Quan niệm về tồn tại, những vần đề bản thể luận, nhận thức luận đã được đặt ra từ rất sớm cùng với sự hình thành, phát triển của triết học và xã hội loài người. Triết học Êpiquya đã được quan tâm nghiên cứu ngay từ thời cổ đại và kéo dài trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử triết học cho tới tận ngày nay. Những công trình triết học bàn về Êpiquya và hệ thống triết học của ông mà các học giả trên thế giới cũng như các học giả Việt Nam đã thực hiện chủ yếu đi sâu tìm hiểu về học thuyết đạo đức của ông, bởi trong hệ thống triết học của ông, học thuyết về đạo đức được nhiều học giả đánh giá là cống hiến lớn nhất, có giá trị nhất và cũng nổi bật nhất. Song, cùng với nghiên cứu này, các học giả trên thế giới và Việt Nam cũng đã nghiên cứu, luận bàn về học thuyết tồn tại của Êpiquya trên một phương diện nào đó và từ những góc độ, mục đích khác nhau. Sở dĩ các học giả này tập trung nghiên cứu học thuyết về bản thể luận, hay học thuyết về tồn tại của Êpiquya là do, cho đến nay, vẫn có nhiều nhà triết học, học giả cho rằng, nguyên tử luận của ông chẳng qua chỉ là “sự sao chép” học thuyết nguyên tử của Đêmôcrít; song, bên cạnh đó, không ít nhà triết học, học giả lại cho rằng, dẫu nguyên tử luận của Êpiquya có là “sự sao chép” học thuyết nguyên tử của Đêmôcrít thì đó vẫn là “sự sao chép một cách hoàn hảo”, “sao chép có bổ sung, phát triển” để xây dựng nên thuyết nguyên tử cổ điển về cấu tạo vật chất và do vậy, họ cố gắng đi tìm sự khác biệt, sự vượt trội trong nguyên tử luận của ông so với học thuyết về nguyên tử của Đêmôcrít. Điều nói trên trước hết được thể hiện trong Luận án tiến sĩ của C.Mác. Với đề tài “Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrít và triết học tự nhiên của Êpiquya” (Xem: C.Mác và Ph.Ăng ghen. Toàn tập, t. 40. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; 2000), Luận án tiến sĩ của C.Mác đã được coi là một tác phẩm lớn, một công trình nghiên cứu chuyên sâu đi tìm sự khác biệt, sự vượt trội trong triết học tự nhiên của Êpiquya so với triết học tự nhiên của Đêmôcrít đúng như tên gọi của nó. Có thể nói, C.Mác chính là người đầu tiên đã chỉ ra quan điểm biện chứng trong tư tưởng của Êpiquya về “sự đi chệch hướng” một cách tự phát của nguyên tử và coi đó là sự khác biệt, sự vượt trội so với quyết định luận mang tính chất khắc kỷ của Đêmôcrít trong học thuyết về nguyên tử của ông. Ở phương Tây, chúng ta thấy đã có những công trình nghiên cứu có liên quan đến triết học Hy Lạp cổ đại nói chung, triết học Êpiquya nói riêng. Trong số những công trình nghiên cứu này đã có một vài công trình được dịch sang tiếng Việt, chẳng hạn như “Hành trình cùng triết học” (Ted Honderich chủ biên, Lưu Văn Hy dịch. Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội), “Truy tầm triết học ” (M. Gail, J Tresday Karsten, ..., Lưu Văn Hy dịch, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội), “Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại” (Mortimer Adler, Phạm Viễn Phương và Mai Sơn dịch, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội), ... Đặc biệt là công trình “Tuyển tập danh tác triết học từ Platôn đến Đerrida” (Forrest E. Baird, Đỗ Văn Huấn và Lưu Văn Hy dịch, Nguyễn Việt Long hiệu đính, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội). Đây được coi là công trình hoàn thiện nhất giới thiệu về triết học Êpiquya nói chung, học thuyết về tồn tại của ông nói riêng với nguyên tác các tác phẩm của Êpiquya. Trong công trình “Lịch sử phép biện chứng, t.1 Phép biện chứng cổ đại” (Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, Đỗ Minh Hợp dịch, Đặng Hữu Toàn hiệu đính, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội), các nhà khoa học Xô viết đã tập trung luận giải tư tưởng biện chứng của Êpiquya trong nguyên tử luận của ông, đặc biệt là từ quan niệm của ông về “sự chệch hướng” một cách tự do của nguyên tử. Ngoài những công trình đó, trên thế giới, có lẽ, còn nhiều công trình khác nữa có đề cập đến triết học Êpiquya và học thuyết về tồn tại của ông; song, do khả năng có hạn và rào cản ngôn ngữ, chúng tôi không thể tiếp cận được các công trình đó Trong công trình biên soạn “101 triết gia” (Mai Sơn biên soạn, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính, Nxb Tri thức, Hà Nội), triết học Êpiquya và học thuyết của ông về tồn tại được giới thiệu một cách khái quát. Ở Việt Nam, Êpiquya là một trong những nhà triết học ít được nghiên cứu một cách trực diện. Vì vậy, có thể khẳng định, ở nước ta, chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về triết học Êpiquya nói chung, học thuyết của ông về tồn tại nói riêng. Các học giả Việt Nam thường viết về ông và triết học của ông khi viết về nền triết học Hy Lạp cổ đại và được trình bày dưới dạng sách giáo khoa, giáo trình lịch sử triết học. Chẳng hạn như, Trần Đức Thảo “Lịch sử tư tưởng trước Mác” (Nxb khoa học xã hội, Hà Nội; 1995); Thái Ninh “Triết học Hy Lạp cổ đại” (Nxb Sách giáo khoa Mác Lênin, Hà Nội; 1987); Nguyễn Hữu Vui chủ biên “Lịch sử triết học” (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; 1998); Bùi Thanh Quất “Lịch sử triết học” (Nxb giáo dục, Hà Nội 2000); Chiêm Tế “Lịch sử thế giới cổ đại, t.2” (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1977); Đinh Ngọc Thanh “Triết học Hy Lạp cổ đại” (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999); Hà Thúc Minh “Triết học Hy Lạp La Mã cổ đại ” (Nxb Mũi Cà Mau, 2000); Trần Văn Phòng “Triết học Hy Lạp cổ đại ” (Nxb lý luận chính trị, Hà Nội; 2006); v.v... Do vậy, chúng tôi chọn vấn đề “Học thuyết về tồn tại trong triết học Êpiquya” làm đề tài cho Luận văn này với hy vọng góp phần làm rõ những cống hiến, đóng góp của ông trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại với học thuyết này.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 3
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN 6
3.1 Mục đích của luận văn 6
3.2 Nhiệm vụ của luận văn 6
4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
4.1 Cơ sở lý luận 6
4.2 Phương pháp nghiên cứu 7
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 7
7 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8
8 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN 8
CHƯƠNG 1 9
NHỮNG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CHO SỰ HÌNH THÀNH HỌC THUYẾT VỀ TỒN TẠI TRONG 9
TRIẾT HỌC ÊPIQUYA 9
1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 9
Về phương diện kinh tế, chúng ta đều biết, vào thế kỷ thứ IX - VII trước Công nguyên, nền sản xuất chiếm hữu nô lệ được coi là nền sản xuất phát triển của thời kỳ cổ đại Đó là thời kỳ từ thời đại đồ đồng chuyển sang đồ sắt Sự xuất hiện của quan hệ tiền - hàng đã làm cho thương mại và sự trao đổi hàng hóa phát triển Thuộc địa mở rộng đã tạo điều kiện cho sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc .9
1.2 Tiền đề văn hóa và triết học 12
1.3 Về cuộc đời và sự nghiệp của Êpiquya 18
1.4 Hệ thống triết học Êpiquya 25
1.4.1 Học thuyết về tồn tại 25
1.4.2 Học thuyết về nhận thức 26
1.4.3 Học thuyết về đạo đức 33
CHƯƠNG 2 45
Trang 2MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG HỌC THUYẾT CỦA ÊPIQUYA 45
VỀ TỒN TẠI, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA HỌC THUYẾT NÀY.45
2.1 Quan điểm của Êpiquya về nguyên tử 46 2.2 Quan niệm của Êpiquya về sự vận động của nguyên tử trong không gian và thời gian 53 2.3 Quan niệm của Êpiquya về sự hình thành thế giới, vũ trụ và về Thượng đế, linh hồn trong sự hình thành và tồn tại của con người, của
vũ trụ 69 2.4 Một số giá trị và hạn chế trong học thuyết của Êpiquya về tồn tại81
KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 3MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ph.Ăngnghen đã từng khẳng định: ‟Một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao khoa học thì không thể không có tư duy lý luận”, song ‟tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của người ta
mà có thôi” và do vậy, để có được tư duy lý luận thì năng lực tư duy của mỗi người và của cả dân tộc ‟cần phải được phát triển hoàn thiện” và
“muốn hoàn thiện nó thì cho tới nay, không có cách nào khác hơn là nghiên cứu triết học thời trước”
“Nghiên cứu toàn bộ triết học thời trước” có nghĩa là nghiên cứu lịch
sử tư tưởng triết học nhân loại Nghiên cứu lịch sử tư tưởng triết học nhân loại, chúng ta không thể không nghiên cứu tư tưởng của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại Bởi lẽ, tư tưởng của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại không chỉ đã từng làm kinh ngạc biết bao trí tuệ anh minh, bao khối óc thiên tài, mà còn có tầm ảnh hưởng lớn lao đến sự tồn tại và phát triển của các nền văn hóa, văn minh cả phương Tây lẫn phương Đông trong suốt nhiều thế kỹ đã qua Với một hệ thống triết học đa dạng, với những nhà triết học đã đạt đến đỉnh cao trí tuệ nhân loại thời cổ đại, Hy Lạp cổ đại đã trở thành cái nôi của triết học Châu
Âu và của cả thế giới, và “từ các hình thức muôn hình muôn vẻ ” của nó “đã có mầm mống đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này”, đã khiến chúng ta phải luôn trở lại với những thành tựu rực rỡ của nó
Nghiên cứu triết học Hy Lạp cổ đại, chúng ta không thể không nghiên cứu triết học Êpiquya Bởi lẽ, trong triết học Hy Lạp cổ đại, triết học Êpiquya được coi là sự thăng hoa cao nhất của tư duy duy vật trong đời sống tinh thần của người Hy Lạp cổ đại ở thời kỳ suy thoái của xã hội chiếm hữu nô lệ (thế
Trang 4kỷ III - I trước Công nguyên) Nghiên cứu triết học Êpiquya, C.Mác đã coi ông là “nhà khai sáng Hy Lạp vĩ đại bậc nhất” Triết học Êpiquya không chỉ
có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội Hy Lạp đương thời, mà cả trong suốt nhiều thế kỷ sau đó để làm nên một trường phái, một trào lưu triết học độc đáo - “Vườn Êpiquya”, chủ nghĩa Êpiquya Chính vì vậy mà C.Mác đã chọn triết học tự nhiên của Êpiquya cùng với triết học tự nhiên của Đêmôcrít làm đối tượng nghiên cứu trong Luận án tiến sĩ của mình
Êpiquya làm triết học, nghiên cứu triết học như một nghệ sĩ muốn làm đẹp cho đời và ông coi đó là hạnh phúc trí tuệ của mình Ông đã từng nói rằng:
“Đừng để cho một người nào xa rời triết học khi còn trẻ và cũng đừng để ai mệt mỏi vì triết học khi tuổi già Triết học cần thiết cho cả người già lẫn người trẻ ” Câu nói nổi tiếng này của Êpiquya không chỉ có giá trị sâu sắc trong thời đại mà trí tuệ nhân loại đang đi những bước đi đầu tiên trên con đường tìm kiếm sự thông thái và uyên bác, mà còn mang ý nghĩa chuẩn mực cho tất cả những ai gắn bó với triết học trong thế kỷ XXI này, thế kỷ của khoa học đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp như C.Mác đã dự báo
Nghiên cứu triết học Êpiquya để góp phần nâng cao hiểu biết và phát triển năng lực tư duy lý luận, chúng ta không thể bỏ qua học thuyết của ông
về tồn tại Bởi lẽ, cùng với đạo đức học, học thuyết về tồn tại đã đem lại cho ông vinh quang của một nhà thông thái, nhà triết học duy vật và vô thần triệt
để, niềm kiêu hãnh của “nhà khai sáng Hy Lạp vĩ đại bậc nhất” Không chỉ thế, nghiên cứu học thuyết về tồn tại của Êpiquya còn góp phần khơi dậy
“tình yêu đối với sự thông thái” mà giờ đây, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, với lối sống thực dụng, với việc đề cao giá trị vật chất, không ít người
đã coi sự hiểu biết triết học chỉ là sự phù phiếm, giá trị tinh thần chỉ là đồ trang sức không cần thiết, chẳng có ích lợi gì trong cuộc sống hiện thực với
Trang 5những mưu sinh, toan tính để làm giàu, kể cả với những người biết ý nghĩa thế giới quan và vai trò phương pháp luận của triết học Với những người vẫn còn “tình yêu đối với sự thông thái”, đối với triết học, nghiên cứu học thuyết
về tồn tại của Êpiquya góp phần giúp cho họ thấy rõ vì sao nghiên cứu lịch sử
tư tưởng triết học nhân loại vẫn là cái cần thiết để nâng cao năng lực tư duy lý luận và khi nhận thấy giá trị và hạn chế của học thuyết này, họ sẽ hiểu vì sao
mà triết học Êpiquya lại được C.Mác đánh giá cao đến như vậy và vì sao mà sau gần 20 thế kỷ, triết học Êpiquya vẫn hiện diện trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại thời nay
Với những suy nghĩ trên, chúng tôi đã lựa chọn học thuyết về tồn tại trong triết học Êpiquya làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Quan niệm về tồn tại, những vần đề bản thể luận, nhận thức luận đã được đặt ra từ rất sớm cùng với sự hình thành, phát triển của triết học và xã hội loài người Triết học Êpiquya đã được quan tâm nghiên cứu ngay từ thời
cổ đại và kéo dài trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử triết học cho tới tận ngày nay Những công trình triết học bàn về Êpiquya và hệ thống triết học của ông mà các học giả trên thế giới cũng như các học giả Việt Nam đã thực hiện chủ yếu đi sâu tìm hiểu về học thuyết đạo đức của ông, bởi trong hệ thống triết học của ông, học thuyết về đạo đức được nhiều học giả đánh giá là cống hiến lớn nhất, có giá trị nhất và cũng nổi bật nhất Song, cùng với nghiên cứu này, các học giả trên thế giới và Việt Nam cũng đã nghiên cứu, luận bàn
về học thuyết tồn tại của Êpiquya trên một phương diện nào đó và từ những góc độ, mục đích khác nhau Sở dĩ các học giả này tập trung nghiên cứu học thuyết về bản thể luận, hay học thuyết về tồn tại của Êpiquya là do, cho đến nay, vẫn có nhiều nhà triết học, học giả cho rằng, nguyên tử luận của ông
Trang 6chẳng qua chỉ là “sự sao chép” học thuyết nguyên tử của Đêmôcrít; song, bên cạnh đó, không ít nhà triết học, học giả lại cho rằng, dẫu nguyên tử luận của Êpiquya có là “sự sao chép” học thuyết nguyên tử của Đêmôcrít thì đó vẫn là
“sự sao chép một cách hoàn hảo”, “sao chép có bổ sung, phát triển” để xây dựng nên thuyết nguyên tử cổ điển về cấu tạo vật chất và do vậy, họ cố gắng
đi tìm sự khác biệt, sự vượt trội trong nguyên tử luận của ông so với học thuyết về nguyên tử của Đêmôcrít
Điều nói trên trước hết được thể hiện trong Luận án tiến sĩ của C.Mác
Với đề tài “Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Đêmôcrít và triết học tự
nhiên của Êpiquya” (Xem: C.Mác và Ph.Ăng ghen Toàn tập, t 40 Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội; 2000), Luận án tiến sĩ của C.Mác đã được coi là một tác phẩm lớn, một công trình nghiên cứu chuyên sâu đi tìm sự khác biệt,
sự vượt trội trong triết học tự nhiên của Êpiquya so với triết học tự nhiên của Đêmôcrít đúng như tên gọi của nó Có thể nói, C.Mác chính là người đầu tiên
đã chỉ ra quan điểm biện chứng trong tư tưởng của Êpiquya về “sự đi chệch hướng” một cách tự phát của nguyên tử và coi đó là sự khác biệt, sự vượt trội
so với quyết định luận mang tính chất khắc kỷ của Đêmôcrít trong học thuyết
về nguyên tử của ông
Ở phương Tây, chúng ta thấy đã có những công trình nghiên cứu có
liên quan đến triết học Hy Lạp cổ đại nói chung, triết học Êpiquya nói riêng Trong số những công trình nghiên cứu này đã có một vài công trình được dịch
sang tiếng Việt, chẳng hạn như “Hành trình cùng triết học” (Ted Honderich chủ biên, Lưu Văn Hy dịch Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội), “Truy tầm
triết học ” (M Gail, J Tresday - Karsten, , Lưu Văn Hy dịch, Nxb Văn hóa -
Thông tin, Hà Nội), “Những tư tưởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại”
(Mortimer Adler, Phạm Viễn Phương và Mai Sơn dịch, Nxb Văn hóa - Thông
tin, Hà Nội), Đặc biệt là công trình “Tuyển tập danh tác triết học từ Platôn
Trang 7đến Đerrida” (Forrest E Baird, Đỗ Văn Huấn và Lưu Văn Hy dịch, Nguyễn
Việt Long hiệu đính, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội) Đây được coi là công trình hoàn thiện nhất giới thiệu về triết học Êpiquya nói chung, học thuyết về tồn tại của ông nói riêng với nguyên tác các tác phẩm của Êpiquya
Trong công trình “Lịch sử phép biện chứng, t.1 - Phép biện chứng cổ
đại” (Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, Đỗ Minh Hợp dịch, Đặng Hữu Toàn
hiệu đính, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội), các nhà khoa học Xô viết đã tập trung luận giải tư tưởng biện chứng của Êpiquya trong nguyên tử luận của ông, đặc biệt là từ quan niệm của ông về “sự chệch hướng” một cách tự do của nguyên tử
Ngoài những công trình đó, trên thế giới, có lẽ, còn nhiều công trình
khác nữa có đề cập đến triết học Êpiquya và học thuyết về tồn tại của ông; song, do khả năng có hạn và rào cản ngôn ngữ, chúng tôi không thể tiếp cận được các công trình đó
Trong công trình biên soạn “101 triết gia” (Mai Sơn biên soạn, Bùi
Văn Nam Sơn hiệu đính, Nxb Tri thức, Hà Nội), triết học Êpiquya và học thuyết của ông về tồn tại được giới thiệu một cách khái quát
Ở Việt Nam, Êpiquya là một trong những nhà triết học ít được nghiên
cứu một cách trực diện Vì vậy, có thể khẳng định, ở nước ta, chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về triết học Êpiquya nói chung, học thuyết của ông về tồn tại nói riêng Các học giả Việt Nam thường viết về ông
và triết học của ông khi viết về nền triết học Hy Lạp cổ đại và được trình bày dưới dạng sách giáo khoa, giáo trình lịch sử triết học Chẳng hạn như, Trần
Đức Thảo - “Lịch sử tư tưởng trước Mác” (Nxb khoa học xã hội, Hà Nội; 1995); Thái Ninh - “Triết học Hy Lạp cổ đại” (Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội; 1987); Nguyễn Hữu Vui chủ biên - “Lịch sử triết học” (Nxb
Trang 8Chính trị Quốc gia, Hà Nội; 1998); Bùi Thanh Quất - “Lịch sử triết học” (Nxb giáo dục, Hà Nội 2000); Chiêm Tế - “Lịch sử thế giới cổ đại, t.2” (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1977); Đinh Ngọc Thanh - “Triết học Hy Lạp cổ đại” (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999); Hà Thúc Minh - “Triết học Hy Lạp -
La Mã cổ đại ” (Nxb Mũi Cà Mau, 2000); Trần Văn Phòng - “Triết học Hy Lạp cổ đại ” (Nxb lý luận chính trị, Hà Nội; 2006); v.v
Do vậy, chúng tôi chọn vấn đề “Học thuyết về tồn tại trong triết học Êpiquya” làm đề tài cho Luận văn này với hy vọng góp phần làm rõ những
cống hiến, đóng góp của ông trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại với học thuyết này
3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
3.1 Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là làm rõ những nội dung cơ bản của học thuyết
về tồn tại trong triết học Êpiquya để trên cơ sở đó, bước đầu chỉ ra giá trị và hạn chế của nó
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Thực hiện mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, luận giải và phân tích những điều kiện kinh tế - xã hội và
tiền đề lý luận cho sự hình thành học thuyết về tồn tại trong triết học Êpiquya
Thứ hai, luận giải và phân tích những nội dung căn bản trong học
thuyết của Êpiquya về tồn tại
Thứ ba, bước đầu nêu ra một số nhận xét về giá trị và hạn chế trong
học thuyết của Êpiquya về tồn tại
4 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Cơ sở lý luận
Trang 9Luận văn được thực hiện trên nền tảng lý luận là quan điểm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin về lịch sử triết học nói chung, về triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng; đồng thời, kế thừa, tham khảo có chọn lọc các công trình của các nhà nghiên cứu có liên quan đến đề tài, chủ yếu là các công trình về lịch sử triết học nói chung, triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng.
Đặc biệt, luận văn dựa vào nguồn tư liệu của C.Mác về di sản triết học của Êpiquya mà C.Mác đã chuẩn bị cho Luận án tiến sĩ của mình trong C.Mác
và Ph.Ăngghen Toàn tập, t.40, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000; vào
những tác phẩm của Êpiquya mà Forrest E.Baird đã đưa vào trong “Tuyển
tập danh tác triết học từ Platôn đến Đerrida” đã được Đỗ Văn Huấn và Lưu
Văn Hy dịch sang tiếng Việt; đồng thời tham khảo luận văn “Đạo đức học Êpiquya” của Nguyễn Vũ Ngọc Dung (bảo vệ năm 2009, tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội)
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp lôgíc và lịch sử của triết học mácxít; đồng thời sử dụng kết hợp một số phương pháp khác, như phân tích, tổng hơp, hệ thống hóa, so sánh,
5 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những nội dung căn bản trong học thuyết của Êpiquya về tồn tại Trong quá trình luận chứng tác giả có đề cập đến một số quan điểm, tư tưởng của các nhà triết học khác trong chừng mực mà chúng có liên quan đến triết học Êpiquya
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những nội dung căn bản trong học thuyết của Êpiquya về tồn tại và qua đó, chỉ ra những đóng góp nổi bật của
Trang 10ông so với nguyên tử luận của Đêmôcrít, đồng thời bước đầu đưa ra một vài nhận xét về học thuyết này.
7 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
- Về phương diện lý luận, luận văn góp phần nghiên cứu học thuyết
của Êpiquya về tồn tại nói riêng, triết học Êpiquya nói chung
- Về phương diễn thực tiễn, luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham
khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử triết học nhân loại nói chung, triết học Hy Lạp cổ đại và triết học Êpiquya nói riêng ở Việt Nam hiện nay
8 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 2 chương 8 tiết
Trang 11Chương 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN CHO SỰ HÌNH THÀNH HỌC THUYẾT VỀ TỒN TẠI TRONG
TRIẾT HỌC ÊPIQUYA 1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội
Về phương diện kinh tế, chúng ta đều biết, vào thế kỷ thứ IX - VII trước
Công nguyên, nền sản xuất chiếm hữu nô lệ được coi là nền sản xuất phát triển của thời kỳ cổ đại Đó là thời kỳ từ thời đại đồ đồng chuyển sang đồ sắt
Sự xuất hiện của quan hệ tiền - hàng đã làm cho thương mại và sự trao đổi hàng hóa phát triển Thuộc địa mở rộng đã tạo điều kiện cho sự giao lưu văn
hóa giữa các dân tộc
Sự phát triển của nền sản xuất chiếm hữu nô lệ đã làm cho các quan hệ
và tổ chức xã hội cũ bị đảo lộn, dẫn đến sự xuất hiện tư tưởng tư hữu và sau
đó là chế độ tư hữu về của cải Sản xuất phát triển cùng với sự ra đời của chế
độ tư hữu đã dẫn đến sự phân công lao động mới trong xã hội Phân công lao động phát triển dẫn đến sự xuất hiện tầng lớp những người chuyên sống bằng lao động trí óc, nhờ đó, hàng loạt nhà tư tưởng, nhà triết học ra đời mà Hy Lạp cổ đại là một trung tâm lớn, là cái nôi nuôi dưỡng, ươm mầm sáng tạo cho nhiều nhà triết học vĩ đại, trong đó có Êpiquya
Về bối cảnh lịch sử, xã hội, nhà duy vật vô thần vĩ đại Êpiquya đã sinh
ra và lớn lên trong thời kỳ suy tàn của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cổ đại Chiến tranh giữa Aten và Spác là cột mốc đánh dấu sự suy tàn của Hy Lạp cổ đại Năm 383 trước Công nguyên, Hy Lạp cổ đại nằm dưới sự thống trị của Maxêđoan Chế độ thành bang bị bãi bỏ, khối Đồng minh Hy Lạp được thành lập, đất nước Hy Lạp bước vào một thời kỳ mà lịch sử gọi là thời kỳ Hy Lạp hóa
Trang 12Cuộc đời và hoạt động sáng tạo lý luận của nhà duy vật vô thần vĩ đại Êpiquya diễn ra từ nửa cuối thế kỷ IV và đến đầu thế kỷ III trước Công nguyên Khoảng thời gian này chủ yếu diễn ra trong giai đoạn cai trị của Alêchxăngđrơ Maxeđoan trong lịch sử Hy Lạp (từ năm 323 đến năm 300 trước Công nguyên).
Lịch sử Hy Lạp cổ đại từ thế kỷ IV trước Công nguyên được gọi là thời
kỳ Hy Lạp hóa và cũng được coi là giai đoạn lịch sử dài nhất của thời kỳ Chiếm hữu nô lệ Nó kéo dài hơn 8 thế kỷ, với nhiều sự kiện lịch sử nổi bật, bắt đầu là các cuộc chiến tranh chinh phục của Hoàng đế Maxêđoan và người
La Mã để rồi kết thúc bởi các cuộc đấu tranh của những người nô lệ nhằm thoát khỏi ách nô lệ của mình Cuộc đấu tranh của giai cấp nô lệ là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Chiếm hữu nô lệ
Vào thời kỳ đó, ở phía Bắc Hy Lạp cổ đại, Maxêđoan là một quốc gia theo chế độ chiếm hữu nô lệ đã hình thành, phát triển và tiếp sau những quốc gia thành bang, hay còn được gọi là quốc gia thị thành Hy Lạp, đang bước vào thời kỳ hưng thịnh Lợi dụng tình trang suy yếu và sự chia rẽ của các thành bang Hy Lạp, Maxêđoan đã bắt đầu cuộc Nam tiến Năm 338 trước Công nguyên, quân đội Maxêđoan dưới sự chỉ huy của vua Philíp II đã đánh bại lực lượng Aten, Tebơ tại Kêrônê, rồi tổ chức Hy Lạp thành một liên minh dưới quyền thống trị của mình Cục diện tồn tại độc lập của các thành bang
Hy Lạp đã chấm dứt từ đó Hy Lạp thống nhất trong một khối thành bang là Maxêđoan Sau khi vua Philíp II bằng hà (năm 336 trước Công nguyên), các đảng chống Maxêđoan ở Hy Lạp đã gia tăng những hoạt động chống đối của mình Điều này đã khiến cho hy vọng làm thay đổi hiện trạng kinh tế - xã hội
ở Hy Lạp của Maxêđoan nhanh chóng sụp đổ Con trai, đồng thời là người kế tục sự nghiệp cai trị của Philíp II là Alếchxanđrơ (356 - 323 trước Công nguyên), sau khi khắc phục được những khó khăn trong nước, đã khôi phục lại sự thống trị Maxêđoan tại Hy Lạp và nhanh chóng chuẩn bị cho cuộc
Trang 13hành quân tới phía Đông, khi vừa bước vào tuổi 20 Trong 12 năm trị vì, ông đã dẹp tan các cuộc nổi dậy của những người Hy Lạp do người Tebơ cầm đầu, rồi vượt biển Êgiê, đánh bại những người Ba Tư nổi loạn, chiếm lại toàn bộ vùng đất thuộc khu vực Tiểu Á, chinh phục Xyri, Palétxtin, Ai Cập, vùng Trung Á Năm 327 trước Công nguyên, Alếchxanđrơ đã xâm chiếm vùng Tây - Bắc Ấn Độ Sự xâm chiếm này đã đưa quốc gia Maxêđoan trở thành một quốc gia lớn mạnh nằm trên cả 3 châu Âu - Á - Phi rộng lớn mênh mông, lấy Babilon - thủ phủ của quốc gia Lưỡng Hà thời cổ đại làm kinh đô.
Sau cuộc chiến tranh chinh phạt Alếchxanđrơ đã nhanh chóng bắt tay vào việc tổ chức chế độ cai trị tại những vùng đất rộng lớn mới chiếm được Chính sách cai trị của ông được thực hiện bằng nhiều hình thức: trấn áp, mua chuộc và lôi kéo bọn quý tộc địa phương để thống trị Tổ chức chính quyền của đế chế Maxêđoan dựa trên sự phối hợp giữa chế độ chính trị của các thành bang Hy Lạp với nội dung chuyên chế của các quốc gia phương Đông Alếchxanđrơ được thần thánh hóa cao độ và nắm trong tay quyền lực lớn nhất Những người thân cận của ông được giao giữ các trọng trách trong bộ máy nhà nước Quân đội của đế chế Maxêđoan được tăng cường bằng ba vạn thanh niên Ba Tư luôn sẵn sàng đàn áp những cuộc nổi dậy của quần chúng nhân dân nô lệ Để làm dịu mâu thuẫn giai cấp, Alếchxanđrơ đã dùng chính sách mị dân và mong dùng văn hóa Hy Lạp làm sợi dây liên hệ chung cho cả
đế chế và cho việc thiết lập hàng chục thành phố ở nhiều nơi, đưa người Hy Lạp tới đó định cư và dự tính rằng mỗi thành phố sẽ là một trung tâm truyền
bá và phát triển văn hóa Hy Lạp
Ý tưởng về một thế giới thống nhất, mà chúng ta có thể nói rằng, Alếchxanđrơ là người đầu tiên khởi xướng, đã không thể trở thành hiện thực Những người kế nghiệp ông không nghĩ tới điều đó Sau khi ông chết, các tướng lĩnh của ông đã tiến hành những cuộc nội chiến lẫn nhau để
Trang 14giành đất đai và vào đầu thế kỷ III trước Công nguyên, đế chế Maxêđoan
đã bị chia làm 3 vùng: Hy Lạp - Maxêđoan, Ai Cập, Xyri dưới sự cai quản của các tướng lĩnh
Maxêđoan tiếp tục thống trị các thành bang Hy Lạp với vương triều Ăngtigôn Vương triều Ptôlêmê đóng đô ở Alếchxăngđri theo truyền thống chuyên chế Ai Cập: tất cả ruộng đất đều là của vua, thương mại và thuế khóa do vua định đoạt, các vùng định cư Hy Lạp chỉ được nhận một vài đặc quyền không đáng kể Vương triều Xêlơxít đóng đô ở Ăngtiốt (Bắc Xyri) cai trị một vùng gồm phần lớn Tây Á, có nơi dùng hệ thống cai trị theo kiểu Ba Tư, có nơi thì dùng hệ thống cai trị theo kiểu những thành bang của Hy Lạp
Ba vương quốc Hy Lạp trong thời đại Hy Lạp hóa nói trên luôn tranh giành lẫn nhau vai trò thống trị những vùng đất dọc bờ Đông Địa Trung Hải Trong khi 2 vương quốc trở thành những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa lớn, thì Hy Lạp ngày càng khủng hoảng và suy yếu trầm trọng Đến giữa thế
kỷ II trước Công nguyên, toàn bộ Hy Lạp bị rơi vào vòng thống trị của đế chế theo chế độ chiếm hữu nô lệ La Mã
Sau khi Alécxanđrơ Maxêđoan qua đời, Hy Lạp cổ đại bước vào giai đoạn suy thoái Nguyên nhân sâu xa của sự suy thoái này là từ những mâu thuẫn về lợi ích kinh tế, chính trị giữa các tầng lớp trong giai cấp chủ nô, giữa chủ nô mà trước hết là chủ nô quý tộc với nô lê, nông dân
Chiến tranh đã làm cho xã hội Hy Lạp cổ đại thời Êpiquya bị chia rẽ sâu sắc, nền kinh tế bị kiệt quệ, đời sống nhân dân khốn khổ Điều này đã có ảnh hưởng nhất định đến quá trình hình thành và phát triển tư tưởng triết học của Êpiquya nói chung, học thuyết về tồn tại của ông nói riêng
1.2 Tiền đề văn hóa và triết học
Trang 15Là một trung tâm văn hóa thời cổ đại, ngay cả ở giai đoạn suy tàn, văn hóa Hy Lạp vẫn có sự phát triển mạnh mẽ, được phổ biến rộng rãi và có ảnh hưởng lớn trong khu vực Ngay cả khi đã trở thành thuộc địa của đế chế La
Mã vào đầu thế kỷ II trước Công nguyên, văn hóa Hy Lạp vẫn chiếm quyền thống trị khu vực, có ảnh hưởng rộng lớn và có lẽ do vậy mà thời kỳ này đã được lịch sử gọi là thời kỳ Hy Lạp hóa
Đây cũng là thời kỳ mà khoa học kỹ thuật có sự phát triển rực rỡ, nhiều thành tựu khoa học mới xuất hiện Về triết học, đây là thời kỳ mà các trào lưu triết học Hy Lạp đã thể hiện khá rõ nét các cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội đương thời qua một loạt trường phái triết học, như trường phái khắc kỷ, trường phái hoài nghi và trường phái Êpiquya Trong số này, chủ nghĩa duy vật và vô thần Êpiquya đã trở thành ngọn cờ tư tưởng của lực lượng xã hội tiến bộ là tầng lớp chủ nô dân chủ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo
Thời kỳ Hy Lạp hóa là đỉnh cao của sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia với việc đế chế La Mã đánh chiếm Hy Lạp và nhiều miền đất khác đã tạo điều kiện cho văn hóa Hy Lạp - La Mã mở rộng phạm vi ảnh hưởng và phát triển Điều đó đã làm cho triết học thời kỳ này mang nhiều đặc thù riêng Các nhà triết học thời kỳ này thường bàn luận nhiều về những vẫn đề triết lý của cuộc sống con người Khi đó, những người dân Aten vẫn là những cá nhân đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển các
tư tưởng triết học, mặc dù kinh tế và chính trị ở vùng đất này đã suy tàn Trong số ba trường phái triết học vĩ đại nhất của thời kỳ Hy Lạp hóa (trường phái triết học Êpiquya, chủ nghĩa hoài nghi và chủ nghĩa Khắc kỷ) thì trường phái triết học Êpiquya là trường phái có ý nghĩa và ảnh hưởng nhiều nhất ở Aten
Trang 16Có thể nói, sau Aritxtốt, triết lý thuần túy Hy Lạp bắt đầu đi xuống để rồi chấm dứt hẳn Hầu hết các nhà nghiên cứu lịch sử triết học đều gọi thời kỳ này là ‟thời kỳ suy tàn” Nhiều nhà nghiên cứu sau này cho rằng lý do của sự
suy sụp ấy có lẽ là vì sau một sự cố gắng suy tư hầu như phi thường, trí não
của người Hy Lạp đã đến lúc kiệt sức Do đó, cùng với Aritxtốt đang ngự trị trên đỉnh cao chót vót, tư tưởng triết học Hy Lạp đã phải tụt xuống những
niềm sâu Bên cạnh những hệ thống triết học vĩ đại và phong phú, những trường phái triết học ở thời kỳ này bỗng nhiên trở thành những ‟chú bé tý
hon” và nghèo nàn, không còn đủ nghị lực để có thể gây nên một sự hào hứng nào đó cho những suy tư triết học cao siêu nữa Cũng do vậy, trong ba thời kỳ phát triển của triết học Hy Lạp thời kỳ Hy Lạp hóa được xem là ít ý nghĩa giáo khoa nhất
Thực vậy, các nhà tư tưởng của thời kỳ Hy Lạp hóa đã bị chi phối bởi một nguồn cảm hứng khác hẳn khuynh hướng mang phong cách suy lý và siêu hình của thời Hy Lạp cực thịnh Đó là nguồn cảm hứng thực tiễn và nhân sinh quan theo luân lý đạo đức Bằng một con đường khác, nguồn cảm hứng này lại tiếp nối ý hướng đạo đức nguyên thủy của Xôcrát sau một thời kỳ bị quên lãng Với họ, đời sống đạo đức thực tiễn có một giá trị quan trọng và cần thiết hơn sự suy tư về những vấn đề thuần túy lý luận hay lý thuyết siêu hình Theo quan điểm của nhà triết học nổi tiếng - Aritxipơ (435 - 355 trước Công nguyên), học trò của Xôcrát, người sáng lập trường phái Khoái lạc, thì những khoa học thuần túy như toán học không ích lợi gì cả, vì chúng không nói đến cái thiện, cũng không nói đến cái ác
Chính vì vậy, tất cả những tư tưởng, kể cả những tư tưởng hết sức khác nhau của các nhà triết học nhằm mục tiêu duy nhất là mưu cầu, là đem lại hạnh phúc cho con người trong cuộc sống hiện tại Hơn nữa, mọi vấn đề thuộc đời sống thực tiễn ấy của con người còn được họ giải quyết bằng sự kết
Trang 17hợp những phương pháp vắn tắt, đơn sơ với những phương pháp lý luận dài dòng của Arixtốt Đây được coi là một sự chuyển hướng rõ ràng trong triết học Hy Lạp cổ đại.
Sự chuyển hướng này hình như đã khởi phát từ nhiều nguyên nhân
khá phức tạp Trước hết, trong số những người kế tục trực tiếp sự nghiệp
của Arixtốt, không một ai có đủ khả năng tư duy siêu hình và lý luận như
Arixtốt để tiếp tục tinh thần của ông Thứ hai, kể từ khi đại đế Alếchxanđrơ
băng hà, nền văn hóa Hy Lạp vốn đã được truyền bá sâu rộng khắp Địa Trung Hải thì nay đã chuyển về những đô thị láng giềng Một sự bành trướng như thế không khỏi tạo nên những cuộc gặp gỡ hầu như ngẫu nhiên giữa nhiều nền văn hóa khác nhau, cũng như giữa những luồng tư tưởng khác nhau Từ cuộc gặp gỡ đầy hào hứng này, sự trao đổi tư tưởng giữa các dân tộc đã trở thành một lẽ tự nhiên
Với những cuộc chinh phục và bành trướng văn hóa như thế, công việc truyền bá triết học đòi hỏi một sự cải biến sâu rộng để có thể thích ứng với hoàn cảnh, điều kiện mới Từ sự thích ứng này, khuynh hướng thực tiễn và mang đậm tính cách nhân sinh của trường phái triết học đạo đức này hình như
đã ít nhiều chịu ảnh hưởng của quan niệm về sự thanh bình nơi tâm hồn của người phương Đông Những ý niệm về sự vô cảm, sống theo thiên nhiên, hoài nghi khả năng của lý trí, v.v., nếu không tương tự như vậy thì ít ra cũng tương đồng với một vài ý niệm căn bản của người phương Đông, như quan niệm về
vô vi, về tự nhiên như nhiên, triết lý về cái ‟vô ngã”, ‟vô thường”,v.v
Sự suy sụp về chính trị như đã nói ở trên, kéo theo sự suy sụp về tinh thần và do vậy, người ta chỉ còn chú ý đến vấn đề thân phận con người, đến đời sống riêng tư của con người, đến vấn đề hạnh phúc và giải thoát cá nhân
Vì vậy, điều người ta kỳ vọng nhất ở triết lý trong một hoàn cảnh suy sụp, hoang tàn như thế về tinh thần là một phương thuốc trị liệu có thể chữa được
Trang 18những lo âu, đau khổ cho tâm hồn mỗi cá nhân Có thể nói, đặc điểm chính
của thời kỳ tư tưởng suy tàn này là thái độ chủ quan cá nhân chủ nghĩa, ở
đây không còn ai chú ý đến giải pháp cho những vấn đề vũ trụ Tinh thần khoa học, kiến thức vì kiến thức theo tri thức luận đã biến mất Thái độ bỡ ngỡ, suy tư mà Platôn và Arixtốt xem như khởi điểm và là sự khích lệ cho những suy tư triết học cũng đã không còn nữa Tất cả mọi nỗ lực suy tư chỉ xoay quanh cá nhân, số phận, số mệnh và sự yên ổn nơi tâm hồn cho mỗi
cá nhân Và, có lẽ cũng do vậy mà học thuyết về tồn tại và học thuyết về nhận thức của Êpiquya dường như có phần ‟yếu thế” hơn so với học thuyết
về đạo đức của ông
Tuy nhiên, trong bối cảnh mà các khuynh hướng triết học của thời kỳ
Hy Lạp hóa đều mang tính chất một học thuyết dạy nghệ thuật sống cho con người, trường phái triết học Êpiquya - đại diện xuất sắc cuối cùng của triết học với tư cách một khoa học ở Hy Lạp cổ đại vẫn có những đóng góp tích cực cho sự phát triển của triết học duy vật Trường phái triết học Êpiquya đã không chỉ chống lại các học thuyết triết học duy tâm, mà còn cương quyết phủ nhận ‟thế giới tư tưởng”, ‟thế giới ý niệm” của Platôn, phê phán ‟cú hích đầu tiên” của Arixtốt và các thế lực siêu nhiên khác mà các trường phái
triết học khác nhau của thế giới cổ đại đã đưa ra và luận chứng cho chúng
Một trong những cái đã đem lại vinh quang đó cho triết học Êpiquya chính là học thuyết của ông về tồn tại - học thuyết mà ông đã xây dựng nên trên cơ sở kế thừa và phát triển thuyết nguyên tử cổ điển về cấu tạo vật chất của Đêmôcrít Thuyết nguyên tử cổ điển về cấu tạo vật chất của Đêmôcrít, như chúng ta đều biết, được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển quan niệm về nguyên tử của Lơxíp Do vậy, có thể nói, học thuyết nguyên tử Lơxíp
- Đêmôcrít là tiền đề lý luận cho học thuyết về tồn tại của Êpiquya
Trang 19Lơxíp (500 - 440 trước Công nguyên) được biết đến với tư cách người sáng lập thuyết nguyên tử Thuyết nguyên tử của Lơxíp được xây dựng trên
cơ sở học thuyết về tồn tại của Pácmênít và Kxênôphan, nhưng lại không phủ nhận cái Không - Tồn tại, và trên cơ sở tiếp thu quan niệm của Empêđôcơlơ
về đa khởi nguyên vật chất, quan niệm cho rằng khởi nguyên của vật chất không phải là 4 nguyên thể (đất, nước, lửa, không khí), mà là vô số những nguyên tử
Với Lơxíp, nguyên tử là những hạt vật chất tuyệt đối không thể phân chia được, không có chất lượng, vô hạn cả về số lượng và hình thức, là khởi nguyên của mọi dạng vật chất, khởi nguyên của vũ trụ
Với quan niệm như vậy về nguyên tử, Lơxíp cho rằng, trong Vũ trụ vừa có cái thực tại, vừa có cái phi thực tại Ông gọi cái phi thực tại là cái phi vật thể hay cái Không - Tồn tại và đó cũng là cái chân không, là
‟không gian rỗng” Nhờ có ‟không gian rỗng”, vạn vật mới được phân biệt
về kích thước, hình dáng, mới vận động được Vũ trụ được hình thành từ những cơn lốc xoay tròn của nguyên tử Sự kết hợp của các nguyên tử, cũng như sự tách rời nhau của chúng không phải là ngẫu nhiên, mà là tất yếu Sự kết hợp theo đường xoay tròn của các nguyên tử tạo nên vật thể và các vật thể này hợp thành Vũ trụ
Tiếp thu học thuyết nguyên tử của Lơxíp, Đêmôcrít (460 - 370 trước Công nguyên) đã phát triển học thuyết này thành học thuyết nguyên tử về cấu tạo vật chất trên quan điểm duy vật
Với Đêmôcrít, nguyên tử là hạt vật chất cực nhỏ, không nhìn thấy được, không phân chia được, không khác nhau về chất, không có mùi vị, âm thanh, màu sắc Nguyên tử tồn tại vĩnh viễn Nguyên tử không có một chất lượng nào cả, chúng chỉ khác nhau về hình thức, trật tự và tư thế
Trang 20Theo Đêmôcrít, các nguyên tử kết hợp với nhau thành sự vật Tính muôn màu, muôn vẻ của sự vật được quy định bởi hình thức cấu tạo, trật tự kết hợp và
tư thế xếp đặt của các nguyên tử Sự vật mất đi là do sự tách rời của các nguyên
tử Sự kết hợp và tách rời của các nguyên tử không diễn ra một cách ngẫu nhiên, tùy tiện, mà theo tính tất nhiên
Với Đêmôcrít vận động của nguyên tử là vĩnh viễn, là vốn có Nguyên
tử là vật chất đang vận động Nguyên tử vận động trong chân không (trong khoảng rỗng) Chân không là điều kiện, chứ không phải là nguyên nhân của vận động Nguyên tử vận động theo nhiều chiều hướng và tạo nên cơn lốc nguyên tử Những cơn lốc nguyên tử hình thành nên Vũ trụ Động lực vận động của nguyên tử là động lực tự thân, tự nó Và theo ông, sự vật được hình thành từ nguyên tử nên ở nó, có phần đặc và phần rỗng Thế giới là sự thống nhất giữa Tồn tại (phần đặc, phần đầy) và Không - Tồn tại (phần rỗng, chân không) Không - Tồn tại là hư vô, là không gian trống rỗng, là cái có giới hạn Đây là hạn chế trong học thuyết nguyên tử của Đêmôcrít về cấu tạo vật chất
1.3 Về cuộc đời và sự nghiệp của Êpiquya
Về cuộc đời Êpiquya.
Êpiquya sinh năm 342, mất năm 270 trước CN (có tài liệu cho rằng ông sinh năm 341, mất năm 271 trước CN), trên đảo Xamốt, trong một gia đình nhà giáo Mặc dù tổ tiên Êpiquya là những người nổi tiếng, nhưng cha mẹ ông lại hết sức nghèo khó Cha Êpiquya là Nêoki, làm nghề dạy học và vì thế, với một mảnh đất nhỏ được thừa hưởng từ gia tộc, ông không thể nuôi sống một gia đình với ba người con trai Kinh tế nghèo nàn đã buộc Nêoki và vợ ông phải cật lực làm việc Mẹ của Êpiquya phải đi đến các gia đình làm nghề thầy cúng (đọc kinh xua đuổi tà ma ) để làm thuê kiếm tiền Êpiquya thường xuyên đi theo giúp mẹ Có thể vì thế mà từ thời điểm này, trong đầu Êpiquya
đã xuất hiện tư tưởng chống lại sự mê tín tôn giáo
Trang 21Êpiquya học tại một ngôi trường ở Xamốt, trong lớp học do cha ông giảng dạy Nhiều tài liệu nói rằng Êpiquya là một học sinh siêng năng và sớm thể hiện sự say mê đối với triết học Cuốn sách đầu tay của Ămpêlôđơ (483 -
423 trước Công nguyên) - ‟Về cuộc đời Êpiquya” - đã viết rằng, cậu bé Êpiquya mới 12 tuổi đã rất say mê với các tư tưởng của Haisiớt (VIII - VII trước Công nguyên), với những quan niệm đặc biệt trong học thuyết của Haisiớt về thời kỳ hỗn mang với tư cách khởi đầu của mọi sự tồn tại Ămpêlôđơ còn ghi lại rằng, Êpiquya đã nhiều lần đặt thầy giáo vào tình huống khó khăn khi nêu câu hỏi về nguồn gốc của thời kỳ hỗn mang
Từ khoảng cuối năm 328 trước Công nguyên, Êpiquya bắt đầu nghiên cứu một cách có hệ thống các môn khoa học về triết học Năm 18 tuổi, ông đến Aten và làm việc trong quân đội trong một thời gian ngắn Sau đó, ông rời Aten đến sống ở nhiều thành phố khác nhau thuộc Tiểu Á Gần 10 năm sống ở vùng đất này, ông đã nghiên cứu triết học, học thuyết nguyên tử của Đêmôcrít và cả những bài giảng của Platôn Đến năm 30 tuổi, ông giảng dạy triết học ở Mêtylen, sau đó là ở Lamxacơ Đến năm 307 trước Công nguyên, ông trở về Aten mở trường dạy học Trường này nằm trong một khu vườn thuộc nhà riêng của ông và do vậy, nó được gọi tên với biệt danh là ‟Vườn Êpiquya” Cổng trường mang biển đề: ‟Hỡi các du khách, đây là địa điểm tốt đẹp đối với các bạn Hạnh phúc cao nhất ở đây là niềm vui thú”.
Trước biến cố nặng nề do cuộc chiến tranh liên miên giữa Aten và Maxêđoan với đế chế La Mã gây ra, Êpiquya chủ trương ‟ở ẩn”, xa lánh hoạt
động chính trị, xã hội, chỉ quan tâm tới việc nghiên cứu triết học và coi đó là niềm vui, là hạnh phúc trí tuệ của mình
Trang 22‟Vườn triết học” Êpiquya tiếp nhận mọi hạng người, cả nam lẫn nữ
Trường không thu học phí của học viên, nhưng tùy khả năng, ai có thể đóng góp được gì và muốn đóng góp gì tùy ý Bản thân Êpiquya được các học trò tôn sùng và các học viên trong ‟Vườn triết học” của ông đều tuyên thệ: ‟Tôi
sẽ trung thành với Êpiquya và sống phù hợp với người mà tôi đã chọn theo”
[44, tr.140] Êpiquya còn là một người thầy thực thụ trên đường đời, khi ông khéo léo quy tụ bạn bè, đồng nghiệp, học trò thành một gia đình của những người có cùng ý chí Thậm chí, đến cả những người đối lập với Êpiquya cũng phải thừa nhận rằng, Êpiquya đã giành được sự kính trọng và yêu mến tột độ của các học trò Trong số những môn đệ sau này theo tư tưởng Êpiquya, nhà thơ Rôma - Lucxêri (98 - 55 trước Công nguyên) đã coi ông như một vị thánh Nhưng bản thân Êpiquya không phải là một người kiêu căng hay hống hách Theo nhiều người kể lại, ông rất tử tế và quảng đại, đối xử với học trò như bạn bè, chứ không phải như những thuộc hạ Khi đã nằm trên giường bệnh, Êpiquya vẫn còn viết một bức thư nói lên đức tính hiền hậu của ông Một đoạn dài lá thư này có những lời sau đây (những lời mà Êpiquya nói với Iđômeniớt - bạn ông: ‟Tôi có một bức tường chống lại mọi nỗi đau đớn này,
đó là niềm vui trong lòng, khi tôi hồi tưởng lại những cuộc đối thoại giữa chúng ta với nhau” [44, tr.140]
Theo Điôgien Laécxơ (thế kỷ III trước Công nguyên), trước khi qua đời, Êpiquya đã gọi học trò và bạn bè trao lại ‟Vườn triết học” của mình và
nhờ chăm sóc những đứa trẻ nghèo đói đang nương nhờ trong vườn này, cũng như hướng dẫn cách tổ chức tang lễ cho ông
Lúc Êpiquya còn sống, những người chống đối ông, đặc biệt là những người theo chủ nghĩa Khắc kỷ đã không ngừng bôi nhọ và chỉ trích ông là vô
Trang 23đạo đức và làm hư hỏng thế hệ trẻ Aten, khi ông ca ngợi những nhục cảm thể xác Sau này, truyền thuyết duy tâm này đã được người ta gán cho Êpiquya và trường phái của ông được các nhà triết học duy tâm của mọi khuynh hướng truyền bá.
Tuy nhiên, ngay cả những đại diện xuất sắc của các trường phái duy tâm đôi khi cũng phải thừa nhận truyền thuyết này là không có cơ sở Nhà triết học theo chủ nghĩa Khắc kỷ nổi tiếng của La Mã cổ đại là Luxiút Anêút Xênêca (khoảng năm thứ 4 trước Công nguyên - năm thứ 65 Công nguyên) đã dũng cảm đứng lên bảo vệ Êpiquya khỏi những đòn công kích của những người bạn theo chủ nghĩa Khắc kỷ Trong Luận văn ‟Về cuộc sống hạnh phúc”, Luxiút Anêút Xênêca đã xác định rõ thái độ của mình đối với Êpiquya
và trường phái của ông, khi cho rằng người dũng cảm cần phải biết ý kiến của mình, mặc dù ý kiến đó có trái ngược với ý kiến của những người nổi tiếng,
kể cả họ là lãnh tụ; rằng với chúng ta, nhất định không nói điều mà mọi người thường nói, bởi bản thân nhà triết học Êpiquya và trường phái Êpiquya đã bị mang tiếng xấu, bị bôi nhọ và chưa được đánh giá một cách đúng đắn
Nhà hùng biện, nhà triết học Rôma - Máccơ Xixêrông (106 - 43 trước Công nguyên) cho rằng, Êpiquya là nhà triết học có những phẩm chất đạo đức hết sức đáng quý, như biết sống có chừng mực, tự chủ, dũng cảm và tình yêu bạn bè, gia đình bao la, sự quan tâm thực lòng đối với bạn bè, ứng xử một cách nhân văn với những người nô lệ, bằng lòng với cuộc sống hiện tại, không ưu phiền, tức giận, - những phẩm chất mà Êpiquya luôn tự đặt ra cho mình Sau khi Êpiquya qua đời, trường phái của ông thường tổ chức lễ kỷ niệm ông mỗi tháng một lần Học thuyết của ông đã được phổ biến một cách hết sức nhanh chóng ra khắp các dân tộc nói tiếng Hy Lạp
Êpiquya mất vào năm 270 (có tài liệu cho là vào năm 271) trước Công nguyên, sau 14 ngày chịu đựng những cơn đau dữ dội do bệnh tật đã ở giai
Trang 24đoạn không thể chữa trị Theo truyền thuyết, trước lúc qua đời, Êpiquya đang nằm trong bể tắm nước nóng, uống rượu mạnh, chúc mừng và mong muốn bạn bè, học trò đừng lãng quên học thuyết của ông và sau đó, ông đã ra đi vĩnh viễn ngay trong bể tắm nước nóng này [Xem: 43, tr.284].
Về sự nghiệp của Êpiquya.
Êpiquya trình bày học thuyết triết học của mình trong nhiều tác phẩm, thư từ và các buổi nói chuyện với bạn bè và môn đệ Số lượng tác phẩm do ông viết có thể lên tới con số 300 Trong đó, có 37 tiểu luận về vật lý học, nhiều tiểu luận viết về tình yêu, thần thánh và các chủ đề khác; số khác là thư
từ và những đoạn văn ngắn Điôgien Laécxơ cho rằng, ‟Êpiquya là nhà văn - triết học xuất sắc nhất, vượt qua tất cả các nhà triết học khác về số lượng đầu sách” [Xem 42, tr.80] Tuy nhiên, phần lớn di sản triết học đồ sộ và quý giá này của ông đã không còn lưu giữ được cho đến ngày nay Nhờ ‟công lao” của các nhà thần học Thiên Chúa giáo mà một số tác phẩm của Êpiquya đã biến mất một cách không để lại dấu tích Số còn lại thì chúng ta chỉ được nghe tên Trong số những tác phẩm còn được lưu giữ lại thì đáng kể nhất là
‟Bàn về tự nhiên”, những bức thư gửi Hêrôđốt, Pitôclexơ và những đoạn
ngắn trong như ‟Bàn về nguyên tử và chân không”, ‟Bàn về mục đích”,
Trang 25phẩm này đã được tìm thấy vào cuối thế kỷ XVIII, tại Hêrculanum, khi chúng
bị chôn vùi dưới lớp nham thạch của núi Vêzuvia Tại một thư viện nghèo nàn của một người theo học thuyết Êpiquya, người ta đã tìm thấy hàng loạt các trích đoạn quý giá trong tình trạng mục nát gần hết Nhà nghiên cứu chủ nghĩa Êpiquya nổi tiếng - giáo sư I.A.Bôrichevki, ngay từ năm 1925 đã cho chúng
ta biết rằng, các nhà nghiên cứu lịch sử triết học đã khôi phục được một phần của 10 cuốn sách trong tác phẩm đồ sộ này Giáo sư cũng chỉ ra tính chất đặc biệt quan trọng của các trích đoạn trong cuốn sách thứ 20 và cho rằng, đây là cuốn sách chứa đựng nhiều tư tưởng hết sức có giá trị về các vấn đề của môn phương pháp học
Hiện nay, chúng ta đã có được 4 tác phẩm của Êpiquya Số này tuy không lớn, nhưng lại đặc biệt có giá trị về mặt nội dung mà cho đến nay, còn được lưu giữ là nhờ những nỗ lực của nhà triết học Điôgien Laécxơ Trong 4 tác phẩm này, có 3 bức thư của Êpiquya gửi các học trò và tuyển tập các phát ngôn nổi tiếng của Êpiquya
Một trong những bức thư được Điôgien Laécxơ cho là quan trọng nhất trong di sản của Êpiquya là bức ‟Gửi Hêrôđốt” Bức thư này là tài liệu quan
trọng và gần như duy nhất khắc họa quan điểm triết học tự nhiên của nhà nguyên tử học vĩ đại Êpiquya Bức thư được trình bày dưới dạng sách toát yếu ghi lại những quan điểm khoa học tự nhiên của Êpiquya, là bản tóm tắt các tác phẩm của ông có liên quan đến việc nghiên cứu các vấn đề nhận thức tự nhiên
và những định hướng khi nghiên cứu học thuyết triết học tự nhiên của ông
Bức thư thứ hai - ‟Gửi Pitôclexơ” chứa đựng những lý giải về hiện
tượng vũ trụ và nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng này Có người cho rằng, bức thư này được rút ra từ một trong các tác phẩm về khoa học tự nhiên của Êpiquya và được ông sử dụng để bổ sung cho bức thư thứ nhất
Trang 26Trong bức thư thứ ba - ‟Gửi Menơxiớt” [Xem: 44, tr.141-147] cùng
với tiểu luận ngắn ‟Các lý thuyết về nguyên tắc”, Êpiquya đã giải thích
những nguyên lý đạo đức trọng tâm của ông Ở đây, Êpiquya tuyên bố khoái lạc là sự thiện cao nhất, mặc dù một số khoái lạc là không tự nhiên và không cần thiết Ngược lại với lối hiểu ngày nay của chúng ta về ‟Chủ nghĩa Khoái lạc”, Êpiquya đã phản đối các bữa ăn cao lương mỹ vị và việc chè chén quá
độ Ông cho rằng, những lối sống phóng túng như thế không tạo nên khoái lạc bền vững và thường dẫn tới điều ngược lại là sự đau khổ Thay vào đó Êpiquya chủ trương chỉ nên hưởng thụ những khoái lạc ‟tự nhiên” - những
khoái lạc này có khả năng làm cho chúng ta hài lòng và cảm thấy an nhàn, vững tâm
Ngoài 3 bức thư và các tác phẩm nói trên, Êpiquya còn có một tác phẩm quan trọng khác được viết dưới dạng cách ngôn Tác phẩm này được biết dưới tên gọi ‟Những tư tưởng chủ đạo” hoặc ‟Những trích đoạn quan trọng”, gồm 40 cách ngôn.
Năm 1888, người ta bất ngờ tìm thấy trong thư viện Vanticăng một bản viết tay là tuyển tập các trích đoạn của Êpiquya Tài liệu này được đặt tên là
‟Tuyển tập các trích đoạn Vanticăng” và được xem là tác phẩm đề cập nhiều
nhất đến các vấn đề mà Êpiquya nghiên cứu, thậm chí còn được cho là quan trọng hơn tác phẩm ‟Những tư tưởng chủ đạo” ‟Tuyển tập các trích đoạn Vanticăng” gồm 81 trích đoạn, được bắt đầu bằng cụm từ: ‟Thông điệp của Êpiquya”, chủ yếu đề cập đến các vấn đề về đạo đức, nhưng ở đó cũng có
những thông tin hết sức có giá trị về lĩnh vực khoa học tự nhiên của ông
Trang 27Một tuyển tập khác gồm 87 trích đoạn từ các tác phẩm và thư từ của Êpiquya được trình bày dưới dạng các trích đoạn và được nêu ra trong các tác phẩm của các nhà triết học Hy Lạp và La Mã cổ đại.
1.4 Hệ thống triết học Êpiquya
Hệ thống triết học Êpiquya bao hàm hầu như tất cả các phương diện
triết học được nhiều người quan tâm ở thời đại của ông Đó là: học thuyết
về tồn tại, học thuyết về nhận thức và học thuyết về đạo đức Trong đó, học
thuyết về tồn tại (học thuyết về tự nhiên hay vật lý học) và học thuyết về nhận thức (học thuyết về nhận thức tự nhiên hay lôgíc học) được xem như
là tiền đề cho đạo đức học (học thuyết về việc đạt tới hạnh phúc), bởi các học thuyết này nghiên cứu những nền tảng giúp cho con người có thể thoát
ra khỏi những ý kiến sai lầm, hư ảo để đạt tới một cuộc sống tự do đầy yên tĩnh và công bằng
1.4.1 Học thuyết về tồn tại
Êpiquya được coi là người kế thừa và tiếp tục xuất sắc của Đêmôcrít - đại diện vĩ đại của các tư tưởng duy vật Hy Lạp Nếu Đêmôcrít cùng với người thầy của ông là Lơxíp và các nhà biện chứng duy vật Hy Lạp cổ đại khác đã xây dựng một cách rõ ràng và cụ thể về sự khởi thủy của vũ trụ, đưa
ra quan niệm về nguyên tử và chân không để từ đó, hình thành thuyết nguyên
tử về cấu tạo vật chất, thì Êpiquya là đại diện vĩ đại nhất của khuynh hướng duy vật do Đêmôcrít khởi xướng trong triết học Hy Lạp cổ đại
Cần lưu ý rằng, đối với các nhà duy vật vĩ đại của Hy Lạp cổ đại là Đêmôcrít và Êpiquya thì vấn đề quan tâm hàng đầu của họ là cấu trúc vật chất, mà trước hết là cấu trúc của sự vật được coi là bản nguyên khởi thủy hình thành nên thế giới Triết học Êpiquya là trường phái đạt được tiến bộ to lớn nhất trong vấn đề này
Trang 28Nội dung cơ bản nhất trong học thuyết về tồn tại của Êpiquya chính là
sự kế thừa và phát triển xuất sắc của ông về nguyên tử luận
Nguyên tử luận cổ đại được khởi xướng từ Lơxíp và được làm sâu sắc hơn, phát triển thêm bởi học trò của ông là Đêmôcrít Do vậy, khi xây dựng tự nhiên học của mình trên học thuyết nguyên tử, Êpiquya và trường phái của ông đã đương nhiên chấp nhận một cách căn bản học thuyết của Đêmôcrít và
bổ sung, phát triển học thuyết ấy Chính vì vậy mà nhiều nhà triết học sau này
đã thừa nhận rằng, trong lịch sử triết học nhân loại, Êpiquya và trường phái của ông đã có công lớn trong việc phát triển học thuyết nguyên tử của Đêmôcrít
Nội dung căn bản trong học thuyết về tồn tại của Êpiquya được chúng tôi trình bày ở chương 2 của luận văn này
1.4.2 Học thuyết về nhận thức
Việc Êpiquya giải quyết một cách duy vật vấn đề cơ bản của triết học, thừa nhận vật chất có trước và tồn tại khách quan đã tạo cơ sở để ông xây dựng học thuyết về nhận thức
Là một nhà duy vật nhất quán trong nhận thức các hiện tượng tự nhiên, Êpiqua không chỉ thừa nhận sự tồn tại khách quan của vật chất, mà còn thừa nhận cả tác động của nó lên các giác quan của con người và khả năng nhận thức được các sự vật và hiện tượng của hiện thực khách quan Khi phê phán cách hiểu theo lối duy tâm chủ nghĩa của Hêghen về học thuyết nhận thức của Êpiquya, V.I.Lênin đã nhấn mạnh và đánh giá cao tính chất duy vật trong học thuyết về nhận thức tự nhiên của Êpiquya
Thật vậy, từ lập trường duy vật trong việc giải quyết vấn đề bản thể luận Êpiquya đã thừa nhận sự tác động của sự vật lên các giác quan của con người, thừa nhận vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai và hơn nữa,
Trang 29ông còn coi là nguyên tắc có tính xuất phát điểm để nhận thức tự nhiên Kế thừa và tiếp thu nhận thức luận của Đêmôcrít, Êpiquya cũng đã giải thích sự tác động của vật chất lên các giác quan của con người bằng thuyết ‟hơi thở ra”, bằng ‟hình ảnh” như Đêmôcrít đã làm Do vậy, mặc dù thừa nhận đối tượng nhận thức nằm ngoài cảm giác của chúng ta, ông vẫn cho rằng ‟từ bề mặt của đối tượng phát ra một luồng chảy liên tục mà cảm giác không nhận thấy được Sự vận động của những bề mặt tách rời ra ấy là vô cùng nhanh chóng trong không khí Và do cái luồng phát ra xâm nhập vào chúng ta, mà chúng ta biết được tính quy định của một cảm giác này hoặc một cảm giác kia” [Dẫn theo: 17, tr.314] Với quan niệm này, ông đã giải thích thị giác là
do hình ảnh từ bên ngoài của sự vật truyền qua không khí như ‟hơi thở thoát ra” rồi tác động vào mắt con người Thính giác và khứu giác của chúng ta cũng được ông giải thích theo cách đó Ở đây, mặc dù còn có nhiều hạn chế, song qua đó, chúng ta thấy, với ông, nguồn gốc của nhận thức là cảm giác, là tri giác cảm tính
Như vậy, có thể nói học thuyết về nhận thức của Êpiquya cũng đã được xây dựng một cách có cơ sở như học thuyết của ông về tồn tại Một trong những công trình quan trọng nhất của ông về các vấn đề nhận thức là công trình mang tên ‟Về các tiêu chí, hay quy tắc tôn giáo” Trong công
trình này, Êpiquya đã xác định rõ các phương pháp và phương tiện mà nhờ
đó, con người có thể nhận thức được thế giới Ông cho rằng, các tiêu chí của chân lý nhận thức có thể là cảm giác, tri giác và các khái niệm, hoặc là
sự tưởng tượng nói chung Sau này, những người kế thừa học thuyết về nhận thức của Êpiquya đã bổ sung thêm cho các tiêu chí chân lý này ‟khái niệm về khả năng tưởng tượng” Trong nhận thức luận của Êpiquya, chúng
Trang 30ta thấy rõ phương pháp quy nạp là phương pháp được ông sử dụng nhiều hơn phương pháp diễn dịch Bản thân Êpiquya cũng cho rằng, chúng ta không thể định hướng được trong một đống tư liệu khoa học bao trùm tất
cả các hiện tượng của vũ trụ, nếu không biết tóm lược những gì đã được kết luận hoặc nghiên cứu một cách chi tiết từ trước Đánh giá cao như vậy về phương pháp quy nạp, song không phải vì thế mà ông xem nhẹ phương pháp diễn dịch Theo ông, việc phân tích, xử lý các số liệu thu được qua nghiên cứu các sự vật, hiện tượng đơn lẻ từ những nguồn tư liệu đã có cũng rất cần thiết Trên thực tế, Êpiquya vẫn luôn coi phương pháp diễn dịch là cần thiết để so sánh các tài liệu cảm tính đã thu được và để phản ánh một cách đúng đắn sự phong phú của hiện thực khách quan
Không chỉ nói về phương pháp nhận thức, Êpiquya còn xây dựng một cách nhất quán quan điểm duy vật trong học thuyết nhận thức từ luận điểm xuất phát cho rằng, thế giới khách quan, thế giới các sự vật hiện tượng là nguồn gốc duy nhất của tất cả mọi tri thức của loài người Quan điểm này của Êpiquya là hoàn toàn đúng đắn và xứng đáng được đánh giá cao với một nhà triết học duy vật sống cách thời đại chúng ta trên hai nghìn năm
Về quan điểm này của Êpiquya, như chúng ta đã biết, sau này khi xây dựng học thuyết nhận thức, V.I.Lênin trong tác phẩm nổi tiếng - ‟Chủ nghĩa
với bất kỳ nhà khoa học tự nhiên nào chưa bị triết học nhà trường làm cho lầm lạc, cũng như đối với bất kỳ nhà duy vật nào, cảm giác quả thật là mối liên hệ trực tiếp của ý thức với thế giới bên ngoài, là sự chuyển hóa của năng lượng của mỗi sự kích thích bên ngoài thành một sự kiện thuộc về ý thức Sự chuyển hóa đó, mỗi người đều đã và đang thực tế quan sát được hàng triệu lần
ở khắp nơi” [16, tr.50-51]
Trang 31Trong nhận thức luận của mình, Êpiquya đã xác định, cảm giác là mắt xích liên kết giữa thế giới bên ngoài và con người, đồng thời là bước đi đầu tiên, là thời điểm đầu tiên của quá trình nhận thức Nếu như ở Đêmôcrít, cảm giác chỉ hoàn toàn mang tính chất chủ quan, thì ở Êpiquya, cảm giác là quá trình chủ quan nhưng có yếu tố khách quan, đồng thời là sự phản ánh thế giới tồn tại khách quan Nói về sự khác biệt này giữa Đêmôcrít và Êpiquya, trong Luận án Tiến sĩ của mình - ‟Sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của
Đêmôcrít đó là sự thiếu nhất quán, vì đối với ông hiện tượng chỉ có tính chất
chủ quan, còn ở Êpiquya - đó là hậu quả tất yếu, bởi vì đối với Êpiquya cảm tính là sự phản ánh thế giới hiện hữu vào bên trong bản thân, là thời gian kết tinh của thế giới ấy” [25,tr.335]
Theo Êpiquya, tính chính xác của tất cả mọi hiểu biết của chúng ta về thế giới vật chất, sự phù hợp của chúng với các sự vật và hiện tượng tồn tại khách quan trước hết phụ thuộc vào cảm giác Tự nhiên tồn tại bên ngoài và không phụ thuộc vào ý chí cũng như nhận thức của con người, tác động lên con người và được cảm nhận bởi các giác quan của con người Do vậy, cảm giác là hành động đầu tiên của quá trình nhận thức thế giới, đồng thời là ‟tiêu chí duy nhất trong giới tự nhiên cụ thể, giống như lý trí trừu tượng là tiêu chuẩn duy nhất trong thế giới các nguyên tử” [25, tr.336]
Với quan niệm đó, Êpiquya đã xây dựng một cách thận trọng học thuyết về sự hình thành cảm giác Theo học thuyết này, mối liên hệ giữa chủ thể và khách thể được tạo thành từ các phần tử vật chất rất nhỏ bé di chuyển
từ khách thể tới chủ thể Các phân tử này cũng có độ cứng và bền vững giống như những vật thể đã tạo ra chúng, mặc dù, về kích thước, chúng mỏng và nhỏ hơn các phần tử của vật thể
Trang 32Từ đó, Êpiquya đã coi toàn bộ quá trình hình thành cảm giác, từ lúc xuất hiện và tách ra khỏi bề mặt sự vật đến lúc cảm giác của con người tiếp nhận được hình ảnh này là một quá trình thống nhất Các giai đoạn riêng lẻ của quá trình này được gắn với nhau bởi mối liên hệ nhân quả Do vậy, chủ thể chỉ có thể nhận được hình ảnh hoàn chỉnh của một sự vật nào đó nếu có một ‟dòng chảy” giữ nguyên được hình dáng và diện mạo của sự vật ấy khi xuất phát từ bề mặt của nó Trong đó, điều quan trọng là quá trình tách hình ảnh phải diễn ra một cách liên tục, nếu không sẽ phá hỏng tính chính xác và làm hỏng đối tượng được tiếp nhận Chúng ta không thể quan sát ‟dòng chảy” này bằng mắt thường, bởi vì việc tách hình ảnh và bổ sung chúng diễn ra đồng thời với tốc độ tư duy rất nhanh Diễn tả quá trình nhận thức này, Êpiquya viết: ‟Từ bề mặt của đối tượng phát ra một luồng chảy liên tục mà cảm giác không nhận thấy được, và như vậy là do sự bổ sung đối lập với nó, bởi vì bản thân đối tượng vẫn còn tiếp tục giữ được đầy và vì sự bổ sung trong chất rắn giữ được lâu cùng một thứ tự và cùng một cách sắp xếp của các nguyên tử Sự vận động của những bề mặt tách rời ra ấy là vô cùng nhanh chóng trong không khí, bởi vì nhân tố bị tách ra không nhất thiết phải có bề sâu Cảm giác không mâu thuẫn với một biểu tượng như thế, nếu chúng ta chú ý đến phương thức tác động của các hình ảnh; các hình ảnh này tạo nên một sự hòa hợp nào đó cho chúng ta, một mối liên hệ thiện cảm của thế giới bên ngoài với chúng ta Như vậy là có một cái gì được truyền sang từ các hình ảnh để cho chúng ta có một cái gì giống với cái bên ngoài Và do cái luồng phát ra xâm nhập vào chúng ta, mà chúng ta biết được tính quy định của một cảm giác này hoặc một cảm giác kia; cái có tính quy định tồn tại trong đối tượng và truyền sang cho chúng ta bằng cách đó” [Dẫn theo: 17, tr.314].
Trang 33Trên cơ sở học thuyết về ‟dòng chảy” này, Êpiquya đã giải quyết vấn
đề nhận thức giới tự nhiên không chỉ bằng thị giác, mà còn cả bằng thính giác
và vị giác Nói về cách giải quyết vấn đề nhận thức giới tự nhiên này của Êpiquya, trong Luận án Tiến sĩ của mình, C.Mác đã khẳng định, với Êpiquya,
‟Iđôla (những hình ảnh) là những hình dạng của các vật thể tự nhiên đã tách
ra khỏi chúng, giống như những vỏ bọc bên ngoài, và chuyển chúng thành hiện tượng Những hình dạng ấy của các vật thường xuyên thoát ra khỏi chúng và thâm nhập vào cảm giác và nhờ vậy mà chúng làm cho các khách thể có khả năng tự bộc lộ ra Vì vậy, trong thính giác, thiên nhiên nghe thấy bản thân mình; trong vị giác, nó nếm được bản thân mình; trong thị giác, nó nhìn thấy bản thân mình Cảm tính của con người, do đó, tạo ra môi trường trong đó - như ở tiêu điểm - phản ánh những quá trình của tự nhiên và trong
đó, những quá trình ấy, sau khi bùng cháy, phát ra ánh sáng của các hiện tượng” [25, tr.335] Cũng nói về cách giải quyết này của Êpiquya đối với vấn
đề nhận thức giới tự nhiên, trong ‟Bút ký triết học”, V.I.Lênin đã coi đây là
một dự đoán thiên tài Ông viết: ‟Tính chất thiên tài của ước đoán của Êpiquya (300 năm trước Công nguyên, - tức là hơn 2000 năm trước Hêghen)
về ánh sáng và tốc độ của nó chẳng hạn” [17, tr.315]
Ngoài đóng góp đó, một đóng góp quan trọng khác trong lý luận nhận thức của Êpiquya là ở chỗ, ông đã nhận thấy rõ ý nghĩa nhận thức luận và thực tiễn của bức tranh chung về thế giới Khi đánh giá cao tính đặc thù về chất của trình độ nhận thức lý luận, ông đã khẳng định ý nghĩa phương pháp luận của nó Cũng như các nhà triết học duy vật cổ đại Hy Lạp tiền bối, khi xây dựng bức tranh chung về thế giới, Êpiquya đã xuất phát một cách tiên nghiệm từ một quan điểm chung về thế giới Song, cách tiếp cận của ông đã
có một bước tiến đáng kể, khi luận chứng cho sự thống nhất của những cái
Trang 34được rút ra từ những quan niệm và biểu tượng chung, tức là tìm ra các quy luật của tự nhiên Với đóng góp này, Êpiquya đã được V.I.Lênin coi là người
‟phát minh ra khoa học tự nhiên thực nghiệm và tâm lý học thực nghiệm” Trong ‟Bút ký triết học”, V.I.Lênin viết: ‟Ở Êpiquya, ‟đối tượng, nguyên
tắc” không phải là cái gì khác hơn là nguyên tắc của khoa học tự nhiên quen thuộc của chúng ta Đó vẫn còn là một phương thức tiến hành làm thành cơ
sở của khoa học tự nhiên của chúng ta” [17,tr.318]
Thật vậy, trong quan niệm của Êpiquya, nhận thức là quá trình phức tạp nhằm khơi gợi trí nhớ, sự chú ý, và cách thức tiến hành so sánh các dữ liệu cảm tính để cuối cùng là hình thành khái niệm chung Khái niệm, theo Êpiquya, chính là tri giác cảm tính được ‟tích lũy” lại Do vậy, tính chân lý của nhận thức thể hiện ở sự phù hợp giữa hình ảnh với sự vật Với quan điểm này, ông đã bác bỏ mọi ý kiến nghi ngờ khả năng nhận thức chân lý khách quan Theo ông, sai lầm và lừa dối là kết quả của những sự thêm bớt của ‟tư tưởng” vào tri giác cảm tính đối với cái (còn chờ đợi) được xác nhận hay là khẳng định, nhưng sau đó lại không được xác nhận, hay là bị bác bỏ [Xem:
57, tr.234] Nói về quan niệm này của Êpiquya, trong ‟Bút ký triết học”,
V.I.Lênin viết: ‟Sai lầm, theo Êpiquya, là do sự gián đoạn trong vận động (vận động từ đối tượng đến chúng ta, đến cảm giác hay là đến biểu tượng?” [17,tr.316]
Đánh giá chung về lý luận nhận thức của Êpiquya, nếu Hêghen cho rằng: ‟Không thể có một (lý luận nhận thức) nghèo nàn hơn” [Dẫn theo: 17, tr.316] lý luận nhận thức của Êpiquya, thì V.I.Lênin khi phê phán cách đánh giá này của Hêghen đối với lý luận nhận thức của Êpiquya và coi đó là cách
Trang 35đánh giá mà ‟người ta bỏ qua thực chất của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng duy vật” [17,tr.322].
Theo chúng tôi, cách đánh giá của V.I.Lênin về lý luận nhận thức của Êpiquya là đúng đắn với những gì mà Êpiquya đã đưa ra, đã trình bày và diễn đạt trong lý luận nhận thức của ông
1.4.3 Học thuyết về đạo đức
Nói về đạo đức học - lĩnh vực quan tâm chủ yếu nhất của Êpiquya và chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống triết học của ông, trước hết chúng ta cần khẳng định rằng, khi trình bày những quan điểm cơ bản về giới tự nhiên, về
vũ trụ, về sự nhận thức giới tự nhiên và vũ trụ đó, Êpiquya không nhằm mục
tiêu khoa học thuần túy, mà nhằm những mục tiêu luân lý thực tiễn Nói cách
khác, với mọi suy tư triết học của mình, Êpiquya chỉ nhằm một mục tiêu duy nhất là cống hiến cho con người một sự bình an trong tâm hồn bằng cách giải thoát họ ra khỏi những sự sợ hãi vụn vặt, khỏi nỗi lo định mệnh
Đạo đức học hay như một số nhà nghiên cứu còn gọi là triết học thực tiễn của Êpiquya có liên quan trực tiếp với học thuyết về tồn tại và học thuyết
về nhận thức Trong học thuyết tồn tại và nhận thức của Êpiquya, con người được hiểu là chủ thể nhận thức, chứ không phải là nhân tố làm thay đổi thế giới vật chất Cách hiểu như vậy về con người đã tạo cơ sở lý luận cho các quan niệm đạo đức của Êpiquya - một bộ phận cấu thành quan trọng làm nên học thuyết triết học của ông
Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong triết học Êpiquya được quy định bởi các đặc điểm của giai đoạn lịch sử mà ông sinh sống Chính trong giai đoạn này của lịch sử Hy Lạp cổ đại, các cuộc chiến tranh giữa các phe phái diễn ra liên miên, sự bất ổn trong đời sống xã hội và chính trị đã làm nảy sinh ở các tầng lớp thống trị ước muốn tìm ra cách sống
Trang 36không phải phiền muộn, lo âu Vì thế, những quan niệm đạo đức đáp ứng được nguyện vọng của các tầng lớp này đã được đặt lên vị trí hàng đầu trong mọi suy tư triết học của các nhà triết học Hy Lạp thời đó Một nhiệm vụ đặt ra cho triết học là chỉ ra con đường dẫn tới một cuộc sống hạnh phúc Chính vì thế, triết học Hy Lạp thời kỳ này đã trở thành một đạo lý thường tình, một triết lý đạo đức, triết học đạo đức.
Thế nhưng, khác với một số nhà triết học đương thời, Êpiquya không lấy chỉnh thể xã hội, mà lấy con người riêng biệt làm xuất phát điểm trong đạo đức triết học của mình Qua đó, Êpiquya đã xem xét lại định nghĩa về con người do Arítxtốt đưa ra Theo ông, cá nhân là cái mang tính thứ nhất, mọi mối quan hệ xã hội của con người đều phụ thuộc vào những cá nhân riêng biệt, vào những mong muốn chủ quan và những tính toán hợp lý về lợi ích và
sự thỏa mãn của họ Song, với tư cách là một đại diện của tầng lớp chủ nô quý tộc, khi xem xét con người một cách biệt lập khỏi hoạt động sản xuất, khỏi những sự biến đổi trong đời sống xã hội và mối quan hệ với các thành viên khác trong xã hội Điều này để lại dấu ấn riêng trong những quan niệm đạo
đức học của ông - cá nhân khép kín trong thế giới nội tâm là tâm điểm trong
học thuyết đạo đức của Êpiquya Theo ông, triết học phải khai hóa con người,
nâng cao sự hiểu biết của con người về thế giới xung quanh và bằng cách đó, làm cho con người hạnh phúc Với quan niệm này, ông khẳng định: ‟Lời nói của nhà triết học là vô ích, nếu không chữa khỏi những nỗi khổ đau của tâm hồn Y học không có lợi ích gì, nếu nó không xua đuổi bệnh tật khỏi cơ thể Triết học không có ích lợi gì, nếu nó không xua đuổi bệnh tật khỏi tâm hồn” [Dẫn theo: 43, tr.290-291]
Do vậy, nói về đạo đức học Êpiquya, trước hết chúng ta cần nói đến
quan niệm của ông về cuộc sống hạnh phúc.
Trang 37Trong suốt cuộc đời sáng tạo triết học của mình, Êpiquya không ngừng truyền bá sự hiểu biết sâu sắc của ông về bản chất của cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng các lý tưởng sống và mong muốn của tầng lớp chủ nô quý tộc Ông
cho rằng, hạnh phúc là khoái lạc, và đây cũng là luận điểm cơ bản trong học
thuyết về đạo đức của ông
Trong bức thư gửi Menơxiớt, Êpiquya cho rằng, chúng ta cần đến khoái lạc khi chúng ta chịu đau khổ vì không đạt được khoái lạc Còn khi chúng ta không chịu khổ đau thì đã chẳng cần đến khoái lạc Rằng, chúng
ta cảm thấy thiếu sự khoái lạc khi sự thiếu hụt này làm chúng ta cảm thấy đau khổ, nhưng khi chúng ta không cảm thấy đau khổ, chúng ta không còn cần đến sự khoái lạc nữa Từ đây, ông đưa ra kết luận: ‟Vì thế, chúng ta coi khoái lạc là sự khởi đầu và chấm dứt một cuộc sống hạnh phúc Chúng
ta coi khoái lạc là hạnh phúc tự nhiên, bẩm sinh và cơ bản nhất của chúng
ta Xuất phát từ niềm hạnh phúc này, từ những khoái lạc chúng ta bắt đầu
sự lựa chọn và từ chối Chúng ta trở về với khoái lạc, khi chúng ta đánh giá mọi điều thiện, tin tưởng vào cảm giác khoái lạc này như là sự hướng dẫn của chúng ta” [Dẫn theo: 44, tr.143]
Nói về bản chất và vai trò của sự hưởng thụ, Êpiquya cho rằng, do khoái lạc là sự thiện tự nhiên cơ bản nhất, nên chúng ta không cần lựa chọn mọi sự thiện và có những lúc cần phải bỏ qua sự khoái lạc, nếu chúng kéo theo những khổ đau to lớn hơn Cũng do vậy, có những lúc, chúng ta thấy sự đau khổ còn tốt hơn sự khoái lạc, nếu một sự khoái lạc lớn hơn sẽ đến với chúng ta sau khi chúng ta đã trải qua những đau khổ lâu dài Mọi khoái lạc đều là một sự thiện, vì nó có bản tính gần giống với bản tính của chúng ta Mặc dù vậy, không phải khoái lạc nào cũng đáng để chúng ta lựa chọn Cũng như vậy, mọi đau khổ đều là một sự xấu, nhưng không phải đau khổ nào chúng ta cũng nên xa lánh vào mọi lúc Bằng cách cân nhắc cái lợi, cái thiện,
Trang 38chúng ta sẽ có quyết định đúng khi lựa chọn, vì trong một số trường hợp, sự chiến thắng cũng được coi như một điều xấu và ngược lại, sự xấu được coi như điều thiện [Xem: 44, tr.143] Êpiquya còn cho rằng, khoái lạc trước hết là không phải chịu đau khổ Với ông, khoái lạc là trạng thái phủ định sự đau khổ, khi ông xem sự khoái lạc và sự đau khổ của con người trong một thể thống nhất cụ thể Với Êpiquya, khoái lạc và đau khổ, về cơ bản đối lập với nhau: nếu có khổ đau thì không có hoặc không thể có khoái lạc Với quan niệm này, Êpiquya khẳng định: ‟Ranh giới để đạt tới khoái lạc là khi nào hết mọi sự khổ đau Nơi nào có khoái lạc thì nơi đó không có khổ đau hay phiền muộn, hoặc không có cả hai thứ ấy cùng một lúc” [Dẫn theo: 44, tr.144].
Như vậy, theo Êpiquya, niềm khao khát khoái lạc được sinh ra khi có
sự khổ đau Sự khổ đau không chỉ triệt tiêu khoái lạc khi đối lập với khoái lạc,
mà còn làm cho con người không thể có khoái lạc và bắt con người phải khao khát đạt tới khoái lạc
Trong học thuyết đạo đức của Êpiquya, việc đạt được khoái lạc không phải là mục đích tự thân Nếu khoái lạc được định hình thông qua khổ đau thì nhu cầu khoái lạc cũng được thể hiện qua sự khổ đau Nếu hạnh phúc nhất thiết phải dựa trên mối quan hệ đối kháng này thì phải xem khoái lạc không phải là cái gì độc lập mà chính là điều kiện để đạt tới cuộc sống hạnh phúc Với quan điểm này, Êpiquya đã khẳng định: ‟Khoái lạc là khởi đầu và là mục đích cuối cùng của cuộc sống hạnh phúc” [Dẫn theo: 44, tr.143].
Với quan niệm như vậy về vị trí và vai trò của khoái lạc đối với cuộc sống hạnh phúc, Êpiquya cho rằng, để có cuộc sống hạnh phúc, chúng ta cần phải căn cứ vào tiêu chuẩn khoái lạc mà có thể hay quả quyết từ chối cái này hoặc lựa chọn cái kia Bởi lẽ, khoái lạc, theo quan niệm của ông, không phải
là những khoái lạc vụn vặt, nhất thời, chốc lát, mà là khoái lạc suốt đời, khoái
Trang 39lạc không có đau khổ Ông viết: ‟Khi chúng ta nói rằng khoái lạc là mục đích cuối cùng thì điều đó chỉ có nghĩa là chúng ta không nói đến thứ khoái lạc của những kẻ trụy lạc, hay thứ khoái lạc lệ thuộc vào sự hưởng thụ thể xác, thứ khoái lạc bao hàm trong lạc thú vật chất như một số người thường nghĩ , mà chúng ta nói đến thứ khoái lạc là sự giải thoát khỏi những đau khổ thể xác và những lo âu tinh thần Cái đem lại cuộc sống hạnh phúc không phải là nhờ ăn uống lu bù, được nhảy múa, giao hoan trụy lạc, hay được tham dự những bữa tiệc có đầy cao lương mỹ vị, Cuộc sống hạnh phúc là một cuộc sống giản dị, được tạo ra bởi lý trí biết xem xét động cơ của mọi sự lựa chọn hay từ chối, biết xua tan mọi ý kiến làm xáo trộn sự bình thản của tâm hồn” [Dẫn theo: 44, tr.143].
Êpiquya còn cho rằng, cuộc sống hạnh phúc là cuộc sống với cơ thể khỏe mạnh và tinh thần vô ưu Do vậy, theo ông, khi lựa chọn hoặc từ chối bất kỳ điều gì, chúng ta cần phải chú ý đến mục đích cuối cùng là cuộc sống
hạnh phúc, nghĩa là một cuộc sống vô ưu Do vậy có thể nói, tinh thần vô ưu
là tiêu chí quan trọng nhất của đạo đức học Êpiquya.
Trong học thuyết đạo đức của mình, Êpiquya không cho rằng khoái lạc đều là hạnh phúc Ông phân biệt rõ ràng khoái lạc nói chung với khoái lạc cụ thể Cơ sở để ông đưa ra sự phân biệt đó là mặc dù khoái lạc là hạnh phúc, nhưng không phải bất kỳ khoái lạc nào cũng mang đến cuộc sống vô ưu, đến cuộc sống hạnh phúc Trong khi đó, bất kỳ sự đau khổ nào cũng là bất hạnh
và dẫn đến sự ưu tư phiền muộn, từ đó hủy hoại sức khỏe và tinh thần vô ưu của con người
Êpiquya luôn coi khoái lạc là hạnh phúc đầu tiên và mang tính bẩm sinh của con người Do vậy, theo ông, không phải bất kỳ khoái lạc nào con người cũng lựa chọn, mà đôi khi con người cũng cần phải bỏ qua những khoái lạc dẫn đến sự ưu phiền Tương tự như vậy, đôi khi con người cũng có thể coi
Trang 40sự khổ đau còn có giá trị hơn cả khoái lạc, khi khoái lạc đến với họ sau một thời gian dài họ phải chịu khổ đau Như vậy, bất kỳ khoái lạc nào cũng là hạnh phúc, nhưng điều đó không có nghĩa là con người phải hướng đến mọi
sự khoái lạc Tương tự như vậy, mọi sự khổ đau đều là bất hạnh, nhưng không phải sự khổ đau nào cũng cần phải né tránh Nếu cân nhắc một cách kỹ lưỡng giữa cái có lợi và cái có hại đối với cuộc sống hạnh phúc, chúng ta sẽ thấy hạnh phúc cũng có khi là bất hạnh, còn bất hạnh lại có khi là hạnh phúc Với quan niệm này, Êpiquya đã chia khoái lạc thành hai dạng: khoái lạc tĩnh và khoái lạc động Trong một trích đoạn của tác phẩm ‟Về sự lựa chọn và sự né tránh”, Êpiquya cho rằng, tinh thần vô ưu và cơ thể khỏe mạnh là bản chất
của khoái lạc tĩnh, còn niềm vui và sự tiêu khiển là bản chất của khoái lạc động Đánh giá hai dạng khoái lạc này theo mức độ mà với chúng con người
có thể đạt được mục đích tồn tại của mình là cuộc sống hạnh phúc, ông cho rằng khoái lạc tĩnh tốt hơn khoái lạc động, bởi ‟sức khỏe và sự bình an tâm hồn” một khi ‟chúng được thỏa mãn”, con người sẽ cảm thấy ‟thế là đủ cho đời sống hạnh phúc” [Dẫn theo: 44, tr.142] Tuy nhiên, mặc dù không phủ
nhận khoái lạc động, nhưng cũng không coi đó là mục đích của cuộc sống đạo đức và ông khuyên con người hãy sử dụng nó một cách có điều độ, hợp lý Theo ông, mọi sự thái quá đều không dẫn đến sự bình yên và vì thế, chúng ta cần phải lên án mọi sự thái quá này Trong ‟Tuyển tập các trích đoạn Vanticăng”, nói về sự thái quá này, Êpiquya cho rằng, đa số mọi người đều
coi sự bình yên là ngây dại, còn hoạt động là sự điên rồ Không đồng ý với cách đánh giá này, Êpiquya đã lên tiếng chống lại sự thái quá trong cả hai dạng khoái lạc này
Khoái lạc hợp lý là yêu cầu cao nhất trong đạo đức học Êpiquya Như chúng ta đã biết, Êpiquya với tư cách một nhà duy cảm, mặc dù không