những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền giáo dục nước ta
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA LỊCH SỬ
B¸o c¸o khoa häc
§Ò tµi:
NguyÔn V¨n VÜnh víi cuéc c¶i c¸ch gi¸o dôc ®Çu thÕ kû XX
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Phạm Xanh Sinh viên thực hiện: Nguyễn Kim Dung Lớp : Lịch sử CLC K50
Hà Nội năm: 2008
MỞ ĐẦU 1.Mục đích của đề tài
Trang 2“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” câu nói nổi tiếng của Thân NhânTrung trong bài sớ dâng lên vua Lê Thánh Tông, đã trở thành mục tiêu của nềngiáo dục Việt Nam trong mấy trăm năm qua Sự nghiệp trồng người là mối quantâm lớn nhất, là nhân tố cơ bản quyết định sự hưng vong của cả một quốc giadân tộc Gắn bó chặt chẽ với vận mệnh dân tộc, nền giáo dục Việt Nam đãkhông ngừng sản sinh ra nhiều nhân vật kiệt suất đóng góp cho lịch sử nướcnhà Thành quả to lớn đó là kết quả của những đóng góp không mệt mỏi củanhiều cá nhân, nhiều thế hệ cho sự phát triển giáo dục đất nước.
Đề tài này, chúng tôi tập trung đề cập đến những đóng góp của NguyễnVăn Vĩnh- một học giả nổi tiếng của Việt Nam đầu thế kỷ XX, đối với nền giáodục nước ta Thông qua đó, chúng tôi mong muốn tái hiện những điểm nổi bậtcủa nền giáo dục nước nhà đầu thế kỷ XX, một chặng đường đầy gian nan thửthách với bản sắc văn hóa dân tộc, với những biến chuyển lớn lao về chính trị,kinh tế, văn hóa, xã hội Là một mũi tiên phong của cuộc cách mạng văn hóa tưtưởng đầu thế kỷ XX, giáo dục đã có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệpgiải phóng dân tộc, trước hết là trên bình diện văn hóa tư tưởng Đặt trên tầmcao đó, chúng tôi muốn khẳng định vai trò của Nguyễn Văn Vĩnh – một trongnhững người thủ xướng cuộc cách mạng giáo dục đầu thế kỷ XX
2.Tính cấp thiết của đề tài
Khi bắt tay vào nghiên cứu đề tài này, chúng tôi thấy việc nghiên cứu vềmột nhân vật nổi tiếng trong lịch sử, nhất là một học giả lớn như Nguyễn VănVĩnh đến nay không phải là điều mới Nhưng, chúng tôi cũng nhận thức rằng :đưa đề tài nay ra xem xét , bàn luận có một ý nghĩa lớn
+ Thứ nhất, rất nhiều người nghiên cứu về Nguyễn Văn Vĩnh nhưng chođến nay chưa có đề tài cụ thể nào khai thác về những đóng góp của ông trên lĩnhvực giáo dục Một mũi tiến công mà ông ý thức rất sâu sắc về sức mạnh của nótrong cuộc cải cách văn hóa đầu thế kỷ XX
Trang 3+ Thứ hai, Nguyễn Văn Vĩnh là một học giả uyên bác, có những đónggóp to lớn cho lịch sử dân tộc, nhưng đến nay vẫn còn nhiều ý kiến phiến diện
về vai trò của ông do hoặc thiếu thông tin hoặc hiểu sai lệch
+ Thứ ba, đặt trong tiến trình phát triển của nền giáo dục Việt Nam, thìgiai đoạn đầu thế kỷ XX có tầm quan trọng lớn lao của sự dứt bỏ nền giáo dục
cũ, hình thành nền giáo dục mới của dân tộc Do đó, nghiên cứu về giáo dụcViệt Nam đầu thế kỷ XX là một mảnh đất rất màu mỡ và đặc sắc, một việc làmhết sức có ý nghĩa
+ Thứ tư, nghiên cứu về những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh trên lĩnhvực giáo dục sẽ cung cấp cho chúng tôi kiến thức và cái nhìn đầy đủ sâu sắchơn về cuộc tiếp xúc Đông – Tây diễn ra trong lịch sử dân tộc ta đầu thế kỷ XX
+ Thứ năm, đầu thế kỷ XXI, chúng ta đang bước vào quá trình hội nhậpquốc tế với nhiều thử thách và vận hội lớn Để đứng vững và phát triển, chúng taphải huy động hết mọi nguồn lực quốc gia kể cả những kinh nghiệm từ quá khứ.Những bài học kinh nghiệm trong cuộc tiếp xúc Đông - Tây đầu thế kỷ XX sẽ
là những bài học quý giá cho dân tộc ta vận dụng để nhận ra mình, bảo vệ mình,
và tiến kịp bạn bè quốc tế Trong đó, chúng ta đang ra sức cải cách nền giáo dụcđất nước và không thể thiếu những kinh nghiệm của cuộc cải cách giáo dục đầuthế kỷ XX, càng không thể thiếu những con người như Nguyễn Văn Vĩnh…
3 Lịch sử nghiên cứu và các nguồn tư liệu
Có rất nhiều nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau về NguyễnVăn Vĩnh Như tác giả Hoàng Tiến với đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước
: “Chữ quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ 20” Cô Phạm Thị Thu với luận văn thạc sĩ 1997 : “Một vài khía cạnh về lịch sử chữ Quốc ngữ qua
khảo sát Đông Dương Tạp Chí và Nam Phong Tạp Chí” Ông Phan Khôi với “ Nguyễn Văn Vĩnh trong con mắt tôi” 1936 Quốc Anh với “Nguyễn Văn Vĩnh trong con mắt người cùng thời” (tạp chí Xưa và Nay số 27) Cô Nguyễn Thị Lệ
Hà (2004) với “ Nguyễn Văn Vĩnh với cuộc cổ vũ và truyền bá chữ quốc ngữ
đầu thế kỷ XX” ( tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 5) Và gần đây nhất là một khóa
Trang 4luận cử nhân về những đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh với văn hóa Việt Nam.Cùng rất nhiều những nghiên cứu khác Nghiên cứu về Nguyễn Văn Vĩnh khôngphải là một vấn đề mới nhưng không hề cũ.
Là một nhà văn hóa lớn của Việt Nam đầu thế kỷ XX, hoạt động củaNguyễn Văn Vĩnh trải rộng trên rất nhiều lĩnh vực : báo chí, giáo dục , vănchương, xuất bản, dịch sách, và cả kinh tế, chính trị Do đó, phạm vi tư liệu vềông rất rộng Nghiên cứu những đóng góp của ông trên lĩnh vực giáo dục, cũng
có rất nhiều tài liệu có thể khai thác
Đáng chú ý là: những tài liệu về hoạt động của các tổ chức do ông sáng
lập như Hội Trí Tri, Hội dịch sách…Đặc biệt, Nguyễn Văn Vĩnh là một dịch giả
nổi tiếng, người hoạt động nhiều nhất trên lĩnh vực báo chí và xuất bản, nênchúng tôi tập trung nhiều nhất đến những bài viết của ông và nhiều học giả khác
cổ động cho giáo dục trên hai tờ báo : Đại Nam Đăng Cổ Tùng Báo và Đông
Dương Tạp Chí… Đấy là những tài liệu trực tiếp.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng hết sức chú ý đến những tài liệu gián tiếp: tàiliệu của những nhân vật cùng thời viết về Nguyễn Văn Vĩnh, những tài liệunghiên cứu của nhiều học giả thế hệ sau về ông Đối với những tài liệu này,chúng tôi cố gắng giữ con mắt khách quan khi xem xét, đánh giá
4 Đối tượng nghiên cứu và những vấn đề đi sâu giải quyết của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là tất cả các hoạt động củaNguyễn Văn Vĩnh có liên quan đến cuộc cải cách giáo dục đầu thế kỷ XX.Trong đó, chúng tôi tập trung vào khai thác các hoạt động của ông trong các tổ
chức giáo dục : Đông Kinh Nghĩa Thục, Hội Trí Tri, Hội dịch sách… và những nội dung giáo dục trên hai tờ báo do ông làm chủ bút : Đại Nam Đăng Cổ Tùng
Báo và Đông Dương Tạp Chí Chú ý đến những hoạt động của Nguyễn Văn
Vĩnh cổ vũ việc học chữ Quốc ngữ - phương tiện truyền thụ cơ bản của nền giáodục dân tộc mới…
Khi nghiên cứu, chúng tôi cố gắng làm nổi bật lên vai trò của ông trongcuộc cải cách giáo dục đầu thế kỷ XX, với tư cách là người khởi xướng, người
Trang 5hoạt động tích cực và có nhiều đóng góp nhất Ông là một trí thức Tây học tàihoa muốn hiện đại hóa nền giáo dục nước nhà theo Âu Tây tư tưởng, đồng thời
là con người thiết tha với những giá trị truyền thống nhưng cũng vô cùng nhạybén với thời cuộc Ông cũng là người có công đầu trong việc tạo nên mối quan
hệ chặt chẽ và phát huy vai trò của báo chí trong cải cách giáo dục
5.Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để nghiên cứu đề tài này một cách hiệu quả nhất, chúng tôi đã sử dụngkết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp lịch sử,phương pháp logic, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh v.v…
6 Kết quả và những đóng góp của đề tài
Mặc dù còn nhiều hạn chế trong quá trình nghiên cứu, nhưng cơ bảnchúng tôi đã cố gắng tập hợp nhiều tài liệu về những đóng góp của Nguyễn VănVĩnh trên lĩnh vực giáo dục, và đưa ra những nhận định khách quan, khoa họcnhất về vai trò của ông trên lĩnh vực đó
Thông qua đề tài này, chúng tôi mong muốn đóng góp thêm vào việc táihiện lại cuộc cải cách giáo dục đầu thế kỷ XX Đồng thời, đánh giá lại vai trò,ảnh hưởng của một số nhân vật lịch sử còn nhiều tranh cãi, trong đó có NguyễnVăn Vĩnh Chúng tôi cũng mong muốn rằng: đề tài này sẽ góp thêm một cáinhìn mới mẻ, chi tiết, đầy đủ hơn về học giả này
Trang 62.2 Quan điểm giáo dục của Nguyễn Văn Vĩnh
2.3 Các biện pháp thực hiện cải cách giáo dục
2.3.1 Truyền bá sâu rộng chữ Quốc ngữ - phương tiện truyền thụ cơ bảncủa giáo dục mới
2.3.2 Thành lập và tham gia vào hoạt động của các tổ chức giáo dục –trung tâm tuyên truyền, ứng dụng và phổ cập mô hình giáo dục mới
2.3.3 Sử dụng báo chí như một công cụ đắc lực cho tuyên truyền, cổđộng giáo dục Quốc ngữ đồng thời phổ biến nội dung và phương pháp học mới
KẾT LUẬNTrong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ
nhiệt tình của các cán bộ Thư viện Khoa học xã hội, Thư viện Quốc gia, Thư
viện Đại học Quốc gia, và Thư viện Khoa Lịch sử - Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, cùng các thầy cô, gia đình và bè bạn Chúng tôi xin chân thành
Trang 7Ông sinh ra trong cảnh loạn lạc Hà Nội vừa bị thực dân Pháp chiếmđóng trước đó ít ngày Hai năm sau, triều đình Huế kí hiệp ước Pa tơ nốt đầuhàng, công nhận sự thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta Việt Nam từmột nước phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến.Mười bốn năm sau, phong trào Cần Vương – phong trào đấu tranh vũ tranggiành độc lập do các văn thân sĩ phu yêu nước lãnh đạo bị dìm trong bể máu.Đến đây, hệ tư tưởng phong kiến đã chính thức cáo chung trong cuộc đấu tranhgiải phóng dân tộc Tiếp đó, thực dân Pháp dáo diết tiến hành cuộc khai thácthuộc địa lần thứ nhất (1897 – 1914) Cuộc khai thác thuộc địa đã làm cho cơcấu kinh tế xã hội Việt Nam biến đổi sâu sắc Chế độ thực dân Pháp đã đượcthiết lập trên toàn cõi Việt Nam Xã hội Việt Nam đang đứng trước một cuộctiếp xúc Đông – Tây rộng lớn, toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế,văn hóa, xã hội Thời đại đầy biến động đó ít nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng củaông.
Làng Phượng Vũ, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Nội ( bây giờ là huyện PhúXuyên tỉnh Hà Tây) quê gốc của ông là một vùng chiêm trũng nghèo khổ, quanhnăm ngập nước Nhưng đây cũng là vùng quê nổi tiếng hiếu học với nhiều người
đỗ đạt cao
Do cuộc sống nghèo khổ, bố mẹ phải bỏ ra Hà Nội kiếm sống, ở nhờ nhà
bà Nghè Đại Gia, tại số 46 phố Hàng Giấy Phố này, hồi đó là một phố Cô đầunổi tiếng của Hà Nội, nơi mà khách làng chơi Tây, Tầu lui tới tấp nập, đồng thờicũng là nơi mà những người cuối cùng của đảng Văn Thân chọn làm nơi hoạtđộng chống Pháp
Ông sinh ra và lớn lên trên đất Hà Thành văn vật, trong lúc Kinh đô cổđang chuyển mình thành một đô thị phương Tây hiện đại Năm 1888, Hà Nộiđược Pháp công nhận là thành phố loại I và trở thành Thủ phủ của Đông Dương
Hà Nội trở thành trung tâm của những biến chuyển kinh tế, văn hóa, xã hội củanước Việt Nam thuộc địa Năm 1902, cùng với sự hoàn thành tuyến đường sắt
Hà Nội - Lạng Sơn, cầu Pôn Đume ( Cầu Long Biên), là việc khánh thành Nhà
Trang 8Đấu Xảo,Trường Đại học Đông Dương thành lập vào năm 1906 Năm 1911,Nhà Hát Lớn được hoàn thành, mô phỏng nhà hát Quốc Gia Pháp Rạp chiếuphim Eden cũng được xây xong và hoạt động vào năm 1917.v.v…Ngân hàngĐông Dương thành lập và đặt trụ sở tại Hà Nội Đô thị cổ kính với nhữngphường hội thủ công mang dấu ấn đậm nét của các làng nghề được thay đổi dầnthành một thành phố hiện đại với nhiều ngành kinh tế mới như điện, giao thông,ngân hàng, dịch vụ v.v… Những con phố cổ được đổi sang những cái tên Pháp,bán hàng hóa Pháp; những đường phố mới to đẹp, thẳng tắp với những ngôi nhàtheo kiến trúc Pháp cũng lần lượt được xây dựng quanh hồ Hoàn Kiếm NgườiPháp cũng ào ạt sang sinh sống ở Hà Thành Họ lập ra làng Tây, theo sau đó làlối sống Tây, văn hóa Tây Hàng loạt các khu công sở, khu biệt thự, khu vuichơi được ra đời Người Hà Nội có thêm lối sống thị dân mới Xe đạp, xe ô tô đitrên đường phố Nhiều người ăn mặc quần áo Tây, dùng hàng Tây, những đồ gì
lạ người ta cũng gán cho chữ “đồ Tây” Trường học kiểu Pháp thành lập, báo chíPháp được phát hành, sách phương Tây tràn ngập phố phường Hà Nội, đến nỗi
mà bán sách thành một nghề, các phố bán sách mọc lên như phố Hàng Gai ; làngPhú Đôi, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây chuyên làm nghề bán sách.v.v…Chuyển mình mạnh mẽ với đời sống mới nhưng mạch ngầm văn hóa cố đô vẫn
âm thầm chảy trên đất Hà Thành Hà Nội đầu thế kỷ XX không chỉ là thủ phủcủa chính quyền Thực dân, mà còn là trung tâm tiếp xúc văn hóa phương Tây ởViệt Nam, nơi mà mọi sự va cham giữa hai nền văn minh phương Đông vàphương Tây đều tác động mạnh mẽ tới từng con người sống trong không gianvăn hóa đó
Nguyễn Văn Vĩnh lớn lên trên kinh đô ngàn năm văn hiến, kế thừatruyền thống hiếu học của quê hương, có sẵn trong mình ý chí vươn lên thoátkhỏi cuộc sống nghèo khổ, lại được tác động không ngừng bởi các yếu tố vănhóa phương Tây đang du nhập ồ ạt cùng những biến chuyển của Hà Thành Tất
cả đã tác động không nhỏ đến nhân cách và suy nghĩ của Nguyễn Văn Vĩnh, lýgiải phần nào tư tưởng canh tân sau này của ông
Trang 9Cuộc đời Nguyễn Văn Vĩnh là sự nỗ lực phi thường vươn lên học thức,địa vị xã hội, sự nghiệp báo chí và hết tâm sức cổ động cho truyền bá chữ Quốcngữ, đổi mới giáo dục, canh tân đất nước Tuy vậy, sống trong buổi giao thờiđầy biến động, lại hoạt động trên lĩnh vực hết sức nhạy cảm là báo chí, từng có
sự nghiệp chính trị nhất định trong chính quyền Pháp, hướng theo Âu Tây tưtưởng… nên không khỏi có những những điều tiếng khen chê về ông Nhưng dùthế nào, cũng không thể phủ nhận được những đóng góp to lớn của Nguyễn VănVĩnh cho nền văn hóa Việt Nam trong đó có giáo dục
Ta hãy lắng nghe những người cùng thời nói về Nguyễn Văn Vĩnh
Đây là lời điếu của Trần Tuấn Khải, một lời điếu hàm xúc, như ẩn chứa
cả cuộc đời lắm trầm luân và nhiều định kiến, nhưng vô cùng đáng quý củaNguyễn Văn Vĩnh :
“ Mấy mươi năm xoay trở một trò đời, nào khi vào nghĩa đảng Đông Kinh, lúc từ huy chương Bắc Đẩu, khi hò hét Âu Tây tư tưởng, lúc giảng diễn Niên lịch thông thư, vang lừng giọng nói câu văn, nóng lạnh trái tim, đậy nắp quan tài chưa hẳn định.
Bao nhiêu bạn đi về cùng lớp trước, nay người đã thượng thư tổng đốc,
kẻ còn Tân Đảo, Côn Lôn, người ca tụng Pháp- Việt đề huề, kẻ theo đuổi quân dân hiến pháp, rộn rịp đường ngang lối dọc, sang hèn cuộc thế, trông chừng dân nước vẫn đang suy.”
Bậc trí nhân nỗi đời đầy những trái ngang Còn ông Phan Khôi có đăng
bài bình luận “Ông Nguyễn Văn Vĩnh trong con mắt tôi” trên tuần báo sông Hương số 1 ngày 1/8/1936, 3 tháng sau ngày ông Vĩnh mất : “ Cả cuộc đời ông
Vĩnh có hai việc mơ hồ, sự thực nó thế nào chỉ một mình ông biết , đã rước về cho ông lời bình phẩm khắt khe ấy Tức là giữa cái đảng họa Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1908 mà ông được thoát, và sau cuộc tự trị năm 1918 mà ông “có câu” Xin làm rõ ý của ông Phan Khôi Hai sự việc mơ hồ trong đời ông
Nguyễn Văn Vĩnh là : Năm 1907, ông tham gia thành lập Đông Kinh NghĩaThục Khi tổ chức này bị đàn áp, tất cả những người có liên quan đều bị giết
Trang 10hoặc bị đầy ra Côn Đảo, trong đó có Phan Châu Trinh Còn Nguyễn Văn Vĩnh
và Nghiêm Xuân Quảng thì không (sau này Nghiêm Xuân Quảng còn được làmtổng đốc) Sự việc thứ hai là : Sau đại chiến thế giới thứ nhất ( 1914 – 1918), cácnước Đế quốc thắng trận họp hội nghị tại Vec xây để phân chia quyền lợi sauchiến tranh Tổng thống Mỹ Uyn sơn đưa ra chính sách đối ngoại 14 điểm trong
đó có đề cập đến quyền tự quyết cho các nước thuộc địa và phụ thuộc Ở Pháp,Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt nhân dân Việt Nam gửi đến hội nghị bản yêu sách
8 điểm đòi quyền tự quyết cho dân tộc Việt Nam Thì trong nước, ông NguyễnVăn Vĩnh cũng gửi yêu sách đề nghị quyền tự do dân chủ cho thực dân Pháp.Ông Nguyễn Ái Quốc lập tức bị thực dân Pháp săn đuổi, còn ông Nguyễn VănVĩnh không những không bị đàn áp mà còn được chính phủ Pháp ngợi khen
Vậy ta nhìn nhận sự việc này như thế nào?
Đối với sự việc thứ nhất, ta có thể lý giải nhờ lời của cụ Hoàng Đạo
Thúy - một chí sĩ cùng thời với Nguyễn Văn Vĩnh : “Dự vào việc lập trường
Đông Kinh Nhĩa Thục mà không ra mặt, đến lúc bị khủng bố thì được Schneider che chở” Schneider là một người Đức, ký với chính phủ Pháp nhận thầu các
công việc in ấn ở Đông Dương Ông này quen biết Nguyễn Văn Vĩnh từ năm
1906, và rất quý ông Schneider chính là chủ hai tờ báo Đại Nam Đăng Cổ Tùng
Báo và Đông Dương Tạp Chí do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút.
Còn sự việc thứ hai, chúng ta đều biết rằng đó là âm mưu thâm độc củathực dân Pháp muốn lợi dụng Nguyễn Văn Vĩnh để ru vỗ đồng bào trong nước
Âm mưu này chúng không chỉ thực hiện với ông mà với ngay cả cụ Phan ChâuTrinh - một nhà cách mạng khi chúng dự định đưa cụ về nước năm 1924 Việclàm của Nguyễn Văn Vĩnh đã nhóm lên một ngọn lửa nhỏ, dóng lên một tiếngnói lớn đòi tự do dân chủ cho dân tộc Việt Nam
Và chính ông Phan Khôi cũng khẳng định rằng : “ nói tự trong tim mình
ra, tôi có phục ông Nguyễn Văn Vĩnh thật, tôi phục ông ở chỗ có chí tự lập, ở chỗ không mộ hư vinh”; và với ông, ông Nguyễn Văn Vĩnh là một kẻ sĩ hào
Trang 11hiệp, có tấm lòng cao cả; với những đóng góp của mình, ông Nguyễn Văn Vĩnhxứng đáng được ghi nhận.
Còn cụ Phan Bội Châu – ngôi sao sáng trên bầu trời cách mạng Việt
Nam đầu thế kỷ XX thì điếu ông rằng : “Tài bác học nổi trong hai nước, đàm
ngôn luận phất cờ, làng văn mở mặt, công nghiệp tuy còn lỡ dở, thanh âm từng bạt gió Ba-lê”.
Nguyễn Văn Vĩnh là người có tư tưởng cộng hòa, ông chống vươngquyền đến triệt để Ông từ chối lạy Khải Định lúc vua ngự ra Bắc, lại từ chốiluôn cả huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh do chính quyền Pháp ban tặng Ông làngười hết lòng vì dân vì nước Thế cho nên, đến cuối đời, 1936, do sức ép củathức dân Pháp và những gánh nặng của cuộc khủng hoảng kinh tế, ông bị phásản.Thực dân Pháp bắt ông phải lựa chọn : hoặc cam tâm vào Huế làm quanNam triều thành tay sai cho Pháp; hai là, chịu phá sản Ông đã kiên quyết chọncon đường thứ hai : từ bỏ tất cả để sang vùng rừng rậm của nước Lào tìm vàng,mong cứu vãn tình thế trong sự tuyệt vọng Để rồi vào ngày 1/5/1936, ông ốmrồi mất đột ngột trên một con thuyền độc mộc xuôi dòng Sê-băng-ghi, bản Ban-san-khúp (Lào) không có một người thân bên cạnh, không một xu dính túi , chỉ
một quản bút trên tay khi ông đang viết dở thiên ký sự “ Một tháng với những
người tìm vàng’ định gửi về đăng trên tạp chí L’An nam Nouveau Ông mất
đúng vào ngày Quốc tế Lao Động 1/5, khép lại cuộc đời một con người đã laođộng không mệt mỏi cho sự phát triển của nền văn hóa nước nhà Có điều khôngngờ là : một chủ bút lừng danh, nắm trong tay các tờ báo thuộc loại lớn nhấtđương thời, với những bất động sản không nhỏ giữa Hà Nội, là nghị viên củanhiều hội đồng dân biểu, lại bị một kết cục buồn như thế ! Tất cả xuất phát từ lí
do chính trị của ông không chấp nhận làm tay sai cho Pháp Điều này được làm
rõ hơn trong bức thư cuối cùng ông gửi cho người vợ nơi quê nhà trước khi mất
đã dự báo những điều không lành sẽ xảy ra, dường như đang có một thế lực nào
đó đe dọa ông
Trang 12Ta thấy rằng, Nguyễn Văn Vĩnh là một người yêu nước chân chính, hếtlòng với quốc gia dân tộc Đánh giá đúng về nhân cách cao cả của Nguyễn VănVĩnh mới thấy hết được tầm cỡ những đóng góp của ông với nền văn hóa ViệtNam.
1.2 Sự nghiệp
Tháng 1 năm 1896, sau khi tốt nghiệp thủ khoa trường Thông Ngôn
Pháp, ông trở thành thông ngôn cho Tòa sứ Lào Cai khi mới 14 tuổi Tiếp đó,
ông lần lượt làm thông ngôn cho Tòa sứ Hải Phòng, thông ngôn cho tòa sứ BắcGiang, thông ngôn cho Tòa Đốc lý Hà Nội Ông có chân trong Hội đồng dânbiểu Bắc Kỳ, Hội đồng kinh tế tài chính Đông Dương Hai lần ông được nhậnhuân chương Bắc Đẩu Bội Tinh của chính phủ Pháp nhưng đều từ chối.Như vậy,Nguyễn Văn Vĩnh có một sự nghiệp chính trị nhất định trong hệ thống chínhquyền thuộc địa Pháp Đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến những đánh giákhắt khe về ông của một số người
Năm 17 tuổi, ông bước vào nghề làm báo với việc viết các tin ngắn chocác báo và bắt đầu dịch thơ ngụ ngôn LaFontain
Năm 25 tuổi, ông được sang thăm Pháp, chứng kiến tận mắt nền vănminh của một nước phương Tây tiên tiến Về nước, ông quyết định thôi ngạchcông chức để chuyển sang nghề làm báo và in ấn
Năm 1907, ông tham gia thành lập Hội Trí Tri, Hội dịch sách, Hội giúp
đỡ người Việt sang Pháp học, thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục và giảng dạy tại
trường
Cùng thời gian này,ông làm chủ bút tờ Đại Nam Đăng Cổ Tùng Báo Tiếp đó là các tờ Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Dương Tạp Chí, Trung Bắc Tân Văn,
Học báo, Notre journal, Notre revue và L’Annam nouveaux…
Ông là dịch giả nổi tiếng, đã dịch rất nhiều sách phổ thông bằng tiếngPháp ra chữ Quốc ngữ Ông dịch rất thành công thơ ngụ ngôn LaFontain, một số
tiểu thuyết và kịch nổi tiếng của Pháp như “Những kẻ khốn nạn”, “ Ba người
lính ngự lâm pháo thủ”.v.v…
Trang 13Ông nắm trong tay nhà xuất bản Âu Tây tư tưởng, đã in rất nhiều tác
phẩm có giá trị như : Truyện Kiều, Tam quốc diễn nghĩa, một số bộ sử cổ của
Trang 14CHƯƠNG 2 NGUYỄN VĂN VĨNH VỚI CUỘC CẢI CÁCH GIÁO
DỤC ĐẦU THẾ KỶ XX
2.1 Nguyễn Văn Vĩnh - tấm gương về tinh thần tự học
Nguyễn Văn Vĩnh đã lao động không mệt mỏi cho cuộc cải cách giáo dục.Không những thế, ông còn đóng góp vào cuộc vận động Tân học tấm gương họctập của chính mình Do đó, ông đã tạo nên ảnh hưởng to lớn trong phong trào từchính bản thân mình, xứng đáng là người chủ xướng cuộc hiện đại hóa nền giáodục Việt Nam đầu thế kỷ XX
Nguyễn Văn Vĩnh không sinh ra trong một gia đình quyền quý nào cả.Ông là con cả trong một gia đình nông dân nghèo có tới 7 người con Do nghèokhổ, bố mẹ phải bỏ quê ra Hà Nội ở nhờ nhà người bà con để kiếm sống Tronghoàn cảnh đó, việc học hành của Nguyễn Văn Vĩnh không được đến nơi đếnchốn Nho học chỉ gọi là học cho có Theo Pháp văn thì nhà nghèo không cótiền Nhưng từ hoàn cảnh khốn khó đó lại tạo cho ông một cơ hội tiếp xúc vớinền học vấn Pháp Khi ông 8 tuổi, ông được bố xin cho làm chân kéo quạt ở
Trường Thông Ngôn của Pháp mở ở đình Yên Phụ, Hà Nội; mục đích là để kiếm
thêm chút tiền cho sinh hoạt gia đình,vả lại việc kéo quạt cũng không mấy vất
vả với một cậu bé 8 tuổi Trường Thông Ngôn là trường đào tạo công chức cho
bộ máy cai trị Pháp Trường này dạy chủ yếu theo phương pháp truyền khẩu,dạy tiếng Pháp và cả dạy chữ Quốc ngữ ( Hồi đó, ở miền Bắc chữ này mới chỉđược dùng trong phạm vi giáo hội ) Với một cậu bé bình thường, mọi chuyện
có lẽ chỉ có thế Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh với lòng hiếu học, đã biến thành cơhội học tập của mình Nhưng có lẽ, lúc bấy giờ cái chí hướng học tập ấy mới chỉhiện hình ở sự ham thích của một cậu bé 8 tuổi Cậu bé kéo quạt ngồi ở cuối lớp,vừa kéo quạt, vừa say mê nghe giảng Sự theo dõi chăm chú của chú đã lọt vàomắt thầy D’ Argence ( vốn là hiệu trưởng của trường) Khi lớp học mãn khóa(1893), thầy cho Vĩnh thi thử Không ngờ chú đậu thứ 12 trong số 40 học sinh.Ông thầy bèn cho chú học bổng và nhận chú làm học sinh chính thức của khóahọc tiếp theo Có thể nói, được vào học tại trường Thông Ngôn là bước ngoặt
Trang 15đầu tiên, lớn nhất trong cuộc đời ông Năm 1896, Nguyễn Văn Vĩnh đỗ thủ khoakhóa đó, được tuyển vào làm thông ngôn cho tòa sứ Lào Cai và bắt đầu cuộc đờicông chức khi mới 14 tuổi Như vậy, mới 14 tuổi, Nguyễn Văn Vĩnh đã có trongmình vốn Nho học, thông thạo tiếng Pháp và biết về chữ Quốc ngữ Tất nhiên là, lúc này so với chữ Pháp thì chú biết về chữ Quốc ngữ ít hơn Nguyễn Hiền đỗTrạng Nguyên năm 14 tuổi - trở thành thần đồng của Việt Nam Nguyễn VănVĩnh chưa hẳn là một thần đồng, nhưng đã sớm bộc lộ tư chất thông minh Nhà
văn Đỗ Lai Thúy đã gọi ông là “ một người trưởng thành sớm” bởi sự chín
muồi trong tài năng của ông; đó không chỉ là thiên bẩm mà còn là cả một quátrình nỗ lực phi thường
Năm 1896, Vĩnh làm thông ngôn cho tòa sứ Lào Cai tại vùng đất giàu tàinguyên, là đối tượng vơ vét khoáng sản của Pháp, lại giáp ranh với Trung Quốc.Ông ra sức học hỏi để mở mang kiến thức
Thời gian 1897 – 1901, Vĩnh về làm thông ngôn cho tòa sứ Hải Phòng.Đây là vùng đất cảng đang phát triển sôi động với sự chuyển mình của kinh tếthuộc địa, sự giao thương với nước ngoài : Anh, Trung Quốc, Pháp v.v… và sựtiếp xúc văn hóa Đông – Tây mạnh mẽ Tại đây, Nguyễn Văn Vĩnh đã bồi đắpcho mình một khối lượng lớn tri thức Qua công việc thông ngôn của mình,Nguyễn Văn Vĩnh được tiếp xúc với rất nhiều thương gia và thủy thủ Anh,Pháp, Hoa Cậu đã học thêm tiếng Anh và tiếng Hoa để tiện làm việc Chỉ sau 3tháng, cậu đã dịch được hai thứ tiếng trên
Không chỉ học thêm ngoại ngữ, Nguyễn Văn Vĩnh còn tìm mọi cách đểbồi đắp kiến thức cơ bản cho mình Một câu chuyện cảm động như sau : Mộtthủy thủ Pháp gạ bán cho cậu một bộ sách để tự học chương trình trung học phổthông với giá bằng nửa tháng lương của cậu Món tiền tuy là rất lớn với cậu,nhưng cậu đã dốc túi để mua lấy sách Có được sách quý, cậu vùi đầu vào tựhọc Trong khoảng 2 năm, cậu đã lập danh mục những sách cần mua để họcthêm Sau 5 năm làm việc ở Hải Phòng, cậu đã dành dụm được cả một hòmsách, tài sản quý giá mà đi đâu cậu cũng mang theo
Trang 16Tại Hải Phòng, Nguyễn Văn Vĩnh cũng đặt những bước đi đầu tiên cho
sự nghiệp báo chí và dịch thuật Ông tập viết báo bằng Pháp văn, ban đầu là
những mẩu tin nhỏ cho báo “Courrier de Hải Phòng” và trở thành cộng tác viên
Việt Nam đầu tiên của tờ báo này Ông cũng bắt đầu dịch những bài thơ ngụngôn của La Fontaine, truyện của Perrault v.v… từ tiếng Pháp ra Quốc ngữ.Lúc này, ông mới 17 tuổi
Cùng thời gian, ông nhận được một học bổng sang Pháp học ở trườngĐại học Sư phạm, nhưng ông đã từ chối với lí do mẹ đã mất, là con cả trong nhà,phải chuẩn bị lập gia đình để mau có cháu cho bố đã nhiều tuổi Sẵn sàng từ bỏmột cơ hội mà nhiều người mơ ước cho thấy Nguyễn Văn Vĩnh trước hết là mộtngười phương Đông, và ông có được lòng tự tin, tinh thần tự học rất cao
Không tiếp nhận văn hóa một chiều, khi làm thông ngôn ở tòa sứ BắcGiang 1902 – 1905, Nguyễn Văn Vĩnh cùng Phạm Huy Hồ, Trần Tấn Hằngthành lập tổ tự học ba người nghiên cứu về sách Tân thư của Trung Quốc, tìmhiểu tình hình cách mạng Trung Quốc, về gốc rễ của chữ Nôm và về văn hóacủa dân tộc Việt Nam
Năm 1906 diễn ra một bước ngoặt lớn thứ hai trong cuộc đời NguyễnVăn Vĩnh Ông được sang Pháp dự hội chợ ở Mác xây Tại đây, ông chứng kiếnnền văn minh Pháp Với vốn tri thức tự học khá uyên bác trong 17 năm, ông lậptức nhận thấy sức mạnh của nước Pháp bắt nguồn từ sức mạnh của văn minh,một dân tộc yếu là một dân tộc thất học Ông nhận ra tầm quan trọng của việccải cách giáo dục, nâng cao tri thức cho nhân dân Cũng từ đây, canh tân đất
nước, cải cách giáo dục được ông đặt lên hàng đầu, trở thành “ niềm vui thích
êm ái nhất” , rồi thành sự nghiệp cả đời ông Ông viết : “ … Rằng tôi sẽ là người đầu tiên để làm cái công việc đó để mà gây lấy một tương lai tốt đẹp đó, tôi sung sưóng vô cùng Cha mẹ, anh em, vợ con, tất cả đều phai nhòa trước tư tưởng đó để nhường chỗ cho lòng vui thích êm ái nhất…” ( thư gửi về cho bạn,
1906) Lúc này, Nguyễn Văn Vĩnh tròn 25 tuổi
Trang 17Những năm sau cho đến cuối đời, ông vẫn không ngừng học tập để nângcao kiến thức Ông trở thành một học giả uyên bác, là trung tâm của phong tràocải cách văn hóa đầu thế kỷ XX Ông sử dụng thông thạo tiếng Pháp, tiếng Hoa,tiếng Anh, và am hiểu sâu sắc về chữ Quốc ngữ Ông là một nhà báo, một dịchgiả tài năng, một nhà kinh doanh, một chủ xuất bản lớn Tất cả là kết quả củaquá trình tự học và phấn đầu không mệt mỏi Ông là một tấm gương lớn mà bất
cứ người học trò nào cũng cần phải noi theo
Tất nhiên, cũng cần nhận thấy rằng, lúc đó không chỉ có Nguyễn VănVĩnh là người Việt Nam duy nhất hiếu học và có tham vọng đổi mới văn hóadân tộc, mà có rất nhiều người Việt Nam cũng có được cái tinh thần quý báu đó.Nguyễn Văn Vĩnh trước hết là một trong số ít những người may mắn hơn, cóđiều kiện được tiếp xúc đầy đủ với văn minh Pháp, và có khả năng kết hợpnhững kiến thức của văn minh phương Tây với tảng nền văn hóa Á Đông đểhoàn thiện thêm tri thức của bản thân mình, và luôn có khát khao phổ biếnnhững tri thức tiến bộ đó cho đồng bào, tăng cường sức mạnh cho dân tộc
Ông xứng đáng là một trong những người đứng đầu phong trào cải cáchgiáo dục đầu thế kỷ XX bởi tài năng, sự uyên bác và nghị lực phi thường củamình Quá trình tự học đã giúp ông có cái nhìn đúng đắn trong tiếp nhận tưtưởng, nội dung giáo dục mới và đưa ra được các phương pháp giáo dục phùhợp Đổi mới mà không xa rời, đi ngược lại truyền thống văn hóa Ông là người
ý thức rõ rệt về bản sắc văn hóa dân tộc Ông đã kế thừa truyền thống hiếu họcngàn đời của dân tộc Việt Nam
2.2 Quan niệm giáo dục của Nguyễn Văn Vĩnh
Trong điếu văn của ông Phan Trần Chúc, đại diện báo giới Bắc Việt cóđoạn đánh giá Nguyễn Văn Vĩnh :
“ Sinh về cuối thế kỷ thứ 19, Nguyễn tiên sinh trưởng thành vào lúc trên dải đất Đông Dương vừa im tiếng súng của người Pháp với người Nam Cũng như tất cả các nước bị chinh phục, xã hội ta về thời đó đã đổ nát hoàn toàn Con thuyền quốc gia phút chốc mất hẳn tay lái, chơi vơi ở giữa trận phong ba.
Trang 18Phái trí thức, một phần tự nhận có cái trách nhiệm phải bênh vực cho đất nước thì chủ trương cuộc phấn đấu đến kỳ cùng Những cuộc bạo động đó đưa người
ta đến một kết quả rất khốc liệt là thua và chết Một phái nữa tin ở hai chữ “vận nước” bó tay sống trong sự thất vọng, chịu chết về tinh thần Phái thứ ba đã uốn mình theo chủ nghĩa chiều đời để bảo toàn sự no ấm trong lúc ngót hai mươi triệu đồng bào bị điêu đứng vì thời thế.
Nguyễn tiên sinh đứng hẳn ra ngoài ba hạng ấy Nhân đọc các sách Thái tây mà soi gương nước Nhật Bản, tiên sinh cũng nhận thấy như Từ Dũ Thái Hậu
“ Nước yếu tất phải theo nước mạnh” và sự yếu mạnh, không phải chỉ ở khí giới, tiền tài Trên những cái đó, cái thế lực của quốc gia có căn cứ vào một điều quan hệ hơn nữa : dân trí Cho nên muốn cho nước mạnh, cần phải mưu việc giáo dục cho bình dân, gieo cái tinh thần quốc gia vào khối óc phái bình dân,và làm cho phái bình dân thâu thái được những tư tưởng thích hợp với thời đại Theo tiên sinh, thì nước không phải là một người hay của riêng bọn người Nước là của chung tất cả mọi người sinh ra trên dải đất này…”
Phát triển giáo dục, cải cách đất nước có thể là cách riêng mà NguyễnVăn Vĩnh lựa chọn để tìm ra một con đường phục hưng dân tộc, giải phóng đấtnước
Phan Trần Chúc đã nêu được một số điểm cơ bản trong quan niệm giáodục của Nguyễn Văn Vĩnh, trước hết là về mục đích, đối tượng và tư tưởngchính trong giáo dục
Vốn là một trí thức tiêu biểu đầu thế kỷ XX, nhận định của Phan TrầnChúc đã thể hiện thái độ của một bộ phận trí thức đương thời với quan điểmgiáo dục của Nguyễn Văn Vĩnh Chính nhờ sự ủng hộ của đội ngũ này màNguyễn Văn Vĩnh cùng một số học giả khác như Phạm Quỳnh, Nguyễn VănTố… đã dấy lên phong trào cải cách giáo dục rộng lớn trong cả nước, thu hútđông đảo mọi tầng lớp nhân dân đóng góp cho sự nghiệp giáo dục Một khôngkhí sôi nổi chưa từng có trong lịch sử giáo dục Việt Nam
Trang 19Xét về quy mô, tính chất, và kết quả đạt được, cuộc cải cách giáo dục đầuthế kỷ XX xứng đáng là cuộc cách mạng trên lĩnh vực giáo dục Nó là sự bùng
nổ của cuộc đấu tranh âm thầm suốt 1000 năm chống những tiêu cực của nềngiáo dục Nho học, là sự thức dậy của ý thức dân tộc, của khát vọng đưa conngười Việt Nam tiến kịp nhân loại Nó đã thay thế nền học vấn cũ đã lỗi thờibằng nền học vấn mới tiến bộ trên tất cả mọi phương diện : chữ viết, nội dung,phương pháp và đối tượng giáo dục Với tư cách là người khởi xướng, quanđiểm giáo dục của Nguyễn Văn Vĩnh có tác dụng lớn trong phát huy ảnh hưởngcủa ông với các tầng lớp xã hội tham gia vào cải cách giáo dục, đồng thời địnhhướng cho phong trào cải cách Đây là đóng góp đầu tiên, quan trọng cho cuộccải cách giáo dục đầu thế kỷ XX
Quan điểm giáo dục của Nguyễn Văn Vĩnh được thể hiện trên mấy điểm
cơ bản sau :
+ Ông chỉ rõ và phê phán nghiêm khắc những nhược điểm của nền giáodục cũ để thức tỉnh nhân dân hướng theo cải cách giáo dục Theo ông, nền giáodục Nho học là nền giáo dục giáo điều, thụ động, coi trọng việc học thuộc lòngcác sách kinh điển, chỉ biết đọc hiểu mà không biết diễn giải, ưa lối tầm chươngchích cú bóng bẩy mà khuôn sáo, không thiết thực, học còn quá coi trọng cái hưvinh nên nảy sinh nhiều tiêu cực trong chốn học đường Đặc biệt, Nho học lànền giáo dục cho thiểu số, không đáp ứng nhu cầu học tập cho quảng đại quầnchúng nhân dân - những người chủ thật sự của xã hội, sức mạnh dân tộc, sức
mạnh quốc gia ở đó mà ra cả Trên Đại Nam Đăng Cổ Tùng Báo số 813, ngày 15/8/1907, Nguyễn Văn Vĩnh có viết : “ Chẳng qua từ xưa đến nay, trong
những người học Nho, thì phần nhiều, chỉ học dã hình như người học câu chú, để mở cái cửa công đường đó mà thôi Đeo đuổi hơn hai nghìn năm nay, cũng chỉ nghĩ rằng : một võng-điều áo-gấm; hai cử tú, ta cũng về dành thủ lợn
thần-ở làng; ba nữa là thầy khóa, thầy đồ ta cũng tránh được xuất sưu dịch hơn con em…” Rồi tư tưởng an phận thủ thường, sống lâu lên lão làng, suốt ngày chỉ “ nghĩ đến hai bữa tênh tênh, ra đình ngồi mâm cao cỗ đầy là xướng, cho nên
Trang 20không cần dùng phải học gì nữa” Ông cho rằng đó là nguyên nhân làm cho
mấy nghìn năm nay, văn chương nước An Nam ta thua sút, sức nước yếu kém vìhọc hành kém cỏi Vốn tri thức dân tộc thì phong phú mà không biết khai thácchỉ thích học vẹt của người Ông đề xướng bỏ nền giáo dục Nho học để thựchiện nền giáo dục mới hiện đại
+ Ông coi đổi mới giáo dục là việc làm hệ trọng và vô cùng cấp thiết đốivới việc canh tân đất nước.Mục đích chính của giáo dục là tăng cường học vấncho quảng đại quần chúng nhân dân để thoát khỏi tình trạng dốt nát, tiến kịpphương Tây, sức mạnh dân tộc nhờ thế mà được tăng cường Do đó, bình dânphải được coi là đối tượng chính , là lực lượng quyết định của giáo dục Theo
ông thì “ Một dân tộc thất học có đến chín mươi phần trăm thì còn hi vọng ngóc
đầu lên sao được, nếu phái trí thức không lo giáo dục cho phái bình dân là phần cốt yếu của dân tộc ấy Nhưng thực hành một chương trình của giáo dục không phải là việc dễ…” Giáo dục là giáo dục cho quốc dân đồng bào, không phân
biệt sang hèn, nam nữ Nhưng ông đưa ra yêu cầu giáo dục phải phân bậc và cóchương trình giáo dục với từng lứa tuổi, quy định giới hạn tuổi tác cho từng cấphọc
+ Ông rất coi trọng thực học Coi nghề học là cốt của các nghề Ông đềcao tính hướng nghiệp trong giáo dục.Học trước là để nâng cao tri thức, hiểubiết xã hội, đồng thời để tự lập, sau là để tăng cường sức mạnh dân tộc bằng sức
mạnh của văn hóa Trong mục “Xét tật mình” trên Đông Dương Tạp Chí số 9, Nguyễn Văn Vĩnh viết : “ Nghề học là cốt của các nghề, cho nên việc làm ăn
được tính, mà người làm ăn biết coi cái chức phận của mình ở trong xã hội cũng chẳng kém gì ai, vinh hạnh mà cầm cày, vẻ vang mà cầm cuốc” Ông phê
phán cực lực thói học hành ỷ lại, học hành viển vông, hướng đến những mục
đích thiển cận “ Không phải học lấy chiếu trên chiếu dưới, không phải học để
ngâm phú vịnh ca, mà học lấy cách làm người ở đời sao cho bằng người ta, sao cho giữ được địa vị, sao cho gánh vác được một vai trong xã hội” Ông có so
sánh : “Ở bên đại Pháp, chỉ trừ có khi còn bé dại thì phải nhờ cha mẹ nuôi cho
Trang 21đi học, còn đã nhớn lên mà không lập thân được, không dùng được trí khôn hoặc hai bàn tay mà nuôi miệng thì coi mình như một giống xâu bọ ăn hại Tự lấy làm tủi nhục còn như chú bác anh em thì thực là kiến giả nhất phận, phải đến ngửa tay mà nhở vả điều gì, lấy làm hổ thẹn vô cùng Ai bất đắc dĩ mà phải đến nỗi ấy thì cả họ khinh bỉ, người ta chê cười” Còn ở nước Nam ta thì thói
dựa vào cha mẹ, họ hàng như một tệ nạn phổ biến
So với lối học cũ, thì mục đích học tập này thật là mới mẻ Học tập là để
có tri thức, để lập thân Nguyễn Văn Vĩnh có tư tưỏng rất tiến bộ Tư tưởng nàyvượt lên hẳn lối suy nghĩ của một số trí thức lúc bấy giờ vẫn còn vấn vương vớicách nghĩ, cách học cũ tồn tại mấy nghìn năm Và kể cả ngày nay, trong xã hộihiện đại, hậu công nghiệp, vẫn có rất nhiều người còn chưa nhận thức được cáimục đích thực tế mà sâu sắc này của sự học tập Chính vì vậy, khi nhận xét về
Nguyễn Văn Vĩnh, cụ Hoàng Đạo Thúy có viết : “ Nguyễn Văn Vĩnh là một
trong những thông ngôn đầu tiên giỏi tiếng Pháp, có học thức, tinh khôn, tài hoa lại có óc kinh doanh Vĩnh rất hăng hái trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ…” Óc năng động và thực tiễn là rất cần thiết đối với bất kỳ người đi học
nào muốn vươn cao, vươn xa trong sự lập thân của mình Nguyễn Văn Vĩnh làmột học giả có óc thực tiễn cao và có một tầm nhìn xa
+ Về phương tiện truyền thụ giáo dục, ông nhấn mạnh: nền học vấn củadân tộc phải gắn bó chặt chẽ với chữ viết dân tộc Chữ viết dân tộc ở đây là chữQuốc ngữ Có như thế mới phát huy được đầy đủ tri thức phong phú của dân tộc
và tiếp thu tốt nhất tinh hoa của văn minh nhân loại Theo ông “ Các nước
người ta văn minh là do ở như đấy Như nước Nam ta có học hành mấy nghìn năm nay, mà tư tưởng vẫn hẹp hòi , người vẫn ngu dốt, cũng vì tại đi học chữ mượn” (Đăng Cổ Tùng Báo số 813, 1907) Do đó ông coi cổ động học chữ
Quốc ngữ là trọng tâm của cải cách giáo dục
+ Về nội dung và phương pháp giáo dục : Ông rất hăng hái trong phổbiến nội dung và phương pháp giáo dục mới của phương Tây nhằm hiện đại hóanền giáo dục Để thực hiện được điều này, ông đã sử dụng rất nhiều phương tiện
Trang 22khác nhau : tuyên truyền, thành lập các hội truyền bá tư tưởng mới, dịch hàngloạt các sách phương Tây, phổ biến nội dung và phương pháp giáo dục mới quabáo chí… Là người thiết tha với những giá trị truyền thống của dân tộc, ông đưa
ra đề nghị : giáo dục mới phải kết hợp giữa truyền thống và hiện đại về cả nộidung và phương pháp Những quan điểm về nội dung và phương pháp giáo dục
của ông được thể hiện rõ trên Đông Dương Tạp Chí - tờ báo do ông làm chủ bút.
Và, ông đã trực tiếp áp dụng những nội dung và phương pháp giáo dục mới này
trong chính công việc giảng dạy của mình ở các trường Đông Kinh Nghĩa Thục,
trường học của Hội Trí Tri… Khi ông mất, ông Bùi Kỷ, đại diện hội Phật giáo
Bắc Việt đã điếu rằng : “Ông là người hấp thụ trước nhất những phần hay phần
đẹp trong văn hóa Âu châu mà nước Pháp đã đem sang cho ta, mà lại biết bảo tồn những điều nên giữ nên theo ở trong văn hóa Á Đông Ông thường nóng lòng sốt ruột đến vận mệnh của nước nhà, cốt mong gây dựng lấy một nền học vấn dung hòa cả mới cũ, để thích hợp với trình độ hiện thời, cho nên không những ông đã giúp được bao nhiêu việc có ích cho nền tân học…”.
Là một trí thức Việt Nam yêu nước, Nguyễn Văn Vĩnh có sẵn trong mìnhkháng thể của nền văn hóa dân tộc đã trải qua hàng nghìn năm phát triển Sứckháng thể đó đã giúp ông trên nền tảng tinh hoa văn hóa Á Đông mà có đủ nănglực để tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Tây hiện đại Từ bản thân mình, ông đãnhìn ra khả năng tiếp thu những yếu tố hiện đại của nền giáo dục Việt Nam màkhông làm mất đi những giá trị tốt đẹp vốn có Dù vậy, ông vẫn đề cao việc giữgìn những giá trị truyền thống trong giáo dục để làm nền tảng tiếp thu nhữngyếu tố mới
+ Muốn hiện đại hóa giáo dục một cách toàn diện phải đảm bảo tínhthống nhất của nó trên phạm vi cả nước : Bắc, Trung, Nam đều hòa hợp.Nguyễn Văn Vĩnh hiểu rất rõ sự khác nhau trong sắc thái ngôn ngữ, văn hóa của
ba miền Vì vậy, trong quá trình vận động cải cách giáo dục, ông luôn kêu gọi và
đề ra phương án nhằm tạo nên sự hòa hợp trong ngôn ngữ, văn hóa của cảnước ; đảm bảo tính thống nhất trong giáo dục Ông cổ động xây dựng một
Trang 23chương trình học, soạn sách giáo khoa thống nhất trong cả nước, tìm mọi cáchhoàn thiện và phổ biến chữ Quốc ngữ, từng bước đưa nó trở thành chữ viết dântộc làm phương tiện truyền thụ cho giáo dục Ông phát huy tất cả khả năng củamình trên lĩnh vực in ấn và báo chí để thực hiện cho kỳ được mục đích đó Caohơn, đề ra vấn đề thống nhất giáo dục trong cả nước chính là ông đã góp phầntạo tiền đề cho việc xây dựng , thống nhất một nền tảng tư tưởng chung cho xãhội Việt Nam
Với mong muốn này, Nguyễn Văn Vĩnh cũng mong đợi khá nhiều vào hệthống giáo dục Pháp - Việt, muốn lợi dụng nó Vì nền giáo dục Pháp - Việt dochính quyền Pháp thành lập nên có tính chính quy và được đảm bảo bởi nhànước do vậy dễ phổ cập hơn Nên, Nguyễn Văn Vĩnh tích cực cổ động cho giáodục Pháp - Việt, liên tục đưa ra kiến nghị, vận động chính quyền thực dân tăngcường chữ Quốc ngữ và đổi mới chương trình dạy học trong hệ thống giáo dục
Pháp - Việt Trên Đăng Cổ Tùng Báo và Đông Dương Tạp Chí đăng rất nhiều
bài cổ vũ nền giáo dục Pháp - Việt nhất là vấn đề dạy chữ Quốc ngữ trong hệthống giáo dục này
Trên đây là vài nét cơ bản về quan điểm giáo dục của Nguyễn Văn Vĩnh.Những quan điểm này sẽ được thể hiện đầy đủ hơn trong những hoạt động cụthể của ông với giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XX
2.3 Các biện pháp thực hiện cải cách giáo dục
2.3.1 Truyền bá sâu rộng chữ Quốc ngữ - phương tiện truyền thụ cơ bảncủa nền giáo dục mới
Để thúc đẩy cải cách giáo dục, Nguyễn Văn Vĩnh đã chủ trương truyền
bá sâu rộng chữ Quốc ngữ làm phương tiện truyền thụ cơ bản của giáo dục mới
Chữ viết ra đời là một trong những nhân tố quan trọng đưa con ngườibước vào thời đại văn minh Nền văn hóa một dân tộc muốn phát triển đến trình
độ văn minh thì dân tộc đó phải biết sử dụng một hệ thống chữ viết để ghi lại
lịch sử, tư tưởng của chính mình Freud từng khẳng định : “ Ngôn từ thông tri
Trang 24cho chúng ta, chữ viết hình thành nên chúng ta và chữ viết biến đổi chúng ta một cách thiết yếu…” Ngôn từ và chữ viết có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Sự kết hợp hài hòa giữa chúng sẽ tác động to lớn đến việc hình thành tri thứccủa con người Giáo dục ra đời và trở thành một hệ thống chỉ khi chữ viết xuấthiện
Điểm lại lịch sử phát triển giáo dục, ta thấy rằng mỗi mô hình giáo dụcđều có những đặc trưng cơ bản, trong đó chữ viết là một đặc trưng thiết yếunhất Mô hình giáo dục Trung Hoa đặc trưng bởi chữ Hán ; mô hình giáo dụcphương Tây trung đại đặc trưng bởi chữ Latinh ; và mô hình giáo dục Nho học ởViệt Nam đặc trưng bởi chữ Nho ( chữ Hán ) Đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam, chữQuốc ngữ đã đặc trưng cho mô hình giáo dục Quốc ngữ ở nước ta
Xét về vai trò của chữ viết trong hệ thống giáo dục, ta có sơ đồ sau:
phương tiện truyền thụ
chữ viết là chủ yếu
Nhận thức được vai trò to lớn của chữ viết đối với giáo dục, Nguyễn VănVĩnh đã ra sức cổ động học chữ Quốc ngữ Ông muốn biến chữ Quốc ngữ làm
gốc của nền giáo dục mới Ông nêu ra : “ Sự học ấy, muốn cho cả nước đều học,
cho nó khỏi mất hai lần công, trước hết phải có chữ như tiếng nói, đọc là hiểu được chứ không như trước, muốn học điều hay lại còn phải học chữ nữa” Do
đó, giáo dục Việt Nam rất nên dùng chữ Quốc ngữ - loại chữ dễ viết, dễ đọc,đồng thời là công cụ ghi âm chuẩn xác giọng nói của người Việt
Chữ Quốc ngữ không phải đến đầu thế kỷ XX mới có Nó ra đời vào thế
kỷ XVII Công sáng chế ra chữ Quốc ngữ thuộc về một số giáo sĩ phương Tâynhư Francisco de Pina, Gaspar de Ammarl, Antonio de Barbosa, đặc biệt là
Trang 25Alexandre de Rhodes và một số người Việt cộng tác…Ban đầu chữ Quốc ngữđược sáng tạo ra với mục đích là : các giáo sĩ đã sử dụng mẫu tự Latinh phiên
âm tiếng Việt để giảng đạo tốt hơn Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, rất ít ngườiViệt Nam biết và dùng chữ Quốc ngữ Đến khi Pháp chiếm Nam kỳ, chữ Quốcngữ mới bắt đầu được dạy và được phổ biến Người Việt Nam đầu tiên có côngtruyền bá chữ Quốc ngữ là Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của Nhưng chữQuốc ngữ không tạo nên một phong trào rầm rộ trong nhân dân Nam kỳ vìngười Nam kỳ chỉ học chữ Quốc ngữ như một phương tiện để bước sang họctiếng Pháp dễ dàng hơn và dễ đi du học Pháp hơn Phải đến Nguyễn Văn Vĩnh ,với sự cổ động học chữ Quốc ngữ của mình , ông đã gióng tiếng trống đầu tiên
mở màn cho cuộc cách mạng chữ Quốc ngữ , tạo nên một phong trào học Quốcngữ sâu rộng trong nhân dân Phong trào này phát triển trên đất Bắc, rồi dần cótầm quan trọng trong cả nước, đáp ứng ý nguyện của quần chúng nhân dân là cóchữ viết chung cho dân tộc
Còn đứng về phía thực dân Pháp, chúng cũng muốn phát triển chữ Quốcngữ, nhằm lợi dụng ảnh hưởng của thứ chữ này để xóa bỏ địa vị của chữ Hán –
là đại diện cho ảnh hưởng của Trung Hoa trên đất thuộc địa An Nam Mặt khác,phát triển chữ Quốc ngữ là một cách ru vỗ dân An Nam vì có công bảo trợ cho
sự phát triển chữ viết, tiếng nói dân tộc họ Đồng thời, chúng cũng thấy được lợithế so sánh rằng : Để đọc thông viết thạo chữ Quốc ngữ, người Việt Nam chỉcần một thời gian rất ngắn, người bình thường chỉ cần 3 tháng, người thôngminh thì thời gian còn ngắn hơn Trong khi đó, học tiếng Pháp, do sự khác biệt
về ngôn ngữ, nên đào tạo sẽ rất lâu, tốn kém mà không hiệu quả bằng Chính lúcnày, yêu cầu xây dựng hệ thống quản lý hành chính và truyền bá ảnh hưởng vănhóa của thực dân Pháp đang rất cấp thiết và cần một lực lượng đông đảo ngườiViệt tham gia Tạo điều kiện cho người Việt Nam học chữ Quốc ngữ được coi làgiải pháp hữu hiệu nhất để thực hiện những mục đích trên Lợi dụng điều này,cộng với lợi thế có trong tay như báo chí, nhà in, nhà xuất bản, Nguyễn VănVĩnh đã dấy lên cuộc cách mạng chữ viết rộng lớn
Trang 26Nền giáo dục Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Trung Hoa gần
2000 năm – đó là nền giáo dục Hán học, cho nên rất khó có thể xóa bỏ ảnhhưởng của chữ Nho trong tư duy của các trí thức, còn đối với nhân dân thì vốnchẳng có mấy người biết chữ, chỉ quanh quẩn bên lũy tre làng gắn chặt với cuộcsống nông nghiệp mà không mặn mà với chuyện chữ nghĩa Cho nên, việc phổbiến chữ Quốc ngữ trong nhân dân là không dễ dàng Là một trí thức am tường
cả Nho học và Tân học, Nguyễn Văn Vĩnh hơn ai hết ý thức sâu sắc điều này.Nhưng với lòng nhiệt thành và quyết tâm cao cho sự nghiệp đổi mới giáo dục,ông đã tìm mọi cách khắc phục những khó khăn trên
Ông đã tuyên truyền, cổ động học và dùng chữ Quốc ngữ bằng mọiphương tiện: báo chí, dịch sách, mở trường, lập hội, diễn thuyết, viết kịch, diễnkịch bằng chữ Quốc ngữ
Ông khẳng định vai trò to lớn của chữ Quốc ngữ Trên tất cả các sách mà
ông in hồi ấy, ngoài bìa đều ghi câu “nước Nam ta mai sau hay dở cũng ở chữ
Quốc ngữ” Ông chỉ ra nguyên nhân căn bản của sự sa sút và sáo rỗng, giáo điều
của nền giáo dục cũ là do vay mượn chữ người và rất cần thiết phải có một chữviết chung cho dân tộc Vì giáo dục sa sút thì dân ngu dốt, dân ngu dốt làm cho
đất nước yếu hèn “Nước Nam ta bây giờ dốt tệ lắm, mà cũng vì cái dốt nên phải
như trâu, như bò… Bao nhiêu cái khổ nhục nhằn ở nước Nam ta vì cái dốt mà
ra cả” Dốt thì cần phải khai dân trí Muốn khai dân trí nhất thiết phải dùng chữ
Quốc ngữ Vì chữ Quốc ngữ không những dễ học, dễ đọc, dễ viết mà lại ghi âm
tiếng Việt Lại có điều hay là “nước Nam xưa nay vẫn có tiếng nói mà tiếng An
Nam lại hay được một điều là cả nước nói một thứ tiếng” Chữ Quốc ngữ dễ
dàng tạo nên sự thống nhất ngôn ngữ trong cả nước Giáo dục muốn phát triển,muốn đổi mới thì phải thống nhất được ngôn ngữ Khai dân trí bằng cách nào?Ông chỉ ra ba điều phải làm Điều thứ nhất, thoát khỏi sự tù túng của nền Nhohọc bằng cách bỏ vai trò chính của chữ Hán, đưa chữ Quốc ngữ lên làm gốc chogiáo dục Điều thứ hai, tiếp thu tinh hoa của văn minh phương Tây; mà muốntiếp thu được văn minh phương Tây thì cần phải dịch sách phương Tây ra chữ
Trang 27Việt Nam Chữ Quốc ngữ đủ khả năng để truyền tải những điều mới lạ của nềnvăn minh hiện đại này đến đông đảo quần chúng nhân dân Điều thứ ba, kế thừa
và phát huy tri thức phong phú của dân tộc; mà theo ông : về tri thức, dân tộc takhông thua kém một dân tộc nào chỉ có điều trước kia do vay mượn chữ người
mà không diễn đạt được hết vốn tri thức đó, những người không biết thì không
có cách nào tiếp thu hệ thống được, còn những người biết thì cũng chỉ biết mộtmình không có cách nào diễn đạt được đầy đủ cho người khác vì hạn chế củaphương tiện truyền tải
Ông khẳng định vai trò to lớn của chữ Quốc ngữ trong phổ cập giáo dục.Học chữ Quốc ngữ sẽ làm thay đổi tính chất của giáo dục Việt Nam : từ nềngiáo dục cho thiểu số thành nền giáo dục của quốc dân Trước kia, ta chỉ học vàdạy kinh điển của Trung Quốc bởi chữ viết và tiếng nói không thống nhất vớinhau Nói ra nhưng chữ viết không thể nào ghi lại hết được Lối học thành ra tùtúng, đành bám vào những điều trong sách mà không biết giảng giải những điềunày cho hợp với thực tế, một người học chỉ hiểu một mình mà không làm chongười khác hiểu cùng được Cả thầy và trò đều thụ động Mà sự học hành không
thể phổ cập đến đông đảo nhân dân Ông lý luận rằng: “Ở thế dan này, xem
trong các nước, phàm nước nào đã gọi là nước văn minh, là cũng có văn chương riêng cả, tiếng nói thế nào, chữ viết như thế Mà cái văn-minh người ta cũng ở đó mà ra vì chữ có là ảnh tiếng nói thì mới dùng để truyền sự hay đi trong nước ai ai đều học được cả Cách chuyền tư-tưởng đi có hai cách: một là lấy miệng mà nói thì chỉ ai đứng nghe nói thì nghe được mà thôi, mà nói xong nhời nói có nhẽ quên đi được Một cách nữa là nghĩ điều gì hay, làm ra sách thì
tư tưởng chuyền đi được xa, mỗi quyển sách in ra nhiều người đọc được, mà không đọc khi này, đọc khi khác, có nhãng lại có thể đọc lại được Chữ viết mà giống tiếng nói, thì một người viết một quyển sách, in ra bao nhiêu quyển, đã hình như nhân cái miệng mình ra bấy nhiêu lần, mà mỗi người mua một quyển sách ấy, mà đọc thì cũng như là thay mình đứng mà nói Sách truyền được đi nhiều tư-tưởng mới càng ngày càng rộng ra được…”