Trong những năm gần đây, thế giới đã chứng kiến sự bùng nổ của hoạt động du lịch trên toàn cầu. Du lịch đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia và kinh tế du lịch đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế thế giới và là nhu cầu cần thiết cho mọi người. Nghị định 45CP của chính phủ về đổi mới quản lý và phát triển ngành du lịch đă coi du lịch là ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xă hội của đất nước. Sự đổi mới do Đảng ta lănh đạo và khởi xướng đă thu được những thành tựu bước đầu quan trọng trên các mặt kinh tế xã hội ngoại giao. Nhận thức về vai trò, vị trí, hiệu quả nhiều mặt của du lịch trong nền kinh tế và hoạt động xã hội, ngành kinh doanh du lịch đă cố gắng xây dựng lực lượng, phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng qui mô hoạt động nhằm thoả măn nhu cầu của khách du lịch, với mục đích đem lại lợi nhuận cao, đồng thời hỗ trợ các ngành kinh tế khác cùng phát triển mạnh lên. Tuy nhiên trong kinh doanh du lịch còn có nhiều tồn tại cần được khắc phục như tình trạng thất thoát, lăng phí vật liệu chế biến, tiền vốn…Điều này đòi hỏi cần phải tăng cường quản lý chặt chẽ trong ngành du lịch mà đặc biệt là chi phí sản xuất và tính giá thành. Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành là khâu quan trọng trong toàn bộ công tác kế toán của các doanh nghiệp sản xuất nói chung, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch nói riêng. Chi phí sản xuất là những chi phí về sử dụng tài sản, vật liệu, lao động trong quá trình sản xuất, là cơ sở để cấu tạo nên giá thành sản phẩm. Vì vậy việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả những loại tài sản, nguyên vật liệu, lao động, tiền vốn đi đôi với việc phấn đấu hạ giá thành sản phẩm phải chăng là một nhiệm vụ chủ yếu của doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế của doanh nghiệp mà còn là một trong những điều kiện kiên quyết để tăng tích luỹ xă hội, tăng tốc độ quy mô phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cải thiện và nâng cao đời sống của người lao động. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ du lịch tại Công ty cổ phần tập đoàn xây dựng và du lịch Bình Minh” làm đề tài nghiên cứu.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm gần đây, thế giới đã chứng kiến sự bùng nổ của hoạt động
du lịch trên toàn cầu Du lịch đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiềuquốc gia và kinh tế du lịch đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế thế giới
và là nhu cầu cần thiết cho mọi người
Nghị định 45/CP của chính phủ về đổi mới quản lý và phát triển ngành du lịch
đă coi du lịch là ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xăhội của đất nước
Sự đổi mới do Đảng ta lănh đạo và khởi xướng đă thu được những thành tựubước đầu quan trọng trên các mặt kinh tế - xã hội - ngoại giao Nhận thức về vai trò,
vị trí, hiệu quả nhiều mặt của du lịch trong nền kinh tế và hoạt động xã hội, ngànhkinh doanh du lịch đă cố gắng xây dựng lực lượng, phát triển cơ sở vật chất kỹthuật, nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng qui mô hoạt động nhằm thoả măn nhucầu của khách du lịch, với mục đích đem lại lợi nhuận cao, đồng thời hỗ trợ cácngành kinh tế khác cùng phát triển mạnh lên
Tuy nhiên trong kinh doanh du lịch còn có nhiều tồn tại cần được khắc phụcnhư tình trạng thất thoát, lăng phí vật liệu chế biến, tiền vốn…Điều này đòi hỏi cầnphải tăng cường quản lý chặt chẽ trong ngành du lịch mà đặc biệt là chi phí sản xuất
và tính giá thành Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành là khâu quan trọngtrong toàn bộ công tác kế toán của các doanh nghiệp sản xuất nói chung, các doanhnghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch nói riêng Chi phí sản xuất là những chi phí về sửdụng tài sản, vật liệu, lao động trong quá trình sản xuất, là cơ sở để cấu tạo nên giáthành sản phẩm Vì vậy việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả những loại tàisản, nguyên vật liệu, lao động, tiền vốn đi đôi với việc phấn đấu hạ giá thành sảnphẩm phải chăng là một nhiệm vụ chủ yếu của doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầuquản lý kinh tế của doanh nghiệp mà còn là một trong những điều kiện kiên quyết
để tăng tích luỹ xă hội, tăng tốc độ quy mô phát triển sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp, cải thiện và nâng cao đời sống của người lao động
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, tác giả đã mạnh dạn chọn đề
tài “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ du lịch tại Công ty cổ phần tập đoàn xây dựng và du lịch Bình Minh” làm đề tài nghiên cứu.
Trang 22 Tổng quan nghiên cứu về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành trong các doanh nghiệp
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm giữ một vai trò rấtquan trọng trong công tác kế toán của doanh nghiệp, do đó đã có nhiều công trìnhnghiên cứu của nhiều tác giả ở những góc độ khác nhau, trong những bối cảnh khácnhau về đề tài này Các nghiên cứu:
- Luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu tổ chức kế toán quản trị chi phí và giá thành sảnphẩm trong các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam”, tác giả Đỗ Thị Mai Thơm(Năm 2012) - Trường Đại học Hằng Hải Việt Nam
Trong luận án này, tác giả đã tập trung nghiên cứu và đưa ra các giải pháp đểxây dựng một mô hình tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí và tính giá thànhvận tải biển cho các DNVTB Việt Nam Luận án đã có một số điểm mới sau:
+ Phân tích, nhận diện chi phí vận tải theo góc độ của kế toán quản trị, ứngdụng phương pháp xác định chi phí hỗn hợp vào công tác dự toán chi phí chuyến đicho tàu
+ Xây dựng hệ thống chứng từ, tài khoản kế toán chi phí chi tiết, sổ kế toánquản trị chi phí trên cơ sở kết hợp chặt chẽ với hệ thống chứng từ, tài khoản kế toántổng hợp, sổ kế toán tài chính hiện hành
- Luận án tiến sĩ: “Hoàn thiện công tác hạch toán chi phí và tính giá thành sảnphẩm may mặc sẵn trong điều kiện hiện nay”, tác giả Hoàng Đức Long (Năm 2000)
- Trường Đại học Tài chính - Kế toán Hà Nội Luận án này đã khái quát những cơ
sở lý luận của kế toán chi phí và giá thành sản phẩm Phản ánh được thực trạngcông tác kế toán và đưa ra được các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sảnxuất và tính giá thành sản phẩm may mặc sẵn tại các doanh nghiệp may Một điểmmới trong luận án này, tác giả đã đưa ra được giải pháp xây dựng mô hình kế toánquản trị trong các doanh nghiệp may mặc, tuy nhiên tác giả nên tách biệt giữaKTTC và KTQT trong phần cơ sở lý luận sẽ làm cho luận án cuốn hút hơn
- Luận văn thạc sĩ: “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sảnphẩm tại Công ty cổ phần đầu tư và phát triển xây dựng Hà Tây”, Nguyễn Thị ÁnhNguyệt (Năm 2012) - Trường Học viện tài chính Đề tài đã trình bày khái quátnhững lý luận cơ bản của kế toán chi phí và giá thành trên phương diện kế toán tàichính và kế toán quản trị, phân tích thực trạng kế toán, đánh giá được những hạnchế và nguyên nhân khắc phục chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công
ty Cổ phần đầu tư và phát triển xây dựng Hà Tây Trên cơ sở đó đề xuất những định
Trang 3hướng hoàn thiện công tác kế toán của công ty trên phương diện KTTC và KTQT.Một điểm mới của đề tài này là ứng dụng kế toán quản trị trong hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, cụ thể như sau:
+ Tổ chức vận dụng phân tích mối quan hệ chi phí – khối lượng – lợi nhuậntrong việc ra quyết định kinh doanh
+ Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán đảm bảo thực hiện kế toán quản trị
+ Hoàn thiện việc lập dự toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.+ Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ phục vụ cho việc quản trị nói chung vàquản trị chi phí sản xuất và giá thành nói riêng
- Luận văn thạc sĩ: “Hoàn thịên kế toán chi phí kinh doanh và tính giá thànhsản phẩm dịch vụ buồng ngủ ở các khách sạn du lịch tại Tổng cục du lịch ViệtNam”, Nguyễn Thị Hương, năm 2005 Đề tài đã trình bày một số vấn đề lý luận cơbản về kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại doanh nghiệp, thực trạng côngtác kế toán, đánh giá kết quả đạt được, những ưu điểm, hạn chế, đề xuất những giảipháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí kinh doanh và tính giá thành sản phẩm dịch
vụ buồng ngủ trong các khách sạn du lịch thuộc Tổng cục du lịch Việt Nam Tuynhiên, luận văn chỉ đi khai thác và phân tích những khía cạnh KTTC, chưa thấy đềcập KTQT trong hoạt động kinh doanh
- Bài “Kế toán quản trị chi phí với hoạt động kinh doanh du lịch”, Nguyễn ĐăngQuốc Hưng (Năm 2011) - Trường trung học kinh tế kỹ thuật Đức Minh, Đà Nẵng
Trong bài viết này, tác giả cũng đã trình bày được những vấn đề sau:
+ Đặc điểm kế toán quản trị chi phí trong hoạt động kinh doanh du lịch
+ Nội dung kế toán quản trị chi phí trong các đơn vị kinh doanh du lịch
+ Những tồn tại cần khắc phục trong kế toán quản trị chi phí ở các đơn vị kinhdoanh du lịch
Để thực hiện đề tài nghiên cứu, luận văn tập trung phân tích và giải quyết cácvấn đề sau:
Thứ nhất, lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch là gì?
Thứ hai, thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ ăn uống tại
Công ty cổ phần tập đoàn xây dựng và du lịch Bình Minh như thế nào?
Thứ ba, những kết quả đạt được và những hạn chế cần khắc phục về kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ ăn uống tại Công ty cổ phần tập đoàn xâydựng và du lịch Bình Minh
Trang 4Thứ tư, cần áp dụng những giải pháp nào để hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành dịch vụ ăn uống tại Công ty cổ phần tập đoàn xây dựng và du lịchBình Minh cùng điều kiện thực hiện các giải pháp đó
Trên cơ sở những vấn đề đã tập trung phân tích và giải quyết trong luận văn, tácgiả đã đặt ra vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu đó là: Xây dựng mô hình công tác kếtoán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ du lịch nói chung cho những doanhnghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trịmột cách hiệu quả nhất, đáp ứng yêu cầu công việc tốt nhất
3 Mục tiêu nghiên cứu
Về mặt lý luận: Tập trung nghiên cứu, hệ thống hóa, làm sáng tỏ những vấn đề
lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm trong các doanhnghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch
Về mặt thực tiễn: Tìm hiểu, phân tích, đánh giá đúng thực trạng kế toán chi phí
sản xuất và tính giá thành dịch vụ ăn uống tại Công ty cổ phần tập đoàn xây dựng
và du lịch Bình Minh, từ đó chỉ rõ ưu điểm, đưa ra những vấn đề tồn tại mà doanhnghiệp cần khắc phục
Trên cơ sở những vấn đề tồn tại và tìm hiểu nguyên nhân, đề tài đưa ra cácgiải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ ănuống tại Công ty cổ phần tập đoàn xây dựng và du lịch Bình Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu những lý luận chung về kếtoán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch và thực trạng kế toánchi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm dịch vụ ăn uống tại Công ty cổ phần tậpđoàn xây dựng và du lịch Bình Minh
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào nghiên cứu lý luận và thực trạng kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm dịch vụ ăn uống tại Công ty cổ phần tập đoàn xây dựng
và du lịch Bình Minh dưới góc độ kế toán tài chính và kế toán quản trị Qua đó đưa
ra các kết luận và phát hiện các vấn đề tồn tại cần khắc phục nhằm hoàn thiện hơn
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dịch vụ ăn uống tại Công ty
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở số liệu kế toán tài chính năm 2011 đến năm 2012tại Công ty cổ phần tập đoàn xây dựng và du lịch Bình Minh
Trang 55 Phương pháp nghiên cứu
Để đi sâu vào việc thực hiện nghiên cứu đề tài thì việc xác định các phươngpháp nghiên cứu sẽ là chìa khóa quan trọng để tác giả có thể hoàn thành mục tiêu
đề tài Trong luận văn này tác giả đã sử dụng hai phương pháp nghiên cứu cơ bản
đó là phương pháp thu nhận dữ liệu và phương pháp phân tích, xử lý thông tin cụthể như sau:
Phương pháp thu nhận dữ liệu: Để thu thập được dữ liệu, tác giả đã sử dụng kết
hợp đồng thời một số phương pháp như: Phương pháp phỏng vấn, phương phápquan sát, phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phỏng vấn:
Được thực hiện thông qua việc tác giả chủ động gặp gỡ trao đổi với nhàquản lý, đại diện các bộ phận trong Công ty nhằm mục đích thu thập những thôngtin mà phương pháp điều tra không thể có được về công tác kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành Đối tượng được tác giả tiến hành phỏng vấn là: Giám đốc, cácphó giám đốc, quản đốc bộ phận, kế toán trưởng và một số người có liên quan tớicông tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành, đề nghị họ mô tả lại công việchoặc thu thập ý kiến cá nhân để đưa ra các biện pháp hoàn thiện kế toán chi phí sảnxuất và tính giá thành dịch vụ ăn uống tại công ty cổ phần tập đoàn xây dựng và dulịch Bình Minh Tác giả tiến hành phỏng vấn gặp trực tiếp người được phỏng vấn và
sử dụng phương tiện lưu trữ thông tin như giấy bút ghi chép, máy ghi âm
- Phương pháp quan sát:
Tác giả trực tiếp quan sát cách thức làm việc tại các bộ phận của công
ty như: Quan sát công việc thủ kho ở bộ phận kho để theo dõi về hoạt độngnhập, xuất vật liệu trong kho Quan sát công việc của nhân viên bộ phận kếtoán như: Kế toán tiền lương, kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, kếtoán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm…về quá trình luân chuyển vàtập hợp chứng từ, các loại chứng từ, báo cáo, sổ kế toán, quan sát quy trìnhnhập dữ liệu vào máy và quá trình xử lý kế toán Quan sát quá trình làm việccủa nhân viên bộ phận bếp để biết được quy trình hoạt động kinh doanh của bộphận Sau đó ghi lại các thông tin đã thu thập trên vào giấy, đối với thông tin
Trang 6chi tiết như số lượng lao động, trình độ lao động, các loại tài sản, vật tư, công
cụ dụng cụ chi tiết sẽ thực hiện thu thập dữ liệu bằng file word, exel mà phòng
kế toán cung cấp
Thông qua phương pháp này tác giả có thể thấy được mô hình tổ chức hoạtđộng kinh doanh, môi trường làm việc và tác phong giải quyết các công việc củacác bộ phận cũng như có được các thông tin dẫn liệu cơ bản về công tác kế toán chiphí sản xuất và tính giá thành trong công ty
-Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Nghiên cứu tài liệu giúp người đọc hiểu được lịch sử của vấn đề nghiêncứu, thông qua việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu của các tác giả ở trongnước và ngoài nước về kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch
Từ kết quả phân tích tư liệu, tác giả đã hệ thống hoá được những vấn đề nghiêncứu trọng tâm của đề tài, xác định được những lý luận cơ bản làm cơ cở cho việcđiều tra thực tiễn
Giai đoạn đầu tiên của phương pháp nghiên cứu tài liệu là giai đoạn chuẩn bị
và xác định tài liệu nghiên cứu Đó là các tài liệu liên quan đến kế toán chi phí sảnxuất và tính giá thành sản phẩm dịch vụ ăn uống của Công ty, chế độ kế toán doanhnghiệp và các chuẩn mực kế toán Việt Nam, chuẩn mực kế toán quốc tế có liênquan; các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về vấn đề này Quá trìnhnày nhằm thu thập kiến thức chuyên môn hình thành nên cơ sở lý luận vững chắc vềvấn đề nghiên cứu
Phương pháp phân tích, xử lý thông tin:
Toàn bộ thông tin sau khi được tác giả thu nhận bằng các phương pháp khácnhau như thông tin trên sách báo, các tạp chí webside, chế độ chính sách, luật haycác thông tin thu nhận được qua các cuộc phỏng vấn, qua quan sát được tác giảphân loại lại một cách khoa học, sau đó phân tích để xem xét sự phù hợp của chế độ
kế toán Việt Nam với thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ
ăn uống tại Công ty, diễn đạt kết quả và đưa ra kết luận Từ đó làm cơ sở cho cáckiến nghị, đề xuất của luận văn tại Công ty cổ phần tập đoàn xây dựng và du lịchBình Minh
Trang 76 Kết cấu luận văn
Ngoài phần tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục
sơ đồ hình vẽ, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được tác giảchia thành ba chương như sau:
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch
vụ ăn uống tại Công ty cổ phần tập đoàn xây dựng và du lịch Bình Minh
Trang 8CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH 1.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch tác động đến kế toán chi phí và giá thành sản phẩm.
1.1.1 Khái niệm và vai trò của hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch
Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú,
ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đápứng nhu cầu của khách du lịch
Hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, mang hiệuquả cao, bao gồm nhiều ngành nghề khác nhau, đa dạng phong phú về mặt hoạtđộng Tuy nhiên, các hoạt động đó có thể phân về các loại sau:
- Hoạt động mang tính dịch vụ đơn thuần: Thuộc loại này bao gồm các hoạtđộng như hướng dẫn du lịch, vận tải hàng hóa, kinh doanh khách sạn, nhà hàng,kinh doanh các dịch vụ vui chơi, giải trí…
- Hoạt động mang tính kinh doanh hàng hóa: Kinh doanh hàng hóa lưu niệm,kinh doanh các vật phẩm phục vụ du khách
- Hoạt động mang tính sản xuất: Sản xuất hàng lưu niệm, sản xuất bánh kẹo,
đồ uống, đồ hộp hoặc chế biến các món ăn…
Ngành kinh doanh dịch vụ du lịch nói chung là một ngành công nghiệpkhông khói Hiện nay, du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu của con ngườitrong đời sống công nghiệp hiện đại Trong xu thế quốc tế toàn cầu hóa thì ngành dulịch giữ vai trò đặc biệt quan trọng cho thu nhập kinh tế quốc dân Đặc biệt, xu thếhiện nay là xu thế mở cửa về kinh tế ở trong nước, trong khu vực và trên toàn thếgiới Ngành du lịch cũng theo đó đóng vai trò quan trọng trong việc xuất khẩu vôhình và xuất khẩu tại chỗ, thu nhiều nguồn ngoại tệ về cho đất nước, giải quyết nạnthất nghiệp có xu hướng gia tăng, khai thác các nguồn lao động dư thừa, thúc đẩycác ngành kinh tế khác phát triển Thông qua phát triển du lịch, thế giới hiểu hơn vềđất nước và con người Phát triển trên cơ sở khai thác có hiệu quả về lợi thế tựnhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa lịch sử, huy động tối đa nguồn lực trong nước
và tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ của quốc tế, góp phần thực hiện công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước
Trang 9Kinh doanh dịch vụ du lịch phát triển đã trở thành một lĩnh vực giữ vị trí ngàycàng quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia Với nước ta, phát triển lĩnhvực kinh doanh dịch vụ du lịch càng trở nên cấp thiết và hiện Chính phủ cũng cónhiều chính sách khuyến khích đầu tư phát triển lĩnh vực này Bên cạnh đó, mứcsống của người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu của con người về chất lượngdịch vụ càng khắt khe hơn Do đó, kinh doanh dịch vụ du lịch cũng cần phải đượccải thiện để phù hợp với sự phát triển của xã hội và xác định cho mình một hướngphát triển hiện đại, chất lượng cao, phục vụ tốt nhu cầu của du khách.
1.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch
Vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh du lịch thường lớn vì đặc điểm củangành này yêu cầu chất lượng phục vụ cao, thời gian thu hồi vốn nhanh, tỷ lệ lợinhuận trên vốn đầu tư lớn, là ngành kinh tế có hiệu quả cao Đối tượng phục vụ củangành du lịch luôn di động và phức tạp
Kinh doanh du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, bao gồm nhiều ngành hoạt độngkhác nhau như: Kinh doanh hướng dẫn du lịch, kinh doanh hàng hoá, kinh doanhvận tải, kinh doanh ăn uống, khách sạn…Các hoạt động này có quy trình công nghệkhác nhau, chi phí kinh doanh cũng không giống nhau
Sản phẩm du lịch phần lớn là dịch vụ, không mang hình thái vật chất cụ thểnhư hàng hóa thông dụng khác, quá trình sản xuất ra sản phẩm đồng thời là quátrình tiêu thụ, nghĩa là các dịch vụ được thực hiện trực tiếp với khách hàng nhưhướng dẫn viên du lịch, vận chuyển hành khách du lịch, kinh doanh buồng ngủ,kinh doanh dịch vụ ăn uống
Hoạt động kinh doanh du lịch vừa mang tính sản xuất, vừa mang đặc điểmkinh doanh dịch vụ và mang tính chất văn hóa xã hội Trong đó, mặt sản xuất kinhdoanh dịch vụ là cơ bản và là một ngành đặc biệt mang tính chất pha trộn đặc điểmcủa nhiều ngành Các hoạt động khác nhau đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chứccác đơn vị, bộ phận thực hiện từng loại hoạt động với các yếu tố vật chất đặc điểm
kỹ thuật khác nhau nhằm phục vụ đầy đủ nhu cầu của khách du lịch trong thời gianlưu trú tại địa điểm du lịch Điều này đã dẫn đến nhiều quan hệ chi phí phát sinh vềcung cấp dịch vụ lẫn nhau
Hoạt động kinh doanh mang tính thời vụ rõ rệt, phụ thuộc vào nhiều điều kiện
tự nhiên, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, điều kiện di sản lịch sử văn hóa, phongcảnh độc đáo, hấp dẫn
Trang 10Tính pha trộn phức tạp trong hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch dẫn đếnsản phẩm du lịch biểu hiện rất đa dạng Chi phí cấu thành trong sản phẩm du lịchcũng rất phức tạp, điều này không những gây khó khăn cho việc xác định nội dungphạm vi của các khoản mục chi phí trong giá thành sảm phẩm, mà trong nhiềutrường hợp còn rất khó khăn trong việc phân định biến phí và định phí, cũng nhưviệc tổ chức kế toán quản trị chi phí.
Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dịch vụ du lịch diễn ra cùng lúc nênsản phẩm du lịch về cơ bản là không thể lưu kho được nên hầu như không phát sinhchi phí tồn kho thành phẩm Sản phẩm du lịch có chu kỳ sản xuất rất ngắn và quátrình tiêu thụ đồng thời nên không xuất hiện sản phẩm dở dang Vì vậy, tổng giáthành các sản phẩm dịch vụ du lịch bằng với tổng chi phí phát sinh liên quan đếntừng hoạt động
Từ các đặc điểm nêu trên ta thấy trong quá trình hoạt động du lịch đòi hỏi một
số lượng lớn vật tư hàng hóa đa dạng về dịch vụ Do vậy, việc phát triển du lịchchẳng những có ý nghĩa về mặt kinh tế là tạo ra công ăn việc làm cho nhân dân địaphương, tăng thu nhập quốc dân mà còn có ý nghĩa về mặt chính trị, xã hội là thayđổi bộ mặt kinh tế - xã hội ở các vùng du lịch Vì vậy, nội dung hạch toán chủ yếucủa đơn vị du lịch là hạch toán nghiệp vụ kinh doanh hàng hóa và cung cấp dịch vụcho khách du lịch Thu nhập chủ yếu của các đơn vị du lịch là số chênh lệch giữatiền thu của khách du lịch với số chi phí đã thực hiện cho các dạng hoạt động kinhdoanh hàng hóa Đặc điểm của hoạt động kinh doanh dịch vụ là chỉ tính được giáthành thực tế của khối lượng dịch vụ đã thực hiện, tức là khối lượng dịch vụ đãđược coi là tiêu thụ Kỳ tính giá thành là hàng tháng hoặc hàng quý
1.2 Chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch
1.2.1 Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất kinh doanh dịch vụ du lịch
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực chất là quá trình tiêudùng các yếu tố sản xuất kinh doanh (tư liệu lao động, đối tượng lao động và sứclao động) để tạo ra các sản phẩm, công việc, lao vụ nhất định nhằm đáp ứng nhucầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội Trong quá trình này, một mặt doanh nghiệptiêu dùng một bộ phận nguồn lực (làm phát sinh chi phí), mặt khác doanh nghiệptạo ra nguồn lực mới dưới dạng sản phẩm, công việc, lao vụ Khái niệm chi phíđược hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Theo nghĩa đơn giản nhất chi phí được sử
Trang 11dụng để phản ánh giá trị của các nguồn lực đã hao phí để sản xuất ra một đơn vị sảnphẩm hoặc dịch vụ nào đó.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 “Chi phí là tổng giá trị các khoảnlàm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, cáckhoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sởhữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu” Như vậy, chiphí được nhìn nhận như những khoản phí tổn đã phát sinh gắn liền với hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, được kế toán ghi nhận trên cơ sở chứng từ,tài liệu, bằng chứng chứng minh việc phát sinh của chúng Định nghĩa này phù hợpkhi đứng trên góc độ của đối tượng sử dụng thông tin kế toán tài chính, chủ yếu làcác đối tượng bên ngoài doanh nghiệp
Như vậy, chi phí sản xuất dịch vụ du lịch là toàn bộ các hao phí về lao độngsống và lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp chi ra trongquá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ du lịch biểu hiện bằng thước đotiền tệ, được tính cho một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm)
Trên góc độ của kế toán tài chính, chi phí được nhìn nhận như những khoảnphí tổn đã phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp bao gồm các chi phíphát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanhnghiệp và các chi phí khác Những chi phí này phát sinh dưới dạng tiền, các khoảntương đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc, thiết bị, được kế toán ghi nhậntrên cơ sở chứng từ, tài liệu bằng chứng chứng minh việc phát sinh của chúng Ví
dụ, khi xuất kho vật liệu dùng vào sản xuất kinh doanh, tạo ra chi phí gây ra sựgiảm đi của giá trị hàng tồn kho, gắn liền với sản xuất kinh doanh và được chứngminh bằng chứng từ là phiếu xuất kho vật tư
Trên góc độ của kế toán quản trị: Mục đích của kế toán quản trị chi phí là cungcấp thông tin thích hợp về chi phí, kịp thời cho việc ra quyết định của các nhà quảntrị doanh nghiệp Vì vậy, đối với kế toán quản trị chi phí không đơn thuần nhận thứcchi phí như kế toán tài chính, mà chi phí còn được nhận thức theo cả khía cạnh nhậndạng thông tin để phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh Vì vậy, chi phí có thể
là phí tổn thực tế đã chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngàykhi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết định và cũng có thể là chi phí ước tính khithực hiện dự án hay giá trị lợi ích mất đi khi lựa chọn phương án, hoạt động này mà
Trang 12bỏ qua cơ hội kinh doanh khác Khi đó, trong kế toán quản trị chi phí lại cần chú ýđến việc nhận diện chi phí phục vụ cho việc so sánh, lựa chọn phương án tối ưutrong từng tình huống ra quyết định kinh doanh cụ thể, mà ít chú ý hơn vào chứngminh chi phí phát sinh bằng các chứng từ kế toán.
Bản chất kinh tế của chi phí được thể hiện ở các điểm sau:
Nội dung của chi phí có thể biểu hiện bằng công thức: C + V +M1
Trong đó: C là hao phí lao động vật hóa – giá trị của tư liệu sản xuất đã tiêu hao nhưkhấu hao TSCĐ, chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ
V là hao phí lao động sống như chi phí về tiền lương (tiền công) phải trả chongười lao động tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh
M1 là một phần giá trị mới sáng tạo ra như các khoản trích theo tiền lương:BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN; các khoản thuế có tính chất chi phí như thuế tàinguyên, thuế môn bài, thuế nhà đất, chi phí lãi vay
- Các chi phí của doanh nghiệp phải được đo lường và tính toán bằng tiền trong mộtkhoảng thời gian xác định (tháng, quý, năm)
- Xét ở góc độ doanh nghiệp, chi phí luôn có tính cá biệt, nó bao gồm tất cả cáckhoản chi phí mà doanh nghiệp phải chi ra để tồn tại và hoạt động
- Độ lớn của chi phí phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản:
+ Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã tiêu hao trong một thời gian nhất định+ Giá cả các tư liệu sản xuất đã tiêu hao và tiền công của một đơn vị lao động đãhao phí
Không ít các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh còn nhầm lẫngiữa chi phí và chi tiêu Vậy chi phí khác chi tiêu như thế nào?
Chi tiêu của doanh nghiệp là sự chi ra, sự giảm đi đơn thuần của tài sản bằngtiền trong doanh nghiệp, không kể các khoản chi tiêu đó dùng vào việc gì, dùng nhưthế nào Chi tiêu trong kỳ của doanh nghiệp bao gồm: Chi cho quá trình mua hàng(chi mua sắm vật tư, hàng hóa…), chi cho quá trình sản xuất kinh doanh (chi chosản xuất chế tạo sản phẩm), chi cho quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa (chi vậnchuyển, bốc dỡ, quảng cáo…), chi cho hoạt động quản lý và cho các hoạt động kháccủa doanh nghiệp
Còn chi phí chỉ bao gồm những hao phí về tài sản và lao động có liên quanđến việc tạo ra doanh thu và thu nhập để hình thành lợi nhuận của kỳ hạch toán chứkhông phải mọi khoản chi trong kỳ
Trang 13Giữa chi tiêu và chi phí có mối liên hệ mật thiết với nhau Chi tiêu là cơ sởphát sinh chi phí, không có chi tiêu thì không có phát sinh chi phí Nhưng chi tiêu
và chi phí là hai khái niệm khác nhau Giữa chi tiêu và chi phí của doanh nghiệptrong cùng một thời kỳ có sự khác nhau về lượng và về thời gian
*) Sự khác nhau về lượng: Chi phí của doanh nghiệp không bao gồm các khoản chi
tiêu có đặc điểm sau:
- Các khoản chi tiêu làm giảm tài sản bằng tiền nhưng làm tăng tài sản khác trongdoanh nghiệp (Ví dụ: Dùng tiền mặt, TGNH mua hàng hóa, công cụ dụng cụ…)
- Các khoản chi tiêu làm giảm tài sản nhưng đồng thời cũng làm giảm một khoản nợphải trả của doanh nghiệp (ví dụ: Dùng tiền để nộp thuế, trả nợ người bán, trả lươngcho nhân viên…)
Sự khác biệt này sẽ làm tổng chi tiêu và tổng chi phí của doanh nghiệp trongmột kỳ không bằng nhau
*) Sự khác nhau về thời gian: Do có sự không phù hợp về thời gian phát sinh các
khoản chi tiêu và thời gian phát huy tác dụng của nó đối với thu nhập của doanh nghiệp
- Có những khoản chi tiêu ở kỳ này nhưng còn được chờ để phân bổ vào chi phí của
kỳ sau (chi phí trả trước)
- Có những khoản chưa chi tiêu ở kỳ này (sẽ chi ở kỳ sau) nhưng đã được tính trướcvào chi phí của kỳ này (chi phí phải trả)
Sở dĩ có sự khác biệt giữa chi tiêu và chi phí của một kỳ trong doanh nghiệp
là do đặc điểm, tính chất vận động và phương thức chuyển dịch giá trị của từng loạitài sản vào quá trình sản xuất kinh doanh cũng như yêu cầu của hạch toán
Tại các doanh nghiệp, chi phí bao gồm nhiều loại có tính chất kinh tế, côngdụng khác nhau và yêu cầu quản lý đối với từng loại cũng khác nhau Việc quản lýchi phí không chỉ căn cứ vào số liệu tổng chi phí mà phải theo dõi, kiểm soát dựavào số liệu của từng loại chi phí Bởi vậy, muốn quản lý tốt chi phí tất yếu phảiphân loại chi phí
1.2.1.1 Phân loại chi phí sản xuất dịch vụ du lịch dưới góc độ kế toán tài chính
Theo quan điểm kế toán tài chính thì chi phí được nhìn nhận như những khoảnphí tổn phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để đạt được một sảnphẩm, lao vụ dịch vụ nhất định Nó được xác định bằng một lượng tiền chi ra, mộtmức giảm sút giá trị tài sản, một khoản phí tổn làm giảm vốn chủ sở hữu của doanh
Trang 14nghiệp Đặc biệt nó phải được xác định trên cơ sở các chứng từ, tài liệu chắc chắn.Trong dịch vụ du lịch được tiến hành theo nhiều tiêu thức khác nhau:
* Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí
* Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí
* Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí và đối tượng chịuchi phí
a Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí
Đây là cách phân loại chi phí mà các chi phí có cùng nội dung bản chất kinh tếthì được xếp chung vào một yếu tố, một nhóm, chúng không phân biệt chi phí đóphát sinh ở lĩnh vực sản xuất nào, ở đâu và mục đích tác dụng của chi phí đó ra saotrong quá trình sản xuất Theo Chế độ kế toán hiện hành thì chi phí theo yếu tố đượcchia ra làm năm yếu tố sau đây:
+ Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ chi phí về các loại nguyênliệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế dùng cho sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp
+ Chi phí nhân công: Bao gồm toàn bộ số tiền công phải trả nhân viên, tiềntrích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN trên tiền lương và các khoản khác phải trả chongười lao động
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: Bao gồm toàn bộ số trích khấu hao củanhững tài sản cố định dùng cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ số tiền trả cho các dịch vụ muangoài phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phíđiện, nước, điện thoại…
+ Chi phí khác bằng tiền: Bao gồm toàn bộ các chi phí khác phát sinh dùngcho hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài bốn chi phí nói trên
Phân loại chi phí theo tiêu thức này cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại chiphí sản xuất mà doanh nghiệp đã chi ra để lập bản thuyết minh báo cáo tài chính,phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí cho kỳ sau
b Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí.
Chi phí sản xuất là toàn bộ các khoản chi phí phát sinh tại các phân xưởng, tổ đội,
bộ phận sản xuất gắn liền với hoạt động sản xuất chế tạo sản phẩm của doanh nghiệp.Theo cách phân loại này thì chi phí sản xuất bao gồm các loại chi phí sau đây:
Trang 15+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ chi phí nguyên liệu phát sinhliên quan trực tiếp đến kinh doanh dịch vụ du lịch Trong từng hoạt động kinhdoanh, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp không giống nhau.
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Là các khoản chi phí phải trả cho công nhântrực tiếp thực hiện quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực hiện các dịch vụ, baogồm lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền công và các khoản trích theotiền lương (BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN) được tính vào chi phí sản xuất trong kỳcủa công nhân trực tiếp thực hiện quá trình sản xuất
+ Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí còn lại mà doanh nghiệp kinhdoanh dịch vụ chi ra trong phạm vi các bộ phận kinh doanh
Phân loại chi phí sản xuất theo cách này giúp quản lý định mức chi phí, cungcấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
c Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí và đối tượng chịu chi phí.
Theo tiêu thức này, chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi phí trựctiếp và chi phí gián tiếp Trong đó:
+ Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến đối tượng tập hợpchi phí Chi phí trực tiếp có thể căn cứ vào chứng từ gốc để ghi trực tiếp vào đốitượng tập hợp chi phí như: Chi phí nguyên liệu, vật liệu chính, vật liệu phụ, tiềnlương công nhân sản xuất
+ Chi phí gián tiếp: Là những chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợpchi phí Về phương diện kế toán, chi phí gián tiếp không thể căn cứ vào chứng từgốc để ghi trực tiếp vào từng đối tượng chịu chi phí mà phải tập hợp chung chi phí
có liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí vào một tài khoản riêng, cuối kỳ tínhtoán phân bổ cho các đối tượng tập hợp chi phí theo những tiêu thức hợp lý Trongdoanh nghiệp, thuộc loại chi phí gián tiếp bao gồm: Chi phí nhân viên quản lý ở các
bộ phận, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí công cụ, dụng cụ, chi phí dịch vụ muangoài, chi phí khác bằng tiền
Phân loại chi phí theo cách này giúp xác định phương pháp kế toán tập hợp
và phân bổ chi phí cho các đối tượng được đúng đắn và hợp lý
Trang 161.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất dưới góc độ kế toán quản trị.
a Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ của chi phí với các khoản mục trên Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Theo cách phân loại này, chi phí của doanh nghiệp được chia thành chiphí sản phẩm và chi phí thời kỳ
- Chi phí sản phẩm là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuấtchế tạo sản phẩm hay quá trình mua hàng hóa để bán Đối với doanh nghiệp sảnxuất thì chi phí sản phẩm là chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân côngtrực tiếp và chi phí sản xuất chung, còn đối với doanh nghiệp thương mại chi phísản phẩm chính là giá mua hàng hóa và chi phí mua hàng hóa
Đặc điểm của chi phí sản phẩm là khi sản phẩm, hàng hóa chưa được bán
ra thì chi phí sản phẩm được phản ánh trong giá thành hàng tồn kho trên Bảngcân đối kế toán Khi sản phẩm, hàng hóa được bán ra thì chi phí sản phẩm sẽđược chuyển vào chỉ tiêu giá vốn hàng bán trên báo cáo kết quả hoạt động kinhdoanh Như vậy, một vòng luân chuyển của chi phí sản phẩm có thể ảnh hưởngđến kết quả hoạt động kinh doanh của nhiều kỳ, gắn liền với nhiều rủi ro tiềmtàng từ sự biến động của thị trường
+ Chi phí thời kỳ: Là những chi phí để hoạt động kinh doanh trong kỳkhông tạo nên giá trị hàng tồn kho mà trực tiếp làm giảm lợi nhuận của kỳ màchúng phát sinh Chi phí thời kỳ bao gồm: Chi phí bán hàng và chi phí quản lýdoanh nghiệp
Chi phí thời kỳ phát sinh ở thời kỳ nào được tính ngay ở thời kỳ đó, ảnhhưởng đến lợi tức của thời kỳ mà chúng phát sinh Còn chi phí sản phẩm chỉ phảitính ở thời kỳ mà sản phẩm được tiêu thụ không phải tính ở thời kỳ mà chúngphát sinh
b Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với mức độ hoạt động (hay theo cách ứng xử của chi phí)
Theo tiêu thức này, chi phí được phân thành 3 loại: Biến phí (chi phí khảbiến), định phí (chi phí bất biến) và chi phí hỗn hợp
- Biến phí: Là những chi phí thay đổi về tổng số, tỷ lệ với sự thay đổi củamức độ hoạt động Về phương diện lý thuyết, biến phí có hai dạng sau:
Trang 17+ Biến phí tỷ lệ: Là những khoản biến phí thay đổi về tổng số, tỷ lệ thuậnvới sự thay đổi của mức độ hoạt động như: Chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhâncông trực tiếp trả theo sản phẩm, hoa hồng bán hàng.
Về mặt toán học, biến phí tỷ lệ có thể được biểu diễn bằng phương trình:
Y = b.x (Với Y là tổng biến phí; b là biến phí đơn vị; x là mức độ hoạt động)
Sơ đồ 1.1: Đồ thị biến phí tỷ lệ
+ Biến phí cấp bậc: Là những biến phí chỉ thay đổi khi mức độ hoạt độngthay đổi đến một phạm vi giới hạn nào đó Khác với biến phí tỷ lệ, biến phí cấp bậccũng được xem là một loại biến phí nhưng cách ứng xử của nó không giống nhưbiến phí tỷ lệ (không tuyến tính với sự thay đổi của mức độ hoạt động)
Về toán học, tổng biến phí cấp bậc có thể biểu diễn bằng phương trình:
Y = ∑bi*xi (Với bi là biến phí một đơn vị mức độ hoạt động ở phạm vi i)
Sơ đồ 1.2: Đồ thị biến phí cấp bậc
- Định phí: Là những khoản chi phí không thay đổi về tổng số khi mức độhoạt động thay đổi trong phạm vi phù hợp Định phí sẽ luôn tồn tại cho dù doanhnghiệp có hay không có hoạt động Trong doanh nghiệp sản xuất hay thương mại,định phí luôn luôn xuất hiện như chi phí khấu hao, chi phí thuê nhà xưởng, chi phíquảng cáo…những chi phí này luôn tồn tại và mức độ sản xuất kinh doanh tăng lên
Y = bxY
x0
Mức độ hoạt độngChi phí
0
Trang 18thì mức phí trên một đơn vị sản phẩm sẽ giảm dần Định phí tồn tại dưới các hìnhthức sau:
+ Định phí bắt buộc: Là định phí không dễ dàng thay đổi bằng hành độngquản trị Định phí bắt buộc thường liên quan đến TSCĐ và cấu trúc tổ chức cơ bảncủa một doanh nghiệp Thuộc loại định phí này có các chi phí như chi phí khấu haonhà xưởng, bảo hiểm, lương của ban quản lý…
Về phương diện toán học, định phí bắt buộc thể hiện bằng phương trình
Y = Ai với A thay đổi theo bậc i
Sơ đồ 1.4: Đồ thị định phí tùy ý
Việc phân chia định phí thành định phí bắt buộc và định phí không bắt buộctuỳ thuộc vào quan điểm cả nhà quản trị, không có ranh giới vững chắc, chỉ mangtính tương đối
Trang 19- Chi phí hỗn hợp: Là những khoản chi phí bao gồm cả yếu tố biến phí vàđịnh phí
Về mặt toán học, chi phí hỗn hợp thể hiện qua phương trình sau: Y = A + bx
Sơ đồ 1.5: Đồ thị chi phí hỗn hợp
c Phân loại chi phí theo thẩm quyền ra quyết định
Theo cách phân loại này chi phí được chia thành:
+ Chi phí kiểm soát được: Là những chi phí mà các nhà quản trị ở một cấpquản lý nào đó xác định được lượng phát sinh của nó, có thẩm quyền quyết định về
sự phát sinh chi phí đó, cấp quản lý đó kiểm soát được những chi phí này
+ Chi phí không kiểm soát được: Là những chi phí mà nhà quản trị ở một cấpquản lý nào đó không thể dự đoán chính xác sự phát sinh của nó, và không có thẩmquyền quyết định đối với khoản chi phí đó
d Phân loại chi phí theo việc lựa chọn các phương án
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất gồm:
+ Chi phí chênh lệch: Là những khoản chi phí có ở phương án này nhưngkhông có hoặc chỉ có một phần ở phương án khác
+ Chi phí chìm: Là loại chi phí mà doanh nghiệp phải chịu và sẽ vẫn phải chịucho dù doanh nghiệp chọn phương án hay hành động nào Chi phí chìm xuất hiện ởmọi phương án xem xét, nên cho dù chọn phương án nào nhà quản trị vẫn phải chấpnhận khoản chi phí này
+ Chi phí cơ hội: Là một lợi ích tiềm tàng bị mất hoặc phải hi sinh khi lựachọn một hành động này để thay thế một hành động khác Khác với các khoản
Biến phíĐịnh phíY
A
Y = A + bx
Trang 20chi phí khác, chi phí cơ hội không được phản ánh trên sổ sách kế toán nhưng lạirất quan trọng cần phải được xem xét cân nhắc mỗi khi lựa chọn quyết địnhkinh doanh.
Cách phân loại này là căn cứ cho việc lựa chọn phương án kinh doanh phù hợpvới tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.2 Giá thành và phân loại giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch
Giá thành sản phẩm là toàn bộ chi phí sản xuất dùng để sản xuất hoàn thànhmột khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định Giá thành sản phẩm là chỉ tiêumang tính giới hạn và xác định, vừa có tính khách quan, vừa có tính chủ quan và làchỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản trong quá trìnhSXKD cũng như hiệu quả công tác quản lý chi phí của doanh nghiệp
Giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về laođộng sống cần thiết, lao động vật hóa và một số khoản chi phí khác mà doanh nghiệp
đã bỏ ra có liên quan đến khối lượng sản phẩm lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành
Giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, có chứcnăng đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Giáthành phản ánh kết quả của việc sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn trong quá trìnhsản xuất, đánh giá hiệu quả của các giải pháp, phương án kinh doanh, đánh giá tínhđúng đắn của các biện pháp tổ chức, kinh tế, kỹ thuật, quản lý tác động đến hoạtđộng sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp đã thực hiện nhằm nâng cao năng suấtlao động, nâng cao chất lượng sản phẩm sản xuất, cung ứng dịch vụ, hạ thấp chi phí,tăng lợi nhuận Chính vì vậy, kế toán phải tính toán đầy đủ, chính xác các khoản chiphí sản xuất kinh doanh và những khoản chi tuy không phải là chi phí sản xuất kinhdoanh nhưng phát sinh và liên quan đến quá trình sản xuất ra sản phẩm dịch vụ dulịch và phục vụ cho yêu cầu quản trị doanh nghiệp
Nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch bao gồm các yếu tố:(1)Yếu tố chi phí liên quan đến hao phí lao động vật hóa Đây là các khoản chi phíliên quan tới đối tượng lao động và tư liệu lao động mà doanh nghiệp thực sự bỏ ratrong quá trình sản xuất sản phẩm Yếu tố chi phí này của sản phẩm bao gồm: Chiphí nguyên vật liệu, chi phí khấu hao TSCĐ và một số chi phí khác
Trang 21(2) Yếu tố chi phí liên quan đến hao phí lao động sống: Yếu tố chi phí này bao gồmtiền lương của công nhân viên, BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN tính trên tiền lương.(3) Các chi phí chung khác: Đây là những khoản chi phí như công cụ, dụng cụ, chiphí tiền điện, tiền nước…
Ngoài những khoản mục chi phí trên không được tính vào giá thành sảnphẩm dịch vụ du lịch những khoản chi phí do các nguồn vốn khác tài trợ như khenthưởng, phúc lợi
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả sử dụnglao động, vật tư, tiền vốn trong quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp Giáthành luôn luôn chứa đựng hai mặt khác nhau là chi phí sản xuất đã chi ra và lượnggiá trị sử dụng thu được cấu thành trong khối lượng sản phẩm đã hoàn thành Nhưvậy, bản chất của giá thành sản phẩm là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố chi phívào những sản phẩm đã hoàn thành Trong phạm vi doanh nghiệp, nếu giá thành sảnphẩm càng thấp thì hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh càng cao Để cónhững biện pháp hữu hiệu nhằm hạ giá thành sản phẩm thì trước hết phải xác địnhđược nội dung kinh tế chi phí trong giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch
1.2.2.1 Phân loại giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch theo phạm vi chi phí trong giá thành.
Trong kế toán quản trị, chỉ tiêu giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch có thểđược xác định theo các phạm vi chi phí khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích sử dụngthông tin về giá thành sản phẩm của các nhà quản trị doanh nghiệp Theo phạm vichi phí trong giá thành cần phân biệt các loại giá thành sau đây:
+ Giá thành sản xuất toàn bộ (Zsx toàn bộ): Là loại giá thành mà trong đó baogồm toàn bộ biến phí và định phí thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhâncông trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm dịch vụ du lịch hoàn thành
Thông tin về giá thành sản xuất toàn bộ thường đóng vai trò chủ yếu trongcác quyết định mang tính chất chiến lược dài hạn Vì vậy, đây là chỉ tiêu giá thành
có ý nghĩa quan trọng trong quản trị doanh nghiệp
+ Giá thành sản xuất theo biến phí (Zsxbp): Là loại giá thành mà trong đó chỉbao gồm biến phí thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực
Trang 22tiếp, chí phí sản xuất chung (biến phí sản xuất) tính cho sản phẩm dịch vụ du lịchhoàn thành.
Với phương pháp này thì toàn bộ định phí sản xuất được tính toàn bộ vàobáo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ chúng phát sinh, để tham gia xác định kết quảkinh doanh, mà không nằm trong giá thành sản xuất sản phẩm dịch vụ du lịch
Chỉ tiêu này được tính toán nhanh chóng, đơn giản nhưng có vai trò quantrọng trong việc phục vụ cho việc đưa ra các quyết định ngắn hạn
+ Giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý định phí sản xuất (Zsxhl): Là loại giáthành trong đó bao gồm toàn bộ biến phí sản xuất tính cho sản phẩm dịch vụ du lịchhoàn thành và một phần định phí sản xuất được phân bổ trên cơ sở mức hoạt độngthực tế so với mức hoạt động theo công suất thiết kế (mức hoạt động chuẩn) Phầnđịnh phí còn lại là chi phí hoạt động dưới công suất được coi là chi phí thời kỳ Chỉtiêu này được sử dụng trong kiểm soát quản lý
Công thức:
NTrong đó:
Zsxhl là giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý định phí sản xuất
Bpsx là biến phí sản xuất trong giá thành sản xuất dịch vụ du lịch
+ Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ (Ztb): Bao gồm giá thành sản xuất
và chi phí ngoài sản xuất tính cho sản phẩm dịch vụ du lịch tiêu thụ Chỉ tiêu giáthành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ chỉ xác định khi sản phẩm đã được tiêu thụ vàđược sử dụng để xác định kết quả
Công thức:
Ztb = Zsx toàn bộ + CP bán hàng + CP QLDN
Trang 231.2.2.2 Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành.
Theo tiêu thức này giá thành sản phẩm được chia thành 3 loại như sau:
+ Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch được tính trên cơ
sở chi phí sản xuất kế hoạch, số lượng sản phẩm sản xuất kế hoạch Giá thành kếhoạch do bộ phận kế hoạch của doanh nghiệp tính trước khi bắt đầu quá trình sảnxuất, chế tạo sản phẩm dịch vụ du lịch Nó là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp,
là căn cứ để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, kế hoạch hạgiá thành của doanh nghiệp
+ Giá thành định mức: Là giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch được tính trên
cơ sở định mức chi phí hiện hành Việc tính giá thành định mức được tiến hànhtrước khi bước vào quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm dịch vụ du lịch Nó làthước đo để xác định kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, tiền vốn của doanhnghiệp để đánh giá các giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đang áp dụng.+ Giá thành thực tế: Là loại giá thành dịch vụ du lịch được xác định trên cơ sở
số liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ Giá thànhthực tế chỉ có thể xác định được sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sảnphẩm dịch vụ du lịch Nó là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả phấn đấu củadoanh nghiệp trong việc tổ chức, áp dụng các giải pháp kinh tế, kỹ thuật, là cơ sở đểxác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ đó xác địnhnghĩa vụ của doanh nghiệp với Nhà nước cũng như với các bên liên quan
1.2.2.3 Quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch là hai khái niệm khácnhau nhưng chúng có mối quan hệ mật thiết Cả chi phí sản xuất và giá thành sảnphẩm đều biển hiện bằng tiền của những hao phí về lao động sống và lao động vậthóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra, là các chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống các chỉ tiêukinh tế, phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp và có mối quan hệ mật thiết vớidoanh thu, kết quả lãi, lỗ, hoạt động sản xuất kinh doanh do vậy được chủ doanhnghiệp rất quan tâm
Việc sử dụng tiết kiệm chi phí sản xuất dịch vụ du lịch có ảnh hưởng trực tiếpđến giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch Tuy nhiên, giữa chúng có sự khác nhau:
Trang 24- Chi phí sản xuất dịch vụ du lịch gắn liền với kỳ hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp
- Chi phí sản xuất dịch vụ du lịch gắn liền với khối lượng sản phẩm dịch vụchưa hoàn thành, trong khi đó giá thành lại liên quan đến khối lượng sản phẩm dịch
vụ đã hoàn thành
- Chi phí sản xuất dịch vụ du lịch chỉ tính những chi phí phát sinh trong một
kỳ nhất định (tháng, quý, năm), còn giá thành liên quan đến cả chi phí của thời kỳtrước chuyển sang (chi phí dở dang đầu kỳ) và chi phí của kỳ này chuyển sang kỳsau (chi phí dở dang cuối kỳ) Giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch thường không cósản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ, do đó giá thành sản phẩm dịch vụ du lịchtrùng khớp với chi phí sản xuất dịch vụ du lịch
- Chi phí sản xuất dịch vụ du lịch phản ánh mặt hao phí sản xuất, còn giáthành sản phẩm dịch vụ du lịch là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả việc sửdụng các tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng như tính đúng đắn củanhững quyết định của nhà quản lý trong mục tiêu tiết kiệm chi phí, hạ thấp giáthành và nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp
1.3 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ du lịch trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ theo quan điểm kế toán tài chính
1.3.1 Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh dịch vụ
du lịch
1.3.1.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh
Hạch toán quá trình kinh doanh sản phẩm dịch vụ du lịch nói chung bao gồmhai giai đoạn có mối quan hệ với nhau Giai đoạn đầu tập hợp các chi phí kinhdoanh dịch vụ phát sinh trong kỳ theo từng đối tượng chịu chi phí như từng hoạtđộng kinh doanh, từng hợp đồng kinh doanh, từng địa điểm kinh doanh và phân tíchcác chi phí đó theo yêu cầu quản lý cụ thể như theo khoản mục chi phí, theo yếu tốchi phí…Giai đoạn hai là tính giá thành sản phẩm dịch vụ theo từng đối tượng tínhgiá thành trên cơ sở số liệu của chi phí đã tập hợp được
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất dịch vụ du lịch là phạm vi, giới hạn đểtập hợp chi phí nhằm đáp ứng kiểm soát chi phí và tính giá thành sản phẩm dịch vụ
du lịch Giới hạn (phạm vi) để tập hợp chi phí kinh doanh dịch vụ có thể là:
Trang 25- Nơi phát sinh chi phí: Đội, tổ phục vụ kinh doanh, các bộ phận chức năng
- Đối tượng chịu chi phí: Sản phẩm dịch vụ du lịch
Đối tượng kế toán chi phí sản xuất kinh doanh dịch vụ du lịch thực chất làxác định nơi phát sinh chi phí và đối tượng chịu chi phí Việc lựa chọn các đốitượng tập hợp chi phí ở từng doanh nghiệp có sự khác nhau, nó phụ thuộc vào đặcđiểm, tình hình tổ chức kinh doanh, yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp.Theo tình hình đặc điểm tổ chức hoạt động của doanh nghiệp tiến hành cácloại hoạt động kinh doanh như kinh doanh hướng dẫn du lịch, kinh doanh vậnchuyển, kinh doanh buồng ngủ, kinh doanh ăn uống thì đối tượng tập hợp chi phí
là từng hoạt động kinh doanh cụ thể Trong từng hoạt động kinh doanh cụ thể mà cónhiều chủng loại sản phẩm dịch vụ ví dụ như đối với dịch vụ ăn uống có sản phẩm
ăn theo suất, theo bàn hoặc đặt tiệc buffett theo yêu cầu của khách Đối với dịch vụbuồng ngủ có các sản phẩm dịch vụ cụ thể như: Buồng đơn, buồng đôi, buồng tậpthể thì đối tượng tập hợp chi phí chi tiết cho từng loại sản phẩm dịch vụ cụ thể đó.Theo yêu cầu và trình độ quản lý, nếu tiến hành hạch toán kinh tế nội bộ trongdoanh nghiệp thì chi phí có thể được tập hợp theo từng cơ sở, từng địa điểm kinhdoanh tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, phân tích và xác định kết quả hạchtoán kinh tế của từng cơ sở
Như vậy, việc xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất dịch vụ du lịchtheo đúng đối tượng quy định là khâu đầu tiên quan trọng của công tác kế toán tậphợp chi phí, có tác dụng tích cực cho việc tăng cường quản lý kinh doanh và chi phíkinh doanh, cho công tác hạch toán kinh tế (nội bộ và toàn đơn vị), phục vụ kịp thờicho công tác tính giá thành sản phẩm dịch vụ Xác định đúng đối tượng tập hợp chiphí sản xuất dịch vụ du lịch là một trong những điều kiện chủ chốt để tính giá thànhsản phẩm dịch vụ được chính xác
1.3.1.2 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh
Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là cách thức mà kế toán sử dụng để tậphợp, phân loại các khoản chi phí sản xuất phát sinh trong một kỳ theo các đối tượngtập hợp chi phí đã xác định Nội dung cơ bản của phương pháp kế toán tập hợp chiphí sản xuất là căn cứ vào các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định để mở
Trang 26các sổ kế toán nhằm ghi chép, phản ánh các chi phí phát sinh theo đúng các đốitượng hoặc tính toán, phân bổ phần chi phí phát sinh cho các đối tượng đó.
Tuỳ thuộc vào khả năng quy nạp của chi phí vào các đối tượng tập hợp chiphí, kế toán sẽ áp dụng các phương pháp tập hợp chi phí sản xuất một cách thíchhợp Thông thường hiện nay có hai phương pháp tập hợp chi phí như sau:
- Phương pháp trực tiếp: Phương pháp này áp dụng trong trường hợp chi phí
sản xuất phát sinh có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêngbiệt Theo phương pháp này, thì chi phí phát sinh cho đối tượng nào được tập hợptrực tiếp cho đối tượng đó Để thực hiện tốt phương pháp này đòi hỏi phải tổ chứctốt việc ghi chép ban đầu (chứng từ gốc) phải theo đúng đối tượng đã xác định Trên
cơ sở đó, kế toán tổng hợp số liệu từ các chứng từ gốc theo từng đối tượng tập hợpchi phí liên quan và trực tiếp ghi vào sổ kế toán Phương pháp này đảm bảo tập hợpchi phí theo đúng đối tượng chịu chi phí nên độ chính xác cao Vì vậy, cần phải sửdụng tối đa phương pháp này đối với các chi phí dịch vụ du lịch có đủ điều kiện tậphợp trực tiếp
- Phương pháp phân bổ gián tiếp:
Phương pháp này áp dụng đối với chi phí sản xuất có liên quan đến nhiều đốitượng tập hợp chi phí sản xuất không thể tổ chức ghi chép ban đầu riêng biệt theotừng đối tượng tập hợp chi phí
Để tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất cho các đối tượng có liên quan, kếtoán phải tiến hành theo các trình tự sau:
- Tổ chức ghi chép ban đầu (từ chứng từ gốc) các chi phí sản xuất có liên quanđến nhiều đối tượng theo từng địa điểm phát sinh chi phí, từ đó tổng hợp số liệu trênchứng từ kế toán theo từng địa điểm phát sinh chi phí, từ đó tổng hợp số liệu trênchứng từ kế toán theo từng địa điểm phát sinh chi phí
- Chọn tiêu thức phân bổ phù hợp với từng loại chi phí để tính toán phân bổchi phí sản xuất đã tổng hợp cho các đối tượng liên quan
Trang 27Trong đó: Ci: Chi phí phân bổ cho từng đối tượng i
Ti: Tiêu thức phân bổ cho từng đối tượng i
H: Hệ số phân bổ
1.3.2 Kế toán chi phí sản xuất dịch vụ du lịch
Kế toán chi phí sản phẩm lao vụ, dịch vụ là khâu trọng tâm trong toàn bộcông tác kế toán trong doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch Hạch toán chi phísản xuất và tính giá thành sản phẩm chính xác sẽ tạo điều kiện xác định đúng đắnnhững chi phí mà đơn vị đã chi ra trong quá trình hoạt động kinh doanh trên cơ sởtính được chính xác kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị, góp phần thúc đẩyviệc thực hiện chế độ hạch toán kinh tế, nâng cao chất lượng phục vụ để ngày càngthu hút khách du lịch trong nước và quốc tế
Quá trình tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch là mộtquá trình bắt đầu từ việc lập chứng từ phản ánh chi phí phát sinh đến khâu phản ánhvào tài khoản và tính giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch
Thủ tục chứng từ kế toán:
Các loại chứng từ, sổ sách phục vụ cho việc hạch toán chi phí và tính giáthành ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ/BTC ngày 20/03/2006 của Bộtrưởng Bộ tài chính, bao gồm:
- Thông tin về các chi phí doanh nghiệp bỏ ra liên quan trực tiếp đến việc chếtạo sản phẩm như: Phiếu xuất kho nếu xuất kho nguyên vật liệu cho sản xuất, hóađơn bán hàng nếu mua NVL chuyển thẳng cho sản xuất mà không qua kho
- Thông tin về các chi phí phát sinh liên quan đến tiền lương và các khoản phảitrả trực tiếp cho công nhân sản xuất: Bảng chấm công, bảng chấm công làm thêmgiờ, phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành
- Thông tin về các chi phí phát sinh liên quan đến việc phục vụ và quản lý sảnxuất trong phạm vi phân xưởng, đội sản xuất: Phiếu chi, bảng phân bổ NVL, công
cụ dụng cụ, bảng phân bổ tiền lương và BHXH và các chứng từ liên quan khác.Tuỳ từng trường hợp, tuỳ từng tình huống nghiệp vụ cụ thể liên quan đến quátrình kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm mà doanh nghiệp sử dụng cácchứng từ sao cho phù hợp Ngoài ra, việc xác định số lượng, loại chứng từ cần thiếtcho mỗi trường hợp phát sinh chi phí sản xuất không phải chỉ phụ thuộc vào nội
Trang 28dung kinh tế mà còn phụ thuộc vào khả năng thu thập và xử lý thông tin kế toán,đặc điểm hoạt động kinh doanh, yêu cầu quản lý cụ thể để xây dựng hệ thống chứng
từ sao cho phù hợp
Vận dụng tài khoản kế toán:
Theo chế độ kế toán hiện nay, được ban hành kèm theo Quyết định số:15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ tài chính thì hệ thống tàikhoản kế toán quy định được áp dụng thống nhất cho tất cả các doanh nghiệp thuộcmọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước Trong doanh nghiệp kinhdoanh dịch vụ du lịch, tài khoản hạch toán chi phí sản xuất phụ thuộc vào phươngpháp hạch toán chi phí sản xuất và phương pháp hạch toán hàng tồn kho là kê khaithường xuyên hay kiểm kê định kỳ Cụ thể như sau:
Theo phương pháp kê khai thường xuyên:
Là phương pháp theo dõi, phản ánh thường xuyên, liên tục tình hình nhập xuất - tồn kho của các loại vật tư, hàng hóa, thành phẩm, sản phẩm dở dang trên sổ
-kế toán Theo phương pháp này, có thể xác định giá trị hàng tồn kho vào bất cứ thờiđiểm nào của doanh nghiệp Nó thích hợp với các doanh nghiệp có quy mô lớn, tiếnhành nhiều loại hoạt động SXKD, nhiều loại sản phẩm khác nhau với số lượng lớn,giá trị cao Doanh nghiệp sử dụng các tài khoản sau: TK 621 “Chi phí nguyên liệu,vật liệu trực tiếp”, TK 622 “Chi phí nhân công trực tiếp”, TK 627 “Chi phí sản xuấtchung”, TK 154 “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”
TK 621 “Chi phí NVL trực tiếp”: Tài khoản này dùng để tập hợp toàn bộ chi phí
NVL trực tiếp dùng cho kinh doanh dịch vụ phát sinh trong kỳ Cuối kỳ kết chuyểnsang tài khoản 154 để tập hợp chi phí kinh doanh và tính giá thành sản phẩm dịch
vụ Kết cấu tài khoản này như sau:
Nợ TK 621 – Chi phí NVL trực tiếp CóTrị giá thực tế nguyên vật liệu trực tiếp
xuất dùng cho quá trình thực hiện lao
Trang 29TK 621 cuối kỳ không có số dư và tài khoản này có thể được mở chi tiết theo từngđối tượng tập hợp chi phí kinh doanh dịch vụ, để phục vụ cho việc tính giá thànhtheo từng đối tượng tính giá thành
TK 622 “Chi phí nhân công trực tiếp”: Là những khoản tiền phải trả cho công nhân
trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ bao gồm tiền lương chính, lương phụ, cáckhoản phụ cấp, trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN theo số tiền lương của côngnhân trực tiếp sản xuất Kết cấu tài khoản này như sau:
Nợ TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp CóChi phí nhân công trực tiếp thực hiện
lao vụ dịch vụ trong kỳ bao gồm: Tiền
lương, tiền công và các khoản trích
theo lương theo tỷ lệ quy định
Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí nhâncông trực tiếp vào tài khoản liên quan
để tính giá thành sản phẩm dịch vụ dulịch
Tổng số phát sinh tăng trong kỳ Tổng số phát sinh giảm trong kỳTài khoản 622 cuối kỳ không có số dư Tài khoản này được mở chi tiết cho từng đối
tượng chịu chi phí
TK 627 “Chi phí sản xuất chung”: Tài khoản này dùng để tập hợp, phân bổ và kết
chuyển chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ như chi phí khấu hao TSCĐ, tiềnđiện, tiền nước và các chi phí quản lý phục vụ chung Kết cấu tài khoản này như sau:
Nợ TK 627 – Chi phí sản xuất chung CóTập hợp toàn bộ chi phí sản xuất chung
phát sinh trong quá trình thực hiện lao vụ
TK 627 cuối kỳ không có số dư
TK 627 được chi tiết thành các tài khoản cấp 2 như sau:
TK 6271: Chi phí nhân viên phân xưởng
TK 6272: Chi phí vật liệu
TK 6273: Chi phí dụng cụ sản xuất
TK 6274: Chi phí khấu hao TSCĐ
Trang 30TK 6277: Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK 6278: Chi phí bằng tiền khác
TK 154 “ Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”: Tài khoản này dùng để tổng hợp
chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ và tính ra tổng giá trị sản phẩm dịch vụhoàn thành Tài khoản này được mở chi tiết cho từng đối tượng kế toán chi phí sảnxuất Kết cấu tài khoản này như sau:
Nợ TK 154 – Chi phí SXKD dở dang CóTổng hợp chi phí sản xuất sản phẩm
dịch vụ du lịch phát sinh trong kỳ
- Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất
- Tổng giá thành sản xuất thực tế haychi phí thực tế của sản phẩm, lao vụ,dịch vụ đã hoàn thành
Tổng số phát sinh tăng trong kỳ Tổng số phát sinh giảm trong kỳChi phí thực tế của sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ dở dang chưa hoàn thành
Theo phương pháp kiểm kê định kỳ:
Là phương pháp không theo dõi một cách thường xuyên, liên tục về tìnhhình biến động của các loại vật tư, hàng hóa, sản phẩm trên các tài khoảnhàng tồn kho mà chỉ phản ánh giá trị hàng tồn kho đầu kỳ, cuối kỳ của chúngtrên cơ sở kết quả kiểm kê cuối kỳ Cũng trên cơ sở đó, kế toán xác địnhlượng tồn kho thực tế và lượng xuất dùng cho sản xuất kinh doanh và cho cácmục đích khác
Nếu doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ áp dụng hạch toán theo phương phápnày thì ngoài những tài khoản lựa chọn trên thì còn sử dụng tài khoản TK 631- Giáthành sản xuất
TK 631 “ Giá thành sản xuất”: Dùng để tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh
nghiệp Kết cấu tài khoản này như sau:
Nợ TK 631 - Giá thành sản xuất CóKết chuyển chi phí sản xuất thực tế Kết chuyển giá thành thực tế của SP
Trang 31phát sinh trong kỳ dịch vụ du lịch hoàn thành trong kỳTổng số phát sinh tăng trong kỳ Tổng số phát sinh giảm trong kỳ
TK 631 không có số dư cuối kỳ
Trình tự kế toán
*) Trường hợp doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch áp dụng phương pháp kê
khai thường xuyên
(4)
(5)
Sơ đồ 1.6: Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành trong doanh
nghiệp dịch vụ du lịch theo phương pháp kê khai thường xuyên.
(1): Tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho hoạt động kinh doanh dịch vụ(2): Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp
TK152, 138
Trang 32(3): Tập hợp chi phí phục vụ hoạt động kinh doanh dịch vụ
(4): Nguyên vật liệu sử dụng không hết nhập lại kho (cuối tháng)
(5): Nguyên vật liệu sử dụng không hết để lại tại bộ phận sản xuất kinh doanh dịch
vụ, tiếp tục sử dụng cho kỳ sau (ghi vào cuối tháng)
(6), (7), (8): Cuối tháng, kết chuyển chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trựctiếp và chi phí sản xuất chung vào các đối tượng tập hợp chi phí và tính giá thành.(9): Các khoản làm giảm giá thành
(10): Giá thành sản phẩm dịch vụ đã xác định tiêu thụ
Sau khi đã tập hợp chi phí xong, kế toán tiến hành tính giá thành theo đốitượng phải tính giá Do đặc điểm của kinh doanh dịch vụ du lịch là không có sảnphẩm dở dang, tức là tổng chi phí sản xuất dịch vụ du lịch phát sinh trong kỳ bằngtổng giá thành dịch vụ du lịch
Trong chế độ kế toán hiện nay, còn có nhiều vấn đề chưa quy định rõcho từng loại ngành nghề kinh doanh, đặc biệt là ngành du lịch dịch vụ Dovậy, tùy theo yêu cầu quản lý của từng đơn vị, kế toán tự mở sổ chi tiết đểphản ánh cụ thể, chính xác các khoản chi phí từ đó làm cơ sở tính giá thànhcho hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch của đơn vị mình Khi phát sinh chiphí kế toán căn cứ vào chứng từ gốc hàng ngày ghi vào sổ chi tiết có liên quancủa từng loại hình hoạt động kinh doanh Nếu một loại chi phí mà có liênquan đến nhiều loại hoạt động thì phải tiến hành phân bổ cho thích hợp
Cuối tháng, dựa vào sổ chi tiết chi phí kinh doanh theo từng đối tượng và các
sổ liên quan tới việc phân bổ chi phí, kế toán chi phí và tính giá thành sẽ tập hợp chiphí theo từng đối tượng tập hợp chi phí
*) Đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch áp dụng phương pháp kiểm kêđịnh kỳ, cách tập hợp chi tiết vào TK 621, TK622, TK 627 về trình tự và cách làmgiống tương tự như phương pháp kê khai thường xuyên Cuối kỳ không kết chuyểnchi phí sang TK 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang mà kết chuyển sang TK
631 – Giá thành sản xuất
Trang 33Sơ đồ 1.7: Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành trong doanh
nghiệp dịch vụ du lịch theo phương pháp kiểm kê định kỳ
(1): Đầu kỳ kết chuyển số dư đầu kỳ về TK 611
(2): Cuối tháng nhập hoàn trả lại kho số NVL còn lại
(3), (4), (5): Tập hợp chi phí sản xuất
(6): Đầu kỳ kết chuyển trị giá sản phẩm dở dang đầu kỳ về TK 631
(7), (8), (9): Kết chuyển chi phí sản xuất phục vụ tính giá thành
(10): Cuối kỳ tính chi phí dở dang cuối kỳ kết chuyển về TK 154
(11): Giá thành sản phẩm dịch vụ đã xác định tiêu thụ
Sổ kế toán
Hệ thống sổ kế toán là phương tiện vật chất để kế toán ghi chép, phản ánh cácnghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh theo một trình tự và phương pháp ghi chépnhất định Thực chất hình thức kế toán là hình thức tổ chức sổ kế toán bao gồm sốlượng sổ chi tiết, sổ tổng hợp, mối quan hệ kiểm tra đối chiếu giữa các sổ kế toán,trình tự và phương pháp ghi chép cũng như việc tổng hợp số liệu để lập các BCTC
Tổ chức tốt hệ thống sổ kế toán sẽ tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động của bộmáy kế toán, đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ các chỉ tiêu kinh tế tàichính theo yêu cầu của công tác quản lý tại doanh nghiệp
(4)
TK 627(5)
TK 154
(10)(6)(7)
TK 632(11)
(2)
Trang 34Theo chế độ sổ kế toán ban hành theo QĐ 15/2006/QĐ-BTC quy định vềhình thức kế toán thì doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch có thể lựa chọnmột trong các hình thức sau sao cho phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, trình độnghiệp vụ, điều kiện, phương tiện vật chất hiện có và trình độ quản lý hoạtđộng kinh doanh dịch vụ du lịch.
- Hình thức nhật ký chung: Theo hình thức này hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch được thực hiện trên sổ chi phí sản xuấtkinh doanh các tài khoản, sổ chi tiết vật liệu, CCDC, nhật ký đặc biệt (nếu có),nhật kí chung và sổ cái TK 621, 622, 627, 154 và các tài khoản liên quan
- Hình thức kế toán Nhật ký – sổ cái: Việc hạch toán được thực hiện trên sổ nhật ký
- sổ cái các TK 621, 622, 627, 154 , sổ chi phí sản xuất kinh doanh, sổ chi tiết vậtliệu, CCDC
- Hình thức kế toán chứng từ ghi sổ: Hình thức này cũng sử dụng sổ chi phí sản
xuất kinh doanh các TK như các hình thức trên, sổ chi tiết vật liệu, CCDC, chứng từghi sổ, sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, sổ cái các TK 621, 622, 627, 154
- Hình thức kế toán Nhật ký – chứng từ: Nhật ký - Chứng từ số 07 hoặc Bảng kê số
4, 8, sổ chi phí sản xuất kinh doanh, sổ chi tiết vật liệu - CCDC, sổ cái TK 621, 622,
627 và các tài khoản liên quan
- Hình thức kế toán trên máy vi tính: Từ các chứng từ kế toán đã được kiểm tra,
được dùng làm căn cứ ghi sổ, xác định tài khoản ghi Nợ, tài khoản ghi Có để nhập
dữ liệu vào máy vi tính theo các bảng, biểu được thiết kế sẵn Sau đó, theo quy trìnhcủa phần mềm kế toán, các thông tin được tự động nhập vào sổ kế toán tổng hợp(Sổ Cái hoặc Nhật ký - Sổ Cái) và các sổ, thẻ kế toán chi tiết liên quan Cuối tháng(hoặc bất kỳ vào thời điểm cần thiết nào), kế toán thực hiện các thao tác khoá sổ(cộng sổ) và lập BCTC Việc đối chiếu giữa số liệu tổng hợp với số liệu chi tiếtđược thực hiện tự động và luôn đảm bảo chính xác, trung thực theo thông tin đãđược nhập trong kỳ
1.3.3 Kế toán tính giá thành dịch vụ du lịch
1.3.3.1 Đối tượng tính giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch
Trang 35Đối tượng tính giá thành sản phẩm lao vụ, dịch vụ là những sản phẩm lao vụcủa những dịch vụ du lịch đã thực hiện (đã tiêu thụ) tức là những sản phẩm đã hoànthành, đã trả cho khách và khách chấp nhận trả tiền.
Dịch vụ du lịch là một quá trình phức tạp, có các loại hàng hóa và dịch vụ đadạng được sản xuất và tiêu thụ theo các quy trình công nghệ rất khác nhau nên đốitượng tính giá thành trong hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch là các đối tượngkhác nhau tùy thuộc vào từng hoạt động kinh doanh riêng biệt Bộ phận kế toán giáthành có nhiệm vụ phải xác định đúng đối tượng tính giá thành để tổ chức ghi chép,phản ánh, tập hợp chi phí theo từng đối tượng tính giá thành của từng loại dịch vụ,kiểm tra tình hình thực hiện giá thành.Ví dụ như đối tượng tính giá thành của hoạtđộng kinh doanh hướng dẫn du lịch là từng đoàn, từng tour du lịch, đối với hoạtđộng kinh doanh buồng ngủ là phòng/1ngày đêm theo từng loại buồng, đối với hoạtđộng kinh doanh dịch vụ ăn uống và dịch vụ khác thì việc tính giá thành được tínhtheo từng loại sản phẩm dịch vụ
1.3.3.2 Phương pháp tính giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch
Phương pháp tính giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch là hệ thống các phươngpháp, kỹ thuật được sử dụng để tính toán, xác định giá thành sản phẩm dịch vụ dulịch Có nhiều phương pháp được sử dụng để tính giá thành, tùy theo đặc điểm tậphợp chi phí và đối tượng tính giá thành kế toán sử dụng phương pháp tính giá thànhcho phù hợp Để tính giá thành các sản phẩm dịch vụ du lịch hoàn thành cung cấpcho khách hàng trong kỳ kế toán thường áp dụng phương pháp trực tiếp hay còn gọi
là phương pháp giản đơn
Phương pháp này thường được áp dụng trong ngành du lịch và quy trìnhphục vụ hoạt động kinh doanh du lịch giản đơn, đối tượng tập hợp chi phí ở đâythường phù hợp với đối tượng tính giá thành Đối tượng tập hợp chi phí dịch vụ dulịch là toàn bộ quy trình phục vụ, còn đối tượng tính giá thành là hình thức dịch vụ
do quy trình phục vụ đã hoàn thành
Kỳ tính giá thành trong các doanh nghiệp dịch vụ du lịch thường là một tháng,hoặc một quý vào ngày cuối tháng hoặc cuối quý Khi đó giá thành được tính toántheo công thức sau:
Tổng giá thành
thực tế của
khối lượng lao
= Chi phí trực tiếpcủa khối lượnglao vụ, dịch vụ
+ Chi phíphát sinhtrong kỳ
- Chi phí trực tiếpcủa khối lượnglao vụ, dịch vụ
Trang 36vụ, dịch vụ đã
thực hiện
chưa thực hiệnđầu kỳ
chưa thực hiệncuối kỳ
Do đặc điểm của ngành kinh doanh dịch vụ du lịch là không có sản phẩm dở dang
Vì vậy, phương pháp tính giá thành giản đơn còn gọi là tổng cộng chi phí Sau khí tínhđược tổng giá thành sản xuất của từng dịch vụ cụ thể thì có thể tính được giá thành đơn vịsản phẩm dịch vụ theo công thức sau:
Giá thành đơn vị sản
phẩm dịch vụ du lịch =
Tổng giá thành sản phẩm dịch vụ du lịch cụ thểTổng số sản phẩm dịch vụ du lịch đã hoàn thành Trong trường hợp đối tượng hạch toán chi phí là nhóm sản phẩm hay dịch vụcùng loại, đối tượng tính giá thành là các sản phẩm dịch vụ khác nhau thì kế toán sẽ
áp dụng phương pháp hệ số hoặc phương pháp tỷ lệ để tính giá thành từng sảnphẩm, dịch vụ khác nhau
1.4 Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành dịch vụ du lịch dưới góc độ kế toán quản trị.
1.4.1 Xây dựng định mức và dự toán chi phí sản xuất, giá thành dịch vụ du lịch
*) Xây dựng định mức chi phí sản xuất
- Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được xây dựng dựa vào địnhmức lượng nguyên vật liệu tiêu hao và định mức giá của nguyên vật liệu
+ Định mức lượng nguyên liệu trực tiếp: Phản ánh số lượng NVL cần thiết đểsản xuất một ĐVSP Nguyên tắc chung xác định định mức chi phí NVL tùythuộc vào từng loại sản phẩm, khả năng thay thế NVL, trình độ sử dụng củangười lao động và các biện pháp quản lý được sử dụng
+ Định mức về giá nguyên liệu trực tiếp: Là đơn giá bình quân cho một đơn vịNVL sử dụng, xác định mức giá tùy thuộc vào từng loại NVL, giá thị trường, nhàcung cấp đã thỏa thuận
Định mức giá và lượng nguyên vật liệu trực tiếp được tổng hợp thành định mức chiphí nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm và được xác định bằng công thức sau:
Trang 37Định mức chi phí
NVL cho 1 ĐVSP =
Định mức lượngNVL cho 1 ĐVSP x
Định mức giáNVL
Định mức chi phí nhân công trực tiếp
Định mức chi phí nhân công trực tiếp phụ thuộc vào lượng thời gian laođộng trực tiếp cần thiết để sản xuất 1 ĐVSP và đơn giá của thời gian lao động
đó Để đảm bảo tính trung thực, tiên tiến của định mức phải căn cứ vào mức độlành nghề của người lao động, điều kiện làm việc Định mức đơn giá thời gian là
số tiền phải trả cho một đơn vị thời gian bao gồm tiền lương cơ bản, các khoảnphụ cấp và các khoản tính theo lương
x
Định mức giámột đơn vị thờigian
Định mức chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là loại chi phí hỗn hợp gồm nhiều yếu tố chi phí khác nhau Xéttheo mô hình ứng xử của chi phí được chia thành biến phí và định phí, do đó việc xây dựngđịnh mức chi phí sản xuất chung được thực hiện cho từng loại biến phí và định phí nhằmphục vụ cho việc kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện định mức chi phí
*) Lập dự toán chi phí sản xuất
Là việc lập kế hoạch những chỉ tiêu sản xuất kinh doanh một cách chi tiết,phù hợp với yêu cầu quản lý của doanh nghiệp Việc lập dự toán sản xuất sẽ cungcấp cho các nhà quản lý toàn bộ thông tin về kế hoạch sản xuất trong từng thời kỳ
cụ thể và cả quá trình sản xuất kinh doanh đó, nó cũng là căn cứ đánh giá tình hìnhthực hiện các chi tiêu dự kiến, từ đó sẽ thấy được những điểm cần phát huy cũngnhư cần khắc phục Xây dựng dự toán chi phí sản xuất là việc lập dự toán về chi phínguyên vật liệu trực tiếp, dự toán về chi phí nhân công trực tiếp, dự toán về chi phísản xuất chung
Trang 38- Xây dựng dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được xác định trên cơ sở
dự toán khối lượng sản xuất và định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Xây dựng dự toán chi phí nhân công trực tiếp được xây dựng trên cơ sở dự toánsản xuất và định mức chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí
Dự toán định phísản xuất chung +
Dự toán biến phí sảnxuất chung
1.4.2 Thu thập thông tin thực hiện về chi phí sản xuất phục vụ yêu cầu quản trị doanh nghiệp
Trong hoạt động quản lý doanh nghiệp, đặc biệt với doanh nghiệp du lịchmỗi một nguồn thông tin sẽ giúp cho nhà quản trị có nhận thức khác nhau trongtừng tình huống quản trị và ngược lại mỗi tình huống quản trị lại cần phải có nhữngnguồn thông tin tương ứng Có rất nhiều thông tin mà nhà quản trị doanh nghiệp cóthể thu thập, trong đó thông tin có ảnh hưởng đến tương lai phát triển của doanhnghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định chính sách kinh doanh trongtương lai cũng như xác định chiến lược kinh doanh
Du lịch là ngành rất nhạy cảm với sự biến động của xã hội, do vậy các doanhnghiệp du lịch càng phải quan tâm nhiều hơn đến việc thu thập thông tin trong
Trang 39tương lai Những thông tin liên quan đến tương lai của doanh nghiệp cần được thuthập có thể là: Các chính sách tài chính, tiền tệ, đầu tư, chính sách định hướng vàkích thích tiêu dùng, thông tin về thị trường, thông tin về sách lược và chiến lượccủa đối thủ cạnh tranh Để có được những thông tin tin cậy phục vụ cho việc raquyết định trước hết nhà quản trị phải xác định rõ những vấn đề và mục tiêu thuthập thông tin Sau đó, tiến hành lựa chọn các nguồn thông tin cần thu thập Tùytheo nội dung thông tin cần thu thập, kế toán quản trị sử dụng những phương phápthu thập khác nhau
Các thông tin thu thập được rất phong phú, đa dạng và phức tạp, có nhữngthông tin gắn liền với các quyết định, có những thông tin chỉ có ý nghĩa tham khảokhi lựa chọn, có những thông tin đòi hỏi phải tập trung phân tích, có những thôngtin làm giảm sự chú ý của các nhà quản trị vào những vấn đề chính cần tập trung vàgiải quyết Do đó, đòi hỏi kế toán quản trị phải lựa chọn những thông tin cơ bản(thông tin thích hợp) và lập báo cáo để tư vấn cho nhà quản trị trong việc ra quyếtđịnh kinh doanh
Kế toán quản trị có thể thông qua các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp,
sử dụng các phương pháp để thu thập thông tin như sau:
- Phương pháp quan sát: Là phương pháp được áp dụng khi người thu thập tiếnhành quan sát trực tiếp hoàn cảnh và con người Tùy thuộc vào nội dung thông tin
mà kết quả được phản ánh thông qua mô tả hay số liệu cụ thể Phương pháp nàythích hợp với việc thu thập thông tin mang tính thăm dò
- Phương pháp thực nghiệm: Phương pháp này đòi hỏi phân loại các nhóm thông tin
có thể so sánh được với nhau, tạo ra cho nhóm đó những hoàn cảnh, điều kiện khácnhau, kiểm tra những thành phần biến động và xác định mức độ quan trọng các đặcđiểm được quan sát, từ đó tìm ra mối quan hệ nhân quả bằng cách sàng lọc nhữnggiải thích mâu thuẫn nhau về các kết quả quan sát được
- Phương pháp thăm dò dư luận: Phương pháp này nằm giữa phương pháp thựcnghiệm và quan sát, được thực hiện phù hợp với các thông tin cần thiết phải thăm
dò dư luận để có được những thông tin về tri thức, chính kiến, sở thích khách dulịch và mức độ mâu thuẫn của họ
Việc thu nhận thông tin của KTQT được thực hiện theo hai bộ phận:
- Thu nhận thông tin quá khứ: Bộ phận thông tin này được thu nhận thông qua kếtoán chi tiết, chi tiết hóa các chỉ tiêu KTTC theo yêu cầu quản trị
Trang 40- Thu nhận thông tin tương lai: Bộ phận thông tin này được thu nhận thông qua các
bộ phận chức năng của DN, nhằm có được các dự đoán tương lai liên quan đến hoạtđộng của DN, từ đó xây dựng hệ thống kế hoạch, dự toán giúp nhà quản trị điềuhành hoạt động sản xuất kinh doanh của DN có hiệu quả
Trên cơ sở các thông tin thu thập được, lập hệ thống báo cáo kế toán nội bộ,kết hợp sử dụng các phương pháp kỹ thuật khác nhau để phân tích các chỉ tiêu thựchiện, giúp nhà quản trị ra quyết định đúng đắn và hiệu quả hơn
1.4.3 Phân tích thông tin về chi phí sản xuất và giá thành phục vụ việc ra quyết định
Thường xuyên kiểm tra thông tin về kế toán chi phí, giá thành sản phẩm củacác bộ phận kế toán liên quan và bộ phận kế toán chi phí và giá thành sản phẩm
Tổ chức lập và phân tích các báo cáo về chi phí, giá thành sản phẩm giúpcho các nhà quản trị doanh nghiệp ra được các quyết định một cách nhanh chóng,phù hợp với quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
Thông tin kế toán chi phí cung cấp vừa mang tính linh hoạt, thường xuyên,pháp lệnh và định kỳ Thông tin KTQT chi phí mang tính linh hoạt, thường xuyên
và hữu ích, không bắt buộc phải tuân theo những chuẩn mực của chế độ kế toánhiện hành
Nếu như thông tin kế toán chi phí cung cấp là những thông tin quá khứ được
xử lý từ các tài liệu lịch sử, thông qua việc lập các báo cáo chi phí và giá thànhnhằm kiểm soát chi phí và hạ giá thành, thì thông tin KTQT chi phí cung cấp baogồm cả những thông tin quá khứ và những thông tin dự báo thông qua việc lập các
kế hoạch và dự toán chi phí trên cơ sở các định mức chi phí (bao gồm cả các địnhmức về lượng và định mức về đơn giá) nhằm kiểm soát chi phí thực tế, đồng thờilàm căn cứ cho việc lựa chọn các quyết định về giá bán sản phẩm, quyết định ký kếtcác hợp đồng, quyết định tiếp tục sản xuất hay thuê ngoài gia công
Như vậy, KTQT chi phí nhấn mạnh đến tính dự báo của thông tin và tráchnhiệm của các nhà quản lý thuộc các cấp quản lý (trong đó tập trung vào cấp quảntrị cấp thấp như các tổ, đội, phân xưởng sản xuất hay bộ phận quản lý và phục vụ, lànơi trực tiếp phát sinh các chi phí) nhằm gắn trách nhiệm của các nhà quản trị với