1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý nước, rác thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang

76 873 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 915,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các chất thải y tế có thể chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, là chất độc hại có trong rác y tế, các loại hóa chất và dược phẩm nguy hiểm, các chất thải phóng xạ và các vật sắc nhọn … Tất

Trang 1

DƯƠNG THU HẰNG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THU GOM VÀ XỬ LÝ NƯỚC, RÁC THẢI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

THÁI NGUYÊN 2014

Trang 2

DƯƠNG THU HẰNG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THU GOM VÀ XỬ LÝ NƯỚC, RÁC THẢI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

Ngành: Khoa học môi trường

Mã số: 60 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thị Thanh Thủy

THÁI NGUYÊN 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Người thực hiện

Dương Thu Hằng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đề tài nghiên cứu: “Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý nước, rác

thải y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang”, được

hoàn thành với sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của TS Vũ Thị Thanh Thủy,

cô đã theo sát, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên, khoa Sau đại học; Thầy, Cô trong khoa tài nguyên môi trường đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành khóa học

Xin chân thành cảm ơn ban Giám đốc, các phòng, khoa của Bệnh viên

đa khoa Hiệp Hòa, Trung tâm quản lý đô thị và môi trường huyện Hiệp Hòa đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu và hoàn thành luận văn

Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè đã quan tâm, chia sẻ khó khăn và động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Do thời gian và lượng kiến thức có hạn nên đề tài của tôi không tránh khỏi nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Người thực hiện

Dương Thu Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu tổng quát 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở pháp lý 3

1.2 Cơ sở lý luận 4

1.2.1 Các khái niệm liên quan 4

1.2.1.1 Định nghĩa chất thải y tế 4

1.2.1.2 Phân loại chất thải y tế 4

1.2.2 Nguồn gốc phát sinh và tính chất của chất thải y tế 7

1.2.2.1 Nguồn gốc phát sinh 7

1.2.2.2 Thành phần chất thải rắn y tế 9

1.2.3 Thành phần nước thải bệnh viện 13

1.2.4 Thực trạng thu gom xử lý chất thải y tế trên Thế giới và Việt Nam 17

1.2.5 Các biện pháp xử lý chất thải y tế 21

1.2.6 Sự cần thiết xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước thải và lò đốt chất thải y tế cho bệnh viện quy mô cấp huyện 24

Trang 6

nước thải y tế 25

1.2.7.1 Các nghiên cứu trên thế giới về xử lý rác, nước thải y tế 25

1.2.7.2 Các nghiên cứu trên ở Việt Nam về xử lý rác, nước thải y tế 26

1.3 Thực trạng quản lý chất thải y tế tại tỉnh Bắc Giang 28

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 30

2.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30

2.3 Nội dung nghiên cứu 30

2.3.1 Tổng quan về Bệnh viện đa khoa huyện Hiệp Hòa 30

2.3.2 Đánh giá thực trạng thu gom, xử lý chất thải y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Hiệp Hòa 30

2.3.3 Đánh giá thực trạng thu gom, xử rác nước thải y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Hiệp Hòa 30

2.3.4 Đề xuất các giải pháp kỹ thuật trong việc quản lý chất thải y tế của bệnh viện Đa Khoa huyện Hiệp Hòa 30

2.4 Phương pháp nghiên cứu 31

2.4.1 Phương pháp kế thừa 31

2.4.2 Phương pháp điều tra trực tiếp 31

2.4.3 Phương pháp xác định lượng rác thải phát sinh 32

2.4.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 32

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

3.1 Khái quát về bệnh viện đa khoa huyện Hiệp Hòa 33

3.1.1 Địa điểm xây dựng và quy mô của bệnh viện Đa khoa Hiệp Hòa 33

3.1.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của bệnh viện Đa khoa Hiệp Hòa 33

3.1.3 Hệ thống quản lý hành chính 35

Trang 7

3.1.3.2 Vấn đề an toàn trong công tác quản lý chất thải 36

3.2 Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý rác thải y tế tại Bệnh viện huyện Hiệp Hòa 37

3.2.1 Lượng chất thải rắn phát sinh tại bệnh viện 37

3.2.1.1 Lượng chất thải rắn tại Bệnh viện Đa khoa Hiệp Hòa qua các năm 38 3.2.1.2 Điều tra lượng rác thải y tế của bệnh viện 39

3.2.2 Thực trạng thu gom xử lý rác thải y tế tại bệnh viện 40

3.2.2.1 Phân loại chất thải rắn 40

3.2.2.2 Thu gom 44

3.2.2.3 Vận chuyển 46

3.2.2.4 Xử lý sơ bộ rác thải 46

3.2.3 Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý rác thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa 48

3.3 Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý nước thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa 49

3.3.1 Lượng nước thải phát sinh của bệnh viện 49

3.3.1.1 Nhu cầu sử dụng nước 49

3.3.1.2 Nhu cầu xả thải nước 50

3.3.2 Hệ thống xử lý nước thải 51

3.3.3 Đánh giá chất lượng nước thải của bệnh viện sau quá trình xử lý 53

3.3.3.1 Chất lượng nước thải của bệnh viện qua phân tích 53

3.3.3.2 Đánh giá của người dân xung quanh về mức độ ô nhiễm của nước thải bệnh viện 56

3.4 Đề xuất các biện pháp thực hiện công tác quản lý chất thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa 56

3.4.1 Đẩy mạnh, tăng cường công tác quản lý hành chính 56

Trang 8

mọi đối tượng 56

3.4.1.2 Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện đúng các quy trình kỹ thuật về phân loại cũng như thu gom chất thải tại các khoa phòng 57

3.4.1.3 Tăng cường kiểm tra, đảm bảo an toàn trong công tác quản lý cho nhân viên bệnh viện 57

3.4.2 Đẩy mạnh tăng cường nâng cao công tác quản lý kỹ thuật 58

3.4.2.1 Phân loại 58

3.4.2.2 Thu gom 58

3.4.2.3 Vận chuyển 58

3.4.3 Tăng cường thêm cơ sở hạ tầng 58

3.4.4 Tăng cường, hỗ trợ thêm kinh phí hoạt động cho công tác quản lý chất thải rắn tại bệnh viên 58

3.4.5 Kế hoạch giảm thiểu ô nhiễm và khắc phục sự cố ô nhiễm nguồn nước tiếp nhận nước thải 59

3.4.6 Chương trình quan trắc và kiểm soát nước thải và nguồn tiếp nhận 59

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60

1 Kết luận 60

2 Kiến nghị 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

I Tài liệu tiếng Việt 62

II Tài liệu tiếng Anh 63 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BOD5 nhu cầu oxy sinh hoá

TN&MT Tài nguyên và Môi trường

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Phân loại chất thải rắn theo mức độ độc học 5

Bảng 1.2 Thành phần chất thải y tế 9

Bảng 1.3 Thành phần lý học của chất thải 11

Bảng 1.4 Lượng chất thải nguy hại và phương pháp xử lý 12

Bảng 1.5 Đặc tính của chất thải y tế nguy hại 13

Bảng 1.6 Thành phần nước thải bệnh viện 14

Bảng 1.7 Đặc tính nước thải bệnh viện 15

Bảng 1.8 Các loại vi khuẩn gây bệnh phân lập được trong nước thải

bệnh viện 16

Bảng 1.9.Các chỉ tiêu vệ sinh trong nước thải bệnh viện trước và sau xử lý bằng phương pháp sinh học 16

Bảng 1.10 Chất thải y tế theo giường bệnh trên thế giới 17

Bảng 1.11 Chất thải y tế phát sinh theo giường bệnh tại Việt Nam 19

Bảng 2.1 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu nước thải 32

Bảng 3.1 Nhân lực y tế tại bệnh viện huyện Hiệp Hòa 34

Bảng 3.2 Lượng chất thải rắn tại Bệnh viện Đa khoa Hiệp Hòa

qua các năm 38

Bảng 3.3 Khối lượng rác thải y tế tại Bệnh viên Đa khoa Hiệp Hòa 39

Bảng 3.4 Phân loại chất thải và xác định nguồn thải tại

bệnh viện Hiệp Hòa 40

Bảng 3.5 Phân loại và thu gom chất thải tại bệnh viện Hiệp Hòa 45

Bảng 3.6: Đánh giá của người dân về mức độ ô nhiễm của lò đốt

rác thải y tế 48

Bảng 3.7 Tổng hợp khối lượng nước sử dụng và thải của bệnh viện 50

Bảng 3.8 Kết quả phân tích mẫu nước thải mùa mưa ở Bệnh việnHiệp Hòa 53

Bảng 3.9: Kết quả phân tích mẫu nước thải mùa khô ở Bệnh viện Hiệp Hòa 54 Bảng 3.10: Kết quả nước mặt tại sàn cống thoát nước bệnh viện 55

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Biểu đồ số lượng chất thải rắn tại Bệnh viện Đa khoa Hiệp Hoà qua

các năm 38

Hình 3.2 Quy trình xử lý rác thải tại bệnh viện huyện Hiệp Hòa 41

Hình 3.3 Túi và thùng đựng chất thải sinh hoạt và chất thải y tế 43

Hình 3.4 Thùng nhựa chứa kim tiêm và vật nhọn 43

Hình 3.5 Thùng đựng rác thải sắc nhọn trên xe tiêm 43

Hình 3.6 Sơ đồ thu gom chất thải bệnh viện 46

Hình 3.7: Sơ đồ công nghệ đốt rác thải y tế 47

Hình 3.8 Biểu đồ đánh giá của người dân về độ ô nhiễm của lò đốt

rác thải y tế 48

Hình 3.9: Sơ đồ hệ thống xử lý nước thải 52

Hình 3.10 Biểu đồ đánh giá của người dân về mức độ ô nhiễm của nước 56

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Ngày nay, vấn đề môi trường đang được các quốc gia và cộng đồng trên thế giới quan tâm Bởi lẽ, ô nhiễm môi trường, sự suy thoái và những sự

cố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp không chỉ trước mắt mà còn ảnh hưởng

về lâu dài cho các thế hệ mai sau Việc bảo vệ môi trường cũng bao gồm: việc giải quyết ô nhiễm do những nguồn nước thải, ô nhiễm do các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, sinh học, các chất thải trong y tế Với mỗi loại chất thải, chúng ta cần có những biện pháp xử lý khác nhau từ những khâu thu gom đến khâu tiêu hủy cuối cùng Một trong số các chất thải cần phải đặc biệt quan tâm đó là các chất thải trong y tế rất vì tính đa dạng và phức tạp của chúng Dân số Việt Nam ngày càng gia tăng, kinh tế cũng phát triển, dẫn đến nhu cầu khám và điều trị bệnh gia tăng, số bệnh viện gia tăng Ô nhiễm môi trường do các hoạt động y tế mà thực tế là tình trạng xử lý kém hiệu quả các chất thải bệnh viện

Việc tiếp xúc với chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương Các chất thải y tế có thể chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, là chất độc hại

có trong rác y tế, các loại hóa chất và dược phẩm nguy hiểm, các chất thải phóng xạ và các vật sắc nhọn … Tất cả các nhân viên tiếp xúc với chất thải y

tế là những người có nguy cơ nhiễm bệnh tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những người bên ngoài làm việc thu gom chất thải y tế và những người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do sự sai sót trong khâu quản lý chất thải

Tại cơ sở y tế thuộc hệ y tế dự phòng đa số xử lý nước thải bằng bể tự hoại Có 17% trung tâm y tế dự phòng sử dụng các lò đốt thủ công trong xử lý chất thải rắn y tế Số còn lại các cơ sở này ký hợp đồng với bệnh viện trên địa

Trang 13

bàn để xử lý Từ thực trạng rác thải y tế ngày càng tăng và việc quản lý và xử

lý rác thải y tế gặp nhiều khó khăn gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người và môi trường Bệnh viện huyện là một bệnh viện tuyến địa phương nên chưa được quan tâm đúng mức về vấn đề quản lý và xử lý chất thải y tế, mà bệnh viện phục vụ khám chữa bệnh cho rất nhiều nhân dân trong huyện vì thế mà lượng rác thải và nước thải phát sinh ra hằng ngày rất lớn cần phải được quản

lý và xử lý đạt tiêu chuẩn Để có thể đánh giá được thực trạng môi trường

của bệnh viện tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng thu gom

và xử lí nước, rác thải y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang”

2 Mục đích nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá thực trạng thu gom, xử lý nước, rác thải y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Hiệp Hòa từ đó đề xuất các giải pháp để quản lý và xử lý rác, nước thải y tế ở bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hoà

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Thực trạng thu gom, xử lý rác thải y tế tại bệnh viện

- Thực trạng thu gom, xử lý nước thải y tế tại bệnh viện

- Đề xuất giải pháp trong công tác quản lý, xử lý rác thải, nước thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa, tình Bắc Giang

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở pháp lý

- Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005

- Nghị định số 59/2007 NĐ-CP ngày 09 tháng 04 năm 2007 về Quản lý chất thải rắn

- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 04 năm 2011 về Quản lý chất thải nguy hại

- Thông tư số 39/2010/TT-BTNMT ngày 16 tháng 12 năm 2010 Vè Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Môi trường

- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007

- Quy chế Quản lý CTYT của Bộ Y tế ban hành tại Quyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007

- Quyết định số 2575/1999/QĐ-BTNMT ngày 27 tháng 08 năm 1999:

Về việc ban hành Quy chế quản lí chất thải y tế

- Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006: Về việc ban hành Danh mục chất thải nguy hại

- Quyết định 21495/2009/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến 2050

- Quyết định 155/1999/QĐ- TTg ngày 16/7/1999 của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế quản lý chất thải nguy hại

- Quyết định 153/2006/QĐ- TTg ngày 30/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020

Trang 15

- TCVN 7382/2004 và QCVN 28:2010 về chất lượng nước thải bệnh viện, tiêu chuẩn thải

- QCVN 01:2009/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước ăn uống

Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở

y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường

Chất thải y tế nguy hại là CTYT chứa yếu tố nguy hại cho sức khoẻ

con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy,

dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu huỷ an toàn

1.2.1.2 Phân loại chất thải y tế

Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hoá học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm :[9]

* Chất thải lây nhiễm: Nhóm này gồm các loại chất thải:

- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thuỷ tinh vỡ

và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế

- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly

Trang 16

- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm

- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm

* Chất thải hoá học nguy hại: Nhóm này gồm các loại chất thải sau:

- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng

- Chất hoá học nguy hại sử dụng trong y tế

- Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hoá trị liệu

- Chất thải chứa kim loại nặng: thuỷ ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thuỷ ngân bị vỡ,chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ

từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)

Bảng 1.1 Phân loại chất thải rắn theo mức độ độc học

Chất thải sinh hoạt Các chất thải từ khu nhà bếp, khu nhà hành chính, các

loại bao, gói, hộp các tông, các thức ăn thừa, các đồ bỏ

đi của bệnh nhân không mắc bệnh lây nhiễm…

Chất thải chứa các

trùng gây bệnh

Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan, nội tạng của người sau khi mổ xẻ và của động vật sau quá trình xét nghiệm, các gạc bông lẫn máu của bệnh nhân…

Chất thải chứa các

vi trùng gây bệnh

Các môi trường nuôi cấy và tích trữ tác nhân gây bệnh thải ra phòng thí nghiệm, các phế thải trong phòng mổ, các vật liệu mổ xẻ và các phế thải trong phòng cách ly những căn bệnh dễ lây, các phế thải sinh ra khi điều trị các bệnh nhân nhiễm khuẩn và

Trang 17

qua quá trình phân tích như các dụng cụ, áo choàng, khăn tay, tạp dề, các gạc, bông băng có dính máu

mủ của bệnh nhân Các phế thải trong bụng người bệnh như phân, nước tiểu có chứa nhiều loại dịch bệnh, có khả năng lây lan trực tiếp đến nười khác qua đường truyền bệnh

Các vật sắc, nhọn Các vật sắc nhọn như: kim tiêm, dao kéo mổ, lưỡi

dao cạo, các ống thủy tinh dễ vỡ, những dụng cụ cắt gọt và tiêm chích khác…

Chất thải dược

phẩm

Bao gồm thuốc men, dược phẩm, các loại hóa chất, các sản phẩm về dược bị đánh đổ, nhiễm bẩn thuốc men quá hạn sử dụng, hay các dược phẩm bị bỏ do các nguyên nhân nào đó

Chất thải hóa chất Các loại hóa chất ở thể rắn, thể lỏng, thể khí từ các

phòng thí nghiệm, hay từ các nguồn khác như việc chuẩn đoán bệnh, thí nghiệm, các loại hóa chất tẩy rửa nhà vệ sinh, vệ sinh dụng cụ, tẩy uế, khử trùng Các chất thải hóa chất cũng phân loại thành 02 nóm + Nhóm 1: Loại độc hại bao gồm các hóa chất có chứa axit với nồng độ pH<2, chất kiềm pH>12, chúng có thể gây ra những sự ăn mòn hay phá hủy dần, các chất dễ cháy nổ phản ứng ngoài không khí, các chất độc hại làm thay đổi gen, chất ung thư, chất quái thai độc hại cho tế bào

+ Nhóm 2: Chất không độc hại bao gồm đường, axit amin, các muối hữu cơ và vô cơ…

Chất thải đặc biệt Các loại chất thải độc hại hơn các loại trên, các chất

phóng xạ, hóa chất dược, dùng trong các mô cơ thể người hay các chất lỏng trong việc định vị khối u…

Trang 18

* Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí

phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất

Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán

và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng

10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế

* Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí

dung Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt

* Chất thải thông thường: là chất thải không chứa các yếu tố lây

nhiễm, hoá học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:

- Chất thải sinh hoạt từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)

- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá học nguy hại

- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim

- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh

1.2.2 Nguồn gốc phát sinh và tính chất của chất thải y tế

1.2.2.1 Nguồn gốc phát sinh

Theo Quy chế quản lý chất thải y tế (Bộ Y tế) thì chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế

nguy hại và chất thải thông thường [4]

Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy hoàn toàn

Trang 19

Các chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm: chất thải lây nhiễm sắc nhọn (bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền dịch, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác), chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (bông, băng, gạc); chất thải có nguy cơ lây nhiễm (bệnh phẩm và dụng cụ đựng dính bệnh phẩm); chất thải giải phẫu (các mô,

cơ quan, bộ phân cơ thể người, rau thai, bào thai); chất thải hóa học nguy hại (dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng, chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế), chất thải chứa kim loại nặng (thủy ngân từ nhiệt kế, huyết áp kế bị vỡ)

Chất thải lỏng y tế nguy hại được phát sinh từ các hoạt động chuyên môn (từ các phòng phẫu thuật, xét nghiệm, thí nghiệm ) và sinh hoạt của nhân viên bệnh viện, bệnh nhân và người chăm nuôi (từ các nhà vệ sinh, giặt giũ, từ việc làm vệ sinh phòng bệnh Đối với nước thải bệnh viện ngoài những yếu tố ô nhiễm thông thường như chất hữu cơ, dầu mỡ động thực vật, vi khuẩn thông thường còn có những chất bẩn khoáng và hữu cơ đặc thù như các

vi khuẩn gây bệnh, chế phẩm thuốc, chất khử trùng, các dung môi hóa học, dư lượng thuốc kháng sinh, các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị [6]

Chất thải thông thường (hay chất thải không nguy hại) là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy nổ, bao gồm: chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly); chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế (chai, lọ thủy tinh, chai lọ huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại); chất thải phát sinh từ các công việc hành chính (giấy, báo, tài liệu, túi nilon ); chất thải ngoại cảnh (lá cây, rác ở các khu vực ngoại cảnh)

Trang 20

1.2.2.2 Thành phần chất thải rắn y tế

Chất thải rắn y tế được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường Quy chế Quản lý Chất thải Y tế do Bộ Y tế ban hành nêu chi tiết các nhóm và loại chất thải y tế phát sinh Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hoá học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm: chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất thải phóng xạ, bình chứa áp suất và chất thải thông thường

- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh

từ buồng bệnh cách ly

- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm

- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận

cơ thể người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm

Chất thải

hoá học

nguy hại

- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng

- Chất hoá học nguy hại sử dụng trong y tế

- Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hoá trị liệu

- Chất thải chứa kim loại nặng: thuỷ ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thuỷ ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc

Trang 21

quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)

- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh

(Nguồn:Quy chế Quản lý chất thải rắn y tế 2002 - Bộ Y tế)[5]

Tổng lượng chất thải phát sinh tại các cơ sở y tế tuyến huyện là 1.052,15 kg/ngày, trong đó rác thải sinh hoạt là 756 kg chiếm 80,16%; rác thải y tế là 95 kg, chiếm 10,07%; rác thải y tế nguy hại chiếm 2,97%, rác

có thể tái chế chiếm 5,02% và các loại rác khác chiếm 1,78% [6]

Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khoẻ con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mủn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu huỷ an toàn

Trang 22

Tại các bệnh viện tuyến huyện, rác thải y tế nguy hại bao gồm xi lanh, kim tiêm, bông, gạc, găng tay, chất thải giải phẫu Qua khảo sát tại Bệnh viện huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên với quy mô 60 giường bệnh, tổng lượng chất thải rắn phát sinh hàng ngày tại bệnh viện khoảng 100 kg; trong đó lượng chất thải nguy hại khoảng 15 kg (chiếm 15% tổng lượng chất thải rắn phát sinh), với các thành phần như tại Bảng 1.3

Thành phần chính chất thải rắn bệnh viện bao gồm:

Bảng 1.3 Thành phần lý học của chất thải

3 Thủy tinh (lọ đựng thuốc), kim tiêm 2,3

Theo kết quả thống kê của bệnh viện, lượng chất thải nguy hại và phương pháp xử lý chất thải nguy hại hiện nay của bệnh viện như sau:

Trang 23

Bảng 1.4 Lượng chất thải nguy hại và phương pháp xử lý

Loại chất thải nguy hại Số lượng Phương

pháp xử lý Ghi chú Chất thải sắc nhọn (bơm kim tiêm,

Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn

(bông băng dính máu mủ) 10 kg/ngày Chôn lấp

Chất thải giải phẫu (mô, bộ phận cơ

Chủ yếu là nhau thai, chi cắt cụt

Chất thải hóa học nguy hại (dược

Chủ yếu là nước thải rửa phim

(Nguồn: Báo cáo đề xuất mô hình trình diễn Hệ thống xử lý nước thải và rác thải y tế tại Trung tâm Y tế Huyện Phổ Yên (tỉnh Thái Nguyên), 2007.)

Rác thải nguy hại được phân loại ngay tại các khoa phòng vào 2 túi với quy định túi màu vàng để chất thải nguy hại, túi màu đen để chất thải phóng

xạ Mỗi ngày một lần toàn bộ rác thải nguy hại được chuyển đến hố chôn (thể tích 5m3) để chôn lấp

Việc tìm hiểu đặc tính chất thải y tế nguy hại đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn lò đốt chất thải y tế phù hợp Độ ẩm của chất thải rắn là thông số liên quan đến giá trị nhiệt lượng Tỷ trọng được xác định bằng tỷ

số giữa trọng lượng của mẫu rác và thể tích chiếm chỗ Tỷ trọng thay đổi

Trang 24

theo thành phần, độ ẩm, độ nén chặt của rác Khối lượng chất thải có thể đốt mỗi giờ phụ thuộc vào giá trị nhiệt lượng của mỗi kg chất thải

Chất thải rắn y tế nguy hại ở Việt Nam là thành phần thay đổi lớn, không đồng nhất, độ ẩm cao, chất thải chứa lượng vải dính máu mủ, găng tay nhựa khá nhiều và chất thải có nhiệt trị khá thấp Khảo sát tại các bệnh viện huyện thuộc 7 tỉnh miền núi phía Bắc năm 2007 cho thấy, thành phần chất thải nguy hại có xu hướng có giá trị nhiệt trị cao hơn so với khảo sát năm 2002

Bảng 1.5 Đặc tính của chất thải y tế nguy hại

(Nguồn: Ngo Kim Chi -Final Report on Building up the Plan for healthcare

waste management and treatment, 2007) 1.2.3 Thành phần nước thải bệnh viện

Nước thải bệnh viện ngoài ô nhiễm thông thường như nước thải sinh hoạt (ô nhiễm hữu cơ) còn có thể nhiễm những hóa chất phát sinh trong quá trình chuẩn đoán và điều trị bệnh như các chế phẩm thuốc, các chất khử trùng, các đồng vị phóng xạ Bên cạnh đó, nước thải bệnh viện nguy hiểm

về phương diện vệ sinh dịch tễ bởi trong nước thải bệnh viện có chứa các loại vi trùng, động vật nguyên sinh gây bệnh, trứng giun, virut … từ máu, dịch, đờm, phân của người mang bệnh Bảng 1.6 tóm tắt thành phần nước thải bệnh viện

Trang 25

Bảng 1.6 Thành phần nước thải bệnh viện

Nước thải sinh hoạt của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, khách vãng lai và của cán bộ công nhân viên (CBCNV) trong bệnh viện Các chất tẩy

rửa Muối của các axit béo bậc cao

Các xưởng giặt của bệnh viện

Các loại hoá

chất

Formaldehyde Các chất quang hoá học Các dung môi gồm các hợp chấ Halogen như Cloroform, các thuốc mê sốc hơi như Halothan, các hợp chất khác

như Xylen, Axeton; Các chất hoá

học hỗn hợp: Gồm các dịch làm sạch và khử khuẩn như Phenol, dầu

mỡ và các dung môi làm vệ sinh;

Các loại thuốc sử dụng cho bệnh nhân

Sử dụng trong khoa giải phẫu bệnh, tiệt khuẩn, ướp xác và dùng bảo quản các mẫu xét nghiệm ở một số khoa

Có trong dung dịch dùng cố định và tráng phim

Sử dụng trong quá trình điều trị, chuẩn đoán bệnh

và các loại nấm

Có trong máu, dịch, đờm, phân của người mang bệnh

Nguồn:Quy chế Quản lý chất thải y tế 2007- Bộ Y tế và ĐTM Dự án Xây

dựng, nâng cấp, cải tạo Bệnh viện C Đà Nẵng- Giai đoạn 2

Trang 26

Đánh giá chung về nước thải bệnh viện ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu của Nguyễn Xuân Nguyên và cộng sự (Ban chỉ đạo quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường), Trần Đức Hạ (Trường Đại học Xây dựng Hà Nội), Phạm Thị Ngọc Bích (Bộ Xây dựng) cho thấy đối với các bệnh viện tuyến huyện, hàm lượng cặn lơ lửng trong nước thải ở mức trung bình, oxy hòa tan cao, hàm lượng nitơ amoni nhỏ Tuy nhiên tổng số Coliform trong nước thải bệnh viện lại rất cao Các chỉ tiêu ô nhiễm trong nước thải bệnh viện (dựa vào kết quả nghiên cứu của Trung tâm Kỹ thuật

Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp) được nêu trong Bảng 1.7

Bảng 1.7 Đặc tính nước thải bệnh viện

Mức II Min Max Trung bình

Nhiệt độ nước thải

120

0

120

210 18,5 2,1 82,5 4x107

31oC 7,58

170 1,2

320

450 35,3 7,9 151,3 2x109

27oC 7,15

190 0,5

210

320

25 5,2

127 2x108

- 6,5 - 8,5

xả vào nguồn nước sẽ gây ô nhiễm và làm lan truyền dịch bệnh Phần lớn

Trang 27

các bệnh viện tuyến huyện tập trung ở khu vực dân cư đông, do vậy dịch bệnh sẽ dễ dàng phát tán nhanh chóng

Bảng 1.8 Các loại vi khuẩn gây bệnh phân lập được trong nước thải

(Nguồn: Phùng Thị Thanh Tú - Phân tích thực trạng về chất thải bệnh viện

tại các tỉnh miền Trung Việt Nam)

Bảng 1.9.Các chỉ tiêu vệ sinh trong nước thải bệnh viện trước và sau xử

Nguồn: Phùng Thị Thanh Tú - Phân tích thực trạng về chất thải bệnh viện

tại các tỉnh miền Trung Việt Nam

Từ Bảng 1.9 có thể thấy đậm độ các chỉ tiêu vi sinh vật vê sinh trong nước thải bệnh viện rất cao Việc xử lý nước thải trước khi xả thải ra môi trường giúp làm giảm đáng kể nguy cơ ô nhiễm, truyền bệnh trong nước thải bệnh viện

Trang 28

1.2.4 Thực trạng thu gom xử lý chất thải y tế trên Thế giới và Việt Nam

* Thực trạng công tác thu gom xử lý chất thải y tế trên Thế giới Nghiên cứu về CTYT đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada Các nghiên cứu

đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại CTYT; quản lý CTYT (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử

lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ); tác hại của CTYT đối với môi trường, sức khoẻ; biện pháp làm giảm tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền dịch bệnh; những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT; tổn thương nhiễm khuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng; người phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế [17], [18], [20], [21] Khối lượng CTYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các khoa phòng.(Nguyễn Huy Nga, 2004) [14]

Bảng 1.10 Chất thải y tế theo giường bệnh trên thế giới

Tuyến bệnh viện Tổng lượng

(Nguồn: Phạm Ngọc Châu, Môi trường nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất

thải - Cục bảo vệ môi trường)

Trang 29

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (1992), ở các nước đang phát triển có thể phân loại CTYT thành các loại sau: Chất thải không độc hại (chất thải sinh hoạt gồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại); chất thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm); chất thải nhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọnnhiễm khuẩn); chất thải hoá học và dược phẩm (không kể các loại thuốc độc đối với tế bào); chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao) [8]

Ở Mỹ phân loại chất thải y tế thành 8 loại: Chất thải cách ly (chất thải

có khả năng truyền nhiễm mạnh); Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và chế phẩm sinh học liên quan; Những vật sắc nhọn được dùng trong điều trị, nghiên cứu ; Máu và các sản phẩm của máu; Chất thải động vật (xác động vật, các phần của cơ thể ); Các vật sắc nhọn không sử dụng; Các chất thải gây độc tế bào; Chất thải phóng xạ

* Quản lý chất thải y tế

Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 18 - 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp

xử lý chất thải đúng cách Tại các cơ sở Y tế, 12,5% công nhân xử lý chất thải

bị tổn thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT Tổn thương này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất, chủ yếu

là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu huỷ vật sắc nhọn Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra vận chuyển CTYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy

Theo H.Ô-ga-oa, cố vấn Tổ chức Y tế thế giới về sức khoẻ, môi trường khu vực Châu Á, phần lớn các nước đang phát triển không kiểm soát tốt CTYT, chưa có khả năng phân loại CTYT mà xử lý cùng với tất cả các loại chất thải Từ những năm 90, nhiều quốc gia như Nhật Bản, Singapo, Australia, Newziland đã đi đầu trong công tác xử lí CTYT, Malaixia có

Trang 30

phương tiện xử lý rác thải tập trung trên bán đảo và các hệ thống xử lý rác thải thải riêng biệt cho các bệnh viện ở xa tại Boocneo.

Ở các nước phát triển đã có công nghệ xử lý CTYT đáng tin cậy như đốt rác bằng lò vi sóng, tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được

áp dụng ở các nước đang phát triển, vì vậy, các nhà khoa học ở các nước Châu Á đã tìm ra một số phương pháp xử lý chất thải khác để thay thế như Philippin đã áp dụng phương pháp xử lý rác bằng các thùng rác có nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn đề khí thải độc hại thoát ra từ các thùng đựng rác

có nắp kín bằng việc gắn vào các thùng có những thiết bị cọ rửa; Indonexia chủ trương nâng cao nhận thức trước hết cho các bệnh viện về mối nguy hại của CTYT gây ra để bệnh viện có biện pháp lựa chọn phù hợp [19]

*Thực trạng hoạt động thu gom xử lý chất thải y tế ở Việt Nam

Theo kết quả khảo sát của Vụ Điều trị - Bộ Y tế tại 24 bệnh viện năm

1998, cho thấy tỷ lệ phát sinh chất thải y tế theo từng tuyến, loại bệnh viện, cơ

sở y tế rất khác nhau Trong cùng một bệnh viện, các khoa khác nhau sẽ có lượng chất thải rắn y tế phát sinh khác nhau, trong một bệnh viện đa khoa, khoa hồi sức cấp cứu, khoa sản, khoa ngoại có lượng CTYT phát sinh lớn nhất (Trần Thị Minh Tâm, 2005) [16]

Bảng 1.11 Chất thải y tế phát sinh theo giường bệnh tại Việt Nam

Tuyến bệnh viện Đơn vị Tổng lượng

CTYT

CTYT nguy hại Bệnh viện trung ương (kg/GB) 0,97 0,16

Trang 31

trường Việt Nam 2004 là 57,5 tấn/ngày; của Bộ Xây dựng là 34 tấn/ngày Sở

dĩ có sự chênh lệch như vậy vì một số đề tài khi nghiên cứu về lượng CTYT phát sinh có xét đến cả chất thải xây dựng, bùn bể phốt Một số đề tài nghiên cứu khác chỉ xét đến lượng CTYT phát sinh khi cần thiêu đốt Theo kết quả khảo sát của Bộ Y tế (2001) tại 280 bệnh viện lượng CTYT phát sinh mỗi ngày khoảng 429 tấn/ngày, trong đó lượng CTYT nguy hại khoảng 34 tấn/ngày, ước tính tổng lượng khoảng 15 triệu tấn/năm CTYT, trong đó có khoảng 21.000 tấn/năm CTYT nguy hại Dự báo đến năm 2010, lượng CTYT nguy hại sẽ có khoảng 25.000 tấn/năm [8]

* Quản lý chất thải y tế

Ở nước ta CTYT đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật, nhưng việc thực hiện chưa nghiêm túc theo quy định, hầu hết CTYT ở các bệnh viện chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường Nhiều bệnh viện không có hệ thống thu chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)

* Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát

sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất

Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán

và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng

10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế

* Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt

* Chất thải thông thường: là chất thải không chứa các yếu tố lây

nhiễm, hoá học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:

- Chất thải sinh hoạt từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)

Trang 32

- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá học nguy hại

- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim

- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh

lý đúng cách Thực trạng như sau:

- Thiêu đốt chất thải rắn y tế:

+ Thiêu đốt CTYT bằng lò đốt rác hiện đại: Tại Hà Nội và Thành phố

Hồ Chí Minh đã xử lý CTYT tập trung với công nghệ nhập của nước ngoài Một số bệnh viện đã lắp đặt lò đốt chất thải y tế Hoval MZ2 của Thuỵ Sĩ đảm bảo an toàn về môi trường Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), cả nước đã có gần 200 lò đốt CTYT (chiếm 73,3%) Trong số các bệnh viện có lò đốt, ở tuyến trung ương có 5/5 hoạt động thường xuyên và có bảo dưỡng định kỳ theo đúng quy định; tuyến tính là 79/106 lò Nhưng chưa có một nghiên cứu

Trang 33

thống kê cụ thể nào về các loại lò đốt hiện đang hoạt động tại các bệnh viện ở Việt Nam và hiệu quả xử lý của các lò đốt thiết kế và chế tạo trong nước và cũng chưa có số liệu về số lò đốt đạt tiêu chuẩn khí thải Thiết kế cơ bản của các lò đốt hiện có đều thiếu hệ thống xử lý khí thải, gây ô nhiễm môi trường, công suất lò đốt sử dụng chưa hợp lý [10]

+ Thiêu đốt CTYT bằng lò thủ công hoặc đốt ngoài trời: Hiện nay, phần lớn các bệnh viện trong cả nước, nhất là bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến huyện thiêu đốt CTYT bằng các lò đốt thủ công không có hệ thống xử lý khí thải hoặc đốt ngoài trời Nghiên cứu 6 bệnh viện tuyến tỉnh năm 2003 cho thấy: chỉ có 2/6 bệnh viện xử lý rác bằng lò đốt chuyên dụng, còn 4/6 bệnh viện chôn lấp hoặc sử dụng lò đốt thủ công và tuyến huyện là 97/201 lò đốt Tuy nhiên chỉ có 197 lò đốt 2 buồng, còn lại là lò thủ công (Phạm Ngọc Đăng, 2004) [11]

+ Chôn lấp chất thải rắn y tế: Kết quả điều tra của Bộ Y tế (1998) tại

80 bệnh viện, phần lớn CTYT ở các bệnh viện được xử lý theo phương pháp thô sơ, đơn giản, chưa đảm bảo vệ sinh và an toàn môi trường, rác thải y tế được chôn lấp trong khu đất bệnh viện và bãi rác công cộng chiếm tỷ lệ cao (70% bệnh viện chôn rác thải nhiễm khuẩn; 44,3% bệnh viện chôn rác thải vật sắc nhọn; 44,2% bệnh viện chôn rác thải từ phòng xét nghiệm, 50% bệnh viện chôn lấp rác thải là hoá chất và dược phẩm) Tình trạng thiếu đất để chốn lấp CTYT đang trở nên phổ biến, nhiều bệnh viện phải chôn đi chôn lại nhiều lần trong khu đất bệnh viện Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), đến năm 2006, cả nước vẫn còn 26,7% bệnh viện đang thực hiện chôn lấp CTYT hoặc đốt thủ công ngoài trời, chủ yếu tập trung ở các bệnh viện tuyến huyện và một số bệnh viện tuyến tỉnh [10]

- Về xử lý nước thải bệnh viện

Một số bệnh viện như Bệnh viện đa khoa và Bệnh viện Lao Tuyên

Trang 34

Quang; Bệnh viện C và Bệnh viện Lao và bệnh phổi Thái Nguyên; Bệnh viện

đa khoa tỉnh Sơn La, Trung tâm Y tế huyện Lương Tài - Bắc Ninh đang áp dụng công nghệ xử lý nước thải bệnh viện theo phương pháp lọc sinh học ngập nước cải tiến hoặc phương pháp lọc sinh học nhỏ giọt [15]

* Hoạt động thu gom xử lý chất thải y tế ở tại bệnh viện quy mô cấp huyện

Các bệnh viện huyện thường tập trung ở khu vực đông dân cư của huyện Nhìn chung, hệ thống bệnh viện tuyến huyện có cơ sở vật chất lạc hậu

và xuống cấp; mạng lưới cấp thoát nước không hoàn chỉnh và đồng bộ, hệ thống thu gom nước thải tại nhiều bệnh viện là hệ thống hở, không được ngầm hóa hoặc có nắp đậy, dẫn tới lượng bùn rác lắng cặn trong cống nhiều, ảnh hướng tới việc tiêu thoát nước và vệ sinh môi trường nước thải

từ các khu điều trị không được xử lý sơ bộ loại bỏ các mềm bệnh trước khi thải ra hệ thống xử lý nước thải chung Chất thải rắn tại nhiều bệnh viện tuyến huyện chưa được quản lý tốt, chất thải y tế nguy hại được đốt trong lò không đảm bảo kỹ thuật, các khí thải không đạt tiêu chuẩn cho phép, gây ô nhiễm môi trường bệnh viện và khu vực xung quanh Việc phân loại rác tại nguồn đã được thực hiện tại nhiều bệnh viện, tuy nhiên do ý thức của nhân viên bệnh viện còn thấp, tỷ lệ phân loại chất thải chưa được cao

Việc thiếu các trang thiết bị xử lý phù hợp dẫn tới nguy cơ rác thải nguy hại từ bệnh viện không được xử lý triệt để, là nguồn gây ô nhiễm môi trường, phát tán mầm bệnh cho cộng đồng Nhiều bệnh viện sử dụng lò đốt rác để xử lý rác thải y tế nguy hại, tuy nhiên phần lớn là các lò đốt rác thủ công hoặc các lò đốt thiết kế đơn giản, không đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường So sánh với các yêu cầu kỹ thuật

về lò đốt chất thải y tế dựa theo TCVN7380-2004 và TCVN7381-2004 thì nhiều lò đốt không phù hợp Khí thải từ các lò đốt không đạt tiêu chuẩn

Trang 35

ảnh hưởng xấu tới môi trường khu vực Sản phẩm sau khi đốt chưa đáp ứng được yêu cầu về vệ sinh

1.2.6 Sự cần thiết xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước thải và lò đốt chất thải y tế cho bệnh viện quy mô cấp huyện

Quy chế Quản lý chất thải y tế quy định rõ, mỗi bệnh viện phải có hệ thống thu gom và xử lý nước thải y tế đồng bộ; các bệnh viện không có hệ thống xử lý nước thải phải bổ sung hệ thống xử lý nước thải hoàn chỉnh đạt các tiêu chuẩn môi trường (điều 27, 28, 29 chương IX Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng

Bộ y tế) Cũng theo quy chế này, các công nghệ xử lý chất thải y tế nguy hại gồm: thiêu đốt trong lò đốt đạt tiêu chuẩn môi trường, khử khuẩn bằng hơi nóng ẩm; công nghệ vi sóng và các công nghệ xử lý khác Việc sử dụng lò đốt rác ở bệnh viện y tế cấp huyện phù hợp hơn so với các phương pháp xử

lý khác do đáp ứng được yêu cầu giảm thể tích chất thải và loại bỏ hoàn toàn các vi khuẩn gây bệnh Công nghệ này cũng dễ điều khiển, yêu cầu về nhân viên vận hành ít hơn so với phương pháp chôn lấp hoặc phương pháp khử khuẩn

Theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), sử dụng lò đốt

là phương pháp thích hợp nhất để xử lý chất thải y tế với mức chi phí ở mức

có thể chấp nhận được Một lò đốt với chi phí vừa phải, dễ dàng thao tác vận hành sẽ giúp quản lý tốt chất thải bệnh viện, giảm thiểu các tác động ra môi trường xung quanh

Quy chế Quản lý chất thải y tế cũng đưa ra các mô hình xử lý, tiêu huỷ chất thải rắn y tế nguy hại, bao gồm trung tâm xử lý và tiêu huỷ chất thải y tế nguy hại tập trung; cơ sở xử lý và tiêu huỷ chất thải y tế nguy hại cho cụm cơ sở y tế và mô hình xử lý và tiêu huỷ chất thải rắn nguy hại tại chỗ Trong 3 mô hình này, mô hình xử lý và tiêu huỷ chất thải rắn nguy hại

Trang 36

tại chỗ với việc lắp đặt lò đốt rác công suất thích hợp là phù hợp với thực tế tại các bệnh viện và trung tâm y tế huyện do các khu vực này nằm ở vùng

xa, không có điều kiện thu gom chất thải y tế để đốt tập trung

Do vậy, việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải và lò đốt chất thải y tế cho bệnh viện quy mô tuyến huyện nhằm bảo vệ nguồn nước, giảm thiểu tác động có hại của chất thải rắn y tế ra môi trường xung quanh, hạn chế lan tràn dịch bệnh cho khu vực đông dân của huyện là cần thiết

1.2.7 Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về xử lý rác, nước thải y tế 1.2.7.1 Các nghiên cứu trên thế giới về xử lý rác, nước thải y tế

Nghiên cứu về chất thải rắn y tế (CTYT) đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada Đề cập đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh, phân loại CTYT; quản lý chất thải y tế (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ); tác hại của chất thải y tế đối với môi trường và sức khoẻ Đề xuất các biện pháp làm giảm tác hại của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng; sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới cộng đồng; ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền dịch bệnh; những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT; tổn thương nhiễm khuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng; các trường hợp phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế

Với mục tiêu bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khoẻ, các nước đang phát triển như Mỹ và Châu Âu ngày càng thắt chặt các tiêu chuẩn khí thải lò đốt chất thải y tế Trong tình hình như vậy, nhiều loại lò đốt được sản xuất tại

Mỹ và Châu Âu cũng không đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường và tìm cách xuất khẩu sang các nước đang phát triển, nơi mà các tiêu chuẩn môi trường

Trang 37

còn lỏng lẻo hoặc chưa có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ Tại Mỹ, vào năm

1988, cả nước có 6200 lò đốt chất thải y tế nhưng đến năm 2006 chỉ còn lại

62 lò đốt hoạt động Tại Canada, năm 1995 có 219 lò đốt nhưng đến năm

2003 chỉ còn 56 lò đốt vận hành Tại châu Âu, nhiều nước đã đóng cửa nhiều

lò đốt chất thải y tế Tại Đức, năm 1984 có 554 lò đốt hoạt động nhưng đến năm 2002 không còn lò đốt nào vận hành Tại Bồ Đào Nha, năm 1995 có 40

lò đốt nhưng năm 2004 chỉ còn 1 lò đốt hoạt động Ai-len có 150 lò đốt hoạt động năm 1990 nhưng đến năm 2005 đã ngưng hoạt động toàn bộ các lò đốt chất thải y tế

Các nước phát triển đã thay thế lò đốt bằng các công nghệ khác thân thiện với môi trường Ở nước ta, nhiều lò đốt hiện nay không được vận hành

do gặp phải sự phản đối của người dân Hiện nay, trên thế giới, các công nghệ

không đốt phổ biến bao gồm: Quy trình nhiệt:khử khuẩn bằng nhiệt ướt như

nồi hấp (autoclave) hay hệ thống hấp ướt tiên tiến (advanced steam), khử khuẩn bằng nhiệt khô (dry heat), công nghệ vi sóng (microwave),

plasma ; Quy trình hoá học: không dùng clo (non-chlorine), thuỷ phân kiềm (alkaline hydrolysis); Quy trình bức xạ: tia cực tím, cobalt; Quy trình sinh

học: xử lý bằng enzym Trong số các công nghệ trên, quy trình nhiệt là phổ

biến nhất

1.2.7.2 Các nghiên cứu trên ở Việt Nam về xử lý rác, nước thải y tế

Năm 2003, Đinh Hữu Dung và cộng sự nghiên cứu tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh cho thấy: mô hình bệnh tật của nhân dân sống tiếp giáp với bệnh viện là các bệnh nhiễm trùng theo đường nước như bệnh da liễu (bệnh sẩn ngứa, viêm quanh móng, viêm kẽ chân), các bệnh phụ khoa, bệnh mắt hột, các bệnh lây theo đường không khí thường gặp là viêm mũi dị ứng

Kết quả thanh tra, kiểm tra của Bộ Y tế (2004) về CTYT ở 175 bệnh viện tại 14 tỉnh, thành phố, cho thấy hầu hết các CTR trong bệnh viện đều

Trang 38

không được xử lý trước khi đem đốt hoặc chôn Một số ít bệnh viện có lò đốt CTYT nhưng lại quá cũ kỹ và gây ô nhiễm môi trường

Năm 2006, Đào Ngọc Phong và cộng sự nghiên cứu ảnh hưởng của chất thải y tế đến sức khoẻ tại 8 bệnh viện huyện, nhưng cũng chỉ đưa ra được kết luận: Một số bệnh có liên quan đến ô nhiễm môi trường ở nhóm người dân bị ảnh hưởng của chất thải từ bệnh viện cao hơn nhóm không bị ảnh hưởng

Kết quả kiểm tra của Bộ Y tế (2007) tại 4 bệnh viện Hà Nội, Bệnh viện Lao và bệnh phổi Trung ương được đánh gía là bệnh viện quản lý rác thải tốt nhất trong 4 bệnh viện được kiểm tra nhưng Đoàn kiểm tra đã phát hiện trong buồng bệnh chỉ có thùng đựng rác sinh hoạt thiếu thùng chứa đờm của bệnh nhân Ở Bệnh viện Việt Đức tất cả rác thải đều chứa chung trong một loại túi đựng rác màu vàng

Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), năm 2006, chỉ có khoảng 50% các bệnh viện trên phân loại, thu gom đạt yêu cầu theo quy chế

Việc áp dụng công nghệ khử khuẩn sẽ mang lại nhiều lợi ích về kinh

tế, môi trường và quản lý Chi phí đầu tư và vận hành công nghệ này rẻ hơn phương pháp thiêu đốt Công nghệ khử khuẩn cũng không phát sinh khí thải độc hại, đặc biệt là dioxin và furan, không phát sinh tro xỉ độc hại chứa kim loại nặng Chất thải sau khi khử khuẩn được chôn lấp như chất thải thông thường Đối với công tác kiểm soát chất lượng khử khuẩn, ngành y tế hoàn toàn có thể làm chủ vì các bệnh viện lớn đều có khoa vi sinh, thuận tiện và tính khả thi cao hơn so với việc kiểm soát khí thải lò đốt chất thải rắn y tế Bên cạnh đó, kinh nghiệm khử khuẩn, tiệt khuẩn dụng cụ y tế, đồ vải trong ngành y tế sẽ rất hữu ích cho việc quản lý thiết bị khử khuẩn chất thải rắn y tế nếu thiết bị này do bệnh viện quản lý và vận hành

Ngày đăng: 04/05/2015, 14:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Nguyễn Huy Nga (2004), "Tổng quan tình hình quản lý chất thải rắn y tế ởViệt Nam", Bảo vệ môi trường trong các cơ sở y tế, Nhà xuất bản Y học,Hà Nội, tr 67 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ môi trường trong các cơ sở y tế
Tác giả: Nguyễn Huy Nga
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
15. Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên (2007), Điều tra thống kê nguồn thải và xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra thống kê nguồn thải và xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Tác giả: Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Nguyên
Năm: 2007
16. Trần Thị Minh Tâm (2005), “Thực trạng quản lý chất thải y tại các bệnh viện huyện tỉnh Hải Dương”, Luận án tiến sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý chất thải y tại các bệnh viện huyện tỉnh Hải Dương
Tác giả: Trần Thị Minh Tâm
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2005
17. Canadian Standards Association (1992), Guidelines for the management of biomedical waste in Canada, Ottawa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guidelines for the management of biomedical waste in Canada
Tác giả: Canadian Standards Association
Nhà XB: Ottawa
Năm: 1992
18. Health Services Advisory Committee (1999), Safe disposal of clinical waste, Sudbury: HSE Books, Great Britain Sách, tạp chí
Tiêu đề: Safe disposal of clinical waste
Tác giả: Health Services Advisory Committee
Năm: 1999
19. Hendarto. H (1998), Medical waste treatment options in Indonesia, California Polytechnic State University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Medical waste treatment options in Indonesia
Tác giả: Hendarto. H
Năm: 1998
20. Miller, R.K. and M.E. Rupnow (1992), Survey on medical waste management, Lilburn, GA: Future Technology Surveys Sách, tạp chí
Tiêu đề: Survey on medical waste management
Tác giả: Miller, R.K. and M.E. Rupnow
Năm: 1992
21. Okayama-Daigaku. KankyẰo-Rikogakubu (2006), International Seminar on New Trends in Hazardous and Medical Waste Management: 8.- KankyẰo - RikẰogakubu – kokusai - shinpojiumu, [February 24, 2006, Okayama International Center],Okayama Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Seminar on New Trends in Hazardous and Medical Waste Management
Tác giả: Okayama-Daigaku, KankyẰo-Rikogakubu
Nhà XB: KankyẰo - RikẰogakubu
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.4. Lượng chất thải nguy hại và phương pháp xử lý - Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý nước, rác thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Bảng 1.4. Lượng chất thải nguy hại và phương pháp xử lý (Trang 23)
Bảng 1.6. Thành phần nước thải bệnh viện - Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý nước, rác thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Bảng 1.6. Thành phần nước thải bệnh viện (Trang 25)
Bảng 1.9.Các chỉ tiêu vệ sinh trong nước thải bệnh viện trước và sau xử - Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý nước, rác thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Bảng 1.9. Các chỉ tiêu vệ sinh trong nước thải bệnh viện trước và sau xử (Trang 27)
Bảng 3.1. Nhân lực y tế tại bệnh viện huyện Hiệp Hòa - Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý nước, rác thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.1. Nhân lực y tế tại bệnh viện huyện Hiệp Hòa (Trang 45)
Bảng 3.2. Lượng chất thải rắn tại Bệnh viện Đa khoa Hiệp Hòa qua các năm - Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý nước, rác thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.2. Lượng chất thải rắn tại Bệnh viện Đa khoa Hiệp Hòa qua các năm (Trang 49)
Hình 3.2. Quy trình xử lý rác thải tại bệnh viện huyện Hiệp Hòa - Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý nước, rác thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Hình 3.2. Quy trình xử lý rác thải tại bệnh viện huyện Hiệp Hòa (Trang 52)
Hình 3.4: Thùng nhựa chứa kim - Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý nước, rác thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Hình 3.4 Thùng nhựa chứa kim (Trang 54)
Hình 3.6. Sơ đồ thu gom chất thải bệnh viện - Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý nước, rác thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Hình 3.6. Sơ đồ thu gom chất thải bệnh viện (Trang 57)
Hình 3.7: Sơ đồ công nghệ đốt rác thải y tế    Công nghệ lò đốt là đốt chất thải một cách có kiểm soát trong một vùng  kín,  mang  nhiều  hiệu  quả - Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý nước, rác thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Hình 3.7 Sơ đồ công nghệ đốt rác thải y tế Công nghệ lò đốt là đốt chất thải một cách có kiểm soát trong một vùng kín, mang nhiều hiệu quả (Trang 58)
Bảng 3.6: Đánh giá của người dân về mức độ ô nhiễm của lò đốt rác thải y tế  Trả lời  Rất ô nhiễm  Ô nhiễm  Không ô nhiễm  Tổng - Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý nước, rác thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.6 Đánh giá của người dân về mức độ ô nhiễm của lò đốt rác thải y tế Trả lời Rất ô nhiễm Ô nhiễm Không ô nhiễm Tổng (Trang 59)
Bảng 3.7. Tổng hợp khối lượng nước sử dụng và thải của bệnh viện - Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý nước, rác thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.7. Tổng hợp khối lượng nước sử dụng và thải của bệnh viện (Trang 61)
Hình 3.9: Sơ đồ hệ thống xử lý nước thải     Nước thải phát sinh trong bệnh viện được tập trung vào các bể phốt của  mỗi khoa và thông qua mạng thoát nước chảy về bể hợp khối gồm: ngăn thu  nước thải có lắp đặt rọ chắn rác, ngăn điều hoà xử lý hiếu khí sơ - Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý nước, rác thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Hình 3.9 Sơ đồ hệ thống xử lý nước thải Nước thải phát sinh trong bệnh viện được tập trung vào các bể phốt của mỗi khoa và thông qua mạng thoát nước chảy về bể hợp khối gồm: ngăn thu nước thải có lắp đặt rọ chắn rác, ngăn điều hoà xử lý hiếu khí sơ (Trang 63)
Bảng 3.8. Kết quả phân tích mẫu nước thải mùa mưa ở Bệnh viện - Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý nước, rác thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.8. Kết quả phân tích mẫu nước thải mùa mưa ở Bệnh viện (Trang 64)
Bảng 3.10: Kết quả nước mặt tại sàn cống thoát nước bệnh viện - Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý nước, rác thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.10 Kết quả nước mặt tại sàn cống thoát nước bệnh viện (Trang 66)
Hình 3.10. Biểu đồ đánh giá của người dân về mức độ ô nhiễm của nước    Nhận xét: Qua hình 3.10 cho thấy đa số người dân được hỏi cho rằng nước  thải sau khi được xử lý ở mức độ bình thường - Đánh giá thực trạng thu gom và xử lý nước, rác thải tại Bệnh viện Đa khoa huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang
Hình 3.10. Biểu đồ đánh giá của người dân về mức độ ô nhiễm của nước Nhận xét: Qua hình 3.10 cho thấy đa số người dân được hỏi cho rằng nước thải sau khi được xử lý ở mức độ bình thường (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w