Việc nghiên cứu các vấn đề nông thôn trong lịch sử dựa trên nguồn địa bạ là một vấn đề rất rộng và phức tạp, đòi hỏi nhà nghiên cứu phải đi sâu tìm hiểu, thống kê, mô tả rồi phân tích.
Trang 1Đại học quốc gia Hà Nội Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trải qua mấy ngàn năm, nước ta vẫn là một xứ nông nghiệp và lấy xãthôn làm đơn vị cơ sở Cho nên, hai vấn đề nông nghiệp và xã thôn là vô cùngquan trọng đối với sự tồn vong và lớn mạnh của dân tộc ta Chúng ta cần tìmhiểu những vấn đề ấy một cách sâu sắc và toàn diện, không chỉ để ôn cố tri ân,
mà còn nhằm mục đích góp phần xây dựng một chiến lược phát triển hài hòacho khắp nước và mỗi người dân, từ thể chất đến tinh thần, từ thành thị đến thônquê
Dựa trên nguồn tư liệu địa bạ đồ sộ hàng triệu trang trong kho tàng di sảnvăn hóa và lịch sử Hán Nôm còn lưu lại đến ngày nay thì đây chính là những cứliệu để các nhà nghiên cứu tiếp tục tiến hành những công trình tìm hiểu đất nước
và con người Việt Nam Mục đích quan trọng hơn, chúng ta sẽ lưu giữ đượcnhững tư liệu quý giá về địa bạ, không để chúng bị thất lạc, hủy hoại, đánh cắp,mối mọt…vì đây là những tư liệu viết tay, không in ấn, nếu mất là mất hẳn
Trong thời gian mấy chục năm gần đây, với việc coi địa bạ là một nguồn
tư liệu nghiên cứu nhiều giá trị đã khiến cho việc khai thác kho tư liệu này đạtnhiều thành tựu quan trọng: về đặc điểm của nền nông nghiệp cổ truyền ViệtNam, sự phân hóa xã hội ở nông thôn, kết cấu xã hội và các giai tầng trong làng
xã, chế độ sở hữu ruộng đất với nhiều hình thái sở hữu…
Nguyễn Đình Đầu là người đi đầu trong việc khai thác kho tư liệu địa bạcực kỳ phong phú này Trong bao tháng ngày lăn lộn miệt mài trên hàng trămcây số, với vô vàn những con số khô khan, ông đã cho ra mắt công trình nghiên
cứu công phu, tỉ mỉ của mình: Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn trên nhiều địa
phương khác nhau Đó được coi là một trong những công trình lớn nhất về khoahọc lịch sử ở cuối thế kỷ XIX của chúng ta Nhiều tên tuổi khác thường xuyênxuất hiện trên các tạp chí nghiên cứu lịch sử, đầu sách về địa bạ như: NguyễnĐức Nghinh, Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Trương Hữu Quýnh, Vũ MinhGiang, Vũ Văn Quân, Phan Phương Thảo…với nhiều bài viết, chuyên luậnnghiên cứu sâu về nhiều phương diện của địa bạ
Việc nghiên cứu các vấn đề nông thôn trong lịch sử dựa trên nguồn địa bạ
Trang 3là một vấn đề rất rộng và phức tạp, đòi hỏi nhà nghiên cứu phải đi sâu tìm hiểu,thống kê, mô tả rồi phân tích Với một kho tư liệu đồ sộ hiện có, có thể nói cácnhà nghiên cứu đang phải “bơi” trong đó Chỉ một vấn đề nhỏ thôi, chỉ một thôn,một xã, huyện nào đó cũng cần tới bàn tay của nhà nghiên cứu thống kê để đưa
ra được những kết luận chính xác nhất
Với nguồn tư liệu sưu tầm được, trong khuôn khổ một bài tiểu luận về vấn
đề ruộng đất trong lịch sử và xã hội Việt Nam, tác giả bài viết muốn được quantâm, làm rõ về tình hình ruộng đất trên địa bàn một huyện trong hệ thống làng xãViệt Nam: huyện Bình Dương (tỉnh Gia Định) hồi nửa đầu thế kỷ XIX Với bàiviết này, tác giả hy vọng sẽ làm phong phú thêm bức tranh nông thôn Việt Namthời kỳ đầu nhà Nguyễn
Trang 4GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHƯƠNG I: HUYỆN BÌNH DƯƠNG
1 Vị trí địa lý
Bình Dương xưa nằm trên địa bàn tỉnh Gia Định – nay là thành phố HồChí Minh, tỉnh Tây Ninh, Long An và một phần tỉnh Tiền Giang Phía đông củahuyện đến cửa biển Cần Giờ; phía tây vượt qua chằm gò, tiếp giáp miền thượng;phía nam đến ngã ba Thị Phổ và tổng Tân Phong huyện Tân Long rồi ngượcdòng Rạch Ong nhỏ (Quận 8) thẳng lên cửa cống chợ Tân Kiểng đến hồ LãoNhông (Hóc Môn); phía đông nam giáp tổng Lộc Thành huyện Phước Lộc (CầnGiuộc); phía tây nam giáp tổng Bình Cách huyện Thuận An
2 Cơ cấu đơn vị hành chính
Trước là tổng, nay cải làm huyện gồm: 6 tổng, 95 làng, 27 thôn,
trong đó:
Dương Hòa Hạ (8 thôn) Bình Trị Hạ (26 làng)
Dương Hòa Trung (21 làng) Bình Trị Trung (21 làng)
Dương Hòa Thượng ( 19 thôn) Bình Trị Thượng (27 làng)
3 Tiến trình lịch sử của huyện Bình Dương
Từ gần 200 năm qua, chúng ta đã chứng kiến một quá trình đô thị hóa vớitốc độ rất cao ở Bình Dương Nghiên cứu kỹ lưỡng sưu tập địa bạ tỉnh Gia Định,chúng ta mới hiểu được những giai đoạn phát triển cực kỳ nhanh chóng của dảiđất nằm giữa sông Bến Nghé và sông Vàm Cỏ Đông mà hiện nay Bình Dương
đã trở thành một khu công nghiệp hàng đầu cả nước
Bình Dương cho đến trước khi lập địa bạ năm 1836 là 1 trong 4 huyện củaphủ Tân Bình thuộc trấn Phiên An Lãnh 2 tổng, 150 xã, thôn, phường, lân, ấp.Trong đó, tổng Bình Trị (có 76 xã, thôn, phường, lân, ấp) và tổng Dương Hòa(có 74 xã, thôn, phường, lân, ấp) Năm 1832, đổi trấn ra tỉnh, đổi thành Gia Địnhlàm thành Phiên An (không còn tên Gia Định nữa) Huyện Bình Dương vẫnthuộc phủ Tân Bình thuộc quyền thống trị của tỉnh Phiên An Năm 1836, cảitỉnh Phiên An làm tỉnh Gia Định Bình Dương trở thành 1 huyện nằm trong phủTân Bình của tỉnh Gia Định
Trang 5Năm 1910,tỉnh Gia Định chia ra 18 tổng, không còn thấy xuất hiện tên gọiBình Dương.
Trong 30 năm 1945 – 1975 dưới chế độ Sài Gòn, huyện Bình Dương đã
có nhiều thay đổi trong các đơn vị hành chính theo tình hình diễn biến chungcủa toàn tỉnh Tổng hết còn là đơn vị trung gian, quận là cấp hành chính giữahuyện với xã, bỏ danh xưng huyện Bình Dương được thành lập thành một tỉnhmới
Tỉnh Bình Dương được thành lập từ năm 1956, đến ngày giải phóng thì bịbãi bỏ Trong thời gian gần 20 năm đó, ranh giới và đơn vị hành chính của tỉnh
đã có nhiều lần thay đổi Song ở thời điểm 1970, tỉnh Gia Định có 1 trong 6
Trang 6quận tên là quận Phú Hòa, nay thuộc địa bàn thành phố Quận này cũng đượctách từ quận Hóc Môn tỉnh Gia Định, gồm 2 tổng Long Tuy Trung và BìnhThạnh Trung trước kia (trước thời thuộc Pháp, các tổng Bình Thạnh và LongTuy hợp thành huyện Bình Long) 5 quận còn lại xưa thuộc tỉnh Biên Hòa(1836), nay thuộc tỉnh Sông Bé Sau giải phóng, quận Phú Hòa của tỉnh BìnhDương hợp với quận Củ Chi của tỉnh Hậu Nghĩa thành huyện Củ Chi thuộcThành Phố Hồ Chí Minh.
Đến năm 1994, Bình Dương thuộc quận Phú Hòa thành phố Hồ ChíMinh Và hiện nay Bình Dương là 1 tỉnh độc lập, là 1 trong những khu côngnghiệp phát triển nhất cả nước
Trang 7CHƯƠNG II: HUYỆN BÌNH DƯƠNG QUA TƯ LIỆU ĐỊA BẠN GIA
ĐỊNH LẬP NĂM 1836
I Địa bạ Bình Dương trong kho địa bạ cổ
1 Địa bạ cổ Việt Nam
Địa bạ là một nguồn tư liệu vô cùng phong phú để nghiên cứu về nôngthôn Việt Nam trên nhiều phương diện, đúng như định nghĩa về nó trong địa bạ
Hà Đông : “Địa bạ là văn bản chính thức và địa giới và diện tích các loại ruộngđất, các loại hình sinh hoạt ruộng đất của làng xã, được lập trên sự khám được
và xác nhận của chính quyền, dùng làm cơ sở cho việc quản lý ruộng đất và thu
tô thuế của Nhà nước” Có thể tổng kết một cách tổng quát về địa bạ như vậy,tuy mỗi thời và mỗi nơi, tên gọi và quy cách địa bạ có khác nhau Còn theo nhànghiên cứu Nguyễn Đình Đầu: địa bạ là sổ mô tả và ghi nhận quyền sở hữu từngmảnh ruộng đất, được làm một lần khi đo đạc Diện tích ruộng đất được ghi theomẫu, sào, thước, tấc
Trong lịch sử Việt Nam, lần đầu tiên Nhà nước tiến hành lập sổ địa bạ làvào năm 1092 dưới triều Lý, bây giờ gọi là điền tịch Thời Lê Sơ, ngay saukháng chiến chống Minh thắng lợi, năm 1428 Lê Lợi đã ra lệnh cho các địaphương tiến hành điều tra, khám xét tình hình ruộng đất và canh tác ruộng đất,lập lại địa bạ trong 1 năm Các thế kỷ về sau, công việc lập và tu bổ lại địa bạđược tiến hành rải rác trong nhiều năm
Nhà Nguyễn sau khi bình định xong cả nước (1802) đã ý thức ngay đượctầm quan trọng của việc lập địa bạ Năm 1803, một năm sau khi lên ngôi, GiaLong đã sai lập địa bạ các trấn thuộc Bắc Hà tức vùng Đàng Ngoài thuộc quyềncai trị của chúa Trịnh trước đây Công việc căn bản được hoàn thành năm GiaLong 4 (1805) Đến năm Gia Long 9 (1810) quyết định triển khai công việc ởcác tỉnh từ Quảng Bình trở vào đến cực Nam Trung Bộ Tuy nhiên việc lập địa
bạ ở những tỉnh này tiến hành có vẻ chậm chạp nên phải tới những năm cuốithời Minh Mệnh mới xong Năm 1836, Minh Mệnh thực hiện một quyết địnhlớn: đo đạc lại toàn bộ ruộng đất Nam kỳ và lập sổ địa bạ cho các làng xã ở đây
Kế hoạch được triển khai nhanh, triệt để và đạt kết quả tốt
Trang 8Như vậy, cho đến hết thời Minh Mệnh, nhà Nguyễn về cơ bản đã lập xong
sổ địa bạ trên toàn quốc Từ thời Thiệu Trị (1841) cho đến hết thời Bảo Đại(1945) công việc còn lại chỉ là bổ sung thêm địa bạ của một số địa phương vì lý
do này hay lý do khác mà trong những đợt làm địa bạ lớn chưa thực hiện được
Vì thế, trong tổng số 18.519 đơn vị địa bạ còn lưu giữ được tại hai kho địa bạlớn nhất nước ta hiện nay là Viện nghiên cứu Hán Nôm và Cục lưu trữ Nhànước thì số địa bạ có niên đại Gia Long và Minh Mệnh lên tới 17.604 đơn vị địa
Với một kho tư liệu địa bạ đồ sộ và vô cùng quý giá trên sẽ giúp ích rấtlớn cho các nhà nghiên cứu lịch sử nông thôn Việt Nam trên nhiều phương diện
2 Địa bạ huyện Bình Dương năm 1836
Theo đơn vị hành chính năm 1836, huyện Bình Dương là một huyện nămtrong phủ Tân Bình thuộc tỉnh Gia Định Lúc đó tỉnh Gia Định vừa được đổi từtỉnh Phiên An sang
Địa bạ Bình Dương nằm trong bộ sưu tập địa bạ tỉnh Gia Định có 122quyển cho 122 làng Sau khi xếp đặt lại theo đúng hệ thống hành chính, từ xã,thôn tới tổng rồi huyện, phủ, tỉnh và nghiên cứu tứ cận của mỗi xã thôn, chúng
ta khám phá ra huyện Bình Dương mất 1 địa bạ
Công cuộc đạc điền lập địa bạ cho Nam kỳ lục tỉnh vào năm 1836 là lầnđầu tiên và cũng là lần sau chót của triều Nguyễn Mục đích chính của việc này
là làm cho mỗi người dân có một tổ chức xã thôn làm quê hương và một sốruộng đất để nuôi thân
Địa bạ huyện Bình Dương cũng như các địa bạ khác thời Minh Mệnh,
Trang 9được trình bày theo cùng khuôn khổ giống nhau:
Phần đầu tiên của địa bạ ghi rất rõ đây là địa bàn huyện Bình Dương,thuộc phủ Tân Bình tỉnh Gia Định Tiếp theo là mô tả ranh giới của huyện, rồiđến những số liệu tổng quát về ruộng đất bao gồm tổng ruộng đất công tư (tổngdiện tích công tư điền thổ), trong đó có bao nhiêu ruộng đất canh tác (thựctrưng), bao nhiêu ruộng đất bỏ hoang (lưu hoang) Trong từng loại tư điền, tưthổ cũng phân chia rất rõ ràng gồm bao nhiêu là thực trưng, bao nhiêu lưu hoang
và cụ thể trong từng loại ruộng hay đất đó thì chất lượng ra sao (sơn điền, thảođiền) Tiếp theo là các loại ruộng đất khác như là quan điền, quan thổ viên…Phần tiếp theo và cũng là phần chính của địa bạ, miêu tả cụ thể từng thửa ruộng,rồi đến đất tư hữu với các thông tin: diện tích, vị trí, giáp giới bốn phía đông,tây, nam, bắc, họ tên người chủ sở hữu thửa ruộng đó, đồng thời ghi rõ ngườichủ sở hữu đó thuộc loại phân canh hay phụ canh Phần cuối cùng là các thủ tụchành chính của địa bạ
II Một số đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Bình Dương qua phân tích tư liệu địa bạ Gia Định lập năm 1836
1 Những số liệu tổng quát trong địa bạ và đặc điểm sở hữu ruộng đất
Trước khi lập địa bạ, hầu như tư điền chưa được xác định rõ ràng, ít nhất
về mặt pháp lý và chính thức ghi vào sổ bạ Trương Đăng Quế nói rõ về quanđiểm này : “ Nam kỳ chứa chất tệ hại đã lâu, cường hào cậy mạnh bá chiếm,người nghèo không đất cắm dùi Có kẻ biệt xã chiếm ruộng đất xã khác, màngười sở tại lại phải tá ngụ để cày cấy và ở Có nơi ruộng chỉ khai một thửa , tôthuế nguyên trưng không quá ba, bốn hộc, nay đã chia làm sáu, bảy thửa bán chongười khác, mà các người mua ấy đều phải nộp thóc gấp bội cho chủ nguyêntrưng thu riêng; lại còn nhiều nỗi sách nhiễu không kể xiết! Nay khám đạc lại thìmọi người cứ chiếm phần mình cày cấy, nộp thuế, không bị cường hào ức hiếp”.Nguyên tắc xác lập quyền sở hữu như trên rất quan trọng vừa hợp tình, vừa hợp
lý Nhà nước chống lại tệ nạn bá chiếm : Ai đang cày cấy thửa ruộng nào thì “Sởhữu” thửa ruộng đó
Theo số liệu của địa bạ huyện Bình Dương năm 1836, các loại ruộng đất
Trang 10được phân bố như sau:
Bảng 1: Sự phân bố các loại ruộng đất của huyện Bình Dương
- Một điểm đáng lưu ý trong sự phân bố ruộng đất của huyện Bình Dươngnăm 1836 là hầu như chỉ có tư điền, tư thổ; công điền thổ chiếm tỷ lệ rất ít(5,64% tổng diện tích ruộng đất của huyện), quan dụng chiếm 8,52% tổng diệntích ruộng đất của huyện
- Ruộng đất lưu hoang của Bình Dương chiếm 0,70% tổng diện tích ruộngđất cả huyện
Trong khi đó, ruộng đất cả tỉnh Gia Định cũng vào thời điểm lập năm địa
Trang 11bạ 1836 được phân bố như sau :
- So sánh với tỷ lệ ruộng tư của cả tỉnh Gia Định cùng thời điểm thì mức
độ sở hữu tư nhân về ruộng đất của Bình Dương thấp hơn (69,87% - 91,97%)
Tổng số tư điền, tư thổ của Gia Định là 156645.2.7.0, trong đó :
+ Tư điền là 155664.8.3.8 thì huyện Bình Dương chiếm 1,488% của tỉnh
Số ruộng tư điền của huyện Bình Dương là thấp nhất trong cả tỉnh Trong tỉnh
Gia Định, huyện Tân Hòa có diện tích tư điền lớn nhất, gấp gần 30 lần diện tích
tư điền huyện Bình Dương
+ Tư thổ của toàn tỉnh Gia Định là 980.3.13.7 Bình Dương là một trong
hai huyện của Gia Định có tư thổ với diện tích 636.4.6.9
Nói chung, diện tích tư thổ rất ít đối với tư điền Tư thổ chiếm 21,54%
trong khi tư điền chiếm 78,46% toàn huyện Trong tư thổ thì đất trồng cau (tức
viên lang thổ) chiếm tới quá nửa diện tích và tập trung trong tổng Bình Trị Hạ,
huyện Bình Dương đặc biệt là thôn Hanh Phú và xã Hanh Thông thuộc tổng
Bình Trị Hạ (trong quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh nay)
Bảng 2: Sự phân bố ruộng đất của tỉnh Gia Định
(theo số liệu địa bạ của Gia Định lập năm 1836)
3,742%
0,002%
0,21%
3,53%
Trang 122 Tình trạng sở hữu ruộng đất tư
Với quy mô sở hữu ruộng đất tư ở Bình Dương chúng ta có thể đi sâuxem xét cụ thể mức độ phân bố ruộng đất của các chủ sở hữu :
Bảng 3 : Quy mô sở hữu ruộng đất tư của huyện Bình Dương
có 3.1.8.9 Như vậy, 703 chủ sở hữu có dưới mức trung bình (476 + 151 + 76)
và 232 chủ có số ruộng đất trên mức trung bình Nếu tính 13 chủ có trên 30 mẫuthì cộng chung sẽ có 620.4.2.5 ruộng đất, tức 1,39% số chủ chiếm tới 21% tổng
số ruộng đất tư của cả huyện Bình Dương Tuy nhiên, nói chung huyện Bình
Trang 13Dương vẫn là vùng tiểu nông ( Người sở hữu ruộng đất ít nhất có 0.0.4.5, người
sở hữu nhiều ruộng nhất có 68.8.12.0 )
Trong khi đó, so với thôn Bình Ân thuộc tổng Hòa Lạc huyện Tân Hòaphủ Tân An, nếu cộng chung diện tích của 11 chủ điền có nhiều ruộng nhất ta sẽthấy số đó nhiều hơn cả diện tích của 935 chủ điền ở huyện Bình Dương cộnglại, tức 2989.3.4.6 đối với 2954.2.10.7
- Có tới 476 chủ ở Bình Dương có mức sở hữu ruộng đất dưới 1 mẫu Và
vì vậy, mặc dù số lượng chủ này chiếm 50,91% tổng số chủ song tổng diện tíchruộng đất họ sở hữu thì lại quá nhỏ (5,58%)
- Bên cạnh đa số những người nông dân tự canh có sở hữu nhỏ thì cũngtồn tại một số ít chủ có mức sở hữu tương đối lớn ( 5 chủ sở hữu 308.6.9.5chiếm 10,45% toàn huyện)
3 Chất lượng ruộng
Trước kia, điền canh hay ruộng lúa chia làm thứ hạng (nhất, nhì, ba) và cónhững tên như ruộng Điền tô, ruộng Điền mẫu, ruộng Thiên Mụ, ruộng CảnhDương (không hiểu là thứ hạng tốt xấu để tính thuế hay tên địa phương để nộpthuế vào kho có tên ấy) Khi làm địa bạ năm 1836, Nhà nước chia đơn giản rahai loại tốt xấu để đánh thuế, gọi là thảo điền và sơn điền Như Minh Mạng chỉthị : “nay bỏ các đẳng hạng mà chỉ còn phân biệt thảo điền và sơn điền Phàmnhững tên gọi là Điền tô, Điền mẫu…không dùng nữa” Tuy nhiên, địa bạ còngiữ lại “Điền tô điền”
- Gia Định xưa có:
+Thảo điền (kể cả Điền tô điền) là 133962.7.8.0 chiếm 82,742%
+ Sơn điền (kể cả ruộng mới khẩn) là 27940.9.3.0 chiếm 17,258%
Nói chung, Gia Định có 82/100 thảo điền, tức ruộng tốt, nhưng cá biệtnhư huyện Bình Dương lại có tỷ lệ Sơn điền > Thảo điền : 1559.7.10.3 –956.4.14.3 với tỷ lệ 61,99% - 38,01%
- So với toàn tỉnh, huyện Bình Dương có diện tích 2516.2.9.8 chiếm1,554% tỉnh Trong đó :
+ Thảo điền : 956.4.14.3 chiếm 0,713% của thảo điền tỉnh
Trang 14+ Sơn điền : 1559.7.10.5 chiếm 5,582% của sơn điền tỉnh.