Nơi mỗi một con người luôn có sự phát triển liên tục từ độ tuổi này sang độ tuổi khác, cací trước làm tiền đề cho cái sau kế thừa và phát triển.
Trang 1Những đặc điểm tâm lí của trẻ ấu nhi.
Lý do và mục đích chọn đề tài.
Tâm lí học là một khoa học tìm hiẻu ề ý thức con nguời để biét mìnhbiét người,biết ứng xử sao cho hợp tình hợp lí, biết sống một cách hài hòa vàsung mãn để trưởng thành tốt đẹp, tuơng ứng với từng lưa tuổi và tránh đựocnhững thất bại trên đường đời Đó là một khoa học về con người với nhữngsuy tư và hành động, cảm nhận và tương tác, bên trong và bên ngoài, chiếusâu và chiều rộng Trong chừng mực của vấn đề giáo dục thanh thiếu niên vàthiếu nhi, các nhà sư phạm và giáo dục cũng sẽ không thể nào bỏ qua khôngthể tìm hiểu khoa tâm lí học đặc biệt đối với từng lứa tuổi các em
Với mỗi chúng ta cũng nên đối chiếu lại chính kinh nghiệm thời thơ
ấu và niên thiếu của mình, những gì mình đã gánh chịu thiệt thòi, cũng nhưnhững gì mình đã may mắn được nhận Bản thân mỗi chúng ta là một đứa trẻnhỏ, vậy đừn biến các em nhỏ trở thành “ những ông cụ non”, “ các bà thánhnhỏ” nghĩa là bắt các em rập khuôn theo về tâm lí theo kiểu người lớn, điều
mà ngầy xưa chúng ta đã bực bội khó chịu và âm thầm đề kháng
Trong thực tế, ở độ tuổi này, các em vẫn hoàn toàn nằm trong vòng taychăm sóc và giáo dục của bố mẹ và các anh chị trong gia đình các em, trongbài viết này, người viết xin nghiên cứu giai đoạn này để có thể hiểu đựơcdiễn biến tâm lí các cháu Nơi mỗi một con người luôn có sự phát triển liêntục từ độ tuổi này sang độ tuổi khác, cací trước làm tiền đề cho cái sau kếthừa và phát triển
Nội dung đề tài
2.1 Vị trí và ý nghĩa của tuổi ấu nhi trong quá trình phát triển tâm lí con người.
Lứa tuổi ấu nhi, là thời kì đứa bé bắt đầu thôi nôi và lẫm chẫm nhữngbước đi đầu đời, đưa tay sờ nắm bất cứ vật gì trong tầm tay, dõ mắt khám
Trang 2phá những khung cảnh xa hơn và hoàn toàn mới lạ, phạm vi tiếp xúc vớingười khác cũng rọng hơn chứ không chỉ dừng lại nơi vòng tay người mẹ.
do vậy cần chuẩn bị cho bé một không gian và môi trường an toàn, thoangđãng , không ô nhiễm về tiếng ộng và khi thở, có nhiều đồ vật tròn trĩnh, dễthuơng, nhiều màu sắc hài hòa, hấp dẫn bầu khong khí chung quanh phảitrìu mến, yêu thương, hanh phúc
Đây là thời kì của những giác động mở ra cho các em những tiếp xúcvật chất và những tương quan nhân vị, chủ yếu dựa vào ngũ giác ( nhìn,nghe, ngửi, nếm, sờ) vượt trội hơn hẳn giai đoạn bé nằm trong nôi hoặc ẵmngửa trên tay người lớn, thời kì này là nền tảng hết sức quan trọng cho tươnglai
Hiểu được tâm lí của trể ấu nhi sẽ giúp chúng ta chăm sóc các trẻ nhỏtốt hơn và xây dựng được những biện pháp giáo dục hiệu quả có tác độngtrực tiếp đến sự hình thành nhân cách của các bé sau này.Các giai đoạn pháttriển trong tâm lí thanh thiếu niên được phân chia:
Từ 0-1 tuổi: Hoạt động giao lưu cảm xúc trực tiếp với người lớn,trước hết là mẹ chiếm vị trí hàn đầu, quyết định sự hình thành và nhân cáchcủa trẻ Đó là hoạt động chủ đạo đầu tiên trong cuộc đời con người Đây làgiai đoạn cộng sinhvề mối quan hệ tình cảm giửa trẻ và người mẹ, tiếp theosau thời kì cộng sinh về cơ thể
Từ 2-3 tuổi là thời kì vườn trẻ: Thời kì này xảy ra quá trình trẻ tiếpthu mạnh mẽ những thao tác công cụ- đối tượng, những tri thức thực tiễnđựơc hình thành Hoạt động với đối tượng do xã hội tạo ra dần dần chiếm vịtrí chủ đạo ở lứa tuổi này
Từ 4-6 tuổi: Hoạt động trò chơi chiếm vị trí chủ đạo Ở đây nhờ tròchơi đóng vai, đứa trẻ mô phỏng lại trong trò chơi những mối quan hệ conngười với con người cùng với những chuẩn mực xã hội mà nó tiếp thu được
Trang 3trong cuộc sống Nhờ đó nó dần dần phát triển nhân cách của mình với tưcách là một thành viên của xã hội.
Từ 6-7 tuổi: Hoạt động học tập nhằm chiếm lĩnh những hệ thống trithức , những phương thức hoạt động chiếm vị trí chủ đạo Đây là giai đoạn
mà trí tuệ của trẻ phát triển rất thuận lợi
Từ 11-12 đến 14-15 tuổi: Ở giai đoạn này xuất hiện và phát triển mộtloạt hoạt động đặc biệt nhằm thiết lập các mối quan hệ trẻ em thiếu niên vớinhau, dựa trên sự tin cậy, những sở thích , hứng thú, tình cảm bạn bè vớinhau Quan hệ giữa cá nhân với nhóm, với tập thể đựoc hình thành Hoạtđộng giáo dục nhằm thiết lập và vận hành các mối quan hệ cá nhân thân tìnhchiếm vị trí chủ đạo ở lứa tuổi này
Từ 15-17 tuổi: Hoạt động học tập có định hướng nghề nghiệp đểchuẩn bị bước vào đời là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi này
Những hoạt động chủ đạo ở từng giai đoạn không vận hành một cáchtrơ trọi mà nó còn liên quan đến những hoạt động đã được hình thành ở giaiđoạn trước Những hoạt động chủ đạo ở giai đoạn trước chính là cơ sở, điềukiện của những hoạt động chủ đạo được hình thành sau.Trong quá trình pháttriển tâm lí con người, tuổi ấu nhi có vai trò đặc biệt quan trọng: Trẻ em cóxúc cảm rất sớm “những phức cảm mừng rỡ” là biểu hiện của những cảmxúc xuất hiện đầu tiên trong cuộc đời đứa trẻ
Tất cả những cái đó diễn ra vào giai đoạn phát triển sớm nhất của đứatrẻ nghĩa là vào lứa tuổi ấu nhi Lứa tuổi ấu nhi choán một thời kì không dàilắm trong quá trình phát triển của đứa trẻ, nó kéo dài trong khoảng hai năm.Nhưng biết bao nhiêu là những điều kì diệu đã diễn ra trong khoảng thờigian này! Trong suốt cả cuộc đời con người không hề có thời kì nào mà sựthay đổi lại diễn ra nhanh chóng và triệt để như vậy Chỉ cần nói rằng trongthời kì này đứa trẻ bắt đầu biết đi, trọng lượng của não tăng lên hai lần, trọng
Trang 4lượng thân thể tăng lên ba lần và chiều cao tăng gấp rưỡi Trong tuổi ấu nhi
đã diễn ra “ quá trình trở thành người” thực sự của đứa trẻ: nó bắt đầu biết trigiác, biết ghi nhớ, biết suy nghĩ; nó đã có những tình cảm khá nhiều vẻ, đãhiểu lời nói của những người xung quanh và nó đã bắt đầu bập bẹ những tiếnnói đầu tiên
Như chúng ta đã biết nếu một đứa trẻ không được tiếp xúc bìnhthường với mọi người thì khả năng trở thành người chẳng những không xuấthiện mà còn bị triệt tiêu vĩnh viễn trong lứa tuổi ngây thơ nghĩa là vàokhoảng đứa trẻ từ hai đến bốn năm Những trường hợp mà các em nhỏ được
“giáo dục” bởi những động vật hoang dã đã chứng minh cho điều này.Những trẻ em như vậy vẫn chỉ là “ động vật” Đứa trẻ cần con người dẫn dắt
nó vào thế giới loài người Đứa trẻ mới sinh ra không biết gì hết, nếu nhưnhững người lớn không bắt tay vào những biện pháp cần thiết để chăm sóc
nó, để làm cho nó dễ dàng chuyển sang những điều kiện mới thì cuộc sốngcủa nó sẽ lâm vào tình trạng nguy hiểm Chính vào giai đoạn “ biết bao điều
kì diệu xảy ra này” - mà tuổi ấu nhi chiếm vị trí hết sức quan trọng, nóquyết định sự “ trở thành người của đứa trẻ
2.2 Những đặc điểm tâm lý ở lứa tuổi ấu nhi.
2.2.1 Hoạt động với đồ vật là hoạt động chủ đạo.
Sự phát triển những hành động với đối tượng là thành tựu đầu tiên rõ
rệt ở lứa tuổi này Trong khi hành động với đối tượng, trẻ không chỉ lĩnh hộinhững phương thức hành động của các công cụ, các đối tượng mà còn lĩnhhội chức năng của chúng Ví dụ: đứa trẻ tập ăn bằng thìa, uống bằng cốc…rồi dần dần lĩnh hội được ý nghĩa của các đồ vật đó theo kiểu người Trongkhi lĩnh hội những hành động sử dụng các đồ vật sinh hoạt hằng ngày, đồngthời trẻ cũng lĩnh hội được những qui tắc hành vi xã hội Một em bé khi giậndỗi có thể ném cái cốc nước xuống sàn, nhưng bằng kinh nghiệm của mình (
Trang 5thông qua thái độ của người lớn) dần dần nó nhận ra đó là một hành vikhông đúng, không phù hợp với qui tắc sử dụng đồ vật và lần sau, “ nhỡ” cólàm như vây, nó tỏ ra sợ hãi khi nhìn vào mặt người lớn Những qui tắc ứng
xử xã hội sẽ được hình thành dần dần như vậy
Suốt thời kì vườn trẻ (tuổi ấu nhi), hoạt động, hành động với đồ vậtluôn luôn giữ vai trò chủ đạo Trẻ hướng vào thế giới đồ vật do con ngườitạo ra để tìm hiểu, khám phá chúng theo hướng: “ Đây là cái gì? Có thể làm
gì với cái này? Làm thế nào?”… Lúc này trẻ luôn luôn tìm hiểu, khám phá
để xem cần phải hành động với các đồ vật xung quanh thế nào Do đó khigặp một đồ vật bất kì nào trẻ cũng muốn hành động với nó Đó là nhữnghành vi tích cực giúp cho sự phát triển tâm lý của trẻ Tuy nhiên trong vô số
đồ vật mà trẻ muốn hành động với chúng, có rất nhiều đồ vật dễ bị hưhỏng( như cốc dễ bị vỡ, sách dễ bị rách…) hoặc gây nguy hiểm( dao dễ làmđứt tay) Tình hình này dẫn đến mâu thuẫn giữa tính tích cực hoạt đọng củatrẻ với sự “ bảo vệ ” cấm đoán của người lớn do đó đồ chơi ra đời là để giảiquyết mâu thuẫn này Rẻ không hành động với đồ vật thật thì hành động với
đồ chơi( là mô hình của đồ vật thật)
Đối với mỗi loại đồ chơi hay đồ vật thật, trẻ đều cố gắng tìm kiếm mộtphương thức hành động tương ứng Sự tiếp xúc với thế giới xung quanhngày càng rộng thì phương thức hành động với đồ vật cũng ngày càng phongphú Trong số những hành động với đồ vật mà trẻ nắm vững được ở lứa tuổi
ấu nhi thì những hành động thiết lập các mối tương quan và những hànhđộng công cụ là những hành động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với sự phấttriển của trẻ hơn cả
Hành động thiết lập các mối tương quan: Đó là những hành động đưahai hoặc nhiều đối tượng( hoặc các bộ phận của chúng ) vào những mốitương quan nhất định Chẳng hạn hành động chồng các khối gỗ từ to đến
Trang 6nhỏ thành hình tháp, hoạt động lắp rắp các đồ chơi, lồng những con búp bêđồng dạng vào nhau… Muốn thiết lập được mối tương quan trẻ phải tínhđến thuộc tính của đối tượng và ý nghĩa của những thuộc tính ấy trong mộttrật tự nhất định nào đó Nhờ hành động thiết lập mối tương quan mà cácchức năng tâm lí như tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy được phát triểnmạnh đặc biệt là tư duy trực quan hành động.
Hành động thiết lập các mối tương quan giữa các đối tượng, nhữngthuộc tính, chức năng của nó, ý nghĩa của nó được bộc lộ trước hết nhờảnh hưởng giáo dục và dạy học của người lớn Ngay trong tuổi hài nhi, trẻ
đã bắt đầu thực hiện các hành động với đồ vật như tháo ra, lắp vàp, đậy lại.Tuy nhiên, các hành động này có đặc điểm là khi tiến hành, trẻ hài nhi chưabiết đến các thuộc tính của đồ vật, chưa biết chọn đồ vật theo hình dáng vàkích thước sắp xếp chúng theo một trật tự nhát định Ngựoc lại, những hànhđộng thiết lập mói tương quan mà trẻ bắt đầu lĩnh hội ở tuổi ấu nhi đòi hỏiphải tính đến những thuộc tính của đối tượng Chẳng hạn để xếp được hìnhtháp cho đúng, trẻ cần phải chuý ý đến tương quan về độ lớn của các khối
gỗ, phải biết xếp khối gỗ to nhất ở dưới cùng, rồi chồng lên lần lượt nhữngkhối gỗ nhỏ dần Hành động với đồ chơi lắp ghép cũng thế, trẻ càn phải biếtthuộc tính của đồ chơi dây là những hành đọng khá phức tạp đối với trẻ ấunhi, bởi vì những hành động này phải được điều chỉnh bằng chính kết quảthu được Nhưng trẻ lại chưa thể tự mình tạo ra kêt qua đó, nhất là ở trongthời kì đầu, trẻ rất khó đạt tới kết quả này, chung thưòng sắp xếp lung tung.Ngưòi lớn cần phải giúp trẻ đạt tới kết quả đúng bằng cách làm mẫu cho trẻ
và giúp trẻ thực hiện cách hành động để trẻ dần nắm được hành động đó, dầndần trẻ hiểu ra rằng với những đồ vật khác nhau cần phải hành động theonhững mức độ mang tính tự do khác nhau Chẳng hạn, việc xâu hạt vào dây,lồng các con búp bê , những việc hành động tương dối tự do hơn (ít chặt
Trang 7chẽ hơn) so với việc cầm búa để gõ, cầm bút chì để vẽ Chính điều này hìnhthành ở trẻ tâm thế đi tìm trong mỗi hành động- công cụ một chức năng đặcbiệt của nó.
Hành động công cụ: là hành động trong đó một đồ vật nào đó được sửdụng như một công cụ để tác động lên các đồ vật khác Chẳng hạn dùng thìa
để xúc cơm, dùng dao để thái rau Ở tuổi ấu nhi trẻ mới học cách sử dụngmột số công cụ sơ đẳng nhất như thìa, cốc, bút chì, Tuy vậy, những cái đócũng đã có ý nghĩa rất lớn với sự phát triển tâm lí vì, bất kì một công cụ nàocũng có một cấu tạo và cách dùng nhất định: cách thức dùng là do xã hội quiđịnh và cấu tạo công cụ là do chức năng của nó qui định Việc sử dụng công
cụ đòi hỏi phải thay đổi những động tác của bàn tay, làm cho bàn tay phảiphục tùng cấu tạo của công cụ Ví dụ: muốn ăn cơm bằng thìa đứa trẻ phảibiết cầm đúng vào cán thìa, xoay cho thìa nằm ngửa thì mới xúc được cơmtrong bát, từ bát đưa thẳng thìa lên mồm rồi mới cho vào mồm Có nghĩa làđộng tác của tay phải được thay đổi sao cho phù hợp với cấu tạo của thìa.Điều này đuợc người lớn dạy bảo theo kiểu làm mẫu, hướng dẫn một cách
cụ thể, nhiều lần nhờ đó trẻ dần dần nắm được nguyên tắc của việc sử dụngcông cụ mà loài người đã “ghi vào” trong đó Hành động công cụ mà trẻnắm đựoc ở lứa tuổi ấu nhi chưa phải là hoàn toàn thành thạo, còn phải tiếptục hoàn thiện thêm, song điều quan trọng là ở chỗ trrẻ nắm đựơc chínhnguyên tắc của việc sử dụng công cụ, một trong nhũng nguyên tắc hoạt động
cơ bản của con người
2.2.2 Sự phát triển ngôn ngữ.
Song song với hoạt động công cụ, sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em ởlứa tuổi này là một thành tựu nổi bật Hứng thú của trẻ ngày càng tăng vớihoạt động đồ vật, ngày càng kích thích trẻ hướng tới ngưòi lớn, mở rộng sựgiao tiếp với người lớn Tuổi ấu nhi là thời kì nhạy cảm đối với sự phát triển
Trang 8ngôn ngữ, là thời kì lĩnh hội ngôn ngữ diễn ra đặc biệt có hiệu quả “ thỏ thẻnhư trẻ lên 3” Cuối năm thứ nhất trẻ có khoảng 30-40 từ, năm thứ hai cókhoản 300 từ và lên 3 tuổi trẻ có khoảng 1500 từ
Lúc đầu, việc thông hiểu ngôn ngữ gắn với tình huống: tình huống cụthể + lời nói = tín hiệu hành động Sau dần trẻ hiểu được lời nói không phụthuộc vào tình huống nữa Giai đoạn này bắt đầu thời kì “ phát cảm ngônngữ” và xuất hiện “ ngôn ngữ tự trị” các em thường ít chú ý tới ý nghĩa củanhững lời nói mà chú ý nhiều hơn đến giọng nói mà qua đó những lời đượcphát ra Sự xuất hiện của lời nói là một mốc phát triển mới về chất rất quantrọng của tâm lý đứa trẻ Lời nói trước hết tạo điều kiện cho nhu cầu tiếp xúctích cực với người lớn của đứa trẻ Hơn nữa, sự phát triển khả năng nói làmphong phú thêm nhu cầu nhận thức của đứa trẻ, làm phát triển tư duy của nó
và có liên quan mật thiết với tính chất của những kết luận còn ấu trĩ của nó.Những lời nói đầu tiên của đứa trẻ thường có đặc điểm là có nhiều nghĩa.Nói cách khác, đứa trẻ thường gọi tên những sự vật hoàn toàn khác nhaubằng cùng một lời nói Đến cuối năm thứ hai, đứa trẻ đã có thể hiểu đượcnhững câu chuyện đơn giản Nhưng đứa trẻ hai tuổi vẫn còn duy trì lời nói
có nhiều nghĩa Trẻ nhận ra mối liên quan có thực giữa những đồ vật vànhững từ đứng sau nó(định danh cho nó) Khả năng gắn từ với đối tượng vàhành động mà nó biểu thị được hình thành từng bước theo hai hướng chính:một mặt trẻ hoàn thiện sự thông hiểu lời nói của người lớn, một mặt kháchình thành ngôn ngữ tích cực của riêng mình
Hầu hết các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ em ở lứa tuổinày đã khẳng định: trình độ ngôn ngữ của trẻ em phụ thuộc chủ yếu vào sựdạy bảo của người lớn Càng thoả mãn yêu cầu giao tiếp của trẻ bao nhiêu,ngôn ngữ của trẻ càng phát triển phong phú, đa dạng bấy nhiêu và ngược lại
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ trong lứa tuổi này có nét đặc trưng là mang
Trang 9tính “ vô định hình” Sự biểu hiện của nó là trẻ diễn đạt lời nói của mìnhtheo cách riêng không giống với người lớn Ví dụ: “ măm” là ăn, “ xịt” làthịt, trẻ thường dùng câu rút gọn để diễn tả: lúc đầu là câu một âm tiết, rôi2,3 âm tiết : trật tự các âm tiết có khi không sắp xếp theo thứ tự như: măm( mẹ cho ăn), bế mẹ ( mẹ bế con)
Tình trạng ngôn ngữ như thế này sẽ nhanh chống được khắc phụcnếu trẻ đựơc ở trong môi trường giao tiếp thường xuyên và được sự dạy dỗđúng hướng của người lớn Khi 3 tuổi ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh cả
về khối lượng từ và cấu trúc ngữ pháp: trẻ nói khá thạo câu đơn Cuối 3 tuổitrẻ nói đựoc câu phức như “ Ai hư không được đi chơi”, “ Tại chị ấy lấy củacon, con mới khóc” Trẻ lĩnh hội nghĩa của từ sẽ sâu sắc hơn khi trẻ lĩnh hộiđược phương thức sử dụng đồ vật Trẻ nắm được từ chỉ đồ vật mang ý nghĩakhái quát mang theo chức năng ( thìa) hoặc từ chỉ hành động mang ý nghĩakhái quát theo mục đích ( khều) chủ yếu là thông qua hoạt động với đồ vật
Sự phát triển ngôn ngữ mạnh ở thời kì này làm cho các phẩm chất tâm
lí khác như tri giác, trí nhớ, tư duy của trẻ có những thay đổi về chất
2 2.3 Sự phát triển tư duy trực quan hành động.
Loại tư duy này gắn với sự phát triển của hoạt động đồ vật Ở tuổi ấunhi, tri giác của trẻ tinh vi và đầy đủ dần chính là nhờ trẻ được hoạt động với
đồ vật nhất là hành động công cụ và hành động thiết lập các mối tương quan.Trong khi hành động với một đồ vật nào đó để lĩnh hội phương thức sư dụng
nó thì đồng thời cũng tri giác được kích thước và hình dạng của nó Khi đứatrẻ học thực hiện hành động thiết lập những mối tương quan, nó cần phải lựachọn và liên kết các đối tượng hay các phân của chúng cho phù hợp với hìnhdạng, độ lớn, màu sắc, xếp chúng vào mối tương quan nhất định trong khônggian, thì trẻ cũng nhận ra được ác vị trí, phương hưóng và trình tự sắp xépcủa ác đồ vật Như vạy, trẻ đã hình thành được những hành động tri giác mới
Trang 10đó là những hành động định hướng bên ngoài, tạo tiền đề để thiết lập nhữnghành động định hướng bên trong sau này Từ sự đối chiếu, so sánh nhữngthuộc tính của các đối tượng bằng các hành động định hướng bên ngoài, trẻchuyển sang so sánh đối chiếu các thuộc tính của các đồ vật bằng mắt Mộtkiểu hành động tri giác mới được hình thành, chúng định hướng bằng mắttrong khi hành động với đồ vật Tuy nhiên, trẻ đồng nhất các dấu hiệu củađối tượng thật và hình ảnh của chúng Hành động định hướng bằng mắt chophép trẻ tích luỹ được khá nhiều biểu tượng về các biểu tượng trong hiệnthực và được ghi lại trong kí ức, biến thành các mẫu để so sánh với các đồvật khác trong khi tri giác chúng.
Bên cạnh tri giác bằng mắt ở tuổi ấu nhi, sự tri giác bằng tai cũng pháttriển mạnh mẽ Hoạt động cơ bản của trẻ gắn liền với tri giác âm thanh là sựgiao tiếp ngôn ngữ Thông thường ở tuổi thứ hai, tri giác được tất cả âm vịcủa tiếng mẹ đẻ
Cuối tuổi hài nhi ở nhiều trẻ đã xuất hiện những hành động có thể coi
đó là mầm mống của tư duy, trẻ biết sử dụng mối liên hệ giữa đối tượng đểđạt tới mục đích chẳng hạn lấy rổ để đựng đồ, nhưng việc này chỉ xuất hiệntrong tình huống đơn giản và quen thuộc Điều quan trọng là trẻ học đượcnhững hành động xác lập mối quan hệ giữa đồ vật để giải quyết một nhiệm
vụ thực tiễn nào đó Việc chuyển từ những mối liên hệ có sẵn hay nhữngmối liên hệ do người lớn chỉ ra sang biết xác lập những mối liên hệ mới giữacác đối tượng là mức độ quan trọng đối với sự phát triển tư duy của trẻ Những biểu hiện tư duy của nó đang gắn rất chặt với hành động trong nhữngtình huống cụ thể Tư duy này có được là do trẻ hành động trực tiếp với đốitượng dưới sự giúp đỡ của người lớn Chẳng hạn để thực hiện động tác lấyquả cam đựng trong rổ, đứa trẻ sẽ kéo cái rổ đến gần và lấy quả cam Nếuquả cam nằm ở gầm bàn, trẻ phải dùng que để khều cho quả cam đến gần để
Trang 11lấy Trẻ tuổi ấu nhi sử dụng loại tư duy trực quan hành động để “nghiêncứu” những mối quan hệ của thế giới khách quan Nhờ đó trẻ dần dần xáclập được những mối quan hệ, liên hệ giữa sự vật, hiện tượng Hành độngcông cụ và hành động thiết lập những mối tương quan không chỉ giúp trẻgiải quyết những nhiệm vụ cụ thể mà mặt khác đó chính là con đường để trẻnắm được hoạt động của tư duy Trong hành động thực tiễn với đối tượng trẻkhám phá ra rằng những đối tượng khác nhau có thể sử dụng bằng cách thứcgiống nhau Ví dụ: cái gậy có thể khều quả cam ở gầm giường để lấy, cũng
có thể giơ lên cao để chọc quả chuối, có thể lăn quả bóng từ góc này đến góckhác Vậy là xuất hiện tính khái quát ban đầu của công cụ, của kinh nghiệmhành động Đây chính là điều cực kì quan trọng của sự phát triển tư duy, vìnhư các nhà tâm lý học hiên đại đã khẳng định: trình độ tư duy của connguời đều bắt đầu từ những hành động thực tiễn , vật chất ban đầu
Bằng kinh nghiẹm hoạt động của mình, dưới sự dạy dỗ củ người lớn,
tư duy của trẻ em ở lứa tuổi này dần dần được gắn thông nhất với ngôn ngữ.Điền này thể hiện rõ ở chỗ vào lứa tuổi 3 tuổi, ngôn ngữ của người lớn cóthể thúc đẩy sự phát triển tư duy hành động trực quan của trẻ Ví dụ: trẻđang loay hoay kéo một cái hộp qua những thanh ngang trên đầu giường,người mẹ nói: “ Con quay ngược lại mà kéo”, đứa trẻ sẽ thực hiện hànhđộng tương ứng và bài toán được giải Một hiẹn tượng khác cũng quan sátthấy ở trẻ là ở thời kì này trẻ có thể vừa hành động vừa nói thành lời Nhưngluc đầu 2 quá trnhf đó còn độc lập chưa ăn nhậ vào với nhau Chỉ ở lứa tuổisau, 2 quá trình này mới thống nhất lại để hành động trí tuệ gắn với ngônngữ
2.2.4 Sự xuất hiện tự ý thức và nguyện vọng độc lập.
Vào cuối tuổi vườn trẻ xuất hiện một mâu thuẫn giữa trẻ em và ngườilớn: người lớn vẫn tiếp tục coi đứa trẻ hoàn toàn phụ thuộc về mình, bị mình
Trang 12điều khiển và chỉ huy trong khi đứa trẻ bắt đầu phát triển tính độc lâp, bắtđầu muốn tách mình ra khỏi người lớn đây là một mâu thuẫn tích cực,chứng tỏ sự trưởng thành của trẻ em mà sự giải quyết nó đưa mức phát triểncủa trẻ em lên cao hơn Rõ ràng đứa trẻ lên 3 do đã tích luỹ được một sốkinh nghiệm về phương thức hành động, do sự phát triển mạnh về ngôn ngữ,
nó đã có thể hành động một cách độc lập hơn, đã bắt đầu biết tự phục vụ.Thời điểm quan trọng nhất trong sự phát triển của trẻ là lúc trẻ bắt đầu ýthức được rằng mình là một con người riêng biệt, khác với những ngườixung quanh Khi bước vào tuổi ấu nhi, trẻ chưa tách rời tình cảm và ý muốnmình khỏi hoàn cảnh bên ngòai Trẻ còn ở tình trạng chưa xác định đượcbản thân mình Hành động và vận động của trẻ thường xuyên biến đổi vì thếgiới nội tâm còn chưa xác định Trẻ nói với mình như là nói với người khác
Sự đồng nhất mình với người khác như vậy bộc lộ ra trong lời nói của trẻ,đặc biệt là trong cách xưng hô, nhiều đứa trẻ tự xưng tên của mình nhưngười khác gọi Gần cuối ấu nhi trẻ mới nhận ra cái “ tôi” của mình, và do
đó khi xưng hô trẻ mới nhận biết mình là ngôi thứ nhất Chỉ đến khi 3 tuổitrẻ mới nhận ra tên gọi của mình là gắn liền với bản thân mình Do vậy, đứatrẻ bảo vệc tên riêng và tỏ ra bực mình nếu bị gọi bằng tên khác
Ý thức bản thân là nguồn gốc làm nảy sinh những ý muốn và hànhđộng phân biệt mình với người khác, từ trạng thái hoà mình vào nhữngngười khác, trẻ chuyển sang tự khẳng định mình trong thế giới xung quanh,
có nhiều lúc trẻ muốn thử sức với các đồ vật, cố gắng thực hiện các hànhđộng với đồ vật và chú ý sự thay đổi mà nó tạo ra( chẳng hạn trẻ cầm búađóng đinh, cầm xẻng xúc đất ) Tất cả những thay đổi ấy khiến trẻ lần đầutiên nhận ra sức mạnh nơi bản thân mình và nhận thấy mình là một chủ thể.Cũng trong thời gian này trẻ tiếp tục tìm hiểu cơ thể của mình Sự quan tâmcủa trẻ đối với bản thân mình rất giống sự quan tâm của nó với sự vật bên
Trang 13ngoài, những hành động tự tìm hiểu như vậy mang lại cho trẻ những tri thức
và kinh nghiệm đã hình thành nên sự tự ý thức, ở tuổi lên 3 thường phát hiện
ra mình qua việc tự soi gương
Bước cao hơn của sự tự ý thức là trẻ tự nhận xét đánh gía được mình.Mọi việc trẻ làm đều có thể chia thành “ngoan” hay “hư” Khi trẻ làm mộtviệc gì được ngưòi lớn xung quanh tán thưởng thì trẻ thường làm đi làm lạinhiều lần để được khen và nó lại rất khổ tâm khi mọi người không bằnglòng Sự khen ngợi, tán thưởng của người xung quanh là nguồn cổ vũ quantrọng giúp trẻ hình thành tình cảm tự hào, tự khẳng định mình Nhu cầu đódẫn đến sự phát triển tinh thần tự trọng và có tác dụng làm cho hành vi củatrẻ trở nên tốt đẹp
Nguyện vọng độc lập: Khi trẻ tách mình ra khỏi người khác và có ýthức về những khả năng của mình thì đồng thời cũng xuất hiện một thái độmới với người lớn Trẻ bắt đầu so sánh mình với một người lớn, muốn giốngngười lớn, và làm những việc như người lớn, muốn độc lập và tự chủ Điều
đó thể hiện nguyện vọng độc lập của trẻ, lúc này trẻ có khả năng tự mìnhthực hiện những hành động với đồ vật, không cần sự giúp đỡ của ngườikhác, có thể tự phục vụ trong những trường hợp đơn giản, nó bắt đầu “bướng” (để em tự làm lấy).Trẻ lên ba thường hay nói “Con tự xúc cơm”,
“Con tự rửa tay” không muốn người lớn can thiệp vào những việc đó Tínhđộc lập xuất hiện ở trẻ, nhu cầu muốn khẳng định hành động độc lập là rấtlớn, để khẳng định mình Nhu cầu tự khẳng định là một động lực mạnh mẽ,thúc đẩy trẻ bước sang một giai đoạn phát triển mới và đây là dấu hiệu củatrưởng thành rất đáng mừng Nhưng cùng với nó lại xuẩt hiện tính bướngbỉnh do muốn làm theo ý mình, tự mình làm tất cả Nhiều nhà tâm lý học gọiđây là “thời kì khủng hoảng của lứa tuổi lên 3” Chính hoạt động vui chơi là
Trang 14nơi trẻ thể hiện tốt nhất tính độc lập của mình và là nơi thoả mãn được nhucầu tự khẳng định.
2.2.5 Sự phát triển tình cảm và xã hội
Cảm xúc xuất hiện rất sớm, thậm chí ngay cả ở trẻ mới đẻ Cười, khóc, ọ ẹđều là tín hiệu hành vi mà trẻ sơ sinh thể nghiệm cảm xúc Sự hiện diện củacảm xúc khác nhau có lợi cho trẻ sơ sinh, nó giúp chúng giao tiếp với ngườichăm sóc, cảm xúc báo tín hiệu cho người chăm sóc biết tẻ đang dễ chịu haykhó chịu(đau) và vì vậy cảm xúc giúp trẻ tương tác xã hội với người chămsóc
Trong hai năm đầu đời, những cảm xúc khác nhau xuất hiện ở trẻ tạinhững thời điểm khác nhau Khi mới sinh, trẻ có khả năng thể hiện nhuẽngcảm xúc như sự quan tâm, sự khổ sở, sự ghét bỏ và sự toại nguyện Nhữngcảm xúc cơ bản khác như giận dữ, buồn rầu, vui vẻ, kinh ngac và sợ hãi xuấthiện ở độ tuổi từ hai tháng rưỡi đến bảy tháng Những cảm xúc cơ bản trênđựoc các nhà tâm lí học phát triển coi là bẩm sinh Bắt đầu từ hơn một tuổi,trẻ thể hiện nhũng cảm xúc phối hợp ( thư cấp) như ngượng ngập, xấu hổ,mặc cảm, đố kỵ và tự hào: một em bé trong giai đoạn này sẽ hay biểu lộ sựhờn giận hay đố kỵ nếu như mẹ của em bé không bé nó mà lại bế đứa trẻkhác Những cảm xúc này được gọi là cảm xúc tự ý thức vì nó chứa đựngmột sự hài lòng hay một sự day dứt nào đó về bản thân Michale Lewis- nàhtâm lí học tin rằng sự ngượng ngùng- cảm xúc tự ý thức đơn giản nhất –không xuất hiện cho đến khi trẻ có thể nhận ra bản than minh trong gươnghay trong ảnh tương tự, những cảm xúc tự đánh giá bản than như xấu hổ ,mặc cảm hay tự hào chỉ hinh thành trên cơ sở tự ý thức và sự hiểu biết vềnguyên tắc ứng xử chuẩn mực cũng như biết đánh giá ứng xử của bản thân.Bắt đầu từ 1 tuổi, trẻ mới thật sự biết trạng thái tình cảm của chúng, tức làkhi chúng bắt đầu phát triển nhận thức bản thân Vì vậy cảm xúc không chỉ