Giới thiệu tác phẩm: “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ đúng như chính nhà văn Nguyễn Nh t Ánh đã tự thú nh n trong chương Năm của cuốn sách, nó không hề
Trang 12010
Lê Ngọc Hạnh NHÓM KT28
Giáo viên hướng dẫn:
Lớp: 9/6
1 Nguyễn Thị Thanh Thanh
2 Mai Ngọc Hoa
3 Thái Nguyên Thạch Thảo
4 Nguyễn Phước Trung
5 Hồ Gia Huấn
6 Nguyễn Phan Minh Hiếu
7 Nguyễn Thái Hòa
TUYỂN TẬP THƠ VĂN QUẢNG – ĐÀ
TỪ SAU NĂM 1975
Trang 2Bảng đánh giá quá trình đóng góp các thành viên
1
Nguyễn Thị Thanh Thanh 9/6
Tìm kiếm thông tin, làm chính, định dạng word, slide
2 i Ng c Ho 9/6 Tìm kiếm thông tin,
làm chính
3 Thái Nguyên Thạch Thảo
9/6 Tìm kiếm thông tin,
làm chính
4 Nguyễn Phước Trung
9/6 Tìm kiếm thông tin,
hỗ trợ
5 Hồ Gia Huấn 9/6 Tìm kiếm thông tin
6 Nguyễn Phan Minh Hiếu 9/6 Tìm kiếm thông tin
7 Nguyễn Thái Hò 9/6 Tìm kiếm thông tin
Trang 3ĐỀ TÀI: TUYỂN TẬP THƠ VĂN QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG
TỪ SAU NĂM 1975
PHẦN A: LỜI MỞ ĐẦU
Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương, những nhà văn từng sống, chiến đấu, sáng tác, trưởng thành từ thành phố này nhiều
người có xuất xứ không phải ở Đà Nẵng mà phần lớn từ Quảng Nam
Đó là một sự bình thường, vì vùng đất rộng rãi phí n m theo qu n
niệm củ vu Lê Thánh Tông là cái nôi văn hó nuôi dưỡng năng lực
sáng tạo không phải chỉ vùng Quảng Nam - Đà Nẵng mà là cho cả
nước
Lịch sử đã đặt vùng đất này cùng với văn h c củ nó những thử thách và cũng chính nhờ những thử thách đó mà văn h c đất Quảng
có những nét riêng, đặc sắc và độc đáo Chỉ tính từ đầu thế kỷ XX tới
n y, các tác giả đứng chân ở đây, sống ở đây cùng với các nhà văn
trên các vùng đất khác gắn bó với đất Quảng đã tạo nên một loạt tác
phẩm văn h c có được chỗ đứng vững chắc trên diễn đàn văn
chương Việt
Những tác giả nơi đất Quảng-Đà là những nh hùng trên mặt
tr n thơ c , là những chiến s đầy tâm huyết với vũ khí là con chữ
H -những con người đáng khâm phục ấy đã, đ ng cống hiến, đóng
góp hết mình cho dân tộc, cho quê hương, đất nước Dù những nh
hùng ấy đã đi x h y còn đ ng tiếp tục cống hiến thì những cống
hiến, đóng góp ấy mãi mãi trường tồn, mãi mãi có một vị trí không
th đ i dời trong lòng bạn đ c
Trang 4PHẦN B: TUYỂN TẬP CÁC THƠ VĂN QUẢNG – ĐÀ
I Các tác giả tiêu biểu:
STT Tên tác
giả
Năm sinh
Quê quán Bút danh
Thể loại theo đuổi Một s tác phẩm
Chu Đình Ngạn
Anh Bồ Câu
Lê Duy
C t
…
Truyện ngắn
Truyện dài
Có h i con mèo ngồi bên cửa
s (2012)
Ngồi khóc trên cây (2013)
Nguyên
Ng c
Nguyễn Trung Thành
…
Ti u thuyết
Truyện ngắn
Rừng xà nu(1965)
Đất nước đứng lên
Tản mạn nhớ và quên (2004)
Lắng nghe cuộc sống (2006)
Bằng đôi chân trần (2008)
Phan Trang
Hy
Truyện ngắn
Nối nụ tin yêu(2013)
Trang 5Văn
Bổng
Nam Hiếu inh
Lê Nguyên Trung
Vương Quế Lâm
Phượng Nguyễn
ngắn
Ti u thuyết
Bút kí
nước(1976)
Ghi chép về Tây Nguyên(1978)
hương Hữu Dụng- ột đời thơ(2006)
Trung niên thi s
Thi s
Bùi Bàn Dúi
Bùi Văn Bốn
Vân Mồng
Thơ (chính)
Nh n định
Sách dịch
ười h i con mắt(2001)
ù màng tháng tư(2007)
Thơ
Thơ từ yên lặng (1995)
Nỗi lan toả của ngày (2004)
Trang 6Ph n Tứ Bút k
Truyện ngắn
Ti u thuyết
trời(NXB Đà Nẵng 1994)
Bên ngoài cánh đồng (NXB Đà Nẵng 2003)
Tự Lực
Ng c Vy
Truyện ngắn
Thơ
ù ho bưởi(1999)
Ngày thường(1987)
em(2003)
Một Thuở h c trò(2004)
Hoàng Huy Truyện
Trang 7 Kịch thơ
Kịch nói
Thơ
Hạt muối trăm năm(1980)
Cảm ơn thời gian (1980)
Những đám mây màu cánh vạc(1975)
Người vắt sữ bầu trời(1985)
Thông điệp mù xuân(1985)
Tôi nhớ mư nguồn (1999)
- Bếp lửa)
ây trắng củ đời tôi (1989)
Bầy ong trong đêm sâu (1993)
Truyện ngắn
Ti u thuyết
Truyện lịch sử
Bão rừng(1957)
Phong trào Duy Tân(1995)
ì nữ h Tống(2002)
Trang 8II Giới thiệu chi tiết về tác giả-tác phẩm
1 Nguyễn Nhật Ánh
Hẳn trong số chúng t i cũng biết về Nguyễn Nh t
Ánh Ông là một tác giả n i tiếng với rất nhiều tác phẩm
viết cho lứa tu i h c trò Đ c truyện củ ông i cũng
tìm r một phần nào cái tôi trong ấy Tìm hi u về ông,
chúng t có th khẳng định một điều: phải trải qua một
quá trình không dễ dàng đ ông đư cái tôi ấy đến với
bạn đ c
a Cuộc đời và sự nghiệp
Nguyễn Nh t Ánh cũng là tên th t củ nhà văn
Ông sinh ngày 7/9/ 1955 tại Thăng Bình, Quảng Nam
Thuở nh ông theo h c tại các trường ti u h c
Ti u L , s u đó là trường trung h c Trần C o Vân và
Phan Chu Trinh
Năm 13 tu i ông tiết nên tác phẩm đầu tiên
Từ 1973 Nguyễn Nh t Ánh chuy n vào sống tại
Sài Gòn, theo h c ngành sư phạm Trong thời gi n này,
ông cũng đi Th nh niên xung phong, dạy h c, làm công tác Đoàn Th nh niên Cộng
Sản Hồ Chí inh
Từ năm 1986 đến n y ông là phóng viên nh t báo Sài Gòn Giải Phóng, lần lượt
viết về sân khấu, phụ trách mục ti u phẩm, phụ trách tr ng thiếu nhi và hiện n y là
bình lu n viên th th o trên báo Sài Gòn Giải Phóng Chủ nh t với bút d nh Chu Đình
Ngạn Đồng thời ông cũng là nh Bồ Câu trả lời những thắc mắc củ độc giả trong
chuyên mục Hôn nhân và Gi đình trên báo Hôn nhân hàng tuần
Năm 1995, ông được bầu ch n là nhà văn được yêu thích nhất trong 20 năm
Đồng thời được Hội nhà Văn Thành phố Hồ Chí inh ch n là một trong 20 nhà văn
trẻ tiêu bi u trong 20 năm (1975-1995)
Năm 1998 ông được Nhà xuất bản im Đồng trao giải cho nhà văn có sách bán
chạy nhất Năm 2003, bộ truyện nhiều t p Kính vạn hoa được Trung ương Đoàn
Th nh Niên Cộng Sản Hồ Chí inh tr o huy chương Vì thế hệ trẻ và được Hội nhà
văn Việt Nam trao tặng thưởng
Năm 2004, Nguyễn Nh t Ánh kí hợp đồng với NXB im Đồng tiếp tục cho
xuất bản bộ truyện dài gồm 28 t p m ng tên Chuyện xứ Langbiang nói về hai c u bé
lạc vào thế giới phù thủy
Năm 2008, Nguyễn Nh t Ánh xuất bản truyện có tên Cho tôi xin một vé đi tuổi
thơ, tác phẩm này được báo Người L o động bình ch n là tác phẩm hay nhất năm
2008 Đoạt giải thưởng văn h c SE N năm 2010
Trang 9 Không chỉ làm say mê những người đọc ở lứa tuổi thanh thiếu niên
mà ngay cả những bậc trung niên như "Chuyện cổ tích dành cho người
lớn", Nguyễn Nhật Ánh thật sự đã để lại một dấu ấn trong lòng độc giả Việt
Một số tác phẩm tiêu bi u
Cho tôi xin một vé đi tu i thơ
có h i con mèo ngồi bên cửa s
ính vạn hoa
Chuyện xứ Langbiang
b Giới thiệu tác phẩm: “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ”
Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ đúng như chính nhà văn
Nguyễn Nh t Ánh đã tự thú nh n trong chương Năm của cuốn
sách, nó không hề giống với bất cứ cuốn sách nào nh từng viết
và độc giả từng đ c trước đây
Trang 10Tác phẩm gồm 12 chương:
Chương 1: Tóm lại là đã hết một ngày
Chương 2: Bố mẹ tuyệt vời
Chương 3: Đặt tên cho thế giới
Chương 4: Buồn ơi là sầu
Chương 5: hi người ta lớn
Chương 6: Tôi là thằng cu ùi
Chương 7: Tôi ngo n trong b o lâu
Chương 8: Chúng tôi trở thành lũ giết người
Chương 9: i có biết bây giờ là mấy giờ rồi không?
Chương 10: Và tôi đã chìm
Chương 11: Tr ng trại chó ho ng
Chương 12: Cuối cùng là chuyến tàu không có người soát vé
Cuốn sách mở đầu bằng một nh n xét về cuộc đời củ nhân v t chính là ùi, một
chú bé mới tám tu i: “Cuộc sống thật là buồn chán và tẻ nhạt” Với một loạt d n
chứng hùng hồn, c u cho rằng cuộc sống thật là cũ kỹ ở đầu như thế, cuốn sách
khiến độc giả gi t mình, tự h i, tu i thơ thời bây giờ phải chăng đã già đi mất rồi? Và
cu ùi chỉ trẻ lại khi c u bé cùng các bạn mình bắt đầu lo y ho y tìm m i cách
thoát kh i sự buồn chán, vô vị bằng một bảo bối sẵn có của trẻ thơ – đó là trí tưởng
tượng Với bảo bối ấy, các em chơi trò vợ chồng, bố mẹ, con cái nhưng nội dung
củ xã hội bé b ng đó lại không s o chép cuộc sống củ người lớn, mà hoàn toàn l t
ngược lại, đảo tung hết m i tr t tự quen thuộc Với bảo bối ấy, cu ùi đã “tập tành
làm một nhà cách mạng tí hon , quyết không g i “con gà là con gà, cuốn tập là cuốn
tập, cây viết là cây viết” nữ Ng y đến cả bảng cửu chương, 2 nhân 4 chúng cũng
không muốn là 8, mà phải là cái gì cũng được, miễn là khác đi!” Th m chí, cu ùi
còn cho rằng, cả chuyện trái đất ngày ngày qu y qu nh mặt trời cũng là một việc hết
sức buồn tẻ mà nếu nó là trái đất, nó sẽ … tìm cách quay theo hướng khác”!
Đứa trẻ trong cuốn sách này th hiện mình không ngây thơ
Nó qu n sát, phân tích cuộc sống chung qu nh, đôi khi đư r
những triết l sắc bén về các qu n hệ trong xã hội, về các khái
niệm đối nghịch như con ngoan và con hư, sự đơn điệu và ổn
định, sự êm đềm và vô vị, sự giống nhau và tính cá biệt, tri thức
và bằng cấp Nó thử định ngh cả tình yêu, rằng yêu cũng như
học bơi vậy, ai lười sẽ bị chìm ! Và cuối cùng, đứa trẻ còn phán
xét những người lớn nữ ! Phiên tò trẻ con xử người lớn b n
đầu, một cách thông thường, có th tạo cho người đ c cảm giác
hơi khó chịu, người lớn sẽ nhăn mặt vì sự thẳng thắn quá đáng
của b n trẻ Thế nhưng, phiên tò ấy phản ánh rất th t, rất đúng
một đòi h i chính đáng của tu i thơ – đó là sự công bằng Ở các
Trang 11khái niệm mà người lớn chúng t thường nhầm l n, cũng như,
với các em, tình thương và sự tôn trọng mà ch mẹ dành cho
con cái hoàn toàn không là một!
Cho dù cuốn sách có một nội dung khác thường như thế, Nguyễn Nh t Ánh v n
cứ là Nguyễn Nh t Ánh khi nh luôn giữ nét đặc biệt trong văn phong củ mình – chất
hài hước nhẹ nhõm, đáng yêu – khiến trong khi đ c từ đầu tới cuối cuốn sách, nụ cười
thú vị không rời môi t Song, cũng lại khác với các tác phẩm trước, cuốn sách không
dừng lại ở chương thứ 12 Nó có phần v th nh vô hình với rất nhiều điều khiến độc
giả-người lớn day dứt Đây, đúng như tác giả nói, là một bản tham lu n về đề tài xã
hội, phân tích m i khí cạnh tâm sinh l trẻ em dưới con mắt của một đứa trẻ đã
-trưởng- thành, h y nói cách khác, một người lớn chư thoát kh i tu i thơ củ mình
Có cảm giác, không còn phân biệt được câu chuyện này là củ quá khứ và hiện tại hay
là câu chuyện của hiện tại và tương l i Những thời th ấy cứ đ n xen, giằng néo trong
lời k nhẩn nha củ tác giả Và hình như, đó là cách duy nhất có th chuy n tải hiệu
quả tưởng củ nh: l giải những hành động kỳ quặc của trẻ con (trong mắt phụ
huynh) l n những hành động khó hi u củ người lớn (trong mắt lũ trẻ)!
Có th nói, Cho tôi xin một vé đi tu i thơ là cuốn truyện hữu ích cho cả người
lớn và trẻ con Tác giả đã kéo các thế hệ lại gần nh u hơn Đ c nó, những người lớn
vô tâm mải miết với cuộc sống cơm áo gạo tiền có th sẽ dừng bước đôi chút mà
ngoái về phí s u, nhớ lại mình thời thơ ấu, cùng nhà văn gắng hi u con em mình đ
rồi có một phương cách tiếp c n chúng từ một tư thế khác – tư thế của những người
bạn – đ có th xó đi được cái lằn ranh giữa trẻ con và người lớn” mà nhà văn cho
là khó ngang với xóa bỏ ranh giới giàu nghèo trong xã hội Và không chỉ v y, cuốn
sách cũng cho độc giả-người lớn có cơ hội hi u rõ mình hơn bằng cách chịu đựng
sự phán xét xác đáng của trẻ thơ với một loạt những so sánh về ‘các trò chơi của trẻ
con và người lớn…
2 Nguyễn Văn Báu
guyễn n áu h y Nguyên Ng c là một
nhà báo, nhà văn, một nhân cách lớn trong số
nhiều tác giả Việt N m nói chung và Quảng
N m-Đà Nẵng nói riêng trước và s u năm 1975
Phần lớn những tác phẩm ông viết r đều phản
ánh sự th t trong cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp, đế quốc ỹ h y trong thời bình Sự
thành công trong những tác phẩm lớm củ ông
có lẽ đều dự vào những gì ông đã trải nghiệm
trong cuộc sống Tìm hi u về cuộc đời, sự
nghiệp củ Nguyên Ng c, t sẽ dần nh n r điều
đó
a Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp
Nguyên Ng c tên th t là Nguyễn Văn Báu sinh ngày 5/9/1932
Trang 12 Năm 1950, khi đ ng h c trung h c ph thông, ông gi nh p Quân đội Nhân dân
Việt Nam và hoạt động ở Tây Nguyên – chiến trường chính của Liên khu V bấy giờ
Sau một thời gian ở đơn vị chiến đấu, ông chuy n s ng làm phóng viên báo
Quân đội nhân dân Liên khu V và lấy bút d nh Nguyên Ngọc
Sau Hiệp định Ge-ne-ve, ông t p kết ra Bắc và viết ti u thuyết Đất nước đứng
lên, k về cuộc kháng chiến chống Pháp của người Ba Na, tiêu bi u là nh hùng Núp
và dân làng ông-Hoa (dự trên câu chuyện có th t của nh hùng Đinh Núp)
Năm 1955, ông được Hội Văn nghệ Việt N m tr o giải thưởng cho ti u thuyết
Đất nước đứng lên
Năm 1962 ông trở lại miền Nam, lấy bí d nh Nguyễn Trung Thành, hoạt động
ở khu V, là Chủ tịch chi hội Văn nghệ giải phóng miền Trung Trung Bộ, phụ trách
Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng củ quân khu V Cũng trong thời gi n này ông
sáng tác truyện Rừng xà nu
Năm 1965 Hội Văn nghệ giải phóng miền Nam Việt Nam tr o giải thưởng
cho t p truyện ngắn Rừng xà nu củ ông
Sau chiến tr nh, ông có thời gi n làm Phó T ng thư k Hội Nhà văn Việt
Nam, T ng biên t p báo Văn nghệ Trong thời kỳ Đ i mới và phong trào Cởi Mở,
ông đã có những đ i mới quan tr ng về nội dung tư tưởng của tờ báo
Năm 1999, Nguyên Ng c từ chức t ng biên t p và về hưu
Ông cũng đã th m gi rất nhiều hoạt động xã hội trong thời kì từ năm 2009 đến
nay
Năm 2011, tên ông có trong d nh sách đề cử Giải thưởng H Chí Minh Tuy
nhiên, ông đã xin rút
S u đó ông v n tiếp tục bền bỉ sáng tác tạo r những đứ con tinh thần bằng
ngòi bút củ mình
Năm 2013 Hội Nhà văn Hà Nội tr o tặng Nguyên Ng c giải thưởng về t p bút
k Các bạn tôi ở trên ấy
Trang 13b Một s tác phẩm tiêu bi u
Đất nước đứng lên
Đường chúng t đi
Rứng xà nu
Các bạn tôi ở trên ấy
c Giới thiệu tác phẩm: “Đất nước đứng lên”
Đất nước đứng lên là câu chuyện k về cuộc đấu tranh giữ đất giữ làng kiên cường
củ dân làng ông Ho , một buôn làng người Ba Na, ở Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Việt Nam Ti u thuyết gồm b phần, mỗi phần có từ
một đến bốn chương Nhân v t chính nh h ng N p trong cuốn ti u thuyết được
dựng lên dự vào nhân v t Đinh N p, một nh h ng lực lư ng v tr ng nh n d n,
một người con củ miền đất Tây Nguyên nh hùng
Sự say mê củ bạn đ c đối với tác nhân v t này có được là nhờ những trang văn
cuốn hút giàu chất hùng c trữ tình, với cảnh, với người củ Tây Nguyên vừa xa
xôi lạ lùng, lại cũng vừ quá đỗi gần gũi yêu thương Tây Nguyên qu ti u thuyết
"Đất nước đứng lên" củ nhà văn Nguyên Ng c không còn là Tây Nguyên chỉ có
trong huyền thoại, không còn là Tây Nguyên chỉ có trong truyền thuyết huyền bí mà là
Tây Nguyên của một đất nước có những con người cụ th , buôn làng cụ th , h sống
trong rừng cùng nương r y, cùng thiên nhiên, cùng những phong tục t p quán ngàn
đời và cùng với những người nh em các dân tộc khác chiến đấu chống giặc
ngoại xâm
Trang 14Hình tượng Núp và bà con làng ông Ho củ dân tộc Ba Na từ
đây gần gũi, máu thịt hơn đối với bà con nh em các dân tộc trên toàn cõi
Việt N m cũng như trên thế giới Cuốn sách dựng lại cuộc chiến tr nh nhân dân
thần kỳ, bằng sức mạnh củ chí không kho n nhượng, bằng tình yêu quê hương
và bằng tình cảm nồng nhiệt với đảng, với bác Hồ đã đư tinh thần B N nói
riêng, tinh thần củ người dân Tây Nguyên nói chung thành tinh thần bất khuất
R đời cùng lúc với nhiều truyện, k , nhiều ti u thuyết viết về nh hùng chiến s
thi đu , với những tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, tinh thần quả cảm của
người th t, việc th t, nhưng Đất nước đứng lên đã nh nh chóng tách đàn vượt lên, ào
vào đời sống một cách hồn nhiên nhờ sức mạnh của cảm hứng sáng tạo giàu chất thơ
với một bút pháp trữ tình, lãng mạn, hào hùng, vượt lên trên tất cả những cái có thực
và cả những cái không có thực đ dựng nên một hình tượng thực hơn thực mà lại rất
thực, đó là nh hùng Núp
Có th nói "Đất nước đứng lên" củ nhà văn Nguyên Ng c lần đầu tiên đã phá vỡ
lối viết gương người tốt việc tốt theo ki u báo chí hoặc theo th văn k chuyện vừa
công thức vừ khô cứng Đây là một tác phẩm văn h c hoàn hảo bởi tác giả không lệ
thuộc vào nguyên m u mà hoàn toàn bằng cảm hứng củ mình, tự do tưởng tượng, tự
do hư cấu trong quá trình sáng tác Đất nước đứng lên đã mở ra một chân trời
mới cho th loại này nh hùng Núp được trở thành nhân v t Núp sinh động, mới mẻ
và gần gũi với t là nhờ có tài năng sáng tạo, tấm lòng yêu Đảng, yêu cách mạng, yêu
Tây Nguyên nồng nhiệt củ nhà văn Nguyên Ng c
Qua Đất nước đứng lên nhà văn Nguyên Ng c đã thiết l p được một hệ thống
ngôn ngữ mới, một hệ thống ngôn ngữ đ m đặc bản sắc ngôn ngữ đị phương, văn
hoá đị phương, nhưng không vì thế mà giảm đi vẻ đẹp truyền thống của tiếng Việt
H y nói một cách khác, nhà vãn Nguyên Ng c, qua ti u thuyết Đất nước đứng lên đã
sáng tạo ra một hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt viết về đề tài miền núi nói chung và về
Tây Nguyên nói riêng Đây là một một sáng tạo lớn, một thành công lớn, một đóng
góp lớn, ngoài cả tưởng củ tác giả, không phải nhà văn nào cũng đạt được
Tác phẩm này đã đư nhà văn Nguyên Ng c đến với giải thưởng củ
HộiVăn nghệ Việt N m vào năm 1955
Hiện tác phẩm đã được dựng thành phim, nhạc kịch và được dịch r nhiều
Trang 15 Ph n Th nh Bình còn có bút d nh là Ph n Tr ng Hy
Ông sinh năm 1956 tại Đại Lộc, Quảng N m
Năm 1989 ông xuất bản t p thơ N i niềm riêng
Năm 1991 đạt giải khuyến khích về VHNT Quảng N m-Đà Nẵng với tác phẩn
ộ óc Rô bô
Giải khuyến khích về văn xuôi cuộc thi viết Trẻ em hôm n y - Thế giới ngày
m i của Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, 1994
Người thầy dạy búp bê - giải 3 Công đoàn Giáo dục Đà Nẵng, 1995
Năm 2009 xuất bản t p truyện Người thầy dạy b p bê
b Một s tác phẩm tiêu bi u
Người thầy dạy búp bê
Bộ óc rô bô
4 Nguyễn Văn Bổng
Nói đến Nguyễn Văn B ng trước hết, chúng
t nói đến một nhà văn xứ Quảng nh hùng, giàu
bản sắc, một nhà văn hàng đầu củ văn xuôi Việt
Nam hiện đại, một bút lực dồi dào, với những tác
phẩm tràn đầy nhựa sống, là nói đến một khối
lượng lớn những ti u thuyết, truyện ngắn và bút
k có giá trị, là nói đến một nhà văn chiến s vào
Nam ra Bắc, xông ph nơi đầu sóng ng n
gió, sống tr n cuộc đời đầy biến
Trang 16động và thử thách khắc nghiệt đi cùng lịch sử đất nước Cuộc đời
và sự nghiệp củ ông là tấm gương sáng cho thế hệ m i này
a Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp
Nguyễn Văn ổng còn có bút d nh là Trần Hiếu inh Lê Nguyên Trung,
Vương Quế Lâm, Phượng Nguyễn
Ông sinh ngày tháng n m 9 tại xã ại uang, huyện ại ộc, tỉnh
uảng am
Ông học tiểu học tại quê hương à ng au đó ra uế thi bằng t tài toán
Từ n m 1942-1943 khi ở Huế, ông bắt đầu viết văn, đã đăng các báo Sài Gòn,
Hà Nội ba bốn bút k , truyện ngắn, rút r từ t p Chuyện b người bạn
Hè 1946 ông r Hà Nội, viết cho tạp chí Tiên phong của Hội văn hoá Cứu quốc
Việt Nam
Năm 1948, Nguyễn Văn B ng làm chi hội phó chi Hội Văn nghệ Liên khu V
S u 1954, ông t p kết ra Bắc, tiếp tục hoạt động văn nghệ, là phó T ng thư k
Hội Liên hiệp văn h c nghệ thu t Việt N m khó một, Ủy viên B n chấp hành Hội
Nhà văn Việt Nam các khó một, h i và b
Năm 1954-1955 ông đạt Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954-1955 cho
ti u thuyết Con tr u
Nguyễn Văn B ng là hội viên sáng l p của Hội Nhà văn Việt Nam từ năm
1957
Từ năm 1963, ông vào chiến trường miền N m, làm phó chủ tịch Hội Văn
nghệ giải phóng miền Nam với bút d nh Trần Hiếu Minh
Từ năm 1972, ông trở lại Hội Nhà văn Việt N m và từng làm t ng biên t p
tuần báo Văn nghệ
Năm 1975, trở lại Miền Nam, dự chiến dịch Ðông xuân 1975 và chiến dịch Hồ
chí inh lịch sử
S u khi đất nước thống nhất, ông trở ra Bắc làm T ng biên t p tuần báo Văn
nghệ và th m gi B n thường vụ Hội nhà văn VN, cho đến 1983
Năm 2000 ông được nhà nước tr o tặng Giải thưởng Hồ Chí inh về
Văn h c nghệ thu t đợt hai
Ông cũng đạt được Giải thưởng Nguyễn Đình Chi u của Hội đồng văn
h c nghệ thu t Mặt tr n Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cho t p bút k
Cửu Long cuộn sóng
Ông mất năm 2001 tại Hà Nội
b Một s tác phẩm đi n h nh
Trang 17 Con trâu (ti u thuyết, 1952)
Cửu Long cuộn sóng (t p bút k , 1965)
Rừng U Minh (tiểu thuyết, 1970)
Áo trắng (tiểu thuyết, 1972)
ường đất nước (tập b t ký, 976)
Ghi chép về Tây guyên (tập b t ký, 978)
ài Gòn 967 (tiểu thuyết, 1983)
Chuyện bên cầu Chữ Y (tập truyện, 1985)
Tiểu thuyết cuộc đời (tiểu thuyết 1989)
Thời đã qua (tập b t ký, 995)
5 hư ng H u D ng
Khương Hữu Dụng (1907-2005) là nhà thơ hiện đại
Việt Nam Cuộc đời làm thơ củ ông trải dài hơn 70
năm, từ giữa th p niên thứ 3 đến cuối th p niên thứ 10
của thế kỷ 20 Những tác phẩm củ ông hầu hết nói về
cuộc kháng chiến chống Pháp Đồng thời, Ông cũng dịch
nhiều thơ chữ Hán và chữ Pháp, đặc biệt là thơ Đường
của văn h c Trung Quốc sang tiếng Việt Vài nét về cuộc
đời và sự nghiệp củ ông là những tr ng viết nói về một
con người tâm huyết đã đóng góp hết mình đ góp vào
trang thơ dân tộc những điều mà ông cho là nh nhoi
Trang 18a Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp
hương Hữu Dụng, Thế Nhu, Hy Doãn, Thiên Dân là bút d nh khi ông sáng
tác
Ông sinh r trong một gi đình nghèo tại phố c Hội An tỉnh Quảng Nam vào
ngày mồng 1 tháng Giêng năm Đinh ùi tức năm 1907
Từ năm 1922-1926 ông h c tại trường Quốc h c Huế
Năm 1926, ông gặp Ph n Bội Châu và chịu khá nhiều ảnh hưởng từ nhà yêu
nước này Từ đây, ông bắt đầu sáng tác thơ th hiện lòng yêu nước
Từ 1927: Làm giáo viên ở Bình Định, Quảng Bình
Năm 1927 đến năm 1935, ông thường xuyên đăng bài trên báo Tiếng dân và
một số báo khác với bút d nh chính là Thế Nhu
Thời kỳ Cách mạng tháng Tám năm 1945 ông ở trong B n Thường vụ Việt
Minh tỉnh Lâm Viên phụ trách mảng tuyên truyền và th m gi T ng khởi ngh tại Đà
Lạt
S u đó hoạt động ở Tân Văn hó ( ặt tr n Việt Minh Trung bộ), Th nh niên
cứu quốc Trung bộ
Vào năm 1946 ông viết Kinh nh t tụng củ người chiến s với sự trợ tác của
Nguyễn Đình Thư và Nguyễn Đình, bài diễn c nói về việc tu dưỡng phẩm chất của
người chiến s cách mạng Bài c không k tên tác giả, được lưu truyền rộng rãi trong
các chiến s cách mạng và kháng chiến, đặc biệt là ở các nhà tù thực dân
Năm 1947-1948 ông viết trường ca Từ đêm ười chín và được Tế H nh nh n
xét là một trong những trường ca xuất sắc nhất củ thơ c Việt N m kháng chiến
chống Pháp
Năm 1950 ông và cả h i con tr i đều nh p ngũ cũng trong thời gi n này ông :
vào bộ đội phụ trách Ti u b n Văn nghệ Phòng Chính trị Bộ Tư lệnh liên khu V
Ông đạt giải thưởng của Hội Văn nghệ Việt N m năm 1951-1952 với trường
ca Từ đêm mười chín
Năm 1954: t p kết ra Bắc, chuyên chú với hoạt động làm thơ, dịch thơ, biên t p
thơ
Trong các th p niên 1960, 1970 một số sáng tác củ ông được t p hợp trong
các t p thơ Những tiếng th n yêu, Quả nhỏ, i bô
Ngoài sáng tác, ông dịch hàng ngàn bài thơ Đường củ các nhà thơ Trung
Quốc và tiếng Pháp
Các tác phẩm thơ củ ông được t p hợp trong hai tuy n t p: hương Hữu
Dụng - phần sáng tác và hương Hữu Dụng - phần thơ dịch, các
bài phê bình và ti u lu n liên qu n đến cuộc đời và thơ củ ông được
t p hợp trong sách hương Hữu Dụng – một đời thơ
Trang 19 Ông mất ngày 17 tháng 5 năm 2005 tại Hà Nội, th 98 tu i
b Giới thiệu một s tác phẩm tiêu bi u
Những tác phẩm củ ông hầu hết đã được d n r ở trên như:
Những tiếng thân yêu – NXB Văn h c, Hà Nội, 1963
Kinh nh t tụng củ người chiến s (1946)
Tham gia dịch các t p thơ: Thơ Đường (t p I, t p III, 1961, 1963);
Dịch Thơ Tống (1968);
Quả nh – NXB Văn h c, Hà Nội, 1972
Dịch Thơ Hồ Chủ tịch và Nh t k trong tù, Thơ C o Bá Quát, Thơ Nguyễn
Khuyến (1971)
Dịch Thơ Nguyễn Trãi (1980)
Bi bô – NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1985
Tuy n t p hương Hữu Dụng – phần sáng tác – NXB Văn h c, Hà Nội,
hương Hữu Dụng - một đời thơ – NXB Đà Nẵng, 2006
Ngoài r , hương Hữu Dụng còn có 2 t p thơ chư xuất bản là Lệ và
Sương gồm những bài thơ tâm tình khóc vợ, thương em
c C u chuyện về Nhà thơ Khương Hữu ụng
(Khác với những tác giả khác, về phần nhà thơ Khương ữu ng ch ng ta c ng
đọc câu chuyện viết về ông để xem sự ảnh hưởng c a ông đối với cuộc sống hiện nay
cũng như tình cảm c a độc giả đối với ông như thế nào)
CÓ MỘT NHÀ THƠ MÃI MÃI TUỔI XUÂN
Tôi có nghe một câu chuyện thú vị rằng: Vào thời kỳ đầu mới bước vào nghề làm
thơ, một lần, một bạn thơ trẻ đến Nhà xuất bản Văn h c đ gặp một nhà thơ lớn tu i
làm biên t p viên nh đến bên nhà thơ rụt rè:
- Thư bác Nhà thơ không trả lời
- Dạ thư bác! Nhà thơ im lặng
- Dạ Cháu thư bác đấy ạ! Bấy giờ nhà thơ già mới ngẩng đầu lên, bảo:
- Anh ngồi xuống đây Tôi đã nghe lời nh chào, nhưng không trả lời
nh có biết vì s o không? Đối với các nhà thơ mãi mãi không
Trang 20có tu i già nh g i tôi bằng nh như nhà thơ này g i nhà thơ
khác, không phân biệt tu i tác làm chi Nhà thơ già đó là hương Hữu
Dụng yêu qu củ chúng t
Tôi quen biết bác hương Hữu Dụng cách đây đã 30 năm (Xin lỗi bác Dụng, mặc
dù cháu đã nghe câu chuyện trên, dù rất muốn g i bác bằng nh nhưng cháu còn
nh tu i hơn chị ính, nh Hưng, chị Ng c nên xin phép bác cho cháu g i bác là bác
trong bài viết này như ở ngoài đời) Đó là những ngày tôi ch p chững làm thơ, là c u
sinh viên bẽn lẽn đến gặp bác đư bài thơ Bà nội miền N m đ in vào t p Sức mới
Bác đã quần tôi từng câu từng chữ Bác là một biên t p viên s y thơ, cần cù, hết
lòng với thơ người khác Qu t y bác (cùng với bác Yến L n, nh Trinh Đường ở báo
Văn Nghệ) lớp thơ chống Mỹ chúng tôi càng hi u thế nào là nghề làm thơ và chúng
tôi có nhiều điều chịu ơn Tôi nhớ vào tết năm 1965 s ng 1966, sáng mồng Một, tôi
ghé đến thăm bác Bác bắt tôi ngồi lại sửa một bài thơ củ tôi Hôm đó khách đến
thăm bác đông Cứ có một vị khách đến là tôi đứng d y xin phép về, bác níu tôi lại nói
nh : Ông ấy sẽ đi ng y Bác cháu t còn sử thơ Bác gái rất sốt ruột Tôi còn sốt
ruột hung vì nhiều chỗ còn phải đi thăm Nhưng kết quả, h i bác cháu đã ngồi từ 7 giờ
sáng đến 7 giờ tối Có lần, đ ng đi ngoài đường, bác g i lại: Này cháu, bác b n lắm,
cháu dừng lại vài phút bác đ c bài thơ bác mới làm, ngắn lắm Ấy v y mà bác cháu
vịn ghi đông xe đạp đứng cả 2 tiếng đồng hồ
Người biên t p viên xuất sắc ấy đ u đáu với nghề thơ Những năm ấy, tôi biết có
những nhà thơ đàn nh đánh giá chư đúng thơ hương Hữu Dụng, đôi lúc có
những lời nói vui mà t xem thường, bác gạt sang một bên Bác sống giản dị trong
căn hộ t p th nhà 36 Ph n Bội Châu, đường phố m ng tên nhà ái quốc, nhà thơ và
là bạn vong niên củ bác từ thuở bác còn trẻ Già hương ngủ ng y trên sàn gỗ, đặt
một chiếc ghế con làm bàn và ngồi bệt xuống sàn đ viết Qu y cự đ có thơ h y, thơ
mới hơn, bất chấp i đánh giá mình thế nào Có lần bác tâm sự với tôi:
- Bác sống kh từ nh Mẹ bác mất lúc bác lên b Bác lớn lên trong tiếng ngâm thơ
Đường củ ch Bác s y mê những chữ lạ, những âm th nh huyền diệu dù không hi u
ngh Vào những năm 20, bác bắt đầu làm thơ yêu nước và đấu tr nh Có lẽ do cuộc
đời nghèo kh nên bác dễ thông cảm với nỗi kh cực củ dân mình Bác cứ làm như
v y thôi, theo cảm xúc củ mình, không ngờ được cụ Phan Bội Châu đ mắt tới Từ
đó, bác năng lui tới trò chuyện và đ c thơ cho cụ nghe Có khi cụ sử thơ cho bác nữa
Cụ Ph n coi bác như một người bạn vong niên, đặt bút d nh Thế Nhu cho bác và
khuyến khích bác viết Cụ thích bài Gửi tác giả bút qu n hoài , những bài thơ h a
Tôn Thất Đãi, đặc biệt bài Lử thù viết về phong trào Xô viết Nghệ T nh Nói th t
với cháu, không phải lúc đó i cũng dám viết về Xô viết Nghệ T nh Bởi thế cụ Phan
rất thích Cụ còn cho rằng bài đó có cách diễn đạt tương đối mới nữ …
Năm 1927, cụ Huỳnh Thúc háng thành l p tờ báo Tiếng ân hương Hữu Dụng
ho n nghênh:
Tiếng ai kêu đó, tiếng dân mình Vang giữa Trung kỳ đất đế kinh Chợt tỉnh mấy nghìn n m mộng mị
Hả hơi trên sáu triệu sinh linh
Trang 21Thế rồi, ngay từ số báo r ngày 2 - 11 - 1927 đến năm 1935, hương
Hữu Dụng với các bút d nh Thế Nhu, Hy Doãn, Thiên Tân, T.N, H.D,
H.Z, Z ,liên tục có mặt trên báo này Những bài thơ h y như Trời l t, Phu xe
than trời mưa, ề ảnh, Trọn nghĩa chung tình đặc biệt là bài Thói đời, một bài thơ
độc đáo và theo tôi, tính thời sự củ nó v n còn nguyên vẹn đến ngày n y:
ôi đen cào trắng xoay nhiều ngọn
C i trước lòn sau chạy đ vành
Nếu có i h i: Chủ ngh hiện thực trong thơ trước Cách mạng Tháng Tám như
thế nào, thì thơ bác hương là một d n chứng hùng hồn:
Mây kéo mưa tuôn gió thổi ào Cõi bờ nguy ngập biết là bao Trời xanh quá hại dân đen nọ
ất trắng còn cho nước bạc vào
Nỡ để non sông chìm đắm thế Ngồi trông sóng gió dập v i sao Thuyền từ còn đợi ai đua nữa Lặn lội c ng nhau cứu vớt nhau
(Trời lụt 11-11-1931) Nhà thơ có khuynh hướng yêu nước và dân sinh rõ rệt ấy còn cho đăng hàng loạt
bài trên báo Ph nữ tân v n, Ph nữ thời đàm Ngày n y, tiếc thay, do thất lạc chư
tìm lại được mấy
Thời kỳ Mặt tr n Bình dân r đời (1936 - 1939), phong trào cách mạng phát tri n
rầm rộ, công kh i Nhà thơ càng có dịp phát huy thế mạnh những bài thơ yêu nước và
đấu tranh củ mình hương Hữu Dụng đi đúng hướng, thâm nh p vào hiện thực đời
sống những người lao kh đ làm thơ kêu g i đấu tr nh Nhà thơ đã công kh i nói lên
nguyện củ mình:
Con đường sống c a bọn nghèo ta
Có một và duy chỉ một là Tranh đấu luôn và tranh đấu mãi Cho ngày mai đẹp hơn ngày qua
Những bài thơ trong gi i đoạn này: Chiều xuống, Tìm đâu, Con đường sống,
Chiếc lá cuối c ng, ống thầm là những bài thơ vừa cảm động và chứa chan niềm tin
vào tương l i:
Tôi nghe từng mảng thân gầy Thu về mộng đợi ngày hồi sinh
Trang 22Nhà thơ hương Hữu Dụng như một chiến s cầm thơ tả xung hữu đột lúc
ở báo Thế giới (miền bắc), lúc ở báo Mới (Sài Gòn), đ phản ánh hiện thực khốn
kh và bức xúc củ nhân dân và chỉ lối thoát cho h Có cái gì không khác giữ thơ
bác và thơ các chiến s cách mạng lúc đó Đó là khuynh hướng tiến bộ mà Phác Căn
đã đề cao trong tờ ân ch ng 9.1938 Nhà thơ trẻ s y mê l tưởng, háo hức sáng tác
và t p hợp lại một t p thơ đ in Nhưng vừa mới quảng cáo, đã bị một nhóm văn h c
lãng mạn đánh phủ đầu trên một tờ báo Điều ấy làm t hi u thêm thơ c yêu nước và
cách mạng trong thời kỳ còn đen tối phải chịu bao thế lực đè nén và càng qu tr ng
những nhà thơ yêu nước, trong đó có hương Hữu Dụng
Tất nhiên, hương Hữu Dụng không th có chỗ đứng trong phong trào thơ đ ng
thịnh hành Người ta tấn công đ hạ thơ ông, dè bỉu rằng chư thơ và khô kh n
Nhưng tôi ngh có cái gì đó không công bằng đối với thơ hương Nhà thơ đã có
những bài thơ nhuần nhụy không thu kém gì thơ của những nhà thơ lúc đó như:
Chiều xuống, Khó hiểu, Chối từ, Chiếc lá cuối c ng, ống thầm…Đôi lúc tôi trộm
ngh rằng, có một số nhà thơ mới hồi đó, ở chỗ này chỗ n còn dùng chữ c hơn cả
bác hương Hữu Dụng nhờ gắn bó với đời sống nên chữ mới đã ù vào thơ bác, có lẽ
gần gũi với chúng t ngày n y như bài Ốm trong t , Chia buồn, Một bức thư chép
lại…
hương Hữu Dụng viết về những tình cảm tế nhị riêng tư như tình cảm vợ chồng,
cha con, anh em, nam nữ th t xúc động và mới mẻ Th t quặn lòng khi đ c các bài
Nhớ con, ày chi, ương còn, òng em ngoài đảo Đặc biệt bài uán trọ đêm bệnh,
một bài thơ đ u đớn một cách trầm t nh mà rung động sâu x , tôi ít thấy một bài như
v y trong thơ Việt N m Còn đ c các câu:
Tôi là thi sĩ đau thương
ên tình yêu cũng vương vương ch t buồn
(Chối từ) hay:
Bắt tay có nhận chi nhiều uông tay cành r t tiêu điều lá bay
(Cái bắt tay) thì i không ngh là của một nhà thơ mới
T nên nhớ thêm là, hương Hữu Dụng không được tự do sáng tác như những
nhà thơ trong phong trào thơ mới, phải luôn th y đ i bút d nh vì chính quyền thực dân
chú theo dõi Người thầy giáo trẻ này bị đẩy đi dạy ở những vùng rừng heo hút m
thiêng nước độc như on Tum, Bình Thu n Điều gì đã đến phải đến: năm 1941,
hương Hữu Dụng bị cách chức vì những hoạt động chính trị đáng khiến trách
hương Hữu Dụng lại sống một cuộc sống vất vả, ngỡ như nó đè
nặng xuống lưng làm cho bác chóng già Nhưng thơ lại giữ cho bác
trẻ mãi: bác s y mê viết và dịch thơ
Trang 23
Với một số nhà thơ trong phong trào thơ mới, khi cách mạng thành công,
đề tài, nội dung sáng tác chuy n hướng thì lo y ho y, có người phải mất hàng
chục năm mới viết được Riêng hương Hữu Dụng với dòng thơ yêu nước và
tr nh đấu trước đây đã hò quyện với dòng thơ cách mạng và kháng chiến Cách mạng
thành công, hương Hữu Dụng như mở cờ trong bụng và hăng s y sáng tác Giữa
những ngày giông tố qu t lên con thuyền cách mạng, thù trong giặc ngoài, b n phản
động xuyên tạc cách mạng, xuyên tạc Bác Hồ Bác Hồ phải nói: Hồ Chí inh
không b o giờ bán nước hương Hữu Dụng xúc động với câu nói từ trái tim đó,
quyết định viết một cuốn sách dễ hi u đ tuyên truyền cho Việt inh và làm sáng t
đối sách củ Bác Hồ T p Kinh nhật t ng c a người chiến sĩ r đời với sự cộng
tác của Nguyễn Đình Thư và Nguyễn Đình, đã được cán bộ, chiến s từ khu V
đến Nam Bộ nô nức tìm đ c, coi như kim chỉ nam hoạt động củ mình H thuộc lòng,
ngâm ng như những bài c d o dân c quen thuộc củ quê hương xứ sở
Cuộc kháng chiến bùng n , hương Hữu Dụng dồn sức sáng tác những diễn ca
cũng như các bài thơ làm truyền đơn binh v n Những bài thơ phục vụ kịp thời của
hương Hữu Dụng được ph biến sâu rộng ở khu V và có tác dụng khá lớn Nhà
nghèo, bác vừa mở quán bán nước ở Đèo Le (Quế Sơn), chủ yếu là phục vụ cho cán
bộ, bộ đội đ có tiền sinh sống, vừ làm thơ cách mạng Đó là một tấm lòng yêu nước,
yêu cách mạng trong gi n n n nghèo đói mà chẳng i có th phủ nh n được ở bác
hương
Lăn mình phục vụ cuộc sống kháng chiến, nhưng hương Hữu Dụng không th a
mãn với những bài thơ phục vụ chính trị kịp thời Nhà thơ trằn tr c suy ngh , h c h i,
tr o đ i với bạn bè tìm cách th hiện mới đ vừa phản ánh thực chất cuộc kháng chiến
vừ đúng với nguyện về thơ củ mình Chính điều đó đã tạo cho hương Hữu Dụng
có được hùng c “Từ đêm 9” Theo tôi, có lẽ đây là một trong những trường ca xuất
sắc đầu tiên của nền văn h c cách mạng non trẻ củ chúng t Nó cắm một cái mốc
quan tr ng trong cuộc đời làm thơ củ hương Hữu Dụng Bản trường ca ấy không
còn sự phản ánh kịp thời mà nó chắt l c tinh hoa linh hồn của cuộc kháng chiến ở
Quảng Nam - Đà Nẵng Nhiều bài thơ c ngợi công cuộc kháng chiến kiến quốc của ta
hồi đó giờ đ c lại thấy nhạt nhưng Từ đêm 9 càng đ c càng thấy cuốn hút, thấy rung
động sâu sắc Nó dựng lên được cái hồn, cái không khí, cái cốt lõi của cuộc kháng
chiến, không chỉ ở Quảng Nam - Đà Nẵng mà của cả nước Có th có đôi đoạn còn dài
dòng nhưng nói chung đây là một bản trường ca nhuần nhuyễn mà tác giả đã kết hợp
hài hò giữa truyền thống thơ dân tộc và thơ hiện đại tạo nên sự sinh động và những
nét mới trong thơ gi i đoạn ấy Tôi không dám trích d n r đây những đoạn hay,
những chỗ thú vị vì trong trường ca ấy có nhiều đoạn h y và thú vị, sợ sẽ dài trong bài
viết ngắn này Xin mời các bạn đ c lại cả bản trường ca ấy, bạn sẽ thấy rõ những điều
tôi muốn nói
V t lộn với thi ca, khi t p kết ra Bắc, hương Hữu Dụng ngốn ngấu
đ c thơ trong nước, thơ nước ngoài bù lại thời gi n kháng chiến không
Trang 24có sách và không có thời gi n đ c Nhà thơ tìm tòi, nghiên cứu,
tr o đ i với các bạn sáng tác, trong đó có những anh em trẻ chỉ đáng tu i con
cháu mình Bác hăm hở đi thực tế từ vùng m đến giới tuyến, cùng với nỗi nhớ miền
Nam da diết đã cho r đời t p thơ Những tiếng thân yêu, làm trẻ lại nhà thơ đã 50
tu i:
Anh đi làm ca một Chị đã làm ca hai
ôi vợ chồng thợ mỏ
hư sao ôm sao Mai
(H i ngôi s o)
và miền N m và T quốc hiện lên trong thơ bác giản dị đầm ấm biết bao:
ình ịnh sống quen hồi kháng chiến ước dừa như thể nước trong thôi
Từ ngày rời cửa uy hơn ấy Một tiếng “dừa” nghe đ ngọt rồi
(Nhớ)
Các bài ai ngôi sao, hững tiếng thân yêu, Chào những người thợ ch nhân
ông, hớ, àng trưa, êm Yên Châu ở trong t p này là những bài thơ h y đánh dấu
một gi i đoạn mới củ nhà thơ
Tiếp tục đánh v t với trang giấy trắng đ đ i mới và trẻ hó thơ, vào năm 1972,
lúc hương Hữu Dụng đã về hưu, t p Quả nhỏ r đời T p thơ như tấm giấy thông
hành đi ngược về tu i trẻ củ già hương, nó cũng đánh dấu một bước tiến đáng chú
củ nhà thơ T p thơ đã tránh được những chỗ gò ép, khô kh n mà đôi lúc Những
tiếng thân yêu mắc phải, nó tươi trẻ vàkhoáng đạt như tâm hồn nhà thơ Các chùm thơ
về ong, về ch con, ông cháu tạo nên sự phong phú của t p thơ và chùm nào cũng có
những bài h y, câu h y: uê ong, M a hoa sở, Không đề, Thơ ông cháu Bài thơ Gửi
con trong nớ chỉ có th có trong sự trăn trở tìm tòi mà trước đó chư có trong Những
tiếng thân yêu:
ua cây đa đầu thôn Con nhớ thét to lên Cho cha ông nghe tiếng Rằng thằng ưng Con già Khương
ã về
Trang 25Đặc biệt, bài ông Cống chiều nay có những nét diễn đạt độc đáo, trẻ trung
gây ấn tượng mạnh cho người đ c, càng ngh càng thấy đằm sâu:
Một rừng kè rất cọ ông Cống chiều nay
ao mà Ph Thọ
ao mà Tam uan
hương Hữu Dụng hóm hỉnh tài tình trong bài Không đề, nhất là câu thơ cuối
cùng đã không diễn đạt ở ngôi thứ nhất mà đột ngột chuy n ngôi vừa bất ngờ vừ kín
đáo dễ thương:
Cạo bộ râu l c tuần Soi mặt vào m a xuân Hoa vẫy ong đầu ngõ Xuân gọi ta bằng anh
Tới đây thì t hi u vì s o nhà thơ muốn được g i mình bằng nh như câu
chuyện mở đầu Nhà thơ đã viết những câu thơ tình tứ, thâm trầm mà đằm thắm như
một th nh niên mới lớn:
Xin một n trên cành
Ủ kín vào thương nhớ
Em để dành m a xuân
ợi anh về mới nở
Già hương còn tình tứ với Anh trạm đầu sông, em cuối sông, Không bao giờ
quên được nhau nữa chứ!
Thời gi n trôi đi… đ tiến thêm một bước trong việc đ i mới và trẻ hó thơ, nhà
thơ càng quyết liệt tu luyện ngôn ngữ như người già t p dưỡng sinh, v t lộn với thời
gian cố làm đảo ngược sự lão hó mà con người i cũng phải trải qua Và hương
Hữu Dụng đã thắng lợi với t p i bô, r đời lúc bác gần 80 tu i Có th nói rằng, bầy
cháu nh đã cố níu ông trẻ lại với chúng:
Ông cười nghe cháu ngân nga Leo vần thơ c t chữ ra chữ vào
T p thơ tuy m ng nhưng lại đánh dấu một bước tiến x trong thơ hương Hữu
Dụng Nó cho t thấy sự từng trải đầy chiêm nghiệm của một người cao tu i lại hồn
nhiên dí d m của một người rất trẻ tu i.Trong t p đã có những bài đạt đến sự giản dị
sâu x vốn là bản chất củ thơ Có th nói rằng, ở tu i cao, nhiều nhà thơ đã khô cạn
tình cảm, viết l nhiều hơn tình, nhiều khi vì v y mà thơ dễ dãi nôm n hơn
chính thơ mình trong gi i đoạn trước Trái lại hương Hữu Dụng
Trang 26càng c o tu i thơ càng dồi dào, tươi trẻ và nhuần nhuyễn hơn, làm
người ta nhớ đến những người chân tu Những bài thơ i bô, Cô mẫu giáo,
a điều, Ông cháu, rồi Bé chào, é lo là những phát hiện tinh tế về tâm l chỉ có ở
những người ông yêu cháu và hò nh p với tu i thơ ấu Bên cạnh những bài g m đời,
g m thế sự sâu sắc với những câu thơ điêu luyện như ên Côn ơn, êm thu đọc Ức
Trai, Tâm sự với Nguyễn Công Trứ, chùm thơ tình củ bác hương với Ảnh em để rơi
đâu, ét cười, Hẹn, ợi, ét chữ là những bài h y, xúc động đằm thắm Có một bài
hương Hữu Dụng chư kịp đư vào t p này, nhưng làm trong gi i đoạn này, Bạn
xuân là một bài thơ vừ sâu x vừ hóm hỉnh tươi trẻ không phải dễ có được trong thơ
tình Việt Nam
Trên con đường đi đến đạo thơ hương Hữu Dụng ngày càng gần đến đắc
đạo và ngày càng trẻ r Tôi đã đ c bài Phố ông khi còn là bản thảo, cứ ngỡ là thơ
của một tác giả trẻ nào
Khi viết bài này có bạn nhắc tôi:
- Viết về hương Hữu Dụng nhớ nhắc đến việc dịch thơ củ cụ đấy nhé
Vâng, tôi đâu dám quên điều ấy Quên là có tội với bác hương đấy Bác đã đứng
trên h i chân: nhà thơ và nhà dịch thơ Ngh cho cùng, đó cũng chỉ là một: Lòng yêu
thơ Bác đã dịch hàng ngàn bài từ Đỗ Phủ, L Bạch, Bạch Cư Dị, thơ Đường, thơ
Tống đến thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du thơ Bác Hồ Nguyên việc ấy chẳng phải là
một đóng góp lớn ư? Đó là chư k phần dịch thơ phương Tây như Thần húc của
Đ n-tê, Truyền thuyết các thế kỷ củ Vichto Huygô và Bi n đ i củ Ô vít (chư
in) v v Nhưng bác dịch thơ không chỉ đ làm công việc dịch thu t theo ngh thông
thường Bác dịch thơ đ h c thơ, đ tìm sự đồng điệu củ tâm hồn, đ sáng tác trong
dịch Trách nhiệm củ nhà thơ và nhà dịch thơ khiến bác rất kh tâm kh trí khi dịch
Có lần bác nói với tôi:
- Dịch thơ, theo bác là việc làm nguy hi m vì có h i cám dỗ đón đường Cám dỗ
thứ nhất là mình nệ nghĩa mà quên chữ sẽ làm cho t tưởng có một bản dịch đúng cực
kỳ mà hó r chỉ là cái xác Cám dỗ thứ h i là chú cái thần, cái hồn mà quên chữ,
nghĩa đ s vào tình trạng đánh rơi nguyên tác d c đường, cứ tưởng vợ mình mà hó
r cô gái khác Vì v y dịch thơ là quá trình suy ngh , làm việc c t lực đ tìm hi u ngôn
ngữ, phong tục, lịch sử, đị dư rồi người dịch phải đắm đuối với nguyên bản như với
người tình v y Ấy thế mà nàng v n cứ lẩn trốn mới kh chứ
Cố gắng thực hiện theo nguyên tắc này, đ dịch thơ, ví dụ như dịch Binh xa hành
củ Đỗ Phủ, hương Hữu Dụng phải mất biết bao thời gi n và sức lực Có lúc đ ng
đạp xe đến m u dịch định mua mấy thứ cần, giữ đường ngh r được một chữ mới,
một không khí mới, liền đạp xe về, l p c p ngồi vào bàn viết Có lúc đ ng ăn, thờ th n
đứng d y cầm bút, vợ bác cứ thắc mắc Có đêm nằm nhớ lại cuộc chia tay với người
con đi chiến trường rồi tưởng tượng đến thời Đỗ Phủ… Viết rồi xé, xé rồi viết… thời
gi n qu đi, chẳng biết b o lâu mới có bản dịch:
…Mới biết sinh con trai Chẳng bằng sinh con gái
Trang 27Sinh trai, lấp v i theo cỏ dại
H i câu trên là hoạt dịch mà nói được cái thần củ nguyên tác (sinh n m ác,
sinh nữ hảo) H i câu dưới là chuẩn dịch, đúng ngh tiếng chữ mà lột được thần (mai
một tùy bách, thảo) Đoạn thơ xúc động biết b o, Đỗ Phủ biết bao!
Viết bài này, tôi không dám coi đây là một bài giới thiệu, càng không phải là bài
nghiên cứu về nhà thơ hương Hữu Dụng Tôi chỉ xin độc giả coi như những cảm
nh n củ tôi về một nhà thơ mà tôi yêu mến trân tr ng Còn với bác Dụng, cháu
xin bác coi đây như một bông ho đồng giản dị mà đứ cháu nh từ quê x m ng
r Hà Nội đ kính dâng lên bàn thờ bác
6 Bùi Giáng
Trong cuốn Từ đi n văn h c bộ mới, nhà nghiên
cứu T huê đã từng viết rằng: i Giáng viết rất
nhiều, nhưng những gì còn lại chính là thơ Thơ ông,
ngay từ thuở đầu đã rong chơi, lãng mạn, tinh nghịch,
nhẹ nhàng, hóm hỉnh, luôn là những lời vấn đáp lẩn
thẩn về ý nghĩa cuộc đời, về lẽ sinh tồn, về những
chuyện ph du, dâu bể, ẩn khuất khía cạnh d c tình
khép mở…” Thơ Bùi Giáng có một nét đẹp, một sức
quyến rũ kì lạ khó cắt ngh nỗi Hầu hết những hình
ảnh trong những bài thơ quyến rũ ấy đều bắt nguồn từ
những gì có trong đời sống thưc Và cũng như b o tác
giả khác, thơ là cuộc đời ông và cuộc đời ông chính là
những gì có trong thơ Tìm hi u Vài nét về cuộc đời
và sự nghiệp củ nhà thơ kì lạ ấy t sẽ càng hi u hơn
về điều này
a Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp
Các bút d nh khác: Trung niên thi sĩ, Thi sĩ, i àn i, i n ốn, ân
Mồng
Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại làng Th nh Châu thuộc xã V nh
Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam
Năm 1933, ông bắt đầu đi h c tại trường làng Th nh Châu
Năm 1936, ông h c trường Bảo An (Điện Bàn)
Năm 1939, ông r Huế h c tư tại Trường trung h c Thu n Hó
Tháng 3 năm 1945, Nh t đảo chính Pháp, nhưng s u đó ông cũng kịp đ u bằng
Thành chung
Năm 1949, ông th m gi kháng chiến chống Pháp, làm bộ độiCông binh
Năm 1950, ông thi đỗ tú tài đặc biệt do Liên khu V t chức, được cử tới
Hà T nh đ tiếp tục h c Tuy nhiên ông đã b dở việc h c và
Trang 28 Năm 1952, ông trở ra Huế thi tú tài 2 b n Văn chương Thi đỗ, ông vào
Sài Gòn ghi danh h c Đại h c Văn kho
Năm 1963 ông xuất bản t p thơ đầu t y ư nguồn Đây là bước đầu đư ông
đến gần hơn với độc giả
Năm 1969, ông "bắt đầu điên rực rỡ" (Bùi Giáng) S u đó, ông "l ng th ng du
hành Lục tỉnh" (Bùi Giáng), trong đó có Long Xuyên, Châu Đốc
Năm 1971, ông trở lại sống ở Sài Gòn
Bùi Giáng mất lúc 2 giờ chiều ngày 7 tháng 10 năm 1998, sau một cơn t i
biến mạch máu tại bệnh viện Chợ R y (Thành phố Hồ Chí inh)
Trang 29Mư ngu n là t p thơ đầu t y cũng là t p thơ n i tiếng nhất củ Bùi Giáng Ông
viết t p thơ này với bút d nh là Trung niên thi s
T p thơ này in lần đầu năm 1963 tại nhà in Sơ h i (Sài Gòn) Cho đến n y đã tái
bản lại vài lần, riêng trong lần tái bản năm 1994, tác giả có sửa chữa những lỗi ấn loát
Theo như tác giả ghi ở tr ng 3, thì " ư nguồn" là đ "tặng b người con gái
chiêm b o ở bờ c Phi Châu" T p thơ không có bài tự , tác giả d n dắt người đ c vào
bằng những câu thơ lục bát:
Xin chào nhau giữa con đường
M a xuân phí trước miên trường phía sau
Phần tác phẩm gồm có 139 bài, sáng tác từ th p niên 1950 tới năm 1963, bằng các
th loại: Thơ 8 chữ (nhiều nhất), thơ lục bát, thơ thất ngôn, thơ tự do
Đây là tác phẩm đầu t y và cũng là tác phẩm n i tiếng nhất củ Bùi Giáng T p
thơ này đã đư tên tu i ông xuất hiện nhiều trên tr ng thơ Việt cũng như đư ông đấn
gần hơn với độc giả Việt N m và thế giới
Những tác phẩm củ Bùi Giáng rất nhiều nhưng nỗi b t nhất là t p thơ ư nguồn
và những hình ảnh mù xuân trong thơ ông Người đ c như lạc vào vườn xuân với
những nét xuân khác nh u theo từng cung b t cảm xúc củ tác giả Đó là cõi riêng của
ông và cũng là niềm tin củ ông Ông tin tưởng vào muà xuân vì đó là một mù đẹp
nhất trong một năm và mù xuân cũng là mù hạnh phúc ù xuân trong thơ ông đối
với thời gi n là vô cùng và không gi n là vô t n
ù xuân bữ trước mù xuân bữ s u, xuân bốn bên trong hiện tại vây hãm tấn
công đời hạnh phúc lạnh như băng không làm s o nhúc nhích (Bờ xuân, ư nguồn,
tr.38-39)
Ông sử dụng nhiều điệp ngữ xuân xuân bữ trước, xuân bữ s u, xuân bốn
bên Dụng ở đây muốn nói lên một mù xuân miên viễn, lòng ông lúc nào cũng
tràn ng p mù xuân Dù trong vòng chu kỳ của một năm chỉ có b tháng mù xuân,
xuân đi rồi xuân sẽ trở lại, nhưng mấy ai cảm nh n được xuân từng bữ như ông
Phải chăng ông xem xuân giống như những bữ ăn cho nên ông t n hưởng được
mù xuân ấy trong từng bữ đó là thời gi n, còn không gi n là xuân bốn bên
ngh là nơi nào cũng có mù xuân cả So với xuân của chu kỳ trời đất, xuân củ Bùi
Giáng hiện hữu trong giờ phút hiện tại và vây hãm, tấn công nhưng nó lại m ng đến
cho ông một hạnh phúc
Ngôn từ rất Bùi Giáng, mấy i nói xuân vây hãm tấn công b o giờ Chỉ có Bùi
Giáng mới thế, ông có điên trong ngôn ngữ h y không điều đó không biết nữa Chỉ
có ông mới hi u nỗi cái ngôn ngữ củ ông Dù không biết ông có điên h y không
nhưng nếu tinh t v n thấy ông hạnh phúc trong mù xuân mà ông cảm nh n
hác với mù xuân của trời đất theo chu kỳ b tháng trong một năm, còn xuân của
ông là từng bữ cái bữ đó ông đã thưởng thức nó trong niềm hạnh phúc thẩm sâu
vào trong t n hồn ông, mà nói rõ hơn là cảm nh n bằng Tâm
Giống như những câu thơ trong bài thơ Nguyên Đán củ nhà thơ
Trang 30hông những ông t n hưởng mù xuân trong cả không gi n và thời gi n mà còn
tin vào một mù xuân miên viễn như tin một cánh én sẽ báo tin một mù xuân đ ng
về Hình ảnh chim én b y, báo hiệu mù xuân cho nhân loại Đây là một niềm vui
chung chứ chẳng phải riêng một mình ông hi chim én về báo hiệu mù xuân đến,
xu t n đi mù đông đầy băng tuyết giá lạnh đ cho những cây khô nẩy lộc đâm chồi:
Én đầu xuân tuyết đầu đông Rừng cô tịch ngóng nội đồng trổ hoa
( ư nguồn, tr.62) Ông đồng cảm ngh với nhạc s Văn C o, trong c khúc Xuân đầu tiên củ Văn
C o có đoạn: Rồi dặt dìu mù xuân theo én về, mù bình thường mù vui n y đã
về… Xuân đến lòng người ai lại chẳng vui, ai chẳng nao nức, ai chẳng muốn gặp lại
cố nhân, những người đã x vắng từ bao giờ Xuân về cho lòng người một cảm giác
ấm cúng, thân thương, khó tả:
M a xuân hẹn thu về em trở lại
Ta nhìn nhau trong bóng nước mơ màng ước chảy mãi bởi vì xuân trở lại Với dòng trong em hẹn ở bên đường
Ta sẽ đợi nghe đời em kể lại Thuở xưa kia bờ nước ấy xưa kia
Ta sẽ đợi nghe đời em nói mãi
ên đời ai vạn đợi đã chia lìa
M a xuân hẹn thu về em trở lại
ên đời đi còn giữ mãi hay không Giòng bất tuyệt xanh ngần xuân thơ dại Sầu hoang vu vĩnh hạ vọng non hồng
(Về cố quận, Mưa nguồn, tr.61)
Những câu thơ củ ông th t lạ, không giống như những mù xuân củ thiên hạ
hay tả là mù xuân có bướm có ho ù xuân củ Bùi Giáng là hạnh phúc
mà hạnh phúc củ ông chỉ trong những câu nói b lững, chính vì
v y ta mới thấy ông cảm nh n ở Tâm: Thuở xư ki …bờ
Trang 31nước ấy xư ki Câu thơ không m ng một nội dung gì cả, thuở xư
ki là thuở nào, xư là từ bao giờ, bờ nước ấy là bờ nào, rồi lại nhắc thêm
một lần xư ki nữa Phải chăng mù xuân củ ông là một sự hoài niệm, khắc khoải,
chờ đợi, h y là mơ ước cho một mù xuân đẹp sẽ đến khi ông khát kh o một nàng thơ
nào đó sẽ trở về Nhưng dù thế nào thì ông cũng cảm nh n được hạnh phúc trong mùa
xuân củ mình Ông đã sớm linh cảm rằng cuộc đời củ ông chỉ xo y vòng trong một
t độ mà t độ đó được xác đinh bởi không gi n Cố qu n và thời gi n Nguyên
xuân đễ đến n i ông phải thối lên rằng:
Rồi tôi lớn, đi vào đời chân bước
Cỏ M a Xuân bị giẫm nát không hay Chợt có l c hai chân dừng một lượt gười đi đâu ? Xưa chính ở chỗ này
(Chỗ này, Mưa nguồn, tr.82)
ù xuân trong thơ ông có lúc đã rất vui, rất hạnh phúc, nhưng cũng lại có mù
xuân đ u đớn, tái tê th hiện qu câu: C ù Xuân bị gi m nát không h y C đẹp
thế, mù xuân đẹp thế nhưng bị gi m nát lúc nào không h y biết Phải chăng ông đã
rất đ u đớn một điều gì đó, tâm hồn ông đã giằn xé h y xót x cho kiếp c cây h y
cho thân ph n con người Với ngh này Trịnh Công Sơn cũng xót x cho thân ph n
củ c qu c khúc C xót x đư :
“Trên đời người trổ nhánh hoang vu Trên ngày đi mọc cánh lá m Những tim đời đập lời hoang phế ưới mặt trời ngồi hát hôn mê ưới vòng nôi mọc từng nấm mộ ưới chân ngày cỏ xót xa đưa.”
C trong thơ củ Bùi Giáng cũng như trong nhạc của Trịnh Công Sơn đều đ u
đớn như nh u C như thân ph n kiếp người cũng bị con người chà đạp, c cũng biết
xót x biết tủi nhục, biết tái tê, biết rơi lệ Như v y, mù xuân trong câu thơ này của
Bùi Giáng cũng u buồn, chứ đâu phải mù xuân trong câu thơ nào củ ông cũng vui
Mưa nguồn cũ quá xa rồi một trận
Ôi xuân xanh vĩnh biệt như thể nào
(…) gười viết mãi một màu xanh cho cỏ
gười viết hoài một màu cỏ cho xuân…
( ài ca uần ảo, tr.22-23)
Với thơ ông, mù xuân củ đất trời h y xuân trong lòng thì cũng có
lúc xuân buồn, cũng có lúc xuân vui, có lúc xuân hạnh phúc
Trang 32nhưng cũng có lúc xuân xót x Có những mù xuân đã qu đi
không b o giờ trở lại nhưng cũng có những mù xuân ở mãi trong lòng ông
Rồi suốt một đời, ông đã ấp ủ một mù xuân và ông vẽ cho chính mình một chân dung
chân dung duy nhất, như viết hoài một màu c cho xuân
Xuân mười sáu suốt bến xuân chìm tắt Một bài thơ gieo suốt tự bao giờ
( ài ca uần ảo, tr.11)
hông biết năm mười sáu tu i đã xảy ra biến cố gì trong cuộc đời ông mà bến
xuân trong ông đã chìm tắt? Điều đó cũng chẳng ai biết, chỉ biết là ông làm thơ từ dạo
ấy, khoảng vào năm 1942, tại Huế, như theo lời k củ ông trong đầu sách Lời Cố
Qu n
Đ c thơ ông người đ c như lạc vò một cánh rừng u tịch, không biết lối r , không
định hình được hướng, Người đ c choáng ngợp với từ từ, từng ngữ, từng câu thơ ông
H s y sư , h suy ngh , … nhưng không th hi u hết những gì ông viết trong thơ
Trong khi h còn đ ng đắm mình với c cây ho lá trong mù xuân củ ông thì bất
chợt đâu đây lại nghe một lời chào như hư như thực:
Xin chào nh u giữ con đường
ù Xuân phí trước miên trường phí s u
(Chào Nguyên Xuân) Ủa! Quen hay lạ mà chào nh u thế? Phải chăng trong từ vô thỉ m i người đã quen
nh u? Thôi thì thôi cũng xin chào nh u vì tất cả m i người cùng đi trên một lộ trình
cơ mà iếp người đã là một lộ trình dài vô t n, trên lộ trình đó thi thoảng con người
đã gặp nhau rồi Trong luân hồi sanh tử ấy nếu có duyên V y thì hãy cứ chào nh u đi,
cứ vui đi như t n hưởng những mù xuân v y Niềm khát kh o nhất một kiếp người
không phải là đi tìm hạnh phúc đó s o? V y thì xin cứ xem nh u như những người
quen đ còn được thấy nh u, được chào nh u Hôm n y còn gặp thì hãy cứ chào đi, cứ
vui đi như xuân đ ng về v y, và hãy đ cho mù xuân ấy miên trường ở phí s u, có
ngh là còn vui trong vạn ngày tới nữ Hãy b qua những đ u thương mất mác trong
cuộc đời đ đi tìm một bến bờ hạnh phúc Hãy cảm nh n nó trong từng bước chân và
đừng nói thêm gì nữa:
Thư rằng nói nữ là sai
ù Xuân đ ng đợi bước i đi vào
H i rằng: đất trích chiêm b o
Sá gì ng u nh mà chào đón nh u
(Chào Nguyên Xuân)
ù xuân trong thơ Bui Giáng còn ở bước chân của ai nữ ki Xuân cũng
có th theo người mà về chứ chẳng cần có chim én Phải chăng là
Trang 33mù xuân củ tâm hồn khi tâm hồn tràn ng p niềm vui thì một bước
chân nhè nhẹ cũng là một hạnh phúc Nhưng s o trong những câu thơ này
Bùi Giáng tự h i rồi lại tự trả lời Ông có cô đơn không? Có lẽ tâm trạng ông vừa
hạnh phúc vừ cô đơn chăng? Chính vì cô đơn nên ông mới độc thoại với chính mình
Có khi ông rất mơ hồ, rất triết l nhưng có khi ông lại rất thực tại:
“Thưa rằng: ly biệt mai sau
à tr ng ngộ giữa hương màu guyên Xuân.”
hông chỉ có v y, những câu thơ về mù xuân củ ông có cái gì đó ngộ ngộ mà
xư n y chư có một i ngh r dù nó chỉ là những hiện tượng bình thường của cuộc
sống:
“Xuân về xuân lại xuân đi
i là đi biệt từ khi chưa về”
Theo Đặng Tiến nh n xét: H i câu thơ đơn giản Ngớ ngẩn mà thâm sâu Vớ vẩn
mà thần sầu Thâm sâu ở chỗ: lời nói tự hủy, tự lời bôi xó lời Câu thơ có ngh là:
tôi vô ngh Thần sầu ở chỗ: không mấy ai thấy cái chốn thâm sâu
Theo Nhất Thanh nh n định: đây là ột bài thơ Xuân lạ lùng! Người làm thơ cứ
như nhảy chân sáo trong thơ Rất bông đù , hóm hỉnh mà lại triết l đến không ngờ
Qua tới đi về, cứ như mù Xuân đ ng lượn lờ trước mắt chúng t Thế mà nó đã đi, đi
biệt khi tất cả chúng t chư kịp thấy nó về H y nói cách khác, mù Xuân v n mãi đi
về giữ đất trời lớn rộng, trong khi lòng người quá nhiều b n rộn nên chư kịp thấy
hết nhịp điệu đến đi phiêu bồng của một cõi Nguyên Xuân
Nói theo chu kỳ củ vũ trụ thì xuân đến thì xuân phải về, dù cho con người có
mong đợi h y không hi xuân đến có bảo xuân đừng đến cũng không được mà khi
xuân đi có nắm giữ xuân lại thì cũng không th H i câu thơ củ Bùi Giáng nói lên
chu kỳ của trời đất rất bình thường thôi nhưng nghe lại không bình thường Có cái gì
đó h y h y, lạ lạ, không dùng ngôn ngữ b y bướm, phóng đại gì cả, tuy rất đời thường
nhưng lại rất khác thường Có cái gì đó rất hay theo ki u củ Bùi Giáng mà t không
th nói nên lời
Theo nh n định củ người viết: Nếu nói Trịnh Công Sơn là phù thủy về ca từ
trong âm nhạc thì Bùi Giáng là kẻ điên về từ ngữ trong văn chương điều đó không
ngo chút nào Còn Đặng Tiến cũng khẳng định: Thơ Việt Nam nhiều câu h y
Nhưng h y ki u Bùi Giáng, xư n y có một Bùi Giáng
mãi là một thi s sống trong lòng đ c giả
7 Nguyễn im Huy
a Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp
Ông sinh năm 1962 tại Đà Nẵng
Giải thưởng báo Tiền Phong 1992
Giải thưởng tạp chí Đất Quảng 1992
Trang 34 Giải thưởng VHNT 1985-1995 của UBND Quảng Nam-Đà Nẵng
Năm 1995 xuất bản t p thơ Thơ từ yên l ng
Năm 2004, xuất bản t p thơ N i l n tỏ c ngày
Năm 2006 cho r đời t p truyện ngắn M t ph
Năm 2013 Hội đồng L lu n phê bình văn h c nghệ thu t Trung ương ghi nh n
và tr o tặng giải C cho t p Thu Bồn - nhà thơ trữ tình đất Quảng
Ông là Hội viên Hội nhà văn Việt N m, là Uỷ viên B n chấp hành, Chủ tịch
Hội đồng thơ Hội nhà văn Đà nẵng
Hiện n y, ông đ ng công tác tại nhà xuất bản Đà Nẵng
b Một s tác phẩm tiêu bi u
Thơ từ yên lặng (Thơ – Nxb Đà Nẵng 1995)
Nỗi lan t a củ ngày (Thơ – Nxb Văn H c 2004)
chuyên lu n văn h c khá dày dặn của Nguyễn Kim
Huy Với hơn 200 tr ng sách kh 14,5x20,5cm
Nguyễn Kim Huy d n dắt người đ c cảm nh n
cuộc đời và sáng tác của Thu Bồn nhẹ nhàng, suôn
sẻ như th dòng trôi êm êm củ con sông Thu Bồn
vào những ngày thu đẹp ( i Bá Ấn) Đó là sự
thành công của Nguyễn Kim Huy khi từ địa hạt thi
c nhảy qu địa hạt phê bình văn h c Và sự thành
công củ nh đã được Hội đồng L lu n phê bình
văn h c nghệ thu t Trung ương ghi nh n và tr o
tặng giải C cho t p Thu Bồn - nhà thơ trữ tình đất
Quảng năm 2013
Tác phẩn khái quát cuộc đời và sự nghiệp thi ca
củ nhà thơ Thu Bồn bằng bảy đề mục gói g n
trong b chương sách, nhưng Nguyễn im Huy đã
nói lên được những gì cần nói về một nhà thơ tài ho củ quê hương
Nguyễn Kim Huy viết về thời thơ ấu cũng như những ngày đầu tham
gi cách mạng rồi trở thành nhà thơ - chiến s của Thu Bồn bằng
Trang 35gi ng văn như th tâm tình nên có sức hấp d n lôi cuốn người đ c
Bài c chim chơ r o là trường c đã làm nên tên tu i Thu Bồn ngay sau khi
Mỹ ào ạt đ quân vào miền N m Ông viết trường ca ấy trong ánh lửa lồ ô b p bùng
ở làng Đêp pơlêch Và tác phẩm này đã được trao Giải thưởng văn h c quốc tế Bông
sen của Hội Nhà văn Á - Phi Nguyễn Kim Huy qua t p chuyên lu n củ mình không
những cung cấp cho người đ c một hàm lượng lớn thông tin về cuộc đời và sự nghiệp
thi ca củ nhà thơ Thu Bồn, mà còn đi sâu phân tích về cái tôi trữ tình hào sảng và
lãng mạn , cái tôi trữ tình đ m đà chất Quảng và tư duy thơ Thu Bồn Thơ và
trường ca Thu Bồn luôn m ng đ m tinh thần nhân văn thời đại L giải về điều đó,
Nguyễn Kim Huy viết: Là người con của m i miền quê hương đất nước, Thu Bồn
luôn nh n thức sâu sắc về một quê hương rộng lớn, bao gồm nhiều miền đất (…)
chung một mơ ước về một ngày m i hò bình tươi sáng
Đất Quảng tự hào là nơi đã sản sinh r nhà thơ Thu Bồn Ông là nhà thơ lớn với tư
duy thơ hiện đại Bởi ông biết kế thừa ch n l c và phát huy sáng tạo các th thơ
truyền thống , biết khơi nguồn thơ văn xuôi với những cách tân về nội dung cũng
như hình thức thơ Vì v y, ông có một gi ng điệu thơ riêng mà qu khảo sát thơ ông,
Nguyễn Kim Huy khẳng định: … khí chất thơ miền Trung - Tây Nguyên nói chung
và xứ Quảng nói riêng, m ng đầy âm hưởng sóng gió, bão tố của một miền đất dữ dội
khắc nghiệt nhưng cũng rất thơ mộng hùng tráng phóng túng về cả tự nhiên l n lịch sử
giữa hai t độ củ nó đã đ m đặc và trở thành nét chủ đạo trong gi ng thơ Thu
Bồn Gi ng thơ ông đã làm nên phong cách thơ ông Đó là cái tôi trữ tình phóng
khoáng vạm vỡ, dữ dội cuộn xiết đầy tinh thần lạc qu n và niềm tin Và đó cũng là
cái tôi trữ tình mênh mông s y đắm và khát v ng yêu thương, và vô t n cô đơn đến
mức nâng cô đơn lên thành một triết l với những chiêm nghiệm sâu sắc, với những
khát v ng được giao cảm, được sẻ chi đến khắc khoải
Với t p chuyên lu n văn h c củ mình, Nguyễn im Huy đã tái hiện chân dung
thơ Thu Bồn khá thành công Thành công này đã đư sự nghiệp củ ông qu một tr ng
mới
8 Nguyễn Minh Hùng
a Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp
Ông sinh ngày 1 tháng 1 năm 1959 tại Huyện
Điện Bàn, Tỉnh Quảng N m
Năm 2001 xuất bản tác phẩm Cảm nh n văn
chương
Năm 2002 xuất bản tác phẩm Ch n Trời
Năm 2003 xuất bản tác phẩm Văn chương
nh n từ góc s n trường
Từ 2002-2007 là Ủy viên Hội Nhà văn Đà
Nẵng khó I