Lời cảm ơn Được sự phân công của Khoa Tài chính ngân hàng Trường Đại học Thương mại, sự góp ý của Cô giáo hướng dẫn Ths. Nguyễn Thị Minh Thảo em đã thực hiện đề tài “Huy động tiền gửi tiết kiệm cá nhân tại ngân hàng Đại Dương , Phòng Giao Dịch Mỹ Đình”.Để hoàn thành khóa luận này. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cức và rèn luyện ở Trường Đại học Thương Mại. Xin chân thành cảm ơn Cô giáo hướng dẫn Ths. Nguyễn Thị Minh Thảo đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận này. Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất. Song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực tế sản xuất cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được. Em rất mong được sự góp ý của quý Thầy, Cô giáo và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành cảm ơn
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài: “ Huy động tiền gửi tiết kiệm cá nhân tại ngân hàng Đại Dương , Phòng Giao
Trang 2Lời cảm ơn
Được sự phân công của Khoa Tài chính ngân hàng Trường Đại học Thương mại, sự
góp ý của Cô giáo hướng dẫn Ths Nguyễn Thị Minh Thảo em đã thực hiện đề tài “Huy
động tiền gửi tiết kiệm cá nhân tại ngân hàng Đại Dương , Phòng Giao Dịch Mỹ Đình”
Để hoàn thành khóa luận này Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô đã tận tình hướngdẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cức và rèn luyện ở Trường Đại họcThương Mại
Xin chân thành cảm ơn Cô giáo hướng dẫn Ths Nguyễn Thị Minh Thảo đã tận tình,chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song dobuổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực tế sản xuấtcũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sótnhất định mà bản thân chưa thấy được Em rất mong được sự góp ý của quý Thầy, Côgiáo và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Vốn luôn là một trong những yếu tố cơ bản nhất thiết phải có của bất kì hoạt động kinhdoanh nào trong mỗi doanh nghiệp Cần khẳng định rằng không thể thực hiện được cácmục tiêu kinh tế xã hội nói chung của Nhà nước, cũng như các mục tiêu kinh doanh củaDoanh nghiệp nói riêng nếu không có vốn NHTM với tư cách là một doanh nghiệp, cóhoạt động truyền thông là huy động vốn và cho vay thu lãi thì nguồn vốn còn quyết địnhtới năng lực cạnh trah của ngân hàng
Nguồn vốn được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, nhưng nguồn vốn quan trọngnhất đối với ngân hàng là nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm của khách hàng.Hoạt động đặctrưng của ngân hàng trong công tác huy động vốn là việc mở tài khoản tiền gửi tiết kiệm
để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng Bằng cách đó, ngân hàng sẽ huy động đượcnguồn vốn to lớn từ các khách hàng cá nhân Hiện nay, trong điều kiện kinh tế khó khăn,hoạt động huy động vốn tiền gửi của ngân hàng cũng gặp nhiều khó khăn và phải cạnhtranh quyết liệt với nhau
Đối với PGD Mỹ Đình của ngân hàng Đại Dương, với đặc điểm là PGD nhỏ nên PGDchủ yếu kinh doanh trong lính vực truyền thống là huy động và cho vay Vì là PGD nhỏnên việc huy động vốn qua các kênh huy động khác còn hạn chế, nên nguồn vốn tiền gửitiết kiệm cá nhân là vô cùng quan trọng trong huy động vốn của ngân hàng
Việc nghiên cứu, tìm hiểu quá trình huy động tiền gửi tiết kiệm cá nhân để có những phương án huy động tiền gửi linh hoạt mang tính cạnh tranh là cần thiết Phát triển hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm sẽ tạo thế mạnh về tài chính, tăng
uy tín thương hiệu của chi nhánh, đặc biệt huy động vốn từ dân cư là nguồn vốn cơ bản, ổn định lâu dài, mang lại sự hoạt động kinh doanh ổn định cho chi nhánh Xuất phát từ quá trình thực tập tại ngân hàng Đại Dương, PGD Mỹ Đình, em thấy
Trang 4vấn đề phân tích tình hình huy động tiền gửi tiết kiệm cá nhân và đưa ra những biện pháp để thu hút được nhiều nguồn tiền gửi là cần thiết Do vậy em chọn đề
tài:“ Huy động tiền gửi tiết kiệm cá nhân tại ngân hàng Đại Dương, PGD Mỹ
Đình” để nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp.
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu Cơ sở lý thuyết về hoạt động và huy động tiền gửi tiết kiệm cá nhân tại
ngân hàng thương mại
- Phân tích và đánh giá thực trạng huy động tiền gửi tiết kiệm cá nhân tại ngân hàng ĐạiDương, PGD Mỹ Đình
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm cá nhân tại ngânhàng Đại Dương, PGD Mỹ Đình
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là :Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm cá nhân tạingân hàng thương mại
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Các số liệu phân tích được thu thaatjp tại ngân hàng ĐạiDương, PGD Mỹ Đình trong 3 năm 2012 đến 2014
4 Phương pháp nghiên cứu.
Đề tài sử dụng kết hợp cả hai phương pháp định lượng và định tính với các công cụ như sau:
Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp suy luận diễn dịch và quy nạp
Phương pháp khái quát và trừu tượng hóa
Trang 5 Các phương pháp thống kê
Đồng thời dựa vào các lý luận, quan điểm kinh tế, tài chính và định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, xuất phát từ thực tiễn để làm sáng tỏ các vấn
đề nghiên cứu.
5 Kết cấu khóa luận:
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh sách bảng biểu, danh mục tài liệu thamkhảo, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết về hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm cá nhân tại NHTM
Chương 2: Thực trạng hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm cá nhân tại ngân hàng Đại Dương, PGD Mỹ Đình
Chương 3: Phát hiện và để xuất
Trang 6a-Vốn tiền gửi
Đây là nghiệp vụ phản ánh hoạt động huy động vốn của NHTM dưới dạng nhận cáckhoản tiền gửi của DN vào ngân hàng để thanh toán nhằm mục đích an toàn hay hưởnglãi Đồng thời ngân hàng còn huy động các khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư gửi vào ngânhàng với mục đích hưởng lãi Bao gồm:
Trang 7+ Tiền gửi thanh toán: Là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của TCKT và cá nhân trong quátrình kinh doanh của mình gửi vào ngân hàng để chủ động thanh toán hoặc sinh lời Tuỳtheo tính chất nhàn rỗi của các nguồn vốn các tổ chức, cá nhân có thể gửi không kỳ hạnhoặc có kỳ hạn vào ngân hàng Ngân hàng có thể sử nguồn vốn này vào cho vay cácthành phần kinh tế
+ Tiền gửi tiết kiệm: Đây là hình thức huy động vốn truyền thống của NHTM Tiền gửitiết kiệm là khoản để dành hoặc tạm thời nhàn rỗi của dân cư gửi vào ngân hàng với mụcđích hưởng lãi theo định kỳ hoặc tiết kiệm chi tiêu cho tương lai Đây là nguồn vốn quantrọng có tính chất ổn định cao và có qui mô lớn trong tổng nguồn vốn huy động củaNHTM Khách hàng có thể gửi tiết kiệm không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn tuỳ theo nhu cầu
sử dụng
b- Phát hành giấy tờ có giá
Nghiệp vụ này được thực hiện mang tính chất thời vụ, nó phát sinh khi có nhu cầu về vốncần thiết cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nhằm thu hút các khoản vốn trung dàihạn để đầu tư để đầu tư vào nền kinh tế, do huy động có thời hạn nên nguồn vốn này tăngcường tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM Bao gồm: kỳ phiếu ngânhàng, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi
c-Vốn đi vay
Tuy nguồn tiền gửi là nguồn tiền quan trọng nhất của NHTM nhưng sau khi đã sử dụnghết vốn và tiền gửi mà ngân hàng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu vay vốn của kháchhàng hoặc phải đáp ứng nhu cầu thanh toán và chi trả của khách hàng… NHTM có thể đivay ở NHTW, ở các NHTM khác trên thị trường tiền tệ, vay ở các tổ chức nước ngoài…Vốn đi vay chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ có thể chấp nhận được trong kết cấu nguồn vốncủa ngân hàng nhưng nó rất cần thiết và có vị trí quan trọng để đảm bảo cho ngân hànghoạt động bình thường
Trang 8NHNN có thể cho các NHTM vay dưới các hình thức : cho vay chiết khấu, cho vay cứucánh và cho vay theo thời vụ
Cho vay chiết khấu: các thương phiếu đã được các NHTM chiết khấu và trở thành tàisản của họ khi cần thiết NHTM sẽ mang những thương phiếu này đến xin chiết khấu tạiNHTW Thông thường NHNN chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có chất lượng
và phù hợp với mục tiêu của NHNN trong từng thời kỳ và NHNN chủ yếu chỉ cho vayngắn hạn để giải quyết nhu cầu cấp bách của NHTM
Cho vay cứu cánh: NHNN sẽ cho vay cứu cánh khi NHTM bị khủng hoảng trầm trọng
và có nguy cơ phá sản gây ảnh hưởng tới toàn hệ thống và đang bị đặt trong tình trạng
“kiểm soát đặc biệt” theo quyết định của thống đốc
Cho vay theo thời vụ : tại NHTM có những thời kỳ nhu cầu vay vốn và thanh toán củakhách hàng khi diễn ra nhiều mà nguồn vốn của ngân hàng không đáp ứng đủ thi NHTW
có thể cho vay để đảm bảo hoạt động
Ngoài ra khi có nhu cầu NHTM còn có thể đi vay từ các NHTM khác Đây là nguồncác NHTM vay mượn lẫn nhau và vay của các TCTD khác trên thị trường Các NHTMđang thiếu hụt dự trữ có thể vay mượn từ các NHTM và TCTD khác trên thị trường đểđảm bảo thanh khoản còn các ngân hàng đang có dự trữ vuợt yêu cầu do có sự gia tăngbất ngờ về nguồn vốn huy động cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn.Quá trình vay mượn diễn ra rất đơn giản ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngânhàng cho vay hoặc thông qua NHTW Khoản vay có thể không cần được đảm bảo hoặcđược đảm bảo bằng các chứng khoán của kho bạc Kết quả là dự trữ của ngân hàng chovay giảm đi và dự trữ của ngân hàng đi vay tăng lên Có 2 loại vay từ NHTM khác :
Vay qua đêm
Vay có kỳ hạn
Trang 9Các khoản đi vay thường là với quy mô và thời hạn xác định trước do vậy tạo thànhnguồn vốn ổn định cho ngân hàng Khác với nhận tiền gửi ngân hàng không nhất thiếtphải đi vay thường xuyên: ngân hàng chỉ vay lúc cần thiết và hoàn toàn chủ động về khồilượng vay cho phù hợp với nhu cầu sử dụng Tuy nhiên, do rủi ro lớn hơn nên lãi suất trảcho tiền vay thường lớn hơn lãi suất trả cho tiền gửi với cùng kỳ hạn Hơn nữa việc đivay thường xuyên cũng sẽ làm cho uy tín của ngân hàng trên thị trường tiền tệ bị giảm sútgây ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh cũng như khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
d- Vốn khác
Quá trình thực hiện các nghiệp vụ trung gian, NHTM cũng tạo được một khoản vốn gọi
là vốn trong thanh toán như: vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài khoản séc bảo chi,séc định mức và các khoản tiền phong toả do ngân hàng chấp nhận hối phiếu thanhtoán… Thông qua các nghiệp vụ đại lý, dịch vụ NHTM cũng thu hút được một lượngvốn như trong quá trình thu hoặc chi hộ khách hàng, làm đại lý cho các tổ chức tín dụngkhác, nhận chuyển vốn cho khách hàng…Do phát tiền theo tiến độ nên thường xuyên cómột bộ phận vốn kết dư trên tài khoản ngân hàng có thể sử dụng tạm thời nguồn vốn đóvào kinh doanh Phần lớn các nguồn vốn khác không phải trả lãi hoặc trả lãi rất thấp.Tuy nhiên, chi phí để có và duy trì chúng là rất đáng kể Để có được nguồn vốn này, cácngân hàng cần không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ, đa dạng hoá các dịch
vụ tài chính, nâng cao uy tín của nhân hàng nhằm thu hút khách hàng
e-Vốn tự có và coi như tự có của của ngân hàng
Vốn tự có là nhưng giá trị tiền tệ mà ngân hàng tạo lập được thuộc về sở hữu của ngânhàng Vốn tự có mang tính chất ổn định, nó thường chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổngnguồn vốn của ngân hàng (dưới 10%), nhưng nó có một vị trí quan trọng quyết định qui
mô hoạt động của ngân hàng, là cơ sở để ngân hàng tiến hành kinh doanh, huy động vốn
và cho vay Nó đóng vai trò là “ tấm đệm giúp chống đỡ rủi ro phá sản” Vốn tự có củangân hàng góp phần thoả mãn các cơ quan quản lý ngân hàng khi họ xem xét các điều
Trang 10kiện của ngân hàng trong việc thiết lập các chi nhánh, giới hạn tín dụng, đầu tư và muasắm tài sản cố địng của ngân hàng Vốn cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng
và phát triển của các hình thức dịch vụ mới, cho những chương trình và trang thiết bịmới Nguồn hình thành vốn tự có gồm hai nguồn chính sau:
-Vốn tự có ban đầu là vốn mà NHTM phải có để đi vào hoạt động được quy định trongnhững văn bản pháp quy Đây là phần vốn mà ngân hàng thực có trong suốt quá trìnhhoạt động của ngân hàng và thuộc quyền sở hữu của ngân hàng Tuỳ theo tính chất mỗingân hàng mà nguồn vốn hình thành ban đầu khác nhau Chẳng hạn :
+ NHTM quốc doanh: vốn điều lệ do NSNN cấp
+ NHTM cổ phần: vốn điều lệ do các cổ đông đóng góp
+ NH liên doanh: vốn điều lệ do các bên tham gia liên doanh đóng góp
+NH tư nhân: vốn điều lệ thuộc sở hữu tư nhân
Vốn tự có bổ sung trong quá trình hoạt động:
+ Vốn tự có bổ sung từ nguồn nội bộ: tỷ lệ bổ sung vào vốn tự có từ lợi nhuận tuỳ thuộcvào quyết định của chủ ngân hàng về tích luỹ và tiêu dùng
+ Vốn tự có bổ sung từ bên ngoài bằng cách phát hành cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi,trái phiếu chuyển đổi
+ Vốn tự có bổ sung từ các quỹ trích từ lợi nhuận của ngân hàng
Nghiệp vụ tài sản có
Tài sản có phản ánh việc sử dụng vốn của NHTM hay những khoản mà thị trường nợNHTM
Trang 11Đó là những khoản mà ngân hàng cho thị trường vay hay đầu tư vào thị trường
a-Nghiệp vụ ngân quỹ
Nghiệp vụ này phản ánh các khoản về dự trữ của ngân hàng bao gồm:
Tiền mặt tại quỹ
Tiền gửi ở ngân hàng khác
Tiền gửi ở NHTW
Mặc dù dự trữ của ngân hàng không tạo nên lợi nhuận cho ngân hàng nhưng nó đảmbảo an toàn trong thanh toán và các nghiệp vụ tài chính khác cho ngân hàng ( thực hiệnquy định về DTBB do NHTW đề ra) Vì thế nó hạn chế rủi ro thanh khoản, nâng cao uytín cho ngân hàng tạo nền tảng vững chắc cho khả năng sinh lời của ngân hàng Tronghoạt động kinh doanh ngân hàng uy tín sẽ quyết định ngân hàng đó có tồn tại được haykhông vì thế nếu ngân hàng không duy trì đủ lượng tiền mặt để đáp ứng nhu cầu thanhtoán của khách hàng thì uy tín của ngân hàng sẽ bị giảm sút trầm trọng Nhưng duy trìmột lượng tiền mặt bao nhiêu là đủ thì lại là điều không đơn giản Nến dự trữ dư thừa thì
sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của tài sản có, ngược lại dự trữ quá ít sẽ ảnh hưởngđến khả năng thanh toán của ngân hàng khi có nhu cầu Do vậy, mức dự trữ phù hợp sẽphụ thuộc vào quy mô, nhu cầu thanh toán và tính thời vụ của các khoản thu chi tiền mặt
b-Nghiệp vụ cho vay
Nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ cung ứng vốn của ngân hàng trực tiếp cho các nhu cầusản xuất, tiêu dùng trên cơ sở thoả mãn các điều kiện vay vốn của ngân hàng Đây lànghiệp vụ cơ bản trong hoạt động kinh doanh của NHTM, bởi một mặt thông qua nghiệp
vụ tín dụng ngân hàng cung ứng một lượng vốn lớn cho nền kinh tế để đáp ứng yêu cầusản xuất, tăng trưởng kinh tế; mặt khác là nghiệp vụ sinh lời lớn nhất của các NHTM do
đó các NHTM đã tìm kiếm mọi cách huy động nguồn vốn để cho vay Vì vậy quy mô của
Trang 12các khoản cho vay chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản có của NHTM và cũng chứađựng rủi ro rất cao cho nên các ngân hàng luôn xem xét kỹ lưỡng tới từng món vay vàtừng đối tượng cho vay để đảm bảo an toàn cho khoản vay Nghiệp vụ cho vay củaNHTM có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau Thông thường, người tathường phân loại theo tiêu thức thời gian gồm:
- Cho vay ngắn hạn : là loại hình cho vay có thời hạn dưới 12 tháng
- Cho vay trung hạn : là loại hình cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm
- Cho vay dài hạn : là loại hình cho vay có thời hạn trên 5 năm
c-Nghiệp vụ đầu tư
Nghiệp vụ đầu tư là nghiệp vụ sinh lời của NHTM ở nghiệp vụ này NHTM đầu tư vàochứng khoán và góp vốn, mua cổ phần của các TCTD và các tổ chức kinh tế với mụcđích kiếm lời, phân tán rủi ro qua việc đa dạng hoá các hạot động kinh doanh Đầu tư vàochứng khoán là hình thức phổ biến trong nghiệp vụ tài sản có của các NHTM và cácTCTD Ngân hàng có thể đầu tư vào chứng khoán Chính phủ, trái khoán công ty để thulợi tức đầu tư, do đó mang lại thu nhập cho ngân hàng Nghiệp vụ này cũng nâng cao khảnăng thanh toán, bảo tồn ngân quỹ
- Quan hệ khách hàng dựa trên cơ sở quen biết
- Không có sự đảm bảo cho đổi mới
Trang 13- Chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước
- Tổ chức cung cấp sản phẩm mang tính trực tiếp là chủ yếu
- Chịu sự tác động lớn và nhạy cảm với Kinh tế vĩ mô
- Hoạt động NH chứa đựng nhiều rủi ro.
Vai trò của NHTM đối với nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, nền kinh tế đã đạt đến trình độ cao của kinh tế hàng hoá,ngân hàng đóng vai trò quan trọng, nó là hệ thống thần kinh, hệ thống tuần hoàn của toàn
bộ nền kinh tế quốc dân Nền kinh tế chỉ có thể cất cánh, phát triển với tốc độ cao nếu cómột hệ thống ngân hàng vững mạnh Ngân hàng và nền kinh tế có mối quan hệ hữu cơlẫn nhau Do đó, vai trò của ngân hàng thương mại được thể hiện ở một số mặt sau:
- NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
Khi nhắc tới vai trò của ngân hàng thương mại thì không thể không nhắc tới vai trò cungứng vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế Để cóthể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh điều đầu tiên các chủ doanh nghiệp phảiquan tâm đó là vốn Nếu không có vốn thì doanh nghiệp sẽ bị mất cơ hội đầu tư, mất đilợi nhuận mà lẽ ra có thể thu được Do nhược điểm của thị trường tài chính dẫn đến ảnhhưởng tới tính liên tục của chu trình tài chính như sự không khớp nhịp giữa cung vốn vàcầu vốn qua vấn đề thời gian và lượng vốn, rủi ro đạo đức, rủi ro mất khả năng thanhtoán, …NHTM với tư cách là một chủ thể kinh doanh trên lĩnh vực tài chính tiền tệ có thểkhắc phục được những nhược điểm trên NHTM chính là người đứng ra tiến hành khơithông nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế … hình thànhnên quỹ cho vay và sử dụng chúng để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế Là một kênhphân phối vốn có hiệu quả NHTM đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng mởrộng sản xuất kinh doanh cải tiến qui trình công nghệ, từ đó nâng cao năng suất lao động
để có thể đứng vững trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường Với khảnăng cung cấp vốn, NHTM đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triểnkinh tế của mỗi quốc gia
Trang 14- NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường
Để có thể tiếp cận với thị trường đầu ra và tìm kiếm lợi nhuận các doanh nghiệp cần phảiquan tâm tới thị trường đầu vào của mình mà yếu tố đầu vào quan trọng nhất chính làvốn, đây luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh doanh vì nó đặt nền tảng đầutiên cho mọi hoạt động của doanh nghiệp Các doanh nghiệp không thể chỉ trông chờ vàovốn tự có mà phải biết khai thác các nguồn vốn khác tài trợ cho hoạt động của mình.Nguồn vốn tín dụng của NHTM sẽ giúp doanh nghiệp giải quyết được khó khăn đó Nhưvậy, ngân hàng chính là cầu nối đưa doanh nghiệp đến với thị trường giúp doanh nghiệptìm kiếm được đầu vào, bôi trơn hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho nó phát huy hiệuquả một cách tốt nhất trên thị trường, giúp doanh nghiệp và thị trường gần nhau hơn cả
về không gian và thời gian
- NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Nếu NHTW có nhiệm vụ xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ thông qua các công cụnhư: thị trường mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất,… thì các NHTM một mặt chịu sự tác độngtrực tiếp của các cộng cụ này mặt khác nó còn tham gia điều tiết gián tiếp vĩ mô nền kinh
tế thông qua mối quan hệ với các tổ chức kinh tế, cá nhân về các hoạt động tài chính tíndụng Nói cách khác, thông qua hoạt động của NHTM với các chủ thể khác trong nềnkinh tế, mọi thông tin có liên quan đến việc hoạch định chính sách tiền tệ sẽ được phảnhồi lại NHTW, giúp NHTW có thể hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợptrong từng thời kỳ để đảm bảo thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển ổn định
- NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế
Trên thế giới, trong thời đại ngày nay, mỗi quốc gia độc lập thường xuyên tiến hànhnhững mối quan hệ đa dạng và phức tạp trên nhiều lĩnh vực : kinh tế, chính trị, xã hội,ngoại giao, văn hoá, khoa học- kỹ thuật, …trong đó quan hệ kinh tế thường chiếm vị tríquan trọng Áp lực cạnh tranh buộc nền kinh tế của mỗi quốc gia khi mở cửa hội nhập
Trang 15phải có tiềm lực lớn mạnh và toàn diện về mọi mặt mà quan trọng nhất là tài chính.Nhưng làm thế nào để có thể hoà nhập nền kinh tế của một quốc gia với phần còn lại củathế giới ? Câu hỏi này sẽ được giải đáp thông qua vai trò của hệ thống NHTM với hàngloạt các nghiệp vụ không ngừng được hoàn thiện và phát triển: thanh toán quốc tế, kinhdoanh ngoại hối, uỷ thác đầu tư, … Hệ thống NHTM trong nước đã điều tiết tài chínhtrong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế, đưa nền tài chính trongnước bắt kịp với nền tài chính quốc tế.
1.1.2 Nguồn vốn và các hoạt động huy động vốn.
1.1.2.1 Nguồn vốn
Vốn trong
dân cư
TíndụngNGUỒN
HUYĐỘNG
Trong nướcc
KD
VốnKD
Vốn của cácnhóm, cá nhânnước ngoài
Ngo i nài nước ướcc
Trang 16 Nguồn vốn huy động là những khoản tiền và tài sản của các chủ sở hữu khác nhautrong xã hội mà ngân hàng được phép thu hút và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả đầy
đủ và đúng hạn cả gốc và lãi
Vốn huy động của NHTM là giá trị tiền tệ mà các NHTM huy động được trên thị trường thông qua nghiệp vụ tiền gửi, tiền vay và một số nguồn vốn khác Bộ phận vốnhuy động có ý nghĩa quyết định khả năng hoạt động của mỗi NHTM
Vốn là một phạm trù kinh tế trong lĩnh vực tài chính nó gắn liền với nền sản xuất hàng hoá Dưới góc độ là một phạm trù kinh tế, vốn là một điều kiện tiên quyết của bất cứ doanh nghiệp ngành kinh tế, dịch vụ và kỹ thuật nào trong nền kinh tế thuộc hình thức sở hữu khác nhau Trong các doanh nghiệp kinh doanh nói chung, doanh nghiệp y tế nói riêng, vốn sản xuất là hình thái giá trị của toàn bộ tư liệu sản xuất được doanh nghiệp sử dụng một cách hợp lý có kế hoạch vào việc sản xuất những sản phẩm của doanh nghiệp
Vốn kinh doanh là số vốn được dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, số vốn này được hình thành từ khi thành lập doanh nghiệp(do chủ sở hữu đóng góp ban đầu) và bổ sung thêm trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
Kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế
sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ ) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa Đây là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản xuất - kinh doanh được thực hiện dưới hình thức mua bán, bán chịu hàng hóa Hành vi mua bán chịu hàng hóađược xem là hình thức tín dụng - người bán chuyển giao cho người mua quyền sử dụng vốn tạm thời trong một thời gian nhất định, và khi đến thời hạn đã được thỏa thuận, người mua phải hoàn lại vốn cho người bán dưới hình thức tiền tệ và cả phần lãi cho người bán chịu
Trang 17 Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lýhoạt động đầu tư
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, tráiphiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tàichính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầutư
a Trong nước:
- Vốn trong dân cư: Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sửdụng đến.Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng , họ đều có thể gửi tiếtkiệm với mục tiêu đảm bảo an toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm , đặc biệt lànhu cầu bảo toàn Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm , các ngân hàng đềukhuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách ở rộngmạng lưới huy động , đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranhhấp dẫn …
- Vốn trong nhóm KT-XH: Các doanh nghiệp do yêu cầu của hoạt đông sản xuất kinh
doanh nên các đơn vị này thường gửi một khối lượng lớn tiền vào ngân hàng đểhưởng tiện ích trong thanh toán NHTM là một trung gian tài chính, nó quan hệ vớicác đối tượng này thông qua việc mở tài khoản, nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế
và đáp ứng yêu cầu thanh toán của họ Do có sự đan xen giữa các khoản phải thu vàcác khoản phải thanh toán nên ngân hàng luôn tồn tại một số dư tiền gửi nhất định,điều này lí giải vì sao ngân hàng huy động được nhiều nguồn vốn nhất trong lĩnh vựcnày, có chi phí thấp và được sử dụng cho vay không chỉ ngắn hạn mà còn cả trunghạn Tuy nhiên nguồn này có hạn chế là tính ổn định và độ lớn phụ thuộc vào quy mô,loại hình của doanh nghiệp
b Ngoài nước:
Trang 18- Vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại là vốn tự có do ngân
hàng tạo lập được thuộc sở hữu riêng của ngân hàng, thông qua góp vốn của các chủ
sở hữu hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh Mặc dù chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏtrong tổng nguồn vốn của ngân hàng, song lại là điều kiện pháp lý bắt buộc khi thànhlập một ngân hàng Vì đây là nguồnvốn ổn định, nên một mặt ngân hàng chủ động sửdụng nó vào mục đích kinh doanh của mình, mặt khác lại được coi như tài sản đảmbảo, gây lòng tin đối với khách hàng và duy trì khả năng thanh toán trong trường hợpngân hàng gặp rủi ro tín dụng Vốn tự có của ngân hàng thương mại được hình thànhbởi vốn điều lệ (vốn pháp định), vốn tự bổ sung (quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ,quỹ
dự phòng bù đắp rủi ro, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi…)
- Vốn của các nhóm, cá nhân nước ngoài: Theo tinh thần Nghị định 90/1998/NĐ-CP
ngày 7/11/1998 thì các NHTM có thể vay vốn ở Ngân hàng nước ngoài để cho vay lạitrong nước Các NHTM Việt Nam hiện có quan hệ đại lý và quan hệ thanh toán rộngrãi với các Ngân hàng trong khu vực và trên thế giới nên nghiệp vụ này tiến hànhcũng khá thuận lợi Lãi suất vay được áp dụng theo lãi suất trên thị trường tiền tệ thếgiới Tuy nhiên, khi vay thì các NHTM Việt Nam phải chấp hành một hạn mức tíndụng do nước ngoài quy định Hạn mức này phải được Chính phủ hoặc NHNN ViệtNam bảo lãnh Theo Nghị định 90/CP, thì mức bảo lãnh vay vốn nước ngoài cho một
tổ chức tín dụng không quá 6 lần vốn tự có của tổ chức đó Nhưng hạn mức trên phảitrừ đi số nợ trước chưa trả đến thời điểm đến thời điểm vay mới Như vậy muốn tậndụng hạn mức tín dụng của nước ngoài, các NHTM Việt Nam phải thực hiện tốt khâuhoàn trả Các khoản vay từ Ngân hàng nước ngoài của các NHTM Việt Nam đều doNHNN trực tiếp kiểm soát và quản lý Vì vậy, các hồ sơ vay vốn đều phải quanNHNN xét duyệt Các NHTM được quyền chủ động tìm kiếm các nguồn vay từ nướcngoài, qua đó góp phần quan trọng trong việc tài trợ các hoạt động kinh doanh ngânhàng
1.1.2.2 Các hoạt động huy động vốn
Trang 19STT Các Loại Vốn Đặc điểm
1 Phân loại căn
cứ theo thời
gian: Phân loại
theo thời gian
Đây là nguồn huy động vốn ngân hàng qua phát hành các công
cụ nợ trung hạn trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trunghạn (từ 1 đến 5 năm) Vốn huy động này ngân hàng có thể sửdụng tương đối dài và thuận tiện Tuy nhiên lãi suất huy độngnguồn này thường cao hơn nguồn ngắn hạn
Huy động vốn từ dân cư
Ngân hàng huy động từ các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng
và sau đó chuyển đến cho những người cần vốn để mở rộng đầu
tư, kinh doanh Nguồn huy động từ dân cư thường khá ổn định
Huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội
Trang 20Các khoản tiền nhàn rỗi của các doanh nghiệp và các tổ chức xãhội chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng nguồn vốn của ngânhàng Độ lớn của khoản tiền này phụ thuộc nhiều vào dịch vụ,các tiện ích mà ngân hàng mang lại khi khách hàng sử dụngdịch vụ.
Huy động vốn từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác
Trong quá trình hoạt động các ngân hàng thường có các khoảntiền gửi ở lẫn nhau để thuận tiện trong giao dịch, thanh toán,…Ngoài ra việc vay lẫn nhau giữa các ngân hàng cũng làm tăngnguồn vốn huy động Huy động vốn từ các ngân hàng và các tổchức tín dụng khác tuy cũng khá là dễ dàng nhưng số lượngthường không nhiều và chi phí huy động thường cao hơn Dovậy, hình thức này các ngân hàng sử dụng không nhiều
hiện nay Phân
loại theo nghiệp
vụ huy động
vốn rõ ràng là
Huy động tiền gửi không kỳ hạn: Mục đích của cáckhoản tiền gửi này không phải là để lấy lãi mà chủ yếu dung đểthanh toán Người gửi tiền có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào
Huy động tiền gửi có kỳ hạn: Là các khoản tiền gửi củacác tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào ngân hàng và rút ra sau mộtthời gian nhất định Khoản tiền gửi này được trả lãi suất caohơn tiền gửi không kỳ hạn
Huy động tiền gửi tiết kiệm: Đây là hình thức huy độngvốn phổ biến nhát, lâu đời nhất của các NHTM Bao gồm cácloại: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳhạn và tiền gửi tiết kiệm có thời hạn dài
Trang 21 Huy động vốn qua nghiệp vụ đi vay
Hình thức này ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong môitrường kinh doanh đầy biến động như hiện nay Các NHTM cóthể vay từ các tổ chức tín dụng hay NHNN
Huy động vốn thông qua phát hành các công cụ nợ
Huy động thông qua phát hành trái phiếu hoặc kỳ phiếu
Trái phiếu ngân hàng là một tờ giáy có giá, xác nhận khoản nợcủa khách hàng đối với người chủ ngân hàng với những cam kếtnhư thanh toán một số tiền xác định vào một ngày xác địnhtrong tương lai với thời hạn xác định cho trước Trái phiếu đượcphát hành trong toàn bộ hệ thống ngân hàng, chủ yếu là để huyđộng vốn trung và dài hạn
Trang 22ngân hàng có thể kinh doanh một cách an toàn và hiệu quả.
1.2 Khái quát về huy động vốn tiền gửi tiết kiệm cá nhân của NHTM
1.2.1 Khái niệm và ý nghĩa tiền gửi tiết kiệm cá nhân.
- Đặc điểm
Tiền gửi tiết kiệm thuộc nhóm tài khoản phi giao dịch, có định hướng lãi và là nguồn vốn
có tính ổn định cao trong ngân hàng Đây là mọt trong những luồng tiền quan trọng nhấtcủa ngân hàng hiện đại
- Ý nghĩa:
+ Đối với NH:
Tạo nguồn vốn phục vụ hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng: Tiền gửi tiết kiệm lànguồn tiền gửi vô cùng quan trọng, góp phần phục vụ hoạt động kinh doanh của ngân
Trang 23hàng Sở dĩ như vậy, TGTK là nguồn vốn nhàn rỗi mang tổng giá trị tiền tệ lớn giúpcho ngân hàng thực hiện các hoạt động ngân hàng.
Gắn kết hoạt động của ngân hàng với địa phương: Người dân địa phương sử dụngđồng vốn nhàn rỗi của mình tới ngân hàng và được hưởng tiền lãi dựa trên lãi suấtquy ước tại ngân hàng Qua đó, sẽ tạo ra sự gắn kết thân thiết giữa ngân hàng vớingười dân địa phương
Là kênh huy động lâu dài, chi phí thấp: Ngân hàng áp dụng lãi suất cho khoản tiền gửinày tương đối thấp, sử dụng nguồn vốn này đi cho vay và hưởng lợi từ sự chênh lệchlãi suất đầu vào và lãi suất đầu ra
Toàn quyền sử dụng vốn kí thác trong thời gian kí thác: Tất cả lượng tiền gửi củakhách hàng kể từ khi kí thâc cho tới khi đáo hạn thì ngân hàng có quyền sử dụng sốtiền và thời gian đó
+ Đối với KH:
Là kênh đầu tư an toàn, thu nhập ổn định: Ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính,
là nơi mà khách hàng yên tâm đầu tư vốn nhàn rỗi của mình để hưởng lợi
Đáp ứng nhu cầu tiết kiệm cho khách hàng: Trong cuộc sống, nguồn của cải dư thừa
có thể được cất trữ hay để đầu tư là phụ thuộc vào quyết định của mỗi con người, có
cá nhân dùng trong việc mua vàng, có cá nhân lại muốn đi gửi tiết kiệm Ngân hàngchính là nơi đáp ứng nhu cầu gửi tiền của họ
1.2.2 Phân loại tiền gửi tiết kiệm
Mục đích của loại tiền này là nhằm nhờ ngân hàng cất trữ, bảo quản
hộ tài sản, tích lũy tài sản nên khách hàng thường phải trả lệ phí cho
Trang 24hạn ngân hàng, nhưng do cạnh tranh và các ngân hàng sử dụng nguồn
vốn này để hoạt động nên khách hàng không phải trả phí mà ngân hàng trả lãi cho khách hàng với lãi suất khuyến khích ( thấp )
Do vậy, loại nguồn này chỉ được sử dụng một phần, phần lớn còn lại được sử dụng để đảm bảo thanh toán cho khách hàng
2 TGTK trung hạn:
Đây là nguồn huy động vốn ngân hàng qua phát hành các công cụ
nợ trung hạn trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1 đến 5 năm) Vốn huy động này ngân hàng có thể sử dụng tương đối dài và thuận tiện Tuy nhiên lãi suất huy động nguồn này thường cao hơn nguồn ngắn hạn
3 TGTK dài hạn:
Đây là hoạt động huy động vốn dài hạn của ngân hàng trên thị trường vốn, với nguồn huy động này ngân hàng có thể sử dụng dễ
Trang 25dàng, có tính ổn định cao (từ 5 năm trở lên) Do vậy lãi suất ngân hàng phải trả cũng rất cao
3 Tiền gửi
tiết kiệm
khác
1 Đối với cá nhân:
Tiền gửi trên tài khoản thanh toán của các nhân nhằm mục đíchthuận tiện trong chi trả thanh toán như séc cá nhân, thẻ thanh toán,rút tiền mặt, đổi ngân phiếu…Đặc điểm của loại tiền gửi này là KHthường là những người có thu nhập cao
2 Đối với tổ chức:
Tiền gửi thanh toán nhằm mục đích phục vụ các giao dịch thanhtoán của tổ chức, doanh nghiệp và nhằm đảm bảo an toàn cho tàisản
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tiền gửi tiết kiệm cá nhân.
Thực trạng kinh tế ( tăng trưởng/suy thoái, ổn định/ bất ổn)
Chính sách quản lí kinh tế, tài chính
Dự báo biến động KT-Chính trị-XH trong và ngoài nước
Sự phát triển và cạnh tranh của các kênh hút vốn nhàn rỗiCạnh tranh về huy động vốn giữa các NHTM
Trang 26Khả năng tích lũy
Các kênh đầu tư mà họ có thể tiếp cận Uy tín trên thị trường Tâm lý Thị phần trong KD Năng lực quản lí tài chính Chiến lược phát triển của NH
1.3.1 Nhóm nhân tố bên ngoài
Nhóm nhân tố thuộc môi trường kinh tế - xã hội:
- Thực trạng kinh tế:
Nền kinh tế trong trạng thái suy thoái bất ổn định sẽ dẫn đến nguồn thu nhâp của dân cưgiảm đi, khi đó số tiền nhàn rỗi sẽ giảm đi làm ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốncủa ngân hàng và ngược lại
- Chính sách quản lí kinh tế, tài chính:
+ Chính sách pháp luật của Nhà nước về hoạt động ngân hàng: Pháp luật được đặt ra đểđiều chỉnh mọi quan hệ xã hội do vậy tất cả mọ hoạt động của ngân hàng đều chịu sựđiều chỉnh của pháo luật cụ thể là: luật các tổ chức tín dụng 2010, luật ngân hàng Nhànước Việt Nam, các văn bản pháp luật khác như: thông tư, chỉ thị… lĩnh vực hoạt độngcủa ngân hàng là vô cùng quan trọng trong nền kinh tế, vì vậy các hoạt động của ngânhàng luôn được nhà nước quản lý chặt chẽ bằng các văn bản pháp quy Mỗi văn bản đều
có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động ngân hàng, kể cả hoạt động huy động vốn
+ Chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước: Chính sách tiền tệ là công cụ điều tiếthoạt động của nền kinh tế, vì thế hoạt động của ngân hàng phải tuân theo chính sách nàytrong từng ththời kỳ nó tác động đến công tác huy động vốn của ngân hàng thương mạithông qua các công cụ như: lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc…
- Dự báo biến động kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước: