Cho đến nay, đã có rất nhiều các công trình khoa học của nhiều học giả trong và ngoài nước tìm hiểu về vấn đề này, tuy nhiên lại chưa có công trình nghiên cứu riêng nào về sự phê phán đó với tư cách là một thực thể, một vấn đề khoa học
Trang 1Đề tài:
TÌM HIỂU SỰ PHÊ PHÁN NHO GIÁO CỦA NHỮNG NHÀ NHO TIẾN
BỘ Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX.
Trang 2LỜI GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Hệ tư tưởng Nho giáo được du nhập vào Đất Việt khoảng thế kỉ thứ nhấtsau công nguyên, do chính sách đồng hoá người Việt của đế chế Hán trong thời
kỳ Bắc thuộc Với những ưu thế của nó về các quan điểm chính trị, kinh tế vàvăn hoá giáo dục, hệ tư tưởng này đã dần chiếm được ưu thế trong xã hội củangười Việt và trở thành bệ đỡ tư tưởng, tinh thần cho toàn bộ hệ thống chính trị,
xã hội, kinh tế, văn hoá, giáo dục của Việt Nam từ thế kỷ XV Tuy nhiên, đếncuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, trước sự biến đổi to lớn của lịch sử và thờiđại, hệ tư tưởng Nho giáo với những bất cập, hạn chế của nó đã không giải quyếtđược những nhiệm vụ của thời đại, đó là việc tìm vạch ra con đường cứu nước
và giải phóng dân tộc cho người Việt Những nhà nho tiến bộ của Việt Nam saukhi tiếp cận với dòng tư tưởng dân chủ tư sản phương tây qua các Tân thư, Tânbáo, đã nhận thức được sự bất cập và những hạn chế của Nho giáo và trước sựđòi hỏi của nhiệm vụ thời đại họ đã tiến hành phê phán hệ tư tưởng Nho giáo
Tìm hiểu sự phê phán đó là một việc làm bổ ích và khoa học, nó góp phầnvào việc nghiên cứu và đánh giá một cách đúng đắn về tiến trình phát triển tưtưởng và nhận thức của người Việt những năm đầu thế XX trong tiến trình lịch
sử Cho đến nay, đã có rất nhiều các công trình khoa học của nhiều học giả trong
và ngoài nước tìm hiểu về vấn đề này, tuy nhiên lại chưa có công trình nghiêncứu riêng nào về sự phê phán đó với tư cách là một thực thể, một vấn đề khoa
học Vì thế, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Tìm hiểu sự phê phán của các
nhà nho tiến bộ đối với tư tưởng nho giáo ở Việt Nam đầu thế kỷ XX” làm đề
tài nghiên cứu của mình Tuy nhiên, chúng tôi cũng biết đây là một đề tài rấtkhó, muốn đạt được một kết quả nghiên cứu tốt và mang tính khoa học thì ngườinghiên cứu nó phải làm việc thật sự nghiêm túc, khoa học Sau một thời gianlàm việc và nghiên cứu nghiêm túc, được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình vàkhoa học của Thầy giáo, chúng tôi vui mừng công bố kết quả nghiên cứu củamình trước hội đồng khoa học Nhưng chúng tôi chắc rằng báo cáo của chúngtôi cũng chưa thật sự hoàn mĩ và đạt được kết quả như mong muốn Chắc chắn
Trang 3trong đó còn có nhiều điều hạn chế và thiếu xót cần được nghiên cứu và bổ sungthêm Vì thế, chúng tôi mong có được sự quan tâm và giúp đỡ của độc giả đểchúng tôi tiếp tục hoàn thiện công trình nghiên cứu của mình
Trong quá trình thực hiện đề tài, ngoài sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tìnhcủa Thầy giáo, chúng tôi còn nhận được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến cùngnhiều Thầy, Cô giáo và bạn bè trong ngoài khoa, nhân đây, qua bài báo cáo nàychúng tôi xin gửi lời cám ơn chân thành nhất tới sự hướng dẫn và giúp đỡ đó
Trang 4A Sơ lược về lịch sử phát triển Nho giáo ở Việt Nam
Hệ tư tưởng Nho giáo được du nhập vào Việt Nam khoảng thế kỷ thứ nhấtđầu công nguyên, do chính sách đồng hoá người Việt của người Hán Nhữngngười được coi là khởi đầu cho việc truyền bá đạo Nho vào Việt Nam là hai viênThái thú Nhâm Diên và Tích Quang thời Tây Hán và sau đó là Sĩ Nhiếp thờiĐông Hán, sách Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi lại những hoạt động của họ nhưsau: “Tích Quang người quận Hán Trung, khi ở Giao Chỉ, lấy lễ nghĩa dạy dân.Lại lấy Nhâm Diên làm Thái thú Cửu Chân Diên là người Uyển Tục ngườiCửu Chân chỉ làm nghề đánh cá, đi săn, không biết cày cấy Diên mới dạy dânkhai khẩn ruộng đất, hàng năm cày trồng, trăm họ no đủ Dân nghèo không sính
lễ cưới vợ, Diên bảo các trưởng lại trở xuống bớt bổng lộc ra để giúp đỡ, cùngmột lúc lấy vợ có đến 2.000 người”1 Và lời đánh giá của Tiết tổng Tiết KínhVăn đời Ngô (năm 231 sau công nguyên) về những hoạt động đó như sau: “đếnkhi Tích Quang làm Thái thú Giao Chỉ, Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân,dựng nhà học, dẫn dắt bằng lễ nghĩa Từ đấy trở đi, hơn 400 năm, dân tựa hồ đã
có quy củ”2
Tuy nhiên, Nho giáo trong thời kỳ Bắc thuộc và thậm chí là trong khoảnghai thế kỷ sau Bắc thuộc chưa thực sự chiếm lĩnh được địa vị độc tôn, để có thểchi phối mọi hoạt động về đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá của ngườiViệt Hệ tư tưởng Nho giáo chỉ thực sự bắt đầu chiếm lĩnh được vị thế trong đờisống văn hoá xã hội cuả người Việt khi nhà Trần nên nắm quyền cai trị đấtnước Song ở trong giai đoạn cai trị của nhà Trần, hệ tư tưởng Nho giáo cũngchưa thực sự chiếm lĩnh được vị thế hàng đầu, nhiều tài liệu về thời kỳ này chothấy, lúc này những ảnh hưởng của đạo Phật còn khá lớn mạnh và nó chi phốirất nhiều tới các mặt chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá của người Việt Cóđiều đó là vì đạo Phật có nhiều điểm tương đồng hay phù hợp với nền văn hoátruyền thống của người Việt Mặt khác, đây còn là thời kỳ mà chế độ phong kiếnmới được thiết lập trên đất Việt, nó chưa đủ hoàn thiện để trở thành một chế độquân chủ chuyên chế vững mạnh như ở thời đại của vương triều Lê được thiết
1 Đại Việt sử ký toàn thư – NXBKHXH – Hà nội – 1993, Tr.155.
2 Đại Việt sử ký toàn thư – NXBKHXH – Hà nội –1993, Tr.166.
Trang 5lập sau đó (thế kỷ XV) Như vậy, có thể nói cho đến cuối thế kỷ XIV và khoảngmột thập kỷ đầu của thế kỷ XV, hệ tư tưởng Nho giáo vẫn chưa thực sự nắmđược vị trí đứng đầu để có thể chi phối các hoạt động chính trị, kinh tế, và vănhoá xã hội của người Việt Hay nói cách khác là vào lúc này, hệ tư tưởng Nhogiáo còn phải tranh giành ảnh hưởng với với các dòng tư tưởng khác như: PhậtGiáo, Đạo Giáo, Lão Giáo Hệ tư tưởng Nho giáo chỉ thực sự chiếm được địa
vị độc tôn khi mà vương triều Lê được thiết lập vào năm 1427
Hệ tư tưởng Nho giáo có thể chiếm lĩnh được địa vị độc tôn và trở thành
bệ đỡ tư tưởng, tinh thần cho toàn bộ hệ thống chính trị, kinh tế, và văn hoá, xãhội của Việt Nam là vì, vào cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV chế độ phong kiếnvừa mới thiết lập ở Việt Nam đã bắt đầu đi vào khủng hoảng, dẫn tới sự tan rãcủa chính quyền trung ương, một lần nữa đất nước ta lại rơi vào tay của ngườiHán Sự hưng thịnh buổi đầu của chế độ phong kiến Việt Nam đã chấm dứt, nóđặt ra câu hỏi mà những người con ưu tú của đất Việt thời kỳ đó phải trả lời là:Tại sao chúng ta lại mất nước? Làm thế nào để giải phóng dân tộc? Làm thế nào
để có thể duy trì được nền độc lập dân tộc và thống nhất nước nhà? Những câuhỏi lớn đó đã được đặt ra và nó dẫn tới cuộc đấu tranh về mặt tư tưởng trongthập kỷ đầu của thế kỷ XV và cuối cùng thì những nhà tư tưởng thời kỳ này đãchọn hệ tư tưởng Nho Giáo làm bệ đỡ tư tưởng và tinh thần cho việc hoạch định
ra đường lối cứu nước, mà những người đại diện có thể kể tới là Nguyễn Trãi,
Lê Lợi Đó là lý do để sau đó Nho giáo đã chiếm lĩnh được địa vị độc tôn vàchi phối hệ thống chính trị, kinh tế và văn hoá, xã hội của người Việt NgườiViệt đã tìm ra được những ưu điểm của hệ tư tưởng Nho giáo để áp dụng vàocông cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng, bảo vệ tổ quốc Những chuẩn mựccủa đạo Nho cũng từ đó được đề cao và áp dụng vào trong mọi sinh hoạt của đờisống xã hội của người Việt trong suốt những thế kỷ sau đó
Có thể nói, kể từ khi được du nhập vào đất Việt cho đến khi trở thành hệ
tư tưởng chính thống của Người Việt, Nho giáo đã có những cống hiến to lớncho việc phát triển văn hoá của người Việt Việc hình thành nên hệ thống chữviết và hệ thống giáo dục là những đóng góp của hệ tư tưởng Nho giáo Ngoài
Trang 6ra, những tư tưởng về đạo đức, về lối sống cũng là những đóng góp to lớn củađạo Nho cho nền văn hoá Việt Song Nho giáo chỉ thực sự phát triển đến đỉnhcao của nó khi mà nhà Nguyễn nắm quyền cai trị đất nước vào thế kỷ XIX Ởthời kỳ này, mọi chuẩn mực, phép tắc của Nho giáo đều đã được hoàn thiện.
Tuy nhiên, cũng ngay từ khi Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam thì
nó cũng đã bộc lộ ra những hạn chế, đặc biệt là lối học tầm chương, trích cú đãhạn chế sự sáng tạo của người học Nhân dân ta đã nhận ra điểm hạn chế đó củađạo Nho và nên tiêng phê phán nó, những bài ca dao như:
“Ai ơi chớ lấy học trò,Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm
Ban ngày cắp sách đi rongTối về lại đốt đèn trong tốn dầu”
Rồi những câu tục ngữ, ca dao như: “Sĩ, nông, công, thương, Nhất sĩ nhìnông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ” đều nhằm vào mục đích phê phán đó.Ngoài ra, chúng ta còn thấy được sự phê phán khá nghiêm túc và sâu cay các tríthức nho học qua thơ Hồ Xuân Hương như:
“Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ,
Lại đây cho chị dạy làm thơ
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa,
Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa”
Nhưng sự phê phán một cách có ý thức, có khoa học và có hệ thống thì
phải đến cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX với cuốn sách “Vũ trung tuỳ bút” của Phạm Đình Hổ Với “Vũ trung tuỳ bút”, Phạm Đình Hổ đã phê phán học
thuyết nho giáo về học thuật, về phong cách của nhà nho và văn hoá, giáo dục,tuy rằng nó chưa thực sự sâu sắc
Về học thuật ông viết: “Đời nay những kẻ học lỏm được mấy câu mép,
nào có quan hệ gì đến đạo tu, tề, trị, bình, thế mà đã ngàng nhiên tự đắc”1; về lốichữ viết thì: “Còn những giấy tờ ở chốn cửa công thì dùng riêng một lối chữ
“nam”, lúc đầu là phòng dân giả mạo, mới theo hoa văn mà đặt ra một lối chữ
1 1 Vũ Trung tuỳ bút – Phạm Đình Hổ – NXB văn học, Hà Nội- 1972, tr.37.
Trang 7việc quan Song những cách giả dối là bởi những kẻ nho lại làm ra, càng ngàycàng tệ”2; về cốt cách nhà nho: “Ta nghe chuyện trên này, lấy làm quái lạ Ôi!
Người đời, những kẻ mũ cao áo dài, đứng ngồi chững chạc, mồm vẫn đọc sáchthành hiền, vẫn chen nhau trong hàng mũ áo, ngày thường vô sự vẫn tự nhận làbậc đạo học, tự đắc là bậc danh giáo; gặp phải sự biến, một mất một còn, mộtsống một chết, thì thường tiến thoái hồ đồ, mất cả sở cứ”3; về phép tắc thi cử: “
đời Lê trung hưng, phép thi rất nghiêm Nhưng con nhà hát xướng không đượcthi Lộc khê Đào duy Từ dẫu tài giỏi, văn chương hay, thi hội đã trúng cách, chỉ
vì là con nhà hát xướng mà phải tước tịch không được đỗ Về sau, chính thểcàng ngày càng đồi bại mới có kẻ làm gian được”4 và “Từ đời Lê trung hưng trở
về sau, thi đình bài chế sách, thi hội, thi hương, cũng toàn thi văn chương cả.Nhưng kẻ nho sĩ xu thời chỉ biện bác lém lỉnh mấy câu đầu Cách thi cử như thếlàm sai mất cả cái ý “lâm hiền sách sĩ” của đời xưa”5; về thể văn kinh nghĩa:
“Trong bài văn, cứ phải theo nghĩa đại chú mà làm, chứ không được cầu kỳ làmmới ra Vì vậy học trò chỉ chuyên chú học chú thích, nhớ lấy lễ nghĩa là đủ Đókhông phải là cái chế độ minh kinh thí sĩ của người đời xưa Về sau này lại cứquen dùng đầu bài cũ, học thuộc lòng lối văn cũ là được, nên càng ngày càng sailạc mãi đi”6
Sự phê phán đó của Phạm Đình Hổ vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷXIX, một giai đoạn được coi là phát triển thịnh đạt của Nho giáo đã cho thấy, rõràng là hệ tư tưởng Nho giáo đã có những hạn chế, bất cập trước thời đại và lịch
sử Sự phê phán đạo Nho còn tiếp tục được tiến hành trong suốt thế kỷ XIX,nhất là sau khi thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên xâm lược nước ta năm 1858
và sự thất bại của cuộc kháng chiến chống Pháp do triều đình phong kiến thựchiện, mà những người tiêu biểu có thể kể tới như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn
Lộ Trạch với việc dâng các bản điều trần lên triều đình phong kiến Tuy nhiên, ởvào những thời điểm đó, sự phê phán Nho giáo còn chưa lôi kéo được đông đảo
Trang 8giới trí thức nho học trong nước, những hạn chế của đạo nho cũng chưa bộc lộ ramột cách rõ nét nhất, chỉ đến khi đất nước ta rơi vào tay thực dân Pháp và phongtrào kháng Pháp, đặc biệt là “Phong trào Cần Vương” do những chí sĩ nho giáoyêu nước tổ chức bị thất bại, thì những hạn chế đó mới thật sự rõ nét và nhữngnhà nho tiến bộ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỷ XX đã nhận ra nó Do vậy mà họ đãtiến hành đánh giá và phê phán học thuyết Nho giáo, nhằm mục đích thức tỉnhgiai cấp và dân tộc, mà tiếng kêu ai oán của “ông đồ mù” Nguyễn Đình Chiểu cóthể nói là phát súng đầu tiên khai màn cho công cuộc đó:
“Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng,
Nỡ để dân đen mắc nạn này”1
B Nội dung sự phê phán Nho Giáo của những nhà nho tiến bộ ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX
1 Sự phê phán Nho Giáo với tư cách là một học thuyết
Với tư cách là một học thuyết, một trường phái tư tưởng của phươngĐông, sau khi du nhập vào Việt Nam, học thuyết Nho giáo đã có những đónggóp nhất định cho việc ổn định và phát triển nền văn hoá, xã hội Việt Nam Tuynhiên, đến thế kỷ XIX, đứng trước tiếng súng xâm lăng của thực dân Pháp, họcthuyết Nho giáo và những lý luận của nó đã tỏ ra bất cập, không giải quyết đượcnhững nhiệm vụ của thời đại và lịch sử đặt ra, đó là việc tìm vạch ra được mộtcon đường cứu nước và giải phóng dân tộc đúng đắn cho người Việt
Đất nước rơi vào tay thực dân Pháp, phong trào Cần Vương do những sĩphu yêu nước cuối thế kỷ XIX tiến hành bị thất bại đã như những gáo nước lạnhdội vào bầu nhiệt huyết và tinh thần yêu nước của giới trí thức nho học của ViệtNam Những câu hỏi lớn của thời đại và lịch sử đươc đặt ra cho giới trí thức nhohọc yêu nước như: Tại sao chúng ta lại mất nước? Và tại sao chúng ta lại thấtbại? Song chỉ dựa vào những quan điểm, lý luận của đạo nho thì những trí thứcnho học yêu nước thời bấy không thể lý giải được Trong khi đó, dòng tư tưởngmới dân chủ tư sản của phương Tây được du nhập vào Việt Nam, do quá trìnhxâm chiếm và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, và qua các tác phẩm lý
1 Nguyễn Đình Chiểu – Chạy Giặc – Văn học lớp 9, T1, NXB Giáo dục, Hà nội – 1996, tr.143.
Trang 9luận, các bài văn, bài báo của các học giả như Khang Hữu Vi, Lương KhảiSiêu, Đàm Tự Đồng (Trung Quốc) và Thỉ Dã Long Khê, Sài Tứ Lang, MạtQuản Thiết Trường ( Nhật Bản), với những lý luận, quan điểm tiến bộ hơn hẳn
so với học thuyết Nho giáo về các vấn đề chính trị, tư tưởng, và văn hoá, giáodục kinh tế, đã có những tác động, ảnh hưởng không nhỏ tới giới trí thức nhogiáo Việt Nam Mặt khác, sự lớn mạnh hơn hẳn về mọi mặt của các nước tư bảnthực dân phương Tây, sự hưng khởi của Nhật Bản, một nước phương Đông, nhờ
đi theo con đường tư bản chủ nghĩa đã thoát khỏi sự xâm lược của các nước thựcdân tư bản phương Tây là những động lực thúc đẩy những nhà nho yêu nướctiến bộ đến với dòng tư tưởng dân chủ tư sản, và họ đã tiếp nhận dòng tư tưởngmới này mặc dù là nó được du nhập vào Việt Nam một cách gián tiếp, khôngđầy đủ, toàn vẹn
Tận mắt chứng kiến sự thất bại của các phong trào yêu nước, lại chịu ảnhcủa tư tưởng dân chủ tư sản, những trí thức nho học đã thức tỉnh và họ coi họcthuyết Nho giáo, thứ học thuyết mà bấy lâu nay họ vẫn miệt mài theo học,
nghiền ngẫm là nguyên nhân dẫn tới việc mất nước Phan Chu Trinh trong Thư gửi toàn quyền Đông Dương viết: “Nước Nam ta bấy lâu nay học thuyết sai lầm,
phong tục hư hỏng, không có liêm sỉ, không có kiến thức”1 Còn như trong tác
phẩm Tối tân thời tà khí ca, tác giả của nó viết:
“Mắng chửi sao đáng kể
Tộc loại nhờ nó mất,
Cừu địch nhờ nó vinh
Tam cương thảy đổ nát,
Đạo nghĩa nhổ sạch không
Trời đất có tà khí,
Phú thành vật nhiêu hình
Dưới thì là cứt đái,
Trên thì là cẩu tinh
1 Dẫn theo: Văn thơ yêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thé kỷ XX, NXB Văn học, Hà Nôi – 1976, tr.194.
Trang 10Với người là nô tính,
Mờ mịt lấp biển xanh.”1
Hoặc giả như cụ Phan Bội Châu trong tác phẩm Sùng bái giai nhân viết:
“ Từ khi đạo học của thành hiền không sáng, nhân tài không như xưa, khí lực
đã hèn, óc lão lại mỏng Vua không biết nuôi dưỡng, thầy không biết dạy bảo
Vì thế mà người đời như một hình gỗ, một tượng đất, Thi thư trở thành cái làmcho người ta ngu dốt? Trung hiếu là vật gây nên mọi tai quái?”2 Rồi ông tỏ rahối hận khi đã theo học đạo nho, cho đó là: “Đáng tiếc là hồi đó mình chỉ vùiđầu vào lối hư văn khoa cử”3 Chính vì thế, họ – những trí thức nho học đã tiếnhành phê phán học thuyết Nho giáo và dòng tư tưởng dân chủ tư sản đã trang bịcho họ những cơ sở lý luận để họ tiến hành phê phán học thuyết Nho giáo đếntận gốc rễ của nó Nó được thể hiện qua những tác phẩm, những bài viết củanhững nhà nho tiến bộ đầu thế kỷ XX để cổ động cho các phong trào yêu nước
và văn hoá như: Đông du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân
Thông qua lăng kính của sự soi rọi bằng những lý luận của tư tưởng dânchủ tư sản, các nhà nho tiến bộ đã tiến hành phê phán sự bảo thủ, trì trệ và hủlậu của học thuyết Nho giáo về mặt tư tưởng, về các quan điểm chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội và giáo dục
- Phê phán về mặt tư tưởng Nho giáo:
Trước hết, các nhà nho tiến bộ đã phê phán, đả phá tư tưởng thiên mệnh trong học thuyết Nho giáo Thiên mệnh có nghĩa là duy tâm, là tin vào mệnh
trời Học thuyết Nho giáo cho rằng mọi hoạt động của con người đều do trời sắpđặt, chi phối do vậy sự việc của con người thành hay bại đều là do trời quyết
định Vì thế, mất nước cũng là do mệnh trời Đó là quan điểm của những nhà Tống nho Trung Quốc khi họ đưa ra cái thuyết thiên nhân cảm ứng, và nó đã
được các nhà nho Việt Nam tiếp nhận để lý giải cho những sự vật, hiện tượngxảy ra trong lịch sử mà học thuyết nho giáo không thể giải thích được do cái tư
tưởng coi xưa là phải nay là quấy và chỉ chúi mũi vào học những lời dạy của cổ
1 Dẫn theo: Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục, Nxb Văn hóa, HN –1997, tr 164, 166.
2 Dẫn theo: Thơ văn yêu nước và các mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, NXB Văn học, HN - 1976, tr.86, 87.
3 Như trên, tr.159.
Trang 11nhân với những nhận thức xưa cũ không thức thời Những nhà nho tiến bộ đầuthế kỷ đã nhận ra sự sai lầm của cái thuyết thiên mệnh đó, họ cho rằng chính cáithuyết thiên mệnh duy tâm, tin vào mệnh trời đã làm hủ hoá con người, cản trở
sự phát triển nhận thức của con người, làm cho người ta dễ bằng lòng với thựctại của cuộc sống mà mất đi phương hướng trong hành động; rằng nó là cáithuyết tai hại làm cho người ta trở nên ươn hèn, bảo thủ mà không chịu học hỏicái mới, không phát huy được khả năng sáng tạo của mình: “Ngày nay, chỉ riêngcái thuyết mệnh trời cũng đã đủ làm cho dân ta bị trở ngại Mệnh là cái khôngđến mà lại đến Người quân tử tri mệnh là biết không thể tránh được điều hại,không thể hưởng được điều lợi, nhưng cái đáng làm thì cứ làm Cho nên trimệnh là để khuyên lập chí, dẫu biết rằng người không có trí thì khi gặp việc làcầu khấn trời giúp cho, hỏng việc thì lại đổ cho trời làm hại! Cho nên, nước yếuthì không quy trách nhiệm cho chính sự tồi tệ, quốc dân bất tài, mà lại cứ nóivận số không phải do con người quyết định Lụt lội hạn hán thì không trách cứ
là không có kế hoạch tiêu nước kịp thời, không phòng ngừa đói kém, mà lại nóithiên tai không phải do người gây nên Than ôi! sao lại có những cách nói tựhại mình đến thế? Sức người không làm được mà đổ tội cho trời, trời có nhận tộiđâu”1
Thứ đến là những nhà nho tiến bộ đã phê phán cái tư tưởng nội hạ ngoại
di, vì nếu như thuyết thiên mệnh là sự cản trở sự phát triển của nhận thức, thì cái
tư tưởng “nội hạ ngoại di” trọng mình khinh người trong học thuyết Nho giáo
còn tai hại hơn Nó làm cho người ta chỉ coi trọng bản thân, tự đề cao bản thân
mà coi thường người khác, mà không chịu học hỏi Đây là sản phẩm của quátrình tranh giành địa vị độc tôn của Nho giáo với các tôn giáo khác, muốn nắmđược địa vị độc tôn thì phải đề cao cái đạo của mình, phải tỏ ra cái đạo của mình
là cao quý để hạ thấp địa vị của các tôn giáo khác Vì thế, khi mà Nho giáo đãnắm được địa vị độc tôn, trở thành đạo cao quý, thì đương nhiên những đệ tửcủa học thuyết Nho giáo cũng là những người cao quý, kẻ cả, được coi trọngtrong xã hội Do vậy mà họ nhiễm cái thói vênh váo, tự cao, tự đại coi khinh hết
1 Dẫn theo: Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục – phần Quốc dân độc bản, NXB Văn hoá, HN - 1997, tr 62, 63.
Trang 12thảy những người khác, coi khinh hết thảy những học thuyết của những tôn giáokhác, mà không chịu học hỏi những điều tiến bộ Đó là cái tư tưởng làm cho conngười ta trở nên ngu dốt, kém cỏi Những nhà nho tiến bộ đã nhận ra rằng ngày
nay “không thể như trăm năm trước nữa, cứ đóng cửa mà trị dân, dù không tiến
phán cái tư tưởng nội hạ ngoại di của học thuyết Nho giáo như sau: “Kìa xem
những kẻ ham mê đàn sáo, đầu hồ, bài lá, cờ tướng, đố thư, đánh chữ, số, tướng,địa lý, phù thuỷ, ngày ngày dốc cả trí không vào những thứ vô dụng, sống saychết mộng, thì chả kể làm gì Nhưng hạng cao hơn, đỗ đạt lên một tí, được cáitiếng quèn, đã vội khủng khỉnh ta đây là kẻ cả, tự xưng là bậc giữ gìn thế đạo,ngày ngày khoe câu văn hay, khư khư ngồi giữ những thuyết hủ lậu, khinh bỉ hếtthảy học mới văn minh! Hạng thua kém nữa thì chỉ có nghe vấn đề thăng quanlên bậc mấy, cất nhắc mấy người, chứ không hề biết đến vấn đề nào khác! Cómột ông nào đó đã nói với các bạn hậu tiến: “Các thầy muốn ra làm quan, thìphải cẩn thận: chớ có đọc sách mới, xem báo mới” Ôi, nếu không biết đến sáchbáo mới thì thôi, chứ đã biết đến mà lại bưng bít che lấp đi, làm cho không nghe,không thấy chuyện gì, để tự mình lại củng cố căn tính nô lệ, nhân cách như thế,thật nên lấy làm đau đớn!”1 Và họ coi đó là nguyên nhân quan trọng nhất trongbốn nguyên nhân dẫn đến cái sự mất nước và phải làm nô lệ của người Việt:
“Nước Nam ta bây giờ dốt tệ lắm, mà cũng vì cái dốt nên phải làm như trâu, như
bò, được đồng nào đem sắm đồ Tàu hết Cũng vì dốt nên nghề hay không làm aicũng muốn làm cái nghề ăn không Cũng vì cái dốt, nên người đói meo không
lo, lo Quan Âm đói, nói tóm lại thì bao nhiêu cái khổ sở nhục nhằn ở nước tacũng vì cái dốt mà ra cả”2
Thứ ba là những nhà nho tiến bộ đả phá cái tư tưởng quý đạo vương khinh đạo bá Chính vì coi trọng tư tưởng nội hạ ngoại di, trọng mình mà khinh người nên cái tư tưởng mù quáng quý đạo vương mà khinh đạo bá của học thuyết Nho
giáo đã ra đời Đây là cái tư tưởng cực đoan, độc tôn Nho giáo Vương đạo tức
2 Như trên, tr 53.
1 Dẫn theo: Thơ văn yêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, NXB Văn học, HN – 1976, tr 633, 634
2 Dẫn theo: Đăng cổ tùng báo, số ra ngày 27 tháng 6 năm 1907 Tư liệu lưu trữ của Thư viện trường
ĐHKHXH&NV.
Trang 13là đạo của nhà vua, mà đã là đạo của nhà vua thì đương nhiên là cao quý nhất.
Mà một khi nó đã trở thành đạo cao quý nhất thì đương nhiên là người ta sẽ coithường những thứ đạo khác mà không chịu học hỏi tiếp thu những cái mới, cáihay Như vậy là cái tư tưởng quý đạo vương khinh đạo bá lại càng bó hẹp conngười ta hơn, làm cho người ta trở nên bảo thủ hơn, vênh váo hơn, thế cho nên:
“Phàm những kẻ biết được đôi chút từ chương đã vênh vang cho mình là sĩ,không thèm đứng cùng hàng với nông, công, thương, họ cho là hèn hạ, gọi làdân buôn, dân thợ, dân cùng, ngu dốt”3 Những nhà nho tiến bộ đã cho cái tưtưởng này là một trong bốn nguyên nhân khởi điểm làm cho dân ta ngày càngdốt đi, làm cho đất nước ngày càng tiều tuỵ, yếu hèn
Nhưng nguyên nhân dẫn đến cái sự ngu dốt tai hại ấy còn là nhờ cái tư
tưởng bảo thủ coi xưa hơn nay, cho xưa là phải nay là quấy của đạo Nho Những
nhà nho tiến bộ đầu thế kỷ XX đã nhận ra cái căn nguyên sai trái ấy khi họ viết
thiên Bàn về văn minh “người nước ta hiếu cổ, coi nhẹ kim, thậm chí có người
muốn sống như đời Hy – Hoàng trở về trước, không biết rằng Hy – Hoàng trở vềtrước là thời đại dã man”1, và cho rằng: “Đó là điểm lầm lớn của nghìn trămnăm học giới Cái hại đó lên tột đỉnh sẽ khiến cho tư tưởng yêu nước của nhândân chìm đắm, phương châm giúp nước của thân sĩ lờ mờ, bàn việc nước thìgang tấc mà như sánh biển khơi”2 Đó là cái nguyên nhân dẫn đến: “Xã hội ta thìtrì trệ, không tiến bộ, học thuật, kỹ nghệ sơ sài”3 và “Hành chính thì cấm thayđổi, sửa sang; dùng người thì quý im lìm lặng lẽ; chiếu theo lệ cũ, nhưng lệkhông nhất định; luật cũng có ban bố đấy, nhưng dân gian không được đọc luật!
Đó là điều trái nhau về giới kinh tế”4(kinh tế ở đây được hiểu theo nghĩa là chínhtrị) Nó làm cho con người trở nên hủ hoá, bảo thủ, trì trệ: “Trong mười ngườichơi bời, lười biếng cũng có năm, sáu người có lòng tự ái, hiểu biết chút ít, cònphần lớn thì câu lệ, giữ ý kiến cũ Bỏ được phong thái ấy, tranh lên trước, hiếmlắm Mỗi lần học thấy những sáng kiến họ không quen thì họ chê bai, dè bỉu,
3 Dẫn Theo: Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục, NXB Văn hoá, HN – 1997, tr
1 Dẫn theo: Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục, NXB Văn hoá, HN – 1997, tr 53.
2 Dẫn theo: Chương Thâu - Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào cải cách văn hoá đầu thế kỷ XX, NXB Văn
hoá- Thông tin, HN – 1997, tr 239.
3 Dẫn theo: Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục, NXB Văn hoá, HN – 1997, tr 49.
4 Dẫn theo: Thơ văn yêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, NXB Văn học, HN – 1976, tr 635, 636.
Trang 14hơn cả những kẻ ngu si đảo lộn phải trái, trắng đen”5 Cái dốt nát, ngu si, bảo thủ
của con người bởi tư tưởng trọng xưa hơn nay thối nát ấy, đã cản trở sự phát
triển về nhận thức của cá nhân và xã hội, nó kìm hãm và trói buộc con người và
xã hội vào những thứ giáo lý cũ rích, làm cho người ta không theo kịp được sựphát triển của thời đại Nó hướng người ta chỉ trông vào xưa chứ chẳng biết nay,không tin vào thực tại, đến nỗi đã trở thành nô lệ mà vẫn không biết, vẫn huyênhhoang: “Người ngày nay mà không muốn hơn người ngày xưa thì văn minhkhông tiến Nước yếu thì sẽ bị nước văn minh hơn thôn tính Người nước tathích bàn về thời Hổng cổ, hâm mộ Hoàng nông, mà không biết rằng thế đạongày một suy, mà lại than thở phong tục xưa không được phục hồi Những lờikhông phải cổ nhân nói, những việc không phải cổ nhân làm, cũng cho là ngườiđời phải kinh sợ Chính cái lòng hiếu cổ ấy làm cản trở trí tiến thủ”6
Tư tưởng trọng quan khinh dân, trong học thuyết Nho giáo cũng là một
trọng tâm mà những nhà nho tiến bộ đầu thế kỷ XX chĩa mũi nhọn vào phêphán Nó được coi là nguyên nhân dẫn đến sự hủ hoá, thối nát của bộ máy chínhquyền và thể chế chính trị phong kiến Nó dẫn đến cái thói vênh váo, tự cao tựđại của tầng lớp nho sĩ trong xã hội Tư tưởng đó xuất phát từ đâu, từ cái sự độctôn Nho giáo, từ cái sự đề cao cái đạo Tam cương, Ngũ thường với những mốiquan hệ ràng buộc bởi nhiều phép tắc bất di, bất dịch, dẫn đến sự tách bạch, đốilập một cách tuyệt đối giữa vua, quan và dân Quan không được vượt quyền,không được bàn bạc, cãi lệnh vua, vì lệnh vua là thánh chỉ, là lời của thiên tử;còn dân thì không được cãi lời quan, vì quan là phụ mẫu của dân, là cha mẹ củadân Khi mà đạo Nho đã trở lên địa vị độc tôn, thì đương nhiên là muốn làmquan phải học đạo Nho, và khi ấy được đứng trong hàng ngũ những đệ tử củaNho giáo là một vinh dự cao xa: “Người nước ta xưa nay chia ra bốn nghề: Sĩ,nông, công, thương Sĩ là cao quý nhất”1 Vì sĩ rồi một ngày kia sẽ trở nên quan,
mà làm quan có nghĩa là có được sự sung túc, có địa vị cao sang: “Ấy là vì ởtrong một nước chuyên chế, chỉ có quan là tôn quý nhất, sĩ cũng tức là một ngày
5 Dẫn theo: Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục, NXB Văn hoá, HN - 1997, tr 49.
6 Dẫn theo: Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục, NXB Văn hoá, HN - 1997, tr 61, 62.
1 Dẫn theo: Chương Thâu – Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào cải cách văn hoá đầu thế kỷ XX, NXB Văn hoá - Thông tin, HN - 1997, tr 215.
Trang 15kia sẽ trở nên quan, nên sĩ cũng tôn quý nhất”2 Mà đã là quan, là sĩ, ở địa vị tôn
quý đứng đầu trong tứ dân thì đương nhiên họ đối lập với dân, khinh dân là hèn
hạ: “Phàm những kẻ biết đôi chút từ chương đã vênh vang tự cho mình là sĩ,không thèm đứng ngang hàng với nông, công thương, họ cho là hèn hạ, gọi làdân buôn, dân thợ, dân cùng, ngu dốt”3 Quan và dân mà đối lập nhau, trị nước
mà khinh dân, không dựa vào dân thì ấy là cái sở đạo mất nước
- Phê phán về các quan điểm chính trị, kinh tế, giáo dục trong học thuyết Nho giáo:
Trước hết các nhà nho tiến bộ đã phê phán cái quan điểm chính trị bảothủ, quân phiệt, đề cao cái đạo nghĩa tôn quân, cho trung với vua là yêu nướccủa học thuyết Nho giáo Người ta coi vua là hiện thân của thánh nhân, lời củavua là thánh chỉ, chính vì thế mà người ta chỉ biết đến vua, chứ không biết đếnnước, coi tuân mệnh vua là trung với nước, là yêu nước Cái quan điểm chính trị
ấy đã dẫn đến cái thể chế chính trị bảo thủ, cực đoan “ngoài áp chế không có gì
là tôn chỉ; ngoài phục tòng, không có gì là nghĩ xa”4 Nguyên do xuất phát cáiquan điểm chính trị tôn quân ấy là ở cái đạo Tam cương của học thuyết Nhogiáo Tam cương bao gồm cương vua - tôi, cương vợ - chồng, cương cha – con,
đó là những mối quan hệ rường cột của xã hội phong kiến, được đề ra vào đờinhà Hán Nó nhằm mục đích thiết lập nên những phép tắc nhất định hạn chế sựchỗi dậy làm bạo loạn của những kẻ phản thần tặc tử và chống lại cái đạo phápgia đời Tần, tăng uy lực cho ngôi vị thống trị của nhà Hán Nhưng càng ngàybọn nho học thống trị phong kiến càng lợi dụng cái ý nghĩa tốt đẹp đó của đạoTam cương để đặt ra nhiều phép tắc trói buộc những con dân trong xã hội, vìchúng sợ bị mất đi địa vị và quyền lợi Vì thế, nó dẫn đến cái tệ chuyên quyền,độc đoán của bọn vua quan phong kiến: “Thuở xưa các nước cũng đều có chínhthể rồi Phàm chính sự trong nước thì chỉ vài vị đại thần được bàn bạc, còn quannhỏ thì nghe cũng không được nghe, huống hồ là dân trăm họ! Quyền chuẩn yhay bác bỏ đều ở trong tay nhà vua, đại thần không được hạn chế, nói gì đến
2 Như trên, tr 215.
3 Như trên, tr 215.
4 Dẫn theo: Thơ văn yêu nước và cách mạng Viẹt Nam đầu thế kỷ XX, NXB Văn học, HN – 1976, tr 636.
Trang 16những người khác”1 Sự chuyên quyền, độc đoán của bọn vua quan đã dẫn đếntình trạng mất công bằng trong xã hội, dẫn đến sự tách bạch một cách tuyệt đốigiữa vua – quan và dân làm nảy sinh ra cái tư tưởng trọng quan mà khinh dân.
Vì thế mà nó trở thành những điều tệ nhân như Phan Bội Châu đã viết trong Hải ngoại huyết thư:
“Một là vua sự dân chẳng biết,
Hai là quan chẳng thiết gì dân
Ba là dân chỉ biết dân
Mặc quân với quốc mặc thần với ai.”2
Và những điều đó thì hàng ngàn năm không thay đổi: “Hành chính thìcấm sửa sang thay đổi” Vì thế mà thể chế chính trị phong kiến ngày càng trởnên mục nát, thối rữa, sự xa xỉ làm cho bọn vua quan mờ mắt, coi trọng quyềnlợi hơn là coi trọng dân:
“Toà y viện, thuốc nào chẳng có!
Dân ốm đau hề chớ hỏi han!
Cơm ngự thiện, bữa nghìn quan,
Ngoài ra dân đói, dân hàn mặc dân
Hỏi đến kẻ phùng quân du mị
Hỏi đến người kiều mỹ cung phi,
Còn dân khốn khổ trăm bề,
Cầm như tai mắt chẳng nghe thấy nào”3
Quan điểm chính trị như thế, thể chế chính trị như thế thì làm gì mà dânkhông ngu dốt “Quyền quân chủ trên đầu ức chế, Trải nghìn năm dân trí còngì!”1, mà dân đã ngu dốt thì lấy đâu ra xã hội phát triển, lấy đâu ra nước mạnh
mà chả rơi vào vòng nô lệ
Thứ đến, các nhà nho tiến bộ đã phê phán quan điểm kinh tế bảo thủ
trọng nông ức thương của học thuyết Nho giáo Do cái tư tưởng nội hạ ngoại di
và quý đạo vương khinh đạo bá, cho nên giới nho sĩ rất coi thường cái mục đích
1 Dẫn theo: Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục, NXB Văn Hoá, HN – 1997, tr 64.
2 Dẫn theo: Thơ văn yêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, NXB Văn học, HN – 1976, tr 61.
3 Như trên, tr 61.
1 Dẫn theo: Văn thơ Đông kinh nghĩa, NXB Văn hoá, HN - 1997, tr.71.
Trang 17mưu sinh của con người Chúng ta thấy, trong cái tứ dân: sĩ, nông, công, thương, của xã hội phong kiến lấy học thuyết Nho giáo làm nền tảng tư tưởng thì sĩ là
giai cấp đứng đầu trong cái tứ dân ấy thứ đến là nông, công, thương Như vậy là
họ đã đề cao cái sự học, coi việc học cũng là một nghề kiếm sống như nhữngnghề khác Còn lại thì họ khinh bỉ hết thảy những thứ nghề khác, họ cho đó lànhững nghề bỉ lậu, hèn hạ “Phàm những kẻ biết đôi chút từ chương đã vênhvang tự cho mình là sĩ, không thèm đứng ngang hàng với nông, công thương, họcho là hèn hạ, gọi họ là dân buôn, dân thợ, dân cùng, ngu dốt, thậm chí đã có kẻkhông thèm nói đến vải vóc, thóc gạo nữa”2 Nhưng trong số những nghề mà họcho là bỉ lậu ấy, thì nghề nông lại đứng đầu tiên, còn thương nghiệp lại xếp cuốicùng Tại sao vậy, tại vì cái sự buôn bán mà kiếm lời đã bị Nho giáo coi là thứnghề lừa lọc người khác, họ cho như thế là hành động bẩn thỉu, dựa vào đầu lưỡi
và sự nhẹ dạ của người khác để kiếm sống mà xếp nó ở cuối cùng Họ đâu nhận
ra được cái lợi ích của thương nghiệp là giúp cho hàng hoá được lưu thông, vănhoá được giao lưu Thậm chí họ còn tỏ ra sợ hãi khi họ nhận ra cái sự giao lưuvăn hoá qua thương nghiệp, vì như thế thì cái sự cao quý của đạo thánh nhâncũng sẽ bị đe doạ, người ta sẽ không còn theo đạo của thánh nhân nữa nếu nókhông giúp họ làm giàu Vì thế mà phải đề cao đạo thánh nhân, đề cao cái nghềhọc Còn nghề thủ công nghiệp được vinh dự đứng sau nông nghiệp là vì nócũng mang lại lợi ích bằng sức lao động chân chính của con người, song cái lợiích của nó chưa nhiều bằng cái lợi ích của nghề nông là trực tiếp sản xuất ra cái
để nuôi sống nhà nho Đó cũng chính là những lý do để nghề nông được vinh dựđứng sau cái nghề sĩ Vì cả nước ta và Trung Quốc, đất mẹ của đạo Nho đều lànhững nước lấy kinh tế nông nghiệp làm nền kinh tế chính, người ta chỉ thấythóc gạo có thể nuôi sống con người chứ có thấy con người ăn sắt, thép, xàphòng, mà sống được đâu Chính vì cái quan điểm kinh tế ấy mà cái mục đíchcủa người học càng ngày càng sai lệch đi, nó khiến cho người học không cònthiết gì đến thực học, thực nghiệp nữa mà chỉ chăm chăm vào cái mục đích khoa
cử, chăm chăm đi theo cái mục đích học để được làm cái nghề ăn không ngồi
2 Dẫn theo: Chương Thâu – Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào cải cách văn hoá đầu thế kỷ XX, NXB Văn
hoá - thông tin, HN – 1997, tr 215, 216.
Trang 18rồi Chúng ta hãy xem những nhà nho tiến bộ đã viết, đã đánh giá như thế nào vềcái mục đích học của giới nho sĩ: “Trường học nước ta lấy khoa cử làm mụcđích, cho nên không phải ai cũng trở thành công khanh đại phu, nhưng mặc dùdốt đặc thì chí cũng vẫn ở chỗ công khanh đại phu Họ cứ cắm đầu, cắm cổ đọcnhững cuốn sách trống rỗng, không thiết thực, kiến thức thiếu thốn Học xong đithi, hoặc mong ở chỗ văn hay, hoặc sao chép những lời cũ rích Bất hạnh thay
mà hỏng thì trở về làm kẻ sĩ, thầy đồ, chờ khoa thi sau
May mắn thì đỗ ra làm quan, không thì cũng được đứng đầu một làng,một xã, cho thế là vinh quang Cho nên đứa trẻ học được cách làm bài cũngvênh váo tự phụ sẽ là công khanh đại phu, không thèm ngang hàng với nông,công, thương Những nông, công, thương giàu có cũng bắt con em bỏ nghềnghiệp của mình, theo đường khoa cử, sĩ hoạn”1
Chính vì không chịu học theo lối học thực nghiệp, không dạy thực nghiệp,
mà chỉ chăm chăm vào lối học tầm chương trích cú, chỉ đọc sách của cổ nhân đểmong được làm quan, đã khiến cho đầu óc nho sĩ càng ngày càng mù mờ, càngngày càng ngu muội đi, để đến nỗi:
“Hỏi cụ việc thực,
Thì cụ làm thinh
Hỏi trận pháp binh thư thì cụ ù ù cạc cạc;
Hỏi địa dư quan chế thì cụ u u minh minh,
Cụ chẳng biết kèn sao kêu, súng sao nổ;
Cụ không hay xe sao chóng, tàu sao lanh
Khí học làm sao, hoá học làm sao, cụ dẫn Dịch tượng, Thư trù chi Cổ đế;
Cơ khí là thế, điện khí là thế, cụ rằng mộc ngưu lưu mã Khổng Minh
Ai nói chuyện tân học tân văn, cụ ghét hơn người đầu thuốc độc;”2
Ôi thật thương thay, nếu người ta cứ giữ mãi cái quan điểm kinh tế trọngnông ức thương ấy thì đất nước đến bao giờ mới phú cường, mới thoát khỏi cáigông cùm nô lệ Chính những nhà nho tiến bộ đầu thế kỷ đã nói như thế để vạch
1 Dẫn theo: Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục, NXb Văn hoá, HN – 1997, tr 74.
2 Dẫn theo: Thơ văn yêu nước và cách mạngViệt Nam đầu thế kỷ XX, NXB Văn học, HN – 1976, tr 660.
Trang 19rõ cái sự bảo thủ, trì trệ, dốt nát về quan điểm kinh tế của học thuyết Nho giáo:
“Các nước Âu – Mỹ đều khai hoá hết sức muộn màng nhưng lại tiến bộ cực kỳnhanh chóng Một trăm năm trở lại đây, họ có nhiều bước nhảy vọt về học thuật,chính trị, giáo khoa, phong tục, không mặt nào thua người, mà lại vươn lên hàngđầu Họ tự cho họ là chủ nhân của toàn thế giới Còn nước ta thì trong triềungoài nội, chính trị , phong tục không thay đổi chút nào Dụng cụ của ta đều cũ
kỹ, lạc hậu, đồng ruộng hoang vu, dân đói rách, chưa bỏ thói ngang ngạnh, tính
nô lệ vẫn còn”1
Quan điểm chính trị, kinh tế bảo thủ, lạc hậu, mục nát như vậy là vì đâu?
Nó một phần là do cái quan điểm giáo dục hiếu cổ của học thuyết Nho giáo Chính bởi coi trọng cái tư tưởng coi xưa hơn nay, xưa là phải nay là quấy, nên
quan điểm giáo dục Nho giáo là dạy cho người đời những cách sống như ngườixưa, họ coi người xưa và cái xã hội của người xưa, mà những nhà nho tiến bộ
trong thiên Bàn về văn minh của bộ Quốc dân độc bản đã gọi là thời đại dã man
làm cái lý tưởng nên cái quan điểm giáo dục của Nho giáo đã ngày càng bị bóhẹp lại, ngày càng trở nên bảo thủ và phản động Nó đã ngày càng xa rời quanđiểm giáo dục là để mở mang dân trí, dạy cho dân đạo nghĩa của đạo Khổng -Mạnh, mà tiến tới cái quan điểm học là để đi thi, và học là để một mai kia sẽ trởnên quan Nhưng “các thầy muốn ra làm quan, thì phải cẩn thận; chớ có đọcsách mới, xem báo mới”2, vì thế mà giới nho sĩ chỉ chăm chăm vào cái lối họctầm chương, trích cú, hư văn, cử nghiệp, chỉ chăm chăm vào những pho sáchcủa thánh hiền từ đời thượng cổ, mà bỏ qua nọi sự tiến bộ của thời đại, của xãhội do vậy mà họ đã không mở mang được đầu óc của mình, không phát huyđược sự sáng tạo của bản thân trong khi học Họ chỉ sợ nếu mà không học theo
cổ nhân thì sẽ không được làm quan Và vì thế mà họ lại càng ngày càng trở nênbảo thủ và xa rời thực tiễn của xã hội, trở thành nô lệ của đạo thánh hiền Họ
thực sự đã trở thành những cổ nhân ngay ở trong thời cận đại Những nhà nho
tiến bộ đã nhận thức được sự độc hại của cái quan điểm giáo dục làm quan ấy, vìthế họ đã lên tiếng phê phán, đả phá cái tư tưởng ấy: “Nhưng giá thử bỏ thực
1 Dẫn theo: Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục, NXB Văn hoá, HN – 1997, tr 53.
2 Dẫn theo: Thơ văn yêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, NXB Văn học, HN - 1976 , tr 634.
Trang 20học, cứ theo đòi khoa cử, thử hỏi đi thi mấy người đỗ đạt, đỗ đạt mấy ngườiđược ra làm quan, làm quan mấy người hanh thông được trọn đời? Cách đó rấtvụng, đạo đó rất nguy, sao bằng giáo dục phổ cập để đem ra thực dụng Cònnhư nói rằng: Lòng người lấy việc làm quan là vinh hiển thì sẽ nhiễm mãi những
tư tưởng hủ lậu của thói cũ mà thôi”1 Còn như trong tác phẩm Cáo hủ lậu văn
thì các nhà nho tiến bộ đã chửi rủa cái quan điểm giáo dục nho giáo làm quan ấy
một cách thật cay độc: “Tai hại thay hủ thư! Đục nát bét các bố! Đau đớn thay
hủ nho! Làm các bố lầm lỡ! Tầm mắt không trông ra khỏi làng, đã chê cười Khang – Lương! Bước chân không ra khỏi ngõ, đã coi hẹp vũ trụ! ấy thế mà lại
cho đó là cái hậu quả của hàng nghìn trăm năm học giới, mà học thuyết Nho
giáo mang lại cho nền giáo dục Việt Nam, cho nhân dân Việt Nam
Như vậy, qua những gì đã trình bày ở trên, chúng ta thấy sự phê phán họcthuyết Nho giáo của những nhà nho tiến bộ ở Việt Nam trong những năm đầuthế kỷ XX là khá toàn diện và sâu sắc Sự phê phán đó mặc dù còn có nhiềuđiểm hạn chế về mặt nhận thức và lý luận, do những quan điểm sai lầm chungcủa tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây, song nó cho thấy đã có một sự phát
triển tiến bộ về mặt tư duy khoa học của những nhà nho tiến bộ “Họ đã vượt qua những hạn chế của giai cấp phong kiến xuất thân để hăng hái tiếp nhậ cái
Xuân Lâm trong cuốn Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX Thông qua lăng kính của tư tưởng dân chủ tư sản, họ đã chỉ ra được những
điểm hạn chế cơ bản của học thuyết Nho giáo, chỉ rõ những bất cập của họcthuyết Nho giáo về mặt tư tưởng cũng như về các quan điểm chính trị, kinh tế,giáo dục trước sự thay đổi và phát triển đi lên không ngừng của xã hội và thờiđại Đứng trước sự đòi hỏi của nhiệm vụ thời đại, sự phê phán đó của nhữngnhà nho tiến bộ đối với học thuyết Nho giáo là hết sức cần thiết, và có ý nghĩa.Phê phán cái cũ để tìm ra quy luật phát triển của xã hội và thời đại, để nhận thức
1 Dẫn theo: Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục, NXB Văn hoá, HN – 1997, tr 74.
2 Dẫn theo: Chương Thâu – Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào cải cách văn hoá đầu thế kỷ XX, NXB Văn
hoá - Thông tin, HN – 1997, tr 49.
3 Dẫn theo: Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, NXB CTQG, HN – 1997, tr 8.
Trang 21được cái mới đó là một công việc luôn luôn cần thiết đối với mọi xã hội, mọithời đại, nhất là trong thời đại ngày nay, khi mà chúng ta đang phải đối mặt với
sự phát triển và lan toả mạng mẽ của nhiều luồng tư tưởng trên thế giới vớinhững điểm tiến bộ và hạn chế của nó
2 Sự phê phán về mô hình giáo dục của Nho giáo
Với tư cách là một học thuyết đã trở thành bệ đỡ tư tưởng, tinh thần chotoàn bộ hệ thống chính trị, kinh tế và văn hoá, xã hội Việt Nam trong suốt thời
kỳ trung đại mô hình và cách thức giáo dục Nho giáo đã có nhiều đóng góp tolớn cho việc phát triển nền văn hoá Việt Nam Đặc biệt hệ thống mô hình giáodục Nho giáo đã trở thành mô hình đào tạo nhân tài cho Việt Nam, mà điển hình
là đào tạo ra đội ngũ quan lại phong kiến Những phép tắc, hình thức tổ chứcgiáo dục và thi cử của mô hình giáo dục Nho giáo đã ngày càng được phát triển
và hoàn thiện trên phạm vi toàn quốc, đạt tới sự phát triển cực thịnh vào thế kỉXIX, khi nhà Nguyễn nắm quyền thống trị
Tuy nhiên, đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX trước những bước pháttriển và biến đổi to lớn của thời đại, mô hình giáo dục Nho giáo đã trở nên lỗithời, lạc hậu, và tỏ ra bất cập không theo kịp sự phát triển của thời đại, thậm chí
là kìm hãm sự phát triển của xã hội và thời đại Do vậy, những nhà nho tiến bộthời kỳ này, được tiếp xúc với mô hình giáo dục hiện đại của nền giáo dụcphương Tây mà họ gọi là nền giáo dục Tân học, đã nhận thấy những hạn chế đócủa nền giáo dục nho học và có ý muốn thay đổi nó cho kịp xu thế phát triểnthời đại, góp phần vào việc phát triển văn hoá xã hội của Người Việt, phục vụcho công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước Nhưng muốn thay đổinền giáo dục cũ, thiết lập một nền giáo dục mới là chuyện không dễ dàng được
xã hội chấp nhận Trong thiên Thay đổi nếp cũ khó khăn của bộ sách Quốc dân độc bản, những nhà nho tiến bộ đã nhận thức được điều ấy, họ đã chỉ ra năm cái
khó khăn cơ bản của việc thay đổi nếp cũ: “Tuy vậy, vẫn có cái khó của nó.Phép tắc cũ truyền đời nọ sang đời kia lâu ngày thành nếp Mặt mũi chân tay đãquá quen thuộc rồi nay thay đổi thì mọi cái đều lạ lẫm, tất nhiên không ai muốnnhư vậy Đó là cái thứ nhất Thay đổi nột việc gì thì toàn cục cũng lung lay: