Đối với nền kinh tế Thuỷ lợi là một ngành kinh tế kỹ thuật thuộc lĩnh vực kết cấu hạ tầng.Sản phẩm của nó phục vụ nhiều ngành sản xuất, bảo vệ sản xuất và dân sinhnhư: phòng chống lũ lụt
Trang 1Chương I
cơ sở lý luận và thực tiễn về thuỷ lợi và hiệu quả sử dụng công
trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp
I công tác thuỷ lợi
1 Một số khái niệm cơ bản
1.1 Thuỷ lợi: là sự tổng hợp các biện pháp khai thác, sử dụng, bảo vệ
nguồn nước trên mặt đất và nước ngầm, đấu tranh phòng chống những thiệthại do nước gây ra với sản xuất nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốcdân, dân sinh nói chung đồng thời làm tốt công tác bảo vệ môi trường
1.2 Hệ thống công trình thuỷ lợi: bao gồm các công trình thuỷ lợi có
liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong mét khu vựcnhất định Lợi Ých từ công trình thuỷ lợi mang lại là rất lớn, phục vụ chonhiều ngành kinh tế quốc dân: thuỷ điện, giao thông, công nghiệp, nôngnghiệp nước sinh hoạt, phòng chống úng lụt,
1.3 Thuỷ nông: là hệ thống công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông
nghiệp Sản phẩm của công trình thuỷ nông là nước tưới, nó là yếu tố đầuvào không thể thiếu đối với sản xuất nông nghiệp
1.4 Hệ thống công trình thuỷ nông: là tập hợp các công trình làm
nhiệm vụ lấy nước từ nguồn nước dẫn vào đồng ruộng tưới cho cây trồng vàtiêu hết lượng nước thừa trên đồng ruộng ra ngoài phạm vi đất trồng trọt
1.5 Hộ dùng nước: là cá nhân, tổ chức được hưởng lợi hoặc làm dịch
vụ từ công trình thuỷ lợi do doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi trực
Trang 2giao thông vận tải, du lịch, nghiên cứu khoa học, cấp nước cho công nghiệp
và dân sinh
1.6 Thuỷ lợi phí: là một phần phí dịch vụ về nước của công trình thuỷ
lợi để góp phần chi phí cho công tác tu bổ, vận hành và bảo vệ công trìnhthuỷ lợi
2 Vai trò và ý nghĩa của thuỷ lợi đối với nền kinh tế và đối với nông nghệp
2.1 Đối với nền kinh tế
Thuỷ lợi là một ngành kinh tế kỹ thuật thuộc lĩnh vực kết cấu hạ tầng.Sản phẩm của nó phục vụ nhiều ngành sản xuất, bảo vệ sản xuất và dân sinhnhư: phòng chống lũ lụt, giao thông vận tải, điện, nông, lâm, ngư, nghiệp…Trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân, thuỷ lợi là một ngành kinh tế kỹ thuật có
vị trí quan trọng, điều đó được thể hiện như sau:
Đối với hệ thống phòng chống thuỷ tai:
Ở nước ta do hệ thống sông ngòi dày đặc, bờ biển lại dài hơn 3000 km
do vậy vấn đề lũ lụt luôn là vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta quan tâm và lolắng Theo số liệu thống kê cho thấy, nước ta có 8300 km đê sông và đê biểnlàm nhiệm vụ ngăn nước lũ sông và chiều biển, bảo vệ đất đai… Ngoài racón có các đê ở các địa phương làm nhiệm vụ ngăn nước ngoại lai và phục
vụ dân sinh kinh tế, đặc biệt là vùng đồng bằng sôgn Hồng, sông Mã, sông
Cả và cả sông Mê Kông
Đối với hệ thống giao thông thuỷ:
Hệ thống giao thông thuỷ chiếm vị trí quan trọng trong mạng lướigiao thông của cả nước, với 1140 km đường giao thông thuỷ do Trung ươngquản lý 3824 km và địa phương quản lý 30 nghìn km các kênh sông nhỏ làmgiao thông thuỷ nông thôn Nhân dân các địa phương còn lợi dụng các bờkênh làm đường giao thông bộ và cơ giới
Trang 3Đối với nguồn thuỷ năng:
Phải nói rằng, thuỷ lợi đã góp phần tích cực vào việc phát triển thuỷđiện – nguồn năng lượng sạch, không gây ô nhiễm không khí so với nhiệtđiện chạy bằng than dầu Để đáp ứng nhu cầu cho phát triển nông nghiệp,nguồn điện năng nước ta phát triển chủ yếu dựa vào sự phát triển của cácnhà máy thuỷ điện Đến nay, nước ta đã xây dựng được các hồ chứa phátđiện với tổng công suất của các nhà máy thuỷ điện lên đến hơn 3000 MW,hàng năm sản xuất chiếm khoảng 10 tỷ KWH, chiếm hơn 70% năng lựcmang điện quốc gia Giá thành thuỷ điện lại rẻ chỉ chiếm khoảng 30 – 60%
so với nhiệt điện than, diezen và không khí
Đối với công nghiệp và dân sinh:
Ở nước ta, vấn đề xây dựng các công trình thuỷ lợi từ nhỏ đến lớn gópphần điều tiết lại, phân phối lại nguồn tài nguyên nước theo thời gian vàkhông gian ngoài việc phục vụ cho nông nghiệp, chúng còn phục vụ chonước công nghiệp và dân sinh Có thể thấy được là hàng chục các công trình
hồ đập loại lớn và vừa được xây dựng bằng vốn của ngành thuỷ lợi hoặc cácngành khác đã cấp nước cho các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp suốt từmiền đông bắc đến phía nam Mặt khác, thuỷ lợi còn đóng vai trò trong việctiêu thoát nước bẩn cho các thành phố, các khu dân cư tập trung như Hà Nội,Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng… Cùng với đó là nhiều hồ đập nướctrở thành các điểm du lịch thu hút khách du lịch trong và ngoài nước nhưDầu Tiếng, hồ Núi Cốc, suối Hai…
Đối với ngư nghiệp:
Nước ta có hệ thống sông ngòi dày đặc, đây là một điều kiện rất thuậnlợi để phát triển thuỷ sản Các hồ, đập, cống, kênh… tạo môi trường nướcngọt, lợ với những sản phẩm thuỷ sản khá phong phú và đa dạng
Đối với lâm nghiệp:
Trang 4Rừng có tác dụng điều tiết nguồn nước, giảm lũ, tăng lưu lượng mùakiệt Còn các hồ đập nước làm tăng lượng bốc hơi mặt nước và kết quả làlàm tăng lượng mưa tạo điều kiện cho cây rừng được râm mát thêm, rừng táisinh dễ phát triển Công tác thuỷ lợi còn đóng góp quan trọng trong việc bảo
vệ rừng đầu nguồn bằng việc làm 3000 công trình thuỷ lợi nhỏ phục vụ địnhcanh định cư Điều này rất có ý nghĩa đối với việc bảo vệ hàng triệu ha rừngđầu nguồn
2.2 Đối với nông nghiệp
Nước ta là một nước nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp được coi làmặt trận hàng đầu trong quá trình phát triển kinh tế Trong các ngành sảnxuất, dịch vụ sản xuất nông nghiệp thì thuỷ lợi được coi là ngành dịch vụmũi nhọn chiếm vị trí quan trọng nhất Xây dựng hệ thống thuỷ nông hoànchỉnh góp phần diệt hạn, trừ úng, thau chua rửa mặn, cải tạo đất, nâng cao độphì cho đất, mở rộng diện tích canh tác, thâm canh tăng vụ, nâng cao hệ số
sử dụng ruộng đất và có cơ sở để áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiếnnhằm đạt năng suất, sản lượng cao
Có thể nói rằng mỗi bước tiến của nông thôn Việt Nam gắn mật thiếtvới sự phát triển của công tác thuỷ lợi Thuỷ lợi với vai trò là một yếu tố kếtcấu hạ tầng kỹ thuật thiết yếu góp phần quan trọng vào việc khai thác tiềmnăng nông nghiệp, giải quyết tốt thuỷ lợi hoá cho các vùng sản xuất sẽ tạo rađột biến mới cho sản xuất nông nghiệp, đúng như ông cha ta xưa đã từng
nói: “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” Sự phát triển thuỷ lợi có tác
dụng nhiều mặt, đó là:
Thứ nhÊt, công tác trị thuỷ hình thành các hệ thống thuỷ nông có ý
nghĩa quyết định đưa vùng hoang hoá vào sản xuất nông nghiệp và thay đổichế độ canh tác, mở rộng diện tích theo chiều rộng Đó là trường hợp trị thuỷ
ở vùng đồng bằng sông Cửu Long chuyển vùng từ chế độ lúa nổi, một vụmang tính tự nhiên sang hai vụ thâm canh Với cấp độ cao hơn, thực hiện
Trang 5việc đắp đê bao lũ đã tạo ra một vụ thứ ba là đặc biệt có khả năng chuyểnđổi cơ cấu cây trồng ở tại những vùng lúa nước Cũng bằng công tác trị thuỷ,những vùng ven biển ngập mặn đã được đưa vào khai thác dưới hình thứcđầm, vùng nuôi trồng thuỷ sản, tạo ra sự phát triển đặc biệt nhanh chóng ởvùng hoang hoá.
Thứ hai, hình thành một yếu tố kỹ thuật của thâm canh thích ứng với
những giống lúa có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn
Thứ ba, cung cấp nước 20 – 30 triệu m3 để cải tạo đất (thau chua, rửamặn)
Thứ tư, thuỷ nông góp phần làm tăng năng suất cây trồng Việc cung
cấp đủ nước cho nhu cầu sinh trưởng hoặc tiêu thoát nước kịp thời đã làmcho năng suất cây trồng tăng thêm 20- 30% Theo FAO cho thấy, các giốnglúa mới có tưới, tiêu hợp lý đạt được 80 – 90% năng suất thí nghiệm, nếukhông chỉ đạt 30 – 40%
Thứ năm, thuỷ nông có tác dụng làm thay đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu
mùa vụ theo hướng mở rộng diện tích cây trồng và mùa vụ có năng suất cao
Theo tài liệu thử nghiệm và tổng kết thực tế của Vụ quản lý và khaithác công trình thuỷ lợi cho biết: ở nước ta, tưới tiêu chủ động làm nâng caonăng suất, chất lượng sản phẩm cây trồng góp phần quan trọng vào cải thiệnđời sống nhân dân, nhờ vậy làm thay đổi tập quán canh tác và cơ cấu câytrồng… Chẳng hạn, ở Đồng Nai đưa vào sử dụng công trình hồ chứa nướcGia Ui huyện Xuân Lộc, kênh chính dài 9284 m, năm tuyến kênh cấp I dàitổng cộng 10.303 m tưới cho hai xã Xuân Tâm và Xuân Hưng, đưa 500 hađất canh tác của hai xã từ canh tác 1 vụ lên 2 vô, 3 vụ Công trình này trị giá20,519 tỷ đồng
Hiện nay, cả nước có hệ thống thuỷ lợi phong phú với 650 hồ đập lớn,
3500 hồ đập nhỏ, 2000 trạm bơm công suất tưới 230.000 KW, công suất trên250.000 KW và 10.000 cống tưới tiêu Những hệ thống thuỷ lợi này đảm
Trang 6bảo tưới cho 5,8 triệu ha lúa, 600.000 ha rau hoa màu và cây công nghiệp,tiêu úng cho 92.000 ha, cải tạo 700.000 ha đất ven biển Để quản lý vậnhành hệ thống thuỷ lợi phục vụ phát triển nông nghiệp lớn này, Nhà nước đãcho thành lập 300 công ty, xí nghiệp thuỷ nông, sau khi xắp xếp theo Nghịđịnh 388 XD 55 còn lại 138 doanh nghiệp với 20.000 cán bộ công nhânviên, trong đó có 2.000 kỹ sư.
Trong công tác thuỷ lợi, công tác chống bão lụt với hệ thống đê điều
có một ý nghĩa đặc biệt với phát triển nông nghiệp và dân sinh ở nông thôn
Cả nước có 57 tuyến đê sông với 5.761 km đê, 1.100 cống tưới đê, 100 kè đá
và 2.700 km đê bao Ngoài ra còn nhiều tuyến đê nhỏ do địa phương quản
lý Đây là một hệ thống hạ tầng to lớn, thành tựu lao động và xây dựng củanhiều thế hệ nhân dân Việt Nam, thể hiện một cuộc đấu tranh bền bỉ củanhân dân ta với một thiên nhiên khắc nghiệt Lịch sử đã chỉ ra công tác đêđiều là công tác có tầm quốc sách, quan hệ đến an ninh của quốc gia
Tóm lại, thuỷ lợi phát triển tốt đem lại là rất lớn không chỉ cho sảnxuất nông nghiệp mà còn gián tiếp giúp nhiều ngành kinh tế quốc dân khácphát triển Cụ thể thuỷ lợi phát triển sẽ làm:
+ Tăng hệ số sử dụng ruộng đất, tăngvụ/năm
+ Tăng diện tích đất canh tác nhờ tưới tiêu chủ động
+ Tăng độ phì của đất nếu đảm bảo đúng quy luật nước vào trong đất.+Đảm bảo thực hiện tăng năng suất cây trồng góp phần nâng cao sảnlượng và tổng giá trị sản phẩm
+ Tạo điều kiện gieo trồng các giống đòi hỏi khắt khe về chế độ nước.+ Góp phần tạo môi sinh môi trường phục vụ đời sống con ngườingày càng tốt hơn, như: cấp nước sinh hoạt, tăng mực nước ngầm cho cácgiếng nước dùng trong sinh hoạt, chống lũ lụt, ngăn mặn, chống xói mòn,…
3 Đặc điểm của công trình thuỷ lợi
3.1 Đặc điểm nguồn tài nguyên nước Việt Nam
Trang 7Nguồn nước tự nhiên ước tính bình quân trên toàn thế giới là 7.500 m3
nước/người/năm bao gồm nước trên mặt đất và nguồn nước ngầm trong lòngđất Như vậy nếu xét về mặt số lượng thì tài nguyên nước của Việt Nam rấtphong phú Nguồn nước của nước ta được tạo thành chủ yếu là do lượngmưa trên bề mặt đa phần ở các vùng đồi núi do vậy các dòng chảy thường có
độ dốc lớn sẽ là tiềm năng phát triển ngành thuỷ điện Mặt khác, hệ thốngsông ngòi của ta khá dày đặc phân bố rộng khắp các vùng trên cả nước do đó
đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành giao thông đường thủy và ngành thuỷlợi phát triển mạnh
Theo số liệu thống kê từ năm 1961-1990 dòng chảy bình quân nămcủa toàn bộ các dòng sông nội địa và quốc tế là 837 tỷ m3/năm, trong đó từngoài lãnh thổ chảy vào Việt Nam là 522 tỷ m3/năm Xét về khả năng nguồnnước tự nhiên ở nước ta có thể đáp ứng cho mọi loại nhu cầu về nước chosinh hoạt, cho sản xuất công nghiệp, nông nghiệp cũng như các ngành kinh
tế quốc dân khác trong giai đoạn hiện nay cũng như lâu dài với điều kiệnchúng ta phải có những chiến lược đúng đắn để phát triển nguồn tài nguyênnước quý giá Đồng thời phải có biện pháp qui hoạnh và quản lý một cách
có hiệu quả mọi hoạt động trong quá trình khai thác sử dụng và bảo vệnguồn nước đảm bảo nguồn nước cho các đầu vào và cho các hoạt động lànước sạch Bên cạnh đó chúng ta phải có những biện pháp hạn chế nhữngtác hại của nước gây ra (úng lụt, xói mòn ) Tuy nhiên, để thực hiện đượcvấn đề này đòi hỏi chúng ta phải có thời gian cũng như sự tập trung trí tuệ,tiền của, công sức ngay từ giai đoạn đầu đánh giá, khảo sát thiết kế quihoạch thi công đến việc tiến hành quản lý và khai thác
3.2 Đặc điểm các công trình thuỷ lợi
Trang 8Các công trình thuỷ lợi hoạt động phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tựnhiên, thời tiết, khí hậu và tình hình kinh tế xã hội trong khu vực, do đó côngtrình thuỷ lợi có những đặc điểm riêng biệt.
Về kỹ thuật: Đây là những công trình kỹ thuật nằm ngoài trời nên chịu
tác động trực tiếp, thường xuyên của thời tiết (mưa, nắng ) Vật liệu xâydựng làm bằng vật liệu tại chỗ: gạch, cát, đá, sỏi cùng những vật liệu sảnxuất khác như: xi măng, sắt thép
Về không gian: Các công trình có địa bàn trải rộng, quyền sở hữu cơ
sở vật chất không tập trung gây khó khăn cho công tác bảo vệ và quản lý
Về kinh tế: Trước hết là loại công trình cần có chi phí đầu tư xây dựng
ban đầu lớn Nếu xét theo hình thức hàng hóa thì công trình thuỷ lợi thuộcloại hàng hoá bán công Bất cứ một công trình thuỷ lợi nào cũng có nhiềungười sử dụng, cùng hưởng lợi, do vậy mà sự tác động xấu của nó cũng ảnhhưởng tới nhiều người Các công ty QLKTCTTL được xét là các doanhnghiệp Nhà nước hoạt động công Ých
Về nguồn thu từ thuỷ lợi phí bao gồm các khoản:
- Thuỷ lợi phí: Đây là nguồn thu chủ yếu Mức thu thuỷ lợi phí đượcUBND tỉnh, Thành phố trực thuộc TW qui định Cho đến nay, chính sáchthuỷ lợi phí vẫn dựa theo NĐ 112 CP ban hành ngày 25/08/1984 Chính sáchnày với mục đích thu lại một khối lượng nông sản trên diện tích hưởng lợitưới tiêu nhằm bù đắp phần nào các chi phí dùng để tu bổ, sửa chữa, bảodưỡng và vận hành công trình thuỷ lợi phục vụ tưới, tiêu Theo đánh giá củacác nhà quản lý, mức thu từ thuỷ lợi phí (nếu thu đủ) không thể đủ bù đắpđược các chi phí hợp lý để đảm bảo hoạt động bình thường cho các công tyQLKTCTTL
Trang 9- Nguồn ngân sách Nhà nước hỗ trợ: Để bù đắp tu sửa, nâng cấp côngtrình và các khoản chi hợp lý từ hoạt động dịch vụ chính của doanh nghiệp,hoặc trợ cấp tu sửa công trình trong những năm thời tiết không thuận lợi(Theo điều 11 của Pháp lệnh quản lý và khai thác công trình thuỷ lợi) Tuynhiên, nguồn trợ cấp này hầu hết được cấp có thẩm quyền (Bộ chủ quản vàUBND tỉnh, thành) giao cho kế hoạch trên cơ sở các danh mục công trình tusửa thường xuyên, sửa chữa lớn đã có luận chứng kinh tế kỹ thuật và đồ ánthiết kế, dự toán được duyệt hàng năm theo khả năng cân đối ngân sách vàhiện nay thường không đáp ứng yêu cầu của việc tu sửa công trình và sảnxuất.
- Các nguồn thu khác: Là doanh thu từ hoạt động kinh doanh khai tháctổng hợp công trình thuỷ lợi mang lại, tức là các khoản thu được ngoài phạm
vi cho phép của NĐ 112 - HĐBT và Thông tư 67 - TT/LB như: thi công xâylắp, sửa chữa thiết bị chuyên dùng, cấp nước công nghiệp, cÊp nước đô thị Nguồn thu này phải được hạch toán đầy đủ chi phí sản xuất kinh doanh vàthực hiện các nghĩa vụ thuế với Nhà nước
Về khách hàng: Là các chủ thể sản xuất nông nghiệp với đối tượng
khách hàng chủ yếu là nông dân Đây là bộ phận khách hàng có đời sống thunhập thấp, có trình độ canh tác khác nhau, tập quán canh tác mang nặng tínhchất sản xuất nhỏ Do vậy ở họ luôn tồn tại tính bảo thủ, bao cấp, khó chấpnhận cái mới Chính vì thế, phải xây dựng những mô hình dịch vụ thuỷ lợithích hợp với đặc điểm dân cư, tập quán canh tác của từng vùng, từng hệthống Bên cạnh đó phải kết hợp biện pháp kinh tế thuần tuý với các biệnpháp hành chính, tuyên truyền giáo dục theo cách trực tiếp hay gián tiếp quacác cơ quan đoàn thể Mặt khác, khách hàng là ổn định nhưng nhu cầu dịch
vụ là thì luôn thay đổi theo thời gian, mùa vụ Sản phẩm hàng hoá dịch vụ
Trang 10thuỷ lợi không thể mua bán trao tay trực tiếp mà phải thanh toán trước hoặcsau một thời gian định kỳ dịch vụ cơ sở hợp đồng thực tế.
4 Kinh nghiệm quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi trên thế giới và ở Việt Nam
Ở Malaysia, năm 1983 gần như tất cả các nông trại trồng lúa ở nướcnày đều được tưới nước Chính phủ xây dựng toàn bộ các công trình thuỷ lợiphục vụ tưới, tiêu mà không thu thuỷ lợi phí
Ở Thái lan (nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới): Chính phủ chorằng muốn duy trì được tốc độ tăng trưởng hiện nay thì vấn đề thuỷ lợi phảiđược đặt lên hàng đầu Từ những thập kỷ 70, Thái Lan đã rất quan tâm đếnvấn đề phát triển thuỷ lợi, giai đoạn từ 1965-1985 có 482 dự án thuỷ lợiđược xây dựng với tổng kinh phí 5.371 tỷ bạt Riêng năm 1988 có tới 604 dự
án thuỷ lợi quy mô nhỏ được xây dựng Theo đánh giá của các nhà kinh tếnước này, thuỷ lợi hoá làm tăng năng suất lao động 0,25%/năm, riêng vùng
Trang 11đồng bằng trung tâm sản xuất lúa gạo năng suất lao động tăng lên 4 lần (đạtmức 1%/năm) Xu hướng đầu tư vào thuỷ lợi hiện nay của Thái Lan là giảmđầu tư vào các công trình có quy mô lớn thay vào đó là các dự án có quy mônhỏ, nhằm giải quyết nguồn nước tại chỗ và giải quyết kịp thời các nhu cầu
về nước của nhân dân Tất cả các dự án thuỷ lợi đều được chính phủ đứng raquy hoạch và đầu tư trực tiếp, người dân không phải chịu bất cứ một chi phínào cho việc tưới tiêu nước
Ở Inđonexia, năm 1987 Chính phủ tuyên bố toàn bộ chính sáchchuyển giao các công trình thuỷ lợi có diện tích dưới 500 ha cho các hộingười sử dụng nước Trước khi thực hiện chuyển giao, hội những người sửdụng nước của nông dân được thành lập và tham gia vào các quá trình nângcấp các công trình này Cùng với sự tham gia của nông dân vào các côngtrình thuỷ lợi nhỏ, thuỷ lợi phí cũng được sử dụng như là một yếu tố của cáccông trình tham gia quản lý thuỷ lợi Đến năm 1989, Chính phủ Inđônêxiamới áp dụng chính sách thu thuỷ lợi phí đối với người dùng nước trongkhuôn khổ các chính sách mới lúc bấy giờ về việc vận hành và bảo dưỡngcác công trình thuỷ lợi trên phạm vi toàn quốc
Ở Trung Quốc có các dự án tưới đã làm cho một số cấc vùng đấthoang hoá biến thành đất trồng trọt màu mỡ cho năng suất cao ở một sốtỉnh Hệ thống thuỷ lợi được hình thành trên nguyên tắc ai là người đầu tưxây dựng công trình thì người đó làm chủ và quản lý công trình Thay đổi cótính chất quyết định nhất là việc chuyển hình thức quản lý từ các đội thuỷ lợi
mà các thành viên của nó chỉ gồm các uỷ ban làng, xã thành các nhóm thuỷnông làng, xã bao gồm các thành viên là những người nông dân hoạt độngtương đối độc lập với các uỷ ban làng, xã Chuyển đổi hình thức quản lýthuỷ nông ở Trung Quốc bắt đầu từ cải cách kinh tế 1978 Việc quan trọng
Trang 12hiện nay đang được nhà nước quan tâm xác định là quyền sở hữu, sử dụng,giám sát hình thức thuỷ lợi theo hình thức cổ phần.
Như vậy, đối với thế giới việc đầu tư cho xây dựng các công trìnhthuỷ lợi theo quy hoạch và thiết kế mới khoa học hiện đại rất được ưu tiên.Phương thức nâng cấp các công trình thuỷ lợi theo chiều hướng kiên cố hoá
đã trở lên khá phổ biến, đặc biệt là những nước phát triển họ đã nhận thứcđược lợi Ých không nhỏ do việc kiên cố hoá kênh mương đem lại, hơn nữa
họ có đủ kả năng kinh tế để đầu tư cho những chi phí xây dựng cơ bản.Nhiều nước đang phát triển trong khu vực cũng hết sức nhạy bén, họ đã vàđang tiến hành đầu tư xây dựng nâng cấp theo hướng này Những công trìnhsau khi đã hoàn thành và đưa vào sử dụng đã bắt đầu phát huy những khảnăng tiềm Èn mà trước kia chưa được khai thác triệt để nhằm phục vụ chosản xuất nông nghiệp
4.2 Ở Việt Nam
Lịch sử phát triển thuỷ lợi của nước ta gắn liền với lịch sử phát triểncủa dân tộc Từ cuối thÕ kỷ thứ XX đã có những công trình đào sông vớiquy mô lớn, đặc biệt trong thời nhà Lê và nhà Nguyễn, công cuộc thuỷ lợi
đã đạt được những thành tựu đáng kể
Năm 1954, ngay sau khi giải phóng miền Bắc, thuỷ lợi được coi lànhiệm vụ hàng đầu trong khôi phục kinh tế và chỉ trong vòng một nămchúng ta đã được khôi phục được hơn 90% năng lực công trình hiện có, xâydựng thêm nhiều công trình mới Suốt trong quá trình khôi phục và pháttriển đất nước trong lĩnh vực thuỷ lợi với phương châm: “Nhà nước và nhândân cùng làm” chúng ta đã xây dựng mới và cải tạo nhiều công trình thuỷlợi, là động lực thúc đẩy và phát huy hiệu quả của công tác thuỷ lợi Hầu hết
Trang 13các công trình thuỷ lợi lớn và vừa đều có sự đóng góp của nhân dân thôngqua việc huy động ngày công lao động.
Trong giai đoạn này, mỗi hệ thống công trình thành lập một Ban quản
lý hệ thống hoặc công ty nông giang quản lý từ công trình đầu mối đến kênhdẫn hoặc tháo nước cho các HTX Mạng lưới công trình trên kênhmươngtrong phạm vi xã, HTX do UBND xã hoặc HTX nông nghiệp quản lýthong qua tổ đội thuỷ lợi thuỷ nông thuộc xã và HTX Nghị định 66 CP(1962) đã đưa ra đIều lệ thu thuỷ lợi phí nhằm tăng cường công tác quản lýkhai thác hệ thống nông giang bằng việc đóng góp hợp lý và công bằng cảunhân đảm bảo tính đoàn kết nhất trí ở nông thôn
Năm 1963, Chính phủ ban hành NĐ 141/CP về đIề lệ qủn lý khai thác
và bảo vệ công trình thuỷ lợi trong đó đề cập đến việc trả tiền nước sử dụng
do công trình thuỷ lợi mang lại
Cho đến nay trải qua nhiều giai đoạn phát triển của đất nước, nhiềuthông tư, Chỉ thị của Chính phủ được ban hành nhằm thúc đẩy và hoàn thiệnviệc quản lý khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi như Thông tư 13 TN(1970) tiếp tục quy định về tổ chức quản lý hệ thống thuỷ nông, thành lậpcác công ty quản lý thuỷ nông, trạm quản lý
Năm 1972, phong trào hoàn chỉnh thuỷ nông đã được tiến hành rầm rộ
ở 11 tỉnh phía Bắc và sau Chỉ thị 100 CT – TW (1981) là khoán sản phẩmđến người lao động và Nghị định 112 – HĐBT (1984) đã ban hành quy định
về mức thu thuỷ lợi phí Cho đến nay định mức thu thuỷ lợi phí vẫn đượcduy trì nhưng thực tế nhiều tỉnh mới đạt được ở mức từ 5 – 6% thậm chí cónhững tỉnh chỉ cóầu như
Theo tài liệu thống kê năm 1996 thuỷ lợi phí trong cả nước mới thuđược khoảng 50% so với yêu cầu nhưng nó cũng góp một phần đáng kể
Trang 14trong công tác bảo dưỡng và vận hành hằng năm Tuy vậy hệ thống thuỷ lợivẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của sản xuất nông nghiệp.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, như những nguyên nhân vềmặt kỹ thuật, sự thiếu đồng bộ nhất quán trong các chính sách quản lý thuỷnông từ tỉnh xuống huyện… Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là sự quantâm của người dân vào công tác thuỷ nông còn rất hạn chế Ở nước ta, đa sốcác công trình thuỷ lợi đều có đầu tư hỗ trợ kinh phí của Nhà nước còn mộtphần do nhân dân - những người hưởng lợi từ công trình đóng góp Do vậy,việc quản lý sử dụng công trình thuỷ lợi ở nước ta đang tồn tại hai hình thức:
Một là, các công ty hay xí nghiệp kết hợp cùng HTX, các công ty hay
xí nghiệp quốc doanh quản lý các công trình thuỷ lợi từ đầu mối đến mặtrộng Hình thức này có ưu điểm là chủ động điều hành được mùa vụ sảnxuất và chủ động tu bổ sửa chữa công trình Tuy nhiên nhược điểm của nó làtrong toàn bộ quá trình quản lý điều hành không sâu sát thực tế, không pháthuy được trách nhiệm của người hưởng lợi, chi phí từ ngân sách quá lớn dẫnđến tình trạng mất cân đối mà kết quả là công trình xuống cấp hư hỏngkhông phục vụ sản xuất được
Hai là, công trình thuỷ lợi được công ty, xí nghiệp quốc doanh kết hợpcùng HTX (đội thuỷ nông) để quản lý theo sự phân cấp quản lý của chínhquyền cấp tỉnh, thành phố Công ty quốc doanh quản lý hồ chứa, công trình ,đầu mối kênh chính HTX quản lý kênh nhánh và kênh mương nội đồng haycông trình nhỏ năm gọn trên địa bàn xã Hình thức này vừa mang ưu điểmcủa hình thức thứ nhất, vừa phát huy cao tính trách nhiệm giữa sử dụng vàquản lý của người hưởng lợi Những người hưởng lợi tự quản lý và sử dụng,
tự huy động đóng góp tài chính để duy trì bảo dưỡng công trình Song vẫncòn hạn chế về chuyên môn không quản lý được công trình lớn và mức độđóng góp để duy tu sửa chữa sẽ là quá lớn đối với người hưởng lợi khi sử
Trang 15dụng những công trình lớn hay những công trình được xây dựng ở nơi có địahình phức tạp.
Tóm lại, đồng thời với quá trình xây dựng, nâng cấp các công trìnhthuỷ lợi thì vấn đề quản lý sử dụng cũng phải được nghiên cứu ngày cànghoàn thiện tốt hơn, có như vậy hiệu quả đem lại từ các công trình này mớingày càng được nâng cao
Hệ thống công trình thuỷ lợi của huyện An Lão - Hải Phòng đã đượcđầu tư xây dựng tương đối đồng bộ về công trình thuỷ lợi nội đồng sau hoànchỉnh thuỷ nông (1974-1976)
Từ đầu những năm 80 đến nay, hệ thống htuỷ lợi của huyện cũng nhưcủa thành phố được Nhà nước tiếp tục đầu tư xây dựng những công trìnhthuỷ lợi đầu mối lớn trong hệ thống nhằm đảm bảo cả về tưới và tiêu phục
vụ cho phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dân sinh và một sốngành kinh tế khác của huyện, thành phố
Để phát triển ngày càng cao hiệu Ých của công trình thuỷ lợi huyện,thực tế đã đòi hỏi phải có một chế độ tập trung, thống nhất sự quản lý vàkhai thác hệ thống công trình này với một bộ máy tổ chức chuyên ngành,trên cơ sở qui trình kỹ thuật vận hành hệ thống Do vậy, hệ thống công trìnhthuỷ lợi của được công ty QLKTCTTL Đa Độ kết hợp cùng các HTX vàchính quyền địa phương xã để quản lý theo sự phân cấp quản lý của thànhphố: công ty quản lý hồ chứa, công trình đầu mối, kênh chính; HTX quản lýkênh nhánh và kênh mương nội đồng hay các công trình nhỏ nằm gọn trênđịa bàn xã
II lý luận chung về hiệu quả sử dụng công trình thuỷ lợi
1 Một số quan điểm về hiệu quả đối với công trình thuỷ lợi
Trang 16Đối với dịch vụ thuỷ lợi, hàng hoá nước là sản phẩm không cạnhtranh, không được tự do lựa chọn thị trường, đối tượng cung và đối tượngcầu đã được xác định từ trước, đồng thời có sự can thiệp của cơ quan Nhànước Trong quá trình cung cầu này, do nhiệm vụ chính trị phục vụ sản xuấtnên đối tượng mua không ký hợp đồng mua thì bên bán vẫn phải bán, nếukhông sẽ gây tác hại cho sản xuất nông nghiệp làm ảnh hưởng đến sự pháttriển kinh tế của đất nước và môi trường sinh thái Hoặc bên mua có ký hợpđồng mua nhưng việc thanh toán chưa hoặc không sòng phẳng nhưng vì lợiÝch của cả sã hội mà bên bán vẫn phải cung cấp hàng hoá nước đầy đủ Do
đó vấn đề xác định hiệu quả cho hoạt động dịch vụ thuỷ lợi là rất phức tạp,khó xác định
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế chung nhất, liên quan trực tiếp đếnnền kinh tế sản xuất hàng hoá Hiệu quả được xem xét dưới nhiều góc độ vànhiều quan niệm khác nhau cùng tồn tại như: Quan niệm truyền thống vàQuan niệm kinh tế tân cổ điển
*Quan niệm truyền thống cho rằng: Hiệu quả là phần tiền còn lại thu
được sau khi đã trừ đi chi phí xây dựng, vận hành công trình, tức là hiệu quảcủa các công trình thuỷ lợi được đo bằng các chỉ tiêu lời lãi Quan niệm nàychưa thật toàn diện khi xem xét hiệu quả, nhất là khi tiến hành xem xét vớicông trình thuỷ lợi nhỏ
*Quan niệm kinh tế tân cổ điển xem xét hiệu quả trên nhiều góc độ khác nhau:
Xem xét hiệu quả trong trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào
và đầu ra
Thời gian là nhân tố quan trọng trong tính toán hiệu quả
Trang 17Hiệu quả xét ở 3 góc độ: kinh tế, xã hội và môi trường.
Đánh giá dự án phát triển thông qua việc so sánh giữa lợi Ých và chiphí chứ không phải là thu - chi đơn thuần
Tóm lại, quan niệm này tương đối hoàn chỉnh, vì xác định hiệu quả là
so sánh giữa lợi Ých và chi phí, giữa thu và chi thuần tuý về tài chính Nóđánh giá hiệu quả gắn với việc xem xét quá trình phát triển và tăng trưởngcho phép đưa ra cách nhìn tổng quát hơn về hiệu quả Như vậy, hiệu quả củamột công trình thuỷ lợi đạt được khi kết hợp 3 yếu tố: tài chính, xã hội vàmôi trường
2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả công trình thuỷ lợi
Hiệu quả xây dựng, quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi luôn chịutác động bởi những nhân tố sau:
2.1 Nhân tố tự nhiên: là nhân tố khách quan sẵn có từ trước ảnh
hưởng đến hiệu quả công trình thuỷ lợi, bao gồm có: công nghệ được ápdụng vào công trình thuỷ lợi như tưới tiêu tự chảy hay bơm điện tưới ngầm,tưới tràn hoặc tưới phun Đối với các công trình thuỷ lợi thì dạng tưới tiêuchủ yếu là dạng tự chảy
2.2 Nhân tố tổ chức: ảnh hưởng đến hiệu quả công trình thuỷ lợi là
các hình thức tổ chức để quản lý sử dụng công trình như: công trình do Nhànước quản lý, hoặc do nhân dân quản lý dưới hình thức HTX dùng nước haynhóm hộ dùng nước, sự đồng nhất giữa người quản lý và người sử dụngcông trình
2.3 Nhân tố xã hội: bao gồm các đặc điểm và các yếu tố xã hội liên
quan đến người sử dụng công trình, như: tính cộng đồng, trình độ kỹ thuật,tập quán canh tác của nông dân
Trang 18Ngoài ra, còn có các nhân tố khác như: chính sách của Đảng và Nhànước cho việc đầu tư, trợ giá thuỷ lợi phí… cũng có tác động đến hiệu quảcông trình thuỷ lợi.
3 Phương pháp xác định hiệu quả
Công trình thuỷ lợi với đặc điểm nổi bật là phạm vi hoạt động rộnglớn và có mối liên hệ hữu cơ với nhau, thời gian hoạt động lâu dài Hơn nữa,hiệu quả hoạt động của các công trình thuỷ lợi phụ thuộc nhiều vào điềukiện thời tiết như: mưa, bão, gió, chế độ canh tác… Vì vậy, việc đánh giáhiệu quả sử dụng công trình thuỷ lợi là rất khó khăn, nhiều khi không lượnghoá hết được những tác động mà các công trình thuỷ lợi mang lại; thôngthường nó được đánh giá gián tiếp thông qua sản phẩm nông nghiệp, năngsuất, sự thay đổi diện tích cây trồng, tỷ lệ diện tích tưới tiêu… Các chỉ tiêunày mang tính tổng hợp và ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của các côngtrình thuỷ lợi
Trang 194 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu đề tài
4.1 Chỉ tiêu đánh giá thay đổi diện tích đất trồng
Trang 20Trong đó:
F: diện tích đất nông nghiệp tăng lên sau khi công trình hoàn thành
Fs, Ftr: diện tích đất nông nghiệp trước và sau khi đưa công trình vào
sử dụng
4.2 Năng suất cây trồng
Năng suất cây trồng tăng thêm:
Y = Ys – Ytr (tấn/ha)
Trong đó:
Ys: năng suất cây trồng sau khi xây dựng công trình
Ytr: năng suất cây trồng trước khi xây dựng công trình
4.3 Chỉ tiêu về sự thay đổi giá trị sản lượng
- Sù thay đổi giá trị sản lượng trong thiết kế:
Mtk = g.(Ws.Ys.P + Ws.Ys.B.(1-P) – Wtr.Ytr)
Trong đó:
Mtk: giá trị sản lượng gia tăng hàng năm khi thi công xây dựng công trình thuỷ lợi
Ytr, Ys: năng suất cây trồng
Wtr, Ws: diện tích cây trồng canh tác trước và sau khi xây dựng công trình
P: tần suất thiết kế công trình
Trang 21(1-P): phản ánh những năm công trình phục vụ ngoài tần xuất thiết kếB: hệ số giảm sản phẩm phản ánh mức độ giảm sản lượng công trình những năm công trình làm việc ngoài công suất thiết kế
G: giá đơn vị sản phẩm cây trồng
- Sù thay đổi sản lượng thực tế
Mtt = g(Ws.Ys – Wtr.Ytr)
Wtr, Ws: năng suất cây trồng bình quân trước và sau khi xây dựng công trình
Ys, Ytr: là diện tích canh tác trước và sau khi xây dựng
4.4 Tỷ lệ diện tích tưới tiêu chủ động
Ttc =
Ttc: Tỷ lệ diện tích tưới tiêu chủ động
∑Stc: Tỷ lệ diện tích tưới tiêu chủ động
∑St: Tổng diện tích tưới tiêu
4.5 Tỷ lệ diện tích tưới tiêu
Tt =
Tt: Tỷ lệ diện tích tưới tiêu
∑Wgt: Tổng diện tích gieo trồng
Trang 22chương II
Thực trạng công tác thuỷ lợi và hiệu quả sử dụng công trình thuỷ
lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp ở huyện an lão
I Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
1 Điều kiện tự nhiên
1.1 Vị trí địa lý
Huyện An Lão có tổng diện tích tự nhiên là11.490,99 ha, chiếm 7,5%diện tích tự nhiên của Thành Phố Hải Phòng; Huyện An Lão nằm cách trungtâm quận Kiến An 8 km, trung tâm Thành Phố Hải Phòng 18km An Lão ởvào vị trí trung tâm trên đất liền của Thành Phố và ở ngay cửa ngõ chiếnlược quan trọng của đồng bằng sông Hồng, có toạ độ địa lý:
Kinh độ: Từ 106027'30" đến 106041'15"
Vĩ độ từ 20042'30" đến 20052'30"
- Phía bắc An Lão giáp huyện An Hải
- Phía Nam giáp huyện Tiên Lãng
- Phía Đông giáp quận Kiến An
- Phía Đông Nam giáp huyện Kiến Thuỵ
- Phía Tây và Tây Bắc giáp hai huyện Nam Thanh và Kinh Môn thuộctỉnh Hải Dương
Cơ cấu hành chính huyện An Lão gồm 16 xã và một Thị Trấn( ThịTrấn An Lão)
Với vị trí địa lý như trên đã và sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưukinh tế với các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, Thành Phố Hải Phòng và
có nhiều tiến bộ lớn trong việc tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật, đầu tư
Trang 23nước ngoài để thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế, xã hội của Huyện pháttriển trên địa bàn như: công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ
1.2 Địa hình, địa mạo
Huyện An Lão có địa hình tương đối bằng phẳng, có độ cao trungbình từ 3 -5 m, thấp nhÊt từ 0,4 - 1,0 m so với mặt nước biển Xen vào đó làmột dãy núi trải từ Tây Bắc xuống Đông Nam, với nhiều điểm cao trên1000m và trong đó có Núi Voi với diện tích 300 ha nằm ở xã An Tiến vàTrường Thành là một khu di tích lịch sử có giá trị văn hoá, du lịch rất cao
- Dạng địa hình bằng phẳng phân bố ở hầu hết các xã, có độ cao từ-3,0-10 m so với mực nước biển, độ dốc nền địa hình từ 10-100
- Dạng địa hình thấp trũng gồm các khu vực ruộng trũng và các ao hồxen kẽ có độ cao < 1,00 m so với mặt nước biển, nên thường bị ngập nướcphân bố nhiều ở các xã Chiến Thắng, Bát Trang, Tân Dân, Trường Thọ, ,
Ýt nhất: Quốc Tuấn và Thị Trấn An Lão
1.3 Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn
Huyện nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ không khí trungbình năm là 22,80C (1995), tháng nóng nhất là tháng 6, tháng 7 có nhiệt độtrung bình là 28,40C, tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1, tháng 2, nhiệt độtrung bình là 15,50C, thấp nhất là 100C
+ Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 9 và mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng
3 Chênh lệch nhiệt độ hai mùa rõ rệt: 110C- 120C
+ Độ Èm không khí: độ Èm trung bình cả năm: 85% Độ Èm khôngkhí chịu ảnh hưởng theo mùa, gió và thuỷ triều vùng ven biển Độ Èm trungbình lúc 13h là 90%, độ Èm thấp nhất là tháng 1 : 73%, cao nhất là tháng 4 :91%, độ Èm thấp nhất tuyệt đối: 56%
+ Lượng bốc hơi hàng năm bình quân 700ml, trong tháng khô hanhchế độ nước mất cân bằng, lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa nên xẩy ra khôhạn, thiếu nước
Trang 24+ Lượng mưa bình quân cả năm là 1.740 mm ( số đo trung bình từ
1965 - 1995) Lượng mưa trung bình hàng năm là: 1.820 mm
+ Mùa mưa ( tháng 5 - tháng 10) lượng mưa chiếm 80- 90% lượngmưa cả năm, tập trung vào các tháng 6 tháng 7 và tháng 8 Lượng mưa trungbình/ tháng thời gian này là trên 400 mm, cao nhất 683,3 mm (1995) Mùakhô (tháng 10 đến tháng 3 năm sau), đầu mùa khô thường hanh, cuối mùa
+ Huyện An Lão chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chính:
Gió mùa Đông Bắc vào mùa khô (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau)tốc độ gió trung bình là 2,2 m/s
Gió Đông Nam vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, vận tốc trungbình 2,5 m/s Mùa mưa luôn biến động do ảnh hưởng của bão lũ, dòng triều.Gió mang nhiều hơi nước Tốc độ trung bình trong năm từ 1,7 - 4 m/s, cựcđại đạt 20- 25 m/s vào mùa mưa bão
+ Bão lũ thường xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 9, bình quân 3 - 5trận/năm Bão kèm theo mưa lớn, gió mạnh, gió giật gây lụt lội, nước dângcao nhất là khi triều cường Huyện An Lão rất nhạy cảm với bão do bao bọctrực tiếp bởi hệ thống sông Thái Bình ( Văn Óc, Lạch Tray, Đa Độ) và chịuảnh hưởng của thuỷ triều
1.4 Sông ngòi
Hệ thống sông ngòi của huyện đều thuộc hệ thống sông Thái Bình.Nguồn nước ngầm rất hạn hẹp Mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp và sinhhoạt của huyện đều nhờ nguồn nước mặt của hệ thống 3 con sông chính:sông Lạch Tray, sông Văn Óc, sông Đa Độ
Trang 25Sông Văn Óc chảy qua huyện có chiều dài 17 km/tổng chiều dài 48,9
km, là sông nhánh cấp II của sông Thái Bình nhận nước từ sông Gùa, sôngRạng tỉnh Hải Dương chảy qua ngã ba Kinh Đồng thôn Quán Trang xã BátTrang huyện An Lão, tại đây có phân lưu về phía Bắc là sông Lạch Tray.Sông Văn Óc từ xã Bát Trang đến xã Quang Trung chảy quanh co, uốnkhúc, phân ranh giới giữa tỉnh Hải Dưong với Hải Phòng Sông chảy qua các
xã Quốc Tuấn, Tân Viên, Chiến Thắng, An Thọ và là giáp ranh giữa bên tả
là huyện An Lão và bên hữu là huyện Tiên Lãng Văn Óc là con sông lớnchịu ảnh hưởng nước sông Thái Bình chảy xuống và nước từ sông Hồng,qua sông Luộc, sông mới, sông Mía đổ vào hợp lưu vùng xuôi ra cửa Văn
Óc - Đồ Sơn
Hai sông Văn Óc, Lạch Tray qua địa phận huyện An Lão nối liền AnLão với thành phố Cảng, là tuyến đưòng sông quan trọng, đi ra biển và vàovùng châu thổ sông Hồng, đồng thời cùng nối với sông Đa Độ hằng năm bồiđắp phù sa tăng độ màu cho đất và cung cấp nguồn nước ngọt tưới tiêu chonội đồng huyện An Lão và 9 xã huyện An Hải và phục vụ nhân dân thànhphố
2 Các nguồn tài nguyên
2.1 Tài nguyên đất
An Lão là vùng đồng bằng thuộc đồng bằng sông Hồng, có đồi núi vàđịa hình, địa mạo đa dạng so với các huyện khác của Hải Phòng Hiện naytheo số liệu thống kê đất đai năm 2003, An Lão có tổng diện tích tự nhiênlà11.490,41 ha, trong đó:
- Đất nông nghiệp: 8279,43 ha
- Đất lâm nghiệp: 108,95 ha
- Đất chuyên dùng: 1550,40 ha
- Đất ở: 521,72 ha
- Đất chưa sử dụng: 1029,91 ha
Trang 26Do được bao bọc bởi hệ thống sông ngòi dày đặc, được sự bồi đắpphù sa liên tục của sông Đa Độ đã làm giảm mức độ chua, mặn, diện tích đấtchua, chiếm tỷ lệ nhỏ trong đất nông nghiệp Nguồn nước ngọt của sông Đa
Độ tưới tiêu cho nội đồng trên phạm vi toàn huyện, cùng hệ thống thuỷ lợiđược xây dựng khá đồng bộ đã làm giảm mức độ chua mặn thấp hơn cáchuyện khác của Hải Phòng Đây là yếu tố rất thuận lợi cho canh tác 3 vô, 2
vụ và tương lai là cơ sở để phát triển các vùng cây công nghiệp tập trung,cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản
Đất đai của An Lão được hình thành do sự bồi tụ phù sa của cácnhánh sông Thái Bình (gồm 3 sông chính là sông Văn Óc, Lạch Tray, ĐaĐộ) bao gồm:
+ Đất phù sa được bồi đắp hàng năm (Pb) có diện tích khoảng 564 ha.Đất có thành phần cơ giới nhẹ, hàm lượng tinh dưỡng khá, được sử dụngtrồng rau màu cho năng suất cao
+ Đất phù sa không được bồi đắp hàng năm (P), có diện tích khoảng3.400 ha, phân bố ở hầu hết các xã, trên địa hình vàn, vàn cao Đất có thànhphần cơ giới trung bình, hàm lượng dinh dưỡng khá Đây là loại đất tốt,được sử dụng canh tác nhiều vụ trong năm, trồng lúa, rau màu cho năng suấtcao
+ Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng, có diện tích khoảng 1300 ha,phân bố ở hầu hết các xã trên địa hình cao vàn Thành phần cơ giới trungbình hoặc nhẹ, hàm lượng dinh dưỡng khá Đất này có thể gieo trồng nhiều
vụ trong năm Có khả năng trồng cây ăn quả (cây vải) cho giá trị kinh tế cao,tập trung lớn ở một số xã: Bát Trang, Trường Thọ
2.2 Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt gồm:
+ Lượng nước trong hệ thống sông ngòi huyện An Lão và đều thuộc
hệ thống sông Thái Bình mà chủ yếu là 3 con sông: sông Văn Óc, sông LạchTray, sông Đa Độ Trong đó sông Đa Độ có vị trí quan trọng nhất nó cung
Trang 27cấp nước ngọt cho sinh hoạt và tưới tiêu đồng ruộng An Lão, huyện KiếnThuỵ, Thành Phố Hải Phòng và 9 xã của huyện An Hải.
Mùa mưa lưu lượng nước các sông rất lớn, ở các sông lớn dòng chảyảnh hưởng của chế độ thuỷ chiều, nên một lượng nước lớn không thoát kịpthường gây lên tình trạng úng ngập cục bộ trên diện tích đất nông nghiệp.Ngoài các con sông lớn tự nhiên bao quanh huyện như sông Văn Óc, LạchTray, Đa Độ, huyện còn một hệ thống kênh mương dày đặc rất thuận lợi choviệc tưới tiêu, giao thông đường thuỷ, cung cấp phù sa cho đồng ruộng
Vận tốc lưu lượng các con sông biến đổi theo mùa và chu kỳ thuỷtriều, mùa khô không ảnh hưởng đến sinh hoạt và tưới tiêu Mùa mưa bãocác con sông của An Lão đổ ra biển theo dạng uốn khúc, đã hạn chế phầnnào việc thoát nước, gây ra tình trạng úng ngập hàng năm Do đó vấn đề tiêuúng và cứng hoá hệ thống các con sông được đặt ra hàng đầu
- Nguồn nước ngầm:
Theo các tài liệu thống kê về trữ lượng và chất lượng nguồn nướcngầm trên địa bàn huyện không phong phú và rất hạn hẹp Hiện nay nhândân trong huyện vẫn sử dụng nguồn mạch nóng ở độ sâu 4 - 16 m phục vụcho sinh hoạt, lưu lượng nước 0,7 - 1,8 lít/s Nhìn chung nước có độ khoángcao và chua, do vậy phải qua bể lọc mới sử dụng được Vì vậy hiện nay chưa
có nhà máy nước sạch, nên nhân dân trong huyện chủ yếu sử dụng nướcmưa và đào, khoan giếng để lấy nước dùng cho sinh hoạt gia đình và chănnuôi gia sóc
2.2 Tài nguyên rừng
Huyện An Lão có diện tích: 108,95 ha rừng chủ yếu là rừng trồng đặcdụng được phân bố ở các khu vực khác nhau; khu vực di tích Núi Voi xãTrường Thành, khu núi đá nhà máy gạch Gò Công xã An Tiến loại cây chủyếu là cây keo, bạch đàn, thông, tràm các loại cây trồng này chủ yếu chomục đích bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh quan thiên nhiên và chống sóimòn lở đất
Trang 28Khoáng sản của huyện An Lão không có nhiều, ngoài đá vôi và đát sétphong hoá, sét trầm tích (khoảng 4,1 triệu m3), có thể phát triển làm vật liệuxây dựng ở quy mô vừa và nhỏ Hiện nay đã có nhà máy gạch Gò Côngthuộc xã An Tiến đang sản xuất gạch máy Tuy nen, gạch trang trí, gạch hoa
và chế biến đá hoa các loại
2.5 Tài nguyên nhân văn
Huyện An Lão có lịch sử nhiều lần điều chỉnh địa giới và được tái lậpvào ngày 6/6/1988 theo quyết định số 100/HDBT của Hội đồng Bộ Trưởng
Từ xưa nhân dân huyện An Lão đã có truyền thống đoàn kết chống giặcngoại xâm, có ý thức cần cù chịu khó trong lao động, sản xuất, sáng tạo vàthông minh trong xây dựng quê hương, đất nước, đóng góp nhiều công sứctrong các cuộc khởi nghĩa chống Pháp, chống Mỹ của dân tộc
Lịch sử phong trào yêu nước, chống giặc ngoại xâm tiêu biểu đã cónhững người anh hùng như: Thống Trực (Kha Lâm), Tổng Hộc (Văn Đẩu),Chánh Cọc (Phù Lưu, Thống sát ( Sái Nghi) cùng với nhân dân đã đứng lênchống giặc ngoại xâm
An Lão là vùng đất hiếu học, nơi đây trước kia đã sản sinh ra nhiềungười đỗ tiến sĩ như Cao Toàn, Bùi Mộng Hoa, Trần Toản, cha con trạngnguyên Trần Tất Văn, Trần Văn Tảo đã viết lên những trang sử hào hùngcủa dân tộc Việt Nam, làm dạng danh cho quê hương đất nước
Hiện nay dọc các triền sông, khu di tích núi voi, đền chùa, miếu đã đểlại những dấu Ên của lịch sử hình thành và phát triển văn hóa cho đến ngàynay
Kết thúc chiến tranh, người dân An Lão bắt tay vào xây dựng cuộcsống mới với đức tính cần cù, yêu lao động, họ đã tạo ra nhiều sản phẩm cógiá trị cao, đảm bảo cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong huyện và xuấtkhẩu
Phát huy truyền thống cách mạng, người dân trong huyện cần cù sángtạo, các thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân An Lão đã kiên cường, anh
Trang 29công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương, đạt thành quả lớn trong lao động
và sản xuất Đây là những thế mạnh và điều kiện thuận lợi cần được bảo vệ,phát triển trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện từ nay đếnnăm 2010 và những thời kỳ tiếp theo
3 Cảnh quan môi trường
An Lão là một huyện thuần nông, mang đặc điểm của nền văn minhlúa nước sông Hồng, với quan cảnh thiên nhiên hữu tình, có núi, có rừng, cósông suối bao quanh với những di tích lịch sử kháng chiến chống giặc ngoạixâm đã đi vào thơ ca và lịch sử, tạo nên một tổng thể hài hoà giữa thiênnhiên và con người Huyện còn có khu danh thắng Núi Voi có cảnh quanthiên nhiên khí hậu mát mẻ và là nơi diều dưỡng, nghỉ ngơi lý tưởng
An Lão có tuyến đường quốc lộ 10A, 10B, đường tỉnh lộ 354, cácđường huyện lộ, đường liên thôn, xã vừa có ảnh hưởng tốt tới phát triển kinh
tế - xã hội xong cũng có tác động xấu tới môi trường, như các phương tiệngiao thông cơ giới hoạt động thải ra môi trường khí bụi, chất thải độc hạitrong quá trình cháy nhiên liệu và gây tiếng ồn làm ô nhiễm không khí
Bên cạnh đó, việc dùng các loại chất đốt dạng thô trong sinh hoạt củanhân dân, nung gạch cùng chất thải trong sản xuất công nghiệp - tiểu thủcông nghiệp góp phần làm tăng thêm ô nhiễm môi trường Trong sản xuấtnông nghiệp việc dùng các phế phẩm hoá học để trừ sâu, diệt cỏ dại và phânhoá học không đúng qui định gây ra ô nhiễm
Trên địa bàn huyện hiện nay đã có nhiều nhà máy sản xuất côngnghiệp được xây dựng và trong thời gian tíi sẽ hình thành nhiều khu côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp, doanh nghiệp, xí nghiệp ở các xã TrườngSơn, An Tiến, Quang Trung, Quốc Tuấn, An Thắng thì vấn đề khí thải côngnghiệp, chất thải công nghiệp được đặc biệt quan tâm Để giải quyết đượcnhững vÊn đề đó, các nhà đầu tư và các cấp lãnh đạo cần có những giải pháp
cụ thể nhằm bảo vệ môi trường khỏi ô nhiễm khí thải, nước thải côngnghiệp Đây chính là hướng phát triển một nền kinh tế bền vững
Trang 304 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan môi truờng có ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng công trình thuỷ lợi
4.1 Thuận lợi
*Đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của huyện:
- An Lão là huyện có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, các nguồn tàinguyên thiên nhiên và môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế – xãhội
Tiếp giáp với tỉnh Hải Dương và Thái Bình, có hệ thống giao thôngthủy bộ rất thuận tiện, là nơi trung chuyển hàng hóa nông sản cho Thành phố
và tỉnh bạn như Thái Bình, Quảng Ninh và Ninh Bình… Nằm trong vùngảnh hưởng trực tiếp của tam giác kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh,
có vị trí chiến lược trong củng cố an ninh quốc phòng
- Nhân dân huyện An Lão có truyền thống tự lực tự cường, đoàn kết,cần cù, chịu khó, ham học hỏi, sáng tạo, giàu kinh nghiệm, có trình độ thâmcanh cao trong sản xuất nông nghiệp…, luôn có ý thức hướng tới sản xuấthàng hóa, từng bước loại trừ nền kinh tế tự cung tự cấp
- Được sự quan tâm, chỉ đạo của Thành ủy, ủy ban nhân dân thànhphố Hải Phòng và các Ban ngành, cùng cán bộ quản lý, cán bộ khoa họcnhiệt tình, năng động và có trách nhiệm
*Đối với vấn đề sử dụng công trình thuỷ lợi:
- An Lão với hệ thống 3 con sông là sông Văn Óc, sông Lạch Tray,sông Đa Độ Trong đó sông Đa Độ có vị trí quan trọng nhất nó cung cấpnước ngọt cho sinh hoạt và tưới tiêu đồng ruộng An Lão Bên cạnh đó,huyện nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa nên lượng mưa tương đối lớn Vìvậy nó tạo điều kiện cho việc xây dựng các công trình thuỷ lợi, thuận lợi chocanh tác lúa mùa, màu, cây hàng năm khác, cây ăn quả, cây công nghiệpngắn ngày, chăn nuôi gia súc và phát triển thuỷ sản Kết quả đem lại là năngsuất, sản lượng cây trồng và chăn nuôi tăng lên, đất được cải tạo Đây
Trang 31chính là điều kiện để hướng tới nền sản xuất hàng hoá nông nghiệp ở AnLão ngày càng phát triển, góp phần tăng thu nhập và nâng cao mức sống chongười dân Đó cũng là mục tiêu mà toàn huyện đề ra
- Ngưòi dân An Lão với đức tính yêu lao động của một vùng đất thuầnnông, họ rất quan tâm đến vấn đề làm sao cho thuỷ lợi được phát triển tốt
“nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” Do đó các công trình thuỷ lợi
được chính người dân bảo vệ và giữ gìn Mặt khác, do nhận thấy đây là vùngđất phát triển nông nghiệp tốt nên An Lão nhận được rất nhiều sự quan tâmđầu tư của Thành phố, các doanh nghiệp trong và ngoài nước cho thuỷ lợitạo vốn đầu tư xây dựng, tu bổ và sửa chữa các công trình thuỷ lợi một cáchtốt nhất
4.2 Hạn chế, khó khăn
*Đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của huyện:
- An Lão là huyện có mật dộ dân số cao, diện tích canh tác trên đầungười thấp
- Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của chế độ bánnhật triều của biển Đông nên đã hình thành nên 2 mùa rõ rệt: Mùa đông:lạnh, khô hanh bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau và mùa hè nóng Èmmưa nhiều (tập trung từ tháng 6 đến tháng 9), ngoài ra An Lão thường xuyênchịu ảnh hưởng của bão từ biển Đông gây mưa lũ và úng lụt cho mùa vụ,ảnh hưởng tới năng suất và sản lượng cây trồng
- Nguồn tài nguyên khoáng sản nghèo về trữ lượng và chủng loại, chủyếu là đá vôi và đất sét
- Các hoạt động dịch vụ còn mới phát triển nên thiếu đa dạng và đồng
bộ Chất lượng lao động không cao, chủ yếu là lao động phổ thông, tay nghềthấp, thiếu cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật
*Đối với sử dụng công trình thuỷ lợi:
Trang 32Do mùa đông tương đối kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau nênxảy ra tình trạng thiếu nước, các mương máng khô cạn làm cho năng suất lúakém hiệu quả Mặt khác mùa hè lượng mưa lại tương đối lớn, nước sôngdâng cao, lũ kéo về làm ngập úng các mương máng, nhiều mương máng dongâm nước lâu ngày bị hư hỏng và kết quả là đồng ruộng bị ngập úng theo,các loại thủy sản thì một phần bị chết, một phần thì theo dòng nước đi nơikhác làm thất thu sản phẩm nông nghiệp tương đối lớn Đây cũng là vấn đềđặt ra với Đảng bộ và nhân dân An Lão tìm hướng khắc phục, giải pháp để
có thể sử dụng tốt hơn nữa công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệptrên địa bàn huyện
II Thực trạng công tác thuỷ lợi của công ty quản lý khai thác công trình thuỷ lợi đa độ ở huyện an lão thời gian qua
a những nét khái quát về công ty
1 Sự hình thành và phát triển của công ty
Đa Độ nguyên là con sông thiên nhiên bắt nguồn từ sông Văn Óc chạytheo hướng Tây Bắc - Đông Nam ra biển Đông, con sông có độ dài L= 50km
đã được cải tạo ngọt hoá và đầu tư xây dựng trở thành hệ thống công trìnhthuỷ lợi liên huyện thuộc Thành phố Hải Phòng
Sông Đa Độ chảy qua An Lão – Kiến Thuỵ, Thị xã Đồ Sơn và quanhKiến An với tổng diện tích đất đai tự nhiên là 24.150ha, phía bắc, tây bắc làsông Lạch Tray, phía tây tây nam là sông Văn Óc, phía đông là biển Đông
Về quy mô kết cấu hệ thống công trình thuỷ lợi Đa Độ được hoànthiện đồng bộ, vận hành thông suốt khép kín từ đầu mối đến mặt ruộng theomét quy trình kỹ thuật vận hành thống nhất
Trang 33Công ty quản lý khai thác công trình thuỷ lợi Đa Độ Hải Phòng gọi tắt
là Công ty QLKTCTTL Đa Độ Hải Phòng được thành lập theo quyết định số
810 QĐ/TCCQ của Chủ tịch UBNN Thành phố Hải Phòng ngày 31/3/1993trên cơ sở hợp nhất, sáp nhập các đơn vị thuỷ nông sau:
+ Xí nghiệp cơ khí thuỷ lợi – sở thuỷ lợi Hải Phòng
+ Xí nghiệp thuỷ lợi huyện An Lão
+ Xí nghiệp thuỷ lợi huyện Kiến Thuỵ
+ Xí nghiệp thuỷ lợi dịch vụ nông lâm Đồ Sơn
+ Trạm thuỷ nông quận Kiến An
+ Công ty QLKT - CTTL Đa Độ là doanh nghiệp Nhà nước hạng 1trực thuộc sở nông nghiệp phát triển nông thôn Hải Phòng
Phạm vi hoạt động của công ty là hoạt động với lĩnh vực dịch vụ tướitiêu cho sản xuất nông nghiệp của các huyện An Lão – Kiến Thuỵ, quậnKiến An, thi xã Đồ Sơn ngoài ra còn cung cấp cho hai nhà máy nước CầuNguyệt Quy mô và quá trình phát triển của công ty qua các năm gần đâynhư sau:
Biểu 1: Quy mô của công ty
Trang 34(Nguồn: Công ty CTTL Đa Độ)
Như vậy, những năm qua công ty QLKT - CTTL Đa Độ liên tục đượcđầu tư phát triển Tổng tài sản tăng thêm: năm 2002 so với 2001 là 1,75%,năm 2003 tiếp tục tăng lên so với năm 2002 là 22,13% Tổng số lao độngcũng tăng thêm: năm 2003 so với năm 2001 tăng 4,83%, năm 2003 so vớinăm 2002 tăng 7,67% Do vậy kết quả thu được của doanh nghiệp cũngtương đối khả quan; về doanh thu tuy có hơi biến động: năm 2002 có giảm
đi còn 90,01%, nhưng đến năm 2003 lại tăng lên tương đối lớn 144, 59%;năng lực phục vụ tưới tiêu cũng tăng lên: năm 2002 là 100,26%, năm 2003tăng lên so với năm 2002 là 100,13%
2 Cơ cấu bộ máy tổ chức và quản lý của công ty
Thực hiện thông tư số: 09/98 TTBNN- TCCB ngày 03/9/1998 của Bộnông nghiệp và phát triển nông thôn hướng dẫn tổ chức và hoạt động củacông ty khai thác thuỷ lợi Quy chế tổ chức hoạt động của bộ máy quản lýcông ty QLKT - CTTL Đa Độ Hải Phòng đã được xác lập và được điềuchỉnh hoàn thiện một bước cho phù hợp với điều kiện hiện nay Cơ cấu tổchức của Công ty hiện nay như sau:
- Ban giám đốc (giám đốc và 3 phó giám đốc)
- Các phòng chuyên môn nghiệp vụ
- Các trạm QLKT – CTTL các huyện, đội xây dựng
- Dưới trạm có các cụm QLKT – CTTL
3 3 Đặc điểm sản xuất kinh doanh
4 3.1 Nhiệm vụ ngành nghề sản xuất kinh doanh của công ty
Trang 35Công ty QLKT - CTTL Đa Độ Hải Phòng có nhiệm vụ hoạt động sảnxuất kinh doanh ngành nghề đã được đăng ký là: Quản lý và khai thác hệthống công trình thuỷ lợi Đa Độ, cung cấp nguốn nước phục vụ sản xuấtnông nghiệp đời sống dân sinh nội ngoại thành và các ngành nghề khác,khảo sát thiết kế tu bổ sửa chữa công trình thuỷ lợi, lạo vét công trình thuỷlợi quản lý vốn thu thuỷ lợi phí theo giá do thành phố quy định.
3.2 Sản phẩm sản xuất, những đặc điểm cơ bản chuyên ngành thuỷ nông
*Loại hình sản phẩm chủ yếu:
Biểu 2: Sản phẩm của công ty
1 Diện tích tưới cho cây trồng Ha 26.207 26.275 26.310 100,26 100,13
2 Diện tích tiêu cho cây trồng Ha 3.500 3.600 5.000 102,86 138,90
3 Sản lượng nước cung cấp cho
2 nhà máy
1000m 3 22.500 23.000 25.000 102,22 108,69
4 Giá trị xây dựng, nạo vét
công trình thuỷ lợi
Tr đồng 3.105 2.984 5.260 96,10 176,27
(Nguồn: Công ty KTCTTL Đa Độ)
Nhìn biểu 2 ta thấy, sản phẩm của Công ty là việc tưới và tiêu phục vụsản xuất nông nghiệp, cung cấp nước cho 2 nhà máy trên địa bàn Thành phốhoạt động và thực hiện nạo vét công trình thuỷ lợi nhằm duy tu và sửa chữacông trình thuỷ lợi
*Những đặc điểm chuyên ngành thuỷ nông:
- Công trình thuỷ lợi phân bổ trên diện tích rộng nằm dải rác trongtoàn bộ diện tích lưu vực sông Đa Độ được bố trí theo các phân vùng tướitiêu
- Công trình thuỷ lợi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thiên nhiên và cáctác nhân khác tác động trực tiếp vào công trình
Trang 36- Mục đích khai thác công trình thuỷ lợi phục vụ đa mục tiêu, đangành kinh tế sản xuất kinh doanh và đời sống dân sinh về nhu cầu dùngnước và điều hoà nguồn nước tưới tiêu.
- Hoạt động khai thác công trình thuỷ lợi không những chỉ mang tínhchất khoa học kỹ thuật chuyên ngành mà nó còn mang tính chất phục vụcông Ých xã hội và đời sống dân sinh, tính chất quần chúng rộng rãi, sự hoạtđộng sản xuất kinh doanh không nhằm mục đích lợi nhuận là chính
Vì vậy: Quá trình quản lý và khai thác CTTL cần có sự phối hợp kếthợp chỉ đạo giữa các cấp ngành, các cấp chính quyền địa phương và sự đồngtình ủng hộ của nhân dân trong toàn bộ quá trình quản lý và khai thác
Trang 374 Điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật, lao động
4.1 Điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật
- Hệ thống CTTL nội đồng loại vừa và nhỏ gồm: Trạm bơm điện,cống đập điền hút, kênh mương… hầu hết được xây dựng vào thời kỳ hoànchỉnh thuỷ nông Một số công trình xây dựng trước hệ thống máy móc thuộcthế hệ cũ, hiện nay đã được cải tạo hoặc thay mới nhiều
- Hệ thống CTTL Đa Độ được đầu tư xây dựng trên cơ sở quyhoạch thuỷ lợi được đưa vào vận hành khai thác đã phát huy hết hiệu Ýchthiết kế
4.2 Quy mô kết cấu hệ thống CTTL Đa Độ
* Cụm công trình đầu mối tưới tiêu Đa Độ gồm:
+ Cống Trung Trang (An Lão ) ∑B = 32m Cống tưới chính của hệthống CTTL Đa Độ đóng mở băng tải điện
+ Trạm bơm điện
- Bát Trang: 12 máy x 4.000m3/h/máy
- Quang Hưng: 12 máy x 4.000m3/h/máy
- Các cống xẻ, cống hút và công trình thiết bị phụ trợ khác làm nhiệm
vụ chuyên tiêu (động lực) và bơm tiếp nguồn khi cần
* Công trình đầu mối tiêu Đa Độ:
+ Cống Cổ Tiểu I, II Kiến Thuỵ ∑B = 36m đóng mở băng tải thủcông
+ Cống họng (Đồ Sơn) ∑B = 9m, đóng mở băng tải thủ công
*Sông trục chính Đa Độ: nối liên cụm công trình đầu mối với cụmcông trình đầu mối tiêu là trục sông chính Đa Độ Bắt nguồn từ cống TrungTrang đến cống Cổ Tiểu I, II tạo thành một hồ chứa nguồn nước ngọt và mộtnhánh sông Lai – sông Họng ra cống họng tiêu ra biển Đông
* Hệ thống CTTL nội đồng bao gồm:
+ Trạm bơm điện loại vừa và nhỏ công suất bơm từ 540m3/h đến2.500m3/h, tổng số có 110 trạm bơm trong đó công ty quản lý 82 trạm cònlại địa phương quản lý 28 trạm
Trang 38*Cống dưới đê (Tả Văn óc, Luân Lạch Tray): Tổng số 70 cống, trong
đó công ty quản lý 30 cống còn lại địa phương quản lý 40 cống
*Hệ thống kênh:
- Hệ thống kênh cấp I, II, Qtk là 7,5 m3/s, với 69 kênh tương đương
250 km
- Hệ thống kênh cấp III về kênh nối trạm bơm đối với sông trục chính
Đa Độ và hệ thống kênh cấp một với Qtk > 10 m3/s do công ty quản lý, cònlại địa phương quản lý và có sự phối kết hợp trong quá trình vận hành khaithác
4.3 Năng lực và biện pháp tưới, tiêu cải tạo đất
- Tưới và tiêu tự chảy là loại diện tích có cao trình mặt sông 60s = +07trở xuống
- Cấp nguồn nước tưới, mở đường tiêu nước
- Đảm bảo chủ động cả về tưới và tiêu nước
- Đảm bảo chủ động cả về tưới và tiêu, lấy nước phù sa, thau chua rửamặn, cải tạo đất cho toàn bộ diện tích đất canh tác trong lưu vực hệ thốngCTTL Đa Độ
Trang 39- Trung cấp, công nhân KT 248 80 263 80,5 286 81,7 106 108,7
(Nguồn: Công ty KTCTTL Đa Độ)
Nhìn biểu 3 ta thấy, tổng số lao động của công ty có xu hướng tănglên: năm 2002 tăng hơn so với năm 2001 là 4,80%, năm 2003 so với năm
2002 là 7,6% Xét về trình độ thì chất lượng lao động ngày càng tăng lên; sốngười có trình độ đại học và trên đại học có xu hướng tăng lên: năm 2002tăng hơn so với năm 2001 là 6,60%, năm 2003 so với năm 2002 là 9,40%;trình độ kỹ thuật của công nhân cũng tăng tương đối: năm 2002 tăng hơn sovới năm 2001 là 6%, năm 2003 so với 2002 là 9,4% Đây là một kết quả rấtđáng khích lệ để nhằm từng bước đưa chất lượng lao động của công ty càngcao lên trong giai đoạn khoa học công nghệ tiên tiến như hiện nay Điều nàycũng chứng tỏ rằng công ty luôn đầu tư vào “chất xám” nhằm thực hiệnchính sách của Đảng và Nhà nước ta coi giáo dục là quốc sách hàng đầu
Trang 40b thực trạng công tác thuỷ lợi thời gian qua
1 Tình hình cơ sở vật chất của hệ thống công trình thuỷ lợi
Công tác thuỷ lợi là hoạt động không thể thiếu trong sản xuất nông lâm - ngư nghiệp, sự hoạt động của nó xét về tính chất là ngành kinh tế dịch
-vụ thuộc kết cấu hạ tầng Thuỷ lợi phải phát triển trước một bước nhằm tạotiền đề là bước nhảy cho nông nghiệp phát triển, đây là yêu cầu tất yếukhách quan đối với ngành thuỷ lợi nước ta hiện nay
Lịch sử xây dựng thuỷ lợi nước ta có từ lâu đời và và diễn ra phức tạptheo từng giai đoạn cụ thể nhất định Xây dựng cơ sở vật chất cho công trìnhthuỷ lợi vô cùng quan trọng không thể tách rời trong sản xuất nông nghiệpbởi vì nước ta có truyền thống cấy lúa nước từ rất lâu đời Như vậy lợi Ých
xã hội của công tác thuỷ lợi rất to lớn, nó góp phần quyết định sự phát triểnkinh tế của một nước nông nghiệp như nước ta Tuy nhiên, trong nền kinh tếthị trường hiện nay rõ ràng hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành thuỷlợi gặp rất nhiều khó khăn Trong khi các ngành kinh tế trong của nền kinh
tế quốc dân đã có những chính sách thích ứng cho các ngành này phát triểntheo cơ chế vận hành của kinh tế thị trường thì ngành thuỷ lợi vẫn áp dụng
hệ thống chính sách quản lý được hình thành từ thời bao cấp nên chưa thực
sự chủ động trong sản xuất kinh doanh, chưa thoát khỏi cơ chế “xin - cho”.Song, chóng ta cũng thừa nhận một thực tế ngành thuỷ lợi cũng có nhữngkhó khăn khi hoạt động trong cơ chế thị trường do ngành mang những đặcthù riêng, khác biệt như về sản phẩm, hình thái hiện vật, giá cả và giá trị.Sản phẩm dịch vụ của nó là lượng nước tưới tiêu, số lượng sản phẩm khóxác định, hao phí lao động sống, lao động vật hoá để hình thành giá trị vàchất lượng sản phẩm lại rất khác nhau theo khu vực và điều kiện tự nhiên
Sự trao đổi sản phẩm dịch vụ trên thị trường lại bị giới hạn theo khu vực vàkhông thể vận chuyển đi xa