CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TRONG QUẢNTRỊ TÀI CHÍNH 1.1 Một số khái niệm định nghĩa cơ bản về phân tích trong quản trị tài chính 1.1.1 Tài chính doanh nghiệp Tài chính
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn cô giáo Thạc Sỹ Nguyễn Thị Liên Hương người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, giúp đỡ và truyền đạt kiến thức để em
có thể hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này
Đồng thời em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Tài chínhngân hang nói chúng cũng như bộ môn Quản trị tài chính nói riêng, và tới các cán bộlãnh đạo và nhân viên của Công ty TNHH bán lẻ Nhanh, các anh chị, bạn bè đã giúp
đỡ em trong quá trình tìm kiếm, sưu tập tài liệu phục vụ cho bài viết Mặc dù đã cốgắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, Kính mong sự đóng góp ýkiến, phê bình của các thầy cô giáo, các bạn sinh viên và những người quan tâm để bàiviết của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu khóa luận 2
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TRONG QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH 3
1.1 Một số khái niệm định nghĩa cơ bản về phân tích trong quản trị tài chính 3
1.1.1 Tài chính doanh nghiệp 3
1.1.2 Quản trị tài chính doanh nghiệp 3
1.1.3 Phân tích tài chính doanh nghiệp 4
1.2 Nội dung lý thuyết về phân tích trong quản trị tài chính 5
1.2.1 Vai trò của phân tích tài chính 5
1.2.2 Ý nghĩa của phân tích tài chính 6
1.2.3 Nội dung phân tích trong quản trị tài chính 7
1.2.3.1 Phân tích khái quát qua đánh giá báo cáo tài chính 7
1.2.2 Phân tích thông qua các chỉ tiêu tài chính 11
1.2.2.1 Nhóm chỉ tiêu kết cấu tài sản và nguồn vốn 11
1.2.2.2 Nhóm chỉ tiêu về tình hình thanh toán và khả năng thanh toán 12
1.2.2.3 Nhóm chỉ số hoạt động – Đánh giá năng lực kinh doanh 16
1.2.2.4 Nhóm chỉ số lợi nhuận – Đánh giá năng lực thu lợi 20
1.2.3 Phân tích Dupont 23
1.3.1 Nhân tố môi trường bên ngoài 24
Trang 31.3.2 Nhân tố môi trường ngành 25
1.3.3 Nhân tố môi trường nội tại của doanh nghiệp cùng ngành 26
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG PHÂN TÍCH TRONG QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH BÁN LẺ NHANH 27
2.1 Giới thiệu khái quát về công ty TNHH Bán lẻ Nhanh 27
2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 28
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu thu thập dữ liệu sơ cấp 28
2.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp 29
2.3 Phân tích đánh giá thực trạng tài tình hình tài chính tại công ty Công ty TNHH Bán lẻ Nhanh 30
2.3.1 Phân tích dữ liệu sơ cấp 30
2.3.2 Phân tích dữ liệu thứ cấp 32
2.3.3 Phân tích tài chính và đánh giá hiệu quả quản trị tài chính của Công Ty .37 2.3.3.1 Phân tích dựa trên hệ số kết cấu tài chính 37
2.3.3.2 Các tỷ số thanh khoản – Đánh giá năng lực thanh toán 38
2.3.3.3 Các tỷ số hoạt động – Đánh giá năng lực kinh doanh 40
2.3.3.4 Các tỷ số lợi nhuận – Đánh giá năng lực thu lợi 43
2.3.3.5 Phân tích, đánh giá hiệu tài chính của Công ty TNHH Bán lẻ Nhanh theo phương pháp DUPONT 45
CHƯƠNG III: CÁC PHÁT HIỆN NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH BÁN LẺ NHANH 47
3.1 Các kết luận và phát hiện tình trạng tài chính trong công ty TNHH Bán lẻ Nhanh47 3.1.1 Những kết quả đạt được 47
3.1.2 Những hạn chế còn tồn tại 48
3.2 Những kiến nghị nhằm nâng cao hoạt động phân tích tài chính tại công ty TNHH Bán lẻ Nhanh 49
3.2 1: Các biện pháp quản lý và sử dụng kho hàng tồn kho 50
3.2.2 Quản lý phải thu khách hàng 50
3.2.3 Quản lý phải trả nhà cung cấp 50
3.2.4 Quản lý và sử dụng tài sản cố định 51
Trang 43.2.5 Biện pháp quản lý tiền và tương đương tiền 51
3.2.6 Bộ máy kế toán 51
3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc phân tich quản trị tài chính cho công ty TNHH bán lẻ Nhanh 52
3.3.1 Nâng cao trình độ đội ngũ quản lý và nhân viên 52
3.3.2 Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ 53
3.3.3 Hoàn thiện chế độ, quy trình, hệ thống thông tin quản lý 54
KẾT LUẬN 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Kết quả điều tra phiếu trắc nghiệm tại công ty TNHH Bán lẻ Nhanh
Bảng 2.2 Bảng cân đối kế toán rút gọn giai đoạn 2010-2012
Bảng 2.3 Bảng tỉ trọng tài sản và nguồn vốn của công ty
Bảng 2.4 Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2010-2012
Bảng 2.5 Hệ số cơ cấu tài chính
Bảng 2.6 Các chỉ số thanh toán
Bảng 2.7 Các tỉ số hoạt động
Bảng 2.8 Các tỉ suất sinh lợi
Bảng 2.9 Doanh lợi vốn chủ sở hữu
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Nội dung Chú thích
Trang 6BCTC Báo cáo tài chính
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường của Việt Nam từ hơn thập kỉqua kéo theo sự thay đổi sâu sắc trong các doanh nghiệp và nhất là trong phương thứcquản lý Đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế tự
do cạnh tranh, cùng với xu thế hội nhập và hợp tác quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng,
đã đặt ra cho doanh nghiệp nhiều khó khăn và thử thách
Để tồn tại trong mội trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt đó, đòi hỏi mỗidoanh nghiệp cần phải kiểm soát tốt về hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung vàhoạt động tài chính nói riêng Cụ thể hơn, các nhà quản trị cần đánh giá đúng nhu cầu
về vốn, tìm được nguồn tài trợ, sử dụng chúng một cách hiệu quả nhằm đưa ra đượcnhững đối sách thích hợp, tạo ra nguồn tài chính đáp ứng cho yêu cầu sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả Đây là vấn đề được quan tâm hàng đầu của bất
kỳ doanh nghiệp nào Do đó, để đáp ứng một phần yêu cầu mang tính chiến lược củamình các doanh nghiệp cần tiến hành định kỳ phân tích, đánh giá tình hình tài chínhdoanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính Kết quả của việc phân tích tài chính chochúng ta thấy được thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tại thờiđiểm phân tích Vì vậy qua thời gian thực tập tại Công ty TNHH bán lẻ Nhanh em
quyết đinh lựa chọn đề tài: Phân tích quản trị tài chính của Công ty cổ phần Bán lẻ Nhanh là để tài khóa luận tốt nghiệp khóa học.
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu và phân tích thực trạng quản trị tài chính tại doanh nghiệp
- Phân tích các nhân tố môi trường kinh doanh tác động tới tình hình tài chính củacông ty TNHH Bán lẻ Nhanh như môi trường vi mô, vĩ mô, chính trị pháp luật, cácđiểm mạnh, điểm yếu so với đối thủ cạnh tranh
- Nhận dạng các vấn đề tồn tại cơ hội và thách thức trong việc quản trị tài chính tạicông ty TNHH Bán lẻ Nhanh
- Trên cơ sở các phân tích thực trạng, kết hợp với phân tích các yếu tố môi trường kinhdoanh tại công ty Từ đó, đánh tình hình quản trị tài chính của doanh nghiệp nhằm
Trang 8đưa ra một số giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề còn hạn chế trong việc quản trịtài chính của công ty TNHH Bán lẻ Nhanh
3 Đối tượng phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Phân tích quản trị tài chính tại công ty TNHH Bán lẻ Nhanh
- Các yếu tố môi trường kình doanh tác động tới hoạt động tài chính tại công tyTNHH Bán lẻ Nhanh
2010-4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tìm hiểu lý luận thông qua sách báo
- Phương pháp so sánh và tổng hợp số liệu thực tế, phát phiếu điều tra
- Phương pháp tỷ lệ, phân tích các chỉ số, phương pháp liên hệ cân đối
5 Kết cấu khóa luận
Kết cấu khóa luận bao gồm 3 chương
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết cơ bản về phân tích trong quản trị tài chính.
- Chương 2: Phân tích tình hình tài chính thông qua hệ qua hệ thống báo cáo tài chính của công ty TNHH Bán lẻ Nhanh
- Chương 3: Các phát hiện nghiên cứu và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tài chính tại công ty TNHH Bán lẻ Nhanh
Trang 9CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TRONG QUẢN
TRỊ TÀI CHÍNH 1.1 Một số khái niệm định nghĩa cơ bản về phân tích trong quản trị tài chính
1.1.1 Tài chính doanh nghiệp
Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới
hình thức giá trị phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệcủa các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiệnnhất định.(theo Vnecon.com)
“Tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệphát sinh trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới cácmục tiêu của doanh nghiệp Các hoạt động có liên quan đến việc tạo lập, phân phối và
sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc các hoạt động tài chính của doanh nghiệp.”
( Giáo trình Quản trị tài chính – Học viện Công Nghệ Bưu Chính Viễn Thông) Tài chính doanh nghiệp xét về bản chất là các mối quan hệ phân phối dưới hình
thức giá trị gắn liền với việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệptrong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Xét về hình thức, tài chính doanhnghiệp phản ánh sự vận động và chuyển hóa của các nguồn lực tài chính trong quátrình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp
1.1.2 Quản trị tài chính doanh nghiệp
Theo Wikipedia : Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn đưa ra các
quyết định tài chính, tổ chức hực hiện những quyết định đó nhằm đạt được mục tiêuhoạt động của doanh nghiệp, đó là tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trịcủa doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
“Quản trị tài chính doanh nghiệp bao gồm tổng thể các hoạt động của nhà quản trị
trong quá trình nghiên cứu, dự báo, phân tích, ra quyết định tài chính và tổ chức thực
hiện các quyết định đó nhằm thực hiện các mục tiêu đã được xác định.”
( Giáo trình Quản trị tài chính - Đại học Thương Mại)
Trang 10“Quản trị tài chính doanh nghiệp là các hoạt động nhằm phối trí các dòng tiền tệ
trong doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Quản trị tài chính baogồm các hoạt động làm cho luồng tiền tệ của công ty phù hợp trực tiếp với các kế
hoạch.”( Giáo trình Quản trị tài chính - Đại Học Kinh Tế Quốc Dân)
Như vậy, “Quản trị tài chính doanh nghiệp là bao gồm các hoạt động của nhà quản trị trong quá trình nghiên cứu, dự báo, phân tích, ra quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định tài chính nhằm thực hiện và đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.”
1.1.3 Phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và
công cụ cho phép thu thập, xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trongquản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lực củadoanh nghiệp, giúp cho người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính, quyết
định quản lý phù hợp (theo Wikipedia)
Trong hoạt động kinh doanh, có nhiều vấn đề tài chính nảy sinh đòi hỏi các nhàquản trị tài chính phải đưa ra những quyết định tài chính đúng đắn và tổ chức thực hiệncác quyết định ấy một cách kịp thời và khoa học, có như vậy doanh nghiệp mới có thểđứng vững và phát triển Các quyết định tài chính có nhiều loại trong đó có nhữngquyết định thuộc về chiến lược phát triển tài chính doanh nghiệp Chẳng hạn như cácquyết định đầu tư dài hạn để đổi mới khĩ thuật , công nghệ sản xuất của doanh nghiệp;các quyết định mở rộng hoặc thu hẹp quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp…Các quyết định chiến lược trong hoạt động tài chính thường có ảnhhưởng rất lớn, lâu dài đến sự phát triển và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trongtương lai
Khác với các quyết định chiến lược, các quyết định mang tính chiến thuật củaquản trị tài chính thường liên quan đến việc đáp ứng các yêu cầu kinh doanh hàngngày của doanh nghiệp Ví dụ như các quyết định về việc thanh toán, chi trả hoặc thuhồi các khoản nợ; việc huy động các nguồn vốn ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu tạm thờicủa doanh nghiệp…Các quyết định này chỉ mang tính chất tác nghiệp, ít ảnh hưởnglớn, lâu dài đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 11Để các quyết định tài chính về mặt chiến lược hoặc chiến thuật có tính khả thi vàhiệu quả cao đòi hỏi nó phải được lựa chọn trên cơ sở phân tích, đánh giá cân nhắc kĩ
về mặt tài chính Từ những vấn đề trên, có thể rút ra:
Phân tích trong quản trị tài chính doanh nghiệp là một bộ phận của hoạt động quảntrị doanh nghiệp, nó thực hiện những nội dung cơ bản của quản trị tài chính đối với cácquan hệ tài chính nảy sinh trong hoạt động hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm thựchiện tốt nhất các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp
1.2 Nội dung lý thuyết về phân tích trong quản trị tài chính
1.2.1 Vai trò của phân tích tài chính
Quản trị tài chính doanh nghiệp có vai trò to lớn trong hoạt đông hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó giữ những vai trò chủ yếu sau:
- Huy động và đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh các nhu cầu vốnngắn hạn và dài hạn cho hoạt động hoạt động sản xuất kinh doanhthường xuyên củadoanh nghiệp cũng như cho đầu tư phát triển Vai trò của quản trị tài chính doanhnghiệp trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn các nhu cầu vốn cần thiết cho hoạtđộng của doanh nghiệp trong từng thời kì và tiếp đó phải lựa chọn các phương pháp vàhình thức thích hợp huy động vốn từ bên trong và bên ngoài nhằm đáp ứng kịp thờicác nhu cầu vốn cho hoạt đông của doanh nghiệp với chi phí thấp nhất
- Tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và hiệu quả
Hiệu quả hoạt động hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp phụ thuộcrất lớn vào việc tổ chức sử dụng vốn Quản trị tài chính doanh nghiệp đóng vai tròquan trọng vào việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư trên cơ sở phân tích khả năngsinh lời và mức độ rủi ro của các dự án đầu tư từ đó góp phần lựa chọn dự án đàu tưtối ưu Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để doanhnghiệp có thể nắm bắt được cơ hội kinh doanh Mặt khác nó cũng giúp Quản trị tàichính doanh nghiệp giảm bớt và tránh được những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra
Trang 12Việc hình thành và sử dụng hiệu quả các quỹ của doanh nghiệp cũng góp phần nângcao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp.
- Giám sát, kiểm tra thường xuyên, chặt chẽ các mặt của hoạt động hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp
Thông qua tình hình thu ,chi tiền tệ hàng ngày, tình hình tài chính lãnh đạo vàcác nhà quản lý có thể đánh giá tổng hợp và kiểm soát được các mặt hoạt động củadoanh nghiệp; phát hiện được kịp thời những tồn tại, khó khăn, từ đó có thể đưa ra cácgiả pháp nhằm khắc phục những khó khăn và tồn tại
1.2.2 Ý nghĩa của phân tích tài chính
Phân tích tài chính là tổng thể các phương pháp được sử dụng để đánh giá tìnhhình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho các đối tượng có liên quan có những dựđoán chính xác về tình hình tài chính của doanh nghiệp, qua đó có những quyết địnhphù hợp với lợi ích của chính họ
Những người ở những cương vị khác nhau thì phân tích tài chính nhằm các mụctiêu khác nhau:
- Đối với nhà quản lý: Phân tích tài chính nhằm đáp ứng các mục tiêu cần thiết
cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp như: tìm kiếm lợi nhuận, đảm bảo khảnăng thanh toán công nợ, tăng sức canh tranh trên thị trường Ngoài ra, nhờ hoạtđộng phân tích tài chính mà các nhà quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá chính xác,kịp thời các thông tin kinh tế, thấy được thực trạng tài chính cũng như hiệu quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh
- Đối với các nhà đầu tư: Họ cần có nhưng thông tin trung thực, khách quan về
thực trạng tài chính của doanh nghiệp để có những quyết định đầu tư đúng đắn Dovậy, phân tích hoạt động tài chính đối với nhà đầu tư là để đánh giá khả năng sinh lời,mức độ rủi ro, khả năng hoàn trả của công ty
- Đối với người cho vay: Đây là những người cho công ty vay vốn để đảm bảo
nhu cầu sản xuất kinh doanh Khi cho vay họ phải biết chắc được khả năng hoàn trả nợvay Do đó, mối quan tâm hàng đầu của họ tới doanh nghiệp là khả năng thanh toán
nợ, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp Ngoài ra, họ còn quan tâm tới khả năng sinh lời,
Trang 13tiềm năng của doanh nghiệp trong tương lai Điều này sẽ cho phép họ mạo hiểm hơntrong quyết định cho vay
- Đối với cơ quan nhà nước: giúp nhà nước nắm được tình hình tài chính của
doanh nghiệp để từ đó đề ra các chính sách vĩ mô đúng đắn ( chính sách thuế, lãi suấtđầu tư ) nhằm tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động
- Đối với những người hưởng lương trong công ty: Đây là những người có nguồn
thu nhập duy nhất là tiền lương được trả Tuy nhiên, cũng có những công ty ngườiđược hưởng lương có một phần cổ phiếu nhất định trong công ty thì họ có thu nhập từlương và tiền lời được chia.Cả hai khoản tiền này đều phụ thuộc vào kết quả sản xuấtkinh doanh Do đó, phân tích tài chính giúp họ định hướng việc làm ổn định của mình,trên cơ sở đó yên tâm dốc sức vào hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty tuỳthuộc vào công việc được phân, đảm nhiệm
- Đối với công ty kiểm toán: Công ty kiểm toán sẽ sử dụng báo cáo tài chính
doanh nghiệp và các bằng chứng khác mà kiểm toán thu được để xác định tính hợp lý,trung thực của các số liệu và phát hiện những gian lận hoặc sai sót của doanh nghiệp
Từ đó ta thấy, phân tích tài chính là công cụ hữu ích được dùng để xác định giátrị kinh tế, để đánh giá mặt mạnh yếu của một công ty, tìm ra nguyên nhân khách quan
và chủ quan, giúp cho từng đối tượng lựa chọn và đưa ra những quyết định phù hợpvới mục đích mà họ quan tâm
1.2.3 Nội dung phân tích trong quản trị tài chính
1.2.3.1 Phân tích khái quát qua đánh giá báo cáo tài chính
a Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh một cách tổng quát toàn bộ toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp theo hai cách đánh giá là tài sản và nguồn hình thành tài sản tại thời điểm lập báo cáo Các chỉ tiêu của bảng cânđối kế toán được phản ánh dưới hình thức giá trị và theo nguyên tắc cân đối là tổng tài sản bằng tổng nguồn vốn
- Nội dung bảng cân đối kế toán:
Trang 14 Phần Tài sản
Phần Nguồn vốn
Phần tài sản: Phản ánh giá trị tài sản hiện có tới thời điểm lập báo cáo Về mặt
kinh tế các chỉ tiêu thuộc phần tài sản phản ánh dưới hình thái giá trị, quy mô, kết cấucác loại tài sản như tài sản bằng tiền, tài sản tồn kho, các khoản phải thu, tài sản cốđịnh… mà doanh nghiệp hiện có Về mặt pháp lý, số liệu ở phần tài sản phản ánh sốtài sản đang thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp Các chỉ tiêu phản ánhtrong phần tài sản được sắp xếp theo nội dung kinh tế của từng loại tài sản của doanhnghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong đó, phần tài sảnđược chia thành:
Tài sản ngắn hạn: phản ánh giá trị của tất cả các tài sản ngắn hạn hiện có của
doanh nghiệp Đây là những tài sản có thời gian luân chuyển ngắn, thường là một nămhay một chu kỳ kinh doanh
Tài sản ngắn hạn bao gồm:
Tiền và các khoản tương đương tiền
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
Các khoản phải thu ngắn hạn
Hàng tồn kho
Tài sản ngắn hạn khác
Tài sản dài hạn: phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản có thời gian thu hồi trên
một năm hay một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo
Tài sản dài hạn bao gồm:
Các khoản phải thu dài hạn
Tài sản cố định
Bất động sản đầu tư
Các khoản đầu tư tài chính dài hạn
Tài sản dài hạn khác
Trang 15Phần nguồn vốn: phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp
tại thời điểm lập báo cáo Về mặt kinh tế, phần nguồn vốn phản ánh quy mô, kết cấu
và đặc điểm sở hữu các nguồn vốn đã được doanh nghiệp huy động vào sản xuất kinhdoanh Về mặt pháp lý, phần nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý về mặt vật chấtcủa doanh nghiệp đối với các đối tượng cấp vốn cho doanh nghiệp (cổ đông, ngânhàng, nhà cung cấp…) Trong đó, phần nguồn vốn bao gồm:
Nợ phải trả: phản ánh toàn bộ số nợ phải trả tại thời điểm lập báo cáo Chỉ tiêu
này thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các chủ nợ (ngân sách, ngân hàng,người mua…) về các khoản phải nộp, phải trả hay các khoản mà doanh nghiệp chiếmdụng khác
Nợ phải trả bao gồm: Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
Vốn chủ sở hữu :là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư góp vốn ban đầu
và bổ sung thêm trong quá trình hoạt động kinh doanh Số vốn chủ sở hữu doanhnghiệp không phải cam kết thanh toán, vì vậy vốn chủ sở hữu không phải một khoảnnợ
Vốn chủ sở hữu bao gồm:
Nguồn vốn chủ sở hữu
Nguồn kinh phí và quỹ khác
b Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là một bản báo cáo tài chính tổng hợpphản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh theo từng loại hoạt động củadoanh nghiệp Ngoài ra, báo cáo này còn phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ củadoanh nghiệp với ngân sách Nhà nước
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính quan trọng chonhiều đối tượng khác nhằm phục vụ việc đánh giá hiệu quả hoạt động, khả năng sinhlời, đánh giá xu hướng phát triển của doanh nghiệp qua các thời kỳ, kiểm tra phân tích,đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch , dự toán chi phí sản xuất, giá vốn, doanh thu
Trang 16tiêu thụ sản phẩm-hàng hoá và thu nhập của hoạt động kinh doanh và các hoạt độngkhác sau một kỳ kế toán.
Kết cấu và nội dung phản ánh của Báo cáo hoạt động kinh doanh:
Bao gồm các khoản mục chủ yếu sau đây:
1.Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
2.Các khoản giảm trừ doanh thu
3.Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ
4.Giá vốn hàng bán
5.Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ
6.Doanh thu hoạt động tài chính
7.Chi phí tài chính
8.Chi phí bán hàng
9.Chi phí quản lý doanh nghiệp
10 Lợi nhuận thuần từ hoạt đông kinh doanh
16 Chi phí TNDN hoãn lại
17.Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp
18 Lãi cơ bản trên cổ phiếu
Trang 171.2.2 Phân tích thông qua các chỉ tiêu tài chính
Các chỉ tiêu (hay tỷ số) được sử dụng để đánh giá tình hình tài chính của doanhnghiệp trong phạm vi bài viết này bao gồm:
1.2.2.1 Nhóm chỉ tiêu kết cấu tài sản và nguồn vốn.
Xem xét tình hình chung là xem xét sự thay đổi về tổng tài sản và nguồn vốnqua các chu kỳ kinh doanh - thường là 1 năm Sự thay đổi này phản ánh sự thay đổi vềquy mô tài chính của doanh nghiệp (Tuy nhiên đó chỉ đơn thuần là sự thay đổi về sốlượng mà chưa giải thích gì về hiệu quả, chất lượng tài chính ) Đánh giá tổng tài sảntăng lên chủ yếu ở hạng mục nào (tài sản cố định/ tài sản lưu động) và được hình thành
từ nguồn nào (tăng lên ở khoản nợ hay vốn chủ sở hữu tăng) Ngoài ra, cần phải phântích kết cấu tài sản và nguồn vốn
a Tỷ trọng Tài sản lưu động trên Tổng tài sản
Công thức tính:
Tỷ trọng TSLĐ trên Tổng tài sản = (TSLĐ / Tổng tài sản) x 100
Phân tích tình hình biến động của tài sản ngắn hạn nhằm xem xét sự biến động củatiền, đầu tư ngắn hạn, các khaorn phải thu, hàng tồn kho…có đảm bảo cho việc dự trữtài sản cho sản xuất kinh doanh hay không Từ đó, Nhà quản trị tìm ra nguyên nhân vàphương hướng giải pháp
b.Tỷ suất tự trài trợ:
Công thức tính:
Tỷ suất tài trợ = (Vốn chủ sở hữu/Tổng nguồn vốn)x100
Chỉ tiêu này càng cao càng thể hiện khả năng độc lập cao về mặt tài chính haymức độ tự tài trợ của doanh nghiệp càng tốt bởi vì hầu hết tài sản mà doanh nghiệphiện có đều được đầu tư bằng số vốn của mình
c.Tỷ số nợ ( Debt Ratio – Rd )
Công thức tính:
Trang 18Rd = (Nợ phải trả / Tổng tài sản) x 100
Trong đó, tổng số nợ gồm toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn tại thờiđiểm lập báo cáo tài chính Còn tổng tài sản có bao gồm tài sản lưu động và tài sản cốđịnh hay là tổng toàn bộ kinh phí đầu tư cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệptrong phần bên trái của Bảng cân đối kế toán
Tỷ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối với cácchủ nợ trong việc góp vốn Thông thường các chủ nợ thích tỷ số này vừa phải vì tỷ sốnày càng thấp thì khoản nợ vay càng được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bịphá sản Còn các chủ sở hữu thích tỷ số này cao vì họ muốn lợi nhuận tăng nhanh Tuynhiên nếu tỷ số nợ quá cao thì doanh nghiệp dễ bị rơi vào tình trạng mất khả năngthanh toán Để có nhận định đúng về tỷ số này cần phải kết hợp với các tỷ số khác nữa
1.2.2.2 Nhóm chỉ tiêu về tình hình thanh toán và khả năng thanh toán
Năng lực thanh toán của doanh nghiệp là năng lực trả được nợ đáo hạn của cácloại tiền nợ của doanh nghiệp, là một tiêu chí quan trọng phản ánh tình hình tài chính
và năng lực kinh doanh của doanh nghiệp, đánh giá một mặt quan trọng về hiệu quả tàichính của doanh nghiệp, thông qua việc đánh giá và phân tích về mặt này có thể thấy
rõ những rủi ro tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính thấp không những chứng tỏ doanh nghiệp bị căng thẳng vềtiền vốn, không có đủ tiền để chi tiêu trong việc kinh doanh hàng ngày, mà còn chứng
tỏ sự quay vòng của đồng vốn không nhanh nhạy, khó có thể thanh toán được cáckhoản nợ đến hạn, thậm chí doanh nghiệp có thể đứng trước nguy cơ bị phá sản Vìtrong quá trình kinh doanh, chỉ cần mức thu lợi của tiền đầu tư lớn hơn lãi suất vốnvay sẽ có lợi cho cổ đông nhưng vay nợ quá nhiều sẽ làm tăng rủi ro của doanhnghiệp Vay vốn để kinh doanh có thể làm tăng lợi nhuận của cổ phiếu từ đó làmtăng giá trị cổ phần của doanh nghiệp, nhưng rủi ro tăng lên thì trên mức độ nào đócũng làm giảm giá trị cổ phần
Năng lực thanh toán của doanh nghiệp gồm: thanh toán nợ ngắn hạn và thanhtoán nợ dài hạn, trong đó nợ trung và dài hạn chủ yếu là cùng tiền lãi trong quá trìnhkinh doanh để thanh toán Nợ ngắn hạn chủ yếu là trông vào năng lực lưu động và tài
Trang 19sản lưu động của doanh nghiệp làm đảm bảo Việc đánh giá năng lực thanh toán củadoanh nghiệp phải bao gồm cả hai mặt: đánh giá năng lực thanh toán nợ ngắn hạn vànăng lực thanh toán nợ dài hạn.
Năng lực thanh toán nợ ngắn hạn là năng lực chi trả các khoản nợ ngắn hạn.Các khoản nợ ngắn hạn còn được gọi là các khoản nợ lưu động, tức là các khoản nợ cóthời hạn trong vòng một năm Loại nợ này phải thanh toán bằng tiền mặt hoặc các tàisản lưu động khác Các khoản nợ này có rủi ro cao đối với tài chính của doanh nghiệp.Nếu không thanh toán đúng hạn thì sẽ làm cho doanh nghiệp phải đứng trước nguy cơ
vỡ nợ Trong Bảng cân đối tài sản, các khoản nợ ngắn hạn và tài sản lưu động có quan
hệ đối ứng, phải dùng tài sản lưu động để đối phó với các khoản nợ ngắn hạn
a Tỷ số luân chuyển tài sản lưu động - Khả năng thanh toán hiện hành ( The current ratio – Rc )
Công thức tính:
Rc = Tài sản lưu động / Các khoản nợ ngắn hạn
Trong đó, tài sản lưu động bao gồm tiền, các chứng khoán ngắn hạn dễ chuyểnnhượng, các khoản phải thu và dự trữ ( tồn kho ) Còn nợ ngắn hạn bao gồm: cáckhoản vay ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, các khoảnphải trả nhà cung cấp, các khoản phải trả, phải nộp khác Cả tài sản lưu động và nợngắn hạn đều có thời gian nhất định - thường là một năm
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạncủa doanh nghiệp, cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trangtrải bằng các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền trong một giai đoạn tương đương vớithời hạn của các khoản nợ đó
Tỷ số này có được chấp thuận hay không tuỳ thuộc vào sự so sánh với giá trịtrung bình của ngành và so sánh với các tỷ số của năm trước
Khi giá trị của tỷ số này giảm có nghĩa là khả năng trả nợ của doanh nghiệpgiảm và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn tài chính tiềm tàng Ngược lại, khigiá trị của tỷ số này cao hơn, có nghĩa là khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp
Trang 20tăng, là dấu hiệu đáng mừng Tuy nhiên, khi giá trị của tỷ số này quá cao thì có nghĩa
là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động Điều này có thể do sự quảntrị tài sản lưu động còn chưa hiệu quả nên còn quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi hoặc do quánhìều nợ phải đòi v.v…làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Nói chung, tỷ số luânchuyển tài sản lưu động hay tỷ số thanh toán hiện hành trong khoảng 1 – 2 là vừa,nhưng trong thực tế khi phân tích tỷ số này cần kết hợp với đặc điểm ngành nghềkhác nhau và các yếu tố khác như: cơ cấu tài sản lưu động của doanh nghiệp, nănglực biến động thực tế của tài sản lưu động Có ngành có tỷ số này cao, nhưng cũng
có ngành nghề có tỷ số này thấp, không thể nói chung chung được và cũng khôngthể dựa vào kinh nghiệm được…
Ngoài ra, khi đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khi đến hạn,chúng ta cần phải quan tâm đến chỉ tiêu: Vốn lưu động ròng
b Vốn lưu động ròng
Công thức tính:
Vốn lưu động ròng = Tổng tài sản lưu động – Tổng nợ ngắn hạn.
Vốn lưu động ròng còn được gọi là vốn kinh doanh, là phần tài sản lưu độngvượt quá các khoản nợ ngắn hạn, là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực thanhtoán của doanh nghiệp Tình hình vốn lưu động không chỉ quan trọng đối với nội bộdoanh nghiệp mà còn là một chỉ tiêu được dùng rộng rãi để ước lượng những rủi ro tàichính của doanh nghiệp Trong trường hợp các nhân tố khác như nhau, doanh nghiệp
có vốn lưu động ròng càng cao càng tốt vì càng có thể thực hiện được nhiệm vụ tàichính trong kỳ Vì vốn lưu động ròng là một chỉ tiêu quan trọng ước lượng các rủi rotài chính, cho nên tình hình vốn kinh doanh còn ảnh hưởng tới năng lực vay nợ để tạovốn Lượng vốn lưu động ròng cao hay thấp được quyết định bởi mức độ tiền mặt vào
ra của doanh nghiệp Có nghĩa, nếu lượng tiền mặt vào ra của doanh nghiệp không cótính chính xác thì doanh nghiệp đó cần phải duy trì nhiều vốn lưu động ròng để chuẩn
bị trả nợ đáo hạn trong kỳ Do đó, cho thấy tính khó dự đoán của lượng tiền mặt vàtính không điều hoà của lượng tiền vào ra làm cho doanh nghiệp phải duy trì một mứcvốn lưu động ròng cần thiết
Trang 21Trong thực tế, người ta thường hay so sánh lượng vốn lưu động với các trị sốcủa năm trước để xác định lượng vốn có hợp lý hay không Vì quy mô của doanhnghiệp là khác nhau nên so sánh giữa các doanh nghiệp khác nhau là không có ýnghĩa.
Khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh
và khả năng nắm bắt thời cơ thuận lợi của nhiều doanh nghiệp phụ thuộc vào Vốn lưuđộng ròng Do vậy mà nhiều doanh nghiệp thể hiện sự phát triển ở sự tăng trưởng Vốnlưu động ròng
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, tỷ số luân chuyển tài sản lưu động - tỷ sốthanh toán hiện hành – không phản ánh chính xác khả năng thanh toán, do nếu hàngtồn kho là những loại hàng hoá khó bán thì doanh nghiệp rất khó biến chúng thànhtiền Do vậy, khi phân tích, chúng ta cần phải quan tâm đến tỷ số thanh toán nhanh
c.Tỷ số thanh toán nhanh ( The quick Ratio – Rq )
Công thức tính:
Rq = ( Tài sản lưu động – Hàng tồn kho ) / Các khoản nợ ngắn hạn
Trong đó, tài sản lưu động trừ đi hàng tồn kho còn được gọi là tài sản vòngquay nhanh Do hàng tồn kho ( Dự trữ ) là các tài sản có tính thanh khoản thấp nhấttrong tổng tài sản lưu động, mất nhiều thời gian và dễ bị lỗ nhất khi bán nên khôngđược tính vào tỷ số thanh toán nhanh
Tỷ số thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạnkhông phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ ( tồn kho ) Do đó, có thể thấy tỷ số thanhtoán nhanh phản ánh chính xác hơn, chân thực hơn về khả năng thanh toán ngắn hạn
Tỷ số thanh toán nhanh thấp hơn năm trước có nghĩa là những thay đổi về chínhsách tín dụng và cơ cấu tài trợ đã làm khả năng thanh toán của doanh nghiệp yếu đi, vàngược lại Tuy nhiên, tỷ số này cũng cần tuỳ theo sự cần thiết của ngành: các ngànhnghề khác nhau thì yêu cầu đối với tỷ số thanh toán nhanh cũng khác nhau Ví dụ, cácngành dịch vụ thì cần tiêu thụ nhiều tiền mặt, các khoản cần thu lại tương đối ít, do đócho phép duy trì tỷ số này thấp hơn 1 Ngoài ra, vì các khoản nợ của doanh nghiệp
Trang 22không thể tập trung thanh toán vào cùng một thời kỳ, nên tỷ suất thanh toán nhanh nhỏhơn 1 không có nghĩa là không an toàn mà chỉ cần lượng tài sản lưu động nhanh lớnhơn những khoản nợ cần phải trả ngay trong kỳ gần nhất là có thể chứng tỏ rằng tính
an toàn được đảm bảo
1.2.2.3 Nhóm chỉ số hoạt động – Đánh giá năng lực kinh doanh
Năng lực kinh doanh của doanh nghiệp là năng lực tuần hoàn của vốn doanhnghiệp, là một mặt quan trọng đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp Vì vốncủa doanh nghiệp được sử dụng để đầu tư vào các loại tài sản: tài sản lưu động và tàisản cố định, nên cần phải đo lường hiệu quả sử dụng tổng tài sản, và từng bộ phận cấuthành tổng tài sản Nói chung, sự tuần hoàn vốn của doanh nghiệp là sự vận độngthống nhất của vốn tiền tệ, vốn sản xuất, vốn hàng hoá – dịch vụ Trong đó, sự vậnđộng của hàng hoá – dịch vụ có ý nghĩa quan trọng vì hàng hoá, dịch vụ có được tiêudùng thì mới thực hiện được giá trị, thu hồi được vốn và hoàn thành vòng tuần hoàncủa vốn Do vậy, nhà quản lý có thể thông qua mối quan hệ và sự biến động của tìnhhình tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ và chiếm dụng vốn của doanh nghiệp để phân tích tìnhhình vận động của vốn Tình hình vận động vốn của doanh nghiệp tốt, chứng tỏ trình
độ quản lý kinh doanh của doanh nghiệp cao, hiệu suất sử dụng tiền vốn cao Ngượclại, sẽ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là thấp
Các tỷ số hoạt động được sử dụng để đánh giá năng lực kinh doanh, bao gồmcác tỷ số: Tỷ số vòng quay hàng tồn kho (Vòng quay dự trữ ); Kỳ thu tiền bình quân;Hiệu quả sử dụng tài sản cố định; Hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản
a Tỷ số vòng quay hàng tồn kho – Vòng quay dự trữ ( Inventory Ratio – Ri )
Công thức tính:
Ri = Doanh thu thuần / Hàng tồn kho.
Trong đó, doanh thu thuần là doanh số của toàn bộ hàng hoá tiêu thụ trong kỳkhông phân biệt đã thu tiền hay chưa, trừ đi phần hoa hồng chiết khấu, giảm giá hayhàng hoá bị trả lại Còn hàng hoá tồn kho bao gồm các loại nguyên vật liệu, sản phẩm
dở dang, thành phẩm, vật liệu phụ còn tồn trong kho Độ lớn của quy mô tồn kho tuỳ
Trang 23thuộc vào sợ kết hợp của nhiều yếu tố như: ngành kinh doanh, thời điểm phân tích,mùa vụ,…Trong quá trình tính toán chúng ta cần phải lưu ý: mặc dù doanh thu đượctạo ra trong suốt năm, nhưng giá trị hàng tồn kho trong Bảng cân đối là mức tồn khotại một thời điểm cụ thể, do vậy khi tính chúng ta phải lấy giá trị tồn kho trung bìnhnăm.
Tỷ số này đo lường mức doanh số bán liên quan đến mức độ tồn kho của cácloại hàng hoá thành phẩm, nguyên vật liệu, là chỉ tiêu phản ánh năng lực tiêu thụ hànghoá và tốc độ vòng quay hàng tồn trữ, đồng thời để ước lượng hiệu suất quản lý hàngtồn trữ của doanh nghiệp và là căn cứ để người quản lý tài chính biết được doanhnghiệp bỏ vốn vào lượng trữ hàng quá nhiều hay không Do đó, nhìn chung hàng tồnkho lưu thông càng nhanh càng tốt Nếu mức quay vòng hàng tồn kho quá thấp, chứng
tỏ lượng hàng tồn quá mức, sản phẩm bị tích đọng hoặc tiêu thụ không tốt sẽ là mộtbiểu hiện xấu trong kinh doanh Vì hàng tồn trữ còn trực tiếp liên quan đến năng lựcthu lợi của doanh nghiệp Cho nên trong trường hợp lợi nhuận lớn hơn không, số lầnquay vòng hàng tồn kho nhiều chứng tỏ hàng lớn trữ chỉ chiếm dụng số vốn nhỏ, thờigian trữ hàng ngắn, hàng tiêu thụ nhanh, thu lợi sẽ càng nhiều
b.Kỳ thu tiền bình quân ( Average Collection Period – ACP )
Công thức tính:
ACP = Các khoản phải thu / Doanh thu bình quân một ngày
Trong đó, các khoản phải thu là những hoá đơn bán hàng chưa thu tiền có thể làhàng bán trả chậm, hàng bán chịu hay bán được mà chưa thu tiền, các khoản tạm ứngchưa thanh toán, các khoản trả trước cho người bán
Doanh thu bình quân ngày = Tổng doanh thu / 360
Trong phân tích tài chính, kỳ thu tiền bình quân được sử dụng để đánh giá khảnăng thu tiền trong thanh toán, cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lựckinh doanh của doanh nghiệp Vì rằng nếu các khoản phải thu của doanh nghiệp khôngđược thu hồi đủ số, đúng hạn thì không những gây tổn thất đọng nợ cho doanh nghiệp
mà còn ảnh hưởng tới năng lực kinh doanh Số ngày trong kỳ bình quân thấp chứng tỏ
Trang 24doanh nghiệp không bị đọng vốn trong khâu thanh toán, không gặp phải những khoản
nợ khó đòi, tốc độ thu hồi nợ nhanh và hiệu quả quản lý cao Tính lưu động của tài sảnmạnh, năng lực thanh toán ngắn hạn rất tốt, về một mức độ nào đó có thể khoả lấpnhững ảnh hưởng bất lợi của tỷ suất lưu động thấp Đồng thời, việc nâng cao mứcquay vòng của các khoản phải thu còn có thể làm giảm bớt kinh phí thu nợ và tổn thấttồn đọng vốn, làm cho mức thu lợi của việc đầu tư tài sản lưu động của doanh nghiệptăng lên tương đối Ngược lại, nếu tỷ số này cao thì doanh nghiệp cần phải tiền hànhphân tích chính sách bán hàng để tìm ra nguyên nhân tồn đọng nợ Trong nhiều trườnghợp, có thể do kết quả thực hiện một chính sách tín dụng nghiêm khắc, các điều kiệntrả nợ hà khắc làm cho lượng tiêu thụ bị hạn chế, nên công ty muốn chiếm lĩnh thịtrường thông qua bán hàng trả chậm hay tài trợ nên có Kỳ thu tiền bình quân cao
Điều đáng lưu ý khi phân tích là kết quả phân tích có thể được đánh giá là rấttốt, nhưng do kỹ thuật tính toán đã che dấu những khuyết điểm trong việc quản trị cáckhoản phải thu Nên cần phải phân tích định kỳ các khoản phải thu để sớm phát hiệnnhững khoản nợ khó đòi để có biện pháp xử lý kịp thời
c.Hiệu quả sử dụng tài sản cố định ( The Fixed Assets Utilization – FAU )
Công thức tính:
FAU = Doanh thu thuần / Giá trị tài sản cố định
Trong đó, giá trị tài sản cố định là giá trị thuần của các loại tài sản cố định tínhtheo giá trị ghi sổ kế toán, tức nguyên giá của tài sản cố định khấu trừ phần hao mòntài sản cố định dồn đến thời điểm tính
Tỷ số này còn được gọi là Mức quay vòng của tài sản cố định, phản ánh tìnhhình quay vòng của tài sản cố định, và là một chỉ tiêu ước lượng hiệu suất sử dụng tàisản cố định Như vậy, tỷ số này cho biết hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào tài sản cốđịnh của doanh nghiệp, hay nói cách khác là một đồng tài sản cố định tạo ra được baonhiêu đồng doanh thu trong một năm Tỷ số này cao chứng tỏ tình hình hoạt động củadoanh nghiệp tốt đã tạo ra doanh thu thuần cao so với tài sản cố định, chứng tỏ việcđầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp là xác đáng, cơ cấu hợp lý, hiệu suất sử
Trang 25dụng cao Ngược lại, nếu vòng quay tài sản cố định không cao thì chứng tỏ hiệu suất
sử dụng thấp, kết quả đối với sản xuất không nhiều, năng lực kinh doanh của doanhnghiệp không mạnh Mặt khác, tỷ số còn phản ánh khả năng sử dụng hữu hiệu tài sảncác loại
d.Hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản ( The Total Assets Utilization – TAU )
Công thức tính:
TAU = Doanh thu thuần / Tổng tài sản có
Trong đó, tổng tài sản có là tổng toàn bộ giá trị tài sản của doanh nghiệp baogồm cả tài sản cố định và tài sản lưu động tại thời điểm tính toán và dựa trên giá trịtheo sổ sách kế toán
Tỷ số này còn được gọi là vòng quay toàn bộ tài sản, nó cho biết hiệu quả sửdụng toàn bộ các loại tài sản của doanh nghiệp, hoặc thể hiện một đồng vốn đầu tư vàodoanh nghiệp đã đem lại bao nhiêu đồng doanh thu
Nếu như trong các thời kỳ, tổng mức tài sản của doanh nghiệp đều tương đối ổnđịnh, ít thay đổi thì tổng mức bình quân có thể dùng số bình quân của mức tổng tài sảnđầu kỳ và cuối kỳ Nếu tổng mức tài sản có sự thay đổi biến động lớn thì phải tính theotài liệu tỉ mỉ hơn đồng thời khi tính mức quay vòng của tổng tài sản thì các trị số phân
tử và mẫu số trong công thức phải lấy trong cùng một thời kỳ
Mức quay vòng của tổng tài sản là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng tổng hợptoàn bộ tài sản của doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao càng tốt Giá trị của chỉ tiêucàng cao, chứng tỏ cùng một tài sản mà thu được mức lợi ích càng nhiều, do đó trình
độ quản lý tài sản càng cao thì năng lực thanh toán và năng lực thu lợi của doanhnghiệp càng cao Nếu ngược lại thì chứng tỏ các tài sản của doanh nghiệp chưa được
sử dụng có hiệu quả
1.2.2.4 Nhóm chỉ số lợi nhuận – Đánh giá năng lực thu lợi
Các tỷ số trên phản ánh hiệu quả từng hoạt động riêng biệt Để phản ánh tổnghợp nhất hiệu quả sản xuất – kinh doanh và hiệu năng quản lý, chúng ta cần phải tính
Trang 26toán các tỷ số lợi nhuận Thông qua các tỷ số lợi nhuận, các nhà quản lý đánh giá nănglực thu lợi của doanh nghiệp, là khả năng thu được lợi nhuận của doanh nghiệp Vì lợinhuận là kết quả cuối cùng trong kinh doanh của doanh nghiệp, thu được lợi nhuận làmục tiêu chủ yếu của sự tồn tại của doanh nghiệp là một mặt quan trọng trong đánh giáthành tích tài chính của doanh nghiệp Các đối tượng liên quan: nhà đầu tư, chủ sởhữu, nhà quản lý,… đều quan tâm đến năng lực thu lợi của doanh nghiệp.
Năng lực thu lợi của doanh nghiệp rất quan trọng đối với những người cho vay,
vì lợi nhuận thuần của doanh nghiệp là một trong những nguồn tiền chủ yếu để thanhtoán nợ Không thể tưởng tượng nổi khi một doanh nghiệp thua lỗ liên miên có thể cókhả năng thanh toán mạnh
Năng lực thu lợi cũng là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư mua cổphần Vì các cổ đông thu lợi đầu tư là thông qua cổ tức, mà toàn bộ cổ tức lại từ lợinhuận tịnh của doanh nghiệp mà có Hơn nữa đối với công ty có tham gia thị trườngchứng khoán thì có sự tăng trưởng của lợi nhuận làm cho các cổ đông có thêm lợi vềgiá cổ phiều trên thị trường
Năng lực thu lợi của doanh nghiệp cũng quan trọng đối với các nhà quản lý vìtổng lợi nhuận và lợi nhuận thuần là những chỉ tiêu để đánh giá thành tích kinh doanhcủa những người quản lý
Lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm:
- Lợi nhuận kinh doanh: là nguồn gốc chủ yếu của lợi nhuận doanh nghiệp, là
lợi nhuận có được thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận kinh doanh là
do lợi nhuận của các nghiệp vụ kinh doanh chính và các lợi nhuận của các doanhnghiệp khác cấu thành Lợi nhuận kinh doanh là một chỉ tiêu để đánh giá thành tíchkinh doanh của doanh nghiệp
- Các khoản thu chi ngoài kinh doanh: là các khoản thu chi không có quan hệ
trực tiếp đối với các hoạt động kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp Tuy không cóquan hệ trực tiếp đối với các hoạt động kinh doanh nhưng các khoản thu chi ngoàikinh doanh vẫn là một trong những nhân tố làm tăng hoặc giảm lợi nhuận vì nó cũng
Trang 27đem lại thu nhập hoặc phải chi ra đối với doanh nghiệp vẫn có ảnh hưởng rất lớn đốivới tổng lợi nhuận và lợi nhuần thuần của doanh nghiệp.
- Thu nhập ngoài kinh doanh: là những khoản thu không có quan hệ trực tiếp
với những hoạt động sản xuất kinh doanh Thu nhập ngoài kinh doanh là những thunhập mà không tổn phí tiền vốn của doanh nghiệp, trên thực tế là một loại thu nhậpthuần tuý, doanh nghiệp không phải mất một loại chi phí nào Vì vậy, về mặt hạch toán
kế toán cần phải phân chia ranh giới giữa thu nhập kinh doanh và thu nhập ngoài kinhdoanh Các khoản thu nhập ngoài kinh doanh bao gồm tiền tăng lên của tài sản cốđịnh, thu nhập thuần trong việc sắp xếp tài sản cố định, thu nhập do bán tài sản vôhình, thu nhập trong các giao dịch phi tiền tệ, các khoản thu tiền phạt, các khoản thu
về kinh phí đào tạo.v.v…
a.Tỷ số lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (ROS)
Công thức tính:
ROS = ( Lợi nhuận sau thuế/ Doanh thu thuần ) x 100
Tỷ số này phản ánh cứ một đồng doanh thu thuần thì có bao nhiêu phần trăm lợinhuận Sự biến động của tỷ số này phản ánh sự biến động của về hiệu quả hay ảnhhưởng của các chiến lược tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm Nếu tỷ số này giảmthì doanh nghiệp cần phân tích và tìm biện pháp giảm các khoản chi phí để nâng cao tỷ
lệ lợi nhuận, từ đó tăng khả năng thu lợi của doanh nghiệp
b.Tỷ số lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản có (ROA)
Công thức tính:
ROA = ( Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản có ) x 100
Tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp Hay nói cách khác là tỷ số này phản ánh năng lực thu lợi của doanh nghiệp khi
sử dụng toàn bộ các nguồn kinh tế của mình
Cơ sở để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh là phải có tài sảnnhất định, đồng thời các hình thái của tài sản cũng phải được bố trí hợp lý để các tài
Trang 28sản cố thể được sử dụng một cách có hiệu quả Trong một thời kỳ nhất định, nếudoanh nghiệp chiếm hữu và hao phí ít tài sản, mà lợi nhuận thu được càng nhiều thìnăng lực thu lợi của tài sản là ước lượng việc vận dụng có hiệu quả các tài sản và làmột phương thức phản ánh hiệu quả đầu tư về tổng thể, đồng thời quan trọng đối vớinhững người quản lý và những người đầu tư Những người quản lý doanh nghiệpthường quan tâm tới năng lực thu lợi của tài sản có cao hơn mức lợi nhuận bình quâncủa tài sản xã hội và cao hơn mức lợi nhuận tài sản trong ngành hay không Và trongmột thời kỳ nhất định, do đặc điểm kinh doanh và các nhân tố hạn chế khác nhau, nănglực thu lợi của các ngành nghề khác nhau cũng sẽ khác nhau: có ngành thu lợi cao và
có ngành thu lợi thấp
c Tỷ số thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu ( Doanh lợi vốn chủ sở hữu – ROE )
Công thức tính:
ROE = Thu nhập sau thuế / Vốn chủ sở hữu
Tỷ số này phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu và được các nhà đầu
tư đặc biệt quan tâm khi họ quyết định bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp Tăng mứcdoanh lợi vốn chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tàichính doanh nghiệp
d Doanh lợi tài sản ( ROA )
Công thức tính:
ROA = Thu nhập trước thuế và lãi vay / Tài sản có
Hoặc:
ROA = Thu nhập sau thuế / Tài sản có
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất được dùng để đánh giá khả năng sinh lợi của mộtđồng vốn đầu tư Tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp được phân tích vàphạm vi so sánh mà người ta lựa chọn thu nhập trước thuế và lãi vay hoặc thu nhập sauthuế để so sánh với tổng tài sản
Trang 291.2.3 Phân tích Dupont
Mô hình Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời củamột doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống Mô hình Duponttích hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bản cân đối kế toán Trong phân tích tàichính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tàichính Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta có thểphát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhấtđịnh
Dưới góc độ nhà đầu tư cổ phiếu, một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là
hệ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Do vốn chủ sở hữu là một phần của tổngnguồn vốn hình thành nên tài sản, nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổngtài sản Mối quan hệ này được thể hiện bằng mô hình Dupont như sau:
Lợi nhuận ròng
= Lợi nhuận ròng x Tổng tài sản
ROE = ROA x Đòn bẩy tài chính
ROE = Hệ số Lợi nhuận ròng x Hiệu suất sử dụng tổng tài sản x Đòn bẩy tài chính
Trang 30 Tăng hiệu suất sử dụng tài sản Nâng cao số vòng quay của tài sản, thông quaviệc vừa tăng quy mô về doanh thu thuần, vừa sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấucủa tổng tài sản.
Tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao chất lượng của sản phẩm Từ đó tănglợi nhuận của doanh nghiệp
Tóm lại, phân tích báo cáo tài chính bằng mô hình Dupont có ý nghĩa lớn đốivới quản trị DN thể hiện ở chỗ có thể đánh giá đầy đủ và khách quan các nhân tố tácđộng đến hiêu quả sản xuất kinh doanh từ đó tiến hành công tác cải tiến tổ chức quản
lý của doanh nghiệp
Để đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng sử dụng báo cáo tài chính kế toán, người
ta có thể sử dụng nhiều phương pháp để phân tích tài chính nhằm để nắm được thựctrạng tài chính của doanh nghiệp dưới nhiều góc độ, phục vụ cho nhiều mục đích khácnhau
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc phân tích trong quản trị tài chính tại công ty TNHH Bán lẻ Nhanh
1.3.1 Nhân tố môi trường bên ngoài
Môi trường vĩ mô ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của tất cảcác tổ chức, doanh nghiệp Nó bao gồm những yếu tố sau:
Môi trường chính trị luật pháp: Hệ thống luật quốc gia có ảnh hưởng lớn đến
hoạt động của doanh nghiệp, các xu hướng chính trị chứa đựng mầm mống cho sự thayđổi môi trường kinh doanh
Môi trường công nghệ: Hiện nay sự bùng nổ công nghệ mới làm công nghệ
hiện tại bị lỗi thời, tạo áp lực đòi hỏi doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ, dẫn đếnvòng đời công nghệ có xu hướng ngắn lại Điều này tạo điều kiện phát triển sản xuất,hoàn thiện sản phẩm tạo thêm nhiều tính năng mới cho sản phẩm
1.3.2 Nhân tố môi trường ngành
Theo quan niệm của M.Porter, doanh nghiệp chịu tác động của 5 tác nhân tạothành 5 bối cảnh cạnh tranh của ngành
Trang 31Đe dọa cạnh tranh ngành: Có các rào cản sau: lợi thế kinh tế nhờ quy mô, khác
biệt về sản phẩm, yêu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh mới, khả năng tiếp cậnkênh phân phối
Đối thủ cạnh tranh ngành: Đây là áp lực thường xuyên đe dọa trực tiếp các
doanh nghiệp Các yếu tố cần xem xét là số lượng đối thủ cạnh tranh trên thị trường vàcường độ cạnh tranh hiện tại giữa các đối thủ cạnh tranh trong ngành
Áp lực từ sản phẩm thay thế: Khả năng lựa chọn giá cả của sản phẩm thay thế
càng hấp dẫn thì ngưỡng chặn trên đối với lợi nhuận ngành sẽ càng vững chắc hơn.Xác định sản phẩm thay thế chính là việc tìm kiếm các sản phẩm có cùng công năngnhư sản phẩm của ngành để có các chiến lược nhằm nâng cao sức cạnh tranh củadoanh nghiệp
Áp lực từ khách hàng: Xuất phát từ một số điều kiện sau: số lượng người mua
nhỏ, mua với khối lượng lớn và tập trung, khi người mua chiếm tỷ trọng lớn trong sốnhững người bán, các sản phẩm không có tính khác biệt và là sản phẩm thông dụng
Áp lực từ nhà cung ứng: Người cung ứng có thể khẳng định quyền lực của họ
bằng cách đe dọa tăng giá hoặc giảm chất lượng Quyền lực nhà cung ứng xuất pháttừ: khi thị trường không có sẵn hàng thay thế, khi người mua chiếm tỷ trọng nhỏ trong
số lượng nhà cung cấp,khi sản phẩm của các nhà cung ứng có tính khác biệt
1.3.3 Nhân tố môi trường nội tại của doanh nghiệp cùng ngành
Môi trường nội bộ có ảnh hưởng lớn đến quá trình vận hành kinh doanh và tạolập sức cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại điện tử Các nhân tố này bao gồm:
Hậu cần nội bộ: Bao gồm các hoạt động tiếp nhận, quản lý các yếu tố đầu vào và
khách hàng Những hoàn thiện trong bất cứ hoạt động nào của hoạt động này đều dẫnđến giảm chi phí và tăng doanh thu
Hậu cần bên ngoài: Trong giai đoạn này, doanh nghiệp cần xem xét thời gian và
hiệu quả của quá trình phân phối, hoạt động dự trữ các điều kiện tham gia trong việccung ứng các sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng