh lợi nếu đánh giá theo chỉ tiêu chi phí lãi cậnbiên bởi vì hiện tại ngân hàng đang huy dộng vốn với lãi suất thấp hơn để thực hiệncác khoản tín dụng và đầu tư này Trái lại khi lãi suất đang tăng, chi phí cận biêncủa các khoản vốn mới có thể lớn hơn chi phí nguồn vốn trung bình đáng kể Nếuviệc xét duyệt những khoản cho vay mới được thực hiện trên cơ sở chi phí trungbình thì khả năng sinh lời của các khoản cho vay này có thể sẽ rất hạn chế khi đánhgiá theo chi phí huy động vốn cận biên - một chỉ tiêu đã tăng rất nhanh trong nhữngnăm gần đây

1.3.5.5 Phương pháp định giá xâm nhập thị trường

Xâm nhập thị trường là một phương pháp định giá không nhấn mạnh tới vấn

đề lợi nhuận, ít nhất là ngắn hạn Ý tưởng ở đây là nâng cao lãi suất, thường là caohơn hẳn mặt bằng lãi suất thị trường hoặc thu phí dịch vụ thấp hơn mức phí thịtrường để có thể thu hút được số lượng khách hàng tối đa Nhà quản lý hy vọngrằng sự gia tăng nhanh chóng của quy mô tiền gửi và của những khoản tín dụng sẽ

Trang 23

bù đắp một phần sự giảm sút trong lợi nhuận cận biên Với chiến lược này, ngânhàng muốn tối đa hóa thị phần tron một thị trường đang tăng trưởng nhanh chóng.Đối với khách hàng, chọn ra được một ngân hàng có đủ uy tín để gửi tiền làmột công việc rất tốn kém Do vậy, khách hàng thường tập trung mua dịch vụ củamột ngân hàng Tiền gửi thường kém nhạy cảm hơn các nguồn tiền khác trướcnhững thay đổi trong lệ phí, lãi suất và chính sách huy động vốn của ngân hàng đốithủ Nếu ngân hàng có thể đưa ra lãi suất cao hơn mức bình quân thị trường trongmột thời gian đủ dài để tạo ra sự trung thành của khách hàng thì trong tương lai,khách hàng vẫn sẽ gửi tiền vào ngân hàng dù rằng lãi suất mà ngân hàng đưa rakhông còn cao như trước Chi phí không nhỏ cho việc lựa chọn và thay đổi ngânhàng là nguyên nhân giải thích cho hành vi nêu trên của khách hàng.

Trên thực tế, sự thất bại của các ngân hàng trong chiến lược thu hút thêm tiềngửi bằng cách giảm lệ phí hoặc nâng cao lãi suất bắt nguồn từ tính ổn định tươngđối của tiền gửi: khách hàng thường không thay đổi ngân hàng ngay lập tức bởi vìchi phí và rủi ro cho sự thay đổi này là không nhỏ Các công ty và các hộ gia đìnhtrước khi quyết định gửi tiền vào một ngân hàng nào đều xem xét đến rất nhiều yếu

tố, không chỉ có lãi suất

1.3.5.6 Định giá tiền gửi trên cơ sở mối quan hệ tổng thể với khách hàng

Với ý tưởng nhằm tranh thủ những khách hàng tốt nhất, ngân hàng đã tiếnhành định giá tiền gửi theo số lượng dịch vụ mà khách hàng sử dụng Những kháchhàng sử dụng từ hai dịch vụ trở lên có thể phải chịu lệ phí ở mức thấp, thậm chíkhông phải trả lệ phí, còn những khách hàng chỉ có quan hệ hạn chế với các ngânhàng sẽ phải trả lệ phí cao Nhà quản lý cho rằng việc sử dụng một số lượng lớn cácdịch vụ sẽ làm tăng sự phụ thuộc của khách hàng vào ngân hàng và điều này sẽkhiến cho khách hàng gặp nhiều khó khăn hơn khi muốn tìm kiếm một ngân hàngkhác Bởi vậy, ít nhất là trên lý thuyết, chính sách định giá trên cơ sở quan hệ sẽ tạo

sự trung thành của khách hàng và làm cho họ kém nhạy cảm hơn với lãi suất tiềngửi cũng như phí dịch vụ của đối thủ cạnh tranh

1.3.6 Những rủi ro chính đối với hoạt động huy động vốn tiền gửi tiết kiêm

Trang 24

1.3.6.1 Rủi ro thanh khoản

Theo định nghĩa của Ủy ban thanh tra ngân hàng Basel, rủi ro thanh khoản là:

“rủi ro mà một định chế tài chính không đủ khả năng tìm kiếm đầy đủ nguồn vốn để đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hàng ngày và cũng không gây tác động đến tình hình tài chính” Nhìn chung, rủi ro

thanh khoản là rủi ro xảy ra khi ngân hàng thiếu ngân quỹ hoặc tài sản ngắn hạnmang tính khả thi để đáp ứng nhu cầu của người gửi và người vay Tính thanhkhoản của ngân hàng thương mại trong hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm đượcxem như khả năng tức thời (the short-run ability) để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửitiết kiệm của khách hàng Như vậy, rủi ro thanh khoản trong hoạt động huy độngtiền gửi tiết kiệm là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy đủlượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chiphí cao

Những biểu hiện về rủi ro thanh khoản có thể được thể hiện như sau:

(a) Rủi ro thanh khoản gắn liền với hoạt động tài trợ thể hiện nguồn vốn bị cắtgiảm ngoài dự kiến: Nguồn tiền gửi bị giảm mạnh do sự suy giảm uy tín của địnhchế tài chính; nguồn tiền gửi được chuyển sang định chế tài chính khác do thay đổitrong lãi suất tiền gửi; lượng tiền tiết kiệm bị suy giảm đột biến do nhu cầu rút vốncủa người gửi tiền

(b) Rủi ro thanh khoản gắn liền với đầu tư do không thu hồi được các khoảnđầu tư trên thị trường và các khoản cho vay từ sự đổ vỡ trong đầu tư của thị trường

và các con nợ bị phá sản; mức tăng đầu tư ngoài dự kiến do một khoản vốn lớn bịrút đi trong khuôn khổ các thỏa thuận cam kết; sự suy giảm tính thanh khoản trênthị trường của các tài sản cầm cố do khả năng chuyển đổi các tài sản cầm cố bị suygiảm, giá cả các tài sản cầm cố bị suy giảm mạnh, và các tài sản cầm cố mất đi tínhhợp pháp về cầm cố;

(c) Rủi ro thanh khoản gắn liền với các yếu tố khác như là thiếu nguồn vốn đổvào do khiếm khuyết của công tác sổ sách hoặc các khiếm khuyết khác gây ra, hệthống máy tính bị trục trặc kỹ thuật và hệ thống thanh toán có vấn đề

Trang 25

Rủi ro thanh khoản trong hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng

là do các nguyên nhân sau:

Một là, ngân hàng huy động quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá

nhân; sau đó chuyển hoá chúng thành những tài sản đầu tư dài hạn Việc này dẫnđến tình trạng mất cân đối về kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, mà thườnggặp là dòng tiền thu về từ tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng tiền chi ra để trả các khoảntiền gửi đến hạn

Hai là, sự thay đổi của lãi suất có thể tác động đến cả người gửi tiền và người

vay vốn Khi lãi suất giảm, một số người gửi tiền rút vốn khỏi ngân hàng để đầu tưvào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn; còn những người đi vay tích cực tiếp cận cáckhoản tín dụng vì lãi suất đã thấp hơn trước Như vậy, rốt cuộc lãi suất thay đổi sẽảnh hưởng trạng thái thanh khoản của ngân hàng Hơn nữa, những xu hướng của sựthay đổi lãi suất còn ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà ngân hàng

có thể đem bán để tăng thêm nguồn cung thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đếnchi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ

Ba là, do ngân hàng có chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản không phù hợp

và kém hiệu quả như: các chứng khoán đang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dựtrữ của ngân hàng không đủ cho nhu cầu chi trả

1.3.6.2 Rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất là rủi ro phát sinh khi có sự biến động của chênh lệch lãi suấtgiữa lãi suất cho vay của ngân hàng với lãi suất phải trả cho việc đi vay, dẫn đếnlàm giảm thu nhập của ngân hàng

Cơ cấu tài sản Có, tài sản Nợ sẽ quyết định tình trạng rủi ro lãi suất của mộtngân hàng Tình trạng rủi ro lãi suất phụ thuộc vào mức độ cân đối giữa tài sản Có

và tài sản Nợ mà điển hình là khi ngân hàng dùng tài sản Nợ ngắn hạn hoặc với lãisuất thay đổi để đầu tư vào tài sản Có dài hạn hơn với lãi suất cố định Ngân hàng

sẽ gặp rủi ro khi lãi suất ngắn hạn tăng, chi phí ngân hàng tăng lên trong khi thunhập ở tài sản Có dài hạn hơn vẫn giữ nguyên Nếu chênh lệch thu nhập ở tài sản

Có không bù đắp chi phí nghiệp vụ kinh doanh thì ngân hàng sẽ bị ăn mòn vào vốn

Trang 26

Ngược lại, khi nhận lại vốn với một thời hạn và lãi suất ấn định, lợi nhuận ngânhàng sẽ bị giảm khi lãi suất thị trường bị giảm xuống.

Ngoài ra, rủi ro lãi suất còn có thể xảy ra trong những trường hợp sau đây:Lạm phát tăng, lãi suất buộc phải điều chỉnh theo xu hướng tăng lên, chi phícho hoạt động ngân hàng cũng tăng lên, do đó làm giảm thu nhập của ngân hàng.Khi lạm phát cao thì thường có lợi cho người vay vốn và bất lợi cho người cho vay.Rủi ro lãi suất cũng có thể xảy ra do trình độ thấp kém, bị thua thiệt trong việccạnh tranh lãi suất ở thị trường hoặc do nhiều yếu tố của nền kinh tế tác động đếnlãi suất như cung, cầu, yếu tố khác của thị trường Khi ngân hàng có quyết địnhđiều chỉnh lãi suất theo hướng giảm xuống, trong khi tiền gửi có kỳ hạn chưa đếnhạn trả, tức là khoản tiền gửi có kỳ hạn lại không giảm tương ứng, nên cũng dẫnđến rủi ro lãi suất

1.3.7 Mục tiêu và nguyên tắc của quản trị tiền gửi tiết kiệm

1.3.7.1 Mục tiêu

- Tìm kiếm nguồn vốn chi phí thấp nhất:Chi phí trả lãi được coi là chi phí lớnnhất trong các chi phí của Ngân hàng Thông thường có ba cách trả lãi: trả lãi trước,trả lãi khi đến hạn và trả lãi nhiều lần theo định kỳ Mỗi cách trả lãi khác nhau sẽảnh hưởng đến chi phí khác nhau Quản lý chi phí trả lãi là hoạt động thường xuyên

và quan trọng của các Ngân hàng Việc tính chi phí của từng nguồn vốn cụ thể chophép các nhà quản lý xác định nguồn vốn nào rẻ hơn, có nên thay đổi lãi suất haykhông, thu nhập từ tài sản tăng thêm có đủ bù đắp chi phí của nguồn vốn tăng thêmhay không Về nguyên tắc, tiền gửi tiết kiệm không kì hạn và có kì hạn càng ngắn,tính ổn định thấp thì chi phí nguồn vốn cũng phải thấp tương ứng Tuy nhiên nguồn

rẻ thì lại đồng nghĩa với giảm tính cạnh tranh của Ngân hàng Tính chi phí một cáchchính xác cho phép Ngân hàng chủ động lựa chọn những nguồn vốn khác nhau vàđảm bảo doanh thu đủ bù đắp chi phí và đem lại tỷ lệ thu nhập mong đợi

- Đảm bảo giữa huy động và sử dụng vốn: Huy động vốn và sử dụng vốn làhai mảng hoạt động chính của ngân hàng Vốn tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn có tỷtrọng lớn trong các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay Quy mô vốn phản

Trang 27

ánh năng lực huy động của ngân hàng Tuy nhiên, ngân hàng cần có các chính sách

sử dụng vốn và thu hút tín dụng hiệu quả để tránh tình trạng "ế vốn"

- Hạn chế rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản: Rủi ro trong hoạt động ngân hàng

là điều mà các ngân hàng luôn lo lắng, đặc biệt là trong hoạt động huy động tiền gửitiết kiệm, rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất càng được quan tâm Mỗi ngân hàngđều có một chính sách riêng để phòng ngừa các rủi ro này Hạn chế rủi ro thanhkhoản và rủi ro lãi suất không chỉ đem lại tính an toàn, ổn định cho ngân hàng màcòn xây dựng được lòng tin đối với khách hàng

1.3.7.2 Nguyên tắc

- Thực hiện đúng các quy định của pháp luật và NHNN: Là một tổ chức tíndụng, ngân hàng thương mại phải chấp hành tất cả các quy định và pháp luật củađất nước Tại Việt Nam, các ngân hàng thương mại phải tuân thủ theo các luật tổchức tín dụng, luật ngân hàng, luật bảo hiểm tiền gửi và các quy định về lãi suất,vốn pháp định…

+ Hoàn trả đầy đủ gốc và lãi đúng hạn: Đặc điểm của tiền gửi nói chung vàtiền gửi tiết kiệm nói riêng là khách hàng có thể rút tiền bất cứ khi nào, kể cả khichưa đến hạn và ngân hàng phải có trách nhiệm tất toán cho khách Do đó, ngânhàng phải có chính sách quản trị rủi ro thanh khoản hợp lý để có thể phục vụ kháchhàng bất cứ lúc nào

+ Tham gia bảo hiểm tiền gửi: Theo điều 4, Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012, bảohiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửitrong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tìnhtrạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản Cũng theo điều

12 luật này, tổ chức bảo hiểm tiền gửi (ở đây là ngân hàng cung ứng dịch vụ tiềngửi tiết kiệm) có các quyền và nghĩa vụ sau:

(1) Nộp hồ sơ đề nghị cấp Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi

(2) Được cấp Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi

(3) Nộp phí bảo hiểm tiền gửi đầy đủ và đúng thời hạn

Trang 28

(4) Yêu cầu tổ chức bảo hiểm tiền gửi chi trả tiền bảo hiểm cho người đượcbảo hiểm tiền gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi phát sinh nghĩa vụ trảtiền bảo hiểm.

(5) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảohiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật

(6) Cung cấp thông tin về tiền gửi được bảo hiểm cho tổ chức bảo hiểm tiềngửi theo định kỳ hoặc theo yêu cầu của tổ chức bảo hiểm tiền gửi

+ Bảo mật thông tin của khách hàng: Hiện nay, nhiều giao dịch ngân hàng(chuyển tiền điện tử, thẻ thanh toán và rút tiền tự động ATM, Mobile banking,Internet banking ) được xử lý trực tuyến trên mội trường mạng máy tính vàInternet Cho nên, thông tin dữ liệu của hoạt động ngân hàng trở thành một nguồntài nguyên quan trọng của cả hệ thống ngân hàng, nguồn tài nguyên này cần đượcbảo vệ một cách nghiêm ngặt Ngân hàng cần phải có hệ thống thông tin được kiểmsoát chặt chẽ và đội ngũ nhân viên có đạo đức để tránh tiết lộ thông tin của kháchhàng Việc mất dữ liệu khách hàng không chỉ là thiệt hại vật chất mà còn làm giảm

uy tín, lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng

- Đảm bảo tính hiệu quả của công tác huy động tiền gửi tiết kiệm: hiệu quảhuy động nguồn tiền gửi tiết kiệm của NHTM được thể hiện ở khả năng đáp ứngcao nhất nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng ( kịp thời, đầy đủ) với mức chi phí hợp

lý Hiệu quả của công tác huy động vốn tiền gửi tiết kiệm thể hiện ở các yếu tố: quy

mô, tốc độ tăng trưởng tiền gửi tiết kiệm, cơ cấu tiền gửi tiết kiệm, chi phí trả lãi,cân đối cho vay và huy động vốn Với mỗi tiêu chí, ngân hàng phải có các chínhsách tận dụng nguồn lực tối đa để hoạt động huy động vốn tiền gửi tiết kiệm diễn rahiệu quả nhất

- Không để xảy ra sự sụt giảm bất thường của nguồn tiền gửi: Quy mô vốnhuy động có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động của Ngân hàng Ngân hàngmuốn mở rộng hoạt động cần có quy mô vốn tương đối lớn, trong đó vốn huy động

từ tiền gửi tiết kiệm là một bộ phận quan trọng Tuy nhiên, việc mở rộng hoạt độngchỉ thực sự an toàn khi nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm luôn có tốc độ tăng trưởng ổn

Trang 29

định Nếu qui mô vốn hiện tại lớn nhưng Ngân hàng không kiểm soát, không dựđoán được xu hướng của các dòng tiền gửi vào và rút ra trong giai đoạn tiếp theo thì

sẽ rất khó khăn trong việc cho vay va đầu tư và mất đi sự chủ động của mình

Trang 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM TẠINGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ VIỆT NAM

2.1 Giới thiệu về Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam

2.1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại

cổ phần Quốc tế Việt Nam

Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (VIB) được thành lập theo Quyết định

số 22/QĐ/NH5 ngày 25/01/1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vàchính thức đi vào hoạt động từ ngày 18/09/1996 với vốn điều lệ ban đầu là 50 tỷđồng, với các cổ đông sáng lập: Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, Ngân hàngNông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và các cá nhân là các doanh nhânthành đạt trong và ngoài nước

Năm 2006, vốn điều lệ của VIB tăng lên thành hơn 1.000 tỷ đồng VIB cũngtriển khai thành công Dự án Hiện đại hóa Công nghệ Ngân hàng, trở thành thànhviên chính thức của Tổ chức Thẻ quốc tế Visa và MasterCard, thành lập Trung tâmthẻ VIB, phát hành độc lập thẻ ghi nợ nội địa VIB Values Hệ thống ATM của Ngânhàng chính thức đi vào hoạt động

Năm 2007, VIB tăng vốn điều lệ lên hơn 2000 tỷ và đứng thứ ba trong 500Doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam

Năm 2009, VIB ký thỏa thuận hợp tác toàn diện với ngân hàngCommonwealth Bank of Australia (CBA) và triển khai nhiều dự án lược phục vụchiến lược kinh doanh mới: Dự án thiết kế không gian bán lẻ, Dự án phát triển hệthống quản trị nhân sự và hiệu quả công việc, Dự án chiến lược công nghệ, Chươngtrình chuyển đổi Hệ thống chi nhánh…

Tính đến hết năm 2012, VIB có vốn điều lệ là 4.250 tỷ đồng Cổ đông chiếnlược là Ngân hàng Commonwealth Bank of Australia - Ngân hàng bán lẻ số 1 tại Úc

và là Ngân hàng hàng đầu thế giới với trên 100 năm kinh nghiệm với tỉ lệ sở hữu cổphần là 20%

Trang 31

Ngân hàng Quốc tế Việt Nam hiện có 4.300 cán bộ nhân viên phục vụ kháchhàng tại 160 chi nhánh và phòng giao dịch tại trên 27 tỉnh/thành trọng điểm trong cảnước Trụ sở chính được đặt tại Tầng 8, 9, 10, tòa nhà Viettower 198B Tây Sơn,Quận Đống Đa, Hà Nội.

2.1.2 Chứng năng, nhiệm vụ

Ngân hàng Quốc tế VIB thực hiện tất cả các hoạt động kinh doanh tiền tệ, dịch

vụ Ngân hàng phục vụ Khách hàng cá nhân và Khách hàng Doanh nghiệp đượcNgân hàng Nhà nước cho phép, bao gồm:

- Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn của mọi tổ chức thuộc các thànhphần kinh tế và dân cư dưới hình thức tiền gửi có kì hạn, không kì hạn bằng đồngViệt Nam

- Tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và phát triển của các tổ chức trong nước

- Vay vốn của Ngân hàng Nhà nước và của tổ chức tín dụng khác

- Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn đối với các tổ chức và cá nhân tùy theotính chất và khả năng nguồn vốn

- Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá

- Hùn vốn, liên doanh và mua cổ phần theo Pháp luật hiện hành

- Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng

- Thực hiện kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và thanh toán quốc tế, huy động cácloại vốn từ nước ngoài và các dịch vụ ngân hàng khác trong quan hệ với nước ngoàikhi được Ngân hàng Nhà nước cho phép

2.1.3 Cơ cấu tổ chức

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam

Trang 33

2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh giai đoạn 2010 – 2012

Bảng 2.1 Các chỉ tiêu tài chính của Ngân hàng Quốc tế Việt Nam giai đoạn 2010 – 2012

8 Tổng lợi nhuận trước thuế 1.051.233 848.900 700.763

10 Lãi cơ bản trên cổ phiếu

Năm 2011, huy động vốn (bao gồm phát hành giấy tờ có giá) đạt 57.488 tỷđồng, chỉ đạt 70% so với kế hoạch (81.896 tỷ đồng) Tiền gửi của khách hàng giảmsút so với năm 2010 là 841 tỷ Do sự cạnh tranh khốc liệt của ngành ngân hàng, cáchạn chế về trần huy động và khó khăn chung của nên kinh tế nên tình hình huy động

Trang 34

của VIB trong năm 2011 không khả quan: số dư huy động gần như không tăngtrưởng trong 6 tháng cuối năm.

Năm 2012, Tiền gửi của khách hàng giảm mạnh còn 39.061 tỷ đồng Năm

2012, toàn ngành ngân hàng gặp nhiều khó khăn, trần lãi suất liên tục thay đổi theochiều hướng giảm, tình hình kinh tế cả nước khó khăn và được dự báo vẫn chưa thểkhả quan trong năm 2013

Năm 2010 ghi dấu một sự kiện quan trọng của VIB với việc Ngân hàngCommonwealth Bank of Australia (CBA) –Ngân hàng bán lẻ số 1 tại Úc và là Ngânhàng hàng đầu thế giới với trên 100 năm kinh nghiệm đã chính thức trở thành cổđông chiến lược của VIB với tỉ lệ sở hữu cổ phần ban đầu là 15% Năm 2011, Ngânhàng Commonwealth Bank of Australia đã tăng tỷ lệ sở hữu cổ phần lên 20% Năm

2012, vốn chủ sở hữu của VIB không có sự thay đổi đáng kể

2.1.4.2 Hoạt động cho vay và đầu tư

Dư nợ tín dụng của VIB năm 2010 (không tính cho vay TCTD khác) đạt41.731 tỷ đồng, tăng 52.6% so với năm 2009, trong đó tăng trưởng dư nợ tiền đồng

là 43%, ngoại tệ là 57% Đến năm 2011, tổng dư nợ tín dụng tính đến thời điểm31/12/2011 là 43,497 tỷ đồng, tăng 4,23% so với cuối năm 2010, và đạt 87% kếhoạch đề ra trong năm 2011 Tỷ lệ dư nợ cho vay doanh nghiệp là 58,10%, cho vay

cá nhân là 41,90% Năm 2012, tổng dư nợ của khách hàng là 33.313 tỷ đồng Ngoài

ra, đặc biệt, tiền gửi và cho vay các TCTD khác giảm mạnh, từ 28.665 tỷ xuống11.244 tỷ đồng

Về hoạt động đầu tư, năm 2010, VIB lãi 12 tỷ đồng nhờ đầu tư chứng khoán,tuy nhiên năm 2011 và năm 2012, VIB thua lỗ lần lượt 62 tỷ và 31 tỷ đồng

2.2 Các nhân tố tác động đến công tác huy động nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng Quốc tế Việt Nam

2.2.1 Các nhân tố bên ngoài ngân hàng

2.2.1.1 Chu kỳ phát triển kinh tế

Tình trạng phát triển của nền kinh tế là một yếu tố vĩ mô có tác động trực tiếpđến mọi hoạt động của VIB nên ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn Trong

Trang 35

điều kiện nền kinh tế phát triển ổn định, thu nhập dân cư được đảm bảo và ổn địnhthì nguồn tiền vào ra của các ngân hàng cũng ổn định, số vốn huy động được củangân hàng ngày càng tăng lên và cơ hội đầu tư cho vay của ngân hàng cũng được

mở rộng do lòng tin của các nhà đầu tư vào nền kinh tế Nếu nền kinh tế suy thoái,như tình trạng Việt Nam vài năm gần đây, thu nhập dân cư biến động thì lòng tin vềđồng tiền của dân chúng bị giảm sút Khi đó khả năng huy động vốn của ngân hàngkhông những bị giảm xuống mà lượng tiền dân cư đã ký gửi vào ngân hàng cũng cónguy cơ bị rút ra Và như vậy ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong công tác huy độngvốn, quản lý dự trữ và củng cố niềm tin cho khách hàng

2.2.1.2 Môi trường luật pháp

Các hoạt động của các ngân hàng nói chung và VIB nói riêng đều chịu sự điềuchỉnh của luật các tổ chức tín dụng và hệ thống các văn bản pháp luật khác của Nhànước như Luật Doanh nghiệp 2005, Luật các tổ chức tín dụng 2010, Luật NHNNnăm 2010, Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012… cùng với các quy định khác liên quanđến TGTK như quyết định 1160/2004 về quy chế TGTK, quyết định 1284/2002 về

mở và sử dụng TKTG ở NHNN và các TCTD…

Mặt khác, ở Việt Nam hiện nay, các ngân hàng thương mại cổ phần nói chung

và VIB nói riêng được tổ chức theo mô hình tổng công ty, do vậy các chi nhánh,PGD ngoài việc phải tuân thủ theo pháp luật và các văn bản dưới luật của nhà nướcban hành còn phải tuân thủ theo các quy định mà ngân hàng mẹ ban hành trongtừng thời kỳ về lãi suất, tỷ lệ dự trữ, hạn mức cho vay Trong sự ràng buộc về luậtpháp, các yếu tố của nghiệp vụ huy động vốn thay đổi làm ảnh hưởng đến quy mô

và chất lượng của hoạt động huy động vốn

2.2.1.3 Điều kiện về môi trường cạnh tranh

Hiện nay, Việt Nam có 39 NHTM, 14 ngân hàng vốn nước ngoài và chi nhánhngân hàng nước ngoài, 6 ngân hàng liên doanh Có thể nói, đây là một số lượng lớn

so với một số nước trong khu vực Như Thái Lan có 65 triệu dân với 30 ngân hàng,trong đó có 17 ngân hàng nước ngoài; Malaysia có 24 triệu dân với 32 ngân hàng,

Trang 36

gồm 14 ngân hàng nước ngoài; Indonesia có 215 triệu dân với 160 ngân hàng, gồm

29 ngân hàng ngoại… Hệ quả tất yếu là sự cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng

Để có thể tồn tại và phát triển, ngân hàng cần phải định ra chiến lược kinhdoanh phù hợp để có thể thắng trong cạnh tranh với ngân hàng khác Trong quátrình cạnh tranh với đối thủ, ngân hàng buộc phải cải tiến và đa dạng hoá các loạihình dịch vụ, thực hiện mức lãi suất hợp lý, nghiên cứu kỹ thị trường và làm tốtcông tác marketing ngân hàng phải bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để có thể làm tốtcông việc của mình Như vậy, cạnh tranh vừa là thách thức vừa là một nhân tố thúcđẩy sự phát triển chất lượng các hoạt động ngân hàng trong đó có hoạt động huyđộng vốn

2.2.1.5 Yếu tố thuộc về văn hoá - xã hội, tâm lý khách hàng

Khách hàng của ngân hàng bao gồm những người có vốn gửi tại ngân hàng vànhững đối tượng sử dụng vốn đó Về môi trường xã hội ở các nước phát triển,khách hàng luôn có tài khoản cá nhân và thu nhập được chuyển vào tài khoản của

họ Nhưng ở Việt Nam, nhu cầu dùng tiền mặt thường lớn hơn Ở khoản mục tiềngửi tiết kiệm có hai yếu tố quan trọng tác động vào là thu nhập và tâm lý của ngườigửi tiền Thu nhập ảnh hưởng đến nguồn vốn tiềm tàng mà ngân hàng có thể huyđộng trong tương lai Còn yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến sự biến động ra vào của cácnguồn tiền Tâm lý tin tưởng vào tương lai của khách hàng có tác dụng làm ổn địnhlượng tiền gửi vào, rút ra và ngược lại nếu niềm tin của khách hàng về đồng tiềntrong tương lai sẽ mất giá gây ra hiện tượng rút tiền hàng loạt vốn là mối lo ngại lớncủa mọi ngân hàng Một đặc điểm quan trọng của đối tượng khách hàng là mức độthường xuyên của việc sử dụng các dịch ngân hàng Mức độ sử dụng càng cao, ngânhàng càng có điều kiện mở rộng việc huy động vốn

2.2.2 Nhân tố thuộc về ngân hàng

2.2.2.1 Các hình thức huy động vốn mà ngân hàng sử dụng

Để thực hiện tốt công tác huy động vốn TGTK, các ngân hàng thường đưa ranhiều hình thức huy động vốn đa dạng Khối lượng vốn mà ngân hàng huy độngđược phụ thuộc trực tiếp vào các hình thức huy động vốn mà ngân hàng áp dụng

Ngày đăng: 04/05/2015, 19:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Lương Thị Quỳnh Nga, Luận văn Thạc sỹ "Nâng cao hiệu quả huy động nguồn vốn tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam"11. Các website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả huy độngnguồn vốn tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam
1. PGS.TS Nguyễn Thị Phương Liên, Giáo trình Quản trị tác nghiệp Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản thống kê Khác
2. Peter S.Rose, Quản trị Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Tài chính 3. Nguyễn Ninh Kiều, Tiền tệ - Ngân hàng, Nhà xuất bản thống kê Khác
4. Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế tiền gửi tiết kiệm Khác
5. Quyết định số 1284/2002/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế mở và sử dụng tài khoản tiền gửi tại NHNN và các TCTD Khác
7. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010 8. Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 Khác
9. Báo cáo thường niên, báo cáo tài chính của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam, Ngân hàng Kỹ thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển TP Hồ Chí Minh, Ngân hàng An Bình, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam 35 - Huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam 35 (Trang 5)
Bảng 2.1. Các chỉ tiêu tài chính của Ngân hàng Quốc tế Việt Nam giai đoạn 2010 – 2012 - Huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
Bảng 2.1. Các chỉ tiêu tài chính của Ngân hàng Quốc tế Việt Nam giai đoạn 2010 – 2012 (Trang 33)
Bảng 2.2. Số lượng sản phẩm TGTK ở các ngân hàng BIDV, TCB, VIB, HDB và ABB - Huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
Bảng 2.2. Số lượng sản phẩm TGTK ở các ngân hàng BIDV, TCB, VIB, HDB và ABB (Trang 44)
Bảng 2.3. Quy mô tiền gửi tiết kiệm của VIB giai đoạn 2010 -2012 - Huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
Bảng 2.3. Quy mô tiền gửi tiết kiệm của VIB giai đoạn 2010 -2012 (Trang 45)
Bảng 2.4. Quy mô tiền gửi tiết kiệm các ngân hàng VIB, BIDV, TCB, HDB giai đoạn 2010 – 2012 - Huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
Bảng 2.4. Quy mô tiền gửi tiết kiệm các ngân hàng VIB, BIDV, TCB, HDB giai đoạn 2010 – 2012 (Trang 47)
Bảng 2.5. Cơ cấu tiền gửi tiết kiệm theo loại tiền - Huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
Bảng 2.5. Cơ cấu tiền gửi tiết kiệm theo loại tiền (Trang 48)
Bảng 2.6. Cơ cấu tiền gửi tiết kiệm theo kì hạn - Huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
Bảng 2.6. Cơ cấu tiền gửi tiết kiệm theo kì hạn (Trang 49)
Bảng 2.8. So sánh Biểu lãi suất gửi tiết kiệm USD – lãi trả cuối kì ngày 28/12/2012 - Huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
Bảng 2.8. So sánh Biểu lãi suất gửi tiết kiệm USD – lãi trả cuối kì ngày 28/12/2012 (Trang 51)
Bảng 2.9. Các chỉ tiêu sử dụng vốn và tỷ trọng của chúng trong tổng tài sản - Huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
Bảng 2.9. Các chỉ tiêu sử dụng vốn và tỷ trọng của chúng trong tổng tài sản (Trang 52)
Bảng 2.10. Kết quả khảo sát khách hàng - Huy động tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam
Bảng 2.10. Kết quả khảo sát khách hàng (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w