Đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu như: Trần Xuân Châu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế hợp tác và ý nghĩa của nó trong đổi mới hợp tác xã nông nghiệp hiện nay, Tạp chí Nghiên cứ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tây Nguyên (bao gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông
và Lâm Đồng) có 46 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó có 13 dân tộcthiểu số (DTTS) tại chỗ Thực hiện đường lối Đổi mới do Đảng Cộng sảnViệt Nam khởi xướng (12 - 1986), hơn hai mươi năm qua, đồng bào các dântộc ở Tây Nguyên đã bước đầu phát huy được những tiềm năng, thế mạnh củamình, tích cực sản xuất làm thay đổi căn bản đời sống kinh tế - xã hội toànvùng Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế trong các dân tộc ở Tây Nguyên hiệnnay đang gặp những khó khăn, thách thức lớn, đó là: khoảng cách chênh lệchgiàu nghèo giữa các dân tộc và sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân
cư có xu hướng gia tăng; sự hủy hoại môi trường sinh thái, tình trạng suygiảm diện tích rừng tự nhiên; sự khai thác quá mức tài nguyên đất, rừng chophát triển kinh tế; các thế lực thù địch đang tìm mọi cách lợi dụng khó khăn
về đời sống, tín ngưỡng của đồng bào DTTS để phục vụ âm mưu chia rẽ, pháhoại khối đại đoàn kết dân tộc,… Do đó, phát triển kinh tế, nâng cao đời sốngđồng bào các DTTS ở Tây Nguyên là yếu tố quyết định để giải quyết nhữngvấn đề bức xúc trong đời sống kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên hiện nay
Để tiếp tục giải quyết tốt những vấn đề trong phát triển kinh tế ở TâyNguyên hiện nay, Đảng và Nhà nước ta cần phải có những chủ trương, chínhsách đúng đắn dựa trên nền tảng lý luận khoa học và cách mạng Một trongnhững nền tảng đó là tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh Nét nổi bật, chủ đạo trong
tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh là nâng cao đời sống của nhân dân, là kinh tếgắn liền với chính trị, kinh tế gắn với con người, với xã hội Trong đó Hồ ChíMinh rất quan tâm đến phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miềnnúi, và đặt nó là một bộ phận hữu cơ của chính sách dân tộc nhằm làm cho cácdân tộc đoàn kết, bình đẳng, tương trợ, cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội Những
tư tưởng này đang là kim chỉ nam cho sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay,đồng thời là cơ sở để Đảng, Nhà nước ta đề ra chính sách phát triển kinh tếtrong các dân tộc ở Tây Nguyên
Trang 2Thực hiện chính sách đó, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng
kể, nhưng bên cạnh đó cũng bộc lộ những hạn chế, yếu kém như đã nêu ởtrên, cần được phân tích, đánh giá, từ đó đề ra phương hướng, giải pháp nhằmtiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt hơn chính sách phát triển kinh tế trong cácdân tộc ở Tây Nguyên những năm tới theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh Đó
chính là lý do tác giả chọn đề tài “Phát triển kinh tế trong các dân tộc ở Tây Nguyên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Hồ Chí
Minh học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế:
Tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh là một bộ phận hợp thành tư tưởng HồChí Minh, vì vậy nội dung này đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm
hiểu Đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu như: Trần Xuân Châu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế hợp tác và ý nghĩa của nó trong đổi mới hợp tác xã nông nghiệp hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 7 - 1977; Trần Thành: “Tìm hiểu những quan điểm cơ bản trong tư tưởng kinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Tạp chí Cộng sản, số 2 - 1989; Viện Hồ Chí Minh và Bảo tàng Hồ Chí Minh (1990): Hồ Chí Minh về kinh tế và quản lý kinh tế, Nhà
xuất bản Thông tin lý luận, Hà Nội; TS Vũ Phạm Quyết Thắng (chủ nhiệm,
1991 - 1995), đề tài cấp nhà nước KX.02.04: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; Bộ Công nghiệp và Viện Hồ Chí Minh (2000): Hồ Chí Minh với công nghiệp và công nghiệp hóa, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008.
Công trình nghiên cứu tương đối toàn diện, có hệ thống về tư tưởng
kinh tế Hồ Chí Minh là “Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế”do TS Phạm Ngọc Anh chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2003 Công trình đã phân tích quá trình hình thành, phát triển, đặc điểm bảnchất của tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh; phân tích những nội dung chủ yếu
Trang 3của tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh và nêu lên những nguyên tắc, phương phápquán triệt, vận dụng tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh trong thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước TS Nguyễn Huy Oánh
trong công trình “Tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh với xây dựng nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, đã đúc kết những quan điểm kinh tế của Hồ Chí
Minh thành bẩy nội dung lớn: phương pháp tiếp cận và nghiên cứu kinh tếcủa Hồ Chí Minh; quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất kinh tế của chủnghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nềnkinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; quan điểm vềphát triển nông nghiệp và xây dựng kinh tế tập thể trong nông nghiệp ở ViệtNam; quan điểm về phát triển công nghiệp, công nghiệp hóa, hiện đại hóa;quan điểm về kinh tế đối ngoại; về thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, phát triểnsản xuất để xây dựng chủ nghĩa xã hội và nâng cao đời sống nhân dân
Liên quan trực tiếp đến nội dung phát triển các dân tộc thiểu số và miềnnúi, năm 1996, ủy ban Dân tộc và Miền núi kết hợp với Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc ở Việt Nam” Trong 46 bài tham luận, có một số bài viết về chủ
đề Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc vàmiền núi, đề cập đến vai trò, vị trí chiến lược của vùng dân tộc và miền núi, vaitrò của nhà nước trong phát triển kinh tế, xã hội, thực hiện sự đoàn kết, bìnhđẳng, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong sự nghiệp phát triển
miền núi Luận văn thạc sĩ của Trần Phú Quý: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn
đề dân tộc thiểu số và vận dụng vào giải quyết vấn đề dân tộc trên địa bàn tỉnh Gia Lai, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2008, đã đề
cập đến việc phát triển kinh tế trong các dân tộc thiểu số để giải quyết vấn đềdân tộc trên địa bàn tỉnh Gia Lai
Trên lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên:
Đáng chú ý là ba công trình nghiên cứu: Một số vấn đề kinh tế - xã hội Tây Nguyên (1986); Tây Nguyên trên đường phát triển (1990); Vấn đề phát triển kinh tế - xã hội các dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk (1990) do ủy ban Khoa
Trang 4học xã hội (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) thực hiện Các công trìnhnày đã tập trung nghiên cứu đặc điểm kinh tế - xã hội của các DTTS ở TâyNguyên, đưa ra căn cứ khoa học để xác định các hình thức, bước đi trong quátrình đưa các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên lên chủ nghĩa xã hội
Các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ như: Các hình thức kinh tế ở Tây Nguyên và xu hướng vận động trong quá trình chuyển sang kinh tế hàng hóa, do
TS Trương Minh Dục làm chủ nhiệm (1994 - 1995); Phát triển kinh tế trang trại ở Tây Nguyên, do TS Phạm Thanh Khiết làm chủ nhiệm (1999 - 2000), đã
nghiên cứu các hình thức kinh tế cổ truyền trong lịch sử, các hình thức kinh tếmới xuất hiện và sự vận động của chúng trong quá trình chuyển sang kinh tếhàng hóa
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước: Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, do GS Bế Viết Đẳng chủ nhiệm (1996); đề tài cấp bộ: Một số chính sách kinh tế - xã hội đối với các dân tộc ít người ở Tây Nguyên, do PGS, TS Nguyễn Văn Chỉnh làm chủ nhiệm (1997 - 1998), đã đánh
giá các chính sách của Đảng và Nhà nước ta được thực thi trong thực tiễn vớinhững thành công và hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sáchdân tộc của Đảng
Như vậy, đứng trên góc độ tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh để nghiên cứu
sự phát triển kinh tế trong các dân tộc ở Tây Nguyên thì chưa có một công trìnhnghiên cứu độc lập nào, do đó, đây là một công trình nghiên cứu mới có thểđóng góp những cơ sở lý luận và thực tiễn cho phát triển kinh tế trong các dântộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Nghiên cứu tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận để phântích, đánh giá quá trình phát triển kinh tế trong các dân tộc thiểu số ở TâyNguyên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tìm raphương hướng, giải pháp tiếp tục thúc đẩy phát triển kinh tế trong các DTTS
ở Tây Nguyên giai đoạn 2009 - 2020
Trang 53.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Khái quát một số nội dung cơ bản của tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh
- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trong các DTTS ở Tây Nguyênthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp phát triển kinh tế trongcác DTTS ở Tây Nguyên từ nay đến 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về kinh tế
- Quá trình phát triển kinh tế, chính sách phát triển kinh tế của Đảng vàNhà nước trong các DTTS ở Tây Nguyên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Những quan điểm của Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam
- Luận văn không nghiên cứu sự phát triển kinh tế trong tất cả các dântộc ở Tây Nguyên, mà chỉ nhằm vào nhóm đối tượng người DTTS tại chỗ,trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế, vềdân tộc và chính sách dân tộc
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp: phương pháp lịch sử,phương pháp lôgic, phương pháp văn bản học, phương pháp so sánh, phươngpháp phân tích, tổng hợp, phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
Trang 66 Những đóng góp về khoa học của luận văn
Hệ thống một số nội dung cơ bản tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh.Nghiên cứu làm rõ một số quan điểm của Người về phát triển kinh tế trongcác dân tộc thiểu số và miền núi
Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế các DTTS ở Tây Nguyên thời kỳđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đề xuất phương hướng vàmột số giải pháp phát triển kinh tế trong các DTTS ở Tây Nguyên từ nay đến
2020 theo tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một số nội dung tư tưởng kinh tế
Hồ Chí Minh, đặc biệt là những quan điểm của Người về phát triển kinh tếtrong các dân tộc thiểu số và miền núi
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,luận văn gồm 2 chương, 6 tiết
Trang 7Chương 1 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN
TƯ TƯỞNG KINH TẾ HỒ CHÍ MINH
Tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh là một bộ phận hợp thành tư tưởng HồChí Minh, bao gồm hệ thống luận điểm được rút ra từ thực tiễn cách mạngViệt Nam, kế thừa và phát triển những tinh hoa của dân tộc và trí tuệ của thờiđại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin, nhằm giải quyết những vấn đề kinh
tế cơ bản của xã hội Việt Nam trong quá trình phát triển từ một xã hội thuộcđịa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu tiến dần lên chế độ xã hội chủ nghĩa.Nội dung tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh rất phong phú, bao gồm một hệ thốngcác luận điểm có quan hệ chặt chẽ với nhau: mục tiêu, cơ cấu, phương hướng,biện pháp, nhịp độ, bước đi của nền kinh tế nước ta… trong toàn bộ quá trìnhvận động từ chế độ dân chủ mới quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Sau đây là một số nội dung cơ bản tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh màtheo tác giả là có thể và cần được vận dụng vào việc phát triển kinh tế trongcác DTTS ở Tây Nguyên thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
1.1 QUAN ĐIỂM VỀ MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1.1 Mục tiêu và phương hướng phát triển kinh tế
1.1.1.1 Mục tiêu
Điểm cốt lõi của tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh là không ngừng nângcao đời sống của nhân dân Do đó, theo Người, mục tiêu hàng đầu và quantrọng nhất của phát triển kinh tế là nâng cao đời sống của nhân dân, trước hết
là nhân dân lao động, làm cho đời sống của nhân dân ngày càng đầy đủ vàsung sướng hơn Phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy ban nghiên cứu kếhoạch kiến quốc ngày 10 tháng 1 năm 1946, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chếtrét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết giá trị của tự do,của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ
Trang 8Chúng ta phải thực hiện ngay:
1- Làm cho dân có ăn
2- Làm cho dân có mặc
3- Làm cho dân có chỗ ở
4- Làm cho dân có học hành [38, tr.152]
Khái niệm “dân” mà Hồ Chí Minh nêu ra ở đây là toàn thể người dân
Việt Nam, gồm các giai tầng như sĩ, nông, công, thương nhưng trước hết lànhân dân lao động Nâng cao đời sống nhân dân bao gồm cả đời sống vật chất
và đời sống tinh thần Người nói: “Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nóimột cách giản đơn và dễ hiểu là: không ngừng nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động” [44, tr.271]
Đời sống vật chất là đảm bảo cho mọi người dân được ăn no, mặc ấm,
có nhà ở, có thuốc chữa bệnh khi ốm đau Người giải thích từ “dân sinh”
nghĩa là cái ăn, cái mặc, cái ở và cho rằng cả ba cái đó đều quan trọng, đều làcái thiết yếu, không thể thiếu đối với con người Cái ăn cho nhân dân là vấn
đề Người trăn trở nhiều nhất Là một nước có nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu,nạn đói luôn rình rập Vì vậy trong vấn đề ăn, Người lo trước hết là lươngthực Người nói:
Việt Nam ta có câu tục ngữ “Có thực mới vực được đạo” TrungQuốc có câu tục ngữ “Dân dĩ thực vi thiên” Hai câu ấy tuy đơn giảnnhưng rất đúng lẽ Muốn nâng cao đời sống của nhân dân thì trước hếtphải giải quyết tốt vấn đề ăn (rồi đến vấn đề mặc và các vấn đề khác).Muốn giải quyết tốt vấn đề ăn thì phải làm thế nào cho có đầy đủ lươngthực [44, tr.543-544]
Ngoài lương thực, vấn đề ăn còn bao gồm nhiều loại thực phẩm khácnhư thịt, cá, rau quả, mắm muối Trong Hội nghị tổng kết phong trào sảnxuất nông, lâm, ngư nghiệp năm 1959, Người đã nhắc nhở phải đẩy mạnhphong trào chăn nuôi càng nhiều càng tốt Người còn nhắc nhở chính quyền
và nhân dân nhiều vùng như với hợp tác xã Đại Nghĩa (Hà Đông) phải đẩy
Trang 9mạnh chăn nuôi trâu, bò, dê, thỏ, gà, vịt, , phải đẩy mạnh thả cá, cũng nhưđẩy mạnh trồng các thứ rau và cây ăn quả Sự quan tâm của Người về vấn đề
ăn cho dân còn chi tiết đến mức khi về nông trường Đông Hiếu, Nghệ An,Người nhắc công nhân nhớ trồng ớt để ăn Đến thăm các nhà máy, xí nghiệp,Người luôn nhắc nhở các cấp công đoàn chú ý đến bếp ăn tập thể, làm saophải nấu ăn thật tốt để đảm bảo sức khỏe cho công nhân
Tiếp sau vấn đề ăn, Người quan tâm đến vấn đề mặc Ngay sau khituyên bố độc lập (2 - 9 - 1945), Người khẳng định chính quyền cách mạngphải “làm cho dân có mặc” Thăm nhân dân hợp tác xã Đại Nghĩa (Hà Đông),Người nhắc nhở trồng bông, trồng dâu nuôi tằm Về Nghệ An, Người lại đặtvấn đề: “Đây một năm sản xuất bao nhiêu bông? 2.000 mẫu tây được baonhiêu tấn? 1.000 tấn bông tuy là ít, nhưng nếu chú trọng lương thực mà không
có bông thì tức là có ăn chứ chưa có mặc” [44, tr.446] Nước ta, do điều kiệnthiên nhiên, nên việc trồng bông ở miền Bắc không thuận lợi Nhưng bù lại,lại có nhiều vùng đất bãi phù xa ven sông có thể trồng dâu nuôi tằm, tạo nênloại sợi tơ quý giá, có thể dệt vải cao cấp hoặc có thể đổi được nhiều loại vảisợi, giải quyết vấn đề mặc cho nhân dân Do đó, sự quan tâm của Người đếnvấn đề mặc cho nhân dân còn thể hiện ở việc Người chỉ ra cách làm thế nào
để tạo ra cái mặc
Vấn đề ở của nhân dân được Hồ Chí Minh xác định là một vấn đề quantrọng, là một mặt của vấn đề dân sinh Người còn gắn vấn đề nhà ở với vấn đềxây dựng nông thôn mới Người nhận xét:
Nông thôn của ta, nhà ở của đồng bào phần nhiều đang ọp ẹp, tốităm, chẳng ra sao, chẳng có hàng lối gì Khi trước nhà nào lo làm nhànấy, làm thế nào cũng được Nhưng bây giờ không phải như thế Bâygiờ mình phải đổi mới nông thôn Nông thôn mình phải quang đãng,sạch sẽ [44, tr.446]
Để giải quyết nhà ở cho người dân, Hồ Chí Minh kiên trì vận động nhândân trồng cây lấy gỗ với sự tính toán rất chi li Với nhân dân xã Đại Nghĩa, HàĐông, Người nói: “Nếu mỗi năm, mỗi người trồng 4 cây, trong 5 năm sẽ có đủ
Trang 10gỗ làm nhà, đóng giường, bàn, ghế, làm nông cụ ” [44, tr.407] Với Đảng bộtỉnh Nghệ An, Người lại nói: “Đồng bào muốn ăn ở tươm tất thì phải có gỗ.Muốn có gỗ thì phải trồng cây” [44, tr.446] Khi nói chuyện với cán bộ Đoànthanh niên Người cũng nhắc: “Chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội để nhândân được ăn no, mặc ấm, học tập, có nhà ở tốt Thanh niên nam nữ khi lấy vợ,lấy chồng phải có nhà ở Trồng cây sẽ có gỗ để làm nhà” [44, tr.621-622].
Đời sống tinh thần, theo Hồ Chí Minh, trước hết là đảm bảo việc họchành cho mọi người Mong muốn của Người là làm sao cho dân ta ai cũngđược học hành Đời sống tinh thần còn bao hàm nội dung tự do tín ngưỡng,mọi người trong xã hội được hưởng thụ những giá trị văn hóa tốt đẹp của dântộc và nhân loại, những phong tục, tập quán lạc hậu bị xóa bỏ, xây dựng đờisống mới văn minh, tiến bộ Người nhắc nhở từ việc lo cho công nhân ởnhững xí nghiệp, nông trường nơi xa xôi được xem phim, được đọc báo, đếnviệc lo xóa nạn mù chữ, giữ gìn vệ sinh để chống bệnh sốt rét của đồng bàocác dân tộc vùng cao
Mục tiêu xây dựng và phát triển kinh tế của nước ta trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội được Hồ Chí Minh khái quát lại là: làm sao cho nhândân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau cóthuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốtdần dần được xóa bỏ Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càngtăng, tinh thần ngày càng tốt [44, tr.591]
1.1.1.2 Phương hướng
Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại Quốc hội nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa, khóa I, kỳ họp thứ 11, ngày 18 - 12 - 1959, Hồ Chí Minh khẳngđịnh phương hướng phát triển kinh tế của nước ta là:
Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiến dần từ chế độ dân chủnhân dân lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh
tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế lạc hậu thành mộtnền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại,khoa học và kỹ thuật tiên tiến [43, tr.597]
Trang 11Trong bài “Ba mươi năm hoạt động của Đảng”, đăng trên báo Nhân dân, ngày 6 tháng 1 năm 1960, Người viết:
Nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng cơ sở vậtchất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa miền Bắc tiến dần lên chủnghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa vàkhoa học tiên tiến Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng taphải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng lànhiệm vụ chủ chốt và lâu dài [44, tr.13]
Như vậy, phương hướng phát triển nền kinh tế nước ta được Hồ ChíMinh chỉ ra rất rõ ràng là cải tạo và xây dựng nền kinh tế quốc dân theo chủnghĩa xã hội Chỉ có đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì mới thực sự đemlại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Để xây dựng nền kinh tế quốcdân theo chủ nghĩa xã hội thì phải thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủnghĩa Đây là vấn đề tất yếu Tuy nhiên, bước đi cụ thể của quá trình côngnghiệp hoá thì phải căn cứ vào tình hình thực tế của đất nước từng giai đoạn
1.1.2 Giải pháp phát triển kinh tế
Khi xác định mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế, Hồ Chí Minhcũng đồng thời vạch ra nhiều giải pháp để thực hiện mục tiêu và phươnghướng đó Trong đó, đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô,lãng phí và quan liêu là một hệ giải pháp để nâng cao toàn diện đời sống vậtchất và tinh thần của nhân dân, nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tế nước
ta ngày càng vững mạnh theo hướng xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, Hồ Chí Minhcũng chú trọng phát huy các động lực trong xây dựng và phát triển kinh tế
1.1.2.1 Đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm
Để cải tạo nền kinh tế cũ, xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội chủnghĩa, theo Hồ Chí Minh, phải huy động sức lực của toàn dân, mọi cấp, mọingành thi đua đẩy mạnh sản xuất Người nêu rõ:
Nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của chúng ta hiện nay là phát triểnsản xuất để nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân Muốn
Trang 12có chủ nghĩa xã hội thì không có cách nào khác là phải dốc lực lượngcủa mọi người ra để sản xuất Sản xuất là mặt trận chính của chúng tahiện nay ở miền Bắc khẩu hiệu của chúng ta là: Tất cả phục vụ sảnxuất! Tất cả chúng ta, bất kỳ ở cấp nào, ngành nào đều phải góp sứclàm cho sản xuất phát triển Chúng ta phải phấn đấu cho nông nghiệpphát triển toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc Chúng ta phấn đấu chonền công nghiệp mau lớn mạnh, cho công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩathành công Mỗi người công nhân, nông dân, trí thức, cán bộ, viênchức, đều phải hiểu rõ nghĩa vụ vẻ vang của mình là phục vụ sản xuất[44, tr.312]
Trong nhiều bài nói chuyện với cán bộ và nhân dân các địa phương, HồChí Minh tiếp tục khẳng định tính tất yếu của việc đẩy mạnh sản xuất Ngườicoi đẩy mạnh sản xuất là vấn đề trọng tâm, gốc rễ của mọi vấn đề kinh tế Tất
cả đường lối, phương châm, chính sách kinh tế của Đảng ta là không ngừngđẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm để nâng cao đời sống vật chất, văn hóacủa nhân dân Vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm hàng đầu sau khinước nhà mới giành được độc lập là vận động nhân dân tăng gia sản xuất đểđẩy lùi nạn đói và ổn định đời sống Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồngChính phủ, ngày 3 - 9 - 1945, Người đã quyết định phát động một chiến dịch
tăng gia sản xuất và cứu đói Trong thư Gửi nông gia Việt Nam, Người kêu gọi
nông dân: “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuấtnữa!” Thực hiện cuộc vận động lớn đó của Chính phủ, nhân dân cả nước đãđoàn kết, tích cực thi đua sản xuất với khẩu hiệu “Tấc đất tấc vàng” Phongtrào thi đua tăng gia sản xuất diễn ra sôi nổi, rộng khắp và thu được kết quả tolớn Sản xuất nông nghiệp được khôi phục và phát triển, nhờ đó mà nạn đói bịđẩy lùi, đời sống của nhân dân được nâng lên một bước
Bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, tư tưởngcủa Người là kháng chiến toàn dân, toàn diện Để đáp ứng yêu cầu của cuộckháng chiến và công cuộc kiến thiết trên nhiều lĩnh vực, về kinh tế, Người đềnghị phải đẩy mạnh “Tăng gia sản xuất để làm cho dân ai cũng đủ mặc, đủăn” [39, tr.30] Theo Hồ Chí Minh, muốn tăng gia sản xuất có hiệu quả phải
Trang 13huy động toàn bộ sức lực của dân, trí tuệ của dân, của cải của dân nhằm đemlại lợi ích thiết thực cho dân
Đẩy mạnh sản xuất đi đôi với thực hành tiết kiệm là nét nổi bật trong tưduy kinh tế của Hồ Chí Minh Theo quan điểm của Người, sản xuất và tiếtkiệm luôn gắn liền với nhau như một phương châm thực hành lao động chonền kinh tế vốn nghèo nàn, lạc hậu Đẩy mạnh sản xuất và thực hành tiết kiệm
là trách nhiệm, là một nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người công dân đối với
Tổ quốc Với tư tưởng đó, Hồ Chí Minh muốn nhắc nhở toàn dân cần hiểurằng tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm tức là yêu nước, là ích nước, lợinhà Do đó, đòi hỏi ở mỗi người ý thức tự nguyện, tự giác, lòng say mê, nhiệttình tham gia lao động, góp phần xây dựng kinh tế cho mình và cho nước nhà
Về vấn đề tiết kiệm, Người chỉ rõ: “Khi không nên tiêu xài thì mộtđồng xu cũng không nên tiêu Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồngbào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng.Như thế mới đúng là kiệm” [39, tr.637] Tiết kiệm với mục đích giúp sản xuấtphát triển, là để cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, phục vụyêu cầu của sự nghiệp cách mạng Hồ Chí Minh phê phán cách thức tiết kiệmcứng nhắc, nặng nề như: “ép bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc”.Như vậy, quan điểm về tiết kiệm của Người mang nội dung khoa học - đó làtích lũy, được coi như một nguyên tắc cơ bản để tái xản xuất mở rộng xã hộichủ nghĩa Tiết kiệm là để có nhiều sản phẩm và để được tiêu dùng nhiều hơn.Tiết kiệm để sử dụng thời gian, nhân lực, tài lực, trí tuệ của con người đạthiệu quả cao hơn Tiết kiệm là hình thức giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cáchmạng và huy động nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH Do đó,tiết kiệm mang ý nghĩa hết sức tích cực
Nội dung tiết kiệm được Người đề ra là: tiết kiệm sức lao động, tiếtkiệm thời gian, tiết kiệm tiền của Ngoài ra, trong sản xuất, để thực hành tiếtkiệm, nâng cao năng suất lao động, Hồ Chí Minh cho rằng phải áp dụng thànhtựu khoa học, coi khoa học, kỹ thuật là cơ sở để phát triển sản xuất nhằmphục vụ sản xuất, phục vụ dân sinh, phục vụ quốc phòng
Trang 14Tóm lại, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, tăng gia sản xuất phải điđôi với thực hành tiết kiệm, đó là một giải pháp căn bản, thiết yếu của nềnkinh tế Kết quả của tăng gia sản xuất cộng với kết quả của thực hành tiếtkiệm sẽ tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nền kinh tế nước nhà, nâng caođời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
1.1.2.2 Chống tham ô, lãng phí và quan liêu
Để khôi phục, xây dựng và phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch
Hồ Chí Minh không chỉ chú trọng đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm màNgười rất quan tâm chỉ đạo cuộc đấu tranh chống tham ô, lãng phí và quanliêu Trong nhiều bài nói, bài viết, Người luôn khẳng định mối quan hệ khôngthể tách rời giữa đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng
phí và quan liêu Trong bài Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: muốn lúa tốt thì phải nhổ
cỏ cho sạch nghĩa là phải tẩy sạch nạn tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu.Người còn căn dặn: Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiết kiệm làmột chính sách lớn, một nếp làm việc và nếp sống không bao giờ được lơ là
Kẻ thù chính của nó là: tệ tham ô, lãng phí, bệnh phô trương hình thức và lốilàm việc thiếu tinh thần trách nhiệm Tệ nạn tham ô, lãng phí và quan liêu làmột trong những nguy cơ đe dọa sự sống còn của sự nghiệp cách mạng, làmột lực cản lớn đối với sự phát triển kinh tế của đất nước
Theo Hồ Chí Minh, tham ô không chỉ biểu hiện ở những cán bộ, nhữngngười có chức, có quyền, mà ngay cả quần chúng nhân dân đều có thể phạm tộitham ô Trước hết, đối với cán bộ, Hồ Chí Minh cho rằng, tham ô là: “Ăn cắpcủa công làm của tư Đục khoét của nhân dân Ăn bớt của bộ đội Tiêu ít màkhai nhiều, lợi dụng của chung của Chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phươngmình, đơn vị mình” [40, tr.488] Đối với nhân dân, Hồ Chí Minh cho rằng, tham
ô là: “Ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế” [40, tr.488] Hay nói cách khác:tham ô về thực chất là bóc lột nhân dân lao động, bóc lột của cải của tập thể, của
xã hội Do đó, tham ô là một tội ác lớn
Trang 15Lãng phí khác tham ô ở chỗ không ăn cắp, ăn trộm của công làm của
tư Nhưng đứng về mặt tổn thất tài sản của Nhà nước và của nhân dân, thì táchại của lãng phí thật là to lớn Lãng phí biểu hiện trên nhiều mặt: lãng phí sứclao động, lãng phí thời giờ, lãng phí của cải vật chất, tài nguyên thiên nhiêncủa nhân dân, của đất nước Người nêu cụ thể tệ nạn lãng phí ở các nhà máy,
xí nghiệp:
Bình quân mỗi người thật sự làm việc chỉ độ sáu giờ rưỡi, máymóc chỉ dùng hết độ 65% công suất, lại vì chăm sóc kém mà thường hưhỏng Các chú thử tính xem, vì lãng phí thời giờ, lãng phí máy móc,lãng phí nguyên liệu, cộng lại nó đã làm tổn hại bao nhiêu tài sản củaNhà nước, của nhân dân ? [45, tr.355]
Hồ Chí Minh cho rằng, lãng phí không chỉ xảy ra ở cán bộ, các cơ quan
mà còn biểu hiện phổ biến trong nhân dân Việc bỏ đất hoang, bán trâu, cầmruộng để làm đám cưới, đám ma, đốt vàng mã,.v.v là sự lãng phí lớn
Lãng phí có nhiều nguyên nhân: cán bộ lãnh đạo, cá nhân lập kế hoạchkhông chu đáo Trong khi thực hiện kế hoạch tính toán không cẩn thận Hoặc
vì bệnh hình thức, phô trương Hoặc vì thiếu tinh thần bảo vệ của công Tómlại là vì thiếu ý thức trách nhiệm, thiếu ý thức quý trọng sức của, sức ngườicủa Nhà nước, của nhân dân, còn mang nặng tư tưởng chủ nghĩa cá nhân
Về quan liêu, Hồ Chí Minh gọi quan liêu là một loại bệnh Bệnh quanliêu có nhiều biểu hiện, mà phổ biến nhất là bộ máy hành chính nhà nước cồngkềnh, bày ra nhiều cấp bậc, làm việc bằng giấy tờ, chuộng phô trương, hìnhthức Quan liêu là những người, những cơ quan lãnh đạo từ cấp trên xuống cấpdưới xa rời thực tế, không điều tra xem xét đến nơi, đến chốn công việc phảilàm, việc gì cũng không sâu, không nắm vững, chỉ đạo một cách đại khái,chung chung Bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra tệ tham ô, lãng phí Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: có tham ô, lãng phí là vì bệnh quan liêu, “bệnh quanliêu đã ấp ủ, dung túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí” [40, tr.490]
Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội,của Chính phủ Nó là kẻ thù khá nguy hiểm, không mang gươm, súng, nhưng
Trang 16nó nằm trong các tổ chức của ta, để làm hỏng công việc của ta, phá hoại đạođức cách mạng Nó gây trở ngại cho sự phát triển kinh tế, ảnh hưởng khôngtốt đến phong trào đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm của nhân dân Nó
là một thứ giặc trong lòng, “giặc nội xâm” Vì những tác hại và nguy cơ đónên đấu tranh chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng vàcần kíp như đánh giặc trên mặt trận
Để từng bước giành thắng lợi ở mặt trận này, các ban ngành, các cơquan, xí nghiệp, chính quyền các cấp và các tầng lớp nhân dân phải chuẩn bị
kế hoạch, tổ chức, phải có lãnh đạo và trung kiên Phải tạo nên sự thống nhấttrong tư tưởng và hành động Phải dựa vào quần chúng nhân dân mới có thểgiành thắng lợi Người chỉ rõ: “phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu
ắt phải dựa vào lực lượng quần chúng thì mới thành công” [40, tr.495] Phảilàm tốt công tác vận động tuyên truyền trong quần chúng, phát động tư tưởngcủa quần chúng, làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí và bệnhquan liêu Muốn nhân dân hăng hái tham gia ngày một nhiều hơn vào phongtrào chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, theo Hồ Chí Minh Đảng phảithật sự mở rộng dân chủ Tính chất dân chủ rộng rãi của cuộc đấu tranh lànhân tố tạo nên sự thắng lợi, là động lực căn bản sâu xa nhất thúc đẩy sự pháttriển kinh tế và đi tới thắng lợi của chủ nghĩa xã hội Việc đấu tranh chốngcác tệ nạn này đòi hỏi phải động viên quần chúng, phải thực hành dân chủ,
mở rộng mọi quyền dân chủ cho quần chúng nhân dân, lôi cuốn rộng rãi mọingười vào các phong trào hành động cách mạng, tự phê bình và phê bình.Thực hành dân chủ là giải pháp căn bản nhất để nhanh chóng phát hiện và xửtrí đúng mức căn bệnh nguy hiểm đó
Mở rộng phong trào tự phê bình và phê bình để tìm ra gốc rễ tham ô,lãng phí và bệnh quan liêu Giáo dục, giúp đỡ để làm cho những người phạmlỗi, phạm khuyết điểm thật thà tự phê bình; chủ động, tích cực khen ngợi, nêugương những người tốt, việc tốt, những người trung thực, thật thà, liêm khiết.Lấy gương người tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cáchtốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng con người mới vàcuộc sống mới, là tiền đề quan trọng để xây dựng một nền kinh tế vững mạnh
Trang 17Coi trọng phương pháp nêu gương, Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở, phải kỷ luậtthích đáng, phải nghiêm trị những cá nhân ngoan cố, không chịu ăn năn, sửachữa hoặc ngăn cản, đe dọa người khác phê bình, tố cáo mình.
Việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu được Hồ Chí Minh coi là “rất cầnthiết và phải làm thường xuyên” [44, tr.575] Phải đấu tranh bằng sức mạnh củadân chủ, kỷ luật, pháp luật và cả đạo đức, văn hóa nói chung của toàn xã hội,với sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là quần chúng côngnông Đây là con đường thực thi bảo đảm cho nền kinh tế phát triển Đồng thời,
nó củng cố, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, thúc đẩy mọi người phát huyhết năng lực, trí tuệ, công sức để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc chobản thân và làm giàu cho đất nước
1.1.2.3 Phát huy các động lực trong xây dựng và phát triển kinh tế
Động lực hiểu một cách tóm tắt là tất cả những gì góp phần thúc đẩy sựphát triển kinh tế - xã hội thông qua hoạt động của con người Xây dựng vàphát triển kinh tế, muốn đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao phải tạo ra vàthường xuyên điều chỉnh các cơ chế, chính sách, biện pháp nhằm tích cực hóanhân tố con người, làm cho con người trở nên phấn khởi, năng động, sáng tạo,đem hết trí tuệ và sức lực lao động sản xuất, phát triển kinh tế
Hệ thống động lực phát triển kinh tế - xã hội trong tư tưởng Hồ ChíMinh gồm các động lực chính trị - tinh thần, các động lực lợi ích Trong hệthống các động lực chính trị - tinh thần, Hồ Chí Minh chú trọng trước hết đếnviệc khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, ýthức trách nhiệm đối với Tổ quốc Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là một giá trịtinh thần cao quý, kết tinh những tư tưởng, tình cảm thiêng liêng nhất của dântộc Việt Nam Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã phát huy sức mạnh vô địchcủa nó trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, làm nên những chiến thắng vangdội trong lịch sử dân tộc Ngày nay đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng taphải khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, biến nó thành một động lực tolớn để xây dựng và phát triển kinh tế đất nước Bên cạnh việc khơi dậy chủnghĩa yêu nước, Người còn sử dụng vai trò tác động của các nhân tố tinh thần
Trang 18khác như: chính trị, văn hoá, đạo đức, pháp luật Trước hết là nâng cao giácngộ xã hội chủ nghĩa cho người lao động Theo Người, giác ngộ xã hội chủnghĩa không phải là cái gì cao xa mà cụ thể là ý thức lao động tập thể, ý thức
kỷ luật, ý thức cần kiệm, tinh thần thi đua yêu nước, tinh thần đoàn kết, tươngtrợ, tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, không sợ khó khăn, gian khổ Thựchành dân chủ rộng rãi, phát huy quyền làm chủ và ý thức làm chủ của ngườilao động Thực hành dân chủ, theo Hồ Chí Minh, là nhân tố hàng đầu để tíchcực hoá nhân tố con người trong sản xuất và phát triển kinh tế “Có phát huydân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưacách mạng tiến lên” [43, tr.602] Hồ Chí Minh đã chỉ ra các nội dung cụ thểtrong quyền dân chủ của người dân về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, tưtưởng và những cơ chế, biện pháp để thực hành dân chủ Người nhắc nhở:phải làm cho người nông dân xã viên thấy “mình là người chủ tập thể của hợptác xã, có quyền bàn bạc và quyết định những công việc của hợp tác xã Cónhư thế thì xã viên sẽ đoàn kết chặt chẽ, phấn khởi sản xuất và hợp tác xã sẽtiến bộ không ngừng” [46, tr.198] Người nói, nếu quần chúng thật sự có quyềndân chủ, cán bộ thật sự mở rộng dân chủ thì mọi kế hoạch sản xuất và công tác
sẽ được thực hiện thắng lợi Vì vậy, thực hành dân chủ là cái chìa khoá vạnnăng có thể giải quyết mọi khó khăn Đi đôi với phát huy dân chủ, Hồ ChíMinh nhắc nhở phải quan tâm đến bồi dưỡng ý thức làm chủ, tâm lý làm chủcho người lao động
Về các động lực lợi ích, Hồ Chí Minh chú ý đồng bộ các động lực lợi íchtinh thần và lợi ích vật chất Người nói về chính sách của Chính phủ ta như sau:
Đối với dân, Chính phủ phải thi hành một nền chính trị liêmkhiết như cải thiện đời sống của nhân dân, cứu tế thất nghiệp, sửa đổichế độ xã hội, phát triển kinh tế, văn hoá, v.v Có như thế, dân chúngmới đoàn kết chung quanh chính phủ, mới vì quyền lợi thiết thân củamình mà hy sinh sống chết giết giặc [38, tr.227]
Người luôn luôn tôn trọng và khuyến khích lợi ích cá nhân chính đángcủa người lao động trên cơ sở kết hợp hài hoà ba lợi ích: cá nhân, tập thể, xã
Trang 19hội Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa lợi ích riêng và lợi ích chung, thực hiệncông bằng xã hội trong phân phối lợi ích.
Bên cạch việc phát huy động lực thì cần phải xoá bỏ các trở lực nằmtrong mỗi con người, kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội, đó chính là thóiquen và truyền thống lạc hậu, là chủ nghĩa cá nhân Người đã viết một loạt bài
về đời sống mới, về đạo đức cần, kiệm, liêm, chính để giáo dục cán bộ vànhân dân Trước hết, theo Người, cán bộ phải tẩy sạch các khuyết điểm: địaphương chủ nghĩa, óc bè phái; óc quân phiệt, quan liêu; óc hẹp hòi; hamchuộng hình thức; làm việc lối bàn giấy; vô kỷ luật, kỷ luật không nghiêm;ích kỷ, hủ hoá Phải sửa thói: ghen ghét, đố kỵ và khinh kẻ không bằng mình
Bỏ lối hiếu danh, hiếu vị Người nhấn mạnh: lười biếng cũng là một kẻ địchcủa dân tộc Về phía nhân dân, Người nhắc nhở: phải tẩy rửa những tư tưởng,tập quán lạc hậu như trọng nam khinh nữ, đánh chửi vợ, những hủ tục trong
ma chay, cưới hỏi, hội hè, mừng thọ, gây lãng phí tiền bạc, thời giờ Ngườinghiêm khắc phê phán chủ nghĩa cá nhân Kiên quyết chống chia rẽ, bè phái,mất đoàn kết, vô tổ chức, vô kỷ luật Chống chủ quan, bảo thủ, giáo điều, lườibiếng, không chịu học tập cái mới
Tất cả những căn bệnh trên là lực cản lớn trên con đường phát triểnkinh tế - xã hội, vì vậy, cùng với việc phát huy các động lực phải tích cực đấutranh xoá bỏ các lực cản đó, nghĩa là vừa xây, vừa chống Chỉ có như vậy mới
có thể thực hiện được mục tiêu phát triển kinh tế, nâng cao toàn diện đời sốngcủa nhân dân
1.2 QUAN ĐIỂM VỀ LỰA CHỌN CƠ CẤU KINH TẾ, CÔNG NGHIỆP HÓA ĐẤT NƯỚC VÀ QUẢN LÝ KINH TẾ
1.2.1 Quan điểm về lựa chọn cơ cấu kinh tế
Quan điểm lựa chọn cơ cấu kinh tế của Hồ Chí Minh trong chiến lượcphát triển kinh tế ở Việt Nam được thể hiện rõ nhất trong hai loại hình cơ cấu
cơ bản: cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
1.2.1.1 Cơ cấu kinh tế ngành
Trang 20Trong thời kỳ Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo công cuộc phát triểnkinh tế đất nước (1945 - 1969) cơ cấu kinh tế ngành của Việt Nam lúc đó gồmbốn ngành kinh tế lớn là nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp và giaothông vận tải Các ngành kinh tế khác như dịch vụ, du lịch, v.v còn chiếmmột vị trí nhỏ bé trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân Do đó, Hồ Chí Minhthường quan tâm nhiều hơn đến cơ cấu kinh tế công - nông - thương nghiệp.
Ba bộ phận này có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tác động nhau và chi
phối lẫn nhau Năm 1956, trong tạp chí Sinh hoạt thương nghiệp, số đặc biệt,
Bác đã viết: “Về nhiệm vụ thì phải hiểu rõ trong nền kinh tế quốc dân có bamặt quan trọng: nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp Ba mặt công tácquan hệ mật thiết với nhau Thương nghiệp là cái khâu giữa nông nghiệp vàcông nghiệp” [42, tr.174] Cả ba lĩnh vực này đều quan trọng và không thểthiếu Nhưng trong điều kiện Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám thì nôngnghiệp luôn luôn là lĩnh vực quan trọng nhất
Theo Hồ Chí Minh, nông nghiệp có một vị trí đặc biệt quan trọng đốivới xã hội Phát triển nông nghiệp là nhân tố đầu tiên, là cội nguồn của mọivấn đề xã hội Vị trí của nông nghiệp được đề cao do vấn đề lương thực, thựcphẩm, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu là vấn đề cực kỳquan trọng đối với mỗi quốc gia Lương thực, thực phẩm là tư liệu thoả mãn
nhu cầu cơ bản hàng đầu của con người đó là vấn đề ăn, mặc Trong Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam, ngày 1 - 1 - 1946, Bác viết:
Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp Nền kinh tế của talấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chínhphủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phầnlớn Nông dân ta giàu thì nước ta giàu Nông nghiệp ta thịnh thì nước tathịnh [38, tr.215]
Ngay khi cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu nổ ra, Hồ Chí Minh đãnhận định để kháng chiến chóng thành công thì phải tích cực phát triển nôngnghiệp làm cơ sở, làm hậu phương cho tiền tuyến lớn Từ năm 1949 Người đãchỉ rõ: “Mặt trận kinh tế gồm có công nghệ, buôn bán, nông nghiệp Ngành
Trang 21nào cũng quan trọng Nhưng lúc này, quan trọng nhất là nông nghiệp, vì “cóthực mới vực được đạo” Có đủ cơm ăn áo mặc cho bộ đội và nhân dân, thìkháng chiến mới mau thắng lợi, thống nhất và độc lập mau thành công” [39,tr.687] Năm 1967, Người viết: “Quân và dân ta phải ăn no để đánh thắnggiặc Mỹ xâm lược Vì vậy sản xuất lương thực và thực phẩm là rất quantrọng” [46, tr.221] Khi có dịp tiếp xúc với cán bộ, quần chúng ở nông thôn,
Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở đến việc phải đặc biệt coi trọng sản xuất nôngnghiệp, phải tận dụng nguồn lực cho phát triển nông nghiệp Theo Người, sảnxuất nông nghiệp phát triển, lương thực, thực phẩm dồi dào chính là cơ sởchắc chắn để kháng chiến nhanh chóng đi đến thắng lợi
Khi miền Bắc bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế, Hồ Chí Minh vẫnđặt sản xuất nông nghiệp là nội dung trọng tâm của kế hoạch kinh tế và yêu cầusản xuất nông nghiệp là bước đầu giải quyết vấn đề lương thực, cung cấpnguyên liệu, vật liệu để khôi phục tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, côngnghiệp và cung cấp lâm thổ sản để mở rộng quan hệ buôn bán với nước ngoài
Ở đây nông nghiệp được coi là nền tảng của toàn bộ cơ cấu kinh tế quốc dân.Nền nông nghiệp phát triển thì trước hết có lương thực, thực phẩm nuôi sống
cả xã hội Nông nghiệp phát triển, nông dân sẽ có nhiều sản phẩm hàng hoá đểđưa ra thị trường, ở đây vai trò của thương nghiệp sẽ được phát huy Theo HồChí Minh, thương nghiệp chính là cầu nối giữa nông nghiệp và công nghiệp.Khi nông nghiệp phát triển và có nhiều sản phẩm dôi ra thì thương nghiệp sẽphát triển Trao đổi hàng hoá giữa công nghiệp và nông nghiệp tăng lên Côngnghiệp được cung cấp nguyên liệu để sản xuất Khi công nghiệp phát triển thìtrao đổi giữa công nghiệp và nông nghiệp tăng lên và như vậy thương nghiệplại được đưa lên một bước cao hơn Vì vậy, thương nghiệp là cái cầu nối giữanông nghiệp và công nghiệp, giữa thành thị và nông thôn
Trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân, Hồ Chí Minh luôn coi công nghiệp
và nông nghiệp là hai ngành kinh tế quan trọng nhất và có tác động qua lại mậtthiết với nhau Nông nghiệp sẽ cung cấp lương thực, thực phẩm cho công nhântrong các ngành công nghiệp, công nghiệp cung cấp tư liệu sản xuất hiện đại vàcác tư liệu tiêu dùng khác cho nông nghiệp Nông nghiệp đi trước một bước tạo
Trang 22tiền đề cho công nghiệp phát triển, đến lượt mình công nghiệp lại tạo ra cácphương tiện hiện đại để tăng sức sản xuất cho nông nghiệp Mối quan hệ giữacông nghiệp và nông nghiệp còn thể hiện ở sự liên minh của giai cấp công nhân
và nông dân tạo ra động lực cho toàn bộ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta phải lấy phát triển nông nghiệp và công nghiệp làm hai nhiệm vụtrung tâm Hai lĩnh vực này có tác động tương hỗ cho nhau, ngành này làmtiền đề, phương tiện cho ngành kia phát triển Người nhấn mạnh đến vị trí củanông nghiệp, coi nông nghiệp là lĩnh vực chủ yếu, là cơ sở, nền tảng của nềnkinh tế, nhưng quan niệm đó không bao giờ bị đẩy tới mức cực đoan Ngườikhẳng định về lâu dài chúng ta phải phấn đấu thực hiện công nghiệp hóa đểtrở thành nước công nghiệp
Yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá toàn bộ đời sống là tương laiphát triển của nền kinh tế Việt Nam Nhưng để thực hiện được quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá thì trước hết phải phát triển nông nghiệp, lấy nôngnghiệp làm cơ sở, làm nền tảng và điều kiện cho quá trình công nghiệp hoá
Năm 1960, trong bài viết Con đường phía trước, Hồ Chí Minh chỉ rõ:
Đời sống nhân dân chỉ có thể thật dồi dào, khi chúng ta dùngmáy móc để sản xuất một cách thật rộng rãi: dùng máy móc cả trongcông nghiệp và trong nông nghiệp Máy sẽ chắp thêm tay cho người,làm cho sức người tăng lên gấp trăm, nghìn lần và giúp người làmnhững việc phi thường
Muốn có nhiều máy, thì phải mở mang các ngành công nghiệplàm ra máy, ra gang, thép, than, dầu Đó là con đường phải đi củachúng ta, con đường công nghiệp hoá nước nhà
Hiện nay, chúng ta lấy sản xuất nông nghiệp làm chính Vì muốn
mở mang công nghiệp thì phải có đủ lương thực, nguyên liệu Nhưngcông nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa vẫn là mục tiêu phấn đấu chung, làcon đường no ấm thật sự của nhân dân ta [44, tr.40-41]
Trang 23Qua bài viết trên, chúng ta thấy Hồ Chí Minh đã vạch ra một chiến lượcphát triển kinh tế của nước ta không chỉ trong một vài năm mà trong cả quátrình đi lên chủ nghĩa xã hội Trong giai đoạn đầu của quá trình xây dựng chủnghĩa xã hội, chúng ta phải coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, là nền tảng,
là cơ sở để phát triển công nghiệp và các ngành khác như thương nghiệp, giaothông vận tải, dịch vụ Nhưng khi nông nghiệp đã ổn định, đã giải quyếtnhững vấn đề cơ bản về lương thực, thực phẩm, về nguyên liệu, vật liệu thìnhiệm vụ công nghiệp hoá được đặt lên hàng đầu Và chỉ khi nền kinh tế đãđược CNH, HĐH mới có thể bảo đảm cho những mục tiêu của chủ nghĩa xãhội được thực hiện Nông nghiệp là cơ sở, là tiền đề, là điều kiện để từ đóchúng ta công nghiệp hoá đất nước Như vậy, vị trí của các ngành kinh tếtrong nền kinh tế quốc dân không phải là nhất thành bất biến mà do nhữngđiều kiện cụ thể của nền kinh tế quy định
1.2.1.2 Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
Hồ Chí Minh đã sớm nói về sự tồn tại nhiều loại hình sở hữu, và do đó,tồn tại nhiều thành phần kinh tế (TPKT) trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội ở nước ta Ngay từ năm 1926, Người đã xác định, cách mạng Việt Namthành công sẽ áp dụng “Tân kinh tế chính sách” của Lênin Đến năm 1953,
trong tác phẩm Thường thức chính trị, Người đã cụ thể hóa tư tưởng về nền
kinh tế nhiều thành phần như sau:
Trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau:
A- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là củachung của nhân dân)
B- Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủnghĩa xã hội)
C- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiếndần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội)
D- Tư bản tư nhân
Trang 24E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tưnhân để kinh doanh).
Trong năm loại ấy, loại A là kinh tế lãnh đạo và phát triển mauhơn cả Cho nên kinh tế ta sẽ phát triển theo hướng chủ nghĩa xã hộichứ không theo hướng chủ nghĩa tư bản [41, tr.247-248]
Năm 1959, trong Báo cáo về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ
11 Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Người đã trình bày
đường lối chung tiến lên CNXH Đáng chú ý trong đường lối chung đó Người
đã nêu rõ các hình thức sở hữu và các TPKT ở nước ta trong thời kỳ quá độ lênchủ nghĩa xã hội và chính sách đối với các loại hình đó Người chỉ rõ, trongnước ta hiện nay có những hình thức sở hữu chính về tư liệu sản xuất là: sởhữu của Nhà nước (tức là của toàn dân), sở hữu của hợp tác xã (tức là sở hữutập thể của nhân dân lao động), sở hữu của người lao động riêng lẻ, sở hữucủa nhà tư bản
Cũng trong Báo cáo này, Hồ Chí Minh còn nêu rõ các TPKT trong thời
kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, vai trò và xu thế vận động của chúng:
- Kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu toàn dân, giữ vai trò lãnh đạonền kinh tế quốc dân và Nhà nước phải ưu tiên cho nó phát triển
- Kinh tế hợp tác xã là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động;Nhà nước đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ cho nó phát triển
- Đối với người làm nghề thủ công và lao động riêng lẻ khác, Nhà nướcbảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra sức hướng dẫn và giúp đỡ
họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp tác xã sản xuất theonguyên tắc tự nguyện
- Đối với những nhà tư sản công thương, Nhà nước không xóa bỏ quyền
sở hữu về tư liệu sản xuất và của cải khác của họ, mà ra sức hướng dẫn họ hoạtđộng nhằm làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế củaNhà nước Đồng thời Nhà nước khuyến khích và giúp đỡ họ cải tạo theoCNXH bằng hình thức công tư hợp doanh và những hình thức cải tạo khác
Trang 25Trong các TPKT đó, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh vai trò của kinh
tế quốc doanh và kinh tế hợp tác xã Người viết: “Chúng ta phải phát triểnthành phần kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội
và thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ nghĩa Hợp tác hoá nông nghiệp là khâuchính thúc đẩy công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc” [43, tr.598]
Vấn đề hợp tác xã đã được Người nhắc đến trong tác phẩm Đường Kách mệnh viết năm 1927 Sau này trong nhiều tác phẩm và chỉ dẫn, Người
rất quan tâm đến sự hình thành và phát triển của các hợp tác xã Người quanniệm là nếu như mỗi hộ làm ăn kinh tế riêng lẻ thì có nhiều việc không cóhiệu quả Nếu như nhiều hộ biết hợp tác với nhau thì sẽ có hiệu quả cao hơn
Vì vậy, hợp tác hoá trong nông nghiệp là một biện pháp quan trọng để đưanông nghiệp phát triển Năm 1958, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Gốc của thắng lợi là
tổ chức, trước hết là tổ đổi công cho tốt rồi tiến dần lên hợp tác xã nôngnghiệp” [43, tr.190] Người cho rằng cần tổ chức nông dân từng bước dần dần
từ tổ đổi công lên các hợp tác xã Tuy vậy, khi cảm nhận được phong trào hợptác hoá đang có những biểu hiện nóng vội, chủ quan duy ý chí thì từ năm
1959, Người đã có những nhắc nhở cảnh báo:
Hiện nay, các tỉnh đang mở rộng phong trào hợp tác hoá Việcxây dựng hợp tác xã cần chú trọng đến chất lượng, không nên chạytheo số lượng Xây dựng hợp tác xã nào cần làm cho tốt hợp tác xã đó.Nếu xã, huyện nào cũng xây dựng được một hoặc vài ba hợp tác xã thậttốt, sản xuất tăng, thu nhập tăng, nội bộ đoàn kết vui vẻ và các mặtkhác cũng đều vượt hơn hẳn các tổ đổi công và các gia đình làm ănriêng lẻ, thì các hợp tác xã đó sẽ có tác dụng lôi cuốn đông đảo đồngbào nông dân vào hợp tác xã Ngược lại, nếu xã, huyện nào cũng cóhợp tác xã mà hợp tác xã không hơn gì hay hơn rất ít các tổ đổi công vàgia đình làm ăn riêng lẻ thì có tốn công tuyên truyền bao nhiêu cũng ítngười muốn vào hợp tác xã
Phong trào hợp tác hoá phải đi từ thấp đến cao mới phát triểnđược thuận lợi Muốn tổ chức hợp tác xã được tốt, phải phát triển vàcủng cố các tổ đổi công [43, tr.546-547]
Trang 26Có thể nói trong tác phẩm Thường thức chính trị và sau đó là Báo cáo
về dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá I, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã trình bày rất rõ quan niệm cơ bản của Người về các thành phầnkinh tế trong chế độ mới Đây có thể coi là những vấn đề cơ bản trong tưtưởng của Người về xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam
1.2.2 Thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa
Xuất phát từ yêu cầu đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, Hồ ChíMinh khẳng định tính tất yếu phải thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủnghĩa Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo Người, phải trải qua một thời
kỳ quá độ để biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nướccông nghiệp Người nhấn mạnh: “Nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta làxây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội” [44, tr.13] Từ
đó Người kết luận: muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội tất yếu phải công nghiệphoá xã hội chủ nghĩa “Muốn đảm bảo đời sống sung sướng mãi mãi, phảicông nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa” [44, tr.159] Người khẳng định như vậy là
vì các lý do: xuất phát điểm đi lên của chúng ta là một nước nông nghiệp lạchậu; “đời sống nhân dân chỉ có thể thật dồi dào, khi chúng ta dùng máy móc
để sản xuất một cách thật rộng rãi” [44, tr.40-41]; “công nghiệp và nôngnghiệp là hai chân của nền kinh tế Công nghiệp phát triển thì nông nghiệpmới phát triển như hai chân đi khoẻ và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh vàchóng đi đến mục đích” [44, tr.544-545]
Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định vai trò của nông nghiệp, coi nôngnghiệp là gốc, là chính, nhưng Người vẫn nhấn mạnh công nghiệp hóa mới làcon đường cơ bản để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân Ngườiviết: “Hiện nay, chúng ta lấy sản xuất nông nghiệp làm chính Vì muốn mởmang công nghiệp thì phải có đủ lương thực, nguyên liệu Nhưng công nghiệphóa xã hội chủ nghĩa vẫn là mục tiêu phấn đấu chung, là con đường no ấmthật sự của nhân dân ta” [44, tr.41]
Về nội dung chủ yếu của công nghiệp hóa ở Việt Nam, Người nhấnmạnh vai trò và sự cần thiết phát triển công nghiệp nặng Người định nghĩa
Trang 27công nghiệp nặng một cách đơn giản và đầy đủ: các ngành công nghiệp làm
ra máy móc, gang, thép, than, hoá chất v.v gọi chung là công nghiệp nặng.Người chỉ rõ: công nghiệp nặng là đầu mối để mở mang các ngành côngnghiệp khác và cung cấp máy móc cho nông nghiệp Phải có công nghiệpnặng thì mới có một nền kinh tế tự chủ và giàu mạnh Công nghiệp nặng cungcấp máy móc, phân bón, thuốc trừ sâu cho nông nghiệp Công nghiệp nặngcũng phải cung cấp đủ máy móc các loại cho công nghiệp nhẹ và thủ côngnghiệp Khái quát lại, Người cho rằng: phải phát triển công nghiệp nặng làm
cơ sở cho nền kinh tế độc lập, tự chủ và giàu mạnh
Trong khi nhấn mạnh công nghiệp nặng, Người cũng rất chú ý đến côngnghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp Tại Hội nghị ngành công nghiệp nhẹ ngày
16 - 1- 1965, Hồ Chí Minh nhắc đến vai trò của công nghiệp nhẹ: “Mọi chínhsách của Đảng và Chính phủ ta đều nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội và khôngngừng nâng cao đời sống của nhân dân Ngành công nghiệp nhẹ quan hệ rấtkhăng khít với đời sống hàng ngày của nhân dân Vì vậy, nhiệm vụ của côngnghiệp nhẹ là rất quan trọng” [45, tr.364]
Hồ Chí Minh cũng rất coi trọng tiểu thủ công nghiệp Trong Thư gửi Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An ngày 27 -1- 1969, Hồ Chí Minh cũng
viết: “Công nghiệp và thủ công nghiệp phải sản xuất nhiều công cụ làm đất,tưới tát, vận chuyển v.v phải cung cấp nhiều hàng tiêu dùng tốt và rẻ chonhân dân” [46, tr.488]
Khi thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, Người rất chú ý đến
việc phải xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý Khi trả lời phỏng vấn báo Nhật báo công nhân (Anh), Người đã nói:
Từ ngày được giải phóng, sau khi hoàn thành cải cách ruộng đất
và cải tạo xã hội chủ nghĩa, chúng tôi đã ra sức phát triển nông nghiệp,giải quyết được vấn đề lương thực, phát triển công nghiệp nhẹ, tự cung
tự cấp được phần lớn hàng tiêu dùng và bước đầu xây dựng công nghiệpnặng làm cơ sở cho nền kinh tế độc lập của chúng tôi [45, tr.461]
Trang 28Như vậy, theo Hồ Chí Minh, một nền kinh tế lành mạnh phải bao gồm,nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng Năm 1959, Người đã phácthảo mô hình nền kinh tế của nước ta là: nền kinh tế xã hội chủ nghĩa vớicông nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến.
Công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn là một nội dung quan trọngtrong tư tưởng Hồ Chí Minh về công nghiệp hóa Trong quá trình chỉ đạo pháttriển kinh tế đất nước, đã nhiều lần Người nhắc đến việc dùng máy móc để phát
triển nông nghiệp Trong Bài nói chuyện với đại hội đại biểu Công đoàn tỉnh Thanh Hoá, Hồ Chí Minh nói đến cơ giới hoá nông nghiệp, đồng thời Người
nhắc nhở: “Muốn cơ giới hoá nông nghiệp cũng còn mất hàng 15, 20 năm chứkhông làm ngay một lúc được” [44, tr.180] Nói chuyện với đồng bào và cán
bộ xã Đại Nghĩa (Hà Đông), Người nói đến việc khoanh vùng nông nghiệp đểchuẩn bị cho dùng máy móc Người nói: “Như nơi nào sản xuất lúa nhiều và tốtthì nơi đó sẽ thành vùng sản xuất lúa là chính, nơi nào sản xuất chè nhiều và tốtthì nơi đó sẽ thành vùng sản xuất chè là chính.v.v Làm như vậy thì sau nàydùng máy móc cũng dễ và tiện” [44, tr.407-408] Trong Hội nghị lần thứ 7 BanChấp hành Trung ương khoá III bàn về phát triển công nghiệp, Người cũngnói: “Công nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp đủ hàng tiêu dùng cầnthiết cho nhân dân, trước hết là cho nông dân; cung cấp máy bơm nước, phânhoá học, thuốc trừ sâu để đẩy mạnh nông nghiệp; và cung cấp dần dần máycấy, máy bừa cho hợp tác xã nông nghiệp” [44, tr.544]
Đối với miền núi và trung du, quan điểm của Người về công nghiệphóa là phải đi từ nông nghiệp, lấy phát triển nông nghiệp làm cơ sở, nền tảng
để thực hiện công nghiệp hóa “Làm cho miền núi và trung du thành một nơigiàu có về nông nghiệp để nâng cao hơn nữa đời sống của nhân dân, để thựchiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nước nhà” [45, tr.244-245]
Người cũng đề cập đến kinh tế gia đình và nghề phụ của người nôngdân Người nói: “Miếng vườn của mỗi gia đình xã viên và các loại nghề phụ lànguồn lợi để tăng thu nhập” [44, tr.352] Nghề phụ mà Người nhắc đến ở đây
là các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Người còn nhắc nhở cầnphát triển thích đáng kinh tế phụ gia đình xã viên
Trang 29Như vậy, quan điểm của Hồ Chí Minh về công nghiệp hóa là khá toàndiện, đồng thời có trọng tâm, trọng điểm Xuất phát từ đặc thù của một nướcnông nghiệp lạc hậu như Việt Nam, Người đã chỉ ra nội dung, bước đi của côngnghiệp hóa là từ nông nghiệp Sự phát triển công nghiệp nặng trước hết phải xuấtphát từ đòi hỏi trong sự phát triển của nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, do đó,trước tiên phải phát triển những ngành công nghiệp phục vụ trực tiếp cho pháttriển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.
1.2.3 Quan điểm về quản lý kinh tế
1.2.3.1 Nội dung quản lý kinh tế
Hồ Chí Minh xác định nội dung quản lý kinh tế ở cả cấp độ vĩ mô (nhànước) và cấp độ vi mô (đơn vị sản xuất)
Ở cấp độ vĩ mô, một là, phải xác lập và bảo đảm trong thực tế quyền làm
chủ của nhân dân đối với quá trình sản xuất và quản lý kinh tế, trước hết làquyền làm chủ của họ đối với các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất
Trong tác phẩm Thường thức chính trị viết năm 1953, Hồ Chí Minh đã
xác định trong chế độ dân chủ mới ở nước ta có năm thành phần kinh tế là:kinh tế quốc doanh; kinh tế hợp tác xã; kinh tế của cá nhân, nông dân và thủcông nghệ; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản của nhà nước Đồng thờiNgười cũng khẳng định sự tồn tại của các hình thức sở hữu chính về tư liệusản xuất ở nước ta là: sở hữu của nhà nước (toàn dân), sở hữu tập thể, sở hữucủa người lao động riêng lẻ và sở hữu của nhà tư bản
Việc phân định các thành phần kinh tế, xác định quyền sở hữu, xác lậphình thức quản lý kinh tế trước hết là sự phản ánh thực tế đặc điểm khách quancủa thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Trong điều kiện đặc thù nhưvậy, thừa nhận nhiều hình thức sở hữu và quản lý, thực hiện chính sách kinh tếnhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, đáp ứng quy luật từ một nềnsản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, nó có tác dụng mạnh mẽđộng viên toàn dân tích cực xây dựng kinh tế, giải phóng mọi năng lực sản xuất
xã hội, phát triển lực lượng sản xuất
Trang 30Hai là, xây dựng và phát triển một cơ cấu kinh tế hợp lý, cân đối giữa
các ngành, vùng, khu vực dân cư Một cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ tạo ra sự pháttriển cân đối giữa các ngành kinh tế, vùng kinh tế, giữa thành thị và nôngthôn, giữa đồng bằng và miền núi, giữa dân tộc đa số và dân tộc thiểu số,đồng thời nó cũng tạo ra cơ sở kinh tế để thực hiện công bằng, bình đẳng và
ổn định xã hội Trong thời kỳ lãnh đạo đất nước, Hồ Chí Minh đã xác định cơcấu kinh tế đó là: công - nông - thương nghiệp Nhưng để xây dựng được cơcấu kinh tế đó thì phải đặt trọng tâm vào phát triển một ngành kinh tế có khảnăng làm chuyển biến nền kinh tế - xã hội, và Người đã lựa chọn nông nghiệp
để tạo ra sự chuyển biến đó Người viết:
Nông nghiệp chiếm bộ phận lớn trong kinh tế, mà sản xuất nhỏlại chiếm bộ phận lớn trong nông nghiệp Vì nông nghiệp là nguồncung cấp lương thực và nguyên liệu, đồng thời là một nguồn xuất khẩuquan trọng, nông thôn là thị trường tiêu thụ to nhất hiện nay, cho nêncần phải cải tạo và phát triển nông nghiệp thì mới có cơ sở để phát triểncác ngành kinh tế khác [44, tr.14]
Việc xác định điểm xuất phát là nông nghiệp, nông thôn và ưu tiên pháttriển để tạo cơ sở cho các ngành kinh tế khác là sáng tạo lớn của Hồ Chí Minhtrong quản lý kinh tế Đây là vấn đề không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn có ýnghĩa chính trị to lớn: bảo đảm và nâng cao đời sống của đa số dân cư là nôngdân ở nước ta, ổn định chính trị - xã hội một địa bàn rộng lớn nhất nước ta lànông thôn, miền núi
Ở cấp độ vi mô, tức trong một đơn vị sản xuất cụ thể, Hồ Chí Minh chỉ
ra nội dung quản lý kinh tế là: “quản lý sản xuất, quản lý vật tư, quản lý laođộng, quản lý kỹ thuật, quản lý tiền bạc” [45, tr.110] Mục tiêu là “làm chonăng suất lao động không ngừng nâng cao, của cải xã hội ngày càng nhiều”[46, tr.564], từ đó mà nâng cao đời sống người lao động Trong công tác quản
lý kinh tế, Hồ Chí Minh thẳng thắn vạch ra những khuyết điểm, hạn chế, đó là:
Ý thức làm chủ nước nhà và tinh thần trách nhiệm còn kém Chế
độ và phương pháp quản lý kinh tế tài chính của chúng ta còn nhiều
Trang 31thiếu sót và lỏng lẻo, kỷ luật lao động chưa được thật nghiêm túc, sửdụng lao động chưa được hợp lý Khả năng thiết bị máy móc tuy có khánhiều nhưng chưa được sử dụng đầy đủ [45, tr.109]
Muốn thực hiện tốt những nội dung quản lý nêu trên, theo Hồ ChíMinh, điều quan trọng là phải xác lập và phát huy quyền làm chủ tập thể củangười lao động trong mọi mặt hoạt động của đơn vị sản xuất Trong xínghiệp, công nhân phải tham gia quản lý, đó là biểu hiện quyền làm chủ tậpthể của công nhân trong mọi mặt hoạt động của xí nghiệp Người nói: “Côngnhân tham gia quản lý là nền tảng của việc quản lý xí nghiệp tốt , sẽ làm cho
cơ quan quản lý khỏi kềnh càng, bớt giấy tờ bề bộn, bớt chế độ phiền phức”[43, tr.232] Người còn nhấn mạnh: “Muốn thực hiện đúng vai trò làm chủ,giai cấp công nhân phải quản lý tốt kinh tế, quản lý tốt xí nghiệp, làm chonăng suất lao động không ngừng nâng cao, của cải xã hội ngày càng nhiều vớiphẩm chất tốt, giá thành hạ” [46, tr.564] Đối với hợp tác xã, vai trò làm chủcủa xã viên thể hiện ở việc họ được bàn bạc và quyết định những công việccủa hợp tác xã Người chỉ rõ: “Kế hoạch sản xuất của hợp tác xã phải đembàn bạc một cách dân chủ với xã viên”; “Các hợp tác xã phải làm thế nào đểcác xã viên đều thấy rằng mình là người chủ tập thể của hợp tác xã Có quyềnbàn bạc và quyết định những công việc của hợp tác xã Có như thế thì xã viên
sẽ đoàn kết chặt chẽ, phấn khởi sản xuất và hợp tác xã sẽ tiến bộ khôngngừng” [46, tr.198] Như vậy, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, muốn phát huy vaitrò làm chủ của người lao động thì phải đưa họ tham gia vào quản lý mọi mặthoạt động của đơn vị sản xuất Nhưng cái cuối cùng để đánh giá hiệu quảquản lý là năng suất, chất lượng sản phẩm, đời sống của người lao độngkhông ngừng được cải thiện Nếu không đạt hiệu quả đó thì vai trò làm chủcủa người lao động chỉ là hình thức
1.2.3.2 Nguyên tắc quản lý kinh tế
Để quản lý kinh tế đạt hiệu quả, Hồ Chí Minh nêu ra một số nguyên tắcsau đây:
Một là, nguyên tắc dân chủ tập trung
Trang 32Nguyên tắc dân chủ tập trung thể hiện ở tầm vĩ mô là việc tôn trọng vàthừa nhận các loại hình sở hữu và các thành phần kinh tế trong nền kinh tếquốc dân thống nhất phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa Sự tôn trọng vàthừa nhận này tạo nên sự nhất trí căn bản về lợi ích của các giai tầng trong xãhội, phát huy tiềm năng, thế mạnh của mọi thành phần kinh tế, đưa nền kinh
tế đất nước phát triển đến một tráng thái mới cao hơn
Trong một đơn vị sản xuất, nguyên tắc dân chủ tập trung bảo đảm chođông đảo người lao động tham gia vào quá trình quản lý Hồ Chí Minh luônnhấn mạnh: quản lý phải dân chủ và nêu lên những nội dung căn bản vềquyền làm chủ của người lao động tham gia quản lý, trước hết ở khâu đầu củaquá trình sản xuất là xây dựng kế hoạch Kế hoạch sản xuất của đơn vị phảiđược bàn bạc dân chủ, có sự tham gia của đông đảo người lao động nhằm tạonên sự nhất trí cao trong quá trình thực hiện Sự nhất trí đó là động lực trongsản xuất, tăng cường trách nhiệm của người lao động, thúc đẩy phát huy sángkiến cải tiến kỹ thuật, làm cho năng suất lao động không ngừng tăng lên
Mặt khác, Người luôn nhắc nhở cán bộ quản lý phải: dân chủ, chí công
vô tư; tài chính phải công khai, minh bạch Tài chính công khai là vấn đề luônđược Hồ Chí Minh đặt ra khi bàn về quản lý kinh tế ở nước ta và là một vấn
đề trọng tâm của phong trào cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật do Người phátđộng trong những năm đầu xây dựng CNXH ở miền Bắc Suy cho cùng, mọinguyên nhân lãng phí, tham ô là bắt đầu từ việc không thực hành dân chủtrong quản lý, mà biểu hiện là không công khai, minh bạch về tài chính Do
đó, công khai tài chính là một nội dung dân chủ trong quản lý kinh tế
Hai là, nguyên tắc kế hoạch hóa
Về vấn đề này, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng ta phải làm tốt công tác kếhoạch hóa kinh tế của ta và thực hiện đầy đủ kế hoạch Nhà nước nhằm pháttriển kinh tế và văn hóa, nâng cao dần đời sống của nhân dân, trước hết là củanhân dân lao động” [43, tr.2] Làm tốt công tác kế hoạch hóa kinh tế đòi hỏingười quản lý phải vạch ra một cách có hệ thống và cụ thể về cách thức, trình
Trang 33tự, thời hạn tiến hành những công việc dự định làm trong một thời gian nhấtđịnh với mục tiêu nhất định.
Kế hoạch sản xuất phải được vạch ra trên cơ sở tình hình thực tế, phảinhìn xa, thấy rộng, phải thống nhất từ trên xuống, từ dưới lên, nghĩa là Chínhphủ trung ương có kế hoạch cho toàn quốc, và địa phương căn cứ theo kếhoạch toàn quốc mà xác định kế hoạch thích hợp với địa phương mình, chođến mỗi ngành, mỗi gia đình, mỗi người sẽ có kế hoạch riêng của mình, ănkhớp với kế hoạch chung Mặt khác, Người cũng chỉ ra xây dựng kế hoạch dùrất quan trọng nhưng đó chỉ là bước đầu, việc thực hiện kế hoạch mới là yếu
tố quyết định để biến kế hoạch thành hiện thực Do đó, “khi đi vào thực hiệnthì mỗi ngành mỗi nghề phải rất tỉ mỉ, chu đáo, thật sát với cơ sở”, “kế hoạch
10 phần thì biện pháp cụ thể phải 20 phần, chỉ đạo thực hiện sát sao phải 30phần Có như thế mới chắc chắn hoàn thành tốt kế hoạch” [45, tr.368]
Ba là, nguyên tắc hạch toán kinh tế
Nguyên tắc hạch toán kinh tế đòi hỏi trong quản lý kinh tế phải tínhtoán sao cho chi phí bỏ ra để sản xuất kinh doanh hợp lý nhất và thu được lãicao nhất Người chỉ rõ: “Phải thực hiện hạch toán kinh tế cho tốt; phải đảmbảo các bộ phận sản xuất cân đối, tiến hành ăn khớp nhịp nhàng” [44, tr.51].Phát biểu tại phiên họp của Hội đồng Chính phủ ngày 1 - 1 - 1953, Người nói:
“Quản lý một nước cũng như quản lý một doanh nghiệp: phải có lãi Cái gì ra,cái gì vào, việc gì phải làm ngay, việc gì chờ, hoãn, hay bỏ, món gì đáng tiêu,người nào đáng dùng: tất cả mọi thứ đều phải tính toán cẩn thận” [34, tr.82-83] Người thường chỉ ra những khuyết điểm phổ biến của chúng ta trongquản lý kinh tế là lủng củng, thiếu nền nếp, kém hiệu quả, người thì làmkhông hết việc, người thì ngồi chờ việc và yêu cầu chúng ta phải tìm cách tổchức sắp đặt cho hợp lý, để một người có thể làm việc như hai người, mộtngày có thể làm việc như hai ngày, một đồng có thể dùng bằng hai đồng Cónhư vậy mới đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh
Bốn là, nguyên tắc công bằng, hợp lý
Trang 34Trong quá trình lao động sản xuất, phân phối sản phẩm có tác động rấtlớn, nó kích thích sản xuất nếu phù hợp và phá hoại sản xuất nếu không phùhợp Nguyên tắc công bằng, hợp lý, theo Hồ Chí Minh không phải là bìnhquân mà là làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng,những người già yếu, tàn tật, trẻ em được Nhà nước giúp đỡ, chăm nom.Trong công tác lưu thông phân phối, Người lưu ý hai điều quan trọng:
“Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dânkhông yên” [46, tr.187]
Nguyên tắc công bằng, hợp lý thể hiện rõ nhất bằng việc thực hiệnphân phối theo lao động, căn cứ vào sự đóng góp sức lao động của người sảnxuất để làm thước đo phân phối kết quả sản xuất kinh doanh, hình thành thunhập cá nhân cho người lao động Phân phối theo lao động là căn cứ vào tínhchất, đặc điểm, điều kiện và môi trường lao động, căn cứ vào số lượng, chấtlượng và kết quả đóng góp của mỗi người vào thành quả chung của tập thể.Phân phối theo lao động bảo đảm sự hợp lý và công bằng nhất trong điều kiệnbình đẳng trong quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất
Năm là, nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích
Để thúc đẩy sản xuất phát triển, trong quản lý kinh tế phải biết kết hợp
hài hòa các lợi ích, giải quyết đúng đắn mối quan hệ lợi ích: Nhà nước, tập
thể và cá nhân Tôn trọng và khuyến khích lợi ích cá nhân chính đáng củangười lao động trên cơ sở kết hợp hài hòa ba lợi ích trên Người chỉ rõ:
“Chúng ta phải thực hiện chính sách công và tư đều được chiếu cố, chủ và thợđều có lợi” [41, tr.361]
Coi trọng lợi ích cá nhân chính đáng của người lao động, nhưng Hồ ChíMinh luôn luôn đặt nó trong mối quan hệ thống nhất với lợi ích tập thể và lợiích xã hội Người nói:
Lợi ích cá nhân là nằm trong lợi ích của tập thể, là một bộ phậncủa lợi ích tập thể Lợi ích chung của tập thể được bảo đảm thì lợi íchriêng của cá nhân mới có điều kiện để được thỏa mãn Lợi ích của cánhân gắn liền với lợi ích của tập thể Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với
Trang 35lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhânphải phục tùng lợi ích chung của tập thể [43, tr.299].
Theo Người phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sởhữu chính là điều kiện để thực hiện kết hợp hài hòa các lợi ích, phát huy tất cảlực lượng kinh tế của nhân dân, làm cho dân giàu, nước mạnh Người chorằng chế độ khoán thích hợp và công bằng dưới chế độ ta hiện nay “Làmkhoán là ích chung và lại lợi riêng” [42, tr.341] Chế độ khoán khuyến khíchngười công nhân luôn luôn tự đổi mới chính mình, cải tiến kỹ thuật, nâng caonăng suất, vì thế làm cho nhà máy luôn tiến bộ Do đó, cần khuyến khích ápdụng chế độ khoán để thúc đẩy sản xuất phát triển Đi liền với khoán làthưởng phạt nghiêm minh để nâng cao tinh thần trách nhiệm của người laođộng và kích thích phát triển sản xuất
1.2.3.3 Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế
Với quan điểm về quản lý kinh tế và những nguyên tắc quản lý kinh tếnêu trên, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực,phẩm chất và trình độ thực hành dân chủ trong quản lý kinh tế
Người chỉ ra rằng: “Cán bộ phải dân chủ, phải khéo quản lý (quản lýlao động, quản lý tài vụ, quản lý kỹ thuật), phải khéo giáo dục xã viên làmcho họ đoàn kết chặt chẽ và phấn khởi sản xuất Cán bộ phải thật công bằng,phải chí công vô tư” [44, tr.65] Người cán bộ quản lý kinh tế phải có tinhthần mạnh dạn, dám nghĩ dám làm, phải xung phong gương mẫu đi trước, biếtdùng phương pháp dân chủ mà đẩy mạnh phong trào thi đua sản xuất và tiếtkiệm Phải sâu sát quần chúng, khắc phục bệnh cá nhân chủ nghĩa, quan liêu.Mặt khác, Người yêu cầu “Cán bộ phải cố gắng học tập văn hóa, chính trị,nghiệp vụ Kinh tế của ta ngày càng phát triển, hàng ngũ công nhân ta ngàycàng thêm đông Muốn làm tròn nhiệm vụ của mình thì cán bộ phải luôn cốgắng học tập, cố gắng vươn lên để không ngừng tiến bộ” [44, tr.587]
Như vậy, một cán bộ quản lý tốt cần đạt các tiêu chuẩn: thứ nhất, phải
có đạo đức (đối với tự mình): cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, xungphong gương mẫu, dám nghĩ dám làm ; thứ hai, phải có phương pháp (đối
Trang 36với công việc): đoàn kết, dựa vào dân và dân chủ trong lãnh đạo Vấn đề thứnhất biểu thị tầm quan trọng của đạo đức đối với người cán bộ quản lý nóichung nhưng đặc biệt quan trọng đối với cán bộ quản lý kinh tế Sự băng hoại
về đạo đức trong cán bộ quản lý kinh tế không chỉ làm thiệt hại về kinh tế chomột xí nghiệp, một hợp tác xã, một địa phương mà còn tác hại đến nền kinh tế
cả nước nếu cán bộ đó đứng ở những vị trí cao trong bộ máy quản lý kinh tế
Do vậy, theo Hồ Chí Minh, yêu cầu về đạo đức, về phẩm chất chính trị là yêucầu hàng đầu đối với cán bộ quản lý nói chung và quản lý kinh tế nói riêng.Vấn đề thứ hai biểu thị yêu cầu về năng lực tổ chức quản lý của cán bộ quản
lý kinh tế Cán bộ quản lý là người vạch ra kế hoạch, xác định mục tiêu vàthực hiện kế hoạch đã định thông qua người lao động Do vậy, người cán bộngoài năng lực chuyên môn phải có bản lĩnh, nhạy cảm và có khả năng tổchức cho hệ thống hoạt động đồng bộ, đồng thời có phương pháp quản lý, tổchức lao động phát huy được dân chủ trong quản lý đối với người lao động đểkích thích mọi năng lực sáng tạo của người sản xuất thực hiện thành công cácmục tiêu đề ra
Ngoài ra, việc xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế theo tư tưởng
Hồ Chí Minh cũng bao gồm các vấn đề quy hoạch cán bộ, đánh giá đúng nănglực và phẩm chất của cán bộ để sử dụng hợp lý, hiệu quả; phải phân địnhchức năng, quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ một cách rõ ràng, tránh chồngchéo; đồng thời luôn đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ cán bộ Đây lànhững việc làm không thể thiếu để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệuquả của đơn vị sản xuất
1.3 QUAN ĐIỂM VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI
1.3.1 Phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi
Trang 37Ở nước ta, núi, đồi và cao nguyên chiếm 3/4 diện tích, đây là vùng cưtrú chủ yếu của các dân tộc thiểu số Hồ Chí Minh đánh giá đây là địa bàn dân
cư cũng như địa lý có vị trí quan trọng về chính trị, an ninh - quốc phòng và
cả về kinh tế Người viết: “miền núi có một địa vị cực kỳ quan trọng về kinh
tế, chính trị và quốc phòng của cả nước ta” [44, tr.608]
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò của đồng bào các dântộc thiểu số và miền núi trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Người nhậnthức sâu sắc và đúng đắn về bản lĩnh, tính cách dân tộc trong tiến trình lịch
sử Các dân tộc thiểu số ở nước ta không những có truyền thống đấu tranhchống ngoại xâm mà còn có truyền thống cần cù, thông minh, sáng tạo Họ lànhững người thật thà, chất phác, biết trọng lẽ phải và công lý
Cùng với vấn đề dân cư, Hồ Chí Minh cũng đặc biệt quan tâm tới cácđiều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, vùng cư trú của các dân tộc thiểu số là căn cứđịa chống ngoại xâm và là phên dậu bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổcủa đất nước Người hiểu khá rõ truyền thống, tinh thần cách mạng và tintưởng ở khả năng cách mạng to lớn của đồng bào các dân tộc thiểu số và miềnnúi Và sự thật, đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi đã không phụ lòngtin của Đảng, Chính phủ, của cách mạng, họ đã có những đóng góp vĩ đại cho
sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập cho dân tộc Việt Namtrong thế kỷ XX
Nguyện vọng và tình cảm tha thiết nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh làcuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân, nên phải ra sức làm cho miền núitiến kịp miền xuôi, xoá bỏ sự ngăn cách giữa các dân tộc, giữa dân tộc đa số
và dân tộc thiểu số để từng bước nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện côngnghiệp hoá nước nhà Phát biểu tại Hội nghị lần thứ nhất các dân tộc thiểu số
ở Việt Nam ngày 3 - 12 - 1945, Người khẳng định: “Chính phủ sẽ gắng sứcgiúp cho các dân tộc thiểu số về mọi mặt
a Về kinh tế, sẽ mở mang nông nghiệp cho các dân tộc được hưởng
b Về văn hoá, Chính phủ sẽ chú ý trình độ học thức cho các dân tộc” [38, tr.110-111]
Trang 38Hồ Chí Minh là người đã chỉ cho các dân tộc thiểu số và miền núi thấyrằng, trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc họ là một bộ phận quantrọng không thể tách rời, và khi dân tộc giải phóng thì đồng thời họ cũngđược giải phóng Nhưng giành được độc lập, tự do mới chỉ là giải phóng vềmặt chính trị Nếu có độc lập, tự do rồi mà dân vẫn cứ đói, rét, vẫn cứ thấthọc thì độc lập, tự do chẳng có nghĩa lý gì Do đó, mục tiêu cuối cùng củacách mạng là phải làm sao để đời sống của đồng bào về vật chất ngày càngđầy đủ hơn, tinh thần ngày càng phong phú hơn Nói chuyện với đồng bào, bộđội và cán bộ Khu tự trị Thái - Mèo (Thuận Châu, Sơn La), Hồ Chí Minh chỉrõ:
Đồng bào Khu tự trị đã từng cùng bộ đội ta đánh thắng trận ĐiệnBiên Phủ, đuổi hết giặc Tây, giải phóng đất nước Ngày nay đồng bào,
bộ đội và cán bộ lại phải cùng nhau đoàn kết phấn đấu để giành lấy mộtthắng lợi to hơn nữa là tiêu diệt cho hết giặc đói, giặc dốt, làm cho mọingười đều được no ấm, đều biết chữ, làm cho mọi người đều đượchưởng hạnh phúc, yên vui [43, tr.445-446]
Mong ước đó của Người không chỉ cho đồng bào các dân tộc Sơn La,
mà là mong ước chung đối với tất cả các DTTS và miền núi nước ta Vì tất cả
họ, dù là dân tộc thiểu số hay dân tộc đa số, đều là người con của Tổ quốcViệt Nam Phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần đồng bàocác dân tộc thiểu số và miền núi, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi khôngchỉ đơn thuần là một chính sách kinh tế, mà đó còn là sự tri ân, trả nghĩa đốivới đồng bào đã che chở, giúp đỡ Đảng, Chính phủ trong những năm khángchiến chống Pháp, chống Mỹ, cứu nước
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thầnđồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi chính là mục tiêu cuối cùng của sựnghiệp giải phóng, đồng thời là động lực của sự nghiệp cách mạng
1.3.2 Phát huy tiềm năng, lợi thế của đồng bào các dân tộc thiểu số
và miền núi trong phát triển kinh tế
1.3.2.1 Tiềm năng, lợi thế, khó khăn, hạn chế
Trang 39Việc phát triển kinh tế - văn hoá miền núi được Hồ Chí Minh coi là bộphận hợp thành của toàn bộ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Tư tưởngxuyên suốt của Người về xây dựng và phát triển kinh tế - văn hoá miền núi lànâng cao đời sống đồng bào các dân tộc, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi,thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa Người coi đây là một cuộc cáchmạng lâu dài, gian khổ nhưng nếu biết cách làm, biết phát huy những tiềmnăng, lợi thế của mình, kết hợp với sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa,đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhất định sẽ làm được.
Hồ Chí Minh đánh giá tiềm năng, lợi thế của đồng bào dân tộc thiểu số
và miền núi trên ba bình diện chủ yếu:
Thứ nhất, miền núi có tài nguyên thiên nhiên rất phong phú, có nhiều khả
năng để mở mang nông nghiệp và công nghiệp Những điều đó nói lên miền núi
có vị trí cực kỳ quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng của cả nước
Đầu tiên, Người nói đến tài nguyên đất Ở vùng miền núi đất của takhông thiếu, nhưng một số đồng bào dân tộc thiểu số còn sống du canh, du
cư, đi phát rừng làm nương dẫy, do đó mà đời sống bấp bênh, không ổn định
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, vùng miền núi và trung du “Đất đai cấy lúa tính đầungười thì không ít hơn đồng bằng Đất trồng màu có nhiều Đất trồng câycông nghiệp ngắn ngày và dài ngày rất nhiều Đất để trồng cây gây rừng lạicòn nhiều hơn nữa” [45, tr.244] Đây là điều kiện vô cùng thuận lợi để pháttriển một nền nông nghiệp toàn diện Người nói: “Sản xuất phải toàn diện,trồng cây lương thực và cây công nghiệp, phát triển chăn nuôi, phát triển nghềrừng” [44, tr.418] Người đặc biệt nhấn mạnh đến chăn nuôi, vì đây là thếmạnh của miền núi: “chú trọng đẩy mạnh chăn nuôi, vì miền núi có nhiều khảnăng chăn nuôi” [44, tr.418] Tóm lại, theo Hồ Chí Minh, muốn no đủ, đồngbào phải định canh, định cư, tích cực tăng gia sản xuất, thâm canh tăng vụ,thực hành tiết kiệm, phải có tổ chức, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau
Hồ Chí Minh cũng chỉ ra nguồn tài nguyên to lớn của miền núi là rừng.Người nói “rừng là vàng” vì “có rất nhiều gỗ và lâm sản có thể đổi lấy nhiềumáy móc, hàng hoá” [43, tr.449] Nhiều lần nói chuyện với đồng bào và cán
Trang 40bộ miền núi, Người đều nhấn mạnh “rừng là vàng là bạc, là máy móc”, đó lànguồn thu nhập lớn của đồng bào nếu biết khai thác và bảo vệ hợp lý Vì vậy,Người yêu cầu: “Các địa phương phải chú ý bảo vệ rừng và trồng cây, gâythêm rừng”, “cần tích cực khai thác có kế hoạch và ra sức trồng cây, bảo vệrừng” [44, tr.283] Tại Hội nghị tuyên giáo miền núi, Hồ Chí Minh nói:
Cần hết sức chú ý vấn đề bảo vệ rừng Nếu cứ để tình trạng đồngbào phá một ít, nông trường phá một ít, công trường phá một ít, thậmchí đoàn thăm dò địa chất cũng phá một ít, thì rất tai hại Phá rừngnhiều như vậy sẽ ảnh hưởng đến khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất, đờisống rất nhiều Ta thường nói: “rừng vàng biển bạc” Rừng là vàng, nếumình biết bảo vệ, xây dựng thì rừng rất quý [45, tr.134]
Vùng miền núi còn có nhiều tài nguyên khoáng sản, như các loại quặngsắt, nhôm, đồng, , Hồ Chí Minh cho rằng đây là cơ sở quan trọng để mởmang công nghiệp, xây dựng và phát triển kinh tế
Thứ hai, con người và truyền thống lịch sử, văn hoá là yếu tố quan
trọng hàng đầu, vừa là mục đích, vừa là động lực thúc đẩy các quá trình kinh
tế - xã hội ở miền núi nước ta Đánh giá về yếu tố này, Hồ Chí Minh viết:
Đồng bào miền núi có truyền thống cần cù và dũng cảm Trongthời kỳ cách mạng và kháng chiến, đồng bào miền núi đã có nhiều côngtrạng vẻ vang và oanh liệt Ngày nay, trong công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh để thực hiện hoà bình thống nhất
Tổ quốc, đồng bào miền núi đang cố gắng góp phần xứng đáng củamình [44, tr.608]
Một đặc điểm lớn của đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta là thườngsống xen kẽ Hình thái cư trú này tạo cơ sở khách quan cho sự hiểu biết, đoànkết, hoà hợp và giúp đỡ lẫn nhau vì mục đích chung trong suốt chiều dài lịch sửdựng nước và giữ nước Toàn thể đồng bào trong cộng đồng dân tộc Việt Nam
ai cũng yêu nước, quyết không chịu làm nô lệ, đoàn kết và hăng hái ủng hộcách mạng Lòng tin tưởng, sự trung thành, ngay cả trong hoàn cảnh khắcnghiệt, cam go nhất vào sự nghiệp cách mạng do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí