1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MARKETING DỊCH vụ THẺ TRẢ TRƯỚC QUỐC tế ACB VISA PREPAID và ACB MASTERCARD DYNAMIC của NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN á CHÂU (ACB)

55 571 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 176,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đang diễn ra mạnh mẽ, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và sự mở cửa thị trường, trong lĩnh vực ngân hàng

Trang 1

ĐỀ TÀI: CHƯƠNG TRÌNH MARKETING DỊCH VỤ THẺ TRẢ TRƯỚC QUỐC

TẾ ACB VISA PREPAID VÀ ACB MASTERCARD DYNAMIC CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU (ACB) PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH NÀY VỚI KHÁCH HÀNG MỤC TIÊU VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN MÔI TRƯỜNG MARKETING CỦA NGÂN HÀNG

BÀI THẢO LUẬN

Lời mở đầu

Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong những định chế tài chính quan trọng, được coi là huyết mạch của nền kinh tế thị trường Hiện nay xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đang diễn ra mạnh mẽ, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và sự mở cửa thị trường, trong lĩnh vực ngân hàng đã

và đang diễn ra sự cạnh tranh quyết liệt giữa các ngân hàng, những “cuộc chiến” dành thị phần giữa các ngân hàng ngày càng khốc liệt, các chiến lược thu hút khách hàng về với mình được các ngân hàng không ngừng tung ra

Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt đó, khách hàng là nhân tố quyết định sự tồn tại của ngân hàng Ngân hàng nào dành được mối quan tâm và sự trung thành của khách hàng thì Ngân hàng đó sẽ thắng lợi và phát triển Do vậy, việc quan tâm xây dựng chiến lược marketing bài bản, phù hợp, có bản sắc riêng cho các sản phẩm dịch vụ để thu hút khách hàng mới, củng có khách hàng hiện tạo trở thành một công cụ kinh doanh hữu hiệu mang lại hiệu quả kinh doanh cao Các chương trình marketing tốt là điều kiện quan trọng trong chiến lược kinh doanh của mỗi ngân hàng

Đối với ACB, trong những năm vừa qua hoạt động Marketing cũng được các nhà quản trị quan tâm, chú trọng thực hiện và không ngừng đổi mới Ở phạm vi bài

Trang 2

thảo luận nhóm, chúng tôi xin đề cập tới Marketing đối với mảng sản phẩm thẻ ngân hàng - một trong những dịch vụ phổ biến của nền kinh tế hiện nay Cụ thể chúng tôi sẽ thực hiện đề tài “Chương trình Marketing dịch vụ thẻ trả trước quốc tế ACB VISA PREPAID và ACB MASTERCARD DYNAMIC của Ngân hàng ACB Phân tích và đánh giá mức độ đáp ứng của chương trình Marketing này với khách hàng mục tiêu và các điều kiện môi trường Marketing của Ngân hàng ACB”

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về Marketing trong kinh doanh phát triển dịch vụ thẻ của NHTM.

I. Khái niệm và vai trò của Marketing Ngân hàng

I.1 Một số khái niệm về Marketing Ngân hàng.

Marketing là sả phẩm của nền kinh tế hàng hóa Nó chỉ ra rằng kinh doanh không chỉ là sự may rủi và sự thành đạt không thể dựa vào mánh khóe, mà còn tùy thuộc vào trình độ nghệ thuật của từng nhà kinh doanh, dựa trên cơ sở nắm bắt thông tin thị trường, am hiểu nhu cầu của người tiêu dùng và tiến trình trao đổi, đồng thời phải tạo ra được những cách thức để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó mà thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp

Đưa ra một khái niệm chuẩn xác về Marketing Ngân hàng là điều không dễ dàng, bởi hiện nay có khá nhiểu quan niệm về Marketing Ngân hàng Sau đây là một số quan niệm tiêu biểu:

“Marketing Ngân hàng là phương pháp quản trị tổng hợp dựa trên cơ sở nhận thức

về môi trường kinh doanh; những hành động của ngân hàng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, phù hợp với sự biến động của môi trường Trên cơ sở đó

mà thực hiện các mục tiêu của ngân hàng.”

“Marketing Ngân hàng là toàn bộ những nỗ lực của Ngân hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và thực hiện mục tiêu lợi nhuận”

Trang 3

“Marketing Ngân hàng là trạng thái tinh thần của khách hàng mà ngân hàng phải thỏa mãn hay là việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó, Ngân hàng đạt được lợi nhuận tối ưu”

“Marketing Ngân hàng là một tiến trình mà trong đó Ngân hàng hướng mọi nỗ lực vào việc thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng một cách chủ động, từ

đó thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của nh”

• Nhiệm vụ then chốt của Marketing Ngân hàng là xác định được nhu cầu, mong muốn của khách hàng là cách thức đáp ứng một cách hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh

• Marketing Ngân hàng không coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu và duy nhất, mà cho rằng lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng và là thước đo trình độ Marketing của mỗi Ngân hàng

I.2 Vai trò của Marketing Ngân hàng.

Vai trò của Marketing Ngân hàng được thể hiện ở các nội dung sau:

Trang 4

I.2.1 Marketing tham gia vào việc giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản

của hoạt động kinh doanh Ngân hàng.

Giống như các doanh nghiệp, các ngân hàng cũng phải lựa chọn và giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản của hoạt động kinh doanh với sự hỗ trợ đắc lực của Marketing

Thứ nhất, phải xác định được loại sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cần cung ứng

ra thị trường Bộ phận Marketing sẽ giúp chủ Ngân hàng giải quyết tốt vấn đề này thông qua các hoạt động như tổ chức thu thập thông tin thị trường, nghiên cứu hành vi tiêu dùng, cách thức sử dụng dịch vụ và lựa chọn Ngân hàng của khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp cùng xu thế thay đổi của chúng, nghiên cứu chủng loại sản phẩm dịch vụ mà các định chế tài chính khác đang cung ứng trên thị trường…

Thứ hai, tổ chức tốt quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ và hoàn thiện mối quan

hệ trao đổi giữa khách hàng và Ngân hàng trên thị trường Quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ Ngân hàng với sự tham gia đồng thời của 3 yếu tố: cơ sở vật chất, kỹ thuật công nghệ; đội ngũ nhân viên trực tiếp và khách hàng Mỗi yếu tố trên đều tác động trực tiếp đến chất lượng quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ và mối quan hệ của Ngân hàng với khách hàng

Thứ ba, giải quyết hài hòa các mqh lợi ích giữa khách hàng, nhân viên và chử

Ngân hàng Bộ phận Marketing giúp chủ Ngân hàng giải quyết tốt các mqh trên thông qua các hoạt động như: tham gia xây dựng và điều hành các chính sách lãi, phí kích thích hấp dẫn phù hợp với từng loại khách hàng, khuyến khích nhân viên sang kiến, cải tiến các hoạt động thủ tục nghiệp vụ nhằm cung cấp cho khách hàng nhiều tiện ích hơn trong sử dụng sản phẩm dịch vụ nh; tham gia vào việc xây dựng các cơ chế chính sách có liên quan trực tiếp đến lợi ích của khách hàng, nhân viên

Trang 5

Ngân hàng như chính sách tiền lương, thưởng, trợ cấp phúc lợi, cơ chế phân phối tài chính, chính sách ưu đãi khách hàng và hoàn thiện các mqh giao tiếp khác…

I.2.2 Marketing trở thành cầu nối gắn kết hoạt động của Ngân hàng với thị

trường.

Thị trường vừa là đối tượng phục vụ vừa là môi trường hoạt động của Ngân hàng Hoạt động của Ngân hàng và thị trường có mqh tác động hữu cơ và ảnh hưởng trực tiếp lẫn nhau Do vậy, hiểu được nhu cầu thị trường để gắn chặt hoạt động của Ngân hàng có hiệu quả cao Điều này sẽ được thực hiện tốt thông qua cầu nối Marketing bởi Marketing giúp chủ Ngân hàng nhân biết được các yếu tố của thị trường, nhu cầu của khách hàng, về sản phẩm dịch vụ và sự biến động của chúng Mặt khác, Marketing là một công cụ dẫn dắt hướng chảy của tiền vốn, khai thác khả năng huy động vốn, phân chia vốn theo nhu cầu của thị trường một cách hợp

lý Nhờ Marketing mà chủ ngân hàng có thể phối kết hợp và định hướng được hoạt động của tất cả các bộ phận và toàn thể nhân viên Ngân hàng vào việc đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng

I.2.3 Marketing góp phần tạo vị thế cạnh tranh của Ngân hàng.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Marketing Ngân hàng là tạo vị thế cạnh tranh trên thị trường Để tạo được vị thế cạnh tranh, bộ phận Marketing Ngân hàng thường tập trung giải quyết 3 vấn đề lớn:

Một là, phải tạo được tính độc đáo của sản phẩm dịch vụ Tính độc đáo phải mang

lại lợi thế của sự khác biệt Lợi thế của sự khác biệt phải tạo ra trên toàn bộ quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ, hoặc trọn vẹn một kỹ thuật Marketing, mà có thể chỉ ở một vài yếu tố

Trang 6

Hai là, phải làm rõ được tầm quan trọng của sự khác biệt đối với khách hàng, tức

là có giá trị thực tế đối với họ và được họ coi trọng thực sự

Ba là, khả năng duy trì lợ thế về sự khác biệt của Ngân hàng đồng thời hệ thống

biện pháp để chống lại sự sao chép của đối thủ cạnh tranh Thông quan việc chỉ rõ

và duy trì lợi thế của sự khác biệt, Marketing giúp Ngân hàng phát triển và ngày càng nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường

II. Sản phẩm thẻ của NHTM và các nhân tố ảnh hưởng trong việc phát triển dịch vụ thẻ trong ngân hàng:

II.1 Những vấn đề cơ bản về dịch vụ thẻ Ngân hàng

II.1.1 Quan niệm về thẻ Ngân hàng

Hiện còn có nhiều quan điểm khác nhau về thẻ Ngân hàng bởi người nghiên cứu đứng ở những góc độ khác nhau khi xem xét về thẻ Ngân hàng.Từ góc độ phát hành thì thẻ Ngân hàng là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền hoặc thanh toán chi phí mua hàng hóa tại các điểm chấp nhận thẻ

Nếu xét từ góc độ thanh toán, thẻ Ngân hàng là một phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành và cấp cho chủ thẻ để thực hiện các giao dịch thanh toán, rút tiền mặt và các giao dịch khác theo các điều kiện, điều khoản thanh toán giữa hai bên thỏa thuận

Theo quan điểm của NHNN Việt Nam tại Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ qua Ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định 371/1999/QĐ-NHNN ngày 19/10/1999 của Thống đốc NHNN thì “thẻ Ngân hàng là một phương tiện thanh

Trang 7

toán không dùng tiền mặt mà chủ thẻ có thể sử dụng để thanh toán hoặc rút tiền tại các máy rút tiền tự động (ATM) hoặc các Ngân hàng đại lý”.

Mặc dù còn nhiều quan niệm khác nhau song có thể hiểu: ‘Thẻ là một loại giấy tờ

có giá trị đặc biệt được làm bằng chất dẻo tổng hợp, được phát hành ấn định giá trị dùng để thanh tóan hóa đơn hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền thông qua các thiết

bị đọc thẻ’.

Trong bài thảo luận của nhóm chúng tôi, thẻ thanh toán được hiểu là thẻ thanh toán

do NHTM phát hành Dịch vụ thẻ được hiểu là dịch vụ cung cấp từ khâu phát hành, thanh toán và hỗ trợ chủ thẻ trong suốt quá trình sử dụng sản phẩm thẻ

II.1.2 Phân loại thẻ Ngân hàng

Hiện nay, có rất nhiều loại thẻ khác nhau, để thuận tiện cho việc sử dung, có thể nắm bao quát được về các loại thẻ, người ta có thể phân các loại thẻ theo các tiêu thức sau:

II.1.2.1Theo đặc tính kĩ thuật:

- Thẻ băng từ (Magnetic Card): được sản xuất trên kỹ thuật từ tính với một băng

từ chứa 2 rãnh thông tin nằm ở mặt sau của thẻ Loại thẻ này được sử dụng phổ biến nhất Tuy nhiên loại thẻ này cũng có một số nhược điểm như khả năng bảo mật không cao do thông tin được ghi trong thẻ không tự mã hóa được nên người ta

có thể đọc được dễ dang bằng thiết bị đọc gắn với máy vi tính

- Thẻ thông minh (Smart Card): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ thanh toán với

nhiều tính năng ưu việt dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học nhờ gắn vào thẻ một con chíp điện tử có cấu trúc giống như một máy tính hoàn hảo Thẻ thông minh có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của chíp điện tử là khác nhau Tuy nhiên một nhược điẻm của loại thẻ này là giá thành sản xuất rất cao

II.1.2.2Theo tính chất thanh toán của thẻ:

Trang 8

- Thẻ tín dụng (Credit Card) : Là loại thẻ theo đó, chủ thẻ chi tiêu trên cơ sở hạn

mức tín dụng do NHPH cấp

- Thẻ ghi nợ (Debit Card) : Là thẻ được phát hành trên cơ sở số dư tài khoản tiền

gửi thanh toán của khách hàng tại ngân hàng

- Thẻ thanh toán (Charge Card): là loại thẻ du lịch và giải trí ( travel and

entertainment card) của các công ty như American Express, Dinner club…

II.1.3 Các chủ thể của quá trình phát hành, thanh toán và sử dụng thẻ.

Có rất nhiều chủ thể khác nhau tham gia vào quá trình phát hành, thanh toán và

sử dụng thẻ Việc xác định rõ các chủ thể góp phần phân định nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên tham gia, từ đó đề ra các quy trình phù hợp, hạn chế tới mức thấp nhất các rủi ro xảy ra cho chủ thẻ Các chủ thể này bao gồm:

Chủ thẻ (card holder): là cá nhân đứng tên xin cấp thẻ hoặc người được ủy

quyền (nếu là thẻ do công ty ủy quyền sử dụng), được ngân hàng phát hành thẻ để

sử dụng và có tên được in nổi trên thẻ Chủ thẻ bao gồm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ (nếu có)

Ngân hàng/Tổ chức phát hành thẻ (Issuing bank): là thành viên của

TCTQT được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép thực hiện nghiệp vụ phát hành thẻ

Ngân hàng thanh toán (Acquiring bank): là thành viên của TCTQT và các

ngân hàng được NHPH ủy quyền thực hiện nghiệp vụ thanh toán thẻ

Đơn vị chấp nhận thẻ (Merchant): là tất cả các cơ sở cung cấp hàng hóa

dịch vụ, các ngân hàng đại lý và điểm ứng tiền mặt được ủy quyền chấp nhận thẻ làm phương tiện thanh toán

Tổ chức thẻ Quốc tế (International card acssociation): là Hiệp hội, các tổ

chức tài chính và các công ty phát hành và thanh toán thẻ quốc tế hiện tại bao gồm: MasterCard International, VISA, AMEX, JCB và DINERS CLUB

Trang 9

Trung tâm chuyển mạch (Switching centre): là đầu mối kết nối hệ thống

thẻ của các Ngân hàng và tổ chức thanh toán thẻ khác nhau để tạo ra mạng lưới chấp nhận thẻ rộng lớn, giúp chủ thẻ có thể sử dụng thẻ ở bất kỳ ĐVCNT có mang thương hiệu chấp nhận thẻ

II.2 Thẻ Ngân hàng – Công cụ thanh toán tất yếu của nền kinh tế hiện đại:

Với tư cách là một công cụ thanh toán không dùng tiền mặt, thẻ thanh toán đã đóng một vai trò vô cùng quan trong trong đời sống kinh tế xã hội

Thứ nhất, thẻ thanh toán đã tạo điều kiện cho hoạt động huy động vốn của ngân

hàng Muốn sở hữu một thẻ thanh toán, khách hàng phải nộp một khoản tiền đặt cọc hay kí quĩ (đối với thẻ tín dụng) hay có số dư tối thiểu trong tài khoản (đối với thẻ ghi nợ) hoặc trực tiếp nạp tiền vào thẻ (thẻ rút tiền ATM) Như vậy, bằng việc khuyến khích người dân sử dụng thẻ, ngân hàng sẽ không chỉ huy động được lượng vốn nhàn rỗi mà cả lượng vốn dành cho tiêu dùng Việc huy động vốn được thực hiện nhanh chóng và an toàn sẽ tạo điều kiện quay vòng vốn nhanh

Thứ hai, thẻ thanh toán tạo điều kiện thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ an toàn,

chính xác và hiệu quả Bộ nhớ cài đặt trên thẻ ghi lại chính xác từng giao dịch, cuối

kì chủ thẻ có thể nhận được báo cáo giao dịch qua thẻ Do đó chủ thẻ có thể quản lý chi tiêu của mình

Thứ ba, thẻ thanh toán tạo cho các giao dịch tính an toàn và bảo mật Chỉ với một

thẻ thanh toán, người tiêu dùng có thể thanh toán một khối lượng lớn hàng hóa dịch

vụ mà không phải mang theo tiền mặt Nhà nước cũng có thể giảm chi phí bảo quản, vận chuyển tiền, cũng như các chi phí phát hành và lưu thông tiền tệ (in ấn, quản lý tiền , hủy tiền…) Qua đó, các hoạt động kinh tế ngầm, tiêu cực và tệ nạn xã hội sẽ được hạn chế

Thứ tư, thanh toán thẻ tạo điều kiện tăng cường hoạt động lưu thông tiền tệ trong

nền kinh tế, khơi thông các luồng vốn, tăng cường kiểm soát khối lượng giao dịch

Trang 10

Từ đó tạo tiền đề cho Nhà nước tính toán lượng tiền cung ứng và điều hành chính sách tiền tệ có hiệu quả.

Ngoài ra, thẻ còn có một tác dụng lớn trong việc kích cầu Thêm vào đó, chấp nhận thanh toán thẻ đã góp phần thu hút khách du lịch và các nhà đầu tư, cải thiện môi trường văn minh thương mại và văn minh thanh toán, nâng cao các hiểu biết của dân cư về các ứng dụng công nghệ tin học trong phục vụ đời sồng cũng như tạo điiều kiện cho sự hòa nhập của quốc gia vào công đồng quốc tế

II.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ thẻ của Ngân hàng.

II.3.1 Nhân tố khách quan.

Bất kì một ngành hoạt động nào cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nền kinh tế Công nghiệp thẻ cũng vậy, bởi vì thẻ gắn liền với thu nhập của người dân cũng như nhu cầu về tiêu dùng hàng hóa trong xã hội Chỉ có nền kinh tế phát triển ổn định với thu nhập của người dân ở mức cao và ổn định, thẻ mới có thể ra đời và phát triển nhằm nâng cao sức tiêu dùng của người dân, từ đó đem lại doanh thu cho Ngân hàng

Cũng nên lưu ý rằng, chỉ có trong nền kinh tế ổn định mới có thể có một sự ổn định trong tiền tệ Mà điều đó cũng gây ảnh hưởng rất lớn, quyết định sự phát triển của công nghiệp thẻ thanh toán Nếu như một tấm thẻ ngày hôm nay mua được 10 mặt hàng nhưng chỉ ngay vài ngày sau đó chỉ có thể mua được 5 mặt hàng do sự bất ổn

về tiền tệ thì rõ ràng không thể có ai muốn sử dụng thẻ vì “ cầm thẻ trong tay như cầm hòn than đang cháy”

Như vậy sự ổn định của nền kinh tế là nhân tố đầu tiên, quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả phát hành và thanh toán thẻ

Trang 11

Thẻ thanh toán được ra đời dựa trên cơ sở nền tảng khoa học kĩ thuật cao Thẻ sẽ không thể có khả năng thanh toán nếu như không có các máy đọc cũng như sự kết nối giữa các máy móc hiện đại tại trung tâm phát hành và thanh toán cũng như không thể có những tính năng an toàn và bảo mật- quyết định sự thành công của thẻ- nếu không có khoa học công nghệ kĩ thuật cao Các tiện ích của thẻ cũng luôn tăng lên từng ngày nhờ có sự phát tiển của công nghệ thông tin Thực tế đã chứng minh những quốc gia mà thẻ thanh toán chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội cao đều là những nước phát triển có khoa học công nghệ hiện đại Các nước đang phát triên muốn có hiệu quả trong hoạt động thẻ vì thế cũng cần quan tâm dến yếu tố quan trọng này.

Hoạt động phát hành và thanh toán thẻ của các Ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào môi trường pháp lý mỗi quốc gia bởi tất cả các hoạt động của nền kinh tế nói chung

và ngành Ngân hàng nói riêng đều phải tuân thủ theo các văn bản pháp luật Do đó, một hành lang pháp lý thống nhất, hoạt động hiệu quả sẽ tạo cho các Ngân hàng chủ động trong việc đề ra các chiến lược kinh doanh của mình

Thẻ là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, khách hàng sử dụng thẻ phải mở một tài khoản, hay kí quĩ một số tiền nhất định tại Ngân hàng Chính vì thế thói quen và tâm lý ưa thích sử dụng tiền mặt sẽ gây tác động lớn trong sự phát triển của thẻ thanh toán Đây cũng là một khó khăn rất lớn cho các Ngân hàng Việt nam khi phải tìm cách thay đổi thói quen đó

II.3.2 Nhân tố chủ quan

Hoạch định chiến lược phát triển đúng đắn, phù hợp với tình hình thị trường trong nước, thế giới và xu hướng phát triển của lĩnh vực thẻ thanh toán là yếu tố tạo nên

Trang 12

thành công trong dịch vụ thẻ Hầu hết các Ngân hàng đều hoạch định cho riêng mình một chiến lược phát triển và chia theo các lộ trình phát trỉển.

Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động phát hành và thanh toán thẻ Nếu Ngân hàng có được sự đa dạng về thẻ trong phát hành, các tiện ích thẻ mang lại trong thanh toán, cũng như phương thức thanh toán thẻ an toàn nhanh chóng, tiện lợi chắc chắn sẽ đảm bảo sự thành công của thẻ Nhân tố chủ quan này Ngân hàng cần hết sức quan tâm và phát huy trong quá trình kinh doanh thẻ của mình

Việc phát hành và thanh toán thẻ đòi hỏi một chi phí đầu tư lớn cho việc lắp đặt các máy móc thiết bị, hệ thống nhằm đảm bảo cho quá trình vận hành thẻ như ATM, EDC, POS, CAT…….cũng như tiền thuê đường truyền trong quá trình thanh toán

Vì vậy, vốn đầu tư ảnh hưởng quyết định đối với các Ngân hàng, đặc biệt là những Ngân hàng bước đầu triển khai dịch vụ thẻ cũng như đổi mới công nghệ thẻ để bắt kịp với những tiến bộ về khoa học kĩ thuật trên thế giới

Không như những phương tiện thanh toán truyền thống, thẻ thanh toán mang tính chuẩn hóa rất cao và đòi hỏi quá trình vận hành thống nhất Chính vì thế, đội ngũ nhân viên cần có khả năng, trình độ kinh nghiệm để tiếp cận , đáp ứng đầy đủ thông suốt quá trình hoạt động của thẻ Vì vậy, có thể nói, nguồn nhân lực có trình

độ là nhân tố đảm bảo cho thẻ thanh toán hoạt động hiệu quả, phát huy được những tiện ích của nó

III. Chiến lược Marketing-Mix (7P) – Công cụ của việc quản trị trong việc phát triển kinh doanh dịch vụ thẻ :

Trang 13

Marketing là công cụ gắn kết hoạt động của NHTM với thị trường, là một khâu then chốt trong hoạt động của NHTM Cũng như nhiều hoạt động kinh doanh khác của NHTM, hoạt động kinh doanh thẻ đòi hỏi các Ngân hàng phải quan tâm đến công tác Marketing, đặc biệt là Marketing mix để thu hút thêm nhiều khách hàng của dịch vụ thẻ.

Marketing mix trong kinh doanh thẻ là toàn bộ các phương thức để tìm kiếm khách hàng, giúp khác hàng tiếp cận, quyết định lựa chọn phương thức thanh tóan bằng thẻ và trở thành khách hàng lâu dài của Ngân hàng Chiến lược Marketing là một

hệ thống các luận điểm logic, hợp lý làm căn cứ chỉ đạo một đơn vị hay một tổ chức tính toán cách giải quyết các nhiệm vụ Marketing

Sự cần thiết của chiến lựợc Marketing mix trong hoạt động thẻ Ngân hàng thể hiện trên các khía cạnh sau:

Một là, chiến lựợc Marketing mix là công cụ kết nối hoạt động thẻ của NHTM với

thị trường

Định hướng thị trường đã trở thành điều kiện tiên quyết trong hoạt động của các NHTM ngày nay Có gắn với thị trường, hiểu được sự vận động của thị trường, nắm bắt nhu cầu của khách hàng sử dụng thẻ cũng như khả năng tham gia của bản thân Ngân hàng thì các nhà quản lý mới có thể có những chính sách hợp lý nhằm phát huy tối đa nội lực giành lấy thị phần Như vậy, NHTM nào có độ gắn kết với thị trường càng cao, khả năng thành công của các Ngân hàng đó càng lớn và ngược lại bản chất của Marketing là quá trình xác định các khả năng, tiềm lực của Ngân hàng cũng như tìm hiểu nhu cầu của thị trường trên cơ sở đó xác lập các chiến lược

và triển khai các giải pháp Marketing cụ thể Nói một cách khác, toàn bộ các hoạt động gắn kết giữa Ngân hàng và thị trường như đã nêu ở trên đều thuộc phạm vi hoạt động của Marketing Vì vậy, có thể khẳng định rằng Marketing là công cụ kết

Trang 14

nối của NHTM với thị trường, đặc biệt khi các khách hàng sử dụng dịch vụ đều là khách hàng cá nhân.

Hai là, chiến lựợc Marketing mix là công cụ hữu hiệu thu hút khách hàng sử dụng

thẻ

Đặc điểm của dịch vụ Ngân hàng là rất dễ bắt chước, do vậy, rất khó giữ bản quyền Mặt khác, so với các NHTM trên thế giới, nhìn chung các dịch vụ truyền thống và khá giống nhau giữa các Ngân hàng Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng các dịch vụ ra đời theo chủ quan của Ngân hàng, thị trường thâm nhập không được đo lương trước, chất lượng dịch vụ không ổn định Khắc phục tình trạng này, các Ngân hàng phải xây dựng chiến lược Marketing hợp lý, được chương trình hóa từ khi tìm hiểu nhu cầu khách hàng cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng, thỏa mãn tối đa nhu cầu của họ Không những thế, sản phẩm của Ngân hàng phải mang tính công cộng và xã hội hóa cao, tức là những đánh giá của các khách hàng đã sử dụng dịch vụ có ảnh hưởng rất lớn đến không chỉ quyết định của bản thân khách hàng đó

về việc có tiếp tục duy trì quan hệ với Ngân hàng không mà còn ảnh hưởng đến cả quyết định của nhóm khách hàng tiềm năng Chính vì vậy, ta có thể khẳng định rằng nhờ có các hoạt động Marketing thẻ mà Ngân hàng mới có thể giữ chân những chủ thẻ hiện hữu và thu hút thêm những khách hàng mới một cách hiệu quả nhất

Ba là, chiến lựợc Marketing mix là công cụ nâng cao khả năng cạnh tranh thẻ của

Ngân hang

Cơ chế thị trường chính là cơ chế cạnh tranh Hơn nữa, với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thế giới cũng như trong nước thì các đối thủ cạnh tranh trong dịch vụ thẻ không chỉ là các Ngân hàng, tổ chức tài chính phi Ngân hàng trong nước mà còn là các Chi nhánh của các Ngân hàng nước ngoài với nhiều tiềm lực về vốn, công nghệ và kinh nghiệm, đặc biệt, khi Việt Nam đã gia nhập WTO thì cạnh

Trang 15

tranh ngày càng gay gắt Các Ngân hàng muốn phát triển dịch vụ thẻ và chiến thắng trong cạnh tranh phải luôn quan tâm đến công tác Marketing.

Marketing không chỉ nghiên cứu về khách hàng mà còn nghiên cứu về các đối thủ cạnh tranh Trên cơ sở hiểu rõ tiềm lực của đối thủ cạnh tranh, các nhà quản trị Marketing sẽ có những dự đoán về phản ứng cũng như các chiến lựợc mà đối thủ định tiến hành và có giải pháp đối phó Như vậy, nhờ có hoạt động Marketing theo

tư duy chiến lược trên cơ sở có tính toán trước đến khả năng của các đối thủ cạnh tranh nên các NHTM luôn ở thế chủ động, do vậy, khả năng thành công sẽ cao hơn

Bốn là, chiến lược Marketing mix là thẻ là công cụ hạn chế tối đa rủi ro.

Hoạt động Marketing Ngân hàng nói chung và kinh doanh dịch vụ thẻ nói riêng có tính rủi ro cao, rủi ro có thể xảy ra trong khâu phát hành, thanh toán do đặc điểm phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố công nghệ và tự động hóa Do vậy, muốn thành công trong lĩnh vực này, các Ngân hàng phải chấp nhận rủi ro nhưng ở mức cho phép, nếu vượt quá mức cho phép, Ngân hàng sẽ thua lỗ và có nguy cơ phá sản Marketing là một trong những công cụ hữu hiệu để các Ngân hàng có thể hạn chế rủi ro Marketing thẻ không chỉ giúp các Ngân hàng nhận biết được nhu cầu của khách hàng mà còn cho biết những rủi ro tiềm ẩn trong mỗi khách hàng về khả năng tài chính, tính trung thưc, sự trung thành trong sử dụng dịch vụ của Ngân hàng Qua đó, giúp các nhà quản lý có quyết định đúng đắn về việc cung cấp dịch

vụ cho khách hàng Hơn nũa, bằng việc nghiên cứu, bám sát sự biến động, Marketing có thể đem đến những thông tín quý giá giúp Ngân hàng có thể có những quyết định kịp thời, đúng đắn để đối phó với thị trường, với các đối thủ cạnh tranh Qua đó, các Ngân hàng có thể lường trước các rủi ro và đưa ra cách giải quyết chủ động, kịp thời nhằm đảm bảo tiến hành kinh doanh an toàn

IV. Xây dựng hệ thống các tiêu chí đo lường hiệu quả Marketting trong phát triển dịch vụ thẻ

Trang 16

Xác định các tiêu chí đo lường hiệu quả Marketting trong dịch vụ thẻ là một nội dung quan trọng, giúp ngân hàng đanh giá được những tác động của công tác Marketting Các tiêu chí có thể được phân chia thành nhóm những tiêu chí mang tính định lượng và nhóm tiêu chí mang tính định tính.

IV.1 Nhóm chỉ tiêu định lượng.

Số lượng thẻ phát hành: Đo lường tính hấp dẫn của sản phẩm thẻ và hiệu

quả của chương trình Marketting Chỉ tiêu này được tính theo số lượng thẻ phát hành so với kế hoạch đề ra và so sánh với số lượng phát hành các năm trước

Thị phần khách hàng: Khách hàng là chủ thẻ: đánh giá sự phát triển chủ thẻ

và tính hấp dẫn của sản phẩm thẻ phát hành trên thị trường

Số lượng thẻ phát hành của ngân hàng

Số lượng sản phẩm thẻ: Phản ánh mức độ đa dạng hóa các sản phẩm thẻ

phù hợp với nhu cầu của khách hàng Tiêu chí này được tính bằng số lượng các sản phẩm thẻ ngân hàng đưa ra thị trường hàng năm so với các năm trước

Doanh thu từ hoạt động kinh doanh thẻ (phí phát hành, thanh toán thẻ):Phản ánh hiệu quả của Marketting tác động lên hoạt động kinh doanh thẻ.

Doanh thu hoạt động thẻ=Phí phát hành thẻ+phí thanh toán thẻ+phí thu từ ĐVCNT+

Trang 17

Khối lượng giao dịch thanh toán qua thẻ: chỉ tiêu này tính bằng tổng giá trị

thanh toán hàng hóa dịch vụ qua POS/ATM trong một khoảng thời gian tính theo tháng/quý/năm Chỉ tiêu này cũng phản ánh hiệu quả của công tác quảng bá tuyên truyền việc sử dụng thẻ thanh toán cũng như các công cụ kích thích tiêu dùng

Thị phần thiết bị ATM/POS: Phản ánh sự tăng trưởng trong trang bị thiết bị

thanh toán thẻ của ngân hàng và khả năng chiếm lĩnh điểm đặt thiết bị của ngân hàng so với các ngân hàng khác trên thị trường

Thị phần thiết bị ATM/POS = % trên tổng số thiết bị theo từng loại của các ngân hàng tham gia thanh toán thẻ

Tần suất và doanh số thanh toán qua thiết bị ATM/POS: phản ánh hiệu quả

sử dụng thiết bị chấp nhận thẻ và tính phù hợp của vị trí đặt thiết bị

Tần suất sử dụng thiết bị =Tổng số lượng giao dịch/thiết bị ATM,POS/ ngày/tháng/năm

- Số lượng các dịch vụ cung cấp trên ATM/POS: Phản ánh mức độ đa dạng

hóa dịch vụ, gia tăng tiện ích cho chủ thẻ

4.2 Nhóm chỉ tiêu định tính:

Mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ thẻ: Chỉ tiêu này được

xác định trên tập hợp giá trị đem lại cho khách hàng về tiện ích và lợi ích của dịch

vụ thẻ cũng như đánh giá của các tổ chức chuyên nghiệp về chất lượng dịch vụ thẻ của ngân hàng và công tác hỗ trợ, chăm sóc khách hàng

Mức độ tăng uy tín, hình ảnh dịch vụ thẻ ngân hàng: Thể hiện thông qua mức độ nhận biết về sản phẩm dịch vụ thẻ ngân hàng trong dân chúng dẫn tới hiệu quả về

uy tín, hình ảnh và thương hiệu của ngân hàng cũng được nâng cao

Mức độ nhận biết hình ảnh: thông qua thiết kế đặc trưng về màu sắc, thông

điệp quảng cáo, khách hàng ghi nhớ và có dấu ấn về sản phẩm thẻ của ngân hàng

Trang 18

Đánh giá hiệu quả của các chương trình quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Chương 2: NHTM cổ phần Á Châu (ACB) và sản phẩm thẻ trả trước quốc tế ACB VISA PREPAID và ACB MASTERCARD DYNAMIC

I. Giới thiệu sơ lược về ACB

Tên gọi: NHTM cổ phần Á Châu.

Tên giao dịch quốc tế: Asia Commercial Bank.

Tên viết tắt: ACB.

Trụ sở chính: 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, TP Hồ Chí Minh

Điện thoại: (08) 929 0999

Website: www.acb.com.vn

Logo:

1.1 Bối cảnh thành lập: Pháp lệnh về Ngân hàng nhà nước và Pháp lệnh về

NHTM, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính được ban hành vào tháng 5 năm 1990 đã tạo dựng một khung pháp lý cho hoạt động NHTM tại Việt Nam Trong bối cảnh đó, NHTM cổ phần Á Châu (ACB) đã được thành lập theo Giấy phép số 0032/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày

Trang 19

24/04/1993, GIấy phép số 553/GP-UB do Ủy ban Nhân dân TP Hồ Chí Minh cấp ngày 13/05/1993 Ngày 04/06/1993, ACB chính thức đi vào hoạt động.

1.2 Tầm nhìn: Ngay từ ngày đầu hoạt động, ACB đã xác định tầm nhìn là trở

thành NHTM cổ phần bán lẻ hàng đầu Việt Nam Trong bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam vào thời điểm đó “Ngân hàng bán lẻ với khách hàng mục tiêu

là cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ” là một định hướng rất mới đối với ngân hàng Việt Nam, nhất là một ngân hàng mới thành lập như ACB

1.3 Phát triển các cột mốc đáng ghi nhớ.

Tầm nhìn, mục tiêu và chiến lược nêu trên được cổ đông và nhân viên ACB đồng tâm bám sát trong suốt 16 năm hoạt động của mình và những kết quả đạt được đã chứng minh rằng đó là các định hướng đúng đối với ACB Đó cũng chính là tiền đề giúp Ngân hàng khẳng định vị trí dẫn đầu của mình trong hệ thống NHTM cổ phần tại Việt Nam trong lĩnh vực bán lẻ Dưới đây là một số cột mốc đáng nhớ của ACB:

• 04/06/1993: ACB chính thức hoạt động

• 27/04/1996: ACB là NHTM cổ phần đầu tiên của Việt Nam phát hành thẻ tín dụng quốc tế ACB-Mastercard

• 15/10/1997: ACB phát hành thẻ tín dụng quốc tế ACB-Visa

• Năm 1997 – Tiếp cận nghiệp vụ ngân hàng hiện đại: Công tác chuẩn bị nhằm nhanh chóng đáp ứng các chuẩn mực quốc tế trong hoạt động ngân hàng đã được bắt đầu tại ACB, dưới hình thức của một chương trình đào tạo nghiệp vụ ngân hàng toàn diện kéo dài hai năm Thông qua chương trình đào tạo này, ACB nắm bắt một cách hệ thống các nguyên tắc vận hành một ngân hàng hiện đại, các chuẩn mực trong quản lý rủi ro, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ, và nghiên cứu điều chỉnh trong điều kiện Việt Nam để áp dụng trong thực tiễn hoạt động ngân hàng

Trang 20

• Thành lập Hội đồng ALCO: ACB là ngân hàng đầu tiên của Việt Nam thành lập Hội đồng Quản lý tài sản Nợ - Có (ALCO) ALCO đã đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động an toàn và hiệu quả của ACB.

• Mở siêu thị địa ốc: ACB là ngân hàng tiên phong trong cung cấp các dịch

vụ địa ốc cho khách hàng tại Việt Nam Hoạt động này đã góp phần giúp thị trường địa ốc ngày càng minh bạch và được khách hàng ủng hộ ACB trở thành ngân hàng cho vay mua nhà mạnh nhất Việt Nam

• Năm 1999: ACB bắt đầu triển khai chương trình hiện đại hóa công nghệ thông tin ngân hàng (TCBS) nhằm trực tuyến hóa và tin học hóa hoạt động của ACB

• Năm 2000 – Tái cấu trúc: Với những bước chuẩn bị từ năm 1997, đến năm

2000, ACB đã chính thức tiến hành tái cấu trúc (2000-2004) như là một

bộ phận của chiến lược phát triển trong nửa đầu thập niên 2000 Cơ cấu

tổ chức được thay đổi theo định hướng kinh doanh và hỗ trợ Các khối kinh doanh gồm có Khối khách hàng cá nhân, Khối khách hàng doanh nghiệp, Khối ngân quỹ Các đơn vị hỗ trợ gồm có Khối công nghệ thông tin, Khối giám sát điều hành, Khối phát triển kinh doanh, Khối quản trị nguồn lực và một số phòng ban Hoạt động kinh doanh của Hội sở được chuyển giao cho Sở Giao dịch Tổng Giám đốc trực tiếp chỉ đạo Ban Chiến lược, Ban kiểm tra – kiểm soát nội bộ, Ban Chính sách và quản lý rủi ro tín dụng Cơ cấu tổ chức mới sau khi tái cấu trúc nhằm đảm bảo tính chỉ đạo xuyên suốt toàn hệ thống Sản phẩm được quản lý theo định hướng khách hàng và được thiết kế phù hợp với từng phân đoạn khách hàng Phát triển kinh doanh và quản lý rủi ro được quan tâm đúng mức Các kênh phân phối tập trung phân phối sản phẩm dịch vụ cho khách hàng mục tiêu

Trang 21

• 29/06/2000 – Tham gia thị trường vốn: Thành lập ACBS Với sự ra đời của công ty chứng khoán, ACB có thêm công cụ đầu tư hiệu quả trên thị trường vốn tuy mới phát triển nhưng được đánh giá là đầy tiềm năng Rủi

ro của hoạt động đầu tư được tách khỏi hoạt động NHTM

• 02/01/2002 – Hiện đại hóa ngân hàng: ACB chính thức vận hành TCBS

• 06/01/2003 – Chất lượng quản lý: Đạt tiêu chuẩn ISO 9001:2000 trong các lĩnh vực (i) huy động vốn, (ii) cho vay ngắn hạn và trung dài hạn, (iii) thanh toán quốc tế và (iv) cung ứng nguồn lực tại Hội sở

• 14/11/2003 – Thẻ ghi nợ: ACB là NHTM cổ phần đầu tiên tại Việt Nam phát hành thẻ ghi nợ quốc tế ACB-Visa Electron

• Trong năm 2003, các sản phẩm ngân hàng điện tự phone banking, mobile banking, home banking và Internet banking được đưa vào hoạt động trên

cơ sở tiện ích của TCBS

• 10/12/2006 – Công nghệ sản phẩm cao: Đưa sản phẩm quyền chọn vàng, quyền chọn mua bán ngoại tệ, ACB trở thành một trong các ngân hàng đầu tiên của Việt Nam được cung cấp các sản phẩm phát sinh cho khách hàng

• 17/06/2005 – Đối tác chiến lược: Ngân hàng Standard Chartered (SCB) và ACB ký kết thoả thuận hỗ trợ kỹ thuật Cũng từ thời điểm này, SCB trở thành cổ đông chiến lược của ACB Hai bên cam kết dựa trên thế mạnh của mỗi bên để khai thác thị trường bán lẻ đầy tiềm năng của Việt Nam

1.4 Lĩnh vực hoạt động kinh doanh.

Ngân hàng Á Châu hoạt động chủ yếu trong 5 lĩnh vực sau:

Một là: Huy động vốn ngắn hạn, trung và dài hạn dưới hình thức tiền gửi có kỳ

hạn, không kỳ hạn, tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và phát triển của các tổ chức trong nước, vay vốn của các tổ chức tín dụng khác;

Hai là: Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn; chiết khấu thương phiếu, trái phiếu

và giấy tờ có giá; hùn vốn liên doanh theo luật định;

Trang 22

Ba là: Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng;

Bốn là: Thực hiện kinh doanh ngoai tệ, vàng bạc và thanh toán quốc tế, huy

động các loại vốn từ nước ngoài và các dịch vụ ngân hàng khác trong quan hệ với nước ngoài khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép

Năm là: Hoạt động bao thanh toán.

II. Sản phẩm thẻ trả trước quốc tế ACB VISA PREPAID và ACB

MASTERCARD DYNAMIC của Ngân hàng Á Châu.

Dịch vụ thẻ xuất hiện trên thế giới từ những thập niên đầu tiên của thế kỷ 20 và đang phát triển rất mạnh trên thế giới Ở Việt Nam, thẻ ngân hàng bắt đầu xuất hiện năm 1995 và cho đến 2003 thì mới thực sự là giai đoạn khởi đầu của sự phát triển loại hình dịch vụ này ACB là một trong hai ngân hàng đầu tiên tiên phong trong lĩnh vực kinh doanh thẻ ở nước ta Và với 16 năm kinh nghiệm, ACB đã thu hút được một lượng khách hàng không hề nhỏ sử dụng dịch vụ thẻ của ngân hàng, góp phần quan trọng trong sự phát triển thị trường thẻ ở Việt Nam Với phương châm

“Luôn hướng đến sự hoàn hảo để phục vụ khách hàng” được đề ra ngay từ những

ngày đầu thành lập, ACB luôn nỗ lực không ngừng để gia tăng lợi ích cho khách hàng sử dụng thẻ của mình, đồng thời khẳng định vị thế vững chắc của ACB trên thị trường thẻ Việt Nam và trong long người tiêu dùng hiện đại

Hàng loạt các sản phẩm dịch vụ thẻ của ACB ra đời và phát triển không ngừng nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, cùng với đó là các chương trình marketing được ACB đầu tư chỉn chu, hiệu quả nhằm quảng bá hình ảnh sản phẩm đến các khách hàng mới, củng cố khách hàng hiện tại của mình Như tên của đề tài thảo luận, nhóm chúng tôi xin nói về hai sản phẩm thẻ trả trước quốc tế của ACB là ACB VISA PREPAID và ACB MASTERCARD DYNAMIC

Trang 23

II.1 Mô tả thẻ ACB VISA PREPAID và ACB MASTERCARD DYNAMIC II.1.1 Giới thiệu chung:

Thẻ trả trước quốc tế Visa Prepaid và MasterCard Dynamic do ACB phát hành thuộc dòng sản phẩm thẻ trả trước là phương tiện thanh toán thay thế tiền mặt linh hoạt, an toàn và được chấp nhận toàn cầu

II.1.2 Tiện ích :

- An toàn:

Lần đầu tiên tại Việt Nam, khách hàng được tặng bảo hiểm khi rút tiền tại

các máy ATM trên toàn thế giới

• Tính năng an toàn của thẻ cao Mất thẻ không có nghĩa là mất tiền nếu chủ thẻ thông báo kịp thời cho ACB

Trang 24

Tiện lợi:

• Rút tiền đơn giản tại hơn 1 triệu máy ATM trên toàn thế giới và hơn 8.000 máy ATM tại Việt Nam có logo Visa/MasterCard

• Thanh toán dễ dàng tại hơn 30 triệu điểm ở 220 quốc gia trên toàn thế giới

và tại 15.000 điểm ở Việt Nam có logo Visa/MasterCard

• Thanh toán hàng hóa, dịch vụ thuận tiện qua Internet hoặc điện thoại

• Thanh toán các hóa đơn tiền điện, nước, điện thoại, di động, phí bảo hiểm, truyền hình cáp hoặc chuyển khoản từ thẻ sang thẻ, từ thẻ sang tài khoản thông qua dịch vụ CallCenter 247 của ACB

• Khách hàng có thể nộp tiền bất cứ lúc nào, tại bất kỳ chi nhánh nào của ACB, hoặc thông qua hệ thống ACB Online, Mobile Banking, tự động trích tiền từ tài khoản cá nhân tại ACB hoặc thông qua CallCenter 247

• Truy vấn số dư thẻ qua website: www.acbonline.com.vn hoặc qua tin nhắn điện thoại di động

• Được hỗ trợ 24/24 giờ bởi Trung tâm dịch vụ khách hàng CallCenter 247: 08

38 247 247 – 1800 577 775 (miễn phí cuộc gọi)

Tiết kiệm:

• Tận hưởng ưu đãi giảm giá đối với chủ thẻ Visa/MasterCard với các dịch vụ

du lịch, giải trí, mua sắm… tại Việt Nam và trên toàn thế giới

• Tận hưởng lãi suất của ACB đối với số dư gửi trong thẻ

• Không cần duy trì số dư tài khoản thẻ, khách hàng có thể sử dụng đến đồng cuối cùng trong thẻ

II.1.3 Biểu phí.

• Phí thường niên: 100.000 VNĐ/thẻ/năm

• Lãi suất thấu chi: 28.5%/năm

Trang 25

• Rút tiền mặt: Tại hệ thống ATM ACB miễn phí, khác hệ thống ATM ACB

là 3%/số tiền ghi nợ và tối thiểu 60.000 VNĐ

• Đặt hàng, dịch vụ qua thư, điện thoại mạng: 0.15%/số tiền ghi nợ, tối

thiểu 20.000 VNĐ + phí telex

• Xử lý giao dịch: 2.6%/số tiền giao dịch quy đổi

• Chênh lệch tỷ giá: 0-1.1%/số tiền giao dịch quy đổi

Cash tại ATM

Khác ACB – Việt Nam

Tối đa 3.000.000 VND

Tuỳ theo quy định hạn mức giao dịch tại ATM của từng ngân hàng

Khác Việt Nam

Tối đa 10.000.000 VND

II.1.5 Đối tượng và thủ tục cấp thẻ :

Trang 26

• Công dân Việt Nam.

• Người nước ngoài công tác hoặc định cư tại Việt Nam

II.2.1 Ưu điểm:

• Thủ tục làm thẻ nhanh chóng, thuận tiện cho khách hàng, nếu khách hàng đã hoàn tất hồ sơ và có tài khoản tiền gửi VNĐ cá nhân tại ACB thì thời gian cấp thẻ chỉ có 15 phút

• Được chấp nhận trên toàn cầu

• Có 2 loại thẻ từ và thẻ chip, thêm sự lựa chọn cho khách hàng sử dụng thẻ

• Không cần duy trì số dư tối thiểu, đáp ứng nhu cầu dùng tài khoản thẻ tối đa cho khách hàng khi cần thiết

• Đáp ứng tâm lý lo lắng của khách hàng về sự an toàn khi sử dụng thẻ tại các máy ATM trên toàn cầu (được bảo hiểm khi rút thẻ) Lần đầu tiên tại Việt Nam, chủ thẻ được tặng tối đa 7 loại dịch vụ bảo hiểm thiết thực

• Dịch vụ xác thực giao dịch thẻ trực tuyến quốc tế 3D

Trang 27

• ACB MasterCard Dynamic còn có thêm dịch vụ quản lý chi tiêu thông minh MasterCard in Control.

• Duy trì sự an toàn tối đa về tài khoản trong thẻ cho khách hàng với trường hợp khách bị mất thẻ, tạo sự an tâm cho khách hàng

• Việc sử dụng thẻ và các hoạt động liên quan đến thẻ (thanh toán, nộp tiền, truy vấn số dư, thắc mắc, ) rất dễ dàng, tiện lợi ở mọi nơi, mọi lúc, bằng nhiều phương tiện, cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau, đáp ứng được nhu cầu sử dụng dịch vụ thẻ đa dạng của nhiều đối tượng khách hàng

• Hạn mức giao dịch thẻ đối với trong nước khá cao

• Nhiều chương trình về lãi suất hay giảm giá, khuyến mại đi kèm, thu hút được sự quan tâm, thiện chí của khách hàng, tạo ra lợi ích cho khách hàng sử dụng dịch vụ thẻ này

• Chi tiêu trước - trả tiền sau, miễn lãi lên đến 45 ngày

• Chỉ thanh toán tối thiểu 5% số tiền sử dụng hàng tháng

• Phí thường niên thấp (100.000 VNĐ – 150.000 VNĐ)

• Thực hiện giao dịch bằng bất kỳ loại tiền tệ nào trên thế giới và thanh toán lại cho ACB chỉ bằng VND

• Dịch vụ hỗ trợ khách hàng 24/24

II.2.2 Nhược điểm:

• Về hình thức thẻ còn khá đơn giản, có thể chưa thích hợp với sở thích, tâm

lý của nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, nhất là đối với thẻ quốc tế thì cần đa dạng mẫu mã thẻ để đáp ứng thị hiếu của khách hàng

• Đối tượng cấp thẻ còn giới hạn ở công dân Việt Nam và người nước ngoài (điều kiện là phải công tác, định cư ở Việt Nam), chưa mở rộng được đối tượng khách hàng ra quốc tế

• Khách hàng cần phải mở tài khoản tiền gửi thanh toán

• Hạn mức giao dịch thẻ đối với quốc tế còn chưa cao

• Việc bảo hiểm cho khách hàng khi rút thẻ có thể bị lợi dụng, dẫn tới nhiều rủi ro khi khách hàng gian lận

Ngày đăng: 02/05/2015, 07:42

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w