Hát sli của người Nùng Phàn Slình hầu như chưa có ai sưu tầm nghiên cứu
Trang 1Lời cảm ơn
Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS TS Trần Bình cùng tất cả các thầy cô giáo khoa Văn hóa du lịch- Tr-ờng Đại học Dân Lập Hải Phòng, cán bộ và nhân dân lãnh đạo xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, đã tận tình h-ớng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian làm khóa luận
Nhờ có sự giúp đỡ nhiệt đó em mới có đ-ợc những kết quả nh- ngày hôm nay Tuy đã có nhiều cố gắng để bài nghiên cứu có kết quả tốt, đóng góp cho việc gìn giữ và phát triển tục hát sli ở Lục Ngạn Song do nhiều hạn chế, khóa luận chắc chắn sẽ còn nhiều hạn chế
và thiếu sót, em rất mong đ-ợc sự góp ý và phê bình, bổ sung ý kiến quý báu, của tất cả mọi ng-ời
Em xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, tháng 6 năm 2010
Nguyễn Thị Ph-ơng
Trang 2Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
* Lý do khoa học
Trong thời kì đổi mới, đất nước mở cửa hội nhập, giao lưu văn hóa quốc
tế, thì những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc đang có nguy cơ bị suy thoái mai một dần và mất đi Vì thế trong những năm gần đây, việc bảo tồn
và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc đó được các ban, ngành trong cả nước chú trọng, quan tâm Điều này được thể hiện rõ qua nghị quyết của đại hội lần thứ tư Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII: “ Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội” Đại hội lần thứ V Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII cũng
đề ra nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Dựa trên nghị quyết của Trung Ương, trong những năm gần đây huyện uỷ, uỷ ban nhân dân, phòng văn hóa thông tin huyện Lục Ngạn đã triển khai kế hoạch bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể
Lục Ngạn là một huyện miền núi, nằm về phía Đông Bắc của tỉnh Bắc Giang, có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống như: Tày, Nùng, Dao, Cao Lan, Sán Chí, Sán Dìu, Hoa… (dân tộc Nùng gồm có 3 nhóm là Phàn Slình,Nùng Inh và Nùng Cháo , trong đó nhánh Nùng Phàn Slình là đông nhất) Ngoài những đặc điểm chung các dân tộc nói trên còn mang đậm những nét riêng biệt
Nhánh tộc ng-ời Nùng Phàn Slình có hát sli (soong hao) rất phổ biến Sli
là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian, là trí thức trí tuệ tâm hồn trong
đời sống tinh thần của tộc ng-ời Nùng Phàn Slình Là một hình thức hát giao
Trang 3duyên đối đáp, kể chuyện, giao l-u, chúc tụng đậm chất trữ tình, thể hiện tình yêu quê h-ơng đất n-ớc, yêu con ng-ời và giàu tình nhân ái, thể hiện những tình cảm của con ng-ời với con ng-ời, con ng-ời với thiên nhiên để cho cuộc sống tốt đẹp hơn Trải qua các thời kỳ lịch sử nó đ-ợc nhiều thế hệ nối tiếp và sáng tạo, l-u truyền và trở thành một loại hình nghệ thuật dân gian đ-ợc giữ gìn bền vững qua các thời đại
Loại hình dân ca này tr-ớc đây rất thịnh hành và đ-ợc bà con nhân dân hát th-ờng xuyên ở mọi nơi, mọi lúc Nh-ng từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX trở lại đây, hát sli (soong hao) của ng-ời Nùng Phàn Slình gần nh- bị lãng quên trong đời sống xã hội Những ng-ời hát và những ng-ời thuộc bài hát còn lại đến nay hầu nh- không còn Hát sli trở nên xa lạ đối với tầng lớp trẻ Vì vậy, việc nghiên cứu và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, trong đó
có thể loại dân ca này là rất cần thiết Công trình này không nằm ngoài mục đích chung là làm thế nào để cho những bài ca và các thể loại hát sli Nùng Phàn Slình đ-ợc tồn tại và sống mãi trong đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số trong huyện nói riêng và các nơi khác nói chung
Việc nghiên cứu hát sli (soong hao) của ng-ời Nùng Phàn Slình nhằm khơi dậy những giá trị văn hóa, nghệ thuật truyền thống của dân tộc, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa của ng-ời Nùng Phàn Slình nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung Chính vì vậy, là một sinh viên khoa Văn hóa du lịch nên việc nghiên cứu,tìm hiểu để đ-a ra đ-ợc tiềm năng và giá trị của tục hát sli đối với việc phát triển du lịch văn hóa ở Lục Ngạn (Bắc Giang) là một việc làm rất cần thiết và hữu ích Tuy khả năng của bản thân còn nhiều hạn chế về kiến thức nh-ng tôi vẫn mong muốn đem hết khả năng của mình để nghiên cứu, góp phần bảo tồn và phát huy tác dụng của hát sli (soong hao) của ng-ời Nùng Phàn Slình đối với hoạt động du lịch
* Lý do thực tiễn
Trang 4Để tạo ra một nền kinh tế phát triển và h-ng thịnh Đảng và nhà n-ớc ta
đã có những chính sách nhằm khuyến khích phát triển kinh tế, đặc biệt để tạo ra một nền kinh tế phát triển đồng bộ, Đảng và nhà n-ớc ta đã quan tâm
đến việc phát triển kinh tế ở vùng cao, nơi có rất nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Việc phát triển kinh tế không tách rời với việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy những nền văn hóa riêng của từng tộc ng-ời Mỗi tộc ng-ời lại có những đặc điểm về văn hóa riêng, tạo nên sự đa dạng và muốn không bị mai một thì việc nghiên cứu về nó là rất cần thiết
Đặc biệt với vị trí địa lý thuận lợi, lại là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa, Lục Ngạn ở Bắc Giang sẽ là một điểm đến thú vị đối với du khách,
ở đây có một làn điệu rất nổi tiếng, gắn với những đặc tr-ng văn hóa của ng-ời Nùng có thể phục vụ cho hoạt động du lịch Vì vậy muốn phát triển du lịch chúng ta cần phải nghiên cứu nó
Tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: Tục hát sli của ng-ời Nùng đối với việc phát
triển du lịch văn hóa ở Lục Ngạn, Bắc Giang
2.Tình hình nghiên cứu
Hát sli (soong hao) của ng-ời Nùng Phàn Slình hầu nh- ch-a có ai s-u tầm, nghiên cứu Chỉ có một số ít các nhà nghiên cứu quan tâm đến và mới chỉ mang tính chất là khảo sát, tìm hiểu Các công trình nghiên cứu của các tác giả đi tr-ớc mới dừng lại ở mức độ khái quát chung về văn hóa các dân tộc trong tỉnh và huyện nh- :
- Di sản văn hóa Bắc Giang về văn hóa phi vật thể ( Bảo tàng Bắc Giang,
xuất bản năm 2006) Trong cuốn sách này các tác giả đã nói qua các làn điệu dân ca của các dân tộc
- Truyền thống văn hóa Thông tin huyện Lục Ngạn (Bắc Giang xuất bản
tháng 8 năm 2007) Cuốn sách này có nói về văn hóa các dân tộc trong huyện trong đó có dân tộc Nùng
Trang 5- Địa chí Bắc Giang - phần văn hóa - xã hội các tác giả cũng nói về văn
hóa các dân tộc trong tỉnh
-Sổ tay các dân tộc thiểu số.(Viện dân tộc học)
Thông qua những cuốn sách trên, nội dung của nó cũng đề cập tới nhiều phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số đang c- trú tại tỉnh cũng nh- tại huyện, trong đó có dân tộc Nùng
Trong những công trình kể trên, các tác giả chỉ mới liệt kê những vấn đề chính về thành phần các dân tộc, phong tục tập quán, lời ca ở dạng tổng quát ch-a đi sâu vào vấn đề cụ thể Các công trình trên cũng giúp cho ng-ời viết nhìn vào vấn đề một cách cụ thể hơn
3 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát, điền dã ,tìm hiểu hệ thống các thể loại hát sli ( soonghao) của ng-ời Nùng Phàn Slình ở huyện Lục Ngạn - Bắc Giang đi sâu vào lời ca, cách hát, cấu trúc giai điệu, giá trị văn học dân gian nhằm cung cấp cho các nhà nghiên cứu, những ng-ời làm công tác quản lý có thêm tài liệu về hát dân ca sli ( soonghao) của ng-ời Nùng Phàn Slình
Trên cơ sở tìm hiểu phân tích nguồn gốc, lịch sử phát triển, lề lối
tổ chức, quá trình diễn x-ớng, những đặc điểm cơ bản của dân ca sli ( soonghao) trong đời sống văn hóa c- dân vùng Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang Nghiên cứu đề tài này, tôi cũng muốn làm rõ thực trạng tồn tại của dân
ca sli ( soonghao) Nùng Phàn Slình trong thời đại hiện nay, tìm ra nguyên nhân, từ đó làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất ph-ơng h-ớng bảo tồn
và phát huy giá trị, vai trò cuả hát sli ( soonghao) ng-ời Nùng Phàn Slình trong xã hội
Và điều quan trọng nhất là tôi muốn đ-a ra những ý kiến của cá nhân mình nhằm đ-a tục hát sli trở thành một tài nguyên du lịch văn hoá phục
vụ cho hoạt động du lịch văn hóa của ng-ời dân ở Lục Ngạn nói riêng và cho
Trang 6khách du lịch nói chung, và các lợi ích của việc phát triển loại hình du lịch này
4 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu
- Khóa luận chủ yếu đi sâu nghiên cứu sinh hoạt hát sli ( soonghao) ng-ời Nùng Phàn Slình - một di sản văn hóa đã tồn tại phát triển qua nhiều thế kỉ
- Ng-ời Nùng không chỉ c- trú ở huyện Lục Ngạn mà còn con trú ở một
số xã thuộc huyện Lục Nam, Yên Thế, Sơn Động và một số tỉnh lân cận bao gồm: Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang
Vì điều kiện không cho phép và khả năng có hạn nên em đi sâu nghiên cứu dân ca hát sli ( soonghao) ng-ời Nùng Phàn Slình ở huyện Lục Ngạn - Bắc Giang (Chủ yếu là ở xã Kiên Lao)
5 Ph-ơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn đạt kết quả, tôi đã chọn và sử dụng các ph-ơng pháp sau:
+ Lấy ph-ơng pháp điều tra, khảo sát, điền dã, s-u tầm các tài liệu
về hát sli ( soonghao) ng-ời Nùng Phàn Slình ở huyện Lục Ngạn làm ph-ơng pháp chủ yếu
+ Tiến hành ghi âm, kí âm một số bài dân ca tiêu biểu, những bài hát
có tiết tấu giai điệu, cách hát của ng-ời Nùng Phàn Slình huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang
+ Ph-ơng pháp liên ngành: hát dân ca sli ( soonghao) Nùng Phàn Slình
là hình thức sinh hoạt văn hóa tổng hợp, nhiều vấn đề trong đó có liên quan
đến xã hội học, sử học, dân tộc học, văn hóa học, nghệ thuật học ( văn học,
âm nhạc)
Vì thế ng-ời viết phải sử dụng ph-ơng pháp liên ngành để phân tích hát sli (soonghao) Nùng Phàn Slình từ nhiều góc độ khác nhau
Trang 7+ Quá trình phân tích và tổng hợp, so sánh đ-ợc thực hiện để tìm ra những đặc điểm chung và riêng của dân ca sli ( soonghao) Nùng Phàn Slình +Ph-ơng pháp xã hội học: Dùng bảng hỏi xem họ có muốn phát triển
du lịch hay không? Và họ muốn phát triển nh- thế nào?
+Thu thập th- tịch, t- liệu có sẵn đã nghiên cứu về vấn đề mình đang nghiên cứu, những t- liệu đã công bố
+ B-ớc đầu phát hiện những nét đặc tr-ng của hát dân ca sli ( soong hao)
từ đó nhận biết đ-ợc giá trị sáng tạo văn hóa của c- dân Nùng Phàn Slình huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang Xác lập một hệ thống biện pháp, mô hình nhằm bảo l-u, phát triển các giá trị của hát dân ca sli ( soong hao) Nùng Phàn Slình trong đời sống văn hóa hiện nay của dân c- huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
6 Nội dung và bố cục khoá luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, nội dung của khoá luận
Trang 8và Lục Nam.Vùng đồi thấp gồm thị xã Bắc Giang và một phần huyện Hiệp Hòa, Việt Yên, Tân Yên, Yên Dũng, Lạng Giang, phần còn lại là những vùng đất phù sa cổ ven sông Cầu, sông Th-ơng
Tổng diện tích đất tự nhiên của Bắc Giang là 3282.6 km2 (theo thống
kê năm 1999) Ước điều tra dân số 01/04/2009, dân số Bắc Giang có 1.555.720 ng-ời, với mật độ dân số là 407 ng-ời/ km2, gấp 1,7 lần mật độ dân số trung bình của cả n-ớc Trên địa bàn Bắc Giang có 26 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đông nhất là ng-ời Kinh, chiếm 88,1% dân số toàn tỉnh, tiếp đến là ng-ời Nùng chiếm 4,5%, ng-ời Tày chiếm 2,6%, ng-ời Sán Chay
và ng-ời Sán Dìu mỗi dân tộc chiếm 1,6%, ng-ời Hoa chiếm 1,2%, ng-ời Dao chiếm 0,5%
Bắc Giang đứng thứ 32 về diện tích, thứ 16 về dân số và thứ 22 về mật độ dân số trong 63 tỉnh thành phố của cả n-ớc
Trang 9Về ph-ơng diện hành chính, từ đầu năm 2004 Bắc Giang có 10 đơn vị cấp huyện: Thị xã Bắc Giang; huyện vùng cao Sơn Động; huyện vùng núi, vùng cao gồm: Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Yên Dũng; huyện trung du miền núi có Hiệp Hòa, Việt Yên Tổng số xã ph-ờng thị trấn là 227 đơn vị
Về ph-ơng diện lịch sử, từ thời các vua Hùng, Bắc Giang thuộc
bộ Vũ Ninh cuả n-ớc Văn Lang D-ới sự thống trị cuả các v-ơng triều Trung Hoa, vùng đất Bắc Giang thuộc quận T-ợng Thời kì phong kiến độc lập tự chủ, các triều Đinh, Tiền Lê vẫn giữ nguyên sự phân chia c-ơng vực nh- d-ới thời nhà Đ-ờng Các triều Lý -Trần đặt lộ Bắc Giang Thời Hậu
Lê đổi thành Thừa Tuyên - Bắc Giang, sau lại đổi thành trấn Bắc Ninh, năm
1813 đổi thành tỉnh Bắc Ninh, ngày 10/10/1895 toàn quyền Đông D-ơng
kí nghị định thành lập tỉnh Bắc Giang trên cơ sở hai phủ Đa Phúc, Lạng Giang tách ra từ tỉnh Bắc Ninh gồm 8 huyện Tỉnh lị đặt tại phủ Lạng Th ơng Trải qua quá trình biến động của xã hội, đến tháng 10 năm 1959 nhà n-ớc ta đổi tên thị xã Phủ Lạng Th-ơng thành thị xã Bắc Giang Ngày 27/10/1962 Quốc hội khóa II kì họp thứ V đã quyết định sát nhập hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh thành tỉnh Hà Bắc Tỉnh lị đặt tại thị xã Bắc Giang Cho đến ngày 06/11/1996 Quốc hội khóa IX kì họp thứ X đã phê chuẩn việc tách và thành lập hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh Từ ngày 01/01/1997 bộ máy hành chính tỉnh Bắc Giang chính thức hoạt động đến nay
1.1.2 Huyện Lục Ngạn
Huyện Lục Ngạn là một huyện miền núi, nằm về phía Đông Bắc của tỉnh Bắc Giang, có diện tích tự nhiên là 101 149km2, gồm 29 xã và một thị trấn đ-ợc chia thành hai vùng, vùng cao có 12 xã, vùng thấp có 17 xã và 1 thị trấn, phía Bắc giáp huyện Chi Lăng và Hữu Lũng ( Lạng Sơn), phía Đông giáp huyện Sơn Động ( Bắc Giang) và huyện Lộc Bình ( Lạng Sơn), phía Nam và phía Tây giáp huyện Lục Nam ( Bắc Giang)
Trang 10Lục Ngạn là một bồn địa do hai dải núi lớn là Bảo Đài và Đinh Viền bao bọc mà thành Chảy qua giữa bồn địa nay theo h-ớng Đông - Tây là sông Lục Nam ( tên chữ là Minh Đức Giang) Sông Lục Nam hoà cùng sự trùng
điệp của vùng Đông Bắc tạo nên thắng cảnh hùng vĩ “ một Trường Giang đẹp nhất Bắc Kì” là đường huyết mạch giao thông quan trọng đặc biệt của vùng
đất này
Lục Ngạn cũng là điểm hội tụ nhiều tuyến đ-ờng giao thông quan trọng:
đó là con đ-ờng nối Lạng Sơn với vùng Lục Ngạn qua các cửa ngõ Kiên Lao, Cấm Sơn, Xa Lý, là con đ-ờng bộ cổ, men theo dòng sông Lục, nay là quốc
lộ 31, qua Sơn Động 44 xã ( các tổng là: Vô Chanh, C-ơng Sơn, Kiên Lao,
Hả Hộ, Mỹ N-ơng, Niêm Sơn, Biển Động) thuộc tỉnh Bắc Ninh.Giữa triều vua Tự Đức(1848-1886), Lục Ngạn đ-ợc nhập thêm 4 tổng: Trạm Điền, Đan Hội, Bắc Lũng, Bản Đông thành 11 tổng
Năm Thành Thái Nguyên niên (1889) hai tổng Biển Động, Niêm Sơn -ợc chuyển sang huyện Yên Bác, tổng Trạm Điền đ-ợc đ-a về huyện Chí Linh Thời Pháp thuộc, khu vực này có một số thay đổi về các đơn vị địa
đ-lí hành chính: ngày 05/11/1889, tỉnh Lục Nam đ-ợc thành lập, Lục Ngạn thuộc tỉnh Lục Nam; ngày 08/09/1891 tỉnh Lục Nam giải thể, Lục Ngạn trở lại tỉnh Bắc Ninh; ngày10/11/1895, tỉnh Bắc Giang đ-ợc thành lập, Lục Ngạn thuộc tỉnh Bắc Giang, trừ mấy tổng: Trù Hựu, Kiên Lao, Hả Hộ nằm trong đạo quan binh Yên Thế Tháng 2 năm 1909 các tổng Biển Động, Niêm Sơn, Mỹ N-ơng, Kiên Lao, Hạ Hộ từ huyện Lục Ngạn về huyện Sơn Động Thời gian huyện Bảo Lộc ( sau đổi thành Lạng Giang) cắt hai tổng Trù Hựu, Tam Dị về Lục Ngạn Tr-ớc Cách mạng Tháng Tám Năm 1945 Lục Ngạn bao gồm 10 tổng(Bắc Lũng, Chu Diện, C-ơng Sơn, Đan Hội, Kiên Lao,
Mỹ N-ơng, Sơn Đình, Tam Dị, Trù Hựu, Vô Tranh) với 61 xã Sau cách mạng Tháng 8, địa giới hành chính Lục Ngạn có nhiều thay đổi Khi quân
Trang 11Pháp mở rộng chiếm đóng ra vùng Đông Bắc, chia cắt hai huyện Sơn Động
và Lục Ngạn nối hai tỉnh Quảng Ninh và Lạng Sơn với Bắc Giang
Lục Ngạn với trung tâm thị trấn Chũ - là một điểm hội tụ của cả vùng
Đông Bắc rộng lớn, từ đó mở ra miền đồi gò thấp và tiếp nối với vùng Đông Bắc Bộ
Đặc điểm đất đai, khí hậu, thủy văn ở Lục Ngạn đã tạo cho huyện có một thảm thực vật hết sức phong phú, đa dạng Ngoài diện tích rừng, Lục Ngạn
có nhiều điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các cây công nghiệp và các loại hoa màu Đặc biệt là tính chất “ tiểu vùng khí hậu” cùng với tính chất thổ nh-ỡng phù hợp cho trồng cây vải thiều và một số cây ăn quả khác
*Về lịch sử, địa giới hành chính, thời Hùng V-ơng Lục Ngạn thuộc về bộ
Kê Từ, sau đó huyện Kê Từ thời Bắc thuộc Thời Lý, Lục Ngạn có tên là Lục
Na thuộc Châu Lạng Thời kỳ nhà Minh đô hộ ( đầu thế kỷ 15) Lục Ngạn -ợc chia thành 2 huyện Lục Na và Na Ngạn Sang thời Lê, địa bàn Lục Ngạn thuộc về hai huyện Lục Ngạn và Bảo Lộc Tên gọi Lục Ngạn đ-ợc xuất hiện từ thời Quang Thuận ( 1460-1469) D-ới triều vua Lê Chính Hòa (1680-1705), huyện Lục Ngạn đóng tại xã Thủ D-ơng ( nay là xã Nam D
đ-ơng) Đến thời Nguyễn huyện lị đ-ợc chuyển về xã C-ơng Sơn (nay là xã
C ơng Sơn- huyện Lục Nam ) Đầu thế kỷ 19, Lục Ngạn gồm 7 tổng Tháng 7/1947, Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu 1 đã quyết định tách các xã phía Tây Sơn Động về Lục Ngạn, sát nhập 10 xã tả ngạn sông Lục Nam thuộc huyện Lục Ngạn với các xã phía Tây Sơn Động và huyện Hải Chi ( tỉnh Hải Ninh) thành Châu Lục Sơn Hải thuộc liên tỉnh Quảng Hồng Năm1955, các xã tr-ớc đây cắt sang Châu Lục Sơn Hải trở về Lục Ngạn Ngày 21/7/1957 Thủ t-ớng Chính phủ đã ra nghị định số 24/TTg, chia hai huyện Sơn Động và Lục Ngạn thành ba huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam
Trang 12Hiện tại Lục Ngạn:
- có 29 xã và một thị trấn đó là : Thị trấn Chũ
-17 xã vùng thấp: Kiên Lao, Yên Thành, Thanh Hải, Biên Sơn, Tân Hoa,
Qúy Sơn, Trù Hựu, Nghĩa Hồ, Hồng Giang, Giáp Sơn, Phì Điền, Biển Động, Ph-ợng Sơn, Nam D-ơng, Đồng Cốc, Mỹ An, Tân Quang
-12 xã vùng cao: Cấm Sơn, Tân Sơn, Sơn Hải, Hộ Đáp, Phong Vân,
Phong Minh, Xa lý, Kim Sơn, Tân Lập, Phú Nhuận, Tân Mộc, Bèo Gia
*“ Về mặt dân số, tính đến đầu tháng 1 năm 1997 Lục Ngạn có 175
nghìn ng-ời Đến năm 2007dân số lên tới 200 nghìn ng-ời Lục Ngạn có 11 dân tộc anh em chung sống là các dân tộc: Kinh, Nùng, Tàu, Cao Lan, San Chí, Sán Dìu, Hoa, Dao Trong đó dân tộc Kinh là 108 nghìn ng-ời, chiếm 54% dân số toàn huyện Ng-ời Nùng Phàn Slình 37 nghìn ng-ời, chiếm 18%, đông thứ 2 sau người Kinh”
Ngay từ buổi bình minh của lich sử, vùng đất Lục Ngạn có ng-ời Việt cổ
sinh sống Khảo cổ học đã phát hiện hàng loạt di vật - công cụ sản xuất - -ợc chế tác bắng đá cuội tại ven bờ sông Lục, với các điểm khai quật Chũ phố, Chũ làng Chủ nhân của các di vật này là con ng-ời thuộc văn hóa Sơn Vi, hậu kỳ thời đại đồ đá cũ, cách đây gần 2 vạn năm Đến thời đại bắt đâu dựng n-ớc và giữ nước “ thời đại các vua Hùng” nhóm dân c- này phát triển khá đông đúc, hợp thành bộ lạc Vi Từ, chiếm lĩnh cả một vùng núi huyền sông Lục B-ớc vào thời kỳ đất n-ớc độc lập tự chủ, nơi đây có nhiều thế tộc lớn xuất hiện, mà tiêu biểu là họ Thân, nhiều đời làm phò mã nhà
Trang 13Phàn Slình cũng nh- một số nhánh Nùng khác, đến Lục Ngạn mới chỉ vài ba trăm năm trở lại đây Hầu hết đều di c- từ Lạng Sơn xuống, c- trú thành làng bản rải rác ở những s-ờn đồi, núi thấp theo từng khu, cách nhau bởi những ngọn đồi, thung lũng nhỏ hay con suối, vạt rừng Tập trung chủ yếu ở địa bàn các xã: Hộ Đáp, Cấm Sơn, Sơn Hải, Liên Sơn, Tân Sơn, Tân Hoa, Phong Minh, Biển Động
Những kết quả nghiên cứu dân tộc học, sử học cho đến nay đều thống nhất rằng: Tộc danh Nùng bắt nguồn từ tên của dòng họ Nùng - là một trong bốn dòng họ có thế lực d-ới thời Đ-ờng ( 618 - 905) ở Quảng Tây ( Trung Quốc) gồm Nùng Hoàng, Chu, Vi Tộc họ Nùng ngày càng mở rộng thế lực
và địa bàn c- trú về phía Đông, Tây và Nam, có những tù tr-ởng nổi tiếng nh- Nùng Tồn Phúc, Nùng Chí Cao Từ một họ Nùng, dân Nùng đến tộc danh Nùng cũng là một quá trình phát triển hợp lý của một bộ phận dân c
có nguồn gốc từ khối Tráng - Tày Nùng trong lịch sử Cho đến nay ở Lục Ngạn cũng nh- các nơi khác ở các tỉnh Đông Bắc nhiều nhóm Nùng vẫn còn nhớ đ-ợc nguồn gốc xa x-a từ Trung Quốc nh- Nùng Phàn Slình quê cũ
ở Vạn Thành Châu, Nùng Cháo ở Long Châu Dân tộc Nùng Phàn Slình
ở Lục Ngạn trong thời chiến cũng nh- trong thời bình luôn kiên c-ờng bất khuất, đoàn kết với nhau cùng các dân tộc anh em đã có nhiều đóng góp trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, góp phần làm phong phú văn hóa Việt Nam thống nhất mà đa dạng
1.2.2 Kinh tế, xã hội
-Cũng nh- một số dân tộc khác, ng-ời Nùng Phàn Slình ở Lục Ngạn từ lâu đời đã lấy nông nghiệp lúa n-ớc làm nguồn sống chính, bên cạnh đó việc trồng các loại lúa n-ơng và các loại cây l-ơng thực và rau mầu khác nh-: khoai, sắn, vừng, lạc, đậu, đỗ, cũng không kém phần quan trọng Hình thức chăn nuôi trong gia đình rất phát triển, đặc biệt trong những năm gần đây phát triển trồng cây ăn quả nh-: vải thiều, hồng Nền kinh tế tự cung tự cấp
Trang 14của ng-ời Nùng Phàn Slình giờ đã chuyển dần sang kinh tế hàng hóa Nhờ kinh tế hàng hóa và l-u thông th-ờng xuyên làm cho Lục Ngạn hình thành các cụm chợ huyện, chợ xã Tr-ớc đây chợ không chỉ mang tính chất buôn bán trao đổi mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa Ng-ời Nùng Phàn Slình
đi xem chợ để gặp gỡ bạn bè, ng-ời thân qua hát sli, l-ợn Hiện nay do sự tác
động của nền kinh tế thị tr-ờng việc hát sli, hát l-ợn trong các dịp phiên chợ không còn nữa Có lẽ, đây là một điều đáng tiếc trong các phiên chợ miền núi cũng nh- chợ huyện của huyện Lục Ngạn
- Gia đình của ng-ời Nùng Phàn Slình chỉ có hai thế hệ cùng sinh sống vì
khi con cái lớn lên xây dựng gia đình th-ờng đ-ợc bố mẹ cho ra ở riêng ngay
để ổn định gia đình và có điều kiện phát triển kinh tế Mỗi gia đình ng-ời Nùng Phàn Slình tr-ớc đây sinh từ năm đến bảy con Đồng bào quan niệm rằng đẻ nhiều cho có anh có em Đến nay cùng với sự phát triển của xã hội, trình độ văn hóa của ng-ời Nùng cũng đã đ-ợc nâng cao, đồng bào đ-ợc tiếp cận với khoa học, công nghệ hiện đại, cho nên tỉ lệ sinh đã giảm xuống đáng
kể trong các hộ gia đình của ng-ời Nùng Phàn Slình ở Lục Ngạn
-Về quan hệ xã hội, ng-ời Nùng Phàn Slình rất coi trọng quan hệ dòng
họ, nhất là họ gần hay cùng chi họ đều yêu th-ơng đùm bọc lẫn nhau Trong cuộc sống của ng-ời Nùng Phàn Slình lập thành bản quần c-, cùng c- trú mang tính chất cộng đồng sở hữu, cộng cảm văn hóa và tính tự quản cao
1.2.3 Khái quát về văn hoá
* Văn hóa vật thể
Trang 15Đời sống văn hóa của ngời Nùng Phàn Slình mang những nét chung của dân tộc ng-ời Nùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam
-Nhà ở :
Ng-ời Nùng Phàn Slình ở Lục Ngạn ở nhà đất, trình t-ờng, nhà có hai mái lợp bằng ngói mát Khung mái gồm có cột, vì kèo, xà dầm, th-ờng chia làm ba gian hoặc năm gian
Kĩ thuật trình t-ờng: t-ờng có độ dày, cao để giữ ấm vào mùa đông, mát mẻ vào mùa hè, ngói lập cứ một hàng úp một hàng ngửa, loại ngói đ-ợc sử dụng do đồng bào tự sản xuất Trong khuôn viên của một gia đình ng-ời Nùng gồm có bếp, nhà chính và chuồng chăn nuôi đã tách biệt Căn nhà chính có cửa ra vào ở giữa th-ờng hẹp Nét phổ biến trong ngôi nhà chính là
có gác xép ( trừ gian chính giữa) để đựng thóc lúa, ngô khoai, các đồ dùng sinh hoạt khác nh- : chăn màn, quần áo và các công cụ sản xuất
Khi xây dựng nhà cửa đồng bào th-ờng phụ thuộc vào thế đất nơi họ sinh
sống, mà không phụ thuộc nhiều vào h-ớng đất nh- ng-ời Kinh Nhà
th ờng đ-ợc làm ở ven sông ven suối, ven đồi rừng nơi gần nguồn n-ớc và tránh
đ-ợc thiên tai, thú dữ và thuận tiện cho cuộc sống hàng ngày
Những ngôi nhà của đồng bào làm bao giờ cũng h-ớng ra sông, ra suối hay vùng đất thấp hơn và tựa l-ng vào vùng đất cao hơn ở phía sau nhà
Vị trí lý t-ởng theo con mắt của đồng bào là đ-ợc dựa l-ng vào đồi núi, phóng tầm mắt nhìn xa về phía tr-ớc mà không bị ngọn núi mỏm đá nào chắn ngang Trên phần đất đó đồng bào san phẳng làm nhà ở, sân, v-ờn, còn phía d-ới là phần đất thoải dẫn đến nơi canh tác chủ yếu là cánh đồng lúa Nhà ở cần tránh luồng gió lớn Việc áp dụng phong thủy trong làm nhà là ảnh h-ởng rõ nét của văn hóa Hán còn lại cho đến ngày nay, nét văn hóa ấy đ-ợc đồng bào gìn giữ và bảo vệ trong tâm thức của đồng bào Nùng Phàn Slình ở Lục Ngạn- Bắc Giang
-Y phục:
Trang 16Có nhiều dân tộc sống và lao động trong môi tr-ờng nhiệt đới gió mùa, màu xanh cây cỏ, núi rừng là phổ biến, song mỗi dân tộc lại lựa chọn cho mình những màu sắc riêng biệt Dáng, kiểu và sắc màu trang phục một mặt thể hiện tâm lí dân tộc, mặt khác phù hợp với môi tr-ờng sống của con ng
ời, tộc ng-ời Dân tộc Nùng nói chung cũng nh- ng-ời Nùng Phàn Slình ở Lục Ngạn nói riêng lựa chọn màu chàm - một màu nền đã hòa hợp với thiên nhiên núi rừng xanh thẳm Nổi bật trên nền cơ bản ấy là những đ-ờng viền
điểm xuyết trên nẹp áo, nẹp cổ tay với màu sắc nhã nhặn, sinh động, không
đẻ lộ sự khác biệt của các mảnh táp nối cửa ống tay áo Đồng bào còn lựa chọn những hoa văn, những sọc xanh nhạt phổ trên nền vải này, tạo nên những mảnh phối hợp màu sinh động mà nhã nhặn, dễ coi Mảng màu đó phản ánh sắc màu của thiên nhiên và một phần là kết quả của lịch sử phát triển ổn định lâu dài của dân tộc Nùng Phàn Slình Những lớp vải bông truyền thống qua nhiều lớp nhuộm chàm tạo ra sắc vải đen màu chàm Ngày nay ng-ời Nùng cũng mặc những tấm áo chàm nh-ng cũng ít đi và ít ng-ời làm công việc nhuộm chàm và may áo Những ng-ời mặc chủ yếu là những ng-ời trung niên và ng-ời già, thanh niên ít hoặc không mặc nữa Các cụ già hiện nay vẫn mong muốn khi về gặp tổ tiên của mình đ-ợc mặc những trang phục truyền thống của dân tộc mình
Ng-ời Nùng Phàn Slình mặc áo bốn thân, tứ xẻ hai bên nách và đính
ở chỗ xẻ đó những sợi chỉ màu để trang trí, áo nam th-ờng có bảy khuy làm bằng vải Có hai kiểu cài khuy là đôi và đơn, áo nữ th-ờngcó 5 khuy và đ-ợc cài lệch sang ngực phải Xẻ dọc theo đ-ờng vát chéo đó ng-ời ta xen những miếng vải nhỏ khác màu, th-ờng 3 đến 5 đ-ờng tạo cho ng-ời phụ nữ vừa kín đáo và cũng rất nữ tính Cách tạo kiểu cài cúc này có nét giống với tấm áo dài duyên dáng Việt Nam, có thể có mối quan hệ nào đó mà ta ch-a khám phá ra Đây cũng là một trong những đặc điểm cần chú ý khi so sánh trang phục của các dân tộc khác, áo nam cũng nh- áo nữ đều ngắn cổ
Trang 17Quần đ-ợc may theo kiểu ống đứng, quần con trai ống rộng, quần con gái ống hẹp hơn Nhìn chung ng-ời Nùng Phàn Slình có bộ trang phục truyền thống rất đơn giản: đơn giản về cách may, kiểu loại, về màu sắc, cả về cách trang trí, thêu thùa Nh-ng lại có một nét riêng biệt tạo nên một bản sắc văn hóa quý báu đáng đ-ợc bảo tồn và phát huy
-Trang sức:
Trang sức của đồng bào Nùng Phàn Slình khá tinh sảo, phổ biến đ-ợc làm từ bạc và đồng, nh- vòng cổ, vòng tay, nhẫn, khuyên tai, xà tích, đồ trang sức làm bằng bạc ngoài giá trị tôn thêm vẻ đẹp, sự giàu sang cho ng-ời con gái còn có tác dụng kỵ gió, tránh tà ma, bảo vệ sức khỏe Những đồ trang sứ này đ-ợc dùng nhiều nhất trong các dịp lễ tết, nhất là trong ngày c-ới Ngoài ra kiểu bịt răng bạc, vàng tr-ớc đây khá phổ biến ở cả nam
và nữ thanh niên ng-ời Nùng Phàn Slình Ngày nay, còn ít ng-ời sử dụng cách trang sức này
Nghệ thuật trang trí của dân tộc Nùng Phàn Slình nổi rõ nét ở những sản phẩm tự tay họ làm ra nh-: dệt vải, thổ cẩm, vỏ chăn, túi, mũ, khăn Qua trang phục và đồ trang sức đều là những vật quý báu mà do chính bàn tay
họ làm ra Chủ yếu dùng để đáp ứng nhu cầu đời sống và để tặng nhau làm
kỉ niệm và khoe sắc đẹp
-ẩm thực:
Thức ăn chính của ng-ời Nùng Phàn Slình là gạo tẻ, gạo nếp và các loại rau xanh giản dị, đạm bạc Gạo tẻ là l-ơng thực chính đ-ợc dùng trong bữa
ăn hàng ngày, gạo nếp thì chủ yếu đ-ợc dùng trong các ngày lễ tết, hội
hè, đám c-ới, đám ma Ng-ời đồng bào cũng th-ờng chế biến món gạo thành các bánh: đồ xôi hay nấu r-ợu Ngoài gạo ra còn có các loại ngô, khoai, sắn,
đỗ, đậu, để ăn hoặc bán Trong bữa ăn th-ờng ngày có rau xanh do tự trồng hoặc hái ở rừng nh- nấm, măng, rau ngót Ngoài ra th-ờng cải thiện bữa ăn
là cá, thịt gà, lợn, vịt, chim
Trang 18Đồng bào không ăn thịt trâu, bò vì họ quan niệm con trâu , con bò là những con vật thiêng nên không đ-ợc ăn thịt Trong những ngày lễ, đám c-ới thì có các món thịt lợn quay, khau nhục là những món ăn đặc sản của đồng bào Thức uống là n-ớc đun sôi và r-ợu; n-ớc đun sôi đ-ợc uống hàng ngày còn r-ợu thì uống vào các ngày lẽ tết và tiếp khách quý Ng-ời đàn ông hay hút thuốc lá, thuốc lào; phụ nữ có tuổi hay ăn trầu
-Đồ đựng khi vận chuyển : sọt, túi vải, đòn gánh, quang gánh, bao tải
Những công cụ, ph-ơng tiện này chủ yếu do những bàn tay ng-ời dân tự làm từ các loại nguyên liệu nh- gỗ, tre, nứa
* Văn hóa tinh thần (phi vật thể)
Ngoài những đặc tr-ng văn hóa vật chất kể trên, ng-ời Nùng Phàn Slình cũng nh- các dân tộc khác trong huyện Lục Ngạn cũng có những nét văn hóa tinh thần đặc sắc
-Lễ hội:
Những ngày lễ tết chính trong năm :
Tết Nguyên Đán ( Nen bớn lạp): Đồng bào ăn tết Nguyên Đán từ ngày
25 tháng Chạp đến hết rằm tháng Giêng Từ ngày 25 trở đi các gia đình bắt
đầu tổ chức mổ lợn và họp mặt gia đình những ngày cuối năm, con cháu tập trung đông đúc vì họ quan niệm những ngày tết có đông con cháu về sum họp gia đình thì ăn tết năm ấy sẽ đ-ợc coi là to và vui vẻ, hơn nữa ngày 30 tết thì nhà nào phải về nhà ấy để ăn riêng chứ không đ-ợc tập trung đông đủ nên phải tổ chức sớm nh- vậy để gặp đ-ợc đầy đủ anh em họ hàng,con cháu Mọi
Trang 19ng-ời gặp nhau hỏi thăm chuyện làm ăn và sức khỏe, đồng thời cũng chúc những ng-ời lớn tuổi nh- ông, bà, cha mẹ có sức khỏe để con cháu đ-ợc có hiếu Còn ông, bà ,cha, mẹ thì chúc các con cháu có nhiều may mắn và thuận lợi, khỏe mạnh, đoàn kết
Ngày 30 Tết mọi ng-ời đều làm lễ cúng tổ tiên cùng về ăn tết với con cháu và xin tổ tiên phù hộ cho con cháu gặp điều tốt lành Ngày 30 các gia
đình dựng cây nêu, dán giấy đỏ ở bàn thờ, cửa nhà, cột nhà, cây ăn quả, chuồng trại Đồng bào quan niệm màu đỏ đem lại sự may mắn nên công việc dán giấy đỏ nh- là tắm mát cho mọi thứ để sang năm mới tất cả đều may mắn và phát triển thuận lợi
Ngày mồng 1 ng-ời Nùng Phàn Slình không đ-ợc đi ra khỏi nhà hoặc lên nhà khác chơi vì theo đồng bào thì ngày mồng 1 là ngày chuyển giao quan trọng, liên quan đến cả năm đó, có thể đem lại may mắn đến cho cả năm, cũng có thể đem đên xui xẻo cho cả năm Nên nhà nào có ng-ời con trai đến nhà chơi mồng một mà ng-ời đó khỏe mạnh và thành đạt thì báo hiệu cho gia đình năm đó sẽ gặp nhiều may mắn và thành đạt
Từ ngày mồng Hai Tết, đồng bào mới đi chúc tụng, hỏi thăm nhau, đồng thời những ngày sau đó thanh niên nam nữ rủ nhau đi chợ nh- chợ Chũ, chợ Biển Động, chợ Biên Sơn, chợ Tân Sơn để vui chơi, ca hát, tìm hiểu lẫn nhau
+Tết mồng3 tháng 3 ( nen xổ slám - tết thanh minh) Tết này đồng bào đi tảo
Trang 20Trên đây là các ngày lễ tết chính trong năm của đồng bào Nùng Phàn Slình ở Lục Ngạn th-ờng đi kèm với các ngày lễ tết là những phiên chợ tình: chợ tình Tân Sơn, chợ tình Biên Sơn Đồng bào Nùng Phàn Slình cũng tham gia vào các ngày hội đ-ợc tổ chức hàng năm nh- hội Từ Hả đ-ợc tổ chức vào ngày 6,7,8 tháng Giêng ở Hồng Giang, Hội văn hóa các dân tộc huyện ngày 18 tháng hai và nhiều ngày hội khác
Đồng bào đến với các phiên chợ, ngày hội chính là để gặp bạn bè, ng-ời yêu và tìm hiểu nhau Là môi tr-ờng chính để diễn x-ớng tốt cho các cuộc hát sli của thanh niên nam nữ Nùng Phàn Slình ở Lục Ngạn
để ổn định và có điều kiện phát triển kinh tế Mỗi gia đình ng-ời Nùng tr-ớc
đây th-ờng sinh từ 5 -7 ng-ời con Đồng bào quan niệm rằng đẻ nhiều để chúng nó có anh có em Đến nay cùng với sự phát triển của xã hội, trình độ văn hóa của ng-ời Nùng đã đ-ợc nâng cao, đồng bào đ-ợc tiếp cận với khoa học, ngành văn hóa thông tin tích cực tuyên truyền cho nên tỉ lệ sinh đã giảm
đáng kể trong các hệ gia đình ng-ời Nùng
Trong gia đình ời Nùng theo chế độ phụ hệ, mọi việc lớn đều do -ời chủ là ông, cha, anh quyết định nh- làm nhà, cới xin, ma chay đều do ng-ời đàn ông chỉ đạo Bậc con cái phải nghe lời ng-ời lớn tuổi nh- ông, bà, cha, mẹ
ng-Th-ờng khi con cái còn nhỏ thì ở cùng với bố me, khi lớn lên lấy vợ, lấy chồng thì ra ở riêng Còn bố mẹ th-ờng ở với con cả hoặc con út Có khi
bố mẹ cũng ở riêng khi về già mới về ở với con cái
*Về tín ng-ỡng tôn giáo:
Trang 21Ng-ời Nùng chịu ảnh h-ởng của một số tôn giáo lớn nh- Đạo giáo, Phật giáo và Nho giáo
Về Phật giáo ng-ời Nùng không có chùa thờ Phật mà đồng bào thờ bà Quan Âm trong nhà T- t-ởng của Phật giáo ảnh h-ởng rất sâu sắc vào đời sống tâm linh của ng-ời Nùng Họ dạy bảo con cháu sống phải biết yêu th-ơng nhau, phải có cái tâm, cái đức Trong tiềm thức của ng-ời Nùng cũng quan niệm số kiếp, luân hồi, nhân quả, làm việc thiện, việc phúc thì lúc chết sang thế giới bên kia sẽ sung s-ớng nơi tiên cảnh Nếu làm điều có hại sống không có tâm thì sẽ bị lao khổ d-ới âm ty khi qua đời, đồng thời gia cảnh con cháu cũng bị vạ lây trên trần thế
Các tôn giáo khác cũng có ảnh h-ởng đối với cộng đồng ng-ời Nùng
ở Lục Ngạn nh- trong những quan niệm về số phận, đẳng cấp xã hội, trọng nam khinh nữ, tệ nạn cúng bái, ma chay, phức tạp và tốn kém, bói toán còn phổ biến trong cuộc sống hàng ngày
-Về tín ng-ỡng: Trong mỗi gia đình ng-ời Nùng, bàn thờ gia tiên là nơi quan trọng nhất, vì thế bàn thờ gia tiên đ-ợc đặt ở vị trí quan trọng nhất của ngôi nhà Th-ờng đặt ở gian chính giữa ngôi nhà thẳng với cửa chính vào Trên bàn thờ ng-ời Nùng thờ theo đời, th-ờng là ba đời, mỗi đời một bát h
ơng thứ tự từng bậc một Bên trên bàn thờ là bàn thờ Phật bà Quan Âm Bên ngoài cửa chính hoặc đằng sau nhà có nhà thì để bên cạnh có ống h-ơng thờ thần bảo vệ của cải mùa màng trâu bò Bên cạnh bàn thờ tổ tiên ở bên phải có bàn thờ bà mụ, đ-ợc bên ngoại lập cho khi đứa trẻ sinh đ-ợc ba ngày
Ngoài ra ng-ời Nùng còn thờ thổ công, thờ Táo Quân, nơi thờ Táo Quân đ-ợc đặt ngay cạnh bếp nấu ăn hàng ngày Còn nếu thổ công thì mỗi bản lập một miếu và cùng nhau đi cúng Th-ờng đặt theo thế đất của bản
có thể đặt ở giữa hoặc đầu, hoặc cuối bản nh-ng chỗ thờ thổ công bao giờ cũng có cây to
Trang 22Phong tục tập quán
Phong tục tập quán của ng-ời Nùng ở Lục Ngạn có nhiều nét độc đáo
*Tập tục sinh đẻ :
Trong dân tộc Nùng, khi con dâu chuẩn bị đẻ thì bên gia đình họ nội phải báo cho họ ngoại đ-ợc biết Khi đã sinh xong, nếu là con trai thì chồng cô gái mang đến con gà trống nếu là con gái thì mang đến con gà mái cùng một chai r-ợu, một miếng thịt lợn đến nhà bố mẹ vợ Tất cả những thứ này đều
là đồ sống do chồng cô gái mang đến nhà bố mẹ vợ làm lễ cúng và mời chú bác của gia đình gái đến để thông báo Đ-ợc ba buổi sáng, bên ngoại sẽ mời thầy cúng về lập bàn thờ bà mụ cho cháu
*Tập tục sinh nhật (kín khẳn): ng-ời Nùng coi trọng việc ăn sinh nhật
hàng năm và ăn đúng vào ngày sinh nhật của mình Tuổi càng cao thì ăn sinh nhật càng to, càng đông vui, họ quan niệm rằng đây là một dịp để giải hạn cho mình Những ng-ời đ-ợc làm sinh nhật nam cũng nh- nữ phải có tuổi, tầm 50 tuổi trở lên mới đ-ợc tổ chức sinh nhật, tức gia đình phải có con dâu con rể, có cháu mới đ-ợc làm sinh nhật
Trong các lễ ăn sinh nhật thì mời thầy cúng về để cúng giải hạn cho mình và gia đình Con cháu họ hàng trong gia đình mỗi nhà góp một con gà, một ống gạo nếp và đặc biệt là họ rất quý khách Trong lễ sinh nhật, tổ chức lần đầu tiên thì gia đình đi mời tất cả họ hàng, còn khách không mời những
ai biết thì đến và đ-ợc gia đình đón tiếp rất chu đáo Những năm tiếp theo thì không phải mời, con cháu cũng nh- khách tự đến Còn khách ăn xong
có thể mừng gia đình tiền, gạo hoặc gà
Đặc biệt những ng-ời con gái đã đi lấy chồng, khi ông bà ngoại làm sinh nhật thì con rể thay nhau mang lễ đến Ví dụ năm nay ng-ời rể này lấy thì sang năm ng-ời rể khác lấy và cứ thế thay phiên nhau
Lễ bao gồm một con lợn quay chừng 50kg, 10 lít r-ợu và 20-30 chiếc bánh dày nhuộm đỏ để mừng sinh nhật cho cha mẹ của mình
Trang 23Ngày nay, đồng bào Nùng vẫn duy trì việc tổ chức lễ mừng sinh nhật cho ng-ời già có tuổi
-Việc c-ới hỏi:
C-ới hỏi là một việc vô cùng quan trọng trong chu kỳ vòng đời của -ời Nùng, nó khẳng định sự tr-ởng thành của một con ng-ời đã đ-ợc cộng
ng-đồng xác nhận Trong những năm 1950-1960 trở về tr-ớc, con trai 16 -17 tuổi, con gái 13 -14 tuổi là đã đ-ợc gia đình chuẩn bị cho việc dựng vợ, gả chồng Nay thực hiện theo luật hôn nhân gia đình, việc tảo hôn của ng-ời Nùng đã đ-ợc ngăn chặn Với ng-ời Nùng, việc c-ới xin th-ờng do cha
mẹ tìm cho con Vai trò của ông mai bà mối là vô cùng quan trọng vì họ có trách nhiệm lo tất cả mọi công việc cho một đám c-ới từ lúc gặp mặt cho đến khi đón đ-ợc dâu về
Sau khi đã tìm đ-ợc những đôi vừa ý, ng-ời làm mối xem lá số của cô gái về nhà thầy xem hộ( thầy cúng) Lễ xin lá số của cô gái phải có một
lễ gồm: một chai r-ợu, 1kg thịt lợn, một gói bánh kẹo
+Lễ so tuổi: là b-ớc mà gia đình cùng bà mối nhờ thầy cúng xem hộ lá
số của cô gái xem có hợp với chàng trai hay không và gia đình nhà trai hay không Lễ vật mang theo đến nhà gồm một chai r-ợu, 1kg thịt lợn, những thứ này đ-ợc làm và ăn luôn tại nhà thầy
+Lễ báo hợp ( pào mịnh hỏm): Lễ vật mang theo là bánh kẹo, một chai
r-ợu, 1kg thịt lợn, 1 con gà trống thiến, do bà mối mang sang và báo cho nhà gái là số hai đứa đã hợp nhau rồi Sang xin nhà gái có đồng ý hay không, nếu
đồng ý thì bà mối phải báo cho nhà trai chuẩn bị làm lễ đặt gánh
+Lễ đặt gánh (khà cay tón) th-ờng sau một tháng mới mang lễ sang, vì
trong thời gian đó để nhà gái cũng nh- nhà trai suy nghĩ kỹ hai bên có đồng
ý không Lễ vật đặt gánh bao gồm: một đôi gà sống thiến, một thủ lợn ( hoặc một đùi lợn) tầm 4-5kg, vài lá trầu, dăm ba quả cau do chú rể và các bạn chú
Trang 24rể mang sang Đây cũng là dịp để thăm nhà, thăm cô dâu Trong b-ớc này nhà gái cũng đ-a ra những yêu cầu của gia đình mình để nhà trai thỏa thuận Nh- ng-ời Nùng Phàn Slình thì nhà gái đòi nhà trai phải đi đủ ba cái
lễ vào các dịp: mồng 3 tháng Ba, mồng 6 tháng Sáu và 14 tháng Bảy, thì mới đ-ợc c-ới
Khi đón dâu nhà trai phải xem giờ cho cô dâu vào nhà Đoàn đón dâu th-ờng có 9, 10 ng-ời Số ng-ời đ-a bên nhà gái cũng nh- vậy Khi về nhà chồng cô dâu phải lễ tổ tiên để trình ma, thầy cúng làm lễ buồng cô dâu, cô dâu sẽ dùng bữa mà thầy cúng vừa làm lễ trong buồng, mâm lễ này gồm
7 bát úp 7 đôi đũa, cô dâu dù ăn hay không ăn cũng phải lật bát và khoắng
đũa vào 7 bát úp đó Nhà gái đ-ợc nhà trai mời cơm r-ợu Ăn xong nếu ai biết hát thì hát còn không thì giải tán tại đây Sáng hôm sau chú rể cùng 3 -
4 ng-ời bạn thân về nhà gái lại mặt
+Lễ lại mặt (thọi hoi): gồm một con gà, một chai r-ợu, một cỗ xôi đ-ợc
đựng bằng giá Sang nhà gái, gia đình làm cơm để mọi ng-ời cùng ăn Cô dâu chú rể ăn cơm tr-a xong phải về nhà trai tr-ớc khi trời tối
Đối với ng-ời Nùng gia đình hai bên thông gia có mối quan hệ với nhau rất mật thiết Luôn có mặt khi một trong hai bên gia đình có việc
-Tang ma:
Gia đình có ng-ời mất, việc tr-ớc tiên là bố trí ng-ời đi mời thầy cúng Ng-ời đi mời thầy cúng phải là con trai trong gia đình Khi đến nhà thầy cúng phải mang theo một bò gạo tẻ đến nhà thầy cả nhờ thầy cả báo các thầy khác đến giúp ( th-ờng phải có từ 3 đến 5 ng-ời trong đó có một thầy cả còn lại là phụ) Ng-ời con trai đến nhờ thầy, quỳ tr-ớc cổng nhà thầy khi nào thầy mang ghế ra cho ngồi mới đ-ợc ngồi, nếu thầy cho vào trong nhà mới
đ-ợc vào Khi thầy đồng ý thầy cho gánh chiêng , mõ về tr-ớc
Khi bố mẹ chết con trai cả phải cầm kiếm ngồi trực ở bên ng-ời chết còn lại anh em họ hàng đi báo cho mọi ng-ời đến giúp
Trang 25Khi thầy cúng đến nhà ng-ời chết, ng-ời ta sẽ gánh chiêng trống đi một vòng quanh nơi ng-ời chết nằm rồi mới đặt xuống Gia đình tang chủ cho thầy một cái gi-ờng ở một góc nhà để cho thầy ngồi Thầy cúng đến nhà, tất cả con trai con gái, con dâu phải quỳ từ giữa nhà ra cửa để thầy cả buộc dây ( làm bằng giấy bản) vào đầu cho họ
Đám ma của ng-ời Nùng đ-ợc coi là vô cùng quan trọng, ng-ời ta phải xem giờ cho ng-ời chết vào quan tài, xem giờ đ-a đi chôn, xem giờ đặt xuống huyệt, những ng-ời là con cháu của ng-ời quá cố hoặc những ng-ời trong làng có tuổi sát với nhà ng-ời chết (không hợp tuổi với ng-ời chết) phải lánh mặt đi chỗ khác, khi ng-ời nhà niệm và cho vào quan tài xong mới
đ-ợc về nhà Thầy cúng sẽ viết sớ cho ng-ời chết
Tr-ớc khi làm các thủ khác cho đám tang, thầy cúng dẫn cả gia đình ra suối hoặc ao hồ gần đó để lấy n-ớc về rửa mặt cho ng-ời chết và làm thủ tục gọi hồn cho ng-ời chết (tr-ớc đó khi ng-ời đã chết thì con cháu đun n-ớc lá thơm rồi thay quần áo cho ng-ời chết rồi) Khi đã gọi đ-ợc hồn ng-ời chết nhập vào quan tài, thầy ra hiệu cho con cháu khiêng ng-ời chết vào quan tài Thầy cúng sẽ tự tay phát khăn tang cho con trai, con dâu và con gái Các cháu do ng-ời thân trong nhà tự phát lấy
Đám tang của ng-ời Nùng th-ờng diễn ra trong 3 ngày Khi quan tài còn
ở trong nhà thì đầu ng-ời chết quay vào trong, chân quay ra ngoài Khi khiêng quan tài đi chôn thì ra đến hết sân mới quay đầu về phía tr-ớc để ma nhìn lại lần cuối sau nhớ đ-ờng mà về với con cháu
Ng-ời Nùng có tục khi bố, mẹ mất các con trai của ng-ời chết góp tiền lại mua một con lợn để làm ma cho cha, mẹ Lợn này thịt phải để cả con đặt dọc theo ng-ời chết để thầy cúng làm lễ xin phép ng-ời chết cho con cháu
đ-ợc ăn thịt, ăn mỡ Chỉ khi thầy cúng làm lễ xong con cháu mới đ-ợc ăn thịt , ăn mỡ Ông thầy làm nhiệm vụ cúng từ sáng đến tối Các lễ cúng hồn ng-ời chết đ-ợc thầy cúng sắp xếp lần l-ợt từ các con trai, hết các con trai
Trang 26mới đến lễ của các con gái Theo tục lệ của ng-ời Nùng, các con gái đã đi lấy chồng khi cha mẹ mất phải lễ một cây tiền và một con lợn, một con gà, một giá xôi do chàng rể mang sang để thầy cúng làm lễ cho cha, mẹ Tiếp đó
là lễ cháu gái bên nội đã đi lấy chồng mang về lễ một cây vàng, hoặc một cây bạc làm bằng giấy màu xanh, đỏ, trắng, vàng, tím và xôi gà Sau những
lễ đó mới đến những lễ của họ hàng, thông gia, hàng xóm, thôn làng.Họ bên ngoại của ng-ời chết phải sắm một lễ gồm một con ngựa làm bằng giấy cùng với một con gà, một cỗ xôi mang đến để thầy làm lễ Cứ tuần tự nh- vậy cho dến khi hết lễ thì thôi
Trong đám tang của ng-ời Nùng là cứ ba mai mới mang đi chôn, quan tài đ-ợc để trong nhà đến ngày thứ 3 mới đem đi chôn Khi khiêng quan tài
từ trong nhà ra khỏi cổng các con trai, con gái, con dâu phải năm sấp 3 lần, một ng-ời nằm quay đầu vào thì ng-ời kia nằm quay đầu ra với ý nghĩa để cõng bố hay mẹ ra đồng vì khi con bé họ đã đ-ợc bố mẹ cõng trên l-ng để làm n-ơng rẫy thì nay bố mẹ về già thì họ muốn đ-ợc cõng bố mẹ lần cuối Trong đám tang, phải có một mâm lễ bao gồm một thủ lợn, một chai r-ợu, hai cái chén do hai con gái của ng-ời chết gánh đi Những thứ này sẽ dùng
đến sau khi lấp huyệt, để các con cháu lần l-ợt rót mời ng-ời chết Đi đầu trong đám tang là các chàng rể vác cây tiền, cây bạc, cây vàng đi tr-ớc vài phút để ra dựng tr-ớc mộ, lúc đ-a quan tài xuống huyệt các cô con gái
là chủ của các cây tiền đó đến khóc cha, mẹ rồi gọi hồn ng-ời chết về nhận cây xong mới đốt Con dâu hoặc con gái cầm bát h-ơng đi sau Trên bát h
ơng có cắm một chiếc que có gắn tờ giấy ghi tên tuổi của ng-ời chết, một ng-ời mang tấm ảnh của ng-ời chết Sau đó là tất cả những ng-ời thân thuộc,
họ hàng, làng xóm Lúc đ-a ma ra khỏi nhà gia đình phải mang theo một bát h-ơng, một quả trứng, một cái cốc và liềm đặt trong đôi quang gánh để chôn cùng quan tài cho ng-ời chết để khi xuống đó ng-ời chết có đồ dùng mà làm n-ơng rẫy Khi chôn xong, tất cả mọi ng-ời quay về nhà tang chủ ăn cơm
Trang 27Bát h-ơng mang theo khi đi chôn cũng đ-ợc mang về đặt ở cạnh bàn thờ trên một cái bệ cao chừng 40cm và đây cũng là nơi để thắp h-ơng và cúng cơm hàng ngày cho ng-ời chết trong 3 tuần lễ Hàng ngày, đến bữa ăn, gia đình
ăn gì thì lại cúng cho ng-ời chết thứ đó Đ-ợc 21 ngày thì gia đình không cúng cơm nữa mà mời thầy cúng đến lập một nhà táng 2 hoặc 3 tầng đ-ợc trang trí bằng giấy màu xanh đỏ rất đẹp đặt cạnh bát h-ơng thờ là thầy cúng làm lễ mời hồn ng-ời chết vào ở trong ngôi nhà táng đó Từ sau khi làm lễ,
đồng bào chỉ thắp h-ơng vào ngày rằm, mồng 1 hàng tháng
Ng-ời Nùng ở Lục Ngạn không cúng 3 ngày, 49 ngày và 100 ngày
và họ cũng chỉ để tang cha mẹ trong vòng 1 năm đó Dù chết ở thời điểm nào đầu năm hay cuối năm thì cứ gần tết Nguyên Đán là gia đình làm lễ tuột tang vì đồng bào quan niệm rằng để sang năm sau là không tốt cho cả gia
đình Ng-ời Nùng ở Lục Ngạn cũng có lệ cải táng cho ng-ời chết Việc xem
đất để đặt mả, xem ngày giờ để đặt mả đ-ợc đồng bào coi trọng Việc cải táng của ng-ời Nùng cũng giống nh- ng-ời Việt (Kinh)
Trang 28Ch-ơng 2
Tục hát sli của ng-ời Nùng ở Lục Ngạn
Làn điệu sli (soong hao) của Ng-ời Nùng Phàn Slình nói chung cũng nh- ng-ời Nùng Phàn Slình ở Lục Ngạn nói riêng là một loại hình Văn hoá dân gian truyền thống đã có từ lâu đời Trải qua các thời kỳ lịch sử, nó đ ợc tiếp nối và l-u truyền bởi nhiều thế hệ Nó trở thành một loại hình nghệ thuật dân gian kết tinh những tinh hoa văn hoá của dân tộc qua nhiều thời đại Đó là một thế loại dân ca trữ tình, một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian phong phú, hấp dẫn của ng-ời Phàn Slình
Hát sli (soong hao) của ng-ời Nùng Phán Slình ở Lục Ngạn là lối hát đối nam nữ gần giống nh- hát ví, hát trống quân, hát quan họ của ng-ời Việt Bắc Bộ và các làn điệu hát l-ợn của ng-ời Tày, slình ca của ng-ời Cao Lan hay Soóng Cộ, ng-ời Sán Chí Mỗi bài ca là một bài thơ đ-ợc viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt hay lục bát Với nội dung phong phú và đa dạng đ-ợc phổ biến rộng rãi cho mọi đối t-ợng và đ-ợc hát lên trong nhiều hoàn cảnh khác nhau ( khi lao động, sinh hoạt gia đình, phong tục nghi lễ hay hội hè, bày tỏ tình yêu)
2.1 Nguồn gốc tục hát sli
Đất n-ớc ta với 54 dân tộc, đ-ợc ví nh- 54 bông hoa trong một v-ờn hoa Mỗi một tộc ng-ời đều có một sắc thái đặc thù của riêng mình Khi nói đến ng-ời Phàn Slình không ai không biết đến làn điệu hát sli (soong hao) Đó chính là nét văn hoá đặc sắc của một tộc ng-ời Bởi sli (soong hao) là sự kết tinh văn hoá của tôc ng-ời Nùng Phàn Slình, cũng nh- các dân tộc khác đều
có tinh hoa văn hoá của riêng mình Nhờ có làn điệu sli (soong hao) đặc
Trang 29tr ng mà tr ng-ời Nùtr ng Phàn Slình nói chutr ng và tr ng-ời Nùtr ng Phàn Slình ở Lục Ngạn nói riêng đ-ợc toả h-ơng khoe sắc trong v-ờn hoa dân tộc
Vì hát sli (soong hao) là một loại hình nghệ thuật dân gian xuất hiên
từ rất lâu đời nên khó có thể biết chính xác về nguồn gốc và thời gian xuất hiện Theo nghệ nhân Vi Văn Thánh, hát sli (soong hao) bắt nguồn từ truyền thuyết sau:
Ngày xửa ngày x-a, có một dòng sông mang tên Sông Tình Yêu ở đó
phong cảnh đẹp nên thơ, n-ớc trong xanh, cỏ cây hoa lá, chim bay b-ớm l-ợn đẹp mê hồn Trên dòng sông ấy, bấy lâu nay vẫn yên tĩnh, mọi loài vật chung sống với nhau hoà thuận, sum vầy
Thế rồi vào một ngày xuân đẹp trời, bỗng một nàng tiên giáng trần
và mở hội kén rể Nàng có tài hát sli, hay đến nỗi cây cối, chim muông đều
im lặng lắng nghe Trai tráng trong làng không ai là không mê nhan sắc tuyệt trần và giọng hát tuyệt vời của nàng Nếu chàng trai nào hát sli thắng nàng thì nàng sẽ lấy làm chồng
Trong hội kén rể, ba chàng trai tài năng nhất làng đứng ra xin thi tài Chàng thứ nhất là ng-ời đứng đầu họ Ch-ơng “ Slinh Ch-ơng” chàng thứ hai đứng đầu họ Sình “ Slinh Sịch” còn chàng thứ ba là ng-ời đứng đầu
họ Lý “ Slinh Lý”
Ba chàng quyết tâm tìm hiểu và sáng tác sli để hát đối đáp với Tiên nữ với trí thông minh của những ng-ời đứng đầu dòng họ, chẳng bao lâu sau, ba chàng đến tr-ớc Tiên nữ và bắt đầu thi tài
Tiên nữ nở nụ c-ời và hỏi:
- Anh đến tr-ớc tên là gì? (báo ma cón hét slinh cá lẳng)
- Anh đến sau tên là gì? (Báo ma nem hét slinh cá lẳng)
Ba chàng trai lần l-ợt trả lời:
Anh họ Ch-ơng trả lời: Báo slinh ch-ớng
Anh họ Sình trả lời: Báo slinh sịch
Trang 30Anh họ Lý trả lời: Báo slình lỹ
Nàng tiên lại hỏi lần l-ợt từng ng-ời:
Hỏi anh họ Ch-ơng: Slinh ch-ớng văn văn lơ pểu hài
Hỏi anh họ Sình: Slinhh sịch văn văn xắp lạng vai
Hỏi anh họ Lý: Slinh lỹ văn văn slí pợn hải
Tạm dịch:
- Chàng họ Ch-ơng, ngày nào anh cũng dạo chơi trên sông để làm gì?
- Chàng họ Sình, ngày ngày sửa chuồng trâu để làm gì?
- Chàng họ Lý, ngày ngày ca hát làm bạn với trăng để làm gì?
Dù cả ba chàng đều rất giỏi hát đối đáp nh-ng vẫn không thể thắng đ-ợc tiên nữ Cuối cùng ba chàng đành xin thua và quay về tiếp tục học hỏi, luyện tập say mê, đều đặn và hy vong một ngày kia Tiên nữ sẽ trở lại
Từ đó làn điệu sli ra đời và l-u truyền cho đến ngày nay
Nh- vậy theo lời kể trên làn điệu sli đã có từ xa xa Nó là điệu hát do tiên nữ ban cho Sự l-u truyền, sáng tác và phát triển của nó gắn liền với tên tuổi của ba chàng trai họ Ch-ơng, họ Sình và họ Lý
Mọi ng-ời gọi Sảo Slí là tìm và sáng tác, gợi nhớ lại công việc của ba
chàng trai Sli là thuật ngữ ra đời gắn liền với truyền thuyết nói trên Các thuật ngữ này cho đến nay vẫn đ-ợc sử dụng Điều này có điểm hợp lý với
đặc điểm của lối hát sli ( soong hao) của ng-ời Nùng Phàn Slình x-a và nay Trong thực tế gắn với thức tế của ng-ời Nùng Phán Slình ở Lục Ngạn thì sli đ-ợc hình thành trong cuộc sống lao động, đấu tranh cải tạo tự nhiên,
đấu tranh xã hội, cố kết cộng đồng, nó có khả năng phản ánh nhiều lĩnh vực của cuộc sống nh- lao động, tâm t-, tình cảm, tín ng-ỡng khát vọng tự do,
đạo đức, lối sống con ng-ời
Bởi sli là một hình thức hát đôi (soong hao) nghĩa là khi hát phải có cả 2 ng-ời nam và nữ Điều này dễ nhận thấy ở ý thức cố kết cộng đồng của dân
Trang 31tộc ít ng-ời, đ-ợc thể hiện ở mức độ cao ngay cả trong đời th-ờng và hội
hè Ví nh- ta thấy, khi gặp một tốp thanh niên nam nữ đi chợ, mặc trang phục thống nhất, giống nhau từ kiểu quần màu áo và cách vấn khăn đến những đồ trang sức đeo trên ng-ời Do tâm lý hoà đồng, họ ngại mặc những
đồ nổi bật khác th-ờng nên luôn cần ng-ời có trang phục giọng nói t-ơng tự
để hỗ trợ mình
Thứ hai là đồng bào th-ờng sống ở nơi rừng núi heo hút, đặc biệt là ngày x-a, khi ấy nhiêu bất trắc rình rập uy hiếp, qua rừng lo hổ rắn, đến chỗ đông ng-ời sợ họ bắt nạt Thanh niên đi xa làm việc gì cũng đều rủ ng-ời đồng hành tối thiểu cũng cần một ng-ời bạn đ-ờng Ng-ời Nùng gọi là “ Páy tô pạu”, dịch nghĩa là “đi phù” giống như “ pạu khơi” nghĩa là “phù rể” Tộc ng-ời càng ít, bản làng càng hẻo lánh thì việc kết bạn càng trở nên cấp thiết
Đã có ng-ời cùng đi, gặp trai gái bản lạ mắt tính chuyện làm quen bằng nhiều hình thức trong đó có ca dao và hát Khi đó bên này cũng nh- bên kia
đều phải hỗ trợ nhau để giải quyết tình thế Từ đó hình thức hát đôi hay còn gọi là sli ( soong hao) ra đời
Hình thức hát đôi tạo thuận lợi cho việc làm quen dễ dàng thuận lợi Giả dụ hôm nay làng này có hai bạn nữ đến chơi, trai làng mời hát, cô gái ngại ngùng có thể nhờ sự trợ giúp của một cô gái khác trong bản Ban đầu giọng cao, sau giọng thấp hơn Đến hồi cao trào, cô gái bản có thể trao hẳn cho khách, khi đó hai nữ khách kia sẽ hát đến cùng
Do tính chất bắt đầu nh- vậy, việc làm quen diễn ra nhanh chóng Đôi bạn nhận giọng nhau có thể trở nên thân thiết, đi đến kết “ Tồng”
“Tồng” Là hình thức nhận bạn đồng canh, kiểu nhận bạn này không cần sánh
về tuổi tác mà vẫn thân, thậm chí là thân hơn bạn cùng tuổi Hai ng-ời sẵn sàng thân thiết hơn anh em
Trang 32Khi thực hiện đề tài này, cá nhân tôi cũng cố gắng tìm gặp một
số nghệ nhân cao tuổi, có hiểu biết về lối hát sli ( soong hao) Điều đầu tiên tôi tìm hiểu đ-ợc là những áng thơ văn trong ca từ mà bà con hay hát
là không có tác giả Theo nhận định của các nhà nghiên cứu văn hoá, Văn học dân gian thì đây là sáng tác của một lớp ng-ời trí thức của dân tộc Nùng
mà họ không ghi tác giả Trải qua một thời gian dài, qua nhiều thế hệ, nó đã
có nhiều biến đổi
2.2 Ngôn ngữ trong dân ca sli
Lâu nay ng-ời ta vẫn dùng thuật ngữ sli Vậy sli là gì? Cũng có một
số tác giả đề cập đến vấn đề này Có ý kiến cho rằng sli của ng-ời Nùng là những bài văn vần, mỗi câu có 7 chữ, một bài có 4 đến 8 câu, có bài dài tới trăm câu
Có nhiều tác giả, nhiều giả thiết giải thích theo ngữ nghĩa của từ sli
có ý kiến cho rằng sli tức chữ “ thi” (đọc theo âm tiếng Nùng), nghĩa là khúc văn gồm nhiều âm ngắn có vần, có âm điệu theo những quy tắc nhất định Hát sli là hát thơ Ng-ời x-a làm thơ để hát và để thoả mãn nhu cầu ca hát,
họ làm thơ
L-ợn là hát s-ớng Có ý kiến cho rằng sli - l-ợn ( trong đó có thơ và hát)
có nghĩa là: “ hình thức sinh hoạt văn hoá của người Nùng Phàn Slình Căn
cứ vào các làn điệu, có ý kiến cho rằng: sli - l-ợn là từ Trung Quốc du nhập
vào Việt Nam
Theo quan điểm của cá nhân tôi, sli - l-ợn nói chung là một hình thức
sinh hoạt văn hoá giống nh- lối hát giao duyên của ng-ời Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, nh- : hát ví, hát quan họ, hát trống quân , cũng nh- hát dân ca Soóng
Cộ của dân tộc Sán Chí
Lối hát này rất độc đáo vì bao giờ cũng có hình thức hát bè, hoà thanh giọng cao, giọng thấp, không có nhạc cụ để đệm Khi hát, ng-ời hát tự phối
Trang 33bè Điều này khẳng định chính lối hát này đã đạt đến trình độ nghệ thuật thanh nhạc và nghệ thuật hát bè rất cao
Cũng cần bàn thêm những từ ngữ trong lối hát sli th-ờng dùng:
Sli (còn đ-ợc gọi là soong hao) vì mở đầu câu hát bao giờ cũng
có từ “ nhi an soong hao” Trong đó: “ Nhi an” là để ng-ời hát phối
bè hoà âm cho chuẩn; “ soong hao” là “ hai ta” hay hai ng-ời cùng hát
“ Nhi an soong hao” giống nh- một từ chìa khoá để ng-ời hát hát đ-ợc đúng, không bị chệch giọng và hoà thanh đ-ợc chuẩn để khi hát vào bài chính các bè của hoà âm không bị lệch lạc và sai về giọng Bài hát hay hay không phụ thuộc vào ng-ời hát cũng nh- lúc lấy giọng của từ “ nhi an” hay “ nhi an soong hao”
Pẹc hạc: nghĩa là chim Cò Trắng Trong hát sli, hình t-ợng chim
Cò Trắng đ-ợc dùng để ví ng-ời con gái Với ý niệm, ng-ời con gái hát sli
là ng-ời rất thanh cao, đáng giá và đ-ợc ng-ời con trai quý trọng, yêu mến
A nhinh cũng có nghĩa là ng-ời con gái
Slím có nghĩa là Trái tim
và kể hết đ-ợc Qua khảo sát và nghiên cứu, ng-ời viết đ-ợc biết có những thể loại chính sau:
- Sli -l-ợn b-ơn chêếng ( hát về tháng giêng, tháng hai)
Trang 34- Sli-l-ợn túc lộ ( hát ở dọc đ-ờng)
- Sli-l-ợn khẩu bản ( hát trong làng bản)
- Sli-l-ợn kin lẩu ( hát trong lúc uống r-ợu)
- Sli-l-ợn phải ( hát chào hỏi, chúc tụng)
- Sli-l-ợn hài ( hát về trăng sao)
- Sli-l-ợn đeo đi ( hát dặn dò)
- Sli-l-ợn đíp ( hát về tình yêu nam nữ)
- Sli-l-ợn thạn ( nhận tự sự)
- Sli-l-ợn cồ mự ( hát kể chuyện cổ)
Các thể loại hát nói trên đ-ợc ng-ời dân hát và diễn x-ớng trong cái không gian và thời gian, môi tr-ờng khác nhau ứng với từng thể loại nh- hát trong lao động, trong gia đình, phiên chợ, hội hè, lễ tết Trong đó có hai hình thức diễn x-ớng chính đó là hát giao duyên đối đáp ban ngày và hát giao l-u đối
đáp ban đêm
Do điều kiện thời gian không cho phép nên tôi cố gắng nghiên cứu và đi sâu vào hai hình thức chính nói trên Còn lại xin đ-ợc giới thiệu qua
* Hát trong lao động:
Có thể nói rằng dân ca sli-l-ợn của ng-ời Nùng Phàn Slình, những bài ca
ca ngợi công việc của ng-ời dân chiếm một tỷ lệ không lớn nh-ng cũng tạo
ra một hình thức diễn x-ớng riêng: Hát trong lao động Về ph-ơng diện nội dung, những bài ca này th-ờng ca ngợi và nói về những công việc của ng-ời trồng lúa, chăn nuôi, hái quả, đốn củi, săn bắn và tìm chỗ làm nhà cửa, chuồng trại chăn nuôi
Hình thức diễn x-ớng này thuộc sli-l-ợn tự sự có thể hát một mình, hoặc hát đôi, hát nhóm Hát một mình khi ng-ời dân đi đốn củi, hay tìm gỗ làm nhà
Chẳng hạn:
Trang 35Văn này páy đóng chiêu mạy hơn
Mạy hơn cháng đóng kê bồ slêu
Het tô đày cố mạy dáy
Het tô đày cố mạy lòi
Mạy lòi áu ma hết cọc slếu
Mạy dáy áu ma hết tu tang
Het tô đày ắn hơn đáy
Gỗ tốt thì trong cây mới có lõi
Cây lõi lấy về làm cột
Cây tốt lấy làm cửa sổ, cửa chính
Sao cho đ-ợc ngôi nhà đẹp
Hãy làm cho ngôi nhà thật chắc chắn
Trong quá trình lao động ng-ời Nùng Phàn Slình ở đây th-ờng ca hát với nhau trong những giờ giải lao, tạo sự h-ng phấn quên đi mệt mỏi nhờ đó
mà năng suất lao động tăng lên
* Hát trong nghi lễ:
Hát sli ( soong hao) của ng-ời Nùng Phàn Slình không chỉ có trong sinh hoạt lao động hay những ngày hội, giao duyên nam, nữ mà nó còn đ-ợc ng
ời dân hát trong các dịp nghi lễ nh- đám c-ới, tang ma, lễ sinh nhật
- Hát trong đám c-ới (sli l-ợn Cổ Lẩu) theo điều tra chúng tôi đợc biết
hình thức hát sli-l-ợn, Cổ lẩu có khoảng 250 bài Những bài hát này chỉ đ-ợc hát trong đám c-ới
Trang 36- Hát Cổ Lẩu là tục lệ không thể thiếu ở mỗi đám c-ới của ng-ời Nùng
tr-ớc đây Khi một gia đình trong bản có đám c-ới, ngoài việc chuẩn bị về vật chất thì việc chuẩn bị ng-ời hát cũng rất quan trọng Theo gia đình của dân tộc Nùng, khi nhà trai và nhà gái chọn phù dâu và phù rể, ngoài việc lựa chọn về ngoại hình, về bản thân, gia đình, thì những ng-ời này còn phải hát hay và thuộc nhiều bài hát mới cầm chắc phần thắng
Trong đám c-ới của ng-ời Nùng Phàn Slình ở Lục Ngạn, khi đoàn đón dâu đến cổng nhà gái, nhà gái đã mang sẵn hai chiếc ô, một ghế băng dài, một chiếc bàn nhỏ Trên bàn đặt một chai r-ợu, một ấm trà cùng bốn chiếc chén đặt chắn lối đi, tr-ớc tình cảnh ấy bắt buộc phái đoàn đón dâu phải ngỏ lời đàm phán; có nhiều bài để đàm phán chẳng hạn nh-:
Cồ khặm tú vện
Pẹc hạc bén sả slúng Nọc dung bén sả tẳm Bén ma cả tú lống Phóng ma cả tú vện
Mỳ chờng bọc long khảng
Mỳ chờng vá long họi Long họi học tú nha Long đá nọc tú vện
Ma hẳn pôn làu cắp pôn xa
Ma hẳn pôn xa cắp pôn làu
Bộ chí kỉnh khạch lộ khỉnh đái áu slứ lai ma học
Hừ sở sím chòn đáng
Hừ sở sím chon kỉnh
Hừ sở sím kỉnh bô hú nà
Trang 37Hừ sở súng sòng ti òn sửu Súng sờng pặt ấu lái khàu tị Khầu mơ hơn ngảng hau cọi tớn khầu mơ hơn lống hau cọi càng Cọi cạng càng tắc pọng văn Soong hao càng văn đắm cọi thọi ni hớ
Tạm dịch:
Chuyện hỏi ngoài ngõ
Cò trắng bay tầng cao Chim Công bay tầng thấp Bay về qua cửa rộng Lợn về qua điến cổng Thấy ô đẹp buông đợi Thấy ô hoa buông chờ Buông đợi ở ngoài cổng Buông đợi ở ngoài cửa
Về thấy khay r-ợu với khay trà
Về thấy khay trà với khay r-ợu
ý để mời khách hay bỏ không Lấy câu tốt về dùng
Cho mình đ-ợc yên tâm Cho mình đ-ợc yên lành Cho mình tâm tính không nói ra Cho mình ung dung đ-ợc yên tĩnh Ung dung vẫy tay mình vào nhà Đi vào nhà ngói mình hãy tha Đi vào nhà cao ta hãy nói
Trang 38Đến mặt trời lặn ta mới đi Khách tan ta mới về
Cuộc hát giữa hai bên cứ diễn ra nh- vậy, hết bài này đến bài khác Nhà trai muốn vào đón dâu thì phải hát thắng nhà gái Mỗi lần thua họ phải uống một chén r-ợu Nếu bị thua nhiều quá phải chịu say r-ợu từ ngoài cổng hoặc đứng nắng lâu ở ngoài trời Trong cuộc hát này, họ hát tất cả các bài hát có ý tứ xa xôi đến cụ thể Nếu cuộc hát diễn ra qua lâu, nhà trai không hát đ-ợc, phải xin thua nhà gái mới cho vào Tr-ờng hợp nhà trai không hát đ-ợc mà tự ý b-ớc qua ghế băng thì coi là điềm xấu đối với đám c-ới
đó
Sau khi hát ở ngoài cổng và đ-ợc nhà gái cho phép vào, đến cửa phù rể lại hát một bài hỏi thăm mọi ng-ời Muốn ngồi thì phải hát một bài Muốn uống n-ớc, uống r-ợu thì phải xin phép Chú rể vừa mời r-ợu gia đình nhà gái vừa hát chúc r-ợu, hỏi chè, mời trầu
Chẳng hạn, bài hát về cây trầu
Cóc đáu du hạng hà Lạc đáu du ha nọi Kéo bốn khừn Sở Lạng
áu ọc hang ma khải
áu ma pai hang sèn
áu ma đen hang slúng
Mế hảu bờng vên mi
Cố sen dị mi lái Sen sai dị mi tại Chỉnh ọc hạng páy hả
Chỉnh ọc cái páy slứ
Tạm dịch: Bài hát cây trầu
Trang 39Cây trâu mọc từ hả
Dễ trầu ở Hà Nội Khách buôn lên sứ Lạng Mang ra chợ mà bán Mang về bầy hàng thấp Mang về bầy hàng cao
Mẹ mình ở bên kia Tiền bạc cũng có nhiều Tiền bạc cũng khá giả
Mới ra chợ mà mua Mới ra quán mà sắm
Thậm chí lúc ăn cơm cũng phải hát Khi nhà trai đón dâu về, trên đ-ờng đi họ tiếp tục hát, họ hát khi về đến nhà trai và hát cho đến khi tan đám c-ới mới thôi
Lề lối hát trong đám c-ới ng-ời Nùng, quy định mỗi bên chỉ có một ng-ời tham gia hát và vẫn hát theo lối đối đáp
Sau mọi thủ tục trong đám c-ới, theo phong tục của dân tộc, nhà trai đón dâu về, cuộc hát lại tiếp tục kéo dài đến những hôm sau
Câu chuyện của từng đôi nam nữ ng-ời Nùng vẫn dài vô tận Còn những làn điệu sli- l-ợn của họ thì tập trung vào chủ đề muôn thủa là tình yêu đôi lứa
- Hát mừng sinh nhật: Có trên m-ời bài
Theo phong tục của ng-ời Nùng Phàn Slình ở Lục Ngạn, sau khi chết đồng bào không làm giỗ nh- các dân tộc khác Do vậy khi cha mẹ còn sống, đồng bào tổ chức sinh nhật cho cha mẹ mình Việc làm sinh nhật to hay bé là tuỳ điều kiện kinh tế của mỗi gia đình, dù thế nào họ cũng mời thầy về làm lễ Trong khi cúng, các thầy cúng hát sli - l-ợn theo lối độc diễn
Trang 40Nội dung của các bài hát này nhằm bày tỏ tấm lòng của con cái đối với cha
mẹ, cầu mong cho cha mẹ sống lâu Lối hát này hiện nay vẫn còn tồn tại trong các lễ mừng sinh nhật của ng-ời Nùng Phàn Slình
- Hát trong đám tang (Slí sán Vá): Hiện còn khoảng 15 bài
Đây là loại hình phổ biến cho đến nay vẫn còn tồn tại ở trong đám tang của ng-ời Nùng Phàn Slình ở Lục Ngạn Nội dung của những bài hát này nói lên lòng biết ơn của con cái đối với cha mẹ đã sinh thành và nuôi d-ỡng các con tr-ởng thành, cũng có khi là lời trách móc các con đã không chăm sóc cha mẹ cẩn thận để cho cha mẹ phải lìa đời Khác với loại hình hát trong
đám c-ới, hát mùa xuân hay hát ở những tháng khác trong năm, “Slí sán vá”
do hai thầy cúng thể hiện Trong lối hát này, các bài hát không nhiều lắm khoảng trên chục bài, trong đó phần hát chung cho các con khoảng 3,4 bài Nội dung của bài hát mang tính than khóc, kể lể khi cha mẹ mất cho nên ng ời hát phải thể hiện đ-ợc sự xót th-ơng vô hạn của những ng-ời con đối với cha mẹ
Qua đây ta thấy lề lối những điệu sli- l-ợn mùa xuân và các tháng khác trong năm của ng-ời Nùng Phàn Slình ở Lục Ngạn bao giờ cũng theo lối đối
đáp Khi hát mỗi bên có hai nam và hai nữ cùng hát, còn hát trong đám c-ới thì vẫn hát theo lối đối đáp nh-ng mỗi bên chỉ có một nam một nữ Hát trong đám tang và hát mừng sinh nhật lại do thầy cúng thực hiện theo lối độc diễn Tuy nhiên dù với lối hát nào thì trong các cuộc hát bao giờ cũng có sự xen kẽ giữa sli và l-ợn, trừ khi hát đối đáp giao duyên nam nữ ở chợ tình thì l-ợn hầu nh- không có
Hát sli trong lao động sản xuất, hay trong lễ c-ới xin của ng-ời Nùng Phàn Slình ở Lục Ngạn luôn mang đậm yếu tố văn hoá nhân văn sâu sắc,
nó có giá trị về nghệ thuật không chỉ về thanh nhạc mà nó còn mang giá trị văn học, trí thức dân gian rất phong phú và đặc sắc Những điệu sli,