1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh

112 676 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, còn nhiều nội dung cần phải phân tích, đánh giá có cơ sở khoa học thông qua việc khảo sát thực tế, điều tra xã hội học nhằm sửa đổi và hoàn thiện các nội dung chính sách, đảm

Trang 1

NGUYỄN VĂN DŨNG

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở MỘT SỐ DỰ ÁN

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KỲ ANH,

TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 2

NGUYỄN VĂN DŨNG

ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở MỘT SỐ DỰ

ÁN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KỲ ANH,

TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 60.85.01.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG VĂN MINH

THÁI NGUYÊN - 2014

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày… tháng … năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Dũng

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, chỉ bảo quý báu của các thầy cô giáo trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn chu đáo, tận tình của PGS.TS Đặng Văn Minh, là người hướng dẫn trực tiếp tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và viết luận văn

Tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Phòng Tài nguyên & Môi Trường huyện Kỳ Anh, Phòng Thanh tra huyện Kỳ Anh, Hội đồng bồi thường hỗ trợ tái định cư huyện Kỳ Anh, các anh chị em và bạn bè đồng nghiệp, sự động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần của gia đình và người thân

Với tấm lòng chân thành, tôi xin cảm ơn mọi sự giúp đỡ quý báu đó!

Thái Nguyên, ngày… tháng… năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Dũng

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

2.1 Mục tiêu tổng quát 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Yêu cầu 3

CHƯƠNG 1 4

TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Bồi thường giải phóng mặt bằng 4

1.1.1 Bản chất của việc bồi thường giải phóng mặt bằng 4

1.1.2 Đặc điểm của quá trình bồi thường GPMB 5

1.2 Chính sách bồi thường GPMB và tái định cư của các tổ chức tài trợ và một số nước trên thế giới 6

1.2.1 Chính sách bồi thường GPMB và tái định cư của các tổ chức tài trợ (WB và ADB) 6

1.2.2 Chính sách bồi thường GPMB một số nước trên thế giới 8

1.3 Chính sách bồi thường GPMB của Nhà nước qua các thời kỳ 13

1.3.1 Trước khi có Luật đất đai 1993 13

1.3.2 Sau khi ban hành Luật Đất đai 1993 15

1.3.3 Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai năm 1998, 2001 16

1.3.4 Công tác bồi thường GPMB hiện nay (theo Luật Đất đai 2003) 18

1.4 Cơ sở pháp lý của việc tổ chức thực hiện bồi thường GPMB, hỗ trợ và TĐC theo Nghị định 84/2007/CP của Chính phủ 18

1.4.1 Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 18

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

1.4.2 Trách nhiệm của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 19

1.4.3 Trách nhiệm của UBND các cấp 19

1.4.4 Trình tự tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 21

1.5 Những điểm mới về chính sách bồi thường GPMB theo Nghị định số 69/CP so với Nghị định số 84/CP 22

1.6 Những vấn đề tồn tại cần nghiên cứu 24

1.7 Khái quát thực trạng trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng của tỉnh Hà Tĩnh 26

CHƯƠNG 2 30

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30

2.2 Nội dung nghiên cứu 30

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyên Kỳ Anh 30

2.2.2 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kỳ Anh 30

2.2.3 Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Kỳ Anh 30

2.2.4 Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC 31

2.3 Phương pháp nghiên cứu 31

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu, tài liệu 31

2.3.2 Phương pháp điều tra thực tế 31

2.3.3 Phương pháp chuyên gia 32

2.3.4 Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh và xử lý số liệu 32

CHƯƠNG 3 33

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh 33

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 33

3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội 37

3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện, kinh tế - xã hội huyện Kỳ Anh 44

3.2 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kỳ Anh 46

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

3.2.1 Tình hình quản lý đất đai 46

3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất 47

3.3.Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường hỗ trợ tái định cư trên địa bàn huyện Kỳ Anh 49

3.3.1.Tình hình chung về công tác bồi thường GPMB khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Kỳ Anh 49

3.3.2 Đánh giá việc thực hiện thường giải phóng mặt bằng ở hai dự án nghiên cứu 55

3.3.3 Kết quả thực hiện cụ thể ở 2 dự án 59

3.4 Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC 76

3.4.1 Các giải pháp về chính sách giá bồi thường đất đai, tài sản 76

3.4.2 Các giải pháp về chính sách hỗ trợ và ổn định cuộc sống 76

3.4.3 Các giải pháp về tổ chức chỉ đạo thực hiện trong công tác bồi thường GPMB 77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80

1 Kết luận 80

2 Kiến nghị 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

HĐBT : Hội đồng bồi thường HSĐC : Hồ sơ địa chính

TĐC : Tái định cư UBND : Uỷ ban nhân dân

WB : Ngân hàng thế giới

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Diện tích, cơ cấu các loại đất năm 2012 48

Bảng 3.2.Các dự án GPMB và TĐC trên địa bán huyện Kỳ Anh từ năm 2008 đến 2013……… .57

Bảng 3.3 Tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ 52

Bảng 3.4 Tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ 54

Bảng 3.5 Đối tượng được bồi thường và không được bồi thường 56

Bảng 3.6 Quan điểm của người có đất bị thu hồi trong việc xác địnhđối tượng và điều kiện được bồi thường 57

Bảng 3.7 Ý kiến của người dân có đất bị thu hồi về giá bồi thường đất và tài sản, vật kiến trúc, cây cối hoa màu tại 2 dự án nghiên cứu 61

Bảng 3.8 Tổng hợp diện tích đất thu hồi của hai dự án nghiên cứu 62

Bảng 3.9 Tổng số hộ ảnh hưởng theo loại đất, mức độ bị ảnh hưởngở hai dự án nghiên cứu 63

Bảng 3.10 Đơn giá, kết quả bồi thường về đất tại dự án thứ nhất 66

Bảng 3.11 Đơn giá bồi thường về đất tại dự án thứ hai 79

Bảng 3.12 Kết quả bồi thường thiệt hại về đất 80

Bảng 3.13 Kết quả bồi thường tài sản tại 2 dự án 69

Bảng 3.14 Tổng hợp ý kiến của người dân bị thu hồi đấtvề giá bồi thường tại 2 dự án 70

Bảng 3.15 Tình hình việc làm của người dântrước và sau khi bị thu hồi đất 74 Bảng 3.16 Tổng hợp ý kiến của người dân về thu nhậptrước và sau khi nhà nước thu hồi đất 74

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai không chỉ là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt mà còn là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ

sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng

Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta thay đổi một cách nhanh chóng, nhu cầu về đất cho người dân, cho các công trình xây dựng, các khu công nghiệp, khu đô thị…tăng lên mạnh mẽ làm cho đất càng trở nên khan hiếm và đắt đỏ Đi đôi với tình hình phát triển đất nước như vậy, việc bồi thường, thu hồi đất để giải tỏa phục vụ việc quy hoạch và thực hiện các dự

án xây dựng ngày càng phát triển trên phạm vi toàn quốc

Có thể thấy trên cả nước, việc bồi thường, giải phóng mặt bằng và công tác tái định cư đều gặp rất nhiều vướng mắc làm chậm trễ việc khởi công xây dựng và kéo dài tiến độ thi công của các công trình, không những gây thiệt hại cho Nhà nước mà còn là nguyên nhân của những vụ khiếu kiện đông người và kéo dài, làm ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế - xã hội - chính trị của địa phương Điều này khiến ta phải suy nghĩ và tìm hiểu nguyên nhân của vấn đề là ở đâu, ở những người thực hiện chính sách hay còn ở ngay trong chính sách?

Hiện nay việc bồi thường GPMB khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật đất đai 2003, được thực hiện theo Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 Hướng dẫn thực hiện Nghị định 197/2004/NĐ-CP có Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 Ngày 25/5/2007 Chính phủ ban hành Nghị định số 84/2007/NĐ-CP quy định cụ thể đối với một số trường hợp thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất và trình tự, thủ tục thu hồi đất, thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15/6/2007 v/v hướng dẫn thực hiện Nghị định 84/NĐ-CP Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện vẩn còn

Trang 11

nhiều bất cập, vì vậy ngày 13/8/2009 Chính phủ đã tiếp tục ban hành Nghị định

số 69/2009/NĐ-CP quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Sau khi có Nghị định 69 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 v/v hướng dẫn thực hiện Nghị định 69/NĐ-CP

Qua quá trình thực hiện, cơ bản các khoản trong Nghị định đã được

áp dụng có hiệu quả, phù hợp với nguyện vọng của đại đa số nhân dân, khắc phục được nhiều tồn tại, vướng mắc của những văn bản trước đây Tuy nhiên, còn nhiều nội dung cần phải phân tích, đánh giá có cơ sở khoa học thông qua việc khảo sát thực tế, điều tra xã hội học nhằm sửa đổi và hoàn thiện các nội dung chính sách, đảm bảo lợi ích hợp pháp cho người có đất bị thu hồi, duy trì trật tự, kỷ cương của pháp luật, hạn chế tối đa những tranh chấp, khiếu kiện, khiếu nại về đất của nhân dân trong việc bồi thường GPMB khi Nhà nước thu hồi đất

Vì những lý do nêu trên, để đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường GPMB khi Nhà nước thu hồi đất, được sự phân công của khoa Sau đại học, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo - PGS.TS Đặng Văn Minh, tôi tiến

hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải

phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh”, nhằm điều tra, tìm hiểu thực trạng và tìm ra

nguyên nhân gây cản trở, đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ của công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính của Nhà nước

2 Mục tiêu của đề tài

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh

Trang 12

- Nguồn số liệu, tài liệu điều tra thu thập được phải đáng tin cậy

- Các đề nghị, kiến nghị phải có tính khả thi

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận khoa học của Bồi thường giải phóng mặt bằng

1.1.1 Bản chất của việc bồi thường giải phóng mặt bằng

Bồi thường: Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra Đền bù là

trả lại xứng với giá trị hoặc công lao Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hành vi

của chủ thê khác

Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước trả lại giá trị quyền sử

dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi

Hỗ trợ: Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước giúp đỡ người

bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí di

dời đến địa điểm mới…

Tái định cư: Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi ở mới để sinh

sống và làm ăn Tái định cư bắt buộc là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi

nhà nước thu hồi đất hoặc trưng dụng đất để thực hiện các dự án phát triển

TĐC được hiểu là một quá trình từ bồi thường thiệt hại về đất, tài sản,

di chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu thập, cơ sở vật chất, tinh thần ại đó TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về KT-XH đối với bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung của đất nước

Hiện nay nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng hình thức sau:

- Bồi thường bằng nhà ở

- Bồi thường bằng đất ở mới

- Bồi thường bằng tiền để xây dựng nơi ở mới

TĐC là việc không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách giải phóng mặt bằng

Trang 14

Bản chất của công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng trong tình hình hiện nay không đơn thuần là bồi thường về mặt vật chất mà còn phải đảm bảo lợi ích của người dân sau khi bị thu hồi đất, đó là có một chỗ ở ổn định với điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ, được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm nhằm ổn định và nâng cao cuộc sống

1.1.2 Đặc điểm của quá trình bồi thường GPMB

Quá trình bồi thường GPMB mang tính đa dạng và phức tạp:

- Tính đa dạng thể hiện: mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác nhau với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và trình độ dân trí nhất định Đối với khu vực nội thị, mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn dẫn đến quá trình GPMB có đặc trưng nhất định Đối với khu vực ven đô, mức độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, buôn bán nhỏ…quá trình GPMB cũng có đặc trưng riêng của nó Còn đối với khu vực nông thôn hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông nghiệp, đời sống phụ thuộc chính vào nông nghiệp do đó GPMB cũng được tiến hành với đặc điểm riêng biệt

- Tính phức tạp thể hiện: Ở khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của người dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp không cao Vì vậy mà công tác tuyên truyền, vận động dân cư tham gia

di chuyển là rất khó khăn, việc hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp là điều kiện cần thiết để đảm bảo cuộc sống dân cư sau này Mặt khác cây trồng, vật nuôi trên vùng đó cũng đa dạng, không được tập trung một loại nhất định nên gây khó khăn cho công tác định giá bồi thường

Đối với đất ở lại càng phức tạp hơn do những nguyên nhân sau:

Trang 15

+ Đất ở là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp với đời sống sinh hoạt của người dân mà tâm lý tập quán là ngại di chuyển chỗ ở

+ Nguồn gốc hình thành đất đai khác nhau do tồn tại chế độ cũ để lại và

do cơ chế chính sách không đồng bộ dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai xây nhà trái phép diễn ra thường xuyên

+ Dân cư một số vùng sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ và sống bám vào các trục đường giao thông của khu dân cư làm kế sinh nhai nay chuyển đến ở khu vực mới thì điều kiện sống bị thay đổi nên họ không muốn di chuyển

Từ các đặc điểm trên cho thấy mỗi dự án khác nhau thì công tác GPMB được thực hiện khác nhau [23]

1.2 Chính sách bồi thường GPMB và tái định cư của các tổ chức tài trợ

Như chúng ta đã biết, khi Nhà nước thu hồi đất và TĐC thì những người bị ảnh hưởng (BAH) là những người mà do hậu quả của dự án họ phải chịu thiệt hại toàn bộ hay một phần tài sản vật chất và phi vật chất, bao gồm nhà cửa, cộng đồng, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, các phương tiện sản xuất bao gồm đất đai, nguồn thu nhập, kế sinh nhai do đất đai tạo ra, đặc trưng văn hóa và tiềm năng về sự hỗ trợ lẫn nhau để đảm bảo đời sống, tài nguyên cho sinh tồn và hệ sinh thái v.v Kinh nghiệm của WB cho thấy việc

Trang 16

TĐC không tự nguyện do các dự án phát triển gây nên, trong trường hợp không thể giảm thiểu được, thường dẫn đến những hiểm họa nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường do các hệ thống sản xuất bị phá vỡ, con người phải đối mặt với sự bần cùng hóa khi những tài sản, công cụ sản xuất hay nguồn thu nhập của họ bị mất đi Tất cả những điều đó nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến những khó khăn, căng thẳng về xã hội và dễ dàng dẫn tới sự bần cùng hóa đời sống dân cư

Từ tháng 02/1994, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đã bắt đầu áp dụng bản Hướng dẫn Hoạt động của WB về TĐC và từ tháng 11/1995 Ngân hàng này đã có chính sách riêng của Ngân hàng về TĐC bắt buộc

Nhìn chung, phương châm của ADB cũng tương tự như của WB đều có

xu hướng giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động của việc thu hồi đất, đồng thời có chính sách thoả đáng, phù hợp đảm bảo cho người BAH không gặp phải bất lợi trong cuộc sống, khôi phục, cải thiện chất lượng cuộc sống, nguồn sống Để thực hiện được phương châm đó, thì chìa khoá dẫn tới sự thành công đó là phải chấp nhận và thực hiện chính sách phát triển mà con người là trung tâm Kinh nghiệm về lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy, các yếu tố đảm bảo cho bồi thường TĐC thành công là những chính sách phù hợp của Chính phủ, nguồn tài chính đầu tư, khâu tổ chức thực hiện của chính quyền địa phương và trình độ nhận thức, hiểu biết pháp luật của nhân dân Bên cạnh đó, sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là yếu tố đồng hành trong quá trình thực hiện các dự án

Đối với đất đai và tài sản được bồi thường, chính sách của WB và ADB

là phải bồi thường theo giá xây dựng mới đối với tất cả các công trình xây dựng và quy định thời hạn bồi thường TĐC hoàn thành trước một tháng khi

dự án triển khai thực hiện

Trang 17

Thực hiện công tác TĐC và khôi phục cuộc sống của những người BAH, các tổ chức ngân hàng quốc tế quy định đây là quá trình từ khi bồi thường tới khi người BAH tổ chức sắp xếp lại hoặc di chuyển xây dựng lại nơi mới và ổn định các điều kiện để sinh hoạt phục vụ cuộc sống cũng như đảm bảo nguồn thu nhập của họ không bị suy giảm

Việc lập kế hoạch cho công tác bồi thường TĐC được các tổ chức cho vay vốn quốc tế coi là điều bắt buộc trong quá trình thẩm định dự án Mức độ chi tiết của kế hoạch phụ thuộc vào số lượng người BAH và mức độ tác động của dự án Kế hoạch bồi thường TĐC phải được coi là một phần của chương trình phát triển cụ thể, cung cấp đầy đủ nguồn vốn và cơ hội cho các hộ BAH Ngoài ra còn phải áp dụng các biện pháp sao cho người bị di chuyển hoà nhập được với cộng đồng mới

Về quyền được tư vấn và tham gia của các hộ BAH, các tổ chức quốc

tế quy định các thông tin về dự án cũng như chính sách bồi thường TĐC của dự án phải được thông báo đầy đủ, công khai để tham khảo ý kiến, hợp tác, thậm chí trao quyền cho các hộ BAH và tìm mọi cách thoả mãn nhu cầu chính đáng của họ trong suốt quá trình lập kế hoạch bồi thường TĐC cho tới khi thực hiện công tác lập kế hoạch

1.2.2 Chính sách bồi thường GPMB một số nước trên thế giới

Đối với bất cứ một quốc gia nào trên thế giới, đất đai là nguồn lực quan trọng nhất, cơ bản của mọi hoạt động đời sống kinh tế - xã hội Với những đặc thù về quan hệ đất đai, nhiều nước trên thế giới cố gắng không ngừng trong việc hoàn thiện chính sách pháp luật trong đó có chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, đặc biệt các nỗ lực trong việc khôi phục cuộc sống và khôi phục nguồn thu nhập cho người bị ảnh hưởng Từ kinh nghiệm lý thuyết và thực tế cho thấy, các yếu tố đảm bảo cho bồi thường, hỗ trợ và TĐC thành công là nhờ những chính sách phù hợp của Chính phủ,

Trang 18

nguồn tài chính đầu tư, khâu tổ chức của chính quyền địa phương, trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật của người dân đồng thời phải có sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý Nhà nước Dưới đây là một số kinh nghiệm quản lý đất đai của các nước trên thế giới sẽ phần nào giúp ích cho Việt nam chúng ta, đặc biệt trong chính sách bồi thường GPMB

1.2.2.1 Trung Quốc

Ở Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu, gồm sở hữu toàn dân và

sở hữu tập thể Đất đai ở khu vực thành thị và đất xây dựng thuộc sở hữu nhà nước Đất ở khu vực nông thôn và đất nông nghiệp thuộc sở hữu tập thể, nông dân lao động Theo quy định của Luật đất đai Trung Quốc năm 1998, đất đai thuộc sở hữu nhà nước được giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng theo các hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất (cấp đất), giao đất có thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất [23]

Đất thuộc diện được cấp bao gồm đất sử dụng cho cơ quan nhà nước, phục vụ mục đích công cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng và phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh Đất sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh thì được Nhà nước giao đất theo hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc

là cho thuê đất

Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để sử dụng vào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia thì Nhà nước có chính sách bồi thường và tổ chức TĐC cho người bị thu hồi đất

Vấn đề bồi thường cho người có đất bị thu hồi được pháp luật đất đai Trung Quốc quy định như sau:

Về thẩm quyền thu hồi đất chỉ có Chính phủ (Quốc vụ viện) và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có quyền thu hồi đất Quốc vụ viện có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp từ 35 ha trở lên và 70 ha trở lên đối với các loại đất khác Dưới hạn mức này thì do chính quyền tỉnh, thành phố trực

Trang 19

thuộc Trung Ương ra quyết định thu hồi đất Đất nông nghiệp sau khi thu hồi sẽ chuyển từ đất thuộc sở hữu tập thể thành đất thuộc sở hữu nhà nước

Về trách nhiệm bồi thường Pháp luật đất đai Trung Quốc quy định, người nào sử dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường Phần lớn tiền bồi thường do người sử dụng đất trả Tiền bồi thường bao gồm các khoản như

lệ phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có đất bị thu hồi Ngoài ra, pháp luật đất đai Trung Quốc còn quy định mức nộp

lệ phí trợ cấp đời sống cho người bị thu hồi đất là nông dân cao tuổi không thể chuyển đổi sang ngành nghề mới khi bị mất đất nông nghiệp, khoảng từ 442.000 - 2.175.000 nhân dân tệ/ha

Các khoản phải trả cho người bị thu hồi đất gồm tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp TĐC, tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp TĐC căn cứ theo giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với một hệ số do Nhà nước quy định Còn đối với tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất thì xác định theo giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất

Về nguyên tắc bồi thường các khoản tiền bồi thường phải đảm bảo cho người dân bị thu hồi đất có chỗ ở bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ Ở Bắc Kinh, phần lớn các gia đình dùng số tiền bồi thường đó cộng với khoản tiền tiết kiệm của họ có thể mua được căn hộ mới Còn đối với người dân ở khu vực nông thôn có thể dùng khoản tiền bồi thường mua được hai căn hộ ở cùng một nơi

Tuy nhiên, ở thành thị, cá biệt cũng có một số gia đình sau khi được bồi thường cũng không mua nổi một căn hộ để ở Những đối tượng trong diện giải toả mặt bằng thường được hưởng chính sách mua nhà ưu đãi của Nhà nước, song trên thực tế họ thường mua nhà bên ngoài thị trường

Trang 20

Về tổ chức thực hiện và quản lý giải toả mặt bằng Cục quản lý tài nguyên đất đai ở các địa phương thực hiện việc quản lý giải toả mặt bằng Người nhận khu đất thu hồi sẽ thuê một đơn vị xây dựng giải toả mặt bằng khu đất đó, thường là các đơn vị chịu trách nhiệm thi công công trình trên khu đất giải toả [23]

Nhìn chung hệ thống pháp luật về bồi thường và TĐC của Trung Quốc đều nhằm bảo vệ những người mà mức sống có thể bị giảm do việc thu hồi đất để thực hiện các dự án Theo một nghiên cứu gần đây của WB thì các luật

về TĐC của Trung Quốc đối với các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và giao thông "đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của WB trong tài liệu hướng dẫn thực hiện TĐC"

1.2.2.2 Hàn Quốc

- Luật bồi thường thiệt hại của Hàn Quốc được chia làm hai thể chế: + Một là: Luật “ Đặc lệ” liên quan đến bồi thường thiệt hại cho đất công cộng đã được quy định theo thủ tục thương lượng của pháp luật

+ Hai là: Luật “ sung công đất” theo thủ tục quy định cưỡng chế của công pháp

Để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế thì cần rất nhiều công cộng trong một thời gian ngắn với mục đích cưỡng chế đất cho nên luật “Sung công đất” đã được xây dựng vào năm 1962 Sau đó theo pháp luật ngoài mục đích thương lượng thu hồi đất công cộng thì còn muốn thống nhất việc này trên toàn quốc đảm bảo quyền tài sản của công nên luật này đã được lập vào năm

1975 và dựa vào hai luật trên, Hàn Quốc đã triển khai bồi thường thiệt hại cho đến nay Tuy nhiên dưới hai thể chế luật và trong quá trình thực hiện luật “ Đặc lệ” thương lượng không đạt được thỏa thuận thì luật “ Sung công đất” được thực hiện bằng cách cưỡng chế nhưng nếu như thế thì phải lặp đi lặp lại quá trình này và đôi khi bị trùng hợp cho nên thời gian có thể bị kéo dài hoặc

Trang 21

chi phí bồi thường sẻ tăng lên Do đó luật bồi thường thiệt hại của Hàn Quốc mới ra đời và thực hiện theo 3 giai đoạn:

+ Thứ nhất tiền bồi thường đất đai sẻ được giám định viên công cộng đánh giá trên tiêu chuẩn giá quy định để thu hồi đất phục vụ cho công trình công cộng Giá quy định không dựa vào những lợi nhuận khai thác do đó có thể đảm bảo sự khách quan trong việc bồi thường

+ Thứ hai pháp luật có quy định không dây thiệt hại nhiều cho người có quyền sở hữu đất trong quá trình thương lượng chấp nhận thu hồi đất Quy trình chấp nhận theo thứ tự công nhận mục đích, lập biên bản tài sản và đất đai, thương lượng chấp nhận thu hồi

+ Thứ ba biện pháp di dời là một đặc điểm quan trọng Chế độ này được Nhà nước hỗ trợ tích cực về mọi mặt chính sách đảm bảo sự sinh hoạt của con người, cung cấp đất đai cho những người bị nơi cư trú do thực hiện công trình công cộng cần thiết của Nhà nước Đây là công việc có hiệu quả lôi cuốn người dân tự nguyện di dời liên quan rất nhiều tới việc giải phóng mặt bằng Theo luật bồi thường, nếu như tòa nhà nơi dự án sẻ được thực hiện có trên 10 người sở hữu thì phải xây dựng cho các đối tượng, xây cư trú hoặc hỗ trợ 30% giá trị của tòa nhà đó Còn nếu như là dự án xây dựng nhà chung cư thì cung cấp cho các đối tượng này nhà chung cư hoặc nhà ở với giá thấp hơn giá thành Đối với các đối tác kinh doanh để kiếm sống nhưng có pháp nhân, các đối tác kinh doanh nông nghiệp, gia cầm thì có chính sách mang tính ân huệ thì ngoài biện pháp di dời còn ưu tiên cung cấp cho các cửa hàng hoặc khu vực kinh doanh [20]

1.2.2.3 Nhận xét, đánh giá

Việc xây dựng và phát triển các công trình đều cần đất Do đất đai không phải lúc nào cũng có sẵn để đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của mỗi nước Vì thế, mọi Nhà nước đều phải sử

Trang 22

dụng quyền lực của mình để thu hồi đất hoặc trưng thu đất của người đang sở hữu, đang sử dụng để phục vụ cho nhu cầu xây dựng các công trình phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia Ở mỗi nước, quyền lực thu hồi, trưng thu đất được ghi trong Hiến pháp hoặc tại Bộ Luật Đất đai hoặc một bộ luật khác Nếu việc thu hồi, trưng thu đã phù hợp với quy định của pháp luật mà người sở hữu hoặc sử dụng đất không thực hiện thì Nhà nước có quyền chiếm hữu đất đai Việc thu hồi đất, trưng thu đất và bồi thường về đất tại mỗi quốc gia đều được thực hiện theo chính sách riêng do Nhà nước đó quy định

Qua nghiên cứu chính sách bồi thường GPMB của một số nước và các

tổ chức Ngân hàng Quốc tế, Việt Nam chúng ta cần học hỏi các kinh nghiệm

để tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường GPMB ở một số điểm sau:

- Hoàn thiện các quy định về định giá đất nói chung và định giá đất để bồi thường GPMB nói riêng;

- Bổ sung thêm một số giải pháp nhằm hỗ trợ người dân có đất bị thu hồi khôi phục thu nhập, ổn định cuộc sống, đặc biệt là đối với lao

động trên 35 tuổi;

1.3 Chính sách bồi thường GPMB của Nhà nước qua các thời kỳ

1.3.1 Trước khi có Luật đất đai 1993

Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, chúng ta tiến hành xoá bỏ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho nhân dân Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được ban hành vào năm 1946, đến năm 1953, Nhà nước ta thực hiện các cuộc cải cách ruộng đất và Luật cải cách ruộng đất được ban hành Hiến pháp năm

1959, Nhà nước thừa nhận tồn tại hình thức sở hữu đất đai ở nước ta gồm

có sở hữu Nhà nước, sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể Thời kỳ này quan

hệ đất đai trong bồi thường chủ yếu là thoả thuận, sau đó thống nhất giá trị

Trang 23

bồi thường mà không cần cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường hay ban hành giá bồi thường

Ngày 14/04/1959, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 151/TTg quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất, là văn bản pháp quy đầu tiên liên quan đến việc bồi thường và tái định cư bắt buộc ở Việt Nam Sau đó Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên bộ số 1424/TTLB ngày 06/07/1959 về việc thi hành Nghị định số 151/TTg của Chính phủ Những nguyên tắc cơ bản của việc bồi thường trong Nghị định 151/TTg là rất đúng đắn, đáp ứng nhu cầu trưng dụng đất đai trong những năm 1960 Tuy nhiên, Nghị định chưa quy định cụ thể mức bồi thường

mà chỉ quan tâm đến sự thoả thuận của các bên

Ngày 11/01/1970 Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư: 1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai và cây cối lâu năm, hoa màu cho nhân dân xây dựng vùng kinh tế mới, mở rộng thành phố Tuy nhiên, Thông tư này mới chỉ dừng lại ở việc quy định bồi thường về tài sản mà chưa đề cập cụ thể đến chính sách bồi thường về đất

Hiến pháp 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, chính vì vậy việc thực hiện đền bù về đất không được thực hiện mà chỉ thực hiện đền bù những tài sản có trên đất hoặc những thiệt hại do việc thu hồi đất gây nên

Luật Đất đai năm 1988, không nêu cụ thể việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, mà chỉ nêu nghĩa vụ của người sử dụng đất (Điều 48) Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 1988 không hướng dẫn nội dung về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chỉ tập trung vào việc bồi thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác

Ngày 31/05/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 186/HĐBT về việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển sang sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường thiệt hại Căn cứ

Trang 24

để tính đền bù thiệt hại về đất nông nghiệp và đất có rừng theo Quyết định này là diện tích, chất lượng và vị trí đất Tại quyết định này, mức đền bù còn được phân biệt theo thời hạn sử dụng đất lâu dài hay tạm thời, đồng thời quy định việc miễn giảm tiền đền bù đối với việc sử dụng đất để xây dựng hệ thống đường giao thông, thuỷ lợi

1.3.2 Sau khi ban hành Luật Đất đai 1993

Hiến pháp 1992 ra đời thay thế Hiến pháp 1980 đã quy định: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN” Hiến pháp công nhận

và bảo vệ quyền sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân và quyền sở hữu cá nhân về tài sản và sản xuất Tại Điều 23: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá, trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường Thể thức

trưng mua, trưng dụng do luật định” [2]

Những quy định trên đã tạo điều kiện củng cố quyền hạn riêng của Nhà nước trong việc thu hồi đất đai cho mục đích an ninh, quốc phòng và các lợi ích quốc gia

Luật Đất đai năm 1993 đã có hiệu lực từ ngày 15/10/1993 thay thế cho Luật Đất đai năm 1988, đây là văn kiện chính sách quan trọng nhất đối với việc thu hồi đất và đền bù thiệt hại của Nhà nước Tại Điều 27 quy định:

“Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại” Luật Đất đai quy định các loại đất sử dụng, các nguyên tắc sử dụng từng loại đất, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Một thủ tục rất quan trọng và là cơ sở pháp lý cho người sử dụng đất là họ

Trang 25

được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà Chính điều này làm căn cứ cho quyền được đền bù khi Nhà nước thu hồi đất

Sau khi Luật Đất đai 1993 được ban hành, Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư và các văn bản pháp quy khác về quản lý đất đai nhằm cụ thể hoá các điều luật để thực hiện các văn bản đó, bao gồm:

- Nghị định 90/CP ngày 17/9/1994 quy định về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào các mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng

- Nghị định 87/CP ngày 17/8/1994 ban hành khung giá các loại đất

- Thông tư Liên bộ số 94/TTLB ngày 14/11/1994 của Liên bộ Tài chính - Xây dựng - Tổng cục Địa chính - Ban vật giá Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị định 87/CP

- Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998, thay thế Nghị định 90/CP nói trên và quy định rõ phạm vi áp dụng, đối tượng phải đền bù, đối tượng được đền bù, phạm vi đền bù, đặc biệt người có đất bị thu hồi có quyền được lựa chọn một trong ba phương án đền bù bằng đất, bằng tiền hoặc bằng đất và bằng tiền

1.3.3 Luật sửa đổi một số điều của Luật Đất đai năm 1998, 2001

Về cơ bản, Luật Đất đai sửa đổi năm 1998, vẫn dựa trên nền tảng cơ bản của Luật cũ, chỉ một số điều được bổ sung thêm cho phù hợp với thực tế

Tháng 10/1999, Cục quản lý Công sản - Bộ Tài chính đã tiến hành dự thảo lần thứ nhất về việc sửa đổi bổ sung Nghị định 22/1998/CP về việc đền

bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất Trong đó, một số điều cơ bản đã được

đề nghị sửa đổi như xác định mức đất để tính đền bù, giá đất đền bù, lập khu tái định cư, quyền và nghĩa vụ của người bị thu hồi đất phải chuyển đến nơi ở mới, các chính sách hỗ trợ và các điều kiện bắt buộc phải có của khu tái

Trang 26

định cư, Hội đồng đền bù GPMB và thẩm định phương án đền bù GPMB [22]

- Thông tư 145/1998/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 22/1998/NĐ-CP bao gồm các phương pháp xác định hệ số K, nội dung và chế độ quản lý, phương án đền bù và một số nội dung khác

- Văn bản số 4448/TC-QLCS ngày 04/9/1999 của Cục Quản lý Công sản -

Bộ Tài chính hướng dẫn xử lý một số vướng mắc trong công tác đền bù GPMB

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29/6/2001 quy định cụ thể hơn về việc bồi thường thiệt hại và GPMB, cụ thể:

- Trong trường hợp cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được bồi thường hoặc hỗ trợ Việc bồi thường hoặc hỗ trợ theo quy định của Chính phủ

- Nhà nước có chính sách để ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi Trong trường hợp người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở thì được mua nhà ở của Nhà nước hoặc được giao đất có thu tiền sử dụng đất để làm nhà ở Trong trường hợp phương án bồi thường được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, được công bố công khai và có hiệu lực thi hành theo quy định của pháp luật mà người bị thu hồi đất không thực hiện quyết định thu hồi thì cơ quan quyết định thu hồi đất có quyền ra quyết định cưỡng chế Trong trường hợp Chính phủ ra quyết định thu hồi đất thì UBND tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định cưỡng chế

- Trong trường hợp cộng đồng dân cư xây dựng các công trình phục

vụ lợi ích công cộng của cộng đồng theo quy hoạch bằng vốn do nhân dân đóng góp hoặc Nhà nước hỗ trợ thì việc bồi thường hoặc hỗ trợ cho người có đất được sử dụng để xây dựng công trình do cộng đồng dân

cư và người có đất đó thoả thuận [6]

Trang 27

1.3.4 Công tác bồi thường GPMB hiện nay (theo Luật Đất đai 2003)

Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Luật Đất đai và xuất phát từ yêu cầu của giai đoạn mới, Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ra Nghị quyết về Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nghị quyết này là định hướng rất quan trọng để Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 4, thông

qua Luật Đất đai mới vào ngày 26 tháng 11 năm 2003

Điều 39 và 42 của Luật Đất đai 2003 quy định về vấn đề thu hồi đất

để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người sử dụng đất bị thu hồi

Sau khi Luật Đất đai 2003 được ban hành, Nhà nước đã ban hành các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư cụ thể hoá các điều luật về giá đất, bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất

1.4 Cơ sở pháp lý của việc tổ chức thực hiện bồi thường GPMB, hỗ trợ

và TĐC theo Nghị định 84/2007/CP của Chính phủ

1.4.1 Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, UBND cấp tỉnh giao việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho:

- Hội đồng bồi thường, hỗ trợ tái định cư huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh

- Tổ chức phát triển quỹ đất

Về thành phần, Hội đồng bồi thường hỗ trợ và tái định cư cấp huyện do lãnh đạo UBND làm chủ tịch, các thành viên gồm:

- Đại diện cơ quan Tài chính

- Chủ đầu tư - Uỷ viên thường trực

- Đại diện cơ quan Tài nguyên và Môi trường - Uỷ viên

Trang 28

- Đại diện UBND cấp xã có đất bị thu hồi - Uỷ viên

- Đại diện của những hộ có đất bị thu hồi từ một đến hai người

Một số thành viên khác do Chủ tịch Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư quyết định cho phù hợp với thực tế địa phương

1.4.2 Trách nhiệm của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư giúp UBND cùng cấp lập và

tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; Hội đồng làm việc theo nguyên tắc tập thể và quyết định theo đa số; trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Chủ tịch hội đồng

Trách nhiệm của thành viên hội đồng:

- Chủ tịch hội đồng chỉ đạo các thành viên Hội đồng lập, trình duyệt và

tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

- Chủ đầu tư có trách nhiệm giúp chủ tịch Hội đồng lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; bảo đảm đầy đủ kinh phí để chi trả kịp thời tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

- Đại diện những người bị thu hồi có trách nhiệm: Phản ánh nguyện vọng của người bị thu hồi đất, người phải di chuyển chỗ ở, vận động những người bị thu hồi đất thực hiện di chuyển, giải phóng mặt bằng đúng tiến độ

- Các thành viên khác thực hiện các nhiệm vụ theo sự phân công và chỉ đạo của Chủ tịch Hội đồng phù hợp với trách nhiệm của ngành

Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp lý của số liệu kiểm kê, tính pháp lý của đất đai, tài sản được bồi thường, hỗ trợ hoặc không được bồi thường, hỗ trợ trong phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

1.4.3 Trách nhiệm của UBND các cấp

* UBND tỉnh có trách nhiệm:

Trang 29

- Chỉ đạo, tổ chức tuyên truyền, vận động mọi tổ chức, cá nhân về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thực hiện giải phóng mặt bằng theo đúng quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

- Chỉ đạo các sở, ban, ngành và UBND cấp huyện:

+ Lập phương án tái định cư, khu tái định cư để phục vụ cho việc thu hồi đất

+ Lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo thẩm quyền

- Phê duyệt hoặc phân cấp cho UBND cấp huyện phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

- Phê duyệt giá đất, ban hành bảng giá tài sản tính bồi thường, quy định các mức hỗ trợ và các biện pháp hỗ trợ theo thẩm quyền, phương án bố trí tái định cư, phương án đào tạo chuyển đổi nghề theo thẩm quyền được giao

- Chỉ đạo các cơ quan có liên quan thực hiện việc giải quyết khiếu nại,

tố cáo của công dân về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo thẩm quyền pháp luật quy định

- Bảo đảm sự khách quan, công bằng khi xem xét và quyết định việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo thẩm quyền quy định tại Nghị định 84/CP

- Quyết định hoặc phân cấp cho UBND cấp huyện cưỡng chế đối với các trường hợp cố tình không thực hiện quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

- Chỉ đạo kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ

và tái định cư

* UBND huyện có trách nhiệm:

- Chỉ đạo, tổ chức, tuyên truyền, vận động mọi tổ chức cá nhân về chính sách bôi thường, hỗ trợ, tái định cư và thực hiện giải phóng mặt bằng theo đúng quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Trang 30

- Chỉ đạo Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cùng cấp lập và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, thực hiện phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo phân cấp của UBND cấp tỉnh

- Phối hợp với các sở, ban, ngành, các tổ chức và chủ đầu tư thực hiện

dự án đầu tư xây dựng, phương án tạo lập các khu tái định cư tại địa phương theo phân cấp của UBND cấp tỉnh

- Giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo thẩm quyền được giao; ra quyết định cưỡng chế và tổ chức cưỡng chế đối với các trường hợp thuộc thẩm quyề i hợp với các cơ quan chức năng tổ chức việc cưỡng chế theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền

* UBND cấp xã có trách nhiệm:

- Tổ chức tuyên truyền về mục đích thu hồi đất, chính sách bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư của dự án

- Phối hợp với Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thực hiện xác nhận đất đai, tài sản trên đất của người bị thu hồi

- Phối hợp, tạo điều kiện hỗ trợ cho việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ

và bố trí tái định cư cho người có đất bị thu hồi và tạo điều kiện cho việc

1.4.4 Trình tự tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

- Xác định và công bố chủ trương thu hồi đất

- Chuẩn bị hồ sơ địa chính cho khu đất bị thu hồi

- Lập, thẩm định và xét duyệt phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ

và tái định cư

- Thông báo về việc thu hồi đất

- Quyết định thu hồi đất

- Giải quyết khiếu nại đối với quyết định thu hồi đất

Trang 31

- Kê khai, kiểm kê và xác định nguồn gốc đất đai

- Lập, thẩm định, xét duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

- Sau khi phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được UBND cấp

có thẩm quyền phê duyệt, tổ chức được giao nhiệm vụ thực hiện bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm niêm yết công khai phương án tại trụ sở làm việc của đơn vị và UBND cấp xã nơi có đất bị thu hồi, thông báo kế hoạch, thời gian chi trả bồi thường, giải quyết tái định cư và thực hiện GPMB

- Cưỡng chế thu hồi đất

- Giải quyết khiếu nại đối với quyết định bồi thường, hỗ trợ tái định

cư hoặc quyết định cưỡng chế thu hồi đất

1.5 Những điểm mới về chính sách bồi thường GPMB theo Nghị định số 69/CP so với Nghị định số 84/CP

- Về việc xác định lại giá đất trong một số trường hợp cụ thể

Khi Nhà nước phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất mà giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm quyết định thu hồi đất chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường để xác định lại giá đất cụ thể cho phù hợp

- Về vấn đề hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất

Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp (kể cả đất vườn, ao) thì được hỗ trợ ổn định đời sống theo quy định sau đây:

a) Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường

Trang 32

hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa

là 24 tháng;

b) Thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được

hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải

di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 36 tháng;

- Về hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm

Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp không thuộc trường hợp quy định tại Điều 21 Nghị định này mà không có đất để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền quy định tại khoản 1 Điều 16 Nghị định này còn được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo một trong các hình thức bằng tiền hoặc bằng đất ở hoặc nhà ở hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp như sau:

a) Hỗ trợ bằng tiền từ 1,5 đến 5 lần giá đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi; diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương

b) Hỗ trợ một lần bằng một suất đất ở hoặc một căn hộ chung cư hoặc một suất đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp Việc áp dụng theo hình thức này được thực hiện đối với các địa phương có điều kiện về quỹ đất ở, quỹ nhà ở và người được hỗ trợ có nhu cầu về đất ở hoặc căn hộ chung cư hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp mà giá trị được hỗ trợ theo quy định tại điểm a khoản này lớn hơn hoặc bằng giá trị đất ở hoặc căn hộ chung

cư hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; phần giá trị chênh lệch được hỗ trợ bằng tiền

Trang 33

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cụ thể hình thức hỗ trợ và mức hỗ trợ quy định tại khoản 1 Điều này cho phù hợp với thực tế của địa phương

1.6 Những vấn đề tồn tại cần nghiên cứu

Vấn đề đền bù và GPMB ở Việt Nam đã được đặt ra từ rất sớm Từ ngày 14/4/1959 đã có Nghị định 151/TTg ban hành “Quy định thể lệ tạm thời trưng dụng ruộng đất”, tiếp theo là thông tư số 1792/TTg ngày 11/1/1970 của Thủ tướng Chính phủ quy định một số điểm tạm thời về “bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối lưu niên, các hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế mở rộng của thành phố” Sau khi có Luật Đất đai (1988) và bước vào thời kỳ đổi mới, vấn đề này càng được chú trọng xử lý đồng bộ phù hợp với tình hình mới bắt đầu từ Quyết định 186/HĐBT ngày 31/5/1990 “Về đền bù đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng mục đích khác” cùng với hàng loạt các văn bản pháp quy mới về những vấn đề mới có liên quan (giá đất, quyền của người sử dụng đất, quản lý quy hoạch đô thị…) đã hình thành một hệ thống chính sách và tổ chức cho công tác bồi thường GPMB Hiện nay chúng ta đang thực hiện bồi thường GPMB theo Nghị đị

69/2009/NĐ-… Nghiên cứu kỹ nội dung các văn bản pháp quy trên đây thấy rõ được một điều, các chính sách đền bù GPMB là xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và được điều chỉnh tích cực để phù hợp với các biến động của tình hình Trên thực tế đã có tác dụng tích cực trong việc đảm bảo sự cân đối và ổn định trong phát triển, khuyến khích được đầu tư và tương đối giữ được nguyên tắc công bằng Tuy nhiên, nếu so với những yêu cầu mới vẫn còn một số bất cập đó là:

+ Trong nền kinh tế thị trường có yêu cầu rất cụ thể về công bằng xã hội, lợi ích chính đáng của cá nhân được tôn trọng và khuyến khích phát huy

Trang 34

đồng thời với lợi ích xã hội và lợi ích cộng đồng Con người cụ thể vừa là động lực vừa là mục tiêu của phát triển… những quy định đã có là chưa đầy đủ, xét về mặt xã hội thì chưa đảm bảo cân bằng giữa lợi ích chung (Nhà nước, xã hội, cộng đồng) và lợi ích riêng (cá nhân, hộ gia đình, tổ chức

bị ảnh hưởng) Trong nhiều trường hợp mục tiêu GPMB nhanh gọn ít tốn kém được quan tâm nhiều hơn so với mục tiêu bồi thường sao cho người ảnh hưởng khôi phục được mức sống ban đầu

+ Vấn đề cần được nhận thức lại cho thật đầy đủ là việc đền bù GPMB

là một phần không thể xem nhẹ của nội dung phát triển; Các hoạt động khôi phục mức sống của những người bị ảnh hưởng cũng có ý nghĩa quan trọng như việc xây dựng các công trình trên đất được giải phóng đồng thời còn phải đảm bảo các hiệu quả kinh tế xã hội là hơn hẳn so với trước khi GPMB, không thể chấp nhận một tình trạng là trong khi các công trình xây dựng mang lại lợi ích cho số đông thì lại đẩy một số người đang sử dụng đất vốn đang khó khăn càng khó khăn hơn thậm chí không được như trước khi xây dựng công trình

+ Trong bối cảnh mới, thì các chính sách của Nhà nước cần được thể hiện đồng bộ và minh bạch trong việc đảm bảo quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư cũng như người chịu ảnh hưởng được thực hiện một cách thông suốt vì lợi ích của sự phát triển

- Do chưa hoàn toàn thoát khỏi cơ chế bao cấp nên kinh phí dùng để bồi thường GPMB đều rút từ Ngân sách trong khi lợi ích do phát triển mang lại chưa trở thành nguồn thu đầy đủ, ổn định và hợp pháp của nhà đầu tư Thông thường các công trình hạ tầng kỹ thuật, xã hội được xây dựng mới đều làm cho giá đất vùng lân cận tăng lên, sau khi công trình hoàn thành người đang sử dụng đất đó đương nhiên được hưởng mà không phải làm bất kỳ nghĩa vụ nào,

Trang 35

chính điều này không chỉ đã hạn chế về năng lực giải quyết nhiệm vụ GPMB,

mà còn làm phát sinh quan hệ bất bình đẳng kinh tế, xã hội lâu dài về sau

Trong bối cảnh hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, đang trong quá trình hoàn thiện thậm chí có trường hợp còn gây xung đột pháp lý thì việc chỉ dựa vào chứng cứ pháp lý để giải quyết bồi thường là chưa đầy đủ, trong rất nhiều trường hợp phải coi trọng hiện trạng và coi trọng những vấn

đề có tính lịch sử tập quán có tính xã hội được cộng đồng chấp nhận

Hầu hết các dự án xây dựng ở nước ta đều bị ách tắc việc bồi thường GPMB làm cho tiến độ thi công công trình không đạt kế hoạch Điều đó đã gây thiệt hại không nhỏ cho đầu tư xây dựng

- Đối với các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh do không đáp ứng được tiến

độ đầu tư vì vậy nhiều dự án đã mất cơ hội kinh doanh, hiệu quả kinh tế thấp

- Đối với các đầu tư không kinh doanh thời gian thi công kéo dài tiến

độ thi công bị ngắt quãng đã gây ra sự lãng phí lớn và ảnh hưởng tới chất lượng công trình

- Nhiều nơi bồi thường GPMB được thực hiện bằng các biện pháp hành chính đã dẫn đến khiếu kiện của nhân dân kéo dài không thể giải quyết được, trong khiếu kiện đó cái chính là người dân không thoả mãn với việc bồi thường của các chủ dự án hoặc trong việc định giá thiếu công bằng

1.7 Khái quát thực trạng trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng của tỉnh Hà Tĩnh

Hà Tĩnh là tỉnh có tốc độ tăng thu hút đầu tư phát triển công nghiệp thuộc diện trung bình của cả nước, năm 2008 xếp vị trí thứ 40/64 tỉnh, thành Việc đưa Hà Tĩnh trở thành một tỉnh công nghiệp phát triển trong tương lai của đất nước là nhiệm vụ hết sức to lớn của Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân địa phương trong việc thu hút đầu tư, phát huy nguồn lực từ bên ngoài

Trang 36

Một trong những nhân tố quan trọng góp phần tạo nên sự thành công đó là những nỗ lực của địa phương, đặc biệt là ngành tài nguyên và môi trường trong công tác bồi thường GPMB phục vụ phát triển công nghiệp, đồng thời

có những chính sách xã hội nhằm giúp đỡ các hộ dân nông thôn có đất thu hồi

ổn định sản xuất

Thực tế, công tác GPMB của Hà Tĩnh gặp không ít khó khăn Một trong những khó khăn lớn nhất đó là nhân dân có tâm lý trông chờ về giá Hầu hết các doanh nghiệp đầu tư vào Hà Tĩnh là lĩnh vực công nghệ cao, việc tuyển chon nhân công tại địa phương với trình độ thấp không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp cũng gây rất nhiều khó khăn cho tỉnh trong công tác bồi thường GPMB Ngoài ra một số doanh nghiệp tự ý nâng giá đất cao hơn khung giá của tỉnh cũng như bồi thường GPMB Việc một số doanh nghiệp nhận đất nhưng không sử dụng mà lại giao cho doanh nghiệp khác hoặc để dự án treo không tuân thủ những điều kiện ban đầu khi thuê đất, áp lực giải quyết việc làm cho nhân dân khi bị thu hồi đất

Hà Tĩnh luôn xác định việc bồi thường GPMB phục vụ phát triển công nghiệp đảm bảo ổn định và nâng cao hơn đời sống cho những hộ dân có đất bị thu hồi Với phương châm đó, tỉnh đã xây dựng chính sách hỗ trợ kết hợp công tác vận động tuyên truyền nên đã từng bước khắc phục được những khó khăn, tạo niềm tin trong nhân dân đồng thời nâng cao uy tín trong việc thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào tỉnh

Nhằm khắc phục những khó khăn, Hà Tĩnh đã thực hiện cung cấp đất dịch vụ cho những hộ dân có đất thuộc diện thu hồi để tạo công ăn việc làm cho nhân dân Hiện nay Hà Tĩnh luôn xác định việc cần thiết phải hỗ trợ nhân dân chuyển đổi việc làm từ sản xuất nông nghiệp sang làm dịch vụ hoặc hỗ trợ vốn, kỹ thuật để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyên canh hoa màu và những cây có giá trị kinh tế cao để ổn định cuộc sống cho nhân dân Việc thu

Trang 37

hồi đất để phát triển công nghiệp phải gắn liền với giải quyết việc làm cho người dân Nhiều doanh nghiệp khi nhận đất phải cam kết đào tạo công nhân

và tuyển dụng lao động địa phương vào làm việc Đồng thời việc thu hồi đất cũng phải tạo điều kiện giải quyết bồi thường nhanh chóng cho người dân Hiện nay việc bồi thường GPMB ở Hà Tĩnh giao cho các huyện và thành phố chủ động giải quyết dưới sự chỉ đạo của tỉnh Điều này đã tạo điều kiện cho các địa phương chủ động trong công tác bồi thường GPMB, tránh tình trạng chồng chéo và lãng phí thời gian không cần thiết

Bên cạnh các chính sách hỗ trợ, công tác vận đông, thuyết phục nhân dân cũng đã được tích cực triển khai Việc tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng đã góp phần quan trọng giúp người dân hiểu và tuân thủ các chính sách của Nhà nước cũng như của tỉnh Qua đó khen thưởng hộ dân

có tính tự giác cao trong công tác bồi thường GPMB, đồng thời các thủ tục cấp phép cho doanh nghiệp được thực hiện một cách nhanh chóng, thuận tiện Tỉnh cũng cương quyết xử lý, thậm chí thu hồi lại đất của những doanh nghiệp tự ý nâng giá đất, đầu tư xây dựng không đúng cam kết hoặc để dự án treo trong nhiều năm

Kết quả đến nay trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã thu hút được 10 dự án FDI với tổng vốn đầu tư gần 8 tỷ USD và 100 dự án DI với tổng vốn đầu tư

300 tỷ đồng Diện tích đã bồi thường GPMB khoảng 4000ha, trong đó có những nơi có diện tích GPMB cao như: huyện Kỳ Anh trên 3000ha, huyện Thạch Hà trên 600ha Hiện nay trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã hình thành 5 khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung và cơ bản đã lấp đầy các dự án, các dự án đã đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, hàng năm đóng góp ngân sách tỉnh khoảng 50 tỷ đồng và tạo công ăn việc làm mới cho 1000 lao động trực tiếp

Trang 38

Từ năm 2008 đến 2013, đã thực hiện thu hồi 6.536,06 ha đất, phục vụ

243 dự án Tổng kinh phí BT, HT, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, GPMB đã thực hiện trên 4.000 tỷ đồng

Trang 39

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài tiến hành nghiên cứu tại 2 dự án của Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, cụ thể:

- Dự án 1: “Khu nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu Phonesack Việt Nam tại

xã Kỳ Liên huyện Kỳ Anh”

- Dự án 2: “Đường từ cảng Vũng Áng đi Quốc lộ 1A kéo dài về phía Tây”

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyên Kỳ Anh

- Điều kiện tự nhiên

- Trực trạng phát triển kinh tế xã hội

- Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

2.2.2 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Kỳ Anh

+ Sơ lược về 2 dự án nghiên cứu

+ Các văn bản pháp lý có liên quan đến dự án

+ Đánh giá việc thực hiện bồi thường, GPMB ở 2 dự án nghiên cứu + Kết quả thực hiện cụ thể ở 2 dự án

Trang 40

2.2.4 Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC

- Giải pháp về chính sách giá bồi thường đất đai, tài sản

- Giải pháp về chính sách hỗ trợ và ổn định cuộc sống

- Giải pháp về tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác bồi thường GPMB

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu, tài liệu

- Thu thập tài liệu, các văn bản, chính sách có liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giá bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở các dự án như khung giá đất quy định của Nhà nước và giá bồi thường được

áp dụng cho huyện Kỳ Anh

2.3.2 Phương pháp điều tra thực tế

- Điều tra khảo sát tình hình thực hiện công tác bồi thường GPMB ở các dự án Bằng cách thu thập các số liệu sơ cấp qua phương pháp điều tra, khảo sát thực địa về tình hình thu hồi đất của huyện

- Tìm hiểu công tác bồi thường GPMB bằng cách phỏng vấn trực tiếp đối với chủ dự án, Ban quản lý dự án, Ban chỉ đạo giải phóng mặt bằng huyện

Kỳ Anh và những người dân chịu ảnh hưởng của các dự án

- Xây dựng bộ câu hỏi điều tra phục vụ đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng trong hai dự án, qua đó tổng hợp đánh giá ý kiến phản hồi

Thông qua bộ câu hỏi điều tra phỏng vấn các hộ dân tại 2 dự án nghiên cứu Lựa chọn các hộ gia đình theo đối tượng như hộ gia đình là Đảng viên, cán bộ công chức và các hộ dân Lựa chọn điều tra 116 hộ dân tại hai dự án trong đó dự án 1 là 71 hộ, dự án 2 là 45 hộ Tham khảo các ý kiến về chính sách bồi thường GPMB của cán bộ quản lý chuyên môn

Ngày đăng: 04/05/2015, 14:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Quốc hội, Luật Đất đai 1993, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai 1993
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
9. Quốc hội, Luật Đất đai 2003, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai 2003
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
10. Quốc hội, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội- 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
11. Quốc hội, Hiến pháp 1992, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp 1992
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
18. Quyết định số 4155/QĐ-UBND ngày 23/12/2007 của UBND tỉnh Hà Tĩnh ban hành giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 4155/QĐ-UBND
Nhà XB: UBND tỉnh Hà Tĩnh
Năm: 2007
1. Bộ tài chính, Thông tư 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 về hướng dẫn thi hành Nghị định số 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ Khác
2. Chính phủ, Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 về việc đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Khác
3. Chính phủ, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Khác
4. Điều tra nghiên cứu xã hội học về chính sách giải phóng mặt bằng và tái định cư. Viện nghiên cứu địa chính, 2003 Khác
5. Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Khác
6. Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Khác
7. Ngân hàng Phát triển Châu Á, cẩm nang về tái định cư (Hướng dẫn thực hành) Khác
12. Quyết định số 33/2006/QĐ-UBND ngày 18/7/2006 của UBND tĩnh Hà Tĩnh ban hành một số quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Khác
13. Quyết định số 29/2008/QĐ-UBND ngày 09/9/2008 của UBND tỉnh Hà Tĩnh về việc ban hành quy định chính sách đặc thù về BT-HT-TĐC khi thu hồi đất để thực hiện các dự án trọng điểm trong Khu kinh tế Vũng Áng Khác
14. Quyết định số 07/2010/QĐ-UBND ngày 16/3/2010 của UBND huyện Kỳ Anh về việc ban hành một số quy định về BT-HT-TĐC khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh Khác
15. Quyết định số 02/2011/QĐ-UBND ngày 11/02/2011 của UBND tỉnh Hà Tĩnh về việc ban hành bộ đơn giá bồi thường các loại nhà cửa, vật kiến trúc, mồ mả, tàu thuyền, ngư cụ, cây cối, hoa màu, khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Khác
16. Quyết định số 3377/QĐ-UBND ngày 26/12/2007 của UBND tỉnh Hà Tĩnh ban hành giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2008 Khác
17. Quyết định số 3737/QĐ-UBND ngày 25/12/2007 của UBND tỉnh Hà Tĩnh ban hành giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2009 Khác
19. Quyết định số 3927/QĐ-UBND ngày 28/12/2007 của UBND tỉnh Hà Tĩnh ban hành giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh năm 2011 Khác
20. Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Tĩnh ( 2008), báo cáo số 15/BC- TNMT ngày 04/3/2008: Báo cáo triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong 10 năm từ năm 1997 đến năm 2007 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Diện tích, cơ cấu các loại đất năm 2013 - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 3.1 Diện tích, cơ cấu các loại đất năm 2013 (Trang 57)
Bảng 3.4. Tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 3.4. Tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ (Trang 63)
Bảng 3.5. Đối tượng được bồi thường và không được bồi thường - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 3.5. Đối tượng được bồi thường và không được bồi thường (Trang 65)
Bảng 3.6. Quan điểm của người có đất bị thu hồi trong việc xác định - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 3.6. Quan điểm của người có đất bị thu hồi trong việc xác định (Trang 66)
Bảng 3.7. Ý kiến của người dân có đất bị thu hồi về giá bồi thường đất và - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 3.7. Ý kiến của người dân có đất bị thu hồi về giá bồi thường đất và (Trang 70)
Bảng 3.8. Tổng hợp diện tích đất thu hồi của hai dự án nghiên cứu - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 3.8. Tổng hợp diện tích đất thu hồi của hai dự án nghiên cứu (Trang 71)
Bảng 3.9. Tổng số hộ ảnh hưởng theo loại đất, mức độ bị ảnh - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 3.9. Tổng số hộ ảnh hưởng theo loại đất, mức độ bị ảnh (Trang 72)
Bảng 3.10. Đơn giá, kết quả bồi thường về đất tại dự án thứ nhất - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 3.10. Đơn giá, kết quả bồi thường về đất tại dự án thứ nhất (Trang 75)
Bảng 3.11. Đơn giá bồi thường về đất tại dự án thứ hai - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 3.11. Đơn giá bồi thường về đất tại dự án thứ hai (Trang 76)
Bảng 3.13. Kết quả bồi thường tài sản tại 2 dự án - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 3.13. Kết quả bồi thường tài sản tại 2 dự án (Trang 78)
Bảng 3.14. Tổng hợp ý kiến của người dân bị thu hồi đất - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 3.14. Tổng hợp ý kiến của người dân bị thu hồi đất (Trang 79)
Bảng 3.15. Tình hình việc làm của người dân - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 3.15. Tình hình việc làm của người dân (Trang 83)
Bảng 3.16. Tổng hợp ý kiến của người dân về thu nhập - Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
Bảng 3.16. Tổng hợp ý kiến của người dân về thu nhập (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w