– Giao thức định tuyến RIP Hedrick, 1988 dựa trên thuật toán khoảng cách vector với số liệu đếm bước nhảy được thường được sử dụng ngay cả trong các mạng nhỏ tại địa phương.. Tổng quan
Trang 1MÔN: CÁC KỸ THUẬT TỐI ƯU
Đề tài: “Giải thuật di truyền định tuyến thích
ứng”
Giảng viên : TS Lê Nhật Thăng Sinh viên thực hiên: Nguyễn Thị Hà Giang Nguyễn Minh Tuấn
Lớp: M11CQCK01-B
Trang 2Nội dung báo cáo
Trang 3TổNG QUAN
– Thuật toán định tuyến được xây dựng dựa trên bảng định tuyến. – Internet phát triển mạnh các thuật toán cần phải có khả năng
mở rộng và thích nghi cao
– Trong chương này chúng tôi trình bầy về thuật toán GENETIC
ADAPTIVE ROUTING ALGORITHM (GARA)
• Duy trì thay thế các tuyến sử dụng thường xuyên
• Cân bằng tải
Trang 4THUậT TOÁN ĐịNH TUYếN TRÊN
INTERNET
– Từ thời kỳ sơ khai của Internet, thuật toán khoảng cách vector
định tuyến dựa trên thuật toán Bellman-Ford (Bellman, 1957, Ford và Fulkerson, năm 1962
– Giao thức định tuyến (RIP) (Hedrick, 1988) dựa trên thuật toán
khoảng cách vector với số liệu đếm bước nhảy được thường được sử dụng ngay cả trong các mạng nhỏ tại địa phương
– Những điểm hạn chế
• Chi phí quảng bá lớn
• Kích thước bảng định tuyến lớn
• Số lượng gói tin gửi đi nhiều
Trang 5Tổng quan về GARA
– Thuật toán định tuyến di truyền
thích ứng (GARA) là một thuật
toán định tuyến sử dụng hoạt
động di truyền để tạo ra các
tuyến luân phiên trong bảng định
tuyến
– Nó được dựa trên các thuật toán
định tuyến nguồn
– Mỗi node có một bảng định
tuyến chứa một bộ các tuyến
đường luân phiên
– Thuật toán quan sát độ trễ của
các tuyến đường thường xuyên
sử dụng
Trang 6Hoạt động di truyền tạo đường (PGO)
– Với thuật toán GARA, các hoạt động di truyền tạo đường như
đột biến đường và lai ghép đường được thiết kế để tạo các
tuyến có thể luân phiên nhau dựa trên thông tin về topo mạng Hoạt động đột biến đường sẽ gây nên sự xáo trộn về tuyến đường để tạo ra một tuyến luân phiên khác Hoạt động lai
ghép tuyến sẽ trao đổi các nhánh nhỏ trong tuyến giữa một cặp tuyến
– Có hai loại
• Đột biến tuyến
• Lai ghép tuyến
Trang 7Đột biến tuyến
sau đây, với r là tuyến gốc và r’ là tuyến đã
được đột biến
nguồn và node đích
cả các node lân cận của node đột biến nm’
nguồn đến node n’m và một đường ngắn
nhất r2 từ node n’m đến node đích.
trong r1 và r2 thì chúng được nối với nhau
và tạo thành tuyến đột biến r’ = r1 + r2 Nếu
có sự trùng lặp thì tuyến bị hủy việc đột biến
xem như không được thực hiện
Trang 8Lai ghép tuyến
– Quá trình lai ghép tuyến sẽ trao đổi các
tuyến con giữa hai tuyến
– Để thực hiện được lai ghép, cặp tuyến phải
có cùng node nguồn và đích
– Quá trình lai ghép được sử dụng với các
cặp tuyến r1 và r2 theo các bước sau
• Chọn một bộ node Nc có xuất hiện
tronng cả r1 và r2 (trừ các node nguồn và
đích) làm các điểm có thể cắt để lai ghép
• Chọn ngẫu nhiên node nc từ Nc để làm
điểm cắt.
• Hoạt động lai ghép được thực hiện bằng
cách trao đổi tất cả các node sau node
nc giữa r1 và r2
Trang 9Duy trì bảng định tuyến
– Bảng định tuyến chứa 5 trường là:
đích, tuyến, tần số, trễ và trọng số
• Với mỗi đích, ta có một bộ các
tuyến luân phiên
• Tần số của một tuyến xác định
số gói tin gửi đến đích có sử
dụng tuyến đó
• Trường trễ lưu trễ truyền thông
của gói tin được gửi trên tuyến
• Trọng số của một tuyến được
tính toàn bằng trễ truyền thông
của nó
Đích Tuyến Tần số Trễ Trọng số
2 (1 3 2)* 7232 50 0.7 (1 3 4 2) 2254 60 0.2
(1 3 4 5 2)
1039 70 0.1
6 (1 8 6)* 20983 100 0.4
(1 10 11 6)
34981 105 0.6
8 (1 8)* 30452 40 0.9 (1 7 8) 3083 40 0.1
Trang 10Duy trì bảng định tuyến
– Trong bảng này, các tuyến được đánh dấu
(*) là các tuyến mặc định, là các tuyến ngắn
nhất dựa trên tham số hop-count Ban đầu,
bảng định tuyến trống rỗng
– Khi cần gửi một gói tin và nếu không có
tuyến đến đích thì một tuyến mặc định
được tạo ra bởi thuật toán Dijkstra được
đưa vào bảng định tuyến
– Sau khi gửi một số các gói tin trên một
tuyến, ta gửi một gói tin để quan sát trễ
truyền thông của tuyến
– Giá trị thích nghi được tính sau khi nhận
được trả lời
– Sau khi quan sát, PGO được sử dụng với
các tuyến với xác suất xác định để tạo các
tuyến luân phiên
Đích Tuyến Tần số Trễ Trọng số
2 (1 3 2)* 7232 50 0.7 (1 3 4 2) 2254 60 0.2
(1 3 4 5 2)
1039 70 0.1
6 (1 8 6)* 20983 100 0.4
(1 10 11 6)
34981 105 0.6
8 (1 8)* 30452 40 0.9 (1 7 8) 3083 40 0.1
Trang 11Tính toán độ thích nghi và lựa chọn
để quan sát độ trễ truyền thông dọc theo tuyến
đường
tuyến được tính toán theo công thức
∑ ∈
=
S
i i
w
η
η
/ 1
/
1
∑ ∈
=
S
i i
d
d
/ 1
/ 1
● Bởi vì ta cần có một trọng số wi lớn hơn cho trễ di truyền nhỏ hơn Do đó, một tuyến với trễ nhỏ hơn
sẽ thường được sử dụng để gửi gói tin
Trang 12Thực thi lưu lượng
1 Ở trạng thái khởi tạo, bảng định tuyến trống rỗng
2 Nếu bảng định tuyến không chưa tuyến được có đích đến cho gói tin đã được tạo thì một tuyến mặc định sẽ được tạo ra bằng cách sử dụng thuật toán Dijkstra và tuyến đó được đưa vào bảng
3 Sau mỗi lần đánh giá trọng số, hoạt động di truyền
được gọi lại với xác suất xác định để tạo các tuyến
luân phiên trên bảng định tuyến.
4 Nếu kích thước của bảng định tuyến vượt quá giới
hạn, chúng ta thực hiện phép chọn lọc để giảm kích thước của nó .
Trang 13Thực nghiệm kết quả
Smith
dụng có 20 node
● Mô phỏng được chạy trong 3000 giây để
nhận được các kết quả tại mỗi node trong
mạng, gói tin dữ liệu được khởi tạo ngẫu
nhiên tại một thời điểm xác định được phân
bố theo hàm mũ Đích đến của gói tin được
lựa chọn ngẫu nhiên từ các node được biểu
diễn là các hình tròn được tô xám Xác suất
đột biến là 0.1 và xác suất lai ghép là 0.05
Trang 14Thuật toán GARA viết bằng mã
Pascal
Trang 15Thời gian đến của gói tin
gian đến trung bình nhỏ hơn của các gói tin giao tiếp hơn so với RIP, SPF
và SPF thích nghi
và SPF thích nghi .
quan sát độ trễ truyền thông của liên kết là không hiệu quả trong mạng tải nhẹ
mạng tải nhẹ .
Trang 16Chi phí định tuyến
GARA đạt được thời gian đi đến nhỏ hơn với chi phi truyền thông ít hơn nhiều
=> thuật toán GARA đạt được khoảng 20% thời gian đến
trung bình so với khoảng thời gian của RIP và SPF Điều này nghĩa là các gói tin được gửi bằng thuật toán GARA sẽ đến đích nhanh hơn 5 lần so với các gói tin được gửi bằng các thuật toán khác
Trang 17Tình trạng tải của liên kết
•Độ dày của một liên kết là viết tắt của chiều dài hàng đợi trung
bình của nó
• Gara đạt được ít hơn nhiều trên không liên kết, đặc biệt là trên
các liên kết 11 <=> 13 <=> 19
Trang 18Kết luận
Gara nhận ra một định tuyến thích ứng hiệu quả với chi phí truyền thông ít hơn bởi các cơ chế sau đây:
• Nó quan sát độ trễ truyền thông của các tuyến đường
thường xuyên sử dụng.
• Nó tạo ra một thiết lập phù hợp của các tuyến đường
thay thế sử dụng các nhà khai thác di truyền.
• Nó phân phối các gói dữ liệu giữa các tuyến đường thay thế, nhận ra một cơ chế cân bằng tải giữa chúng.
Trang 19Xin chân thành cảm ơn!