Mục tiêu của việc xây dựng nông thôn mới ngoài việc phát triển kinh tế nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng dân cư thì việc bảo vệ môi trường sinh thái tại nơi người dân s
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÀM QUANG CHIẾN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TIÊU CHÍ XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ HƯNG ĐẠO - THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích trong luận văn đều
đã được ghi rõ nguồn gốc
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và nghiên cứu tại xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, tôi đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của nhà trường, các cơ quan, thầy cô, gia đình và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Phòng quản lý đào tạo khoa sau đại học cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo đã tận tụy dạy dỗ tôi trong suốt thời gian học tập cũng như thời gian thực tập tốt nghiệp
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Lương Văn Hinh đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện
và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cấp ủy chính quyền cán bộ các ban, ngành xã và bà con nhân dân xã Hưng Đạo nơi tôi nghiên cứu đề tài, đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian thực tập
Trong thời gian nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan và khách quan cũng như là hạn chế về mặt thời gian cho nên không tránh khỏi sai sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy, cô giáo để đề tài này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Đàm Quang Chiến
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Yêu cầu 2
4 Ý nghĩa của đề tài 3
4.1 Ý nghĩa khoa học 3
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở khoa học 4
1.1.1 Các khái niệm 4
1.1.2 Cở sở pháp lý 8
1.2 Cơ sở thực tiễn 10
1.2.1 Một số đặc điểm về hiện trạng môi trường trên thế giới 10
1.2.2 Các vấn đề môi trường nông thôn ở Việt Nam hiện nay 19
1.2.3 Tình hình thực hiện tiêu chí môi trường nông thôn mới trên dịa bàn tỉnh Cao Bằng 22
1.2.4 Tình hình thực hiện tiêu chí môi trường nông thôn mới trên địa bàn Thành phố Cao Bằng 25
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Nội dung và phạm vi nghiên cứu 29
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 29
2.1.4 Nội dung nghiên cứu 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu 30
2.2.2 Phương pháp thống kê xử lý số liệu 30
2.2.3 Phương pháp so sánh, đánh giá 31
2.2.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu 31
2.2.5.Lấy mẫu và phân tích: 31
Trang 53.2.5.2 Phân tích các chỉ tiêu 31
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng 35
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 35
3.1.1.1 Vị trí địa lý 35
3.1.1.2 Địa hình, địa chất 36
3.1.1.3 Khí hậu 36
3.1.1.5 Các nguồn tài nguyên 37
3.1.2 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội 42
3.2 Đánh giá hiện trạng môi trường xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng theo mô hình Động lực – Áp lực – Trạng thái – Tác động – Đáp ứng (DPSIR) 44
3.2.3 Thực trạng môi trường xã Hưng Đạo, TP Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng 60
3.2.3.1 Các kết quả phân tích môi trường nước trên địa bàn xã Hưng Đạo 60
3.2.3.2 Sử dụng nước sinh hoạt và xử lý nước thải, rác thải, vệ sinh môi trường 66
3.2.5 Đánh giá tiêu chí môi trường đã được định ra trong xây dựng nông thôn mới tại xã Hưng Đạo 76
3.3 Các giải pháp đạt tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng 77
3.3.1 Giải pháp chung cho công tác xây dựng nông thôn mới 77
3.3.2 Giải pháp cụ thể cho việc thực hiện tiêu chí môi trường 77
3.3.2.1 Về cấp nước 77
3.3.2.2 Về thoát nước và vệ sinh môi trường 79
3.3.2.3 Tổ chức thu gom, vận chuyển 80
3.3.6 Tổ chức và giám sát thực hiện 84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Kiến nghị 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Dân số và sự phân bố dân cư 47
Bảng 3.2: Số liệu điều tra trình độ dân trí tại khu vực nghiên cứu 48
Bảng 3.3: Ý kiến về cải thiện điều kiện môi trường 48
Bảng 3.4: Nhận thức của người dân về vấn đề môi trường 49
Bảng 3.5: Những loại phân bón được các hộ gia đình sử dụng 55
Bảng 3.6: Kết quả phân tích môi trường nước tại điểm xả nước thải của Công ty Cổ phần sản xuất vật liệu xây dựng Cao Bằng 61
Bảng 3.7: Kết quả phân tích môi trường nước tại điểm cấp nước cho Công ty Cổ phần Sản xuất vật liệu xây dựng Cao Bằng 62
Bảng 3.8: Kết quả phân tích môi trường nước tại điểm xả nước thải của Công ty cổ phần Gốm Nam Phong 63
Bảng 3.9: Kết quả phân tích môi trường nước tại điểm cấp nước cho Công ty cổ phần Gốm Nam Phong 64
Bảng 3.10: Kết quả phân tích môi trường nước tại điểm cấp nước sản xuất cho Công ty TNHH một thành viên Thủy Nông Cao Bằng 65
Bảng 3.11: Các nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân trong xã 66
Bảng 3.12: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng loại công thải 66
Bảng 3.13: Tỷ lệ phần trăm các nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt 67
Bảng 3.14: Các hình thức đổ rác thải sinh hoạt của xã 68
Bảng 3.15: Thực trạng nhà vệ sinh tại xã Hưng Đạo 69
Bảng 3.16: Các nguồn tiếp nhận nước thải từ nhà vệ sinh 70
Bảng 3.17: Đánh giá tiêu chí môi trường trong xây dựng nông thôn mới 76
Bảng 3.18: Bảng tính toán nhu cầu sử dụng nước 78
Bảng 3.19: Bảng tính toán về lượng nước thải 79
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 3.1: Bản đồ thành phố Cao Bằng 35
Hình 3.2: Ý kiến cải thiện môi trường của người dân 49
Hình 3.3: Sơ đồ phân tích chuỗi DPSIR cho động lực chi phối 50
Hình 3.4: Sơ đồ chuỗi DPSIR cho động lực chi phối “Dân số” 52
Hình 3.5: Các loại phân được sử dụng 55
Hình 3.6: Sơ đồ chuỗi DPSIR cho động lực chi phối “Nông nghiệp” 57
Hình 3.7: Sơ đồ chuỗi DPSIR cho động lực chi phối “Dịch vụ” 60
Hình 3.7: Tỷ lệ các loại cống thải các hộ gia đình sử dụng 67
Hình 3.8: Nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt 68
Hình 3.9: Tỷ lệ các kiểu nhà vệ sinh tại xã Hưng Đạo 69
Hình 3.10: Các nguồn tiếp nhận nước thải từ nhà vệ sinh 70
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp, nông thôn là khu vực có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái
Cao Bằng được công nhận là đô thị loại III từ tháng 10 năm 2010, là trung tâm phát triển kinh tế trọng điểm của tỉnh Cao Bằng Nằm ở vị trí gần như giữa trung tâm địa lý của tỉnh Cao Bằng, với diện tích là 10.762,81 ha và dân số 67.411 người (năm 2011), thành phố Cao Bằng đang trên đà phát triển mạnh mẽ về kinh tế và xã hội Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền kinh tế xã hội của tỉnh đang có những bước phát triển nhanh chóng, đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao, đồng thời các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng tăng lên rất nhiều trong những năm gần đây
Xã Hưng Đạo nằm cách trung tâm thành phố Cao Bằng 10 km về phía Đông Nam theo đường tỉnh lộ 203 Trên địa bàn xã có các trục đường giao thông lớn như: đường Hồ Chí Minh (đang trong quá trình xây dựng), QL3, QL34 và tỉnh lộ 203 chạy qua, vì vậy việc giao lưu đi lại giữa xã với thành phố Cao Bằng và các xã lân cận đều thuận lợi Đồng thời, do nằm trong vùng thời tiết thuận lợi nên Hưng Đạo cũng có nhiều điều kiện để phát triên nông-lâm nghiệp mang tính sản xuất hàng hóa cao như phát triển trồng cây thuốc lá và các loại cây ăn quả như Thanh Long, cam, mận cho giá trị kinh tế cao
Việc xây dựng nông thôn mới xã Hưng Đạo nhằm đánh giá rõ các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và đưa ra định hướng phát triển về không gian, về mạng lưới dân cư, về hạ tầng kỹ thuật, xã hội nhằm khai thác tiềm năng thế mạnh về trồng sản xuất thuốc lá, cây ăn quả và thương mại dịch vụ của địa phương
Hơn nữa nông nghiệp, nông thôn là khu vực có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở, lực
Trang 10lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái
Mục tiêu của việc xây dựng nông thôn mới ngoài việc phát triển kinh tế nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cộng đồng dân cư thì việc bảo vệ môi trường sinh thái tại nơi người dân sinh sống rất quan trọng và trong bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới thì tiêu chí số 17 nói về vấn đề môi trường nông thôn
Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của nông nghiệp, nông thôn, Đảng
và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu tiên phát triển kinh tế khu vực nông nghiệp, nông thôn Để thực hiện có hiệu quả các chính sách về phát triển kinh tế khu vực nông nghiệp, nông thôn vấn đề xây dựng và phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn là hết sức cần thiết và cần được ưu tiên thực hiện
Dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Lương Văn Hinh, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng môi trường và đề xuất giải
pháp thực hiện tiêu chí xây dựng môi trường nông thôn mới tại xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố chính đến môi trường xã Hưng Đạo
- Đề xuất giải pháp đạt tiêu chí về môi trường trong nông thôn mới trên địa bàn xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng
Trang 11- Đề xuất các giải pháp về môi trường trong đạt tiêu chí về môi trường trong nông thôn mới trên địa bàn xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
4 Ý nghĩa của đề tài
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật
Hoạt động bảo vệ môi trường
Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong sạch, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học [16]
Nâng cao chất lượng môi trường là mục đích chủ yếu của công tác BVMT Chất lượng môi trường phản ánh mức độ phù hợp của môi trường đối với sự tồn tại, phồn vinh cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của nhân loại Ở những năm 60 cùng với sự xuất hiện vấn đề chất lượng môi trường cũng ngày càng được quan tâm Người ta dần dần dùng mức độ tốt xấu của môi trường, để biểu thị mức độ môi trường bị ô nhiễm” [15]
Nông thôn
Vùng nông thôn được quan niệm khác nhau ở mỗi nước vì điều kiện kinh tế -
xã hội, điều kiện tự nhiên ở mỗi nước khác nhau Cho đến nay chưa có một khái niệm nào được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn Để có được định nghĩa nông thôn, người ta so sánh nông thôn và thành thị Trong khi so sánh có ý kiến dùng chỉ tiêu mật độ dân số và số lượng dân cư
Trang 13Có ý kiến dùng chỉ tiêu trình độ phát triển kết cấu hạ tầng để phân biệt thành thịvà nông thôn
Có ý kiến dùng chỉ tiêu phát triển sản xuất hàng hoá, tiếp cận thị trường để phân biệt thành thị và nông thôn (điều này còn phụ thuộc vào cơ chế kinh tế của mỗi nước)
Có ý kiến cho rằng vùng nông thôn là vùng mà dân cư ở đó làm nông nghiệp
là chủ yếu (nó phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế của vùng)
Qua một số ý kiến trên nếu dùng chỉ tiêu riêng lẻ thì chỉ thể hiện từng mặt của vùng nông thôn mà chưa thể hiện vùng nông thôn một cách đầy đủ
Theo ý kiến phân tích của các nhà kinh tế và xã hội học có thể đưa ra khái niệm tổng quát về vùng nông thôn như sau:
Nông thôn là vùng khác với thành thị, ở đó một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa kém hơn
Phát triển nông thôn
Các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới đã đưa ra quan niệm về phát triển nông thôn là: phát triển nông thôn là một chiến lược vạch ra nhằm cải thiện đời sống kinh tế - xã hội của một bộ phận dân cư tụt hậu, đặc biệt là ở các vùng nông thôn Nó đòi hỏi phải mở rộng các lợi ích của sự phát triển đến với những người nghèo nhất trong sốnhững người đang tiến kế sinh nhai ở các vùng nông thôn [14]
Theo Uma Lele trong "Kế hoạch phát triển nông thôn ở châu Phi" thì phát triển nông thôn được định nghĩa là sự cải thiện mức sống của số lớn dân chúng có thu nhập thấp đang cư trú ở các vùng nông thôn và tự lực thực hiện quá trình phát triển của họ
Theo Nandasema Ratnapana (Ấn Độ) thì phát triển nông thôn không thể là một hoạt động cục bộ, rời rạc và thiếu quyết lâm Nó phải là một hoạt động của tổng thể, liên tục diễn ra trong cả một quốc gia Phát triển nông thôn không thể tồn tại lâu hơn như một cố gắng đơn độc chỉ thực hiện trong các cộng đồng nông thôn
Trang 14lạc hậu với lý do nhân đạo, mà nó phải thể hiện như một chương trình phát triển tổng thể quốc gia, bổ sung cho những nỗ lực phát triển kinh tế quốc dân to lớn Khái niệm phát triển nông thôn mang tính toàn diện, đảm bảo tính bền vững về môi trường Vì vậy trong điều kiện của Việt Nam, được tổng kết từ các chiến lược kinh tế xã hội của Chính phủ, thuật ngữ này được hiểu: “Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác” [14]
- Mô hình nông thôn mới
Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách về một mô hình phát triển cả
về nông nghiệp và nông thôn, mô hình nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu KHKT hiện đại mà vẫn giữ đựơc nét đặc trưng, tinh hoa văn hóa của người Việt Nam Nhìn chung: mô hình làng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa
Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: Đáp ứng yêu cầu phát triển (đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường), đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội), tiến bộ hơn
so với mô hình cũ, chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước
Có thể quan niệm: “Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt”
- Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm có 11 nội dung, trong đó nội dung thứ 9 nói về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Trang 15+ Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt và hợp vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã Đến năm 2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến năm 2020 có 80% số xã đạt chuẩn [12]
+ Nội dung:
- Nội dung 1: Tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và
vệ sinh môi trường nông thôn;
- Nội dung 2: Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn
xã, thôn theo quy hoạch gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng
- Mô hình DPSIR
* Khái niệm về mô hình DPSIR: Do tổ chức Môi trường Châu Âu (EEA) xây
dựng vào năm 1999, được viết tắt của 5 từ anh ngữ [9]:
- Driving Forces (D), có nghĩa là lực Lực điều khiển (Dự án EIR dịch là
động lực), lực điều khiển có tình khái quát nào đang tác động lên môi trường của địa bàn đang được xem xét, ví dụ: Sự gia tăng dân số, công nghiệp hoá, đô thị thị hoá
- Pressure (P), có nghĩa là áp lực Áp lực lên nhân tố môi trường Ví
dụ: Xả thải khí, nước đã bị ô nhiễm, chất thải rắn, chất thải độc hại vào môi trường
- State (S), có nghĩa là tình trạng Tình trạng môi trường tại một thời điểm
hoặc thời gian nhất định Ví dụ tình trạng không khí, nước, đất, tài nguyên khoáng sản, đa dạng sinh học
- Impact (I), có nghĩa là tác động Tác động tiêu cực hoặc tích cực của tình trạng
đó đối với con người cũng như điều kiện sinh sống, hoạt động sản xuất của con người
- Response (R), có nghĩa là đáp ứng Con người có những hoạt động gì để đáp
ứng nhằm khắc phục các tác động tiêu cực, phát huy các tác động tích cực nêu trên
Trang 16Mô hình DPSIR nói lên rằng để hiểu tình trạng, môi trường tại một địa bàn, có thể là trên toàn cầu, tại một quốc gia, một tỉnh hay một địa phương ta phải biết
Theo thông tư 09/2009/TT – BTNMT ngày 11/8/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường được định nghĩa như sau: Mô hình DPSIR là mô hình mô tả mối quan hệ tương
hỗ giữa Động lực - D (phát triển kinh tế - xã hội, nguyên nhân sâu xa của các biến đổi môi trường) - Áp lực - P (các nguồn thải trực tiếp gây ô nhiễm và suy thoái môi trường)
- Hiện trạng - S (hiện trạng chất lượng môi trường) - Tác động - I (tác động của ô nhiễm môi trường đối với sức khoẻ cộng đồng, hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái) - Đáp ứng - R (các giải pháp bảo vệ môi trường) [22]
1.1.2 Cở sở pháp lý
+ Căn cứ vào luật BVMT 2005 được quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006;
+ Căn cứ vào nghị định số 80/2006 NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật bảo vệ môi trường + Căn cứ Nghị định số 29/2011/NĐ- CP, ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá tác động môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường;
+ Căn cứ Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18 tháng 7 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-
CP, ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá tác động môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường;
+ Nghị định 59/2007/ NĐ - CP ngày 09/04/2007 về quản lí chất thải rắn;
+ Quyết định số 08/2005/QĐ-BYT ngày 11/3/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Tiêu chuẩn ngành: Tiêu chuẩn vệ sinh đối với các loại nhà tiêu; + Căn cứ quyết định số 17/2001/ QĐ - BXD ngày 07/08/2001 của Bộ Xây Dựng định mức dự toán chuyên nghành vệ sinh môi trường - công tác thu gom vận chuyển, xử lí rác;
+ Quyết định số 22/2006 QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc áp dụng TCVN về môi trường;
Trang 17+ Quy định số 367-BVTV/QĐ về việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật
sử dụng ở Việt Nam do Cục Bảo vệ thực vật ban hành;
+ Chỉ thị số 36/2008/CT - BNN ngày 20/02/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc tăng cường các hoạt động bảo vệ môi trường trong Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn;
+ Căn cứ Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết
số 26- NQ/TW xác định nhiệm vụ xây dựng “ Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới”;
+ Căn cứ Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
+ Căn cứ Quyết định 193/QĐ-TTg ngày 2/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới;
+ Căn cứ Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020;
+ Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
+ Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia;
+ Thông tư số 174/2009/TT-BTC ngày 08/9/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn
cơ chế huy động và quản lý các nguồn vốn tại 11 xã thực hiện Đề án "Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá" ; + Công văn số 6867/BKH-KTNN ngày 08/9/2009 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn cơ chế đặc thù quản lý đầu tư và xây dựng tại các xã thí điểm xây dựng
mô hình nông thôn mới;
+ Thông tư số 21/2009/TT-BXD ngày 30/6/2009 của Bộ Xây dựng quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng nông thôn;
+ Thông tư số 31/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 của Bộ Xây dựng ban hành tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông thôn;
Trang 18+ Thông tư số 32/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 của Bộ Xây dựng ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn;
+ Căn cứ Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/8/2010 của Bộ Xây dựng về quy định việc lập nhiệm vụ, đồ án quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới;
+ Căn cứ thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTN&MT ngày 28 tháng 10 năm 2011 của Bộ Xây dựng - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng nông thôn mới;
+ Căn cứ Thông tư số 17/2010/TT-BXD ngày 30 tháng 9 năm 2010 của Bộ Xây dựng hướng dẫn xác định và quản lý chi phí quy hoạch xây dụng và quy hoạch
1.2.1 Một số đặc điểm về hiện trạng môi trường trên thế giới
Hiện nay, chúng ta đang sống trong một thế giới có nhiều biến đổi lớn về môi trường: khí hậu biến đổi, nhiệt độ quả đất đang nóng lên, mực nước biển đang dâng lên,
sự xâm nhập của các loài ngoại lai ngày càng nhiều, các hệ sinh thái như rừng, đất ngập nước đang bị co hẹp lại và phân cách nhau, tốc độ mất mát các loài ngày càng gia tăng, ô nhiễm môi trường ngày càng nặng nề, dân số tăng nhanh, sức ép của công nghiệp hóa và thương mại toàn cầu ngày càng lớn (Jennifer, 2010) Tất cả những thay đổi đó đang ảnh hưởng rõ ràng đến công cuộc phát triển của tất cả các nước trên thế giới và cả nước ta
Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế trên thế giới ngày nay, không những đang dẫn đến nhiều vấn về môi trường khó giải quyết, mà còn nẩy sinh nhiều vấn đề về chính trị
và xã hội đáng lo ngại, tranh dành tài nguyên thiên nhiên giữa các nước và giữa các vùng, sự cách biệt giàu nghèo trong từng nước và giữa các nước ngày càng xa, chiến tranh sắc tộc, phe phái, lối sống sa đọa đang có nguy cơ phát triển
Trang 19Chúng ta, cả thế giới, đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường, nhưng cấp bách nhất là:
+ Rừng – “lá phổi của Trái đất” – đang bị phá hủy do hoạt động của loài người;
+ Đa dạng sinh học đang giảm sút hàng ngày;
+ Nguồn nước ngọt đang hiếm dần;
+ Mức tiêu thụ năng lượng ngày càng cao và nguồn năng lượng hóa thạch đang cạn kiệt;
+ Hạn hán ngày càng gia tăng đang ảnh hưởng đến sản xuất lương thực và cuộc sống của nhiều vùng;
+ Trái đất đang nóng lên;
+ Dân số thế giới đang tăng nhanh
Rừng – “lá phổi của Trái đất” – đang bị con người tàn phá
Rừng xanh trên thế giới che phủ khoảng một phần ba diện tích đất liền của Trái đất, chiếm khoảng 40 triệu km2 Tuy nhiên, các vùng rừng rậm tươi tốt đã bị suy thoái nhanh chóng trong những năm gần đây Các hệ sinh thái rừng bao phủ khoảng 10% diện tích Trái đất, khoảng 30% diện tích đất liền Tuy nhiên, các vùng
có rừng che phủ đã bị giảm đi khoảng 40% trong vòng 300 năm qua và theo đó mà các loài động thực vật, thành phần quan trọng của các hệ sinh thái rừng, cũng bị mất mát đáng kể Diện tích các vùng đất hoang dã đã được chuyển thành đất nông nghiệp, chỉ tính riêng từ năm 1945 đến nay đã lớn hơn cả trong thế kỷ thứ XVIII và XIX cộng lại [30]
Nguyên nhân chính mất rừng trên thế giới là do hoạt động của con người: lấy đất để chăn nuôi và trồng trọt, phát nương làm rẫy, khai thác gỗ, xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi, giao thông, xây dựng khu dân cư mới và khai khoáng, nhất
là tại các nước đang phát triển Hàng năm, có khoảng 20.000 đến 30.000 km2 rừng nhiệt đới bị phá hủy để sản xuất lương thực, trồng cây công nghiệp và làm đồng cỏ
để chăn nuôi Ngoài ra, công việc khai thác khoáng sản cũng gây nên sự tàn phá rừng nghiêm trọng ở nhiều vùng, nhất là tại các nước đang phát triển Cũng vì thế
mà sự suy thoái và mất rừng tại các vùng nhiệt đới là vấn đề nguy cấp nhất [30]
Trang 20 Mất mát đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học là tài nguyên vô giá kể từ khi xuất hiện trên Trái đất cách
đây khoảng 4 tỷ năm, các dạng sống tiếp tục phát triển và tiến hóa không ngừng để
tạo nên thế giới sinh vật rất đa dạng
Từ khi cuộc sống trên Trái đất phồn thịnh, hành tinh của chúng ta có số lượng loài hết sức đa dạng Vào khoảng 250 triệu năm trước đây, trên Trái đất ước tính chỉ
có khoảng 250.000 loài sinh vật, nhưng từ khi các sinh vật chuyển được từ môi trường biển cả lên môi trường đất liền, thì số loài tăng lên rất nhanh và hiện nay đã
có ít nhất khoảng vài ba triệu loài đang sinh sống trên Trái đất
Có bao nhiêu loài đã bị tuyệt chủng trong những năm qua? Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì ước tính đã có khoảng 40% số loài đã mất đi trong khoảng
từ 1970 đến 2000 Riêng các loài ở nước ngọt đã mất đi khoảng 50%.Vì thế cho nên, việc bảo tồn đa dạng sinh học là hết sức quan trong trong công cuộc xóa đói giảm nghèo mà chúng ta đang đeo đuổi trong sự phát triển xã hội ở nước ta [30]
Tài nguyên nước đang bị cạn kiệt dần
Trái đất là một hành tinh xanh, có nhiều nước, nhưng 95,5% lượng nước có trên Trái đất là nước biển và đại dương Lượng nước ngọt mà loài người có thể sử dụng được chỉ chiếm khoảng 0,01% lượng nước ngọt có trên Trái đất Cuộc sống của tất cả chúng ta và nhiều loài sinh vật khác phụ thuộc vào lượng nước ít ỏi đó Lượng nước quý giá đó đang bị suy thoái một cách nhanh chóng do các hoạt động của con người và con người đang phải vật lộn với sự thiếu hụt nước ngọt tại nhiều vùng trên thế giới
Các hoạt động của con người đã làm giảm sút một cách đáng kể số lượng và chất lượng nguồn nước ngọt của thế giới Các hoạt động thiếu quy hoạch hợp lý như ngăn sông, đắp đập, chuyển đổi đất ngập nước, phá rừng, thải các chất thải sinh hoạt
và công nghiệp ngày càng nhiều, đến mức thiên nhiên không thể phân hủy kịp, đã
và đang gây ô nhiễm đất, nước, không khí Trong lúc đó, nhu cầu ngày càng tăng nhanh của con người về nguồn nước ngọt đã làm thay đổi các dòng nước tự nhiên, thay đổi quy trình lắng đọng và làm giảm chất lượng nước Tình trạng thiếu nước trên thế giới ngày càng lan rộng, nạn khô hạn kéo dài, gây nhiều hậu quả về kinh tế và xã hội cho nhiều vùng rộng lớn Tất cả những điều đó đều tác động tiêu cực lên sự phát
Trang 21triển, làm suy giảm đa dạng sinh học và chức năng của các hệ thống thủy vực trên thế giới
Để có thể bảo tồn nguồn tài nguyên nước hết sức ít ỏi của chúng ta, chúng ta phải nhận thức được rằng cần phải giữ được sự cân bằng nhu cầu và khả năng cung cấp bằng cách thực hiện các biện pháp thích hợp Để có thể hồi phục được sự cân bằng mỗi khi đã bị thay đổi, sẽ tốn kém rất lớn, tuy nhiên, có nhiều trường hợp không thể sửa chữa được Vì thế cho nên, nhân dân tại tất cả các vùng phải biết tiết kiệm nước, giữ cân bằng giữa nhu cầu sử dụng với nguồn cung cấp, có như thế mới giữ được một cách bền vũng nguồn nước với chất lượng an toàn
Chất đốt hóa thạch đang cạn kiệt
Dầu mỏ, than đá, nguồn năng lượng chính của chúng ta, được tạo thành từ các sinh vật đã từng sống trên Trái đất hàng tỷ năm trước lúc loài người được sinh ra
Đó là các chất hữu cơ, được tạo thành từ năng lượng mặt trời qua quá trình quang hợp, được tích lũy trong các sinh vật thời tiền sử, đã được biến đổi do sức ép và nhiệt độ thành cái được gọi là chất đốt hóa thạch
Con người đã đạt được bước tiến rất lớn trong quá trình phát triển, bằng cuộc Cách mạng Công nghiệp nhờ sự tiêu thụ lớn các chất đốt hóa thạch Vào thế kỷ XVIII, sự phát minh máy hơi nước đã thúc đẩy Cách mạng Công nghiệp, và than đá
đã trở thành loại chất đốt chiếm ưu thế trong thời kỳ này Tiếp theo, vào cuối thế kỷ thứ XIX, động cơ đốt trong (động cơ chạy bằng xăng, dầu) được phát minh và ôtô dần dần được sử dụng rộng rãi Sau đó, máy bay được phát minh Vào thế kỷ XX, con người bắt đầu 12 tiêu thụ dầu mỏ với mức độ cực lớn, các động cơ chạy than và động cơ chạy dầu đã được sử dụng một cách rộng rãi, đã trở thành cơ sở của xã hội ngày nay
Tuy nhiên, ngày nay, tất cả các nước, đang phải đối đầu với một vấn đề là xã hội lệ thuộc vào chất đốt hóa thạch Ước lượng nguồn dự trữ dầu mỏ trên thế giới chỉ còn sử dụng được trong vòng 40 năm nữa, dự trữ khí tự nhiên được 60 năm và than đá là khoảng 120 năm Nếu chúng ta vẫn bị lệ thuộc vào chất đốt hóa thạch, thì chúng ta không thể đáp ứng được nhu cầu năng lượng ngày càng cao và sẽ phải đối đầu với sự cạn kiệt nhanh chóng nguồn tài nguyên thiên nhiên này trong thời gian không lâu
Trang 22 Tiêu thụ năng lượng ngày càng gia tăng
Trong lúc vấn đề cạn kiệt nguồn chất đốt hóa thạch đang được mọi người quan tâm như dầu mỏ và khí đốt, thì Trung Quốc và Ấn Độ với diện tích rộng và dân số lớn, đang là những nước đang phát triển nhanh tại châu Á Đặc biệt là Trung Quốc,
có nguồn than đá và khí đốt thiên nhiên dồi dào, đang tăng sức tiêu thụ nguồn năng lượng này một cách nhanh chóng
Ở Trung Quốc, sức tiêu thụ loại năng lượng hàng đầu này, từ 961 triệu tấn (tương đương dầu mỏ) vào năm 1997 lên 1.863 triệu tấn vào năm 2007, tăng gần gấp đôi trong khoảng 10 năm Tất nhiên, lượng CO2 thải ra cũng tăng lên bằng gần 1/2 lượng 13 thải của Mỹ năm 2000, và đến nay, Trung Quốc đã trở thành nước thải lượng khí CO2 lớn nhất trên thế giới, vượt qua cả Mỹ năm 2007
Hạn hán bất thường tại những vùng sản xuất lương thực lớn
Nóng lên toàn cầu không phải chỉ có nhiệt độ tăng thêm, nó còn mang theo hàng loạt biến đổi về khí hậu, mà điều quan trọng nhất là làm giảm lượng nước mưa tại nhiều vùng trên thế giới Tại một số vùng thường đã bị khô hạn, lượng mưa lại giảm bớt, tạo nên hạn hán lớn và sa mạc hóa Châu Úc là một nước nông nghiệp quan trọng, lượng lương thực xuất khẩu chiếm 25% toàn bộ lương thực xuất khẩu trên thế giới, là nước xuất khẩu lúa mỳ thứ ba trên thế giới, sau Mỹ và Canađa Nhật Bản là nước nhập khẩu lương thực và thực phẩm lớn từ Ôxtrâylia, kể cả dầu ăn và thịt bò
Lượng mưa hàng năm ở Ôxtrâylia chỉ bằng 1/4 lượng mưa ở Nhật, thế nhưng sau những năm 1990, lượng mưa ở Ôxtrâylia giảm sút dần Đến năm 2002, Ôxtrâylia bị hạn hán nặng nề, sản lượng lương thực giảm sút nghiêm trọng, mất khoảng 1/2 so với những năm bình thường
Từ đó đến nay, hàng năm Ôxtrâylia vẫn tiếp tục bị hạn hán, thiếu nước trầm trọng Năm 2006, Ôxtrâylia bị hạn chưa từng có và năm 2007, mức nước sông Murray Darling ở vùng Nam Ôxtrâylia hạ thấp, làm cho cả vùng thung lũng bị hạn nặng Chính phủ Ôxtrâylia đã phải có biện pháp hỗ trợ nông dân, nhưng nhiều nông dân vẫn bị mất mùa, bị vỡ nợ và phá sản, thậm chí có người phải tự
tử Tình trạng này cũng đã gây nên nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng
Trang 23 Sự bùng nổ dân số loài người
Sự tăng dân số một cách quá nhanh chóng của loài người cùng với sự phát triển trình độ kỹ thuật là nguyên nhân hàng đầu gây ra sự suy thoái thiên nhiên Tuy rằng, dân số loài người đã tăng lên với mức độ khá cao tại nhiều vùng ở châu Á trong nhiều thế kỷ qua, nhưng ngày nay, sự tăng dân số trên thế giới đã tạo nên một hiện tượng đặc biệt của thời đại chúng ta, được biết đến như là sự bùng nổ dân số trong thế kỷ XX Hiện tượng này có lẽ còn đáng chú ý hơn cả phát minh về năng lượng nguyên tử hay phát minh về điều khiển học
Năm 1987, dân số loài người đã đạt đến con số 5.026 triệu người, với tỷ lệ tăng dân số là 1,7%/năm Tình trạng quá đông dân số loài người trên Trái đất đã đạt trung bình khoảng 33 người trên km2 trên đất liền (kể cả sa mạc và các vùng cực) Với dân số như vậy, loài người đang ngày càng gây sức ép mạnh lên vùng đất có khả năng nông nghiệp để sản xuất lương thực và cả lên những hệ sinh thái tự nhiên khác
Tình hình nông thôn ở một số nước trên thế giới
* Nước Hàn Quốc:
Sau trận lụt lớn năm 1969, người dân Hàn Quốc phải tu sửa lại nhà cửa, đường sá, ruộng vườn mà không có sự trợ giúp của chính phủ Trong khi đi thị sát tình hình dân chúng, Tổng thống Hàn Quốc lúc bấy giờ là Park Chung Hy nhận
ra rằng viện trợ của chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách
tự cứu lấy mình Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn
Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào “Saemaulundong” được đích thân Tổng thống Park phát động vào ngày 22/4/1970 “Saemaul” theo nghĩa tiếng Hàn là “Sự đổi mới của cộng đồng” được ghép với “undong” có nghĩa là một phong trào và cụm từ “Saemaulundong” có nghĩa là phong trào đổi mới cộng đồng
Vì phong trào bắt đầu từ nông thôn nên “Saemaulundong” được hiểu là “Phong trào đổi mới nông thôn” Sự ra đời kịp thời của “Saemaulundong” vào đúng lúc nông thôn Hàn Quốc đang trì trệ trong đói nghèo cần có sự bứt phá mạnh mẽ và những kết quả khả quan đạt được ngay sau đó đã làm nức lòng nông dân cả nước Tới năm
Trang 241974, chỉ sau 4 năm phát động “Saemaulundong”, sản lượng lúa tăng đến mức có thể tự túc lương thực, phổ biến kiến thức nông nghiệp đã tạo nên một cuộc cách mạng trong phương pháp canh tác, thu nhập một năm của hộ nông dân (674 nghìn won tương đương 562 USD) cao hơn so với hộ ở thành thị (644 nghìn won tương đương 537 USD) Vào năm 1980, bộ mặt nông thôn có thể nói đã hoàn toàn thay đổi với đầy đủ điện, đường, nước sạch, công trình văn hóa… “Saemaulundong” từ một phong trào ở nông thôn đã lan ra thành một phong trào đổi mới toàn xã hội Hàn Quốc.[8]
* Nước Mỹ:
Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông nghiệp Vùng Trung Tây của nước này có đất đai mầu mỡ nhất thế giới Lượng mưa vừa đủ cho hầu hết các vùng của đất nước; nước sông và nước ngầm cho phép tưới rộng khắp cho những nơi thiếu mưa
Bên cạnh đó, các khoản vốn đầu tư lớn và việc tăng cường sử dụng lao động
có trình độ cao cũng góp phần vào thành công của ngành nông nghiệp Mỹ Điều kiện làm việc của người nông dân làm việc trên cánh đồng rất thuận lợi: máy kéo với các ca bin lắp điều hòa nhiệt độ, gắn kèm theo những máy cày, máy xới và máy gặt có tốc độ nhanh và đắt tiền Công nghệ sinh học giúp phát triển những loại giống chống được bệnh và chịu hạn Phân hóa học và thuốc trừ sâu được sử dụng phổ biến, thậm chí theo các nhà môi trường quá phổ biến Công nghệ vũ trụ được sử dụng để giúp tìm ra những nơi tốt nhất cho việc gieo trồng và thâm canh mùa màng Định kỳ, các nhà nghiên cứu lại giới thiệu các sản phẩm thực phẩm mới và những phương pháp mới phục vụ việc nuôi trồng thủy, hải sản, chẳng hạn như tạo các hồ nhân tạo để nuôi cá.[1]
Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông nghiệp”, một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến các tổ hợp rất lớn hoặc các công ty
đa quốc gia sở hữu những vùng đất đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng Cũng giống như một doanh nghiệp công nghiệp tìm
Trang 25cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo ra quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớn hơn và củng cố hoạt động của mình sao cho linh hoạt hơn
Cũng giống như một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo ra quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớn hơn và củng cố hoạt động của mình sao cho linh hoạt hơn Sự thật, ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông nghiệp”, một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến các tổ hợp rất lớn hoặc các công ty
đa quốc gia sở hữu những vùng đất đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng Sự ra đời ngành kinh doanh nông nghiệp vào cuối thế kỷ
XX đã tạo ra ít trang trại hơn nhưng các trang trại có quy mô lớn hơn nhiều Đôi khi được sở hữu bởi những cổ đông vắng mặt, các trang trại mang tính tập đoàn này sử dụng nhiều máy móc hơn và ít bàn tay của nông dân hơn Vào năm 1940, có 6 triệu trang trại và trung bình mỗi trang trại khoảng 67 hecta Đến cuối thập kỷ 1990, chỉ
có khoảng 2,2 triệu trang trại nhưng trung bình mỗi trang trại có diện tích 190 hecta Cũng chính trong khoảng giai đoạn này, số lao động nông nghiệp giảm rất mạnh từ 12,5 triệu người năm 1930 xuống còn 1,2 triệu người vào cuối thập kỷ 1990 dù cho dân số của Mỹ tăng hơn gấp đôi Vào năm 1900, một nửa lực lượng lao động là nông dân nhưng đến cuối thế kỷ này chỉ còn 2% lao động trong các trang trại Và gần 60% trong số nông dân còn lại đó đến cuối thế kỷ này chỉ làm việc một phần thời gian trên trang trại; thời gian còn lại họ làm những việc khác không thuộc trang trại để bù đắp thêm thu nhập cho mình Chi phí đầu tư vốn cao, cho đất đai và trang thiết bị khiến cho việc dành toàn bộ thời gian làm việc trên trang trại là cực kỳ khó khăn cho hầu hết mọi người.[1]
* Nước Trung Quốc
Nông thôn Việt Nam và Trung Quốc có nhiều nét tương đồng Trung Quốc
đã thực hiện nhiều chính sách cải cách ở nông thôn Đến năm 2009, thu nhập bình
Trang 26quân của cư dân nông thôn lần đầu tiên đạt mức trên 5.000 NDT tăng 8,5% so với năm trước Cũng trong năm 2009, Trung Quốc đầu tư làm mới và sửa chữa khoảng 300.000 km đường bộ nông thôn; hỗ trợ trên 46 triệu người nghèo đảm bảo đời sống tối thiểu; triển khai thí điểm ở 320 huyện về bảo hiểm dưỡng lão xã hội nông thôn.[12]
Việc chỉ đạo của Chính phủ trước kia cũng kiểu mệnh lệnh hành chính, nên việc thực hiện khá miễn cưỡng Sau đó, việc thực hiện xây dựng NTM linh hoạt hơn, dựa trên quy hoạch tổng thể (ngân sách nhà nước và địa phương) Căn cứ tình hình cụ thể ở các địa phương, đặc điểm tự nhiên, xã hội, để đưa ra chính sách, biện pháp thích hợp Ngân sách nhà nước chủ yếu dùng làm đường, công trình thủy lợi…, một phần dùng để xây nhà ở cho dân Đối với nhà ở nông thôn, nếu địa phương nào ngân sách lớn, nông dân chỉ bỏ ra một phần, còn lại là tiền của ngân sách”
Nhà nước đầu tư nhiều hơn vào nông nghiệp Đầu tiên là đầu năm 2006 Trung Quốc xoá bỏ thuế nông nghiệp đã tồn tại 2 600 năm, đã cắt 120 tỷ nguyên (15 tỷ USD) gánh nặng thuế của nông dân Việc xoá bỏ thuế làm cho ngân sách các
xã giảm nhiều, nhất là ở các vùng không có hoạt động phi nông nghiệp Ngân sách cho phát triển nông thôn tăng lên Xây dựng một cơ chế để công nghiệp và đô thị thúc đẩy phát triển nông thôn Sự phân phối thu nhập quốc dân sẽ được điều chỉnh
để cho việc tiêu thụ thuế và đầu tư ngân sách và tài sản cố định và tín dụng sẽ tăng cho nông nghiệp và nông thôn Hỗ trợ từ vốn nhà nước sẽ lớn và tăng liên tục Phần lớn trái phiếu và vốn ngân sách sẽ đi về phát triển nông thôn Đặc biệt đầu tư để cải tiến sản xuất và điều kiện sống sẽ trở thành một luồng ổn định để tăng vốn cho xây dựng Năm 2005 Nhà nước đã chi 297,5 tỷ nguyên cho Tam nông, năm 2006: 339,7 tỷ, và năm 2007: 391,7 tỷ [24]
Công cuộc cải cách nông thôn của Trung Quốc qua nhiều dấu mốc Trong
đó, những mốc quan trọng là xóa bỏ công xã nhân dân; xác lập thể chế kinh doanh hai tầng kết hợp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở cửa toàn diện thị trường nông sản; xóa bỏ thuế nông nghiệp, và thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông
dân Trung Quốc thực hiện nội dung hai mở, một điều chỉnh, là mở cửa giá thu mua,
Trang 27thị trường mua bán lương thực; một điều chỉnh là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực [1]
Định hướng phát triển tài chính hỗ trợ tam nông ở Trung Quốc là nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa và nông dân chuyên nghiệp hóa Trong chính sách tài chính, để tăng thu nhập cho nông dân, Trung Quốc tăng đầu tư hỗ trợ về giá mua giống, hỗ trợ thu mua lương thực không thấp hơn giá thị trường, mua máy móc thiết
bị nông nghiệp và vốn Cùng đó, Trung Quốc cũng tập trung xây dựng cơ chế hướng nghiệp, đào tạo kỹ năng làm việc, đặc biệt là lao động trẻ, ngoài ra, bên cạnh giảm thu phí và thuế với nông dân Trung Quốc còn có chủ trương đảm bảo trong vòng 3 năm xóa bỏ tình trạng các xã, thị trấn không có dịch vụ tài chính tiền tệ cơ bản Đồng thời, thúc đẩy việc mua đồ gia dụng, ô tô, xe máy tại các xã, bằng cách nhà nước trợ cấp 13% trên tổng giá trị hàng hoá khi nông dân mua sản phẩm (do nhà nước định hướng) [1]
1.2.2 Các vấn đề môi trường nông thôn ở Việt Nam hiện nay
Bức tranh nông thôn và người nông dân Việt Nam hiện nay sẽ ra sao khi nước
ta hội nhập sâu rộng hơn và khi nước ta trở thành nước cơ bản công nghiệp hóa? Đây là vấn đề mà nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, nhà văn hóa đang tập trung nghiên cứu Đảng ta dự kiến sẽ tổ chức Hội nghị Trung ương 7 (6/2008) để bàn sâu rộng và căn bản về vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam (tam nông)
Dựa trên Báo cáo Phát triển Thế giới 2008 của Ngân hàng Thế giới (WB) ngày 11/12/2007 với tựa đề “Tăng cường nông nghiệp cho phát triển” và thông tin từ hai cuộc hội thảo liên quan tới nông thôn Việt Nam tổ chức trong tháng
12 vừa qua, Vụ Báo chí xin tổng hợp lại một số thông tin để các đồng chí tham khảo
Nghị quyết 26/NQ-TW đã nêu một cách tổng quát về mục tiêu, nhiệm vụ cũng như phương thức tiến hành quá trình xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay, phù hợp điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước Thực hiện đường lối của Ðảng, Chính phủ đã ra Nghị quyết ban hành chương trình hành động về xây dựng nông nghiệp, nông dân và nông thôn, thống nhất nhận thức hành động về nông
Trang 28nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới [10]
a Nông nghiệp đối với sự phát triển của các nước chuyển đổi
Báo cáo của WB cho rằng Đông Á và ĐNA, đặc biệt là các nước có nền kinh
tế đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang đô thị hóa như Việt Nam, thì nông nghiệp vẫn được coi là yếu tố quan trọng trong việc xóa đói nghèo, tăng thu nhập cho nông dân Hay nói cách khác, nông dân muốn thoát nghèo vẫn phải gắn với nông nghiệp Các số liệu thống kê cho thấy, đã có 200 triệu người thoát nghèo nhờ nghề nông; việc di dân ra thành thị cũng là nguyên nhân chiếm 20% trong việc giảm số người nghèo có thu nhập 1 USD/ngày ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á; tới năm
2040 vẫn còn 75% người nghèo và đa số họ vẫn sống ở nông thôn
b Ở Việt Nam, nông nghiệp còn mở đường cho các chính sách đổi mới
Thực tiễn trong nhiều năm qua, tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam đã đem lại lợi ích cho cả vùng đô thị và nông thôn Năm 1993 có tới 2/3 số dân nông thôn được coi là nghèo thì ngày nay con số này chỉ còn 1/5 Nhưng khi Việt Nam chuẩn bị bước vào vị thế là nước có mức thu nhập trung bình và cao hơn, vấn đề là liệu sự phát triển có lợi cho tất cả mọi người còn tồn tại được nữa không? Cải thiện năng suất nông nghiệp và tạo cơ hội cho người nghèo ở nông thôn và các dân tộc thiểu số vẫn là vấn đề lớn cần phải quan tâm đúng mức
Nhiều chuyên gia cho rằng, Việt Nam đã làm tốt việc tạo điều kiện cho sản xuất tiếp cận tốt nhất với tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nước giao đất cho nông dân sản xuất cùng với tự do hoá thương mại và đầu tư mạnh về thuỷ lợi
c Nông thôn Việt Nam hiện nay: một số tồn tại
Tại cuộc hội thảo "Công nghiệp hóa nông thôn và phát triển nông thôn Việt Nam - Đài Loan", do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Viện Nghiên cứu Trung ương Đài Loan tổ chức ngày 17/12/2007, và cuộc hội thảo “Nông dân Việt Nam trong quá trình hội nhập” do Viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp nông thôn tổ chức ngày 18/12/2007, các chuyên gia đã liệt kê ra những vấn đề xã hội bức xúc, nan giải trong 20 năm qua Đó là vấn đề khoảng cách giàu - nghèo và bất bình đẳng xã hội; tình trạng thiếu việc làm, di dân tự phát; xung đột xã hội gia tăng; dân trí và quan trí thấp; dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe yếu kém; đời sống
Trang 29văn hóa có nhiều biểu hiện tiêu cực, xuống cấp; năng lực quản lý xã hội, kết cấu hạ tầng thấp kém; môi trường bị ô nhiễm và suy thoái ở mức báo động
Mức độ giảm nghèo chung của Việt Nam tiến bộ liên tục Tuy nhiên, xu hướng phân hóa giàu nghèo gia tăng trong nội bộ khu vực nông thôn, đặc biệt là giữa nông thôn với đô thị Nhiều chuyên gia còn đưa ra con số về chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn - thành thị lên tới trên 6,9 lần (2004) chứ không phải con số 3,5 lần như vẫn nhắc đến
Một vấn đề nữa là người nông dân thiếu việc làm do bị mất đất do xu thế tích
tụ ruộng đất ngay tại nông thôn và quá trình đô thị hóa và phát triển các khu công nghiệp hiện nay (20 năm qua, 300.000 héc-ta đất nông nghiệp bị mất đi do quá trình này) Điều này đã làm cho vấn đề thiếu việc làm tại nông thôn và xu hướng di dân
ra thành phố để mưu sinh là không thể tránh khỏi Đây là xu thế của một xã hội phát triển là giảm tương đối cơ cấu của nông nghiệp trong nền kinh tế, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ
Thiếu hụt nhất ở khu vực này là tri thức và thông tin khoa học hiện đại không được chuyển giao một cách có hệ thống Người nông dân thiếu kiến thức, nên khó chuyển giao được khoa học công nghệ để họ thực sự làm chủ Điều này tiếp tục đặt
họ và thế bất lợi hơn nữa
Một thách thức to lớn nữa của khu vực nông thôn là sức ép trong chi tiêu cho giáo dục, áp lực của tình trạng gia tăng ô nhiễm và suy thoái môi trường đến mức báo động Làng nghề và các khu công nghiệp nông thôn gây ô nhiễm đất, nước và không khí rất nặng, làm suy thoái tài nguyên môi trường do khai thác tự phát, không theo quan điểm phát triển kinh tế - xã hội bền vững Khu vực đô thị - công nghiệp là nguồn gây ô nhiễm và suy thoái môi trường nặng nề hơn và cư dân ven đô lại là những người trực tiếp chịu hậu quả
Kết quả điều tra toàn quốc về vệ sinh môi trường (VSMT) nông thôn do Bộ y
tế và tổ chức UNICEF thực hiện được công bố ngày 26/03/2008 cho thấy VSMT
và vệ sinh cá nhân còn quá kém chỉ có 18% tổng số hộ gia đình, 11,7% trường học, 36,6 trạm y tế xã 21% UBND xã và 2,6% khu chợ tuyến xã có nhà vệ sinh theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế (Quyết định 08/2005/QĐ-BYT); Tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước sạch còn rất thấp 7,8% khu chợ nông thôn; 11,7% dân cư nông
Trang 30thôn; 14,2% trạm y tế xã; 16,1% UBND xã; 26,4% trường học có tiếp cận sử dụng nước máy; Ngoài ra, kiến thức của người dân về vệ sinh cá nhân và VSMT còn rất hạn chế, thái độ của người dân còn rất bàng quang về vấn đề này [17]
- Ý nghĩa của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới:
+ Là cụ thể hóa đặc tính của xã nông thôn mới thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH + Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia
về xây dựng nông thôn mới, là chuẩn mực để các xã lập kế hoạch phấn đấu đạt 19 tiêu chí nông thôn mới
+ Là căn cứ để chỉ đạo và đánh giá kết quả thực hiện xây dựng NTM của các địa phương trong từng thời kỳ; đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn mới; đánh giá trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền xã trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới
Bộ tiêu chí quốc gia NTM được ban hành theo Quyết định số 491/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009 gồm 19 nội dung được chia thành 5 nhóm tiêu chí trên 5 lĩnh vực,
cụ thể như sau:
+ 5 nhóm là: Nhóm 1: Quy hoạch, nhóm 2: Hạ tầng kinh tế xã hội, nhóm 3:
Kinh tế và tổ chức sản xuất, nhóm 4: Văn hóa - xã hội - môi trường, nhóm 5: Hệ thống chính trị
+ 19 tiêu chí là: 1: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch, 2: Giao thông, 3: Thủy
lợi, 4: Điện, 5: Trường học, 6: Cơ sở vật chất văn hóa, 7: Chợ nông thôn, 8: Bưu điện, 9: Nhà ở dân cư, 10: Thu nhập, 11: Tỷ lệ hộ nghèo, 12: Cơ cấu lao động, 13: Hình thức tổ chức sản xuất, 14: Giáo dục, 15: Y tế, 16: Văn hóa, 17: Môi trường, 18: Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh, 19: An ninh, trật tự xã hội [20]
1.2.3 Tình hình thực hiện tiêu chí môi trường nông thôn mới trên dịa bàn tỉnh Cao Bằng
Ngay từ khi triển khai Chương trình nông thôn mới, tỉnh Cao Bằng đã thành lập bộ máy quản lý, chỉ đạo điều hành thực hiện Chương trình từ cấp tỉnh đến cấp
cơ sở, cụ thể: Cấp tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo (BCĐ), Thường trực BCĐ, Văn phòng điều phối Chương trình, Tổ giúp việc ban chỉ đạo; ở cấp huyện thành lập BCĐ, tổ giúp việc BCĐ và cử 01 cán bộ chuyên trách thuộc phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn để theo dõi, tổng hợp Chương trình; Ở cấp xã thành lập BCĐ,
Trang 31Ban quản lý và bố trí 01 cán bộ Địa chính - xây dựng để theo dõi nông nghiệp và nông thôn mới; cấp thôn, xóm thành lập Ban phát triển nông thôn BCĐ các cấp đều
đã phân công các thành viên phụ trách địa bàn cụ thể, để chỉ đạo thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới theo kế hoạch hàng năm [4]
1.2.3.1 Công tác lập đồ án quy hoạch và đề án xây dựng nông thôn mới
- Lập Đồ án xây dựng quy hoạch xây dựng nông thôn mới: Lũy kế đến tháng 5/2014 phê hoạch đồ án xây dựng chung và quy hoạch chi tiết khu trung tâm được 157/177 xã (155 xã đạt tiêu chí số 1 về quy hoạch, đạt 85,57% số xã) Có 05 huyện
đã hoàn thành công tác quy hoạch (Thạc An, Hòa An, Phục Hòa, Thông Nông, Thành phố) Đến năm 2014, tỉnh đã bố trí kinh phí lập quy hoạc cho 161/177 xã, còn 16 xã bố trí kinh phí trong năm 2015
- Lập đề án xây dựng nông thôn mới: Công tác lập và phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới còn chậm, chất lượng thấp, do không có chi phí cho lập đề án
xã nông thôm mới từ ngân sách Nhà nước, nên việc xây dựng đề án đối với cấp xã rất khó khăn Hầu hết các xã phó thác cho các đơn vị tư vấn làm giúp, nên chất lượng thấp, đã có 04 huyện hoàn thành công tác phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã (Phục Hòa, Quảng Uyên, Bảo Lâm, Thành phố) Năm 2012, Văn phòng Điều phối chương trình phối hợp với ban quản lý Dự án phát triển kinh doanh vớ người nghèo Cao bằng đã hỗ trợ thuê đơn vị tư vấn Trung ương, lập đề án
"Mẫu" xây dựng nông thôn mới tại 50 xã thuộc 09 huyện (năm 2012 hỗ trợ 30 xã, năm 2013 hỗ trợ 30 xã), đáp ứng được yêu cầu kế hoạch triển khai các tiêu chí theo tiến độ, kinh phí hỗ trợ bình quân 30 triệu đồng / xã; trên cơ sở đó các duyện đã áp dụng dự án "mẫu" để chị đạo các xã khác lập đề án thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới Đến nay, toàn tỉnh phê duyệt đề án được 81/177 xã đạt 45,67% số xã.[4]
1.2.3.2 Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
Được sự hõ trợ kinh phí từ Trung ương cho Chương trình xây dựng nông thôn mới và từ các Chương trình khác, sau 3 năm thực hiện Chương trình đã góp phần phát triên nhan hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nhiều vùng nông thôn trong tỉnh, nổi bật là đầu tư phát triển giao thông nông thôn, thủy lợi, điện, trường học, y tế, văn hóa
Trang 32- Hệ thống đường giao thông đã có những cải thiện đáng kể, các địa phương
đã tập trung mọi nguồn lực, lồng ghép từ nhiều Chương trình mục tiêu Quốc gia nhưng do nguồn kinh phí hạn hẹp nên kết quả xây dựng đường giao thông nông thôn đạt chưa cao, quy mô kỹ thuật còn thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn hướng dẫn của Bộ Giao thông vận tải Hiện nay, đường giao thông từ huyện đến trung tâm xã
đã thông tuyến 100%, song tỷ lệ nhựng hóa còn thấp, chủ yếu là đường cấp phối và đường đất Trong 3 năm 2011 - 2013 đã cải tạo, nâng cấp, nhựa hóa tuyến đường xã được 530/1/1.131 km, kinh phí thực hiện 64,6 tỷ đồng; cầu dân kinh được 1.029 m, kinh phí 41,9 tỷ đồng Đến nay, có 02 xã đạt tiêu chí số 2 về giao thông, đạt 1,13% tổng số xã (xã Trường Hà, huyện Hà Quảng; xã Phúc Senm huyện Quảng Uyên) [4]
1.2.3.3 Về giáo dục, y tế, văn hóa và bảo vệ môi trường
- Về giáo dục: Tính đến tháng 6 năm 2014, toàn tỉnh đã có 175/177 xã đạt tiêu chuẩn phổ cấp giáo dục trường trung học cơ sở; 177/177 xã duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ; duy trì kết quả phổ cập tiểu học đúng độ tuổi đạt 172/177 xã (còn 5 xã chưa đạt là xã Tân Việt, xã Đức Hạnh, huyện Bảo Lâm; xã Quốc Phong, huyện Quảng Uyrn; mxax Vần Dính, huyện Hà Quảng; xã Lương Thông, huyện Thông Nông); số xã đạt phổ cập giáo dục trung học cơ sở theo tiêu chuẩn 1 (của Bộ giáo dục và Đào tạo) là 174 xã; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tring học
cơ sở tiếp tục học tiếp trung học phổ thông, bổ túc, trường nghề là 75%
- Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thông theo Quyết định 1956 của Thủ tướng chính phủ được xác định là nhiệm vụ trọng tâm Trong 3 năm qua, toàn tỉnh đã đào tạo được 19.656 người (năm 2011, đào tạo được 6.416 người; năm
2012, đào tạo được 7.290 người; năm 2013 đào tạo được 5.950 người), trong đó đào tạo nghề nông nghiệp được 299 lớp, 7.250 người Tỷ lệ lao động nông thông qua đào tạo là 14,56% ( chỉ tiêu này do Sở Lao động thương binh và xã hội thực hiện ) Đến nay, có 39 xã đạt tiêu chí số 14 về giáo dục (chiếm 22,03%) [4]
- Về hệ thống các trạm y tế từng bước củng cố, cơ sở vật chất, trang thiết bị
và nhân lực được tăng cường Đến nay, toàn tỉnh có 100% xã có trạm y tế, song tỷ
lệ trạm y tế đạt tiêu chuẩn quốc gia đạt 24,86% (44 xã đạt chuẩn)
- Về văn hóa: Công tác xây dựng gia đình văn hóa luôn được BCĐ phong tròn "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" các cấp quan tâm chỉ đạo, vận
Trang 33động nhân dân giũ gìn kỷ cương, mọi người sống và làm việc theo pháp luật, thực hiện các quy ước tại cộng đồng dân cư; công tác xây dựng xóm văn hóa được triển khai đã goáp phần tăng cường tình đoàn kết tương thân tương ái trong cộng đồng dân cư, đến năm 2013 toàn tỉnh có 91.030/115.851 gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa, đạt 78,6%; có 1.204/2.480 xóm, tổ đạt danh hiệu văn hóa, đạt 48,5% Đến nay có 28 xã đạt tiêu chí 16 về văn hóa (chiếm 15,82%).[4]
- Về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: Tỷ lệ dân số nông thông sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh là 82,74%; tỷ lệ số dân nông thôn sử dụng nước theo QCVN 02:2009 /BYT là 48,42%; tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh là 27,14%; tỷ lệ hộ gia đình có chuồng trại gia súc hợp vệ sinh là 11,49%; tỷ lệ trường học có nước và nhà tiêu hợp vệ sinh là 42,09%; tỷ lệ trạm y tế xã có nước và nhà tiêu hợp vệ sinh là 67,84% Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 10 HTX vệ sinh môi trường hoạt động vệ sinh môi trường tập trung tại các trung tâm huyện (chưa có HTX hoặc tổ vệ sinh môi trường tại các xã) Đến nay, cps 02 xã đạt tiêu chí số 17
về môi trường (xã Phù Ngọc, huyện Hà Quảng; xã Lang Môn, huyện Nguyên Bình)
1.2.4 Tình hình thực hiện tiêu chí môi trường nông thôn mới trên địa bàn Thành phố Cao Bằng
1.2.4.1 Lập quy hoạch xây dựng NTM
Các xã đã thành lập tổ khảo sát thực trạng nông thôn của xã, và các tổ khảo sát của các xóm trong toàn xã Tổ khảo sát thực trạng của xã đã cùng các tổ khảo sát các xóm và nhân dân trong xã đánh giá thực trạng nông thôn, sau khi đơn vị tư vấn xây dựng đồ án quy hoạch phải mở hội nghị lấy ý kiến đóng góp, tham gia đồ án quy hoạch sau đó chỉnh sửa, thông qua Hội đồng nhân dân xã phê duyệt mới trình lên Thành phố xin thẩm định đồ án
- Số xã làm xong đồ án quy hoạch chung: 03 xã
- Số xã đã được phê duyệt xong đề án: 03 xã
1.2.4.2 Lập đề án xây dựng nông thôn mới
- Số xã xây dựng xong đề án là: 3 xã
- Số xã đã được UBND Thành phố phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới là: 03
Trang 34* Đánh giá:
- Đề án xây dựng nông thôn mới 3 xã đều thực hiện đúng theo Điều 8 của Thông tư liên tịch số 26; Đặc biệt, là tổ chức lấy ý kiến nhân dân, treo dự thảo đề án tại trụ sở UBND xã được UBND các xã quan tâm thực hiện rất tốt Hội đồng nhân dân 3 xã đã tiến hành Hội nghị nghe ý kiến đóng góp của nhân dân, các xóm, các ngành cấp xã; đồng thời ra Nghị quyết thông qua Đề án xây dựng nông thôn mới các xã [3]
1.2.4.3 Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân
Các xã đã phối hợp với các phong ban liên quan tổ chức các lớp dạy nghề ngắn hạn, các lớp tập huấn cho nông dân và thanh niên nông thôn được 25 lớp với các ngành nghề như: Sửa chữa máy nông cụ, nghề trồng nấm, cách làm phân vi sinh, cách trồng chế biến bảo quản thuốc lá với 793 lượt người tham gia
Tại xã Hưng Đạo đã thành được 01 tổ hợp tác dịch vụ tổng hợp phát triển sản xuất nông nghiệp, với sự hỗ trợ về vốn từ Chương trình nông thôn mới tổ hợp tác đã mua 2 máy làm đất, đảm bảo phục vụ khâu làm đất cho nông dân
- Kết hợp với công ty MOSANTO Việt Nam, Công ty CP giống cây trồng Cao Bằng, Viện ngô Trung Ương triển khai các mô hình khảo nghiệm, trình diễn các giống lúa, ngô mới với diện tích 24 ha
- Kết hợp với Trương Đại học Nông lâm Thái nguyên triển khai mô hình trồng rừng tại xã Hưng Đạo với diện tích 30 ha
1.2.4.4 Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu
* Xã Hƣng Đạo: xây dựng được 31 tuyến đường chiều dài gần 7 km, chiều
rộng từ 1,5 -> 4 m, tổng kinh phí 1.157.112.000đ, trong đó nhà nước hỗ trợ 310.272.000đ, nhân dân đóng góp 617.840.000đ Năm 2012 và năm 2013 bằng nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM đã tổ chức triển khai thi công xây dựng tuyến đường tránh chợ Cao Bình với chiều dài 459m, chiều rộng 3m, tổng số vốn 1 tỷ đồng, vận động được 04 hộ hiến gần 100m2 đất, chặt phá gần
50 cây tre không có đền bù, tham gia trên 100 công lao động Năm 2013 chỉ đạo 4 xóm xây dựng 3 tuyến đường, chiều dài 488 m, chiều rộng 2,5 m bằng nguồn vốn thu ngân sách vượt chỉ tiêu của năm 2011 và năm 2012 và nguồn vốn sự nghiệp
Trang 35năm 2013, tổng kinh phí cả 3 tuyến là 271 triệu đồng, trong đó nhà nước hỗ trợ 83 triệu, nhân dân đóng góp 188 triệu, xóm 3 Ngọc Quyến vận động được 7 hộ hiến đất 466m2
để mở mới tuyến đường [3]
- Bằng các nguồn vốn lồng ghép khác từ năm 2011 đến nay đã được đầu
tư với số tiền trên 9 tỷ đồng, đã thực hiện được một số công trình xây dựng cơ bản như sau:
+ Xây kè chống xói lở tuyến mương Phai Vường số tiền 1,2 tỷ đồng
+ Xây dựng công trình nước sinh hoạt tại xóm 5+ 5a Nam Phong 1,4 tỷ đồng + Xây nhà bếp và các công trình phụ trường Tiểu học Nam Phong 500 triệu đồng + Xây mới 2 phòng học, tường rào trường Mầm non Hưng Đạo trị giá 1 tỷ đồng + Nâng cấp xây dựng bổ sung một số hạng mục của trường Tiểu học Hưng Đạo số tiền 1 tỷ đồng, (hiện nay đang tiếp tục xây dựng kinh phí trên 6 tỷ đồng để đạt chuẩn mức độ 2)
+ Nâng cấp trường THCS Cao Bình đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1, số tiền
1 tỷ đồng
+ Xây dựng 1 trạm biến áp tại xóm 1 Hồng Quang 300 triệu đồng
+ Xây mới 1 tháp chuông chùa Đà Quận và đền thờ Dương Tự Minh 1,3 tỷ đồng + Tu sửa nhà bia ghi tên anh hùng liệt sỹ số tiền 40 triệu đồng (Quỹ đền ơn đáp nghĩa thành phố 20 triệu, quỹ xã 20 triệu)
+ Xây mới 1 nhà văn hóa xóm trị giá 1.060 triệu đồng (Do con em thành đạt tài trợ)
+ Tu sửa 5 nhà văn hóa xóm số tiền 374 triệu đồng (tiền đền bù đất công của xã)
* Xã Vĩnh Quang: bằng nguồn vốn lồng ghép như: Sự nghiệp giao thông,
cấp bù thủy lợi phí để đầu tư xây dựng các hạng mục nằm trong đồ án xây dựng
+ Năm 2011: làm được 477m đường giao thông nông thôn
+ Năm 2012: làm được 6931m đường giao thông nông thôn
+ Năm 2013: làm được 392m đường giao thông và 210m mương thủy lợi
1.2.4.5 Về giáo dục, y tế, văn hóa và môi trường
Duy trì và phát huy tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao như: phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức các hoạt đông vui xuân và cá lễ hội chuyền thống trên địa bàn đảm bảo an toàn, tiết kiệm vui và lành mạnh
Trang 36Vận động nhân dân đẩy mạnh phong trào "toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" gắn với phong trào xây dựng nông thôn mới
* Đánh giá chung về kết quả thực hiện:
Nhìn chung quá trình triển khai thực hiện Chương trình đa số nhân dân đồng tình hưởng ứng, tuy nhiên còn một số hộ dân chư nhận thức đầy đủ còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước
1.2.4.6 Về hệ thống chính trị xã hội vững mạnh và gìn giữ an ninh, trật tự xã hội
Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, MTTQ và các tổ chức đoàn thể trong
hệ thống chính trị luôn được kiện toàn củng cố, duy trì hoạt động thường xuyên nề nếp, đặc biệt quan tâm đến chiều sâu của mọi hoạt động; công tác an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội luôn được coi trọng và có sự ổn định vững chắc [3]
Trang 37
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Vấn đề môi trường trên địa bàn xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Hiện trạng môi trường xã Hưng Đạo và đề xuất giải pháp thực hiện tiêu chí xây dựng môi trường nông thôn mới tại xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng
2.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu hiện trang về môi trường nước, tình hình quản lý
và sử dụng nguồn nước, quản lý, thu gom rác thải tại xã Hưng Đạo trong quá trình xây dựng nông thôn mới
- Thời gian nghiên cứu:
+ Thời gian bắt đầu: Tháng 08/2013
+ Thời gian kết thúc: Tháng 08/2014
- Địa điểm nghiên cứu: Xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
2.1.4 Nội dung nghiên cứu
1) Tìm hiểu tình hình tự nhiên, kinh tế - XH xã Hưng Đạo
2) Đánh giá hiện trạng môi trường xã Hưng Đạo, thành phố Cao Bằng theo
mô hình Động lực – Áp lực – Trạng thái – Tác động – Đáp ứng (DPSIR)
- Các động lực chi phối môi trường khu vực nghiên cứu
- Xác định các thông số thể hiện áp lực lên các nhân tố môi trường cho từng động lực
- Xác định các tác động của các áp lực đến môi trường, con người
- Tìm hiểu những đáp ứng của xã hội để khắc phục những tiêu cực
- Phân tích chuỗi các bước của mô hình DPSIR: Động lực – Áp lực – Trạng thái – Tác động – Đáp ứng (DPSIR)
Trang 383) Đề xuất giải pháp đạt tiêu chí về môi trường trong nông thôn mới của xã
Hưng Đạo thành phố Cao Bằng
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Việc thu thập và phân tích tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu là rất quan trọng nhằm giúp ta nhận biết vấn đề một cách nhanh chóng và tổng quát Những tài liệu này là cơ sở ban đầu định hướng cho kế hoạch và triển khai các mục tiêu nghiên cứu
+ Thu thập số liệu thứ cấp
Thông tin thứ cấp có thể được thu thập từ:
* Mạng internet, sách, báo…về môi trường nông thôn
* Các tài liệu trên thư viện, các văn bản pháp quy có liên quan
* Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương
* Các tài liệu khoa học
+ Thu thập số liệu sơ cấp
Phương pháp điều tra, phỏng vấn
- Yêu cầu phiếu điều tra: Thiết kế bộ câu hỏi có các câu hỏi về thông tin chung, câu hỏi thu thập thông tin nghiên cứu, sử dụng câu hỏi đóng và câu hỏi mở; câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu, dễ trả lời
- Mục đích sử dụng bộ câu hỏi: Nhằm thu thâp các thông tin phục vụ cho tổng hợp, phân tích, đánh giá ảnh hưởng của một số nhà máy sản xuất công nghiệp đến chất lượng nước trên địa bàn
- Bộ câu hỏi chi tiết và phiếu điều tra (phần phụ luc)
Với xã Hưng Đạo gồm 19 xóm, mỗi xóm sẽ điều tra 5 hộ, tổng số điều tra là
150 phiếu, còn lại là các cơ quan đơn vị
Sau khi thành lập bộ câu hỏi phỏng vấn, tiến hành phỏng vấn phát phiếu điều tra đối với các hộ gia đình và các nhà quản lý tại địa phương nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp thống kê xử lý số liệu
- Dựa trên tất cả các số liệu đã thu thập được, thống kê, tổng hợp lại toàn bộ các số liệu Số liệu được xử lý trên phần mềm Exel và SPSS
Trang 392.2.3 Phương pháp so sánh, đánh giá
- Từ các số liệu thu thập được, tiến hành phân tích, tổng hợp, so sánh theo từng vấn đề phục vụ cho nội dung của đề tài
2.2.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu
Từ các số liệu thu thập được tiến hành tổng hợp, xử lý và tích số liệu để hình thành báo cáo đảm bảo tính chính xác, logic và khoa học
2.2.5.Lấy mẫu và phân tích:
3.2.5.1 Lấy mẫu nước:
Nước thải: Là một hệ dị thể phúc tạp, gồm rất nhiều chất tồn tại dưới các trạng thái khác nhau Nước thải công nghiệp chứa rất nhiều các chất dưới dạng Protein, hydratcacbon, mỡ, các chất thải ra từ người và động vật, ngoài ra còn có các loại rác…
* Cách lấy mẫu nước:
Chuẩn bị dụng cụ: Sử dụng bình đựng polietylen hoặc bình thủy tinh
Chọn vị trí lấy mấu: phải đại diện cho toàn bộ vùng cần phải lấy mẫu Có thể lấy mẫu ở 1 tầng, 2 tầng (bề mặt và tầng đáy), 3 tầng hoặc nhiều hơn
Phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu, thời gian và tần suất lấy phụ thuộc vào mức
độ biến động của các chất, có thể theo các thời gian trong ngày Nên lấy mấu nước vào buổi sáng là thích hợp, vì lúc đó sự biến động các chất diễn ra chậm
Lượng nước lấy để đảm bảo cho phép phân tích thường từ 1-2 lít
Tùy vào các loại dụng cụ lấy mẫu khác nhau, thể tích khác nhau nhưng không làm xáo trộn các tầng nước
Sau khi lấy mẫu xong chuyển mẫu đến nơi phân tích và đảm bảo sự biến đổi của mẫu phân tích là tối thiểu, nhiệt độ và pH là đại lượng biến đổi nhanh nhất, O2,
CO2, H2S, cần được xác định và phân tích tại nơi lấy mẫu
3.2.5.2 Phân tích các chỉ tiêu
Các chỉ tiêu cần phân tích:
Thành phần nước thải khác so với nước thiên nhiên, mẫu nước thải thường phân tích ngay trong ngày lấy mẫu Các chỉ tiêu cần phân tích đối với nước thải như:
Trang 40- Tổng hàm lượng chất rắn hòa tan (DS)
- Tổng hàm lượng các chất dễ bay hơi (VS)
+ Các chỉ tiêu hóa học:
- Hàm lượng ô xy hòa tan (DO)
- Nhu cầu ô xy hóa học (COD)
- Nhu cầu ô xy sinh hòa (BOD)
- Một số chỉ tiêu hóa học khác trong nước
- Nhiệt độ: Nhiệt độ ảnh hưởng đến độ pH, đến các quá trình hóa học và sinh hóa xảy ra trong nước Nhiệt độ phụ thuộc rất nhiều vào môi trường xung quanh, thời gian trong ngày, mùa tỏng năm…Nhiệt độ cần được xác định tại chỗ (tại nơi lấy mẫu)
- Độ đục: Độ đục gây nên bởi các hạt rắn lơ lửng trong nước Các chất lơ lửng trong nước có thể có nguồn gốc vô cơ, hữu cơ hoặc các vi sinh vật, thủy sinh vật Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN), độ đục được xác định bằng chiều sâu lớp nước thấy được (gọi là độ trong) mà ở độ sâu đó người ta vẫn đọc được hàng chữ tiêu chuẩn Độ đục càng thấp chiều sâu của lớp nước còn thấy được càng lớn Nước được gọi là trong khi mức độ nhìn sâu lớn hơn 1 m (hay độ đục nhỏ hơn 10 NTU) Theo qui định của TCVN, độ đục của nước sinh hoạt phải lớn hơn 30cm