Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức nhận trả tiền hàng trong giao dịch mua bán ngoại thương giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu.. Vì vậy, việc vận dụn
Trang 11
A– LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu hướng quốc tế hoá mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam đang dần từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới Ngày 11/1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Đây là một sự kiện hết sức quan trọng, nó đã mở ra các cơ hội cũng như các thách thức cho nền kinh tế Việt Nam để ngày càng hội nhập sâu, rộng hơn vào nền kinh
tế thế giới, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Các hoạt động kinh
tế đối ngoại nói chung và hoạt động thương mại, đầu tư nói riêng của nước ta với các nước trên thế giới đã và đang ngày càng mở rộng và phát triển hết sức phong phú, khẳng định ngày càng đầy đủ hơn vị trí và vai trò của Việt Nam trong cộng đồng thế giới.Việc
mở rộng các quan hệ ngoại thương và đầu tư quốc tế ngày càng được chú trọng nhiều hơn Để thực hiện được điều này, Việt Nam đòi hỏi cần phát triển không ngừng các quan
hệ thanh toán quốc tế, tiền tệ , những phương thức thanh toán truyền thống như tiền mặt
cần phải được thay thế bằng những phương thức thanh toán hiện đại hơn, nhanh chóng hơn Phương thức thanh toán quốc tế là toàn bộ quá trình, cách thức nhận trả tiền hàng trong giao dịch mua bán ngoại thương giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu Việc lựa chọn phương thức thanh toán quốc tế nào tuỳ thuộc vào sự chiết khấu giữa hai bên và phù hợp với tạp quán cũng như các luật lệ trong thanh toán và buôn bán quốc tế Nhìn chung, trong quan hệ ngoại thương hiện nay có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau như : Phương thức thanh toán chuyển tiền, phương thức ghi sổ, phương thức nhờ thu, phương thức tín dụng chứng từ…Mỗi phương thức thanh toán đều có ưu và nhược điểm riêng, thể hiện thành mâu thuẫn quyền lợi giữa hai nhà : Nhập khẩu và xuất khẩu
Vì vậy, việc vận dụng phương thức thanh toán thích hợp, cần phải được nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu bàn bạc, thống nhất kỹ lưỡng và phải thể hiện vào hợp đồng ngoại thương, xem như đây là kim chỉ nam để giúp nhà nhập khẩu và xuất khẩu dựa vào đó đề thực hiện nghĩa vụ của mình với đối tác
Trang 22
B – NỘI DUNG
I Những vấn đề cơ bản về Thanh toán quốc tế (TTQT):
1 Khái niệm về Thanh toán quốc tế :
Trong xu thế hội nhập hiện nay, bất cứ một quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển đều phải tăng cường hợp tác với các nước trên thế giới Quan hệ quốc tế giữa các nước bao gồm nhiều lĩnh vực như : Kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hoá, khoa học kỹ thuật,
du lịch trong đó quan hệ kinh tế (mà chủ yếu là ngoại thương) chiếm vị trí chủ đạo, là
cơ sở cho các quan hệ quốc tế khác tồn tại và phát triển Quá trình tiến hành các hoạt động quốc tế dẫn đến những nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau, từ đó hình thành và phát triển hoạt động TTQT, trong đó ngân hàng là cầu nối trung gian giữa các bên Vậy, TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan Như vậy, TTQT phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế Tuy nhiên, trong thực tế, giữa hai lĩnh vực hoạt động này thường giao thoa với nhau, không có một ranh giới rõ rệt Hơn nữa, do hoạt động TTQT được hình thành trên cơ sở hoạt động ngoại thương và phục vụ chủ yếu cho hoạt động ngoại thương, chính vì vậy, trong các qui chế về thanh toán và thực tế tại các NHTM, người ta thường phân hoạt động TTQT thành hai lĩnh vực
rõ ràng là : Thanh toán trong ngoại thương (thanh toán mậu dịch) và Thanh toán phi ngoại thương (thanh toán phi mậu dịch) Về cơ bản, TTQT phát sinh trên cơ sở hoạt động thương mại quốc tế, là khâu cuối cùng của quá trình mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các tổ chức và cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau
Trang 33
2 Đặc điểm của Thanh toán quốc tế
Thanh toán liên quan tới đồng tiền, địa điểm, phương tiện, phương thức và thời gian thanh toán Khi tiến hành hoạt động TTQT, cần phải xác định 5 vấn đề quan trọng, đó là: Đồng tiền, địa điểm, phương tiện, phương thức và thời gian thanh toán Lựa chọn đồng tiền nào là một vấn đề quan trọng, vì không phải bất kỳ đồng tiền của nước nào cũng có khả năng thực hiện TTQT, mà đồng tiền đó phải “mạnh”, được các nước thừa nhận thực hiện trong hoạt động TTQT, tiếp đến lựa chọn 6 đồng tiền nào để phù hợp với nội dung cụ thể của hoạt động TTQT, nhằm mang lại hiệu quả (thanh toán nhanh, hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất, đáp ứng được lợi ích của các bên ) Do vây, khi ký kết các hợp đồng thương mại, tín dụng, hay các dịch
vụ, các bên đàm phán thường thống nhất về loại ngoại tệ được dùng trong giao dịch là đồng tiền của nước nhập khẩu, nước xuất khẩu hay nước thứ
tố quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại trong điều kiện quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng
Trang 44
Gặp nhiều rủi ro do có sự biến động về tiền tệ, khác với thanh toán nội địa, TTQT thường gặp nhiều rủi ro do sự biến động của tiền tệ, sự bất ổn chính trị của một quốc gia, do sự khác biệt về luật pháp, cơ chế chính sách, do vị trí địa lý của các bên tham gia cách nhau làm hạn chế việc tìm hiểu khả năng thanh toán của con nợ Do vậy các nghiệp vụ đảm bảo, bảo lãnh của ngân hàng, hoạt động tín dụng của các tổ chức tiền tệ, tài chính quốc tế ra đời như là một yếu tố không thể thiếu để hỗ trợ cho hoạt động TTQT Có thể khẳng định, TTQT là một mắt xích không thể thiếu trong hoạt động thương mại liên hoàn của một nền kinh tế mở và gắn kết chặt chẽ với các giao dịch thương mại quốc tế TTQT là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng thông qua chi trả lẫn nhau trong nghiệp vụ TTQT, thông qua đó, toàn bộ hoặc một phần giá trị của hàng hoá và dịch vụ trao đổi được thực hiện TTQT đã góp phần chủ yếu để tạo nên sự liên tục của quá trình tái sản xuất và đẩy nhanh quá trình giao thương hàng hoá quốc tế
II Sơ nét về phương thức thanh toán quốc tế :
1 Khái niệm :
Trong cuộc sống hàng ngày, các giao dịch kinh tế và phi kinh tế giữa người cư trú với người không cư trú làm phát sinh nhu cầu thanh toán lẫn cho nhau Thông thường, người thụ hưởng và người trả tiền không thanh toán trực tiếp cho nhau mà thường thông qua hệ thống ngân hàng Để việc thanh toán diễn ra chính xác, các bên liên quan phải thoả thuận những nội dung, điều kiện và cách thức tiến hành chuyển tiền hoặc trả tiền thích hợp Toàn bộ nội dung, điều kiện và cách thức để ngân hàng tiến hành chuyển tiền và trả tiền giữa người cư trú với người không cư trú gọi là phương thức TTQT Do TTQT trong ngoại thương là hệ quả của hợp đồng mua bán, do đó ta có khái niệm: Phương thức TTQT trong ngoại thương là toàn bộ quá trình, điều kiện, qui định để người mua trả tiền và nhận hàng, còn người bán thì giao hàng và nhận tiền theo hợp đồng ngoại thương
Trang 55
thông qua hệ thống ngân hàng phục vụ Do hoạt động ngoại thương đóng vai trò chủ yếu trong kinh tế đối ngoại, do đó, khi nói đến TTQT mà không nói rõ thanh toán trong lĩnh vực nào, thì ta hiểu đó là thanh toán trong ngoại thương
2 Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu hiện nay :
Phương thức chuyển tiền ( Remittance , T/T)
Phương thức nhờ thu ( Collection )
Phương thức ghi sổ ( Open account )
Phương thức giao chứng từ trả tiền ( CAD )
Phương thức tín dụng chứng từ ( Documentary credit )
III Ứng dụng các phương thức thanh toán quốc tế tại doanh nghiệp xuất
1.2 Đối tượng tham gia:
- Người chuyển tiền : người mua, nhà nhập khẩu, người mắc nợ, người đầu tư … là
người yêu cầu ngân hàng chuyển tiền
- Ngân hàng chuyển tiền: là ngân hàng nhận ủy thác chuyển tiền của người chuyển
tiền
Trang 66
- Người thụ hưởng: là người bán, nhà xuất khẩu, chủ nợ… hoặc một người nào đó
do người chuyển tiền chỉ định
- Ngân hàng đại lý: là ngân hàng có quan hệ đại lý với ngân hàng chuyển tiền,
thường đặt tại nước của người thụ hưởng
- Ngân hàng trả tiền: là ngân hàng phục vụ người thụ hưởng
1.3 Hình thức chuyển tiền: Việc chuyển tiền có thể thực hiện bằng hai
hình thức:
- Hình thức điện báo (T/T Telegraphic Transfer): Ngân hàng chuyển tiền thực hiện
việc chuyển tiền bằng cách điện ra lệnh cho Ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người thụ hưởng
- Hình thức thư chuyển tiền (M/T Mail Transfer): Ngân hàng chuyển tiền thực hiện
việc chuyển tiền bằng cách gởi thư ra lệnh cho Ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người thụ hưởng
1.4 Ứng dụng phương thức thanh toán chuyển tiền tại các doanh
nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu :
1.4.1 Trả tiền ngay (Sight paymen):
Đối với nhà nhập khẩu :
Bước 1: Sau khi thỏa thuận tất cả các điều kiện và điều khoản cho việc mua bán hàng hoá, Nhà nhập khẩu sẽ tiến hành ký kết Hợp đồng ngoại thương với nhà Xuất khẩu
Bước 2: Nhà NK sẽ tiến hành theo dõi việc giao hàng từ phía nhà XK, đồng thời liên hệ với NH phục vụ mình chuẩn bị ngoại tệ để thanh toán tiền hàng cho nhà
XK
Bước 3: Sau khi nhận được bộ chứng từ được gửi từ nhà XK, nhà NK cần phải kiểm tra kỹ lưỡng từng chứng từ một, để đảm bảo rằng tất cả các chứng từ này đều
Trang 77
phù hợp với nội dung của Hợp đồng Trong trường hợp các chứng từ xảy ra sự sai sót, nhà NK cần phải liên lạc khẩn cấp với bên nhà XK để thông báo sự sai sót này và yêu cầu nhà XK phải khẩn trương điều chỉnh lại cho phù hợp
Bước 4: Nếu đồng ý thanh toán, nhà nhập khẩu viết lệnh chuyển tiền gởi đến Ngân hàng phục vụ mình (Ngân hàng chuyển tiền) Trong đó, nhà NK cần phải ghi rõ ràng và đầy đủ những nội dung sau:
- Tên và địa chỉ người yêu cầu chuyển tiền
- Số tài khoản, ngân hàng mở tài khoản
- Số tiền xin chuyển
- Tên và địa chỉ người thụ hưởng, số tài khoản ngân hàng, chi nhánh ở đâu
Bước 6: Nhà NK cần theo dõi Giấy thông báo hàng đến từ đại lý hãng tàu và chuẩn bị các chứng từ cần thiết để nhận hàng
Đối với nhà xuất khẩu :
Bước 1: Sau khi thỏa thuận tất cả các điều kiện và điều khoản cho việc mua bán hàng hoá, Nhà xuất khẩu sẽ tiến hành ký kết Hợp đồng ngoại thương với nhà nhập khẩu
Trang 88
Bước 2: Nhà xuất khẩu tiến hành sắp xếp, chuẩn bị hàng hoá để thực hiện việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho nhà nhập khẩu theo như Hợp đồng đã ký kết giữa hai bên
Bước 3: Nhà XK kiểm tra lại cẩn thận bộ chứng từ và chuyền giao toàn bộ chứng
từ cho nhà nhập khẩu Thông thường, bộ chứng từ sẽ được nhà XK gửi thông qua các hãng vận chuyển lớn như : DHL, TNT……
Bước 4: Theo dõi nhận Giấy báo có từ NH phục vụ mình
1.4.2 Trả tiền sau (Deferred payment):
Trong trường hợp mua hàng trả chậm, quy trình thanh toán được thực hiện tương
tự như quy trình thanh toán trả tiền ngay nhưng chỉ khác về thời điểm nhà nhập khẩu viết lệnh chuyển tiền – là thời điểm đến hạn thanh toán quy định trong hợp đồng, thông thường sẽ là x ngày sau ngày nhận được hàng
1.4.3 Trả tiền trước (Advanced payment):
Trong phương thức chuyển tiền trả trước, nhà xuất khầu đề nghị nhà nhập khẩu ứng trước một phần hoặc toàn bộ giá trị hợp đồng theo như thỏa thuận trước khi giao hàng Tiền ứng trước có thể coi như là khoản tiền đặt cọc hoặc khoản ứng trước cho nhà xuất khẩu Trường hợp này có lợi cho nhà xuất khẩu hơn, tạo sự yên tâm cho nhà xuất khẩu thực hiện giao hàng và giải quyết sự thiếu hụt vốn, đồng thời ràng buộc nhà nhập khẩu phải nhận hàng và thanh toán Quy trình thanh toán diễn ra như sau:
Đối với nhà nhập khẩu :
Bước 1: Sau khi thỏa thuận tất cả các điều kiện và điều khoản cho việc mua bán hàng hoá, Nhà nhập khẩu sẽ tiến hành ký kết Hợp đồng ngoại thương với nhà Xuất khẩu
Trang 99
Bước 2: Nhà NK sẽ viết lệnh chuyển tiền gởi đến Ngân hàng phục vụ mình (ngân hàng chuyển tiền) Trong đó, nhà NK cần phải ghi rõ ràng và đầy đủ những nội dung sau:
- Tên và địa chỉ người yêu cầu chuyển tiền
- Số tài khoản, ngân hàng mở tài khoản
- Số tiền xin chuyển
- Tên và địa chỉ người thụ hưởng, số tài khoản ngân hàng, chi nhánh ở đâu
- Lý do chuyển tiền
Bước 3: Sau khi kiểm tra, nếu hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, ngân hàng chuyển tiền sẽ trích tài khoản của nhà NK để chuyển tiền và nhà NK sẽ nhận được giấy báo nợ (giấy đã thanh toán) từ ngân hàng chuyển tiền
Bước 4: Nhà NK sẽ tiến hành theo dõi việc giao hàng và bộ chứng từ từ phía nhà
XK
Bước 5: Sau khi nhận được bộ chứng từ được gửi từ nhà XK, nhà NK cần phải kiểm tra kỹ lưỡng từng chứng từ một, để đảm bảo rằng tất cả các chứng từ này đều phù hợp với nội dung của Hợp đồng Trong trường hợp các chứng từ xảy ra sự sai sót, nhà NK cần phải liên lạc khẩn cấp với bên nhà XK để thông báo sự sai sót này và yêu cầu nhà XK phải khẩn trương điều chỉnh lại cho phù hợp
Bước 6: Nhà NK cần theo dõi Giấy thông báo hàng đến từ đại lý hãng tàu và chuẩn bị các chứng từ cần thiết để nhận hàng
Đối với nhà xuất khẩu :
Bước 1: Sau khi thỏa thuận tất cả các điều kiện và điều khoản cho việc mua bán hàng hoá, Nhà xuất khẩu sẽ tiến hành ký kết Hợp đồng ngoại thương với nhà nhập khẩu
Trang 1010
Bước 2: Theo dõi nhận Giấy báo có từ NH phục vụ mình để chắc chắn rằng nhà
NK đã thanh toán tiền hàng một phần hay toàn bộ cho mình
Bước 3: Nhà xuất khẩu tiến hành sắp xếp, chuẩn bị hàng hoá để thực hiện việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho nhà nhập khẩu theo như Hợp đồng đã ký kết giữa hai bên
Bước 4: Nhà XK kiểm tra lại cẩn thận bộ chứng từ và chuyền giao toàn bộ chứng
từ cho đơn vị nhập khẩu Thông thường, bộ chứng từ sẽ được nhà XK gửi thông qua các hãng vận chuyển lớn như : DHL, TNT……
1.5 Ưu điểm và khuyết điểm của phương thức chuyển tiền :
Ưu điểm :
- Với nhà NK và XK: Thủ tục chuyển tiền đơn giản, thuận lợi cho người chuyển
tiền; thời gian chuyển tiền ngắn nên người thụ hưởng có thể nhanh chóng nhận được tiền
- Với ngân hàng: ngân hàng chỉ tham gia với vai trò là trung gian thanh toán thuần
tuý để hưởng phí, không có trách nhiệm kiểm tra về sự hợp lý của thời gian thanh toán và lượng tiền chuyển đi
Nhược điểm
- Trong thanh toán chuyển tiền, chu chuyển hàng hoá dịch vụ có thể tách rời khỏi chu chuyển tài chính trong thời gian tạo nên rủi ro cho cả hai bên (người chuyển tiền và người thụ hưởng) Khi chuyển tiền trước (down payment), nhà nhập khẩu
cứ lo sợ mất tiền nếu nhà xuất khẩu không giao hàng hay giao hàng không đúng yêu cầu về số lượng, chủng loại, chất lượng và thời gian làm vỡ kế hoạch sản xuất kinh doanh của nhà nhập khẩu Ngược lại, trong trường hợp trả tiền sau nhà xuất khẩu hoàn toàn bị lệ thuộc vào thiện chí và uy tín thanh toán của nhà nhập khẩu
Trang 1111
- Có khi rủi ro lại hoàn toàn khách quan như biến cố chính trị, xã hội, kinh tế hay một tai nạn bất ngờ khiến cho một bên kết ước bất đắc dĩ bội tín làm ảnh hưởng đến đối tác làm ăn
- Do việc thanh toán chủ yếu được thực hiện bằng điện nên thời gian thanh toán nhanh, nếu phát hiện ra sai sót (có thể từ phía người chuyển hoặc ngân hàng chuyển) sau khi đã chuyển tiền thì sẽ khó khăn trong việc thông báo, điều chỉnh nhất là khi người thụ hưởng đã nhận tiền
- Ngân hàng chỉ giữ vai trò trung gian thanh toán quá thụ động, chờ khách hàng ra lệnh rồi mới thực hiện Chính vì vậy, người ta thường sử dụng phương thức chuyển tiền để thanh toán các khoản chi tiêu phi thương mại và các chi phí liên quan đến XNK hàng hóa trị giá hợp đồng nhỏ; Chuyển vốn ra bên ngoài để đầu tư; Chuyển tiền kiều hối; thanh toán hàng hoá XNK (khi hai bên mua bán có quan hệ lâu đời và tín nhiệm lẫn nhau hoặc khi trị giá hợp đồng không lớn) vì khâu thanh toán này dễ làm nảy sinh việc chiếm dụng vốn của người bán, nếu bên mua cố tình dây dưa, kéo dài việc thanh toán Như vậy, thanh toán chuyển tiền là hình thức thanh toán trực tiếp giữa người chuyển tiền và người nhận tiền Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán theo uỷ nhiệm để được hưởng hoa hồng và không bị ràng buộc gì cả đối với cả người mua lẫn người bán
1.6 Trường hợp ứng dụng trong phương thức chuyển tiền :
Trong phương thức chuyển tiền, việc chuyển tiền phụ thuộc vào thiện chí của nhà
NK, do đó nếu dùng phương thức này thì quyền lợi của nhà XK không đảm bảo
Vì vậy, ít được sử dụng Người ta thường áp dụng phương thức này trong các khoản thanh toán tương đối nhỏ như thanh toán các chi phí có liên quan đến xuất – nhập khẩu : Chi phí vận chuyển bảo hiểm, chuyển vốn, chuyển lợi nhuận đầu tư về nước…
Trang 1212
2 Phương thức nhờ thu
Giao thương giờ đây không chỉ diễn ra trong phạm vi một nước mà giữa các nhiều nước.Chính vì thế để kinh doanh gặp nhiều thuận lợi ,việc thanh toán quốc tế cũng là điều quan trọng và ngày càng trở nên phổ biến với nhiều phương thức thanh toán khác nhau.Phương thức nhờ thu cũng là một trong những phương thức thanh toán quốc tế phổ biến hiện nay
Với phương thức này nó sẽ hạn chế những bất cập giưã phương thức tín dụng thư và phương thức ghi sổ.Nhà nhập khẩu chỉ thanh toán tiền hàng khi nhận được các chứng từ hàng phù hợp với các quy định trong hợp đồng
2.1 Khái niệm :
Nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó nhà xuất khẩu sau khi giao hàng
và cung ứng dịch vụ cho nhà nhập khẩu thì uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu
hộ số tiền ở người nhập khẩu trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra
Khi áp dụng phương thức thanh toán này các bên liên quan sẽ tuân theo qui tắc thống nhất về nhờ thu chứng từ thương mại URC (Uniform Rule for Collection)
do phong fth ư ơng m ại quốc tế ICC phát hành năm 1995.Theo URC 522 để tiến hành phương thức thanh tóan nhờ thu bên nhà XK phải lập chỉ thị nhờ thu ( Collection Instruction ) gửi cho ngân hàng uỷ thác Các ngân hàng tham gia nghiệp
vụ nhờ thu chỉ được thực hiện theo đúng chỉ thị, với nội dung phù hợp qui định URC được dẫn chiếu Chỉ thị nhờ thu là văn bản pháp ly điều chỉnh quan hệ giữa Ngân hàng với bên nhờ thu
2.2 Các bên tham gia phương thức thanh toán:
- Người uỷ thác (người xuất khẩu / Người hưởng lợi )
Trang 1313
- Ngân hàng chuyển chứng từ : là ngân hàng phục vụ người xuất khẩ, được bên bán uỷ thác thu hộ tiến bên mua, có nhiệm vụ chuyển giao chứng từ ra NH nước ngoài để đòi tiền bên mua
- Ngân hàng đại lý (ngân hàng thu hộ tiền) : Có nhiệm vụ thu hộ tiền bên mua, thường là đại lý của NH chuyển chứng từ ở nước ngoài
- Người nhập khẩu(người trả tiền / Bên mua)
2.3 Phân loại:
Phương thức nhờ thu phiếu trơn (Clean Collection):
Người xuất khẩu sau khi xuất chuyển hàng hoá, lập các chứng từ hàng hoá gửi trực tiếp cho người nhập khẩu (không qua ngân hàng), đồng thời uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection):
- Là phương thức trong đó người xuất khẩu uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người nhập khẩu, không những chỉ căn cứ vào hối phiếu mà còn căn
cứ vào bộ chứng từ hàng hoá, gửi kèm theo với điều kiện là người nhập khẩu trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu có kỳ hạn, thì ngân hàng mới trao
bộ chứng từ hàng hoá để đi nhận hàng
- Phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ có 02 loại:
+ Nhờ thu trả ngay D/P: (Documents against payment): Bên nhà nhập
khẩu phải thanh toán ngay khi nhận chứng từ
+ Nhờ thu trả chậm D/A: (Documents against acceptance): Phương thức
này cho phép người mua không phải thanh toán ngay nhưng phải ký chấp nhận thanh toán trên hối phiếu có kỳ hạn, được ký phát bởi người
bán(người xuất khẩu) Thông thường hối phiếu đã chấp nhận sẽ được giữ
Trang 1414
tại nơi an toàn của ngân hàng nhờ thu (ngân hàng người nhập khẩu) cho
đến ngày đáo hạn Tới ngày này, người mua phải thực hiện thanh toán như đã chấp nhận
2.4 Ứng dụng phương thức thanh toán nhờ thu tại các doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu :
2.4.1 Phương thức thanh toán nhờ thu phiếu trơn:
Đối với nhà nhập khẩu :
Bước 1: Sau khi thỏa thuận tất cả các điều kiện và điều khoản cho việc mua bán hàng hoá, Nhà nhập khẩu sẽ tiến hành ký kết Hợp đồng ngoại thương với nhà Xuất khẩu
Bước 2: Nhà NK sẽ tiến hành theo dõi việc giao hàng từ phía nhà XK, đồng thời liên hệ với NH phục vụ mình chuẩn bị ngoại tệ để thanh toán tiền hàng cho nhà
XK
Bước 3: Sau khi nhận được bộ chứng từ được gửi từ nhà XK, nhà NK cần phải kiểm tra kỹ lưỡng từng chứng từ một, để đảm bảo rằng tất cả các chứng từ này đều phù hợp với nội dung của Hợp đồng Trong trường hợp các chứng từ xảy ra sự sai sót, nhà NK cần phải liên lạc khẩn cấp với bên nhà XK để thông báo sự sai sót này và yêu cầu nhà XK phải khẩn trương điều chỉnh lại cho phù hợp
Bước 4: Nhà NK sẽ nhận được hối phiếu yêu cầu thanh toán từ nhà XK thông qua Ngân hàng thu hộ ( NH phục vụ nhà NK )
Bước 5: Sau khi kiểm tra, đối chiếu hối phiếu với bộ chứng từ, hợp đồng, nếu thấy phù hợp thì nhà nhập khẩu sẽ ra lệnh cho Ngân hàng phục vụ mình thanh toán ( Trường hợp hối phiếu trả tiền ngay ) hoặc ký chấp nhận thanh toán lên hối phiếu ( Hối Phiếu có kỳ hạn ) Nếu trường hợp không hợp lý, nhà NK sẽ không thanh toán
Trang 1515
Bước 6: Sau khi kiểm tra, nếu hợp lệ và đủ khả năng thanh toán, ngân hàng sẽ trích tài khoản của nhà NK để chuyển tiền và nhà NK sẽ nhận được giấy báo nợ (giấy đã thanh toán) từ ngân hàng phục vụ mình
Bước 7: Nhà NK cần theo dõi Giấy thông báo hàng đến từ đại lý hãng tàu và chuẩn bị các chứng từ cần thiết để nhận hàng
Đối với nhà xuất khẩu :
Bước 1: Sau khi thỏa thuận tất cả các điều kiện và điều khoản cho việc mua bán hàng hoá, Nhà xuất khẩu sẽ tiến hành ký kết Hợp đồng ngoại thương với nhà nhập khẩu
Bước 2: Nhà xuất khẩu tiến hành sắp xếp, chuẩn bị hàng hoá để thực hiện việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho nhà nhập khẩu theo như Hợp đồng đã ký kết giữa hai bên
Bước 3: Nhà XK kiểm tra lại cẩn thận bộ chứng từ và chuyền giao toàn bộ chứng
từ cho nhà nhập khẩu Thông thường, bộ chứng từ sẽ được nhà XK gửi thông qua các hãng vận chuyển lớn như : DHL, TNT……
Bước 4: Trên cơ sở giao hàng và chứng từ hàng hoá gửi cho nhà NK, nhà XK sẽ
ký phát hối phiếu và gửi đến NH phục vụ mình để nhờ thu tiền
Bước 5: Theo dõi nhận Giấy báo có từ NH phục vụ mình ( NH thu hộ )
Phương thức thanh toán này ít được sử dụng trong thanh toán thương mại quốc tế vì nó không đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu Vì việc nhận hàng và việc thanh toán không ràng buộc nhau Người mua có thể nhận hàng rồi mà không chiụ trả tiền hoặc chậm trễ trong thanh toán Trong khi đó, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian trong thanh toán bởi vì bộ chứng từ hàng hoá đã giao cho người nhập khẩu nên ngân hàng đại lý không thể khống chế người nhập khẩu được Vì vậy, người xuất khẩu chỉ nên áp dụng phương thức này trong trường hợp
có quan hệ lâu năm và tín nhiệm người nhập khẩu
Trang 1616
2.4.2 Phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ:
Đối với nhà nhập khẩu :
Bước 1: Sau khi thỏa thuận tất cả các điều kiện và điều khoản cho việc mua bán hàng hoá, Nhà nhập khẩu sẽ tiến hành ký kết Hợp đồng ngoại thương với nhà Xuất khẩu
Bước 2: Nhà NK sẽ tiến hành theo dõi việc giao hàng từ phía nhà XK, đồng thời liên hệ với NH phục vụ mình chuẩn bị ngoại tệ để thanh toán tiền hàng cho nhà
Nếu là nhờ thu trả tiền đòi chứng từ ( D/P ) thì nhà NK phải trả tiền thanh toán ngay thì NH mới giao bộ chứng từ gốc để nhận hàng
Nếu là nhờ thu chấp nhận trả tiền đổi chứng từ ( D/A ) thì nhà NK chỉ cần
ký chấp nhận lên hối phiếu thì NH sẽ giao bộ chứng từ gốc để nhận hàng
Bước 5: Nhà NK cần theo dõi Giấy thông báo hàng đến từ đại lý hãng tàu và chuẩn bị các chứng từ cần thiết để nhận hàng
Đối với nhà xuất khẩu :
Bước 1: Sau khi thỏa thuận tất cả các điều kiện và điều khoản cho việc mua bán hàng hoá, Nhà xuất khẩu sẽ tiến hành ký kết Hợp đồng ngoại thương với nhà nhập khẩu
Trang 17có sự ràng buộc chặc chẽ giữa việc thanh toán tiền và việc nhận hàng của bên mua Tuy nhiên việc bên mua có nhận hàng và thanh toán hay không vẫn tuỳ thuộc vào thiện chí của người mua, như vậy quyền lợi của bên bán vẫn chưa được bảo đảm
2.5 Trường hợp ứng dụng trong phương thức nhờ thu :
Phương thức nhờ thu phiếu trơn (Clean Collection):
Thông qua phương thức nhờ thu trơn, nhà XK không được đảm bảo quyền lợi liên quan đến lô hàng đã giao Và NH chỉ đóng vai trò trung giao đơn thuần, thu được hay không thì NH cũng thu thủ tục phí, NH sẽ không chịu trách nhiệm nếu nhà NK không thanh toán Vì vậy, nếu là nhà XK thì chỉ nên sử dụng phương thức này trong trường hợp là tín nhiệm hoàn toàn nhà NK, hoặc là giá trị xuất khẩu nhỏ, thăm dò thị trường, hàng hoá ứ động khó tiêu thụ
Phương thức nhờ thu kèm chứng từ :
Trang 1818
Sử dụng phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ này thì quyền lợi của nhà XK có được bảo đảm hơn, không bị mất hàng nếu nhà NK không thanh toán, vai trò NH được nâng cao thêm Tuy nhiên, tốc độ thanh toán vẫn chậm, rủi ro cho nhà XK vẫn lớn Do đó, phương thức này thường được sử dụng trong trường hợp là tín nhiệm cao giữa nhà
XK và nhà NK hoặc dùng để thanh toán cước phí vận tải, bưu điện, bảo hiểm, hoa hồng, lợi tức ……
3 Phương thức thanh toán giao chứng từ nhận tiền ( Cash against documents )
3.1 Khái niệm :
CAD Cash against documents , hay COD: Cash on delivery là phương thức thanh toán trong đó tổ chức nhập khẩu dựa trên cơ sở hợp đồng ngọai thương sẽ yêu cầu ngân hàng bên xuất khẩu mở một tài khoản tín thác (Trust account) để thanh toán tiền cho tổ chức xuất khẩu xuất trình đầy đủ chứng từ theo thỏa thuận
3.2 Đối tượng tham gia :
- Đơn vị xuất khẩu
- Đơn vị nhập khẩu
- Ngân hàng phục vụ đơn vị xuất khẩu
3.3 Ứng dụng phương thức thanh toán giao chứng từ nhận tiền tại các doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu :
Đối với nhà nhập khẩu :