1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI VIỆT TRONG THỜI KỲ ĐẤU TRANH CHỐNG PHONG KIẾN BẮC THUỘC

30 680 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bản lĩnh của người Việt trong thời kỳ đấu tranh chống phong kiến Bắc thuộc
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch Sử Việt Nam
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 167,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là thời kỳ Bắc thuộc được xác định từ năm 179 tr. CN (Triệu Đà đánh chiếm Âu Lạc) đến trận chung kết toàn thắng - chiến thắng Bạch Đằng - 938

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA LỊCH SỬ

-ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

BỘ MÔN: LỊCH SỬ VIỆT NAM BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI VIỆT TRONG THỜI KỲ ĐẤU TRANH CHỐNG PHONG KIẾN BẮC

THUỘC

Trang 2

PHÁC THẢO ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

“BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI VIỆT TRONG THỜI KÌ ĐẤU TRANH

CHỐNG PHONG KIẾN BẮC THUỘC”

A LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Nhằm tìm hiểu thêm, khám phá những tri thức mới về lịch sử ViệtNam, đề tài tập trung vào một giai đoạn lịch sử đầy thử thách của dântộc cách đây hơn một thiên niên kỷ

Đây là một đề tài hấp dẫn, khơi gợi về ý thức tự hào dân tộc vềcha ông ta xưa dựng nước và giữ nước

B PHẠM VI ĐỀ TÀI

Là thời kỳ Bắc thuộc được xác định từ năm 179 tr CN (Triệu Đàđánh chiếm Âu Lạc) đến trận chung kết toàn thắng - chiến thắng BạchĐằng - 938

Con người Việt thời kì Bắc thuộc với chống đô hộ và chống đồnghoá của phong kiến phương Bắc

D TÀI LIỆU THAM KHẢO

Chủ yếu là từ sách, báo, sách giáo trình và các tư liệu lịch sử

1 Tiến trình lịch sử Việt Nam - PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc

2 Đại cương lịch sử Việt Nam (Tập I) - Trương Hữu Quýnh,Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh

3 Trung Quốc lịch sử giản biên - Phạm Văn Lan

4 Tập chí Xưa và nay

5 Truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam

6 Các tài liệu khác…

Trang 3

E BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI NGIÊN CỨU

Được chia làm ba phần:

I Lời nói đầu

II Nội dung đề tài

1 Vị trí địa lí và nguy cơ bị xâm lăng của ngoại bang

2 Những tiền đề đầu tiên của người Việt

- Sự hình thành nhà nước Văn Lang - Âu Lạc

- Sự hình thành ý thức độc lập dân tộc

+ Chủ quyền dân tộc

+ Văn hoá Bản lĩnh của người Việt

3 Con người và các bộ tộc người Việt ở phía Nam Trung Hoa

4 Chính sách bành trướng của phương Bắc với đô hộ và HánHoá

5 Chính sách đồng hoá người Việt của chính quyền phong kiếnphương Bắc

- Quá trình giao thoa văn hoá

+ Cưỡng bức

+ Tự nguyện

- Sự bảo tồn các di sản văn hoá của dân tộc

6 Đấu tranh vũ trang giành độc lập dân tộc

- Ý thức đấu tranh

- Các cuộc khởi nghĩa

III Nhận xét chung - kết luận

- Bản lĩnh người Việt trong thời kì này

- Những giá trị bền vững trường tồn với thời gian, tạo tiền đềcho thắng lợi của dân tộc sau này

- Những truyền thống của người Việt từ xưa cho đến nay

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Kể từ sau khi cuộc kháng chiến chống Triệu Đà của An DươngVương thất bại - năm 179 trước công nguyên - đến năm 938 là thời kì đấtnước ta bị ách đô hộ, cai trị của các triều đại phong kiến phương Bắc màlịch sử vẫn gọi đó là thời kì Bắc thuộc Năm 938 là mốc son chói lọibằng vàng, chấm dứt hoàn oàn ách đô hộ, áp bức bóc lột của ngoại bang,nhưng những mầm mống đầu tiên cho sự ra đời của một nhà nước độclập, đã có từ năm 905, khi Khúc Thừa Dụ bắt đầu công cuộc tự chủ.Hiếm thấy trong lịch sử, một quốc gia nào khác trên thế giới, lại bị mấtnước và bị đô hộ kéo dài lâu như vậy - 1117 năm, mà cuối cùng lại giànhlại được độc lập Và cũng hiếm có một nước nào có lịch sử chống giặcngoại xâm nhiều như vậy Nếu xếp hạng, thì Việt Nam sẽ xếp hàng đầucác quốc gia như thế, hàng đầu những ai chịu cái nhục mất nước, cáinhục làm nô lệ Phải chăng? Chính tạo hoá đã vô tình khi đặt Việt Nam

là một nước nhỏ bé bên cạnh một ông khổng lồ và có một vị trí địa lýquan trọng như thế Sẵn sàng trước mối đe doạ của giặc ngoại xâm vốn

đã mang tính thường trực, Việt Nam luôn luôn bị các nước lớn tìm cáchcấu xé, ăn tươi nuốt sống Hoặc là tồn tại, hoặc là chết, đã đặt ra cho conngười Việt Nam bắt buộc không còn con đường nào khác Quyết khôngchết mà sẽ tồn tại! Đó chính là bản lĩnh của người Việt Thời kì Bắcthuộc là thử thách, cũng là điều kiện làm cho bản lĩnh ấy trở thành chấtthép!

Trang 5

CHƯƠNG I CÁI NÔI BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI VIỆT

I Vị trí địa lí và nguy cơ xâm lược của ngoại bang

Đất nước ta nằm ở phía Đông Nam của châu Á với diện tích khônglớn (khoảng 329.000 km2) và dân số không đông lắm Song lại có vị tríđịa lí hết sức quan trọng và chiến lược

Phía Bắc: giáp Trung Quốc

Tây: giáp Lào và Campuchia

Đông và Đông Nam: giáp biển Đông

Là cầu nối giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo;giữa Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, là con đường giao thông, đilại, và là luồng di cư của nhiều bộ lạc trên thế giới, giao lưu buôn bánmang tầm cỡ quốc tế Chính vì ở trên ngã ba đường thông thương quốc tếBắc, Nam, Đông, Tây ấy mà Việt Nam luôn luôn bị dòm ngó bởi cácquốc gia lớn

Hơn nữa, nước ta nằm trong miền nhiệt đới, gió mùa, khí hậu ẩmướt, có núi cao, rừng rậm, sông ngòi, hồ đầm , đồng bằng và biển cả.Rừng chiếm phần lớn diện tích-3/4 diện tích - đất đai, hệ thực vật vàđộng vật phát triển rất phong phú và đa dạng Có nhiều loại cây, cácgiống chim, thú rừng quý hiếm

Bên cạnh đó, còn có nhiều loại khoáng sản như vàng, bạc , đất đaithì màu mỡ, thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, mặc dù đồng bằng nhỏhẹp

Tóm lại, ở vị thế địa lí và tự nhiên như thế, Việt Nam khác nàomiếng thịt ngon phơi trước mồm hổ đói, tránh đâu khỏi sự xâu xé, bịxâm lược, nhất là phong kiến phương Bắc lúc bấy giờ

II NHỮNG TIỀN ĐỀ ĐẦU TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT

1 Sự xuất hiện những nền văn hoá cổ và những thành tựu to lớn đã đạt được của người Việt xưa

Trang 6

Người Việt cổ sớm quần cư ở các dòng sông lớn như sông Hồng,sông Mã và tập trung dần dần thành các bộ tộc, bộ lạc, cuộc sống chủyếu dựa vào nông nghiệp còn mang tính chất sơ khai Trải qua một thờigian dài cùng với sự xuất hiện của thuật luyện kim, đã khiến cho cuộcsống của các bộ lạc Việt cổ ngày càng phát triển Từ đó đã hình thànhnên các nền văn hoá cổ phán ánh sự sáng tạo của người Việt ở mỗi giaiđoạn nhất định trong quá trình phát triển của mình:Văn hoá Sơn Vi, Vănhoá Hoà Bình, Bắc Sơn, Quỳnh Văn… đặc biệt đỉnh cao là văn hoá ĐôngSơn.

Chính các nền văn hoá đó đã mang đậm tính cách, cuộc sống, tâmhồn của người Việt Đó là quá trình phát triển về vật chất thúc đẩy chođời sống tinh thần của người Việt nảy nở Các thành tựu của các nền vănhoá cổ là một minh chứng rõ ràng nhất

Kỹ thuật cải tiến công cụ, nghệ thuật đúc đồng của người Việt đãđến trình độ điêu luyện, có ảnh hưởng sâu rộng đối với sản xuất nôngngiệp và những hoạt động tinh thần, điển hình là trống đồng Đông Sơn,với những nét văn hoá trang trí vô cùng tinh xảo, thể hiện một đời sốngtinh thần của riêng người Việt

Đồ gốm với hoa văn trang trí ngày càng uyển chuyển và mềm mại,

đa dạng và phong phú Đồ gốm Phùng nguyên là tiêu biểu nhất, phản ánhkhông chỉ tính sáng tạo mà còn phản ánh tư tưởng, suy nghĩ riêng củangười Việt

2 Sự ra đời của Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc

Sự phát triển của công cụ lao động đã dẫn đến những biến đổi tolớn trong sản xuất và xã hội Công cụ bằng kim loại phát triển và sảnxuất riêng lẻ theo từng gia đình, thời cổ đã góp phần đẩy mạnh năng suấtlao động, xuất hiện sản phẩm thừa và trong xã hội có kẻ giàu- ngườinghèo Mâu thuẫn nảy sinh nhưng không gay gắt giữa quý tộc và ngườidân Bấy giờ 15 bộ lạc ở lưu vực các dòng sông lớn do nhu cầu về thuỷlợi, về quản lý xã hội cùng với nhu cầu liên hệ chống xâm lấn đã dẫn đến

Trang 7

sự ra đời của Nhà nước đầu tiên: Nhà nước Văn Lang, kế tiếp nước ÂuLạc ra đời và phát triển Sự đánh dấu chủ quyền của người Việt ở đây đãđược xác định.

Ngay từ khi ra đời, các vua Hùng đã phải đương đầu với sự xâmlấn của ngoại xâm Từ giặc “mũi đỏ”, “giặc Ân”, đến đạo quân xâm lược

vô cùng to lớn của đế chế Tần, 50 vạn quân Tất cả đều đã bị đánh tan.Nhân dân Âu Lạc cũng nhiều lần đánh đuổi được quân xâm lược nhàTriệu Lãnh thổ của người Việt được bảo tồn, nhà nước Văn Lang - ÂuLạc được giữ vững, củng cố và phát triển

Nhân dân thời vua Hùng, vua Thục đã xây dựng được một nếpsống, với những phong tục tập quán riêng: tục nhuộm răng, ăn trầu, tụcgiã bánh giầy, gói bánh chưng, tục thờ cúng tổ tiên…

Thành Cổ Loa với nhiều vòng thành và hào liên tiếp là một thànhtựu to lớn về khoa học kĩ thuật quân sự của ông cha ta thời kì này Tiêubiểu cho ý thức dân tộc, bảo vệ chủ quyền của người Việt Như vậy, bảnlĩnh của người Việt gắn liền với sự phát triển về mặt nhận thức, suy nghĩcủa người Việt và xã hội của họ Bắt đầu từ tính sáng tạo ra các nền vănhoá cổ của riêng mình, đến ý thức cộng đồng khi có sự ra đời của Nhànước Trải qua nhiều năm sinh sống, lao động và chiến đấu, người Việtnảy nở những tình cảm cộng đồng Họ thấy cần phải nương tựa vào nhau,thương yêu nhau, đùm bọc nhau mới an cư lập nghiệp được Từ tìnhcảm cộng đồng dẫn đến ý thức cộng đồng Họ bước đầu hiểu được mốiquan hệ giữa thiên nhiên với con người; hiểu được nguồn gốc của mình,biết sự tích của các vị anh hùng; biết những phong tục tập quán cần bảotồn Và hơn hết, họ thấy rõ sức mạnh của cộng đồng trong việc làm thủylợi, trao đổi sản phẩm và đấu tranh giữ gìn làng bản, đất nước Từ đó, họ

có ý thức chung về lối sống, về dân tộc, về lãnh thổ Bản lĩnh của họ dãđược hình thành hoàn toàn một cách tự nhiên và ngày càng trưởng thànhhơn Nó có cơ sở vững chắc để bước vào thử thách “ngàn năm Bắcthuộc”

Trang 8

3 Con người và các bộ tộc người Việt ở phía Nam Trung Quốc

Buổi ban đầu lãnh thổ người Việt chủ yếu là phần đất bắc Bộ vàBắc Trung bộ và lãnh thổ Trung Quốc bấy giờ chủ yếu là vùng phía Bắcsông Dương Tử còn phía Nam là nơi sinh sống và cư trú của khối cộngđồng cư dân Bách Việt bao gồm nhiều tộc người khác

Người Việt sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp Bữa ăn hàng ngày

là cơm - rau - cá Ăn trầu, nhuộm răng là những tục lệ phổ biến, bánhchưng (tượng trưng cho mặt đất), bánh giầy (tượng trưng cho vòm trời)

là hai loại bánh thờ cúng tổ tiên độc đáo

Họ ăn mặc giản dị: đàn ông đóng khố, đàn bà mặc váy (ngày lạnh

có thêm áo chui đầu) Họ sống tập trung ở các làng bản, ở nhà sàn, dotập trung ở ven đồi, gần suối hoặc ở những dải đất cao ven sông nênphương tiện đi lại chủ yếu bằng thuyền

Người Việt rất thích ca hát, người dân ăn mặc đẹp, vui chơi nhảymúa… Mọi sinh hoạt đều gắn với điều cầu mong thiết thực của cuộcsống: mong mưa thuận gió hoà, mông được mùa, yên ổn làm ăn Họ thờcúng các thế lực tự nhiên (thần sông, thần núi…) và các con vật thiêng(chim, rồng, hổ) Đặc biệt là người Việt biết thờ cúng tổ tiên và nhữngngười anh hùng có công với làng bản

Con người Việt làm nên bản lĩnh người Việt Do sống ở vùng đấ

mà điều kiện tự nhiên ô cùng đa dạng và cũng phức tạp cộng với nhữngyếu tố xã hội đã làm cho con người Việt Nam luôn luôn phải thích nghi

để sống và đi lên Vì thế bản lĩnh của người Việt đã được hình thành từsớm, cũng vì thế khi bước vào thời kì Bắc thuộc, người Việt đã có một

tư tưởng và một ý thức hệ về độc lập dân tộc với một nền văn hoá riêngcủa quá trình thích nghi và phát triển Bởi lẽ ấy mà người Việt với bảnlĩnh của mình có đủ tự tin để đối chọi lại ách đô hộ và đồng hoá kéo dàihơn một thiên niên kỷ

Trang 9

CHƯƠNG II QUÁ TRÌNH THỬ THÁCH BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI VIỆT

I CHÍNH SÁCH BÀNH TRƯỚNG VÀ ĐÔ HỘ CỦA PHONG KIẾN PHƯƠNG BẮC

1 Nước ta rơi vào ách đô hộ

Nhân lúc nhà Tần suy yếu, một viên quan cũ của nhà Tần là Triệu

Đà đã chiếm cứ ba quận phía Nam (tương ứng với Quảng Đông, QuảngTây) lập ra nước Việt Nam - năm 206 tr.Cn

Sau khi thành lập nước Việt Nam, Triệu Đà đã nhiều lần đem quânxâm lược hòng thôn tính Âu Lạc quân dân Âu Lạc, với vũ khí tốt vàthành Cổ Loa kiên cố, dưới sự chỉ huy của những tướng tài như Cao Lỗ,Nồi Hầu đã nhiều lần đánh bại quân Triệu Thấy không thể thắng được

Âu Lạc, Triệu Đà giả vờ xin hoà rồi dùng mưu mô quỷ quyệt kết hợp vớitấn công quân sự An Dương Vương thiếu phòng bị nên đã bị thất bạinhanh chóng (khoảng năm 179 tr.CN)

Theo truyền thuyết thì một mặt Triệu Đà giảng hoà và dùng của cảimua thuộc quý tộc Âu Lạc, mặt khác cho con trai là Trọng Thuỷ sanglàm rể Âu Lạc Nhiều người đã can ngăn vua đừng gả Mị Châu choTrọng Thuỷ nhưng An Dương Vương không nghe, lại còn duổi cả trungthần đi (Cao Lỗ) Trọng Thuỷ vừa ở rể vừa dò la phép chế nỏ của người

Âu Lạc cùng với sự bố trí phòng ngự của thành Cổ Loa Sau đó, lấy cớ

về thăm cha, Trọng Thuỷ đã nói cho Triệu Đà biết tình hình Âu Lạc,Triệu Đà lập tức cho chế nỏ, rồi bất ngờ đem quân đánh vào thành CổLoa Không giữ được thành An Dương Vương cùng con gái phi ngựachạy về phía Nam, đến bờ biển, cùng đường vua chém Mị Châu, rồi nhảyxuống biển (chuyện Rùa vàng)

Đến năm 111 tr.CN, nhà Hán lên thay nhà Tần đã thôn tính cả NamViệt, Âu Lạc từ tay nhà Triệu lại lọt vào tay nhà Hán

Nước Âu Lạc của người Việt tồn tại không lâu-gần 60 năm thì bịthôn tính Người Việt đã anh dũng, đứng lên chiến đấu chống lại quân

Trang 10

xâm lược, kiên quyết bảo vệ chủ quyền độc lập của mình song đã thấtbại Xét về nguyên nhân khách quan thì Triệu Đà có lực lượng mạnhhơn hẳn Âu Lạc và lại gian xảo, quỷ quyệt, đất nước ta tuy hiểm trở, cóthành Cổ Loa kiên cố nhưng yếu hơn, tiềm lực vật chất không bằngđược Từ đây bắt đầu quá trình thử thách bản lĩnh của người Việt đầykhó khăn và gian khổ Quá trình đó kéo dài đến 1200 năm đô hộ của cáctriều đại Bắc quốc: Hán, Đường, không diệt mất, chẳng những khôngdiệt mất mà còn tự mình vùng lên lật đổ Bắc quốc, đạt được một chiếnthắng hiếm có ở bất kì nơi nào của thời kỳ cổ đại.

2 Chính sách cai trị của phong kiến phương Bắc

2.1 Chính quyền đô hộ thiết lập bộ máy cai trị

Sau khi bị thôn tính, đất đai Âu Lạc bị sát nhập vào đất TrungQuốc và được chia thành quận huyện Trải qua nhiều thời kì, Âu Lạc đã

bị chia đi chia lại nhiều lần song nhìn chung, mục đích chính của bọn đô

hộ là tổ chức được bộ máy cai trị để dễ dàng bóc lột và đô hộ nhân dân

ta, luôn luôn muốn sát nhập đất nước ta trở thành một quận huyện củachúng

2.1.1 Thời kì Nhà Triệu và Hán

Nhà Triệu chia Âu Lạc làm hai quận: Giao Chỉ (Bắc Bộ) và CửuChân (Thanh, Nghệ Tĩnh) Nhà Hán đặt thêm quận Nhật Nam (Từ ĐèoNgang và đến Quảng Nam, Đà Nẵng) Nhà Hán lại còn nhập ba quận nàyvới 6 quận khác ở đảo Hải Nam và đất liền Trung Quốc lập thành châuGiao Đứng đầu châu Giao là một thứ sử, mỗi quận có một Thái thú coiviệc cai trị và một đô uý coi việc quân sự Ở các huyện (tương đương với

bộ thời An Dương Vương), chúng duy trì phương thức cai trị rất thâm

độc “lấy người Di trị người Di”, “dùng người Việt trị người Việt” ,

nhằm biến các lạc tướng, quý tộc bản địa thành chỗ dựa cho chính quyền

đô hộ, giữ nguyên nguyên tắc tổ chức chính trị cũ của Âu Lạc ở các địaphương để sử dụng nó vào mục đích bóc lột Như thế vừa đảm bảo đượcnguồn cung cấp, vừa ít động chạm đến quyền lợi của quý tộc bản địa

Trang 11

2.1.2 Thời kì từ sau Trưng Vương đến trước Lí Nam Đế

Sau thất bại của Trưng Vương, nước ta lại bị rơi vào ách đô hộ củacác triều đại phong kiến Trung Quốc Nhà Hán, Tấn, Ngô, Trần, Lươngthay nhau làm chủ Trung Quốc và cũng vì thế mà nước ta bị chia đi chialại, chia ra nhập vào nhiều lần Nhìn chung miền đất Âu Lạc cũ gọi làchâu Giao gồm có ba quận là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, khoảng 50huyện

Đứng đầu Châu vẫn là thứ sử từ Trung Quốc cử sang Thứ sử cóquyền cắt đặt quan lại, điều động quân lính ở trong Châu Ở mỗi quận cóchức thái thú và những chức quan khác giúp việc, cũng là người Hán.Bên dưới quận là huyện Chế độ lạc tướng cha truyền con nối của ngườiViệt ở cấp huyện bị bãi bỏ Thay cho các lạc tướng người Việt là nhữngtên huyện lệnh người Hán Huyện Lệnh cho xây thành luỹ và đóng quân

ở đây Chính quyền đô hộ còn ra sức sửa sang, làm thêm đường xá nốiliền quận lị, huyện lị với Long Biên - nơi tập trung các cơ quan cai trị vàquân lính

Luật cũ của người Việt bị bãi bỏ, dân ta buộc phải theo Luật Hán.Đây là một trong những thủ đoạn quan trọng trong việc tổ chức bộ máycai trị của phong kiến phương Bắc Dần dần thiết chặt bộ máy cai trịtoàn do người Hán cai trị, đẩy người Việt xuống lớp đáy, phải lệ thuộc

và chịu sự bóc lột

2.1.3 Thời kỳ nhà Đường

Năm 618, nhà Đường thay nhà Tuỳ thống trị ở Trung Quốc Đấtnước ta lại rơi vào ách đô hộ của nhà Đường Nhà Đường hùng mạnh, kếtiếp bao triều đại Trung Hoa, có chính sách cai trị rất khôn khéo, xảoquyệt Thiết lập bộ máy cai trị rất chặt chẽ và hệ thống

Nhà Đường đổi Giao Châu thành An Nam đô hộ phủ (679), chia AnNam đô hộ thành 12 châu trong đó: Giao Châu, Phong Châu, TrườngChâu (Bắc Bộ); Ái Châu, Phúc Lộc Châu, Diễn Châu, Hoan Châu (BắcTrung Bộ) Nhà Đường sắp đặt bộ máy cai trị từ trên xuống dưới

Trang 12

Ngoài việc đất nước ta bị chia thành các châu quận huyện thì nhàĐường còn chú ý tăng cường củng cố bộ máy cai trị của mình.

Dưới huyện là hương và xã Các hương và xã được chia theo số hộ

Xã nhỏ có 10 đến 30 hộ Xã lớn có từ 40 đến 60 hộ Hương nhỏ có từ 70

- 150 hộ Hương lớn có từ 160 - 540 hộ Đứng đầu phủ là một viên đô hộthâu tóm mọi quyền hành Đứng đầu mỗi châu là một viên thứ sử ởhuyện có huyện lệnh Nhà Đường còn lập ra 41 châu ki-mi (vùng dântộc ít người, hẻo lánh, chính quyền không trực tiếp cai quản) cho các tùtrưởng địa phương cai quản

Trụ sở của bọn đô hộ đặt ở Tống Bình (Hà Nội) Đường giao thôngthuỷ bộ từ Tống Bình đi các địa phương sang Trung Quốc được sửa sang

và làm thêm Ở Tống Bình, cũng như các châu và huyện quan trọng, bọn

đô hộ xây thêm thành, đắp thêm luỹ và tăng cường quân đóng giữ: Dướithời thuộc Đường, đất nước ta đã trở thành một đơn vị hành chính có tổchức cai trị thống nhất Dù vậy, về mặt hình thức, chúng lại tỏ ra “ràngbuộc”, mua chuộc phần nào tầng lớp trên của xã hội để đối phó vớiphong trào của nhân dân hòng khuất phục nhân dân ta

Nhà Đường trong quá trình tiến hành tổ chức bộ máy cai trị đã tiếnhành thêm một bước mới đó là thiết lập bộ máy cai trị đến tận hương, xãnhằm trực tiếp khống chế xóm làng của người Việt Nhưng không hề đơngiản như chúng nghĩ, chúng mới chỉ nắm đến châu, huyện chứ chưa baogiờ can thiệp được vào cơ cấu xóm làng của xã hội nước ta

Vậy là hơn 1000 năm đô hộ nước ta, trải qua nhiều triều đại từTriệu đến Đường, mặc dù triều đại nào cũng ra sức củng cố chế độ cai trịcủa mình bằng cách thiết lập một bộ máy cai trị ngày càng chặt chẽ và có

hệ thống hơn, mục đích chính là để bóc lột nhân dân ta, thống trị lâu dàinước ta Chúng chỉ thực hiện được một phần kế hoạch đó mà thôi Cuốicùng không có một triều đại nào thiết lập được nền đô hộ của chúng lêncác làng xã người Việt, không thể khống chế hoàn toàn được toàn bộlãnh thổ của người Việt.Lại càng không thể nào áp đặt được “sự đô hộ”

Trang 13

lên bản lĩnh vốn có của người Việt, hay làm cho bản lĩnh của người Việt

bị khống chế, bị kìm hãm mà ngày càng phát triển tinh tuý hơn, đẹp đẽhơn

2.2 Chính sách đồng hoá người Việt của bọn đô hộ

Hòng thôn tinh đát nước ta, duy trì bộ máy cai trị và xoá sổ nươc tatrên bản đồ, bọn phong kiến phương Bắc đã sử dụng nhiều thứ “vũ khí”,trong đó đồng hoá là “vũ khí chủ lực” sau chiến tranh

Đông Á là vùng đất có cư dân sớm Ở trung tâm, trên lưu vực sôngHoàng Hà, dân tộc Hán sớm lập nghiệp, văn hoá của người Hán vì thế

mà phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu to lớn và có một nềnvăn hoá, một trình độ hiểu biết cao hơn các dân tộc xung quanh Các dântộc nhỏ, văn hoá thấp hơn bị người Hán coi là “Nam Man”, “Đông Di”,

“Bắc Địch” và “Tây Nhung” Có một số lần Di, Địch, Nhung đã xâmnhập đất Hán nhưng thường nhất là Hán bung ra đánh chiếm xung quanh.Trong khi đô hộ, phong kiến Hán để nhiều công sức đồng hoá, Hán hoácác dân tộc bị trị Đồng hoá là “đặc sắc nổi bật” của phong kiến Hán, cáctriều đại sau tiếp tục theo đuổi chính sách này: đồng hoá người Việtchúng ta mà chúng gọi là Nam Man

Để thực thi chính sách đồng hoá, nhằm vĩnh viễn biến các vùng đất

mà chúng thống trị thành vùng đất mới, sát nhập vào Đại Hán, dân chúng

ở đây sẽ sống và sinh hoạt theo lối Hán Rồi từ đó mà chẳng cần cai trịthì tự nhiên lãnh thổ của người Việt sẽ là của Trung Quốc Bắc Quốcnắm được hai ưu thế lớn, một là dân số đông, hai là văn hoá lớn hơn Vàchính vì lẽ đó mà chính sách Hán hoá diễn ra hết sức bài bản và thâmđộc

Ban đầu, đồng hoá đi đôi với việc chiếm lĩnh đất đai và tuyêntruyền đối với người Việt Phong kiến đô hộ phương Bắc luôn nhận thức

rõ được vai trò chiến lược của đồng hoá nên nhà Hán đã đẩy mạnh chinhsách này- cùng tiến về một cái chung - ở đây là văn hoá Trung Hoa

Trang 14

Thứ nhất là biện pháp di dân Vua Hán đầy ải các tội đồ xuốngphía Nam, cùng với một số khá đông quý tộc, địa chủ, sĩ phu TrungQuốc đem theo gia đình và tộc thuộc di cư xuống giao Châu, dựa vàochính quyền đô hộ mà sinh cơ lập nghiệp, xâm lấn ruộng đất, tài sảnngười Việt trước sau đều dùng lối sống Hoa cải biến phong hoá Việt.

Với biện pháp này, quá trình đồng hoá diễn ra theo cả hai hướng tựnguyện và cưỡng bức Văn hoá Hán được du nhập ngày càng phổ biến từnhững phong cách sinh hoạt hằng ngày,

Thứ hai, do người Việt chưa có chữ nên chính quyền đô hộ mở ra

hệ thống trường học Họ dạy lễ nghĩa Nho giáo chữ Hán và văn hoá Hán,buộc người Việt phải tuân theo lễ giáo Trung Quốc Từ những việc nhưlấy vợ, gả chồng cho đến việc ăn mặc, thậm chí cả việc tổ chức khaithác nông nghiệp cũng đều phải theo truyền thống, tập quán và kĩ thuậtHán

Nhìn chung, cả hai biện pháp đều có chỗ dựa vững chắc là chínhquyền đô hộ đã đặt được hệ thống trên đất nước ta Văn hoá Hán vì thế

mà có điều kiện ảnh hưởng mạnh mẽ, xâm nhập vào đời sống cư dânViệt

2.3 Chính sách dùng bạo lực đàn áp, khủng bố người Việt

Trong ngàn năm thống trị nước ta, nhằm duy trì nền đô hộ lâu dài

để vơ vét, bóc lột và thực thi đồng hoá, các triều đại phong kiến phươngBắc đã duy trì một luật pháp hà khắc, tàn bạo để đe doạ, răn đe tinh thần,

ý chí của người Việt trong đấu tranh Các hình phạt “xẻo mũi”, “cắt tai”,

“thích chữ vào mặt” những người chống đối được sử dụng phổ biến

Chính quyền đô hộ từ Hán về sau - nhất là Đường đều thẳng tayđàn áp nhân dân ta, tắm các cuộc khởi nghĩa trong bể máu nhằm “răn đethực tế” nổi dậy của người Việt Sự trỗi dậy của ý thức dân tộc và bảnlĩnh của người Việt bị kìm hãm bằng những vụ tàn sát, bắt bớ trai tráng

đem về thiên triều, đặc biệt là biện pháp “lấy binh uy mà ức hiếp”,

chúng xây dựng thành luỹ kiên cố trên khắp đất nước Âu Lạc cũ với một

Trang 15

đội quân đồn trú đông đảo, vũ khí đầy đủ Ở vùng viên cương và cácChâu đều có quân đội để kiểm soát biên giới Ngay cả biện pháp dùngbúa chú, san phẳng gò đống để làm tổn thương long mạch, làm đất nước

ta không thể phát triển

Nhưng thực tế, chính quyền đô hộ phải vất vả chống đỡ với sứcsống mãnh liệt của người Việt Ý thức dân tộc luôn luôn phát triển và đitheo chiều hướng hợp với sự tất yếu của lịch sử Sớm hay muộn thì nước

ta cũng sẽ giành được độc lập

3 Nỗi thống khổ của nhân dân ta

Chính quyền Trung Quốc đô hộ bóc lột nhân dân ta chủ yếu bằngcách bắt cống nạp Hàng năm, dân ta phải nộp cống nào sừng tê, ngà voi,

gỗ trâm, lông chim trả , nào ngọc trai, đồi mồi, san hô , hoa quả quícủa ta như vải, nhãn, quất, dừa , các thứ sản phẩm thủ công nổi tiếng làvải cát bá (vải đệt bằng sợi bông, có loại mịn rất thoáng vì sợi nhỏ vàsăn), giấy trầm hương, đường phèn, đồ khảm xà cừ đều phải nộp cống

Cả đến những người thợ thủ công khéo tay, giỏi tướng số đều trở thànhvật nộp cống Bóc lột bằng cách bắt cống nạp là sự cướp đoạt, vơ vét tànnhẫn

So với miền Nam Trung Quốc lúc đó, đất nước ta là nơi “đất rộngngười nhiều”, “ruộng bãi phì nhiêu”, “của lạ núi biển không đâu sánh

bằng” Chủ trương của chính quyền đô hộ là chủ trương “tuỳ đất đó sản

xuất vật gì thì tạm thời thu lấy thuế khoá vật đó, không có phép tắc, luật

lệ cố định”(Theo lời tâu cua một viên quan với Hán Cao Tổ).

Sĩ Nhiếp mỗi năm thu hàng ngàn tấm vải cát bá, hàng trăm ngựa vànhiều thứ lâm thổ sản quý khác Tôn Tư đã bắt hàng ngàn thợ thủ côngsang xây kinh đô Kiến Nghiệp (Nam Kinh)

Cùng với việc nộp cống, nhân dân ta còn phải nộp nhiều thứ tôthuế nặng nề Ruộng phải nộp tô Người phải nộp thuế Đặc biệt, muối

và sắt là hai thứ thuế bị đánh thuế rất nặng Ngoài ra, mỗi năm nhân dân

Ngày đăng: 05/04/2013, 16:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w