giới thiệu, bảo tồn và khai thác những giá trị văn hóa của lễ hội để phát triển du lịch của địa phương.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Dân tộc Việt Nam luôn tự hào về hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữnước Trong suốt chiều dài lịch sử đó, với bao biến đổi thăng trầm đã đúc kết lại thànhmột nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc Trong đó, không thể không nhắc đến lễhội - một nét sinh hoạt văn hóa dân gian Đây cũng là thành tố quan trọng góp phần tạonên bức tranh văn hóa đa dạng trong thống nhất của dân tộc Việt Nam
Lễ hội không chỉ là loại hình văn hóa dân gian mà còn là nguồn tài nguyên dulịch nhân văn có vai trò quan trọng, là vật hút của ngành du lịch Hiện nay, nhiều địaphương trong cả nước đã và đang vận dụng nguồn tài nguyên nhân văn này đưa vàohoạt động du lịch, góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển vànâng các lễ hội lên tầm cao mới Theo thống kê năm 2004 của Cục Văn hóa Thông tin
cơ sở và Bộ Văn hóa Thông tin, cả nước có 8902 lễ hội lớn nhỏ và được phân bố rộngkhắp Ở địa phương nào cũng có lễ hội đặc trưng tiêu biểu của mình
Nằm ở phía tây tỉnh Thanh Hoá, Thọ Xuân là vùng đất “địa linh nhân kiệt” có
vị thế chiến lược trọng yếu trong sự nghiệp đấu tranh dựng nước và giữ nước tỉnhThanh nói riêng, cả nước nói chung Nơi đây không chỉ sản sinh ra những con ngườikiệt suất cho dân tộc như: Lê Hoàn, Lê Lợi, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn,… mà còn lànơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa độc đáo, điển hình là các lễ hội truyền thống của địaphương gắn liền với các vị vua của dân tộc và văn nghệ dân gian của con người, mảnhđất nơi đây Tuy nhiên, việc tổ chức lễ hội ở đây mới chỉ dừng lại ở quy mô là những
lễ hội dân gian mang ý nghĩa văn hóa thuần túy, mà chưa có sự mở rộng hoạt động củacác lễ hội thành vật hút của ngành du lịch, hay có cũng chỉ làm một cách hời hợt Bêncạnh đó, vẫn chưa có sự kết hợp giữa các lễ hội nơi đây với những tài nguyên du lịchkhác của địa phương để phát triển mạnh mẽ hoạt động du lịch Hay nói cách khác, việc
sử dụng tài nguyên văn hóa - lễ hội đưa vào khai thác trong du lịch của huyện ThọXuân còn hạn chế, chưa thực sự được chú trọng
Xuất phát từ thực tế đó, tôi chọn đề tài “Lễ hội ở huyện Thọ Xuân -Thanh
Hóa với việc phát triển du lịch địa phương”, làm báo cáo khóa luận tốt nghiệp ra
trường của mình, nhằm góp công sức nhỏ bé của mình vào việc giới thiệu, bảo tồn vàkhai thác những giá trị văn hóa của lễ hội để phát triển du lịch của địa phương
Trang 22 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhiều người từ lâu đã biết đến Thọ Xuân với những vị anh hùng của dân tộcnhư Lê Lợi, Lê Hoàn,… với những di tích Lam Kinh, đền thờ Lê Hoàn, hay những tròdiễn xướng dân gian xưa kia dùng để tiến vua, và gắn liền là hệ thống lễ hội đặc sắc vàphong phú Tuy nhiên, chúng ta chủ yếu mới chỉ có những bài viết nghiên cứu đơn lẻtừng lễ hội mà vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu tổng quát về các lễ hội và đưa ranhững định hướng phát triển du lịch cụ thể cho các lễ hội của huyện
Trong “Non nước Việt Nam”, tác giả Vũ Thế Bình có đề cập đến Lễ hội Lam
Kinh ở Thanh Hóa và vẫn chưa đi sâu nghiên cứu xem hoạt động du lịch của lễ hộinhư thế nào và cũng chưa có sự liên hệ với các lễ hội khác để xây dựng nên hệ thống
lễ hội phục vụ du lịch trên địa bàn huyện Thọ Xuân
Về các lễ hội ở huyện Thọ Xuân cũng có khá nhiều bài viết của các cá nhân, cơquan văn hóa đăng trên các trang báo điện tử nhưng hết sức sơ lược, ngắn gọn như:
Lễ hội Lê Hoàn có các bài viết như: Đỗ Phương Thảo với “Lễ hội Lê Hoàn và huyền thoại về ông vua trọng nông” (kinhtenongthon.com.vn); tác giả hoabovai với
“Lễ hội Lê Hoàn - âm vang tiếng gọi cội nguồn” (tuoitrethanhhoa.com); hay “Lễ Hội
Lê Hoàn ở Thanh Hoá” (slpc.wordpress.com);…
Viết về lễ hội Lam Kinh có: Đỗ Như Chung với Lễ hội Lam Kinh từ lễ hội cung đình đến lễ hội dân gian”; Thiên Lam với “Lễ hội Lam Kinh mang đậm nét văn hoá thời Lê” (tin247.com);…
Lễ hội Xuân Phả cũng có những bài viết như: “Trò Xuân Phả những điệu múa mặt nạ dị kỳ” (viettems.com) của Huy Thông (2009); “Lễ hội Làng Xuân Phả” (2008), (thanhhoafc.net/forum/showthread.php?t=4700); “Phục dựng lễ hội Xuân Phả/Video”
(viettems.com) của Bùi Quang Thắng (2010);…
Tuy nhiên, những bài viết này chỉ tiến hành mô tả khái quát lại các lễ hội, màkhông đi sâu vào phân tích những ý nghĩa, vai trò của từng lễ hội, không đánh giá tiềmnăng du lịch của từng lễ hội ở mỗi địa phương Mặc dù vậy, đây cũng là những nguồntài liệu tham khảo quan trọng để chúng tôi tiến hành nghiên cứu và hoàn thành đề tàikhóa luận tốt nghiệp này
Trang 33 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khi nhắc đến lễ hội ở huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa người ta chỉ biết đến một
số lễ hội mang tầm quốc gia như Lễ hội Lam Kinh mà không biết đến những lễ hộikhác như: Lễ hội Lê Hoàn, lễ hội làng Xuân Phả,… là những lễ hội cũng có nhiều giátrị đang được bảo tồn và có thể phát triển du lịch Do đó, khóa luận hoàn thành lànguồn tài liệu góp phần giới thiệu rộng rãi với mọi người những giá trị văn hóa mà các
lễ hội tại huyện Thọ Xuân hiện đang lưu truyền
Là người con của địa phương, việc tìm hiểu về đặc điểm và thực trạng hoạtđộng của các lễ hội tại huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa, giúp bản thân tác giả hiểu rõhơn về các lễ hội truyền thống văn hóa trên mảnh đất quê hương mình
Đồng thời, với việc nghiên cứu sẽ đưa ra các giải pháp nhằm: Tác động vào ýthức của người dân địa phương trong việc bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa; đưa
lễ hội của địa phương trở thành tài nguyên phục vụ cho hoạt động du lịch, góp phầnnâng cao thu nhập và hiệu quả kinh tế của huyện
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan những vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động du lịch
và lễ hội, trên cơ sở đó đánh giá tác động của hoạt động du lịch đối với kinh tế - xãhội, văn hóa (lễ hội) và môi trường
Tìm hiểu về các lễ hội tại huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa, đồng thời đưa ra giảipháp, kiến nghị để lễ hội truyền thống của địa phương trở thành lễ hội phục vụ du lịch
mà không làm mất đi tính linh thiêng của lễ hội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là một số lễ hội truyền thống tiêu biểu có thể phát triển
để phục vụ hoạt động du lịch trên địa bàn huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu khái quát về đặc điểm địa lí, lịch sử, kinh tế - xã hội, văn hóacon người của huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa, qua đó hiểu được tác động của nó đốivới lễ hội ở đây Nghiên cứu một số lễ hội văn hóa tiêu biểu như: Lễ hội Lam Kinh, lễ
Trang 4hội Lê Hoàn, lễ hội làng Xuân Phả thuộc địa bàn huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa ở cácmặt nội dung, hình thức từ khi các lễ hội này ra đời và phát triển đến nay.
Ngoài ra, đề tài tìm hiểu thực trạng thu hút khách du lịch tại các lễ hội vàphương thức khai thác các lễ hội này đưa vào hoạt động du lịch tại địa phương Đồngthời đưa ra một số giải pháp phát triển du lịch tại lễ hội ở huyện Thọ Xuân
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện khóa luận này, chúng tôi sử dụng chủ yếu các nguồn tư liệu sau:
- Tài liệu thành văn: Sách chuyên ngành, các công trình nghiên cứu, khóa luậntốt nghiệp, bài viết, sách báo, tạp chí, văn bản,…
- Tài liệu điền dã thu thập được thông qua việc đi thực tế các lễ hội tiêu biểu tạihuyện Thọ Xuân - Thanh Hóa và phỏng vấn các cán bộ văn hóa, những người cao tuổitại địa phương Đây là nguồn tài liệu quan trọng góp phần không nhỏ vào sự thànhcông của đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Khi thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp này, chúng tôi sử dụng nhiều phươngpháp nghiên cứu khác nhau, đó là:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng nhằm phân
tích, tổng hợp các tư liệu, thông tin liên quan đến đề tài giúp chủ thể khái quát hóa, môhình hóa các vấn đề nghiên cứu đạt được mục tiêu đề ra
- Phương pháp thống kê: Các số liệu, tư liệu được sưu tầm ở nhiều nguồn khác
nhau và thời gian dài ngắn cũng không giống nhau vì thế các tài liệu đó cần đượcthống kê lại và xử lý có hệ thống, phục vụ cho quá trình nghiên cứu đạt được kết quảcao
- Phương pháp khảo sát thực địa: Sử dụng phương pháp này để lấy được các số
liệu, thông tin phục vụ cho việc trình bày luận cứ, đồng thời kiểm nghiệm độ chínhxác, để kết quả nghiên cứu có tính thuyết phục Phương pháp này đóng vai trò quantrọng, ảnh hưởng đến độ chính xác của đề tài
- Phương pháp phỏng vấn: Đưa ra những câu hỏi đối thoại liên quan đến lễ hội
của địa phương đối với những vị khách tham gia lễ hội, những người quản lý, cán bộvăn hóa, những người cao tuổi, người làm du lịch để thu thập thêm thông tin
Trang 5- Phương pháp chuyên gia: Việc tranh thủ ý kiến của lãnh đạo, chính quyền,
cán bộ nghiên cứu trong lĩnh vực văn hóa lễ hội là những kinh nghiệm quý báu để vậndụng vào nghiên cứu Công việc này rút ngắn quá trình điều tra phức tạp, đồng thời bổsung cho phương pháp điều tra cộng đồng
6 Đóng góp của đề tài
6.1 Về mặt khoa học
Nghiên cứu lễ hội tại huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa góp phần xây dựng bứctranh tổng thể về lễ hội văn hóa tiêu biểu trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội(nhất là về du lịch) của địa phương
6.2 Về mặt thực tiễn
Đề tài hoàn thành sẽ góp phần giới thiệu, quảng bá hình ảnh lễ hội của ThọXuân Đồng thời để các cơ quan chính quyền địa phương quan tâm chú trọng pháttriển du lịch ở các lễ hội hơn nữa Bên cạnh đó, đề tài đưa ra những đề xuất địnhhướng trong việc bảo tồn giữ gìn và khai thác giá trị văn hóa để phát triển du lịch
Lễ hội ở huyện Thọ Xuân là mảng đề tài hiện nay còn ít người nghiên cứu, nênnguồn tài liệu vẫn chưa phong phú Do đó, sau khi đề tài hoàn thành đây sẽ là nguồntài liệu thành văn hữu ích cho những ai có nhu cầu nghiên cứu về mảng đề tài lễ hội ởcác địa phương
7 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo đề tài kếtcấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung
Chương 2: Lễ hội ở huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa
Chương 3: Khai thác lễ hội ở huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa vào việc phát triển
du lịch địa phương
Trang 6CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Khái quát về du lịch
1.1.1 Các khái niệm cơ bản về du lịch
1.1.1.1 Khái niệm du lịch
Bàn về du lịch có rất nhiều quan niệm khác nhau, mỗi định nghĩa đứng trên một
góc độ, một lập trường quan điểm như: Theo Liên hiệp Quốc tế các tổ chức lữ hành
chính thức: Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cưtrú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải đểlàm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống,…; Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch làmột ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí, nghỉngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoahọc và các nhu cầu khác
Nhìn chung, các khái niệm về du lịch là không giống nhau, tuỳ thuộc góc độcủa chủ thể và tuỳ thuộc các mốc thời gian mà khái niệm về du lịch có sự khác nhau
Đối với Việt Nam, theo Luật du lịch năm 2006 định nghĩa: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [37, 9] 1.1.1.2 Khái niệm khách du lịch
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2006): Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kếthợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơiđến Khách du lịch được phân loại theo hai tiêu chí: Phạm vi lãnh thổ và loại hình dulịch Phân loại theo phạm vi lãnh thổ có du khách: Quốc tế và nội địa Phân theo loạihình du lịch thì có du khách du lịch sinh thái và du khách du lịch văn hóa
1.1.1.3 Một số khái niệm khác
* Sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch là sự kết hợp hàng hóa và dịch vụ trên cơ sở khai thác hợp lý
tài nguyên du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu cho du khách trong hoạt động du lịch.Sản phẩm du lịch = tài nguyên du lịch + hàng hóa và dịch vụ du lịch
Dựa trên các thành phần cơ bản của sản phẩm du lịch và tùy thuộc vào đặctrưng đặc thù của mỗi nước, các nhà du lịch đưa ra một số mô hình: 4S, 3H và 6S
Trang 7* Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng,giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằmthỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịchnhằm tạo ra sự hấp dẫn du khách
* Lữ hành
Lữ hành là việc thực hiện chuyến đi du lịch theo kế hoạch, lộ trình, chươngtrình định trước
* Cơ sở lưu trú du lịch
Là cơ sở kinh doanh buồng, giường và các dịch vụ khác phục vụ du khách Cơ
sở lưu trú du lịch bao gồm khách sạn, làng du lịch, biệt thự, căn hộ, lều, bãi cắm trạicho thuê, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú chủ yếu
Trang 81.1.2 Các loại hình du lịch
1.1.2.1 Khái niệm
Loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặcđiểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự,hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phânphối, một cách tổ chức như nhau hoặc được xếp chung theo một giá bán nào đó
1.1.2.2 Phân loại các loại hình du lịch
Dựa vào các tiêu thức phân loại khác nhau có thể phân du lịch thành các loại dulịch khác nhau Trong các ấn phẩm về du lịch đã được phát hành, khi phân các loạihình du lịch các tiêu thức phân loại thường được sử dụng như sau:
* Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch
Dựa vào tiêu chí này, du lịch được chia thành hai loại: Loại hình du lịch quốc
tế, đây là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnhthổ các quốc gia khác nhau, bao gồm có du lịch quốc tế chủ động và du lịch quốc tế bịđộng; loại hình du lịch nội địa: Là hình thức đi du lịch mà điểm xuất phát và điểm đếncủa khách cùng nằm trong lãnh thổ của một quốc gia
* Căn cứ vào nhu cầu và động cơ làm nảy sinh hoạt động du lịch
Căn cứ vào tiêu chí này, người ta chia ra thành các loại hình: Du lịch chữabệnh; du lịch nghỉ ngơi, giải trí; du lịch thể thao; du lịch văn hoá; du lịch lịch sử; dulịch sinh thái; du lịch công vụ; du lịch tôn giáo; du lịch thăm hỏi, du lịch quê hương;
du lịch quá cảnh Các loại hình du lịch kể trên thường không thể hiện nguyên một
dạng nào đầy đủ và rõ rệt, ta thường gặp sự kết hợp của một vài thể loại một lúc như
du lịch nghỉ ngơi và du lịch văn hoá, du lịch công vụ với du lịch văn hoá,…
* Căn cứ vào hình thức tổ chức chuyến đi
Căn cứ vào hình thức chuyến đi người ta chia thành: Du lịch theo đoàn và dulịch cá nhân
Ngoài ra, còn căn cứ vào các tiêu chí khác như: Phương tiện giao thông được sửdụng, phương tiện lưu trú, thời gian đi du lịch của khách, vị trí địa lí của nơi đến đi dulịch,… mà tương ứng nhiều loại hình khác nhau
Trang 91.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến du lịch
1.1.3.1 Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản trong việc kinh doanh du lịch Tuy nhiên,tài nguyên du lịch, đặc biệt là tài nguyên du lịch tự nhiên phân bố không đồng đều trênlãnh thổ Có những tài nguyên giàu giá trị thu hút nhưng được phân bố ở những điểm
du lịch để phát triển kinh doanh du lịch được Như vậy, không phải nơi nào giàu tàinguyên du lịch cũng có thể phát triển thành điểm du lịch để phát triển kinh doanh dulịch được, nhưng nhìn chung, việc phát triển kinh doanh du lịch chỉ có thể được thựchiện tại những nơi có tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch được chia thành tài nguyên du lịch tự nhiên (TNDLTN) vàtài nguyên du lịch nhân văn (TNDLNV)
TNDLTN là tổng thể tự nhiên các thành phần của nó có thể góp phần khôi phục
và phát triển thể lực, trí tuệ con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ và đượclôi cuốn vào phục vụ cho nhu cầu cũng như sản xuất dịch vụ du lịch Các thành phầncủa tự nhiên với tư cách là tài nguyên du lịch có tác động mạnh nhất đến hoạt động dulịch là: Địa hình, khí hậu, nguồn nước và thực - động vật
TNDLNV nói một cách ngắn gọn, là các đối tượng, hiện tượng do con ngườitạo ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ cho nhu cầu du lịch TNDLNV
có các đặc điểm sau: Có tác dụng nhận thức nhiều hơn, tác dụng giải trí không điểnhình hoặc chỉ có ý nghĩa thứ yếu, việc tìm hiểu các đối tượng nhân tạo thường diễn ratrong thời gian ngắn; số người quan tâm tới TNDLNV thường có văn hoá cao hơn, thunhập và yêu cầu cao hơn; thường tập trung ở các điểm quần cư và thành phố lớn; đại
bộ phận không có tính mùa vụ (trừ các lễ hội), không bị phụ thuộc nhiều vào các điềukiện khí hậu và các điều kiện tự nhiên khác; sở thích của những người tìm đếnTNDLNV rất phức tạp và rất khác nhau TNDLNV bao gồm: Các di tích lịch sử lịch
sử - văn hoá, các lễ hội, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, các đối tượng vănhoá - thể thao và hoạt động nhận thức khác
1.1.3.2 Các điều kiện phát triển du lịch
* Điều kiện về chế độ chính trị - xã hội
Du lịch chỉ có thể phát triển được trong hòa bình, hữu nghị giữa các quốc gia vàcác dân tộc Ở những nước và những vùng có chế độ chính trị ổn định, tình hình trật tự
an toàn xã hội đảm bảo tạo lực hút rất lớn lượng du khách đến tham quan du lịch
Trang 10Ngược lại, ở những nước, những vùng có sự bất ổn về chính trị, xung đột, chiến tranh
sẽ gây ảnh hưởng rất xấu hoặc dẫn đến sự ngừng trệ các hoạt động du lịch Các hiệntượng thiên tai như bão, lũ lụt, động đất, hoặc các bệnh dịch như sida, tả, lỵ, sốt rétcũng gây ảnh hưởng xấu đến phát triển du lịch Một xã hội văn minh, lịch sự, cónhững nét đẹp trong phong tục tập quán cũng là yếu tốt hấp dẫn du khách do đó sẽ tạođiều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh du lịch Đôi khi bản thân chế độ chính trịhiện tại cũng trở thành đối tượng thăm viếng của du khách bởi họ muốn có nhữngnhận xét khách quan nhất về nó
* Điều kiện kinh tế
Ngành du lịch của một quốc gia hay vùng phát triển tỉ lệ thuận với trình độ pháttriển kinh tế của quốc gia hay vùng đó Thu nhập bình quân đầu người là chỉ số tácđộng trực tiếp đến lượng nhu cầu trong du lịch Các nhà kinh tế đã thống kê rằng ở cácnước có nền kinh tế phát triển, nếu thu nhập tăng lên 1% thì chi phí của nhân dân dànhcho du lịch tăng lên 1,5% Mức thu nhập là nhân tố kinh tế quan trọng nhất ảnh hưởngtới nhu cầu du lịch
* Điều kiện giao thông vận tải
Giao thông du lịch có tác dụng quan trọng đối với sự phát triển của ngành dulịch Sự phát triển của giao thông vận tải thể hiện trên hai mặt: Phát triển về số lượnghình thành nhiều loại giao thông và sự tăng lên một cách nhanh chóng số lượngphương tiện vận chuyển, tạo khả năng vận chuyển số lượng lớn du khách trên thế giới
đi du lịch Phát triển về chất lượng của phương tiện giao thông vận tải tốc độ vậnchuyển, đảm bảo an toàn trong vận chuyển, đảm bảo tiện nghi trong vận chuyển, vậnchuyển với giá rẻ
Trang 11* Thời gian rỗi
Các chuyến đi du lịch đều được thực hiện trong thời gian nhàn rỗi của conngười (ngày nghỉ cuối tuần, kì nghỉ phép, thời gian nghỉ lễ, thời gian rỗi trước và saukhi thực hiện công vụ) Mặc dù, có khả năng chi tiêu, có nhu cầu, con người cũngkhông đi du lịch được nếu không có thời gian rỗi
* Sự sẵn sàng đón tiếp du khách
Các cơ sở vật chất - kĩ thuật và cơ sở hạ tầng là toàn bộ phương tiện vật chấttham gia vào việc tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hóa du lịch nhằm đáp ứng mọi nhucầu của du khách Thành phần của cơ sở vật chất kĩ thuật bao gồm các cơ sở công trình
kĩ thuật thuộc ngành du lịch; các cơ sở, công trình thuộc ngành khác có tham gia vàohoạt động du lịch như giao thông, thương nghiệp, dịch vụ công cộng; tài nguyên dulịch là thành phần đặc biệt của cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch, chúng cũng là phươngtiện vật chất để thỏa mãn nhu cầu của du khách
Ngoài cơ sở vật chất - kỹ thuật, điều kiện kinh tế, tổ chức thì lực lượng lao độngcũng góp phần quan trọng trong việc đón tiếp khách Bởi du lịch là một ngành sử dụnglực lượng lao động to lớn Trong du lịch bao gồm nhiều ngành nghề và trình độchuyên môn hết sức khác nhau Mặt khác, quá trình cung ứng dịch vụ du lịch là quátrình tiếp xúc trực tiếp giữa khách hàng và nhân viên cung ứng, vì vậy thái độ và trình
độ của nhân viên sẽ quyết định chất lượng phục vụ và hiệu quả kinh doanh
Cho dù các yếu tố trên đều ảnh hưởng đến sự phát triển kinh doanh du lịch thìtài nguyên du lịch vẫn là yếu tố quan trọng, là cơ sở cho việc phát triển kinh doanh dulịch Đặc biệt, ngày nay xu hướng du lịch văn hoá đang phát triển mạnh, tài nguyên dulịch văn hoá đang được khai thác triệt để Vì vậy, khi khai thác tài nguyên du lịch,chúng ta cần phải đảm bảo có một sự tương xứng giữa khai thác và bảo vệ tài nguyên
du lịch đồng thời bảo vệ môi trường
1.1.4 Tác động của du lịch đến kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường
1.1.4.1 Tác động đến kinh tế
* Tác động tích cực
Du lịch phát triển sẽ góp phần làm tăng GDP và GNP cho nền kinh tế địaphương làm du lịch Khi du lịch quốc tế phát triển, khách du lịch mang ngoại tệ đếnđổi và chi tiêu ở khu du lịch để tiêu thụ các sản phẩm du lịch từ đó góp phần làm tăngtổng số tiền trong cán cân thu chi của vùng và của đất nước du lịch, điều đó cũng có
Trang 12nghĩa là hoạt động xuất khẩu tăng do đó góp phần cân bằng cán cân thanh toán quốc
tế, đồng thời tăng GDP và GNP
Du lịch phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của các địa phương làm du lịch Dulịch phát triển sẽ góp phần tạo công ăn việc làm cho cư dân địa phương, qua đó nângcao đời sống, nâng cao thu nhập cho họ và gia đình họ Không những thế, thông quacông việc, qua giao lưu tiếp xúc trình độ văn hoá của con người ngày càng phát triển,phong phú, nền văn hoá giữa các địa phương, các dân tộc được giao thoa học hỏi lẫnnhau Đối với các nhà sản xuất, kinh doanh thì du lịch phát triển sẽ góp phần tăng thunhập, tăng lợi nhuận, còn đối với chính quyền sở tại thì du lịch phát triển sẽ góp phầntăng thu nhập từ thuế, từ đó lại quay trở lại phát triển du lịch địa phương
Du lịch phát triển sẽ góp phần kích thích đầu tư Khi du lịch phát triển thu nhậpcủa các chủ thể sẽ tăng, từ đó họ quay trở lại đầu tư phát triển du lịch Đối với chínhquyền sở tại, với Nhà nước thì đó là đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng và kiếntrúc thượng tầng Đối với các doanh nghiệp thì đó là đầu tư mở rộng, đầu tư làm mớicác doanh nghiệp Đối với cư dân địa phương thì đó là đầu tư phát triển các làng nghềthủ công truyền thống, các phong tục tập quán,…
Du lịch phát triển góp phần giải quyết việc làm cho người lao động Khi du lịchphát triển nhu cầu hàng hoá, dịch vụ tăng, từ đó đòi hỏi phải có một lực lượng laođộng lớn, nhất là khi mà ngành du lịch là ngành kinh tế dịch vụ chỉ đáp ứng chủ yếu là
du lịch và thức ăn, do đó nó đòi hỏi nhiều lao động và trong nhiều trường hợp khôngthể cơ giới hoá được như các ngành sản xuất vật chất khác Do vậy, việc phát triển dulịch là tạo thêm nhiều chỗ làm và tạo điều kiện tăng thu nhập cho nhân dân địaphương
Du lịch quốc tế còn là phương tiện tuyên truyền và quảng cáo không mất tiềncho đất nước du lịch chủ nhà Khi khách đến du lịch, khách có điều kiện làm quen vớimột số mặt hàng ở đó và mua các hàng hoá ấy về nước mình Theo cách này, du lịchquốc tế góp phần tuyên truyền cho nền sản xuất của nước du lịch chủ nhà
Du lịch tác động gián tiếp tạo hiệu quả số nhân trong du lịch Du lịch phát triển,tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ tăng qua đó tạo thu nhập cho các chủ thể trong nền kinhtế; du lịch phát triển, nhu cầu tái sản xuất, đầu tư tăng qua đó tăng hiệu quả số nhân vềvốn; du lịch phát triển còn làm tăng nhu cầu lao động qua đó góp phần tăng hiệu quả
số nhân về lao động
* Tác động tiêu cực
Trang 13Bên cạnh các mặt tích cực đó sự phát triển của du lịch cũng có những mặt tráigây ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển kinh tế xã hội của nơi làm du lịch Du lịchphát triển, sẽ góp phần làm tăng số lượng tiền lưu thông, qua đó làm cho đồng tiền mấtgiá, từ đó dẫn đến lạm phát Du lịch phát triển sẽ gây ảnh hưởng đến khả năng tiêudùng của cư dân địa phương nơi làm du lịch Khi du lịch phát triển, các sản phẩm dịch
vụ có giá trị sử dụng cao, do đó cư dân địa phương phải sống với mức sống cao hơn sovới mức sống xã hội cho phép (chi phí trên một đơn vị sản phẩm lớn hơn mức cơ bản)
và họ phải phụ thuộc vào nhu cầu của khách du lịch từ nơi khác đến
1.1.4.2 Tác động đến văn hoá - xã hội
* Tác động tích cực
Du lịch quốc tế phát triển góp phần mở rộng, củng cố các mối quan hệ kinh tếquốc tế trên các hướng: Ký hợp đồng trao đổi khách giữa các nước, tham gia các tổchức quốc tế về du lịch, hợp tác quốc tế về giao thông, vận chuyển khách trong dulịch, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực xây dựng, phát triển, tuyên truyền, quảng bá dulịch Du lịch góp phần phục hồi sức khoẻ và tăng cường sức sống cho người dân.Trong một chừng mực nào đó, du lịch có tác động hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ vàkhả năng lao động của con người, nhất là đối với các bệnh như tim mạch, thần kinh,…
du lịch rất có hiệu quả
Trong thời gian đi du lịch, khách thường sử dụng các dịch vụ, hàng hoá vàthường tiếp xúc với cư dân địa phương Thông qua các cuộc giao tiếp đó, trình độ vănhóa của khách và người bản xứ được nâng cao, đồng thời giúp họ xích lại gần nhauhơn, đoàn kết hơn và làm phong phú thêm khả năng thẩm mỹ của con người khi họđược tham quan các kho tàng, các danh thắng,… của đất nước Du lịch phát triển gópphần khai thác, bảo tồn các di sản văn hoá dân tộc, góp phần bảo vệ, tôn tạo và pháttriển môi trường tự nhiên
Du lịch quốc tế có vai trò quan trọng trong việc giáo dục tinh thần quốc tế, chocác dân tộc, làm cho mọi người gần gũi nhau hơn, góp phần bình thường hoá quan hệquốc tế, góp phần cũng cố hoà bình quốc tế và tăng thêm tình hữu nghị giữa các dântộc anh em
* Tác động tiêu cực
Trang 14Du lịch phát triển cũng có thể tác động không tốt đến văn hoá - xã hội, nhất làthuần phong mỹ tục của dân tộc Do nhìn nhận đạo đức khác nhau, một số du kháchkhông thấy hành động, cử chỉ, cách ăn mặc của mình là không phù hợp với phong tục,truyền thống của cư dân nơi du lịch Sự học hỏi theo mốt của một bộ phận cư dân bản
xứ, đặc biệt là giới thanh thiếu niên Không những thế, khi du lịch phát triển, vì mụcđích kinh tế trước mắt, các hoạt động văn hoá, tinh thần được trình diễn một cách thiếu
tự nhiên hoặc chuyên nghiệp, hoặc mang ra làm trò cười cho du khách
Du lịch phát triển, các tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, mại dâm,… lan trànnhanh chóng, gây ảnh hưởng tới trật tự, an ninh nơi làm du lịch Du lịch là con đường
mà các thế lực phản động thường hay sử dụng để tuyên truyền, kích động Đội lốt dukhách chúng thâm nhập sâu vào nước đến để móc nối xây dựng cơ sở
1.1.4.3 Tác động đến môi trường
* Tác động tích cực
Hoạt động du lịch tạo ra hiệu quả tốt đối với việc sử dụng hợp lý và bảo vệ tối
ưu các nguồn tài nguyên và môi trường Biểu hiện rõ rệt nhất của hoạt động du lịch làvấn đề bảo tồn môi trường Du lịch góp phần tích cực vào việc bảo vệ tồn các vườnquốc gia, các khu bảo tồn tự nhiên, các khu rừng văn hóa - lịch sử - môi trường, tu bổ,bảo vệ hệ thống đền đài lịch sử kiến trúc mỹ thuật
Du lịch góp phần tích cực tu sửa phát triển cảnh quan đô thị, cảnh quan tại cácđiểm du lịch như tu sửa nhà cửa cũ thành những cơ sở du lịch mới, cải thiện môitrường cho cả du khách và cư dân địa phương bằng cách gia tăng phương tiện vệ sinh,cung cấp nước, đường sá, thông tin, năng lượng, nhà cửa đưa đến sự kiểm soát ở cácđiểm du lịch nhằm bảo vệ môi trường
* Tác động tiêu cực
Cường độ hoạt động du lịch ở một vùng, một địa phương càng mạnh thì tácđộng môi trường càng lớn và dẫn đến sự xung đột giữa du lịch và môi trường Tácđộng tiêu cực thể hiện trên các mặt sau: Gia tăng mức độ tắc nghẽn giao thông, giatăng ô nhiễm không khí, nước, tiếng ồn, thay đổi cảnh quan thiên nhiên và sự thay đổi
sự quân bình môi sinh đối với môi trường sống của sinh vật, gia tăng chi phí ngănngừa, tắc nghẽn giao thông và ô nhiễm ở địa phương, chi phí tạo ra các khu vực bảotồn trên lãnh thổ của khu nghỉ dưỡng, chi phí thực hiện các dự án cải thiện, chi phíthực hiện việc bảo tồn, lịch sử và văn hóa
Trang 15Tóm lại, với những gì du lịch làm được cho kinh tế văn hóa xã hội sẽ là nềntảng để du lịch ngày càng phát triển hơn Tuy nhiên, nó cũng có ảnh hưởng không nhỏtới môi trường, vì vậy, việc khai thác và bảo vệ môi trường phải luôn luôn gắn liền vớinhau Hai vấn đề này tác động qua lại lẫn nhau và đều nhằm mục đích làm giàu đẹpcho đất nước
1.2 Khái quát về lễ hội
1.2.1 Khái niệm lễ hội
1.2.1.1 Khái niệm “lễ”
“Lễ” theo từ điển tiếng Việt là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc
kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó Trong thực tế “lễ” có nhiều ý nghĩa và một lịch sử hình thành khá phức tạp Chữ “lễ” được hình thành và biết tới từ thời nhà Chu (thế kỷ XII trước công nguyên) Lúc đầu chữ “lễ” được hiểu là lễ vật của các gia đình quý tộc, nhà Chu cúng tế thần tổ tông gọi là tế lễ Dần dần, chữ “lễ” được mở
rộng nghĩa là hình thức, phép tắc để phân biệt trên, dưới, sang, hèn, thứ bậc lớn nhỏthân sơ trong xã hội khi đã phân hoá thành đẳng cấp Cuối cùng khi xã hội đã phát
triển thì ý nghĩa của “lễ” càng được mở rộng như lễ Thành hoàng, lễ Gia tiên, lễ cầu
an, lễ cầu mưa,…
Do ngày càng mở rộng phạm vi nên đến đây “lễ” đã mang ý nghĩa bao quát mọi
nghi thức ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội Như vậy, ta có thể đi đến một
khái niệm chung: “Lễ” là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính
của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con ngườitrước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện
1.2.1.2 Khái niệm “hội”
“Hội’’ là đám vui đông người gồm hai đặc điểm là đông người, tập trung trong một địa điểm và vui chơi với nhau Nhưng nếu chỉ có vậy nhiều khi chưa thành “hội” phải bao gồm các yếu tố sau đây mới đủ ý nghĩa của nó: (1) “hội” phải được tổ chưc
nhân dịp kỷ niệm một sự kiện quan trọng nào đó liên quan đến bản làng, cộng đồng
dân tộc, (2) “hội” đem lại lợi ích tinh thần cho mọi thành viên của cộng đồng “Hội”
có nhiều trò vui náo nhiệt như câu ca dao đã từng ví “vui xem hát, nhạt xem bơi, tả tơi xem hội” Đây là sự cộng cảm cần thiết của phương diện tâm lý sau những ngày tháng
lao động vất vả với những khó khăn trong cuôc sống hàng ngày mà ai cũng phải trải
qua Đến với “hội” mọi người sẽ được giải toả thăng bằng trở lại
Trang 16Như vậy, khái niệm “hội” được tập trung lại như sau: “Hội” là sinh hoạt văn
hoá tôn giáo nghệ thuật của cộng đồng xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, sự tồn tại vàphát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân hạnh phúc cho từng dòng họ,từng gia đình Sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của những mùa màng mà bao
đời nay đã quy tụ vào niềm mơ ước chung với 4 chữ “Nhân - Khang - Vật - Thịnh” 1.2.1.3 Mối quan hệ giữa “lễ” và “hội”
Qua các lễ hội truyền thống Việt Nam ta có thể rút ra được mối quan hệ khăngkhít giữa lễ và hội Trong thưc tế, giữa lễ và hội có mối quan hệ khó tách rời, chúngluôn hoà quyện với nhau Nếu chỉ có hội mà không có lễ thì mất vẻ cung kính trangnghiêm và ngược lại nếu chỉ có lễ mà không có hội thì không còn vui nữa Vì vậy, mốiquan hệ giữa lễ và hội là không thể tách rời, chúng hoà quyện đan xen vào nhau
Trên cơ sở ấy chúng ta nhận thấy rằng người nông dân Viêt Nam đã sáng tạo lễhội như cuộc sống thứ hai của mình, đó là cuộc sống hội hè đình đám sống động đậmmàu sắc dân gian Phần cuộc sống đó thuộc về những ước mơ, những khát vọng hướngtới cái Chân - Thiện - Mỹ Ở đó cái đẹp của cuộc sống thực được bộc lộ hết mìnhtrong sự hoà hợp giữa con người với tự nhiên, sự ngưỡng mộ, tri âm với các lực lượngthần thánh siêu nhiên đã có công xây dựng và bảo vệ làng bản Vì thế lễ hội mang tínhnhân văn sâu sắc đem lại niềm hy vọng cho con người, mà con người thì không baogiờ lại không cần thiết tin và hy vọng
Như vậy, chúng ta thấy lễ và hội có mối quan hệ chặt chẽ khăng khít với nhau.Chúng luôn song hành và cùng tồn tại với nhau Ở đâu có lễ thì ở đó có hội và ngượclại
1.2.2 Phân loại lễ hội
Có nhiều cách để phân loại lễ hội, ở mỗi tiêu chí khác nhau thì phân loại lễ hộikhác nhau Dưới góc độ xã hội người ta chia lễ hội thành lễ hội mang tính chất quốcgia, dân tộc hay quốc tế Năm 1989, Đinh Gia Khánh căn cứ vào tính chất tôn giáochia lễ hội thành hai loại đó là lễ hội tôn giáo hay không tôn giáo Lễ hội cũng có thểchia thành 3 loại đó là: Lễ hội liên quan đến cuộc sống trong quan hệ với môi trường
tự nhiên (lễ hội cầu mưa, hội xuống đồng, hội cơm mới, hội đua ghe, ); lễ hội liênquan đến cuộc sống trong quan hệ với môi trường xã hội (kỷ niệm các anh hùng dựngnước, giữ nước - hội Đền Gióng, hội Đền Hùng, hội đền Hai Bà Trưng, hội Tây Sơn,hội Đống Đa, ); lễ hội liên quan đến đời sống cộng đồng hay các lễ hội tôn giáo và
Trang 17văn hóa (hội chùa Hương, hội chùa Thày, hội Phủ Giày, hội núi Bà Đen, lễ hội LaVang, Phục sinh, ).
Để phân chia lễ hội, người ta dựa vào nhiều căn cứ khác nhau Dưới là cáchphân loại lễ hội theo mục đích tổ chức và thời gian hình thành, phát triển của lễ hội
1.2.2.1 Căn cứ theo mục đích tổ chức
Ở nước ta lễ hội là sinh hoạt văn hoá vô cùng phong phú và đa dạng mà lạithường đan xen hoà lẫn vào nhau về cả nội dung lẫn hình thức Vì vậy, việc phân loại
lễ hội càng trở nên cần thiết trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu Thường người ta chia
lễ hội làm 5 loại: Lễ hội nông nghiệp, lễ hội phồn thực giao duyên, lễ hội văn nghệ, lễhội thi tài, lễ hội lịch sử
Theo tác giả Hoàng Lương trong cuốn “Lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam” đã phân lễ hội ra làm 2 loại chính: Lễ hội liên quan đến
tín ngưỡng cầu mùa; lễ hội tưởng nhớ người có công với dân tộc
Lễ hội liên quan đến tín ngưỡng cầu mùa: Đây là loại lễ hội phổ biến nhất ở các
dân tộc Nội dung lễ hội được thể hiện một cách sinh động ở các nghi thức: Lễ thứcliên quan đến chu trình sản xuất nông nghiệp; lễ thức cầu đảo; lễ rước thờ cúng hồnlúa;… Những lễ hội trên đều mang tính chất tín ngưỡng cầu mùa mong sao mùa màng
“phong đăng hoà cốc”, người an vật thịnh, ngành nghề phát triển
Lễ hội liên quan đến việc tưởng niệm công lao các vị danh nhân văn hoá, anh hùng dân tộc, các vị thành hoàng và các chư vị thánh phật Loại lễ hội này đều thờ
cúng di tích liên quan đến các vị nhiên thần và nhân thần đã có công khai sơn pháthạch, xây dựng gìn giữ bảo vệ làng xóm và các chư vị thần phật có công khai minh,khai mang đền chùa giúp dân diệt ác trừ tà, bảo vệ cái thiện
1.2.2.2 Căn cứ vào thời gian hình thành và phát triển của lễ hội
Hiện nay, mỗi khi nhắc đến lễ hội ở nước ta mọi người đều nghĩ ngay đến các
lễ hội truyền thống đã có từ xa xưa Tuy nhiên, khi phân loại lễ hội theo thời gian hìnhthành và phát triển của xã hội người Việt thì người ta chia ra thành lễ hội truyền thống
và lễ hội hiện đại
Lễ hội truyền thống là loại lễ hội sinh hoạt văn hoá sản phẩm tinh thần của con
người, là dịp con người được trở về với cội nguồn tự nhiên hay cội nguồn dân tộc đềumang ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam Đến với lễ hộitruyền thống, con người sẽ thấy mực thước hơn, sống thoải mái hơn, cảm thấy mọi khó
Trang 18khăn ngày thường tan biến hết Đây là không gian linh thiêng mọi người có thể cầumong những điều may mắn, mong cuộc sống ấm no hạnh phúc.
Lễ hội hiện đại là loại lễ hội mang tính kinh tế thương mại cao, thông thường
nội dung gắn với các nhân vật lịch sử, liên quan dến cách mạng và kháng chiến, là cáccuộc cho liên hoan du lịch triển lãm Lễ hội hiện đại ra đời vào thời gian cách mạnhtháng Tám năm 1945 Chủ yếu gắn liền với nhân vật và sự kiện lịch sử liên quan đếncách mạng: Ngày 2 tháng 9 (quốc khánh), ngày 30 tháng 4 (giải phóng miền nam) Lễhội văn hoá thể thao, liên hoan du lịch, hội chợ là những hình thức của lễ hội hiện đại.Đây là những hoạt động mang tính kinh tế gắn với việc phát triển kinh tế của vùngmiền hay ngành nghề mục đích chủ yếu là khuyếch trương quảng bá sản phẩm, hìnhảnh, thương hiệu và tôn vinh những giá trị của làng nghề, những lễ hội này phản ánhnhu cầu và xu thế phát triển của thời đại mới Qua đó lễ hội tạo ra những cơ hội mới,
kí kết hợp đồng kinh tế và nhận biết được xu thế phát triển của xã hội từ đó địnhhướng phát triển lễ hội cho phù hợp
1.2.3 Chức năng, vai trò và tác động của lễ hội
1.2.3.1 Chức năng của lễ hội
Trong các nền văn hóa ở các không gian và thời gian khác nhau, luôn có mộtbiểu thị chung, mang tính nhân loại: Lễ hội truyền thống Sinh thành trong các lễ hội
cổ truyền, các lễ hội truyền thống trải qua nhiều biến thiên lịch sử và vẫn tồn tại bềnvững trong các xã hội hiện đại Tính bền vững ấy của lễ hội được lí giải bằng nhiều lí
lẽ khác nhau, trong đó các lí giải theo quan điểm chức năng luận dường như có sứcthuyết phục hơn cả
Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã tập trung vào hướng phân tíchnày, tuy nhiên vẫn chưa có sự thống nhất cao về số lượng cũng như tính chất của chứcnăng lễ hội cổ truyền Về số lượng, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, lễ hội cổ truyền cóhai chức năng, có người chia thành ba chức năng Về tính chất, các ý kiến cũng còn rấtkhác nhau Một cách tổng quan, có thể liệt kê những ý kiến khác nhau ấy về chức năngcủa lễ hội truyền thống thành những chức năng sau: Củng cố những mối liên hệ giữacác nhóm, khẳng định tinh thần cộng đồng; khẳng định trình độ văn hóa của một cộngđồng và giao lưu văn hóa trên quy mô xã hội; phản ánh và bảo lưu truyền thống; tuyêntruyền giáo dục; hưởng thụ và giải trí; đáp ứng nhu cầu về đời sống tinh thần; nhậnthức xã hội; chức năng tâm linh; nhận thức cộng cảm
Trang 19Tóm lại, lễ hội là phương thức toàn diện để đối tượng hóa, hiện thực hóa hệ giátrị cộng đồng thông qua sự thực hành những nghi thức trong lễ và những khuôn mẫuứng xử ngoài lễ như những cuộc ăn uống vui chơi Cuộc sống luôn có những biếnđộng thay đổi, lễ hội cũng vậy luôn biến đổi để thích ứng với cuộc sống Tuy nhiên, lễhội sẽ không mất đi bởi lễ hội có chức năng đặc thù thỏa mãn được nhu cầu văn hóatổng hợp của cộng đồng và phù hợp với nhu cầu cố kết của bất cứ cộng đồng nào,trong bất kì hoàn cảnh nào.
1.2.3.2 Vai trò của lễ hội
Lễ hội có nhiều ý nghĩa to lớn, lễ hội thể hiện tư tưởng, tình cảm, thái độ củangười dân đối với thế giới đã khuất Thông qua lễ hội con người tưởng nhớ tới côngđức, ông bà tổ tiên thông qua việc thờ cúng Lễ hội cũng là địa điểm để mọi người thithố tài năng, nơi đó có nhiều trò chơi dân gian như: Đua thuyền, đánh đu, ném còn, hátgiao duyên, hát đối đáp, hát bài chòi, đánh cờ người,… chính những trò chơi dân giannày tạo điều kiện để người dân gần gũi nhau hơn, hiểu nhau và cùng nhau tham giatích cực để dành chiến thắng trong các trò chơi
Lễ hội quả thật là một điểm văn hoá sống, một bảo tàng sống của người Việt từ
cổ đại đến nay, có tác dụng bảo lưu phát triển bản sắc văn hoá Đối với mỗi người, lễhội trở nên thân thiết, là nỗi nhớ thiêng liêng, mãnh liệt, là nơi con người kì thác mọiniềm vui, nỗi buồn Đây còn là biểu hiện giá trị của một cộng đồng: Thông qua vuichơi, con người lấy lại thăng bằng sau những khó khăn lo toan của cuộc sống thườngnhật; sức cố kết của lễ hội đã làm xoa dịu những đố kị, có khi cả những hận thù diễn ratrong những quan hệ hàng ngày; lễ hội là dịp để hoàn thiện các chủng loại văn hoá; làdịp để con người vươn lên đời sống văn hoá cao hơn và bộc lộ hết tinh hoa của mình
Lễ hội còn là nơi nhắc nhở người ta sống trật tự, mực thước góp phần làm cho cuộcsống tốt đẹp hơn Là nơi thể hiện năng khiếu thẩm mĩ của cộng đồng, tất cả phải đượcchuẩn bị hết sức chu đáo Đồng thời cũng khuyến khích tài năng lao động và vui chơi,
đề cao cái cao cả, cái bi, cái hài của cuộc sống
Như vậy, chúng ta thấy rằng vai trò của lễ hội rất quan trọng, không chỉ trongđời sống hàng ngày, thể hiện ý nghĩa văn hoá mà nó còn là một trong những khuônmẫu chuẩn mực để con người noi theo Muốn cho lễ hội nước ta mãi giữ được bản sắcchúng ta cần khắc phục một số mặt tiêu cực như thương mại hoá các hoạt động mê tín
dị đoan, tệ nạn đánh bạc tập quán lạc hậu,…
1.2.3.3 Tác động của lễ hội
Trang 20* Đối với kinh tế.
Ngày nay khi xã hội phát triển, đời sống con người được nâng cao thì du lịchtrở thành quan trọng nhất trong ngoại thương nền kinh tế mở cửa và là một hiện tượngkinh tế phổ biến Đối với một số quốc gia, du lịch là nguồn thu ngoại tệ quan trọngtrong ngoại thương Tại nhiều quốc gia trên thế giới, du lịch đã trở thành ngành kinh tếmũi nhọn hàng đầu Đặc biệt du lich lễ hội làm cho nền kinh tế tăng trưởng khá cao,tạo sự thu hút cho khách đi du lịch
Lễ hội cũng góp phần làm cho cuộc sống của người dân được cải thiện Vàomùa hội những mặt hàng dịch vụ được tăng lên cao tạo điều kiện cho người dân xoáđói giảm nghèo, không những vậy, lễ hội còn tác động đến du lịch Lễ hội là loại kinh
tế mở, nó vừa giới thiệu quảng bá được những chương trình du lịch hấp dẫn với dukhách, tạo sự giao lưu đan xen giữa các vùng miền góp phần làm cho kinh tế phát triểnhơn nữa làm giàu cho kho tàng văn hoá, bản sắc dân tộc, tăng doanh thu cho các công
ty du lịch Lễ hội thay đổi diện mạo của các điểm du lịch, xóa đi sự nhàm chán đơnđiệu của các điểm du lịch Hoạt động này còn là nơi trưng bày và trình diễn các sảnphẩm truyền thống của địa phương người ta gọi là kinh tế xuất khẩu tại chỗ, tạo điềukiện tốt để kinh doanh, là cơ hội để đón nhiều đối tượng khách từ nhiều vùng miền cảnước, tạo tăng doanh thu cho địa phương đó và cũng làm cho đất nước đó phát triển
* Đối với chính trị - xã hội
Mặt khác, lễ hội mang tính đối ngoại, là nơi giao lưu tình bạn giữa các nướcnên góp phần làm cho đất nước ổn định Ví dụ, Thánh Gióng mặc dù chỉ là sự biểutượng huyền thoại nhưng sự nghiệp đánh giặc của Gióng là sự nghiệp của cả nước,khơi gợi lại niềm tự hào của cả dân tộc đã từng có thời kì anh hùng chống lại giặcngoại xâm Hơn nữa, mở hội Gióng là đề cao khát khao ước mơ mong có sức mạnhphi thường để chiến thắng mọi kẻ thù Sức mạnh đó thực ra là sức mạnh của cuộcchiến tranh nhân dân cũng như sức mạnh của chính trị - xã hội trong thời bình
Lễ hội còn ảnh hưởng đến xã hội vì giá trị xã hội thể hiện ở cộng đồng, qua lễhội đã thể hiện được cuộc sống mực thước, mọi người hướng thiện và sống khoandung hơn, cao thượng hơn và sự nhân đạo của nhân dân ta Nếu không có lễ hội, xã hội
ít đi tính cộng đồng, con người ít quan tâm và sống ít kỷ hơn Chính vì vậy, lễ hội ảnhhưởng lớn đến chính trị - xã hội
* Đối với văn hoá
Trang 21Lễ hội là một công cụ văn hoá đa năng để giới thiệu những cái hay cái đẹp củađất nước con người trong thời đại mới Lễ hội ảnh hưởng lớn đến văn hoá vì khi đến lễhội con người sẽ sống hòa đồng hơn, vui vẻ hơn, nói năng lịch sự hơn
Trong lễ hội, người ta thường khai thác giá trị truyền thống, văn hóa ẩm thực,thủ công mĩ nghệ nên các văn hoá của lễ hội góp phần làm cho lễ hội phong phú hơn,hấp dẫn hơn Đặc biệt, khi tham gia lễ hội du khách có dịp tham gia các trò chơi dângian, họ gặp gỡ giao lưu các nền văn hoá với nhau Thông qua nghi thức cúng tế, dânghương, rước kiệu, du khách có thể hiểu được nét văn hoá đặc sắc góp phần làm giàuvốn tri thức của họ
1.3 Mối quan hệ giữa lễ hội và du lịch
1.3.1 Tác động của lễ hội đến du lịch
Trong điều luật 79 của luật du lịch Việt Nam đã xác định rõ, Nhà nước tổ chứchoạt động hướng dẫn du lịch xúc tiến du lịch với các nội dung tuyên truyền giao tiếprộng rãi về đất nước, con người Việt Nam, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử,… Do
đó, lễ hội sẽ làm cho du lịch phát triển hơn, lễ hội làm cho du lịch trở nên hấp dẫn tạocho số lượng khách đông hơn Du khách đến lễ hội đông kéo theo những nhu cầu khácnhau, khi đó những mặt hàng ngành du lịch tăng lên
Bản chất của du lịch Việt Nam là du lịch văn hoá, du lịch Việt Nam muốn pháttriển tất yếu phải khai thác sử dụng giá trị văn hoá truyền thống, cách tân và hiện đạihoá sao cho phù hợp hiệu quả, trong đó có kho tàng lễ hội truyền thống Đây là mộtthành tố đặc sắc văn hoá Việt Nam cho nên phát triển du lịch lễ hội chính là lễ hội sửdụng ưu thế của du lịch Việt Nam trong việc thu hút và phục vụ khách du lịch Mùa lễhội cũng là mùa du lịch tạo nên hình thức du lịch lễ hội mang bản sắc văn hóa dân tộcđược thể hiện qua các sắc thái văn hoá các địa phương, vùng miền phong phú đặc sắc
1.3.2 Tác động của du lịch đến lễ hội
Lễ hội và du lịch luôn luôn có sự tác động qua lại với nhau và cùng nhau pháttriển làm hoàn thiện hơn ngành du lịch Trước hết, hoạt động du lịch có nhiều tác động
Trang 22tích cực đối với lễ hội Du lịch có những đặc trưng riêng làm cải biến hay làm hấp dẫnhơn lễ hội truyền thống Du lịch mang đến nguồn lợi kinh tế cao cho các địa phương
có lễ hội, du lịch tạo việc làm cho người dân địa phương thông qua dịch vụ như: Vậnchuyển khách, bán hàng hoá, đồ lưu niệm,… Nhân dân vùng có lễ hội vừa quảng báhình ảnh văn hoá về đời sống mọi mặt của địa phương mình, vừa có dịp giao lưu, họchỏi tinh hoa văn hoá đem đến từ du khách
Bên cạnh những tác động tích cực còn có những tác động tiêu cực của du lịchđối với lễ hội Với thời gian và không gian hữu hạn của các lễ hội truyền thống vốn chỉphù hợp với điều kiện riêng của các địa phương, thực tế, khi khách du lịch tới đông sẽảnh hưởng thay đổi, đôi khi đảo lộn các hoạt động bình thường của địa phương nơi có
lễ hội
Hoạt động du lịch với những đặc thù riêng của nó làm biến dạng các lễ hộitruyền thống Vì lễ hội truyền thống có đặc tính mở thì vẫn còn những hạn chế nhấtđịnh về điều kiện kinh tế, văn hoá xã hội cổ truyền Nay hoạt động du lịch mang tínhliên chất, liên ngành, liên vùng, xã hội hoá cao,… sẽ làm mất đi sự cân bằng dẫn đếnphá vỡ các khuôn mẫu truyền thống của địa phương trong quá trình diễn ra lễ hội.Hiện tượng thương mại hoá các hoạt động lễ hội như: Lừa đảo, bắt chẹt khách để thulợi nhuận tạo hình ảnh xấu làm cho du khách có cảm giác hụt hẫng trước một khônggian linh thiêng mà tính tôn nghiêm vẫn chưa được kiểm soát chặt chẽ, làm cho khách
đi mà không muốn quay lại lần sau Du khách đến với lễ hội kéo theo những nhu cầumất cân đối trong quan hệ cung cầu dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái
nhân văn Bản sắc văn hoá của vùng miền có nguy cơ bị “mờ” do kết quả của sự giao
thoa văn hoá thiếu lành mạnh không thể tránh khỏi đem đến từ một bộ phận du khách
Trang 23CHƯƠNG 2: LỄ HỘI Ở HUYỆN THỌ XUÂN - THANH HÓA
2.1 Huyện Thọ Xuân và tiềm năng du lịch
2.1.1 Khái quát huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Huyện Thọ Xuân, nằm về phía tây bắc thành phố Thanh Hóa, với tọa độ địa lý
19050’ bắc và 105025’ - 105030’ đông Phía tây bắc giáp huyện Ngọc Lặc, nam giáphuyện Triệu Sơn, tây giáp Thường Xuân, đông - đông bắc giáp Yên Định, đông - đôngnam giáp Thiệu Hóa Với diện tích tự nhiên là 30.035 ha, hiện nay toàn huyện có 38 xã
và 3 thị trấn trực thuộc đơn vị hành chính cấp huyện
Ở vào vị trí cửa ngõ nối liền đồng bằng với trung du miền núi, lại có dòng sôngChu - con sông lớn thứ hai của tỉnh đi qua từ đầu cho đến cuối huyện, có sân bay quân
sự Sao Vàng, có đường Hồ Chí Minh và quốc lộ 47 chạy qua, Thọ Xuân đã thực sự trởthành vùng đất mở, rất thuận lợi cho việc hội nhập, giao lưu với tất cả các vùng miềntrong và ngoài tỉnh Từ Thọ Xuân cũng có đường qua vào Nghệ An, rồi từ Thọ Xuâncũng qua đất bạn Lào,… nếu theo đường sông Chu gặp sông Mã ở ngã ba Giàng,chúng ta có thể đến được hầu khắp các vùng trong và ngoài tỉnh
Chính vì có vị trí địa lý đặc biệt như vậy, đã tạo cho huyện Thọ Xuân nhiều thếmạnh và sắc thái riêng mà nhiều vùng đất không có Vị trí đó đã tạo ra bản sắc văn hóariêng có của huyện và đây cũng là thế mạnh để Thọ Xuân phát triển kinh tế Trong
suốt trường kì lịch sử, vùng đất của “thiên thời - địa lợi - nhân hòa” này đã trở thành
điểm hẹn lý tưởng để các dòng người từ nơi khác đổ về, khai thác lập nghiệp, sinh tồn
và phát triển thành một huyện Thọ Xuân giàu đẹp như hôm nay
* Địa hình
Là huyện đồng bằng nối liền miền núi và trung du, địa hình của Thọ Xuân cóthể chia thành hai dạng địa hình cơ bản, đó là vùng trung du đồi núi thấp và vùng đồngbằng rộng lớn tiêu biểu của xứ Thanh
Vùng trung du gồm 13 xã nằm về phía Tây Bắc và Tây Nam của huyện Đây làvùng đồi thoải có độ cao từ 15 - 150m, thích hợp cho việc trồng các loại cây côngnghiệp, cây ăn quả, lâm nghiệp,… Vùng đồng bằng: Gồm 27 xã, 1 thị trấn nằm haiphía tả và hữu ngạn sông Chu, có độ cao từ 6m - 17m Vùng này được chia thành 2
Trang 24tiểu vùng: Tiểu vùng hữu ngạn sông Chu và tiểu vùng tả ngạn sông Chu Địa hình ThọXuân đa dạng có tác động lớn đến việc bố trí khu dân cư, đầu tư xây dựng cơ sở hạtầng, bố trí vùng chuyên canh và thâm canh lớn, phát triển công nghiệp, nông nghiệp,tạo tiền đề cho phát huy lợi thế, phát triển nền kinh tế phong phú, đa dạng.
* Khí hậu
Là vùng tiếp giáp giữa hai nền khí hậu của đồng bằng Bắc Bộ và khu IV cũ, là
sự nối tiếp giữa đồng bằng với trung du miền núi, nền khí hậu của huyện Thọ Xuânvẫn là nền khí hậu của khu vực nhiệt đới gió mùa Nhưng ngoài những yếu tố chung,khí hậu ở đây vẫn có những yếu tố khác biệt, đặc thù riêng Nhiệt độ không khí bìnhquân năm 23,40C; nhiệt độ cao tuyệt đối 41,10C; thấp tuyệt đối 4,10C Biên độ nhiệtngày - đêm 6,60C Độ ẩm không khí bình quân 86% Lượng mưa bình quân 1.642mm,năm cao nhất 2.947mm, năm thấp nhất 1.459mm Tổng số giờ nắng trung bình trongnăm 1.680 giờ Số ngày có sương mù trong năm tập trung vào các tháng 11 và 12, từ 6
- 8 ngày, sương mù xuất hiện làm tăng độ ẩm không khí và đất
* Thuỷ văn - Sông ngòi
Thọ Xuân nằm trong vùng thuỷ văn sông Chu, có 3 con sông chảy qua: sôngChu, sông Hoàng, sông Cầu Chày
Sông Chu: Bắt nguồn từ Mường Sang, cách Sầm Nưa (Lào) 15km Toàn bộchiều dài sông 270km, diện tích lưu vực 7500km2; phần chảy qua huyện Thọ Xuân dài29,4km Lượng nguồn có độ dốc lớn, lòng sông sâu, bề ngang sông hẹp, dòng chảyuốn khúc, bắt nguồn từ những vùng núi trọc cao, làm cho nước sông không ổn địnhgiữa mùa mưa và mùa khô cạn
Sông Cầu Chày: Bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Khê, huyện Ngọc Lặc, chảy qua 2huyện Thọ Xuân và Yên Điên Định có chiều dài 87km, diện tích lưu vực 551 km2,trong đó, đoạn chảy qua địa phận huyện Thọ Xuân 24km
Sông Hoàng (hay còn gọi là sông Nhà Lê): Bắt nguồn từ dãy núi phía Tây nôngtrường Sao Vàng, chiều dài 81km, diện tích lưu vực 105km, lưu lượng lũ lớn nhất76,5m3/s, lưu lượng kiệt 0,1m3/s Lòng sông quanh co uốn khúc, sông ngắn nên lũ tậptrung khá nhanh dễ gây ngập úng
Nhìn chung, hệ thống sông ngòi ở Thọ Xuân rất phong phú, có nước quanhnăm Tổng lượng nước trên các sông đều lớn, khả năng lợi dụng nước nguồn còn nhiều
Trang 25tiềm năng như đập Bái Thượng (ở Sông Chu), đập Cầu Nha (ở sông Cầu Chày) Bêncạnh đó, trên địa bàn huyện còn có nhiều hồ, ao nằm phân tán rải rác
* Rừng và tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên rừng của Thọ Xuân chủ yếu là rừng trồng mới được khôi phục,động vật hầu như không có Kết quả kiểm tra rừng năm 2008, Thọ Xuân có 2.799,62harừng, trong đó đất rừng sản xuất là 2672,84ha, đất rừng phòng hộ 107,78ha, đất rừngđặc dụng 19,0ha Trữ lượng rừng 12.391m3 trong đó: Bạch đàn 9349m3, xà cừ và lim468m3 và gần 100 triệu cây tre, nứa, luồng có cấp tuổi 2 năm
Khoáng sản ở Thọ Xuân, chủ yếu là khoáng sản phi kim loại như: Đá vôi, đáxây dựng tập chung ở các xã Thọ Lâm, Xuân Phú, Xuân Thắng, Xuân Châu Ngoài racòn có đá, sỏi, cát xây dựng tập trung ở các xã ven sông Chu và đất sét làm gạch ngói
ở nhiều xã trong huyện Tài nguyên khoáng sản ở Thọ Xuân tuy không phong phú và
đa dạng về loại hình so với những vùng đất khác, nhưng khoáng sản ở Thọ Xuân vẫn
là nguồn lực quan trọng và to lớn để tận dụng khai thác trong vùng
Tóm lại, với các yếu tố cơ bản của vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đã trìnhbày ở trên, chúng ta thấy Thọ Xuân có đủ những điều kiện thuận lợi để phát triển kinh
tế nông - lâm nghiệp và du lịch theo hướng hiện đại hóa một cách toàn diện, bền vững.Mặc dù còn có những khó khăn bất cập, song bằng sự phấn đấu bền bỉ, kiên trì, vớinghị lực phi thường cộng với sự thông minh sáng tạo và năng động, lãnh đạo và ngườidân huyện Thọ Xuân đang phấn đấu đưa huyện phát triển ngày một giàu đẹp hơn trêntất cả các mặt kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng
2.1.1.2 Lịch sử hình thành huyện
Nhìn trên bản đồ huyện Thọ Xuân ngày nay, xét về phạm vi cương vực lãnhthổ, về cơ bản vùng đất Thọ Xuân hiện tại vốn là đất của huyện Lôi Dương thuộc phủThọ Xuân (năm Minh Mệnh thứ 2 - 1821) và một phần huyện Thụy Nguyên Về tênhuyện Thọ Xuân, thấy xuất hiện trong cơ cấu tổ chức hành chính dưới thời Lê Sơ Saunhiều lần tách nhập địa chính, từ năm 1945, tên huyện Thọ Xuân được gọi như ngàynay
Là một vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời, vì vậy ngay từ rất sớm Thọ Xuân
đã là vùng đất thuận lợi cho sự cư trú của con người, không những thế đây còn là nơiđược các nhà khảo cổ phát hiện sự ẩn chứa nhiều tầng văn hóa
Trang 26Qua nghiên cứu của các nhà khoa học, dấu vết của Văn hóa Sơn Vi đã được xác
định trên vùng đất Thọ Xuân ngày nay Trên các đồi gò thấp thuộc các xã phía bắcsông Chu như: Xuân Thiên, Xuân Lập, Xuân Minh, các nhà khảo cổ đã phát hiện ramột số công cụ đá mang dấu ấn văn hóa Sơn Vi, đó là những công cụ bằng đá cuộiđược ghè đẽo thô sơ Các loại công cụ đá nguyên thủy này được các nhà khảo cổ họcgọi là các công cụ có lưỡi dọc, công cụ hình mũi nhọn,…
Tiếp theo văn hóa Sơn Vi, văn hóa Đông Sơn cũng hiện diện trên địa bàn huyện
Thọ Xuân Dấu tích văn hóa Đông Sơn được phát hiện ngày càng nhiều thuộc các xã:Xuân Lập, Xuân Thiên, Xuân Thành, Hạnh Phúc,… Tại các xã này, ngoài các di vậttiêu biểu của văn hóa Đông Sơn như cán dao hình người, trống đồng, thạp đồng, đồtrang sức, đồ gốm, còn phát hiện được một số tích cư trú lâu dài của chủ nhân thời kìnày
Đặc biệt, ở Thọ Xuân còn là nơi phát hiện được nhiều trống đồng - sản phẩmtiêu biểu của nền văn minh Đông Sơn, trống đồng được phát hiện ở các xã Hạnh Phúc,Xuân Lập và Bàn Thạch đó là loại trống đồng có kích thước lớn, hoa văn phong phúnhư: Hình mặt trời, hình chữ V lồng, hoa văn hình chim, Ngoài trống đồng còn pháthiện được một số dao găm hay thạp đồng, thố đồng có kích thước lớn và hoa văn độcđáo Với dấu vết của những nền văn hóa như Sơn Vi, Đông Sơn, Thọ Xuân được biếtđến như một vùng đất có lịch sử phát triển lâu đời, xuyên suốt chiều dài lịch sử
Bước vào thế kỉ X - thế kỉ có những chuyển biến đáng kể trên tất cả các mặt củađời sống kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, trong đó Thanh Hóa (tức Châu Ái bấy giờ)
là một trong những vùng đất sôi động nhất Nói đến sự cống hiến của Thanh Hóa ởgiai đoạn này phải nhắc đến Lê Hoàn - một nhân vật lịch sử vĩ đại, người con anh hùngquê ở làng Trung Lập, huyện Thọ Xuân Lê Hoàn đã có công giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹploạn mười hai sứ quân, dẹp tan nội loạn trong triều đình và đánh tan hai cuộc xâm lượccủa Chiêm Thành và quân Tống Hiện nay, trên mảnh đất Thọ Xuân, nhân dân vẫn tổchức lễ hội Lê Hoàn vào ngày giỗ tỗ của vua hàng năm
Sự hưng thịnh và suy tàn của một triều đại phong kiến là điều tất yếu của lịch
sử Trong dòng chảy hào hùng và đầy biến động đó, triều Tiền Lê dần suy tàn, thayvào đó là các triều Lý - Trần - Hồ Đến thế kỉ XV, Minh Thành Tổ (1403 - 1424) phái
80 vạn quân sang xâm lược Đại Việt, sau khi nhà Hồ nhanh chóng suy tàn, một thời kìlịch sử mới bắt đầu, thời kì đánh đuổi giặc Minh giành độc lập cho dân tộc Chínhnhững tháng ngày này, lòng yêu nước của nhân dân ta sục sôi tạo thành một làn sóng
Trang 27mạnh mẽ quy tụ về vùng đất Lam Sơn (Thọ Xuân), dưới ngọn cờ của người anh hùng
Lê Lợi và tạo nên khởi nghĩa Lam Sơn huyền thoại Sau mười năm kháng chiến chốngquân Minh thắng lợi, Lê Lợi lập nên nhà Hậu Lê kéo dài 360 năm hiển hách, đây là cộinguồn các cuộc ra đi, trao đổi in đậm mãi trong truyền thuyết và sử sách Việt Nam Sự
ra đời và tồn tại của nhà Hậu Lê đã để lại cho thế hệ sau một di tích có giá trị to lớn vềlịch sử - văn hóa, đó là khu di tích Lam Kinh, đặc biệt một văn hóa phi vật thể - lễ hộiLam Kinh hiện đang thu hút sự quan tâm đầu tư của lãnh đạo các cấp và nhân dântrong cả nước
Cuối thế kỉ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, cũng trong tình hìnhchung của cả nước, nhân dân Thọ Xuân bị bóc lột nặng nề Thực dân Pháp chiếm hếtđất đai, khai thác khoáng sản, lâm sản, đầu tư vào giao thông vận tải như xây dựng cầuPhủ, cầu Vàng, cầu Phúc Như,… đặc biệt cho xây dựng đập Bái Thượng trên sôngChu với mục đích tưới tiêu Chính điều này đã thúc đẩy nhiều phong trào yêu nướcbùng nổ
Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời 3/2/1930 là một bước ngoặt vĩ đại của cáchmạng Việt Nam và dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đưa cách mạng Việt Nam giànhthắng lợi, với những chiến thắng như Cách mạng tháng Tám 1945, Điện Biên Phủ7/1954 và đỉnh cao là đại thắng mùa xuân 1975 Trong không khí hào hùng chung củadân tộc, Thọ Xuân bước vào những ngày khôi phục và xây dựng kinh tế xã hội, nhữngđổi mới quan trọng giúp Thọ Xuân đạt được nhiều thành tựu trên mọi mặt
Như vậy, qua lịch sử huyện Thọ Xuân chúng ta thấy rằng đây là vùng đất có bềdày truyền thống yêu nước, truyền thống lịch sử lâu đời Sự lớn mạnh của hệ thốngĐảng, chính quyền, đoàn thể và tinh thần cách mạng cao của quần chúng nhân dân mà
sự nghiệp đổi mới của Thọ Xuân giành được nhiều thắng lợi Đây sẽ là tiền đề đểnhững giá trị văn hóa truyền thống của huyện tiếp tục được xây dựng, phát triển và lưutruyền cho các thế hệ sau
2.1.1.3 Điều kiện kinh tế, xã hội
Bước vào thời kỳ đổi mới, Thọ Xuân vẫn luôn xác định “Nông nghiệp là mặt trận hàng đầu” Nhưng với sự gia đời và hoạt động của khu công nghiệp mía đường
Lam Sơn và nhà máy giấy Mục Sơn đã có tác dụng làm thay đổi cục diện kinh tế cho
15 xã và vùng bán sơn địa và miền núi của huyện
Về nông - lâm nghiệp, nông nghiệp có sự chuyển đổi nhanh chóng về cơ cấucây trồng, vật nuôi phù hợp theo xu hướng sản xuất hàng hóa ở các vùng chuyên canh,
Trang 28thâm canh Năng suất lúa và cây lương thực tăng lên rõ rệt Sản lượng mía đườngnguyên liệu đạt hơn 223 nghìn tấn/năm Về chăn nuôi: Cơ cấu đàn gia súc, gia cầmđược thay đổi cơ bản theo hướng năng suất và chất lượng Về lâm nghiệp: Huyện đãchuyển nhanh từ khai thác sang trồng mới, phủ xanh đất trống đồi trọc, khoanh nuôichăm sóc,bảo vệ rừng, nâng cao hiệu quả kinh tế lâm nghiệp.
Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Giá trị sản xuất bình quân hàng nămtrên 19,2% Các ngành nghề truyền thống như: Cót na, cót ép, gạch ngói, cơ khí tiếptục phát triển cả quy mô, số lượng và chất lượng Nghề trồng dâu nuôi tằm đã bắt đầuđược khôi phục với tiềm năng đầy triển vọng Các nghề như làm bột giấy, nghề mộccao cấp, nghề xẻ xuất khẩu,… phát triển nhanh chóng
Các hoạt động dịch vụ - thương mại phát triển ngày một nhiều ở khắp các địaphương trong huyện bình quân tăng 19%/ năm Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụtiêu dùng xã hội hàng năm đạt 643 tỷ đồng trở lên Hoạt động dịch vụ du lịch và dịch
vụ lễ hội ngày càng tạo sức hút như ở khu di tích lịch sử Lam Kinh, khu di tích lịch sử
Lê Hoàn và lăng mộ vua Lê Dụ Tông Hoạt động tài chính, ngân hàng và tín dùng đều
có sự đổi mới, tích cực huy dộng vốn trong nhân dân, đầu tư hiệu quả cho các doanhnghiệp và hộ gia đình làm kinh tế Hiện tại, đời sống của nhân dân được cải thiện rõrệt, số hộ giàu và khá ngày một tăng
Trong những năm gần đây, thực hiện các chủ trương chính sách phát triển kinh
tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần
thứ V (Khoá IX tháng 2/2002) về “Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn thời kỳ 2001 - 2010”, huyện Thọ Xuân đã tập trung vào đầu tư xây
dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng phục vụ sản xuất và nhu cầu đi lại của người dân,các công trình hạ tầng ngày càng được đầu tư, nâng cấp Hệ thống giao thông trên địabàn huyện được hình thành và phân bố hợp lý Trên địa bàn huyện hiện có 1.209kmđường bộ, bao gồm hệ thống quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện, đường xã quản lý Trongđó: Đường quốc lộ 4 tuyến; quốc lộ 47, quốc lộ 506, quốc lộ 15, đường Hồ Chí Minh
đi qua huyện với chiều dài 36,2km, hầu hết các con đường đã được trải nhựa Có 2tuyến sông đi qua gồm: Sông Chu và sông Cầu Chày Nhìn chung, hệ thống giao thôngtrên địa bàn huyện được phân bố hợp lý, phục vụ tốt những yêu cầu đi lại và giao lưuhàng hoá trong vùng, tuy nhiên một số tuyến đường còn hẹp, chất lượng xấu, cần quantâm đầu tư cải tạo và nâng cấp
Trang 29Hệ thống y tế từ huyện đến cơ sở được cũng cố, cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹthuật được tăng cường; tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ được nâng cao Hiệnnay huyện có 1 bệnh viện, 3 phân viện và 41 trạm xá xã với tổng số 268 giường bệnh;toàn huyện có 290 cán bộ y tế, trong đó có 244 y, bác sỹ Công tác phòng chống dịchbệnh, vệ sinh môi trường được triển khai thực hiện có hiệu quả, tim chủng mở rộngđược tiến hành thường xuyên hàng năm, ngăn ngừa có hiệu quả một số loại dịch bệnhphát sinh trên địa bàn
Về văn hóa thể thao, đến hết năm 2008 toàn huyện có 41 nhà văn hoá xã, thịtrấn, 1 nhà văn hoá huyện và 180 nhà văn hoá thôn, làng, khu phố (chiếm 46% tổng sốthôn) Phòng đọc sách báo thông thường được sử dụng chung với nhà văn hoá thôn.Những năm gần đây ngành văn hoá đã có nhiều cố gắng trong xây dựng nếp sống vănhoá ở nông thôn, động viên các địa phương xây dựng các công trình văn hoá Tất cảcác xã, thị trấn trong huyện đã có sân vận động, điểm vui chơi thể dục thể thao
Do thực hiện tốt chương trình phổ cập giáo dục và chăm sóc sức khoẻ nhân dânnên chất lượng dân số của huyện không ngừng được nâng cao Huyện đã đạt phổ cậpgiáo dục trung học cơ sở đúng độ tuổi, có 40 trường đạt chuẩn Quốc gia, trong đó 4trường mầm non, 28 trường tiểu học, 8 trường trung học cơ sở Trẻ em trên địa bànđược quan tâm ngày càng tốt hơn, toàn diện hơn
Toàn huyện có 101 trạm biến áp với tổng dung lượng đạt 26.220KVA, tăng14% so năm 2000 Tổng chiều dài đường dây 358km Đến nay trên địa bàn huyện100% số xã, thị trấn đã được sử dụng điện lưới quốc gia, ngành điện cơ bản đã cungcấp đủ nguồn điện phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và đời sống dân sinh
Về hệ thống thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông, toàn huyện đã có 7 bưucục, 35 điểm đã có bưu điện văn hoá xã Mạng cố định gồm có 20 trạm chuyển mạch(tổng đài) phục vụ cho 41 xã, thị trấn Trong đó có 6 trạm chuyển mạch có thiết bịDSLAM phục vụ cho chuy cập Internet tốc độ cao (ADSL) Mạng di động có trạmphát sóng của Vinaphone, Mobiphone, Viettel,…
Hiện nay toàn huyện có 23 chợ, trong đó có 15 chợ bán kiên cố (tổng diện tích59.369m2), 6 chợ tạm (tổng diện tích 23.649m2) Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, cungứng hàng hoá đang dần được cải thiện, hàng hoá được trao đổi rộng khắp, đặc biệthàng hoá cung ứng cho vùng sâu, vùng xa ngày càng được quan tâm hơn
Trang 302.1.1.4 Đặc điểm văn hóa, dân cư
Dân số toàn huyện năm 2008 là 239,6 nghìn người, dân tộc Kinh là chủ yếu,chiếm khoảng 80% dân số, dân tộc Mường, Thái chiếm 20%
Thọ Xuân là địa bàn có lịch sử phát triển lâu đời, nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch
sử sôi động, phong phú và hiển hách Có thể thấy trên bức tranh toàn cảnh từ nhữngdấu vết hoạt động chủ yếu của con người cổ xưa trong nền văn hóa Sơn Vi đến trang
mở nước đầu tiên của sự hình thành nền văn minh dân tộc: Văn minh Đông Sơn.Trong chặng đường lịch sử phát triển, bằng đấu tranh và lao động sáng tạo, nhiều thế
hệ người Thọ Xuân đã kế tiếp nhau đổ mồ hôi, máu xương và nước mắt để tạo dựngnên mảnh đất này không ít những kỳ tích, dẫu phải trải qua biết bao thăng trầm lịch sử.Chính vì thế Thọ Xuân không chỉ được biết đến với vùng đất cổ, có truyền thống lịch
sử, văn hóa phong phú mà còn là quê hương của nhiều danh nhân đất nước, nhiều hàokiệt qua các thời đại, đặc biệt thời Tiền Lê và Hậu Lê Tiếp nối truyền thống văn hóacủa cha ông, con người huyện Thọ Xuân có tinh thần hiếu học, đỗ đạt làm quan nhiều
Từ thời phong kiến đã có nhiều danh nhân nổi tiếng như: Lê Quan Sát, Lê Hoàn, LêLợi, Nguyễn Nhữ Lãm, Lê Sao,… Hiện nay, có trường trung học cơ sở Lê ThánhTông và trường trung học phổ thông Lê Lợi nổi tiếng vì tiếng vì tinh thần hiếu học vàchất lượng giáo dục tốt, luôn được giải cao trong các kì thi học sinh giỏi quốc gia,cống hiến cho đất nước nhiều nhân tài
Thọ Xuân cũng là nơi có nhiều di tích lịch sử được công nhận và xếp hạngquốc gia như: Khu di tích lịch sử Lam Kinh (được xếp hạng năm 1962); di tích lịch sửkiến trúc đền thờ Lê Hoàn (xã Xuân Lập); đền thờ và lăng mộ Thứ quốc công NguyễnNhữ Lãm (tại xã Thọ Diên và Xuân Lập); quần thể di tích cách mạng xã Xuân Hòa;…Ngoài ra, Thọ Xuân còn có nhiều di tích được xếp hạng cấp tỉnh như: Đền thờ khắcQuốc công Lê Văn An (làng Diên Hào - xã Thọ Lâm); đền thờ Quốc Mẫu (làng Thịnh
Mỹ - xã Thọ Diên);…
2.1.2 Tiềm năng du lịch Thọ Xuân - Thanh Hóa
2.1.2.1 Tiềm năng du lịch tự nhiên
* Sông Chu
Sông Chu là nhánh sông lớn nhất trong hệ thống sông Mã và là sông lớn thứ hai
ở Thanh Hóa Sông có chiều dài 325km, phát nguyên từ cao nguyên Sầm Nưa (Lào)trên độ cao 1100m rồi trườn mình theo hướng tây bắc - đông nam, đến Hường Mình
Trang 31(Nghệ An) thì chuyển hướng sang hướng tây đông để chảy qua các huyện ThườngXuân, Thọ Xuân, Thiệu Hóa rồi nhập vào sông Mã ở Ngã Ba Đầu (hay gọi là Ngã BaGiàng)
Từ xưa đến nay, sông Chu luôn luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng về rấtnhiều mặt đối lập với vùng đất huyện Thọ Xuân Chính sông Chu đã tạo ra cho ThọXuân một khu vực đồng bằng phù sa mới tiêu biểu và rộng lớn vào bậc nhất của xứThanh trong suốt hàng ngàn năm lịch sử Trong bề dày thời gian, trong chiều dài lịch
sử, dòng sông đã trở thành con đường đưa các dòng họ và các dòng người từ cácphương trời trong, ngoài xứ Thanh về đây khai phá, lập nghiệp Chính dòng sông nàycũng tạo ra sự giao lưu, hội nhập với các vùng miền khác một cách thuận lợi Vì thế
mà vùng đất này cứ đời nối đời phát triển liên tục, nhanh chóng thành một vùng quêgiàu, đẹp của xứ Thanh với ruộng đất bát ngát và bãi mầu xanh biếc đôi bờ, rồi cáclàng xóm trù phú và các công trình chinh phục cuộc sống, chinh phục thiên nhiên củacon người cứ mọc lên liên tiếp để đến hôm nay trở thành niềm tự hào lớn Đây cũngchính là tiềm năng du lịch đáng quan tâm khi Thọ Xuân phát triển du lịch
* Rừng ở khu di tích lịch sử Lam Kinh
Khu di tích lịch sử Lam Kinh nằm trên phạm vi lãnh thổ xã Xuân Lam, thị trấnLam Sơn Hiện nay, diện tích rừng trồng cũ trước 1990 là 111,6ha và rừng trồng mới
là 175,4ha, cộng lại là 287ha Rừng ở đây chủ yếu là loại cây lá rộng thường xanh nhưlim, lát, trò trĩ,… phù hợp với rừng di tích Riêng trung tâm khu điện Lam Kinh ở chânnúi Dầu với diện tích lên 41ha đã trở thành khu vực có rừng cây tốt xum xuê Vàocánh rừng này, chúng ta có cảm tưởng như đi trong rừng Cúc Phương và Bến En vậy.Hiện tại, Ban quản lý khu di tích Lam Kinh vẫn tiếp tục bảo vệ và chăm sóc rừng câymột cách chặt chẽ Số cây lim tái sinh và những cây hỗn hợp khác mọc lên ngày mộtnhiều và tỏa tán khá rộng Trong những ngày hè có gió tây oi bức, đi trong rừng câynày, với cảnh rừng - hồ - núi và di tích, tiềm năng du lịch ở khu vực này sẽ càng trởnên phong phú, sinh động hơn bao giờ hết
* Các ngọn núi
- Núi Chủ Sơn (còn gọi là núi Chẩu, núi Chủa hay núi Chúa)
Núi thuộc quản lý của thị trấn Sao Vàng, xưa kia núi này thuộc về làng ThủyChú, tổng Kiên Thạch, huyện Lôi Dương Theo giáo sư Trần Quốc Vượng nhận địnhthì chính Chủ Sơn (núi Chủ) là tiền án của khu sơn lăng và điện miếu Lam Kinh Đâychính là ngọn núi đá vôi hiếm hoi, gồm ba ngọn lớn mọc lên sừng sững ở vùng đồi
Trang 32thấp phía tây nam huyện Thọ Xuân Núi có độ cao 207m (cao nhất so với tất cả cácnúi, đồi trong huyện) và có diện tích hơn 220ha
Vì là núi đá cho nên sắc núi thường đổi màu đậm nhạt xanh, tím khác nhau vàocác buổi sáng, trưa, chiều, tối Đây thực sự là một danh thắng độc đáo của vùng trung
du đồi núi thấp huyện Thọ Xuân Từ phía điện Lam Kinh, hoặc từ nhiều vị trí tronghuyện nhìn đến, ngọn Chủ Sơn hiện ra thật lung linh bề thế Và đây chính là một danhsơn rất đáng tự hào của cả Thọ Xuân nói riêng và Thanh Hóa nói chung
- Núi Lam Sơn (hay còn gọi là Núi Dầu)
Ngọn núi này thời Lam Sơn dấy nghĩa bình Ngô đã để lại nhiều truyền thuyết
về việc thu nạp các nghĩa sĩ từ các vùng miền trong nước về như chuyện Lê Lợi chothắp đèn dầu ở trên núi để làm hiệu cho nghĩa quân tụ về, hoặc chuyện bà hàng dầu vìbán dầu cho nghĩa quân bị giặc Minh giết hại nên sau khi giành được thắng lợi, mở ravương triều Lê, Lê Lợi đã cho làm giỗ bà hàng dầu Vì vậy, qua nhiều thế kỷ, ở trong,
ngoài vùng Lam Sơn và xứ Thanh rộng lớn vẫn còn truyền nhau câu ngạn ngữ “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi, hăm ba giỗ mụ hàng dầu” là vì thế Cũng theo truyền
thuyết vì ý nghĩa trên mà Lê Lợi đặt tên cho núi Lam Sơn là núi Dầu Trong dân gian
lại có cách giải thích khác, núi Dầu có nghĩa là núi “giàu” vì ngày Lam Sơn khởi
nghĩa, dân chúng nhiều nơi mang rất nhiều của cải, lương thực đến đây ủng hộ nghĩaquân,… Vì tự hào với ngọn núi thiêng này mà trong ca hò dân gian Thanh Hóa đã cócâu:
“Núi Lam cao ngất nước Nam
Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra”
Đây không chỉ là nơi có nhiều ý nghĩa lịch sử mà ngọn núi này với chiều cao gần200m có nhiều cây xanh bao phủ, cảnh trí thiên nhiên thơ mộng Mặt khác lại nằmtrong quần thể khu di tích Lam Kinh, do đó đây là nơi lý tưởng để cho khai thác vàohoạt động du lịch, hình thành khu cắm trại, du lịch sinh thái trong vùng
2.1.2.2 Tiềm năng du lịch nhân văn
* Di tích lịch sử - văn hóa
Huyện Thọ Xuân - vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa hàngnghìn năm Chính vì vậy, nơi đây còn lưu giữ nhiều công trình lịch sử văn hóa tiêubiểu cho thời kì dựng nước và giữ nước của cha ông ở vùng đất này Hiện nay, các nhàngiên cứu đã tổng hợp được tổng số 312 di tích như sau:
Trang 33Bảng 2.1.2.2 Hệ thống di tích lịch sử - văn hóa của huyện Thọ Xuân
“Nguồn: Địa chí huyện Thọ Xuân”
Các di tích lịch sử ở đây mang nhiều giá trị lịch sử văn hóa của địa phương.Đây sẽ là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú để khai thác cho việc pháttriển du lịch ở địa phương Dưới đây là một số di tích tiêu biểu:
- Khu di tích lịch sử Lam Kinh
Lam Kinh còn gọi là “Tây Kinh” hay “Tây Đô” - một khu điện miếu và lăng mộ
của nhà Hậu Lê Đây vừa là đất quý hương của bản triều, vừa là nơi khởi phát củacuộc khởi nghĩa Lam Sơn nổi tiếng trong lịch sử chống xâm lược của Việt Nam hồithế kỉ XV Sau hơn 5 thế kỉ ra đời và còn lại những gì cho đến tận hôm nay, khu di tíchlịch sử Lam Kinh - một di tích đã được Nhà nước xếp hạng từ năm 1962, vẫn là một disản văn hóa vô giá và đặc biệt quan trọng ở Việt Nam
- Đền thờ Lê Hoàn
Đền thờ Lê Hoàn nằm ở làng Trung Lập, xã Xuân Lập Với kiến trúc còn lạihiện nay, chúng ta có đủ căn cứ chắc chắn để khẳng định đó là kiến trúc thuộc thế kỉXVII còn khá nguyên vẹn Đây là một trong số ít kiến trúc gỗ của thời Lê còn lại ởThanh Hóa Ngôi đền tọa lạc trên miếng đất hình chữ vương rộng đến 2ha Ở xã XuânLập, ngoài đền thờ còn có những dấu tích về thời thơ ấu của Lê Hoàn như: Nền sinhthánh, tương truyền là nơi bà Đặng Thị sinh ra Lê Hoàn ở làng Trung Lập; một khu đất
Trang 34thuộc khu Ngọc Trung; Lăng Quốc mẫu (mẹ đẻ) và mộ Hoàng Khảo (cha đẻ của LêHoàn); làng Phong Mỹ (làng Mía) còn có mộ Lê Đột (Lê Quan Sát) cha nuôi của LêHoàn
- Đền thờ và lăng mộ Nguyễn Nhữ Lãm
Nguyễn Nhữ Lãm sinh năm Mậu Ngọ (1378) trong một gia đình nghèo làmnghề đánh cá và làm ruộng ven sông Chu tại phường Đa Mỹ (còn gọi là làng Mía, saugọi là Thịnh Mỹ) nay thuộc xã Thọ Diên Theo gia phả soạn dưới thời vua Tự Đức chobiết: Nguyễn Nhữ Lãm người cao mà đen, có tài biện luận Khi núi rừng Lam Sơn dấynghĩa, ông đã theo hầu vua trong 10 năm gian khổ chiến đấu để giải phóng đất nước.Đất nước thanh bình, ông trở thành một trong những đại thần đóng góp trên nhiều lĩnhvực như quân sự, chính trị, ngoại giao, kiến trúc, góp phần quan trọng vào việc xâydựng nhà nước Đại Việt vững mạnh vào thế kỉ XV Ông được mang họ vua, do cócông lao nên được phong tặng Nhập nội Thái Bảo, thụy là Trung Tĩnh, tước Thànhquốc công Sau khi Nguyễn Nhữ Lãm mất, nhà vua sắc dụ cho dân làng Đa Mỹ cùngcác làng lân cận của ba tổng Diên Hào, Bất Náo, Kiên Thạch cùng con cháu dòng họNguyễn Mậu an táng và xây dựng đền thờ lăng mộ ở chính quê hương ông Khu di tíchđền thờ và lăng mộ Nguyễn Nhữ Lãm đã được xếp hạng là di tích quốc gia
- Đền thờ Lê Văn An
Đền thờ nằm tại thôn Diên Hào, xã Thọ Lâm Lê Văn An, họ Nguyễn, ông cócông lớn trong cuộc kháng chiến quân Minh ở thế kỉ XV, là một trong những vị khaiquốc công thần được phong tới tước Đình Thượng hầu và được ban quốc tính họ Lê -
họ vua Về đền thờ Lê Văn An, theo những người già trong dòng họ truyền lại, đượcdựng vào năm Đinh Mậu (1597) đời vua Lê Kính Tông - niên hiệu Hoàng Định Cũngtheo truyền ngôn của người già thì trước đây ngôi đền được xây dựng ở Mục Sơnnhưng đến thời Lê Trung Hưng, Nguyễn Duy Trinh - con của tướng Lê Duy Nhất dời
về làng Diên Hào ngày nay
- Chùa Tạu - Hồi Long Tự
Chùa Tạu có tên chữ là Hồi Long Tự, còn gọi là chùa Xuân Phả, nay thuộc xãXuân Trường, huyện Thọ Xuân Thời Đồng Khánh (1885 - 1888) làng Xuân Phả thuộctổng Kiên Thạch, huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tên chùa Tạu làcách gọi của nhân dân địa phương nghĩa là nơi có hồ nước Chùa có lịch sử xây dựnghàng nghìn năm Tương truyền dưới thời Lý đã có ngôi chùa này làm bằng tranh mà
Trang 35vùng đất Xuân Phả lúc đó có tên gọi là Láng Tranh Có lý thuyết cho rằng chùa xây
dựng vào năm “Đinh triều canh Thìn” (980).
* Lễ hội truyền thống
Hiện nay, trên địa bàn có nhiều lễ hội truyền thống đã được phục dựng và duytrì Lễ hội được tổ chức hàng năm và diễn ra đều trong năm cả bốn mùa Toàn huyệnhiện giờ có 29 lễ hội truyền thống, mỗi lễ hội có những ý nghĩa riêng, đáp ứng đượcnhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân trong huyện và du khách thập phương Một số
lễ hội lớn tiêu biểu như: Lễ hội Lam Kinh diễn ra ngày 21 - 22/8 (âm lịch); lễ hội LêHoàn diễn ra ngày 07 - 08/03 (âm lịch) hàng năm; lễ hội làng Xuân Phả tổ chức ngày10/02 (âm lịch); lễ hội Lê Thánh Tông; lễ hội làng Trung Thôn; lễ hội chùa Tạu,…
* Nghề thủ công truyền thống
Ở các làng, xã ngoài việc trồng trọt là chính, thì hầu như làng nào cũng cónhững nghề phụ đặc trưng Riêng về nghề thủ công truyền thống, tùy tính chất đặcđiểm về điều kiện cư trú, sinh hoạt, tập quán, canh tác và đặc điểm đất đai rộng, hẹpkhác nhau mà có những nghề khác nhau Nghề thủ công ở huyện Thọ Xuân hết sứcphong phú và đa dạng, tuy không phát triển thành làng nghề nhưng các nghề thủ công
ở đây dưới bàn tay của thợ thủ công đã tạo ra các sản phẩm đạt kĩ thuật cao không kém
gì sản phẩm từ các làng nghề truyền thống khác
Một số nghề thủ công tiêu biểu ở huyện như: Nghề kéo sợi, dệt vải ở làngPhong Cốc, Trung Vực; nghề dệt lụa Phong Lai; nghề đan lát; nghề cót, bồ Bát Căng;nghề kéo mật và làm làm bánh kẹo ở Yên Lãng; nghề làm bánh trung thu ở đất PhủThọ (tức thị trấn Thọ Xuân); nghề làm bánh trưng bằng cách nung ở làng Trung Lập;nghề làm bánh gai Tứ Trụ; nghề làm tương; nghề làm nem thính,… Nếu phát triểnhoạt động du lịch thì những sản phẩm từ các làng nghề này sẽ là những mặt hàng độcđáo để phục vụ du khách
* Đặc sản
Thọ Xuân nói riêng và Thanh Hóa nói chung là những nơi có nhiều đặc sản nổitiếng được nhiều người biết đến Trong số những đặc sản đó phải kể đến bánh gai TứTrụ, bánh răng bừa, bưởi Luận Văn,…
- Bánh gai Tứ Trụ
Trang 36Làng nghề sản xuất bánh gai ở làng Mía, xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân Đúng
ra phải gọi là bánh gai làng Mía mới đúng tên gọi xuất xứ của nó Nhưng vì bánh làm
ra được bày bán ở phố Tứ Trụ - trước năm 1945 thuộc tổng Diên Hào (nay thuộc xãThọ Diên, huyện Thọ Xuân) là quê hương của nhiều vị khai quốc công thần triều Lê -vùng đất có chợ Đường nổi tiếng nên khách mua thường gọi là bánh gai Tứ Trụ, lâurồi thành quen
Xưa kia, bánh gai Tứ Trụ là thứ bánh chủ yếu dùng để tiến vua và có mặt trênmâm cỗ trong các ngày lễ tết Giờ đây, nghề làm bánh gai vẫn được những người conlàng Mía xứ Thanh duy trì, phát triển và còn được nhiều vùng miền trong nước biếtđến
- Bánh răng bừa
Bánh răng bừa cũng là một đặc sản của Thọ Xuân bắt nguồn từ một số xã nằmbên lở của sông chu như các xã Phú Yên, Thọ Minh, Xuân Minh, Xuân Lai, Bánhcũng được làm giống như bánh lá Nhưng có một số công đoạn khác nhau và hìnhdáng cũng khác nhau Bánh răng bừa có dạng hình trụ, dài khoảng 15-20cm, bánh rấtdẻo dẻo đến nỗi bạn có thể uốn nó thành một hình tròn Ăn thường được chấm vớinước mắm pha thêm một số gia vị khác, vị ngon thì khỏi nói rồi
- Bưởi Luận Văn
Bưởi Luận Văn: Được trồng lâu đời tại thôn Luận Văn, xã Thọ Xương và sau
đó được trồng ở xã Yên Bái của huyện Thọ Xuân, do quả bưởi ăn ngon nên giốngđược duy trì đến ngày nay và nhân dân đặt tên là bưởi Luận Văn Nhiều vùng tronghuyện Thọ Xuân và ngoài huyện thấy giống bưởi ăn ngon mang về trồng nhưng chấtlượng cũng không bằng trồng ngay ở làng Luận Văn, xã Thọ Xương và xã Yên Bái(huyện Thọ Xuân) Hội đồng bình tuyển cây đầu dòng cây ăn quả của Sở Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn thống nhất cao đánh giá giống bưởi Luận Văn là giống bưởingon, có vị đậm đà, không có vị the đắng, tép màu đỏ, dòn nhưng nhiều nước, hươngthơm có thể sánh với bưởi Diễn, bưởi Năm roi, bưởi Phúc Trạch
2.2 Lễ hội ở huyện Thọ Xuân - Thanh Hóa
Trang 372.2.1 Hệ thống lễ hội ở huyện Thọ Xuân
Hiện nay, huyện Thọ Xuân hiện có khoảng 29 lễ hội truyền thống ở các xã khácnhau trong địa bàn huyện Mỗi lễ hội có ý nghĩa và chức năng riêng
Dưới đây là bảng thống kê lễ hội ở huyện Thọ Xuân
Bảng 2.2.1 Hệ thống lễ hội trên địa bàn huyện Thọ Xuân (2008)
Stt Tên lễ hội Địa chỉ (xã) Thời gian (âm lịch) Nhân vật thờ
1 Lễ hội Lam Kinh Xuân Lam 21-22/08 Lê Lợi
2 Lễ hội Lê Hoàn Xuân Lập 07-08/03 Lê Hoàn
3 Lễ hội Xuân Phả Xuân Trường 10/02 Long hải Đại Vương
4 Lễ hội Lê Thánh Tông Xuân Lam 29/01 Lê Thánh Tông
5 Lễ hội Làng Choán Xuân Lam 15/02 Lê Sao, Lê Bị, LêNhi
6 Lễ hội làng Trung Thôn Bắc Lương 10/03 Già Lam
7 Lễ hội làng Mỹ Lý Hạ Bắc Lương 10/03 Già Lam
8 Lễ hội làng Mỹ Lý Thượng Bắc Lương 10/03 Già Lam
9 Lễ hội làng Tuế Thôn Bắc Lương 15/03 Già Lam
10 Lễ hội làng Mạnh Chư Xuân Phong 10/02 Cao Sơn, Long
Nguyên linh thánh
11 Lễ hội làng Đại Lữ Xuân Phong 15/03 Cao Sơn
12 Lễ hội làng Dừa Xuân Phong 15/03 Cao Sơn
13 Lễ hội làng Lư Khánh Xuân Khánh 06/06 Tam Lộ đại vương và
Lê Phụng Hiểu
14 Lễ hội làng Thượng Vôi Xuân Hòa 24/03 Trần Thị Ngọc
15 Lễ hội Kỳ phúc Yên Trường Thọ Lập 10/02
Thiên vương chấnthủy Đại vương tônthần
17 Lễ hội làng Bái Đô Xuân Bái 09/02
Phạm Thị Thanh và
ba vị khai quốc công(Lê Sao, Lê Triện và
Lê Giao)
18 Lễ hội dòng họ Nguyễn Nhữ Lãm Thọ Diên 25/03 Nguyễn Nhữ Lãm
19 Lễ hội làng dòng họ Lê Văn Linh Thọ Hải 07/04 Lê Văn Linh
20 Lễ hội làng Hương
21 Lễ hội dòng họ Lê Văn An Thọ Lâm Tháng 4 Lê Văn An
22 Lễ hội làng Đống Nãi Tây Hồ 13/01 Cao Sơn
Trang 3823 Lễ hội làng Hội Hiền Tây Hồ Tháng 3 Đinh Thời Dĩnh
24 Lễ hội làng Nam Thượng Tây Hồ 15/01 Long Nguyên linhthánh
25 Lễ hội đền Bà Am Tây Hồ Tháng 9 Định Thị Hoa
26 Lễ hội làng Phú Xá Xuân Lập 04/02 Lý Kim Ngô
27 Lễ hội dòng họ Tống Văn Mẫn Xuân Lập 20/09 Tống Văn Mẫn
28 Lễ hội làng Yên Lược Thọ Minh 23/10 Lương Công Đoán
29 Lễ hội chùa Tạu Xuân Trường 10/02 Thờ Phật
“Nguồn: Phòng Văn hóa thông tin - thể thao huyện Thọ Xuân”
Theo cách phân loại lễ hội đã trình bày, lễ hội ở huyện có thể phân thành baloại: Lễ hội liên quan đến cuộc sống trong mối quan hệ với tự nhiên; lễ hội liên quanđến cuộc sống trong mối quan hệ với xã hội; lễ hội tôn giáo và văn hóa Tuy nhiên, sựphân loại lễ hội chỉ mang tính tương đối do ranh giới giữa các lễ hội không phải lúcnào cũng rạch ròi Do đó theo tôi, lễ hội ở huyện Thọ Xuân bao gồm: Lễ hội trong mốiquan hệ với xã hội và lễ hội tôn giáo, văn hóa
2.2.1.1 Lễ hội liên quan đến cuộc sống trong mối quan hệ với xã hội
Trong cuộc sống, con người có nhiều mối quan hệ và quan hệ giữa con ngườivới con người là mối quan hệ đặc biệt nhất Văn hóa Việt Nam có nhiều truyền thống
tốt đẹp, trong đó đạo lý “uống nước nhớ nguồn” là truyền thống lâu đời của nhân dân
ta và mãi được gìn giữ Cái trục xuyên suốt của đạo lý “uống nước nhớ nguồn” là lòng
biết ơn và đền đáp công ơn của con người đối với con người, đối với làng bản xómthôn, đối với giang sơn đất nước Trong đó đời sống của con người hiện tại đều đượcnảy sinh nhờ được chuẩn bị, tạo điều kiện thuận lợi từ tất cả những cái tương ứngtrong quá khứ Cái hiện tại đó lại chuẩn bị mọi điều kiện cho sự ra đời và tồn tại củacái tương lai,… Như vậy, các thế hệ sau bao giờ cũng biết ơn và đền đáp công ơn đốivới các thế hệ trước Sự đền ơn đáp nghĩa qua các thế hệ được củng cố vững chắc thêmnhờ tác động của tín ngưỡng, tôn giáo, càng làm cho sự đền ơn đáp nghĩa ở hiện tạithêm phong phú và sâu sắc
Trong lễ hội truyền thống của người Việt luôn luôn bao hàm truyền thống
“uống nước nhớ nguồn này” Huyện Thọ Xuân cũng có nhiều lễ hội diễn lại các tích
liên quan đến các vị anh hùng có công với dân với nước như: Lễ hội Lam Kinh, lễ hội
Lê Hoàn, lễ hội Lê Thánh Tông, lễ hội Cao Sơn,…
2.2.1.2 Lễ hội tôn giáo và văn hóa
Trang 39Lễ hội tôn giáo là hệ thống lễ kỷ niệm ngày sinh của các đấng giáo chủ sáng lập
ra tôn giáo như đức Chúa Jesus với lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh; đức Phật Thích Ca với
lễ Phật Đản, đức Bồ Tát,… ngày tưởng nhớ mẹ với lễ Vu Lan,… những lễ này đượcdiễn ra hết sức long trọng, phần lễ được chú trọng hơn phần hội với những nghi thứctruyền thống nghiêm túc, mà tiêu biểu ở Thọ Xuân là lễ hội chùa Tạu
Bên cạnh đó, những lễ hội mang ý nghĩa tín ngưỡng của nhân dân trong vùngcũng hết sức phong phú Lễ hội này hầu hết là lễ hội làng, ở mỗi làng đều có thờ thầnThành Hoàng, Thành Hoàng có thể là nhiên thần hoặc nhân thần Lễ hội làng mang ýnghĩa cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa vụ bội thu Thọ Xuân có những lễ hội như:
Lễ hội Xuân Phả, lễ hội Làng Choán, lễ hội làng Trung Thôn, lễ hội làng Mỹ Lý Hạ, lễhội làng Tuế Thôn, lễ hội làng Mạnh Chư, lễ hội làng Đại Lữ, lễ hội làng Bái Đô, lễhội làng Hương Nhượng,…
Lễ hội ở huyện Thọ Xuân hết sức phong phú và đa dạng Trong nội dung đề tàinày, tác giả chỉ khái quát về hệ thống lễ hội của huyện và giới thiệu một số lễ hội tiêubiểu trên địa bàn huyện có ý nghĩa lớn đối với hoạt động du lịch của địa phương nóiriêng và tỉnh Thanh Hóa nói chung
2.2.2 Một số lễ hội tiêu biểu ở huyện Thọ Xuân
2.2.2.1 Lễ hội Lam Kinh
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1427) do người anh hùng dân tộc Lê Lợilãnh đạo trong điều kiện đặc biệt, không giống như các cuộc đấu tranh ở các giai đoạnlịch sử trước, đó là đất nước mất quyền độc lập, chính quyền nằm trong tay quân xâmlược Cả dân tộc trong sự kìm kẹp và đàn áp gắt gao của kẻ thù Trong điều kiện vôcùng bất lợi ấy, khởi nghĩa Lam Sơn chỉ có một vũ khí mạnh nhất là truyền thống yêunước của dân tộc Từ tính chất của phong trào đấu tranh vũ trang đã tạo ra một vùngvăn hóa có sức sống bền vững với thời gian Khởi nghĩa Lam Sơn được lưu truyền
trong sử sách với nhiều bài học có giá trị đến muôn đời, như bài học về “tướng sỹ một lòng phụ tử”, đoàn kết một lòng yêu thương như cha con, bài học về dòng suối lá của
Lê Lợi và Nguyễn Trãi khắc chữ “vi quân, vi dân” tức là vì quân, vì dân, cách dùng trí
nhân, hào kiệt đại nghĩa
Lễ hội Lam Kinh gắn với vương triều hậu Lê, được tổ chức ở khu điện miếuLam Kinh, nhưng sự ra đời và phát triển của lễ hội này, đến nay vẫn còn đặt ra nhiềuvấn đề cần phải được nghiên cứu Qua những tài liệu và sách vở ghi chép, lễ hội LamKinh có quy mô lớn, gắn với việc khi vua Lê Thái Tổ lên ngôi về bái yết sơn lăng