1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang

64 756 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang
Trường học Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Thành phố Bắc Giang
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 503 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang là cơ sở đào tạo cán bộ tài chính kế toán và cán bộ kỹ thuật chăn nuôi thú y đáp ứng yêu cầu về sản xuất và kinh doanh trong các ngành công nghiệp, thương mại và sản xuất nông nghiệp của địa phương và vùng Đông Bắc

Trang 1

Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật

Nghị quyết lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII cũng đã chỉ rõ: "Giáo dục và đào tạo hiện nay phải có một bước chuyển nhanh chóng về chất lượng và hiệu quả đào tạo, về số lượng và quy mô đào tạo, nhất là chất lượng dạy học trong các nhà trường, nhằm nhanh chóng đưa giáo dục - đào tạo đáp ứng yêu cầu mới của đất nước Thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự nghiệp xây dựng vàphát triển đất nước" 27 27 

Nâng cao chất lượng dạy học là nhiệm vụ cơ bản đầu tiên của các nhà trường, đây chính làđiều kiện để nhà trường tồn tại và phát triển Thực chất của công tác quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy học, công việc này được tiến hành thuờng xuyên, liên tục qua từng giờ dạy học, qua các học kỳ và từng năm học, đây là điều kiện tất yếu để đảm bảo chất lượng giáo dục đào tạo của nhà trường đáp ứng yêu cầu mục tiêu đề ra

Chất lượng dạy học ở các trường trung cấp chuyên nghiệp hiện nay và chất lượng đào tạo nói chung đã có nhiều tiến bộ trên một số mặt về khoa học tự nhiên và kỹ thuật Nhiều nơi

đã xuất hiện những nhân tố mới, phong trào học tập sôi nổi, dân trí từng bước được nâng lên Tuy nhiên chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng dạy học nói riêng còn nhiều yếu kém, bất cập

Đáng quan tâm là chất lượng, hiệu quả đào tạo còn thấp, chưa đáp ứng được những đòi hỏingày càng cao về nguồn nhân lực của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo

vệ tổ quốc, thực hiện CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN

Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang là cơ sở đào tạo cán bộ tài chính kế toán

và cán bộ kỹ thuật chăn nuôi thú y đáp ứng yêu cầu về sản xuất và kinh doanh trong các ngành công nghiệp, thương mại và sản xuất nông nghiệp của địa phương và vùng Đông Bắc Với mục tiêu của nhà trường là đào tạo lực lượng lao động có kiến thức, kỹ năng thực hành cơ bản của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công việc đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên công tác đào tạo của trường nói chung và hoạt động dạy học nói riêngcòn bộc lộ nhiều “ bất cập” Đây là một vấn đề hết sức cần thiết với yêu cầu và nhiệm vụ phát triển của nhà trường với mục tiêu nâng cấp trường lên Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật đáp ứng đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu của xã hội trong giai đoạn hiện nay

Là một cán bộ quản lý, giáo viên gắn bó với nghề 20 năm, tác giả rất hứng thú nghiên cứu,tìm tòi đưa ra các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường đạt hiệu quả tốt hơn Bởi sự khởi đầu chính xác sẽ giúp cho nhà trường có định hướng đúng và đề

Trang 2

ra các biện pháp có hiệu quả trong quá trình chỉ đạo và quản lý dạy học sau này Trên cơ

sở lý luận và thực tiễn đã nêu tác giả mạnh dạn chọn đề tài:

“ Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế -

Kỹ thuật Bắc Giang ” với hy vọng đóng góp một phần vào việc xây dựng các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường trung cấp đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của toàn xã hội, thực hiện tốt nhất nhiệm vụ của nhà trường mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho

2 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực về lĩnh vực kinh tế và kỹ thuật của tỉnh Bắc Giang

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

3.1 Khách thể nghiên cứu :

Công tác quản lý dạy học ở trường TC chuyên nghiệp tỉnh Bắc Giang

3 2 Đối tượng nghiên cứu :

Những biện pháp quản lý có hiệu quả đối với hoạt động dạy học ở trường Trung cấp Kinh

tế - Kỹ thuật Bắc Giang

4 Giả thuyết khoa học:

Chất lượng dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang hiện nay vẫncòn có những hạn chế Nếu áp dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, đồng bộ các biện pháp quản lý được đề xuất trong đề tài nghiên cứu thì chất lượng dạy học của nhà trường sẽ được nâng cao

5 Nhiệm vụ nghiên cứu:

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý dạy học ở trường trung cấp

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng dạy học và quản lý quá trình dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế- Kỹ thuật Bắc Giang

5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu:

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang trong khoảng thời gian 5 năm (2001 - 2005)

7 Phương pháp nghiên cứu:

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp phân tích tổng hợp lý thuyết

- Phương pháp hệ thống hóa lý thuyết

7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

- Phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục

7.3 Phương pháp thống kê, lập bảng, tổng kết đánh giá

8 Cấu trúc luận văn:

- Mở đầu

- Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý dạy học ở trường trung cấp

chuyên nghiệp

Trang 3

- Chương II: Thực trạng dạy học và quản lý nâng cao chất lượng

dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc

Giang

- Chương III: Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng

dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc

cơ sở lý luận về quản lý dạy học ở trường

trung cấp chuyên nghiệp

1.1 tổng quan về vấn đề nghiên cứu:

Nâng cao chất lượng dạy học là nhiệm vụ cơ bản của các nhà trường nói chung và của người quản lý nói riêng Đây chính là điều kiện để nhà trường tồn tại và phát triển Thực chất của công tác quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy học, công việc này được tiến hành thuờng xuyên, liên tục qua từng giờ học, học kỳ và từng năm học, đây là điều kiện tất yếu để đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường đáp ứng yêu cầu mục tiêu đề ra

Để thực hiện được mục tiêu đó người quản lý phải nắm vững những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, vững vàng về chuyên môn, có trình độ lí luận và nghiệp vụ tốt thì mới có thể tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá được quá trình dạy và học Có thể nói người quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện các hoạt động giáo dục trong nhà trường

Vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục cho nhà trường nói chung, nâng cao chất lượng dạy học nói riêng, luôn là vấn đề quan tâm của các cấp QL giáo dục, với mục đích chính là nâng cao hiệu quả QL trong nhà trường, nhân tố quan trọng quyết định hiệu quả hoạt động

DH Thời gian qua đã có nhiều đề tài nghiên cứu về các vấn đề QL nâng cao chất lượng

DH ở các trường trong tỉnh Bắc Giang nhưng chủ yếu tập chung vào các trường phổ, trường Cao đẳng Song đến nay chưa có đề tài nào đề cập đến việc nghiên cứu tìm ra cácbiện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường Trung cấp kinh tế - kỹ thuật Bắc Giang Với đề tài này tác giả sẽ phân tích thực trạng quá trình dạy học và quản

lý quá trình dạy học của nhà trường, từ đó đưa ra một số biện pháp quản lý góp phần vào việc nâng cao chất lượng DH nhằm đưa sự nghiệp GD&ĐT ở Tỉnh Bắc Giang ngày càng

ổn định và phát triển

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài:

1.2.1 Khái niệm quản lý

Quản lý hình thành cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người Khi xã hội loài người pháttriển qua các phương thức sản xuất khác nhau thì trình độ tổ chức và điều hành xã hội ngày càng được nâng cao Sự phát triển của xã hội dựa vào nhiều yếu tố, trong đó có 3 yếu

tố cơ bản: tri thức, sức lao động và trình độ quản lý Mọi hoạt động xã hội đều cần đến hoạt động quản lý và hoạt động quản lý cũng chính do con người tiến hành Người quản lý

và đối tượng được quản lý, sự cần thiết của quản lý được C.Mác viết: "Tất cả mọi lao

Trang 4

động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những cơ quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng".

(C Mác và ăngghen - Toàn tập, tập 23 trang 34-NXB Chính trị Quốc gia)

Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạchcủa chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến"[31; 35]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: Bản chất của hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới Do

đó được xác định là:

+ Quản lý = Quản + lýTrong đó:

- Quản là chăm sóc, giữ gìn sự ổn định

- Lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới phát triển

Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu sẽ dẫn đến suy thoái Hệ phát triển mà không

ổn định thì tất yếu sẽ rối loạn Điều đó có nghĩa là hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra và tiến tới trạng thái có tính chất lượng mới [2] Quản

lý tạo ra sự ổn định cho sự phát triển Xã hội muốn phát triển phải chú trọng quản lý để đảm bảo cho sự phát triển vững chắc và đúng quy luật

Vậy: Quản lý = ổn định + phát triển

Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, song tựu trung các định nghĩa đều thể hiện:

- Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển chính là đạt được mục tiêu quản lý

- Yếu tố con người gữi vai trò trung tâm của hoạt động quản lý

- QL là hoạt động được tiến hành trong một tổ chức, một nhóm xã hội

- Quản lý phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động

- Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường Trong hoạt động quản lý, chủ thể quản lý và khách thể quản lý Chủ thể quản lý là một cá nhân hay một nhóm có chức năng quản lý hay điều khiển tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt tới mục tiêu Khách thể quản lý bao gồm những người thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu Chủ thể quản lý làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể quản lý sản sinh ra vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu con người, đáp ứng mục đích của chủ thể quản lý

- Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Chính vì vậy trong hoạt động, cán bộ quản lý phải hết sức sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo và bằng cách nào đó để người bị QL luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức, cho cả xã hội

1.2.2 Chức năng quản lý

Có bốn chức năng cơ bản: kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra Theo hình thức, quá trình quản lý được diễn ra tuần tự từ chức năng kế hoạch đến các chức năng tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Song, trong thực tế các chức năng này đan xen, hỗ trợ lẫn nhau trong

Trang 5

quá trình thực hiện Chất xúc tác và liên kết giữa các chức năng cơ bản này là thông tin quản lý và các quyết định QL.

Các chức năng quản lý tạo thành quá trình quản lý có thể được mô tả theo sơ đồ hình vẽ sau:

Hình 1.1: Sơ đồ về quá trình quản lý [2, 21 ]

- Chức năng kế hoạch: là một chức năng, một khâu quan trọng nhất trong hoạt động quản

lý, lập kế hoạch là hoạt động nhằm thiết lập các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của một tổ chức, chỉ ra các hoạt động, những biện pháp cơ bản và các điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu đó Kế hoạch là nền tảng của quản lý, là sự quyết định lựa chọn đường lối hành động của một tổ chức và các bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức

- Chức năng tổ chức: là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc quyền hành và các nguồn lựccho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức đơn vị cũng khác nhau Nhờ tổ chức phù hợp mà người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn nguồn nhân lực và các điều kiện nguồn lực khác nhằm đạt tới mục tiêu

- Chức năng lãnh đạo: là quá trình nhà quản lý dùng ảnh hưởng của mình tác động đến conngười trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức Vai trò của người lãnh đạo là phải chuyển được ý tưởng của mình vào nhận thức của người khác, hướng mọi người trong tổ chức về mục tiêu chung của đơn vị

- Chức năng kiểm tra: kiểm tra là một chức năng quan trọng của QL, quản lý mà không kiểm tra thì coi như không có quản lý Nhờ có hoạt động kiểm tra mà người quản lý đánh giá được kết quả công việc, uốn nắn, điều chỉnh kịp thời những hạn chế từ đó có biện phápphù hợp điều chỉnh kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo

- Thông tin: thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý Thông tin là tin tức được chuyển giao, lưu trữ trong các bộ máy quản lý, nhằm giúp nhà quản lý điều hành

bộ máy, thiếu tin tức nhà quản lý không thể thực hiện được các hoạt động quản lý Thông tin này là cơ sở để các nhà quản lý đề ra các quyết định quản lý Thông tin là mạch máu của hoạt động quản lý và nó có quan hệ hai chiều với các chức năng quản lý

1.2.3 Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường

a Quản lý giáo dục

Giáo dục là một hoạt động xã hội nhằm truyền đạt những kinh nghiệm, những sángtạo trong đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xã hội của thế hệ trước truyền cho thế hệ sau Nhờ vậy mà xã hội loài người được duy trì và phát triển Như vậy GD là một bộ phận của

xã hội, nên QL giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội, GD đã xuất hiện từ lâu và mang bản chất xã hội

Trang 6

Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội [4; 14].Quản lý giáo dục theo P.V Khuđôminxky “Là quản lý khoa học hệ thống giáo dục có thể xác định như là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và định hướng của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống đó (từ Bộ đến các trường, các cơ sở giáo dục khác ) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục XHCN cho thế

hệ trẻ, trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của CNXH, cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực, tâm lý trẻ, thiếu niên và thanh niên” [22; 10]

Theo giáo sư Phạm Minh Hạc: “ Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học

Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nước” [34, 9]

Như vậy quản lý giáo dục thực chất là quản lý quá trình giáo dục và đào tạo Quản lý quátrình giáo dục và đào tạo là quản lý hoạt động của người dạy, người học và quản lý các tổ chức sư phạm ở các cơ quan khác nhau trong việc thực hiện các kế hoạch, chương trình giáo dục và đào tạo nhằm đạt được mục tiêu đặt ra

b Quản lý nhà trường:

Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường vì nhà trường là đơn vị cơ bản cấu trúc lên hệ thống giáo dục quốc dân, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục Khi nghiên cứu về nội dung khái niệm quản lý giáo dục thì khái niệm trường học được hiểu là

tổ chức cơ sở mang tính nhà nước- xã hội trực tiếp làm công tác GD&ĐT thế hệ trẻ cho tương lai đất nước

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựngvốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới ” [31; tr43]

Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “ Quản lý nhà trường là lao động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường ” [40; 205]

Tóm lại: “ Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”

Quản lý nhà trường bao gồm tác động của những chủ thể quản lý bên trong và bên ngoài nhà trường:

+Tác động của những chủ thể QL bên trên và bên ngoài nhà trường

Quản lý nhà trường là những tác động quản lý của các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập, giáo dục của nhà trường Quản lý nhà trường cũng gồm những chỉ dẫn, quyết định của những thực thể bên ngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường Như cộng đồng được đại diện dưới hình thức hội đồng nhà trường (Hội đồng giáo dục) nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó

+ Tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường

Trang 7

Đó là tác động của bộ máy quản lý của nhà trường tới từng thành tố như: mục đích giáo dục, nội dung, phương pháp giáo dục, đội ngũ giáo viên, cán bộ nhân viên, tập thể học sinh và các cơ sở vật chất - thiết bị dạy học … Các tác động này quan hệ qua lại với nhau

và cùng với tác động quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường để thực hiện chức năng GD&ĐT

Như vậy có thể nói quản lý nhà trường là tập hợp các tác động tối ưu

của chủ thể quản lý thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý đến tập thể giáo viên, cán bộ và học sinh, sinh viên nhằm sử dụng hợp lý nguồn lực do nhà nước đầu tư, do các lực lượng xã hội đóng góp và do chính nhà trường tạo ra nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường mà trung tâm là hoạt động dạy học, thực hiện có trách nhiệm, hiệu quả mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên một trạng thái mới Ta có thể hình dung

mô hình quản lý nhà trường qua các tác động của chủ thể quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau:

Hình 1.2: Mô hình quản lý trường học [19, 2]

1.2.4 Khái niệm dạy học và quản lý quá trình dạy học

a Khái niệm dạy học

Theo giáo sư Phạm Minh Hạc: “Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt

và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân ” [20; tr18]

Theo Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt: “Quá trình dạy học là một quá trình sư phạm bộphận, một phương tiện để trau dồi học vấn, phát triển giáo dục và giáo dục phẩm chất, nhân cách thông qua sự tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ thống những tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo, nhận thức

Trang 8

Hình 1.3: Sơ đồ cấu trúc quá trình DH theo tiếp cận hoạt động [9;30]

Từ những quan niệm trên cho thấy quá trình dạy học là một quá trình

mà ở đó phải đồng thời diễn ra hai hoạt động: hoạt động dạy của thầy và hoạt

động học của trò, hai hoạt động này đan quyện vào nhau, vì nhau, phối hợp với nhau, thiếu một trong hai hoạt động thì quá trình dạy học không diễn ra

Hoạt động dạy học làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một

cách có hệ thống cơ bản, có những ký năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập,

lao động và đời sống Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của học sinh, hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, lòng yêu tổ quốc, yêu CNXH, đó chính là động cơ học tập trong nhà trường và định hướng hoạt động của học sinh

Theo cách tiếp cận hệ thống, quá trình dạy học là một hệ bao gồm các thành tố cơ bản như: mục đích dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học, giáo viên học sinh, kết quả dạy học … các thành tố này quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình dạy học

b Quản lý quá trình dạy học

Quản lý hoạt động dạy học là quản lý một quá trình với tư cách là một hệ toàn vẹn,bao gồm các thành tố cơ bản: mục đích, nhiệm vụ, nội dung dạy học, thày với hoạt động dạy, trò với hoạt động học, các phương pháp và phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả dạy học Tất cả các thành tố này tồn tại trong mối quan hệ qua lại và thống nhất với môi trường của nó: môi trường xã hội - chính trị và môi trường khoa học - kinh tế - công nghệ Điều đó có nghĩa là chủ thể quản lý phải tác động vào toàn bộ các thành tố của hoạt động dạy học theo quy luật tâm lý, giáo dục học, lý luận

về quản lý để đưa hoạt động dạy học từ trạng thái này sang trạng thái cao hơn để dần tiến tới mục tiêu giáo dục

Hoạt động dạy học vận động và phát triển là do các nhân tố cấu thành của nó vận động và tương tác với nhau nhằm thực hiện mục tiêu của quá trình, góp phần thực hiện mục đích giáo dục nói chung Vì vậy quản lý hoạt động dạy học vừa phải làm sao cho mỗinhân tố có được lực tác động đủ mạnh, lại vừa đảm bảo sự vận động nhịp nhàng, hài hoà

và thống nhất của toàn bộ quá trình, không được để nhân tố nào vận động yếu làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của quá trình Điều này đòi hỏi người quản lý phải có nghệ thuật, vận dụng linh hoạt các biện pháp QL mới đạt được mục tiêu đề ra QL hoạt động dạy học là phải tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau đây:

- Quản lý việc thực hiện mục tiêu, chương trình dạy học

- QL việc xây dựng và thực hiện nội dung DH

- Quản lý hoạt động dạy của giáo viên

- Quản lý hoạt động học của học sinh

- Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học, tài chính

- Tổ chức kiểm trá, đánh giá kết quả dạy học

1.2.5 Chất lượng dạy học và quản lý chất lượng dạy học

a Chất lượng dạy học

Nói đến “chất lượng dạy học” chính là nói đến “chất lượng thể hiện ở người học ”hay “tri thức, kỹ năng, thái độ” mà người học có được trong quá trình học, đào tạo Vốn học vấn toàn diện và vững chắc công việc, kỹ năng, thái độ ở mỗi người là chất lượng đích thực của dạy học [10,tr 10] Đó chính là kết qủa của quá trình đào tạo (người học đã học như

Trang 9

thế nào, họ biết gì, có thể làm gì và phẩm chất nhân cách của họ ra sao nhờ kết quả tương tác giữa người học với giáo viên và nhà trường).

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, mô hình chất lượng dạy học gồm:

- Kiến thức (Knowledge - K)

- Kỹ năng (Skill - S )

- Thái độ (Attitude - A) và hành vi (Behaviour - B )

Các yếu tố trên được liên hệ với nhau trong tính cân đối và đồng bộ[1], được thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp của người tốt nghiệp

Khi đánh giá chất lượng dạy học phải cần căn cứ vào mục tiêu của từng cấp học, bậc học đối chiếu sản phẩm giáo dục - đào tạo được đối chiếu với mục tiêu của cấp học, bậc học Chất lượng dạy học càng cao càng làm phong phú thêm kiến thức, kỹ năng, thái độ, giá trị

và hành vi của con người

Quan hệ giữa mục tiêu đào tạo và chất lượng đào tạo thể hiện qua sơ đồ sau:

Quá trình đào tạo

Hình 1.4: Quan hệ giữa mục tiêu và chất lượng đào tạo [11; 34]

b Những yếu tố tạo nên chất lượng dạy học

Quá trình dạy học được cấu thành bởi nhiều thành tố, mỗi thành tố có vị trí xác định, có chức năng riêng, tác động qua lại với nhau và vận động theo quy luật chung, tạo nên chất lượng toàn diện của hệ thống Chúng ta thường xuyên nghiên cứu để hoàn thiện từng thành tố của quá trình dạy học, nâng cao chất lượng của chúng, góp phần hoàn thiện chất lượng của toàn bộ hệ thống mà tựu chung là chất lượng dạy học, chất lượng giáo dục

Dạy học có chất lượng chính là việc thực hiện tốt các nhiệm vụ: cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ Thực hiện tốt 3 nhiệm vụ đó sẽ làm cho hiệu quả dạy học ngày càng cao, chất lượng dạy học ngày càng được nâng lên

Chất lượng dạy học nó được quy tụ bảo đảm ở những yếu tố sau:

Trang 10

1- Mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo.

2- Đội ngũ giáo viên

3- Hoạt động dạy của giáo viên

4- Hoạt động học của học sinh

5- Cơ sở vật chất - trang thiết bị dạy học

6- Đánh giá kết quả hoạt động của học sinh

Trên cơ sở đó các nhà quản lý cần tìm ra các biện pháp khả thi để quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường, mà trọng tâm là hoạt động dạy học

c Quản lý chất lượng dạy học

Quản lý chất lượng dạy học không chỉ là quản lý đơn thuần các hoạt động dạy học

mà còn phải quản lý quá trình tác động tới tất cả các thành tố của hoạt động sư phạm có tác dụng hỗ trợ, giúp đỡ, phục vụ cho hoạt động dạy học của thày và trò, trong đó đặc biệt chú trọng tới những thành tố như: mục tiêu - nội dung - phương pháp - kết quả Quản lý chất lượng dạy học không chỉ là quản lý chất lượng tri thức văn hoá mà còn phải xem xét đến mức độ đạt được của định hướng giá trị, ý chí và thái độ của người học

Quản lý chất lượng dạy học cũng chính là quản lý các hoạt động toàn diện trong trường nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học trong quá trình đào tạo Phương hướng để nâng cao chất lượng dạy học là phải cải tiến các biện pháp hoạt động sư phạm và biện pháp quản lý, trong đó đổi mới biện pháp quản lý là then chốt và phải đi trước một bước Trong giai đoạn hiện nay cần đặc biệt quan tâm tới việc tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục

1.3 quản lý hoạt động dạy học ở trường trung cấp chuyên nghiệp

1.3.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của trường trung cấp

Căn cứ vào quyết định số 24/2000/QĐ-BGD-ĐT ngày 11 tháng 07 năm 2000 của

Bộ Trưởng Bộ GD&ĐT về việc ban hành Điều lệ trường trung học chuyên nghiệp (theo quy định mới của Luật Giáo dục năm 2005 nay gọi tên là

trường trung cấp chuyên nghiệp), trường trung cấp chuyên nghiệp có những nhiệm vụ và quyền hạn sau: [14,tr 1]

- Tổ chức quá trình đào tạo và hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu Chương trình đào tạo các ngành nghề được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép

- Xây dựng chương trình đào tạo, kế hoạch giảng dạy trên cơ sở chương trình khung do Bộ

- Quản lý giáo viên cán bộ và nhân viên

- Tuyển sinh và quản lý học sinh

- Phối hợp với gia đình HS, các tổ chức cá nhân trong hoạt động GD&ĐT

- Tổ chức cho giáo viên, cán bộ nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xã hội

- Quản lý và sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quy định của pháp luật

- Liên kết với các tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội, các cơ sở đào tạo nhằm phát triển công tác đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với việc làm, phục vụ phát triển kinh

tế - xã hội, bổ sung nguồn tài chính cho trường

Trang 11

- Sử dụng nguồn thu từ ngân sách nhà nước cấp, từ hoạt động kinh tế để đầu tư xây dựng

cơ sở vật chất của trường, mở rộng sản xuất, kinh doanh theo ngành, nghề và cho cho các hoạt động giáo dục, ĐT theo quy định của pháp luật.- Hợp tác về đào tạo, nghiên cứu khoahọc với nước ngoài theo quy định của Chính phủ

- Được nhà nước giao đất, được thuê đất, được miễn giảm thuế và vay tín dụng theo quy định của pháp luật ;

- Các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

1.3.2 Nội dung quản lý hoạt động dạy học ở trường trung cấp

Quản lý hoạt động dạy và hoạt động học là nội dung chủ yếu trong việc quản lý quá trình dạy học ở trường trung cấp chuyên nghiệp Tuy nhiên quản lý hoạt động dạy học cần đượcthực hiện một cách đồng bộ và đan xen với việc quản lý các thành tố cơ bản của quá trình dạy học Nội dung cụ thể được thể hiện ở các vấn đề sau:

a Quản lý hoạt động dạy của thày:

Hoạt động dạy của thày là hoạt động chủ đạo trong quá trình dạy học, quản lý hoạt động này bao gồm: QL việc thực hiện kế hoạch, chương trình dạy, quản lý việc soạn bài và chuẩn bị bài trước khi lên lớp, quản lý giờ lên lớp của giáo viên, quản lý việc dự giờ và phân tích bài học sư phạm, quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

1) Quản lý việc thực hiện chương trình

Thực hiện chương trình dạy học là thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu của nhà trường, nó là pháp lệnh của Nhà nước do Bộ GD&ĐT ban hành Yêu cầu đối với hiệu trưởng là phải nắm vững chương trình, tổ chức cho giáo viên tuân thủ một cách nghiêm túc, không được tùy tiện thay đổi, thêm bớt làm sai lệch chương trình dạy học

Sự nắm vững chương trình dạy học là việc đảm bảo để Hiệu trưởng quản lý thực hiện tốt chương trình dạy học, nội dung quản lý đó bao gồm:

- Nắm vững những nguyên tắc cấu tạo chương trình, nội dung và phạm

vi kiến thức dạy học của từng môn học, cấp học

- Nắm vững PPDH của từng môn học, từng khối lớp trong trường

- Không được giảm nhẹ, nâng cao hoặc mở rộng so với yêu cầu nội dung, phạm vi kiến thức quy định của từng chương trình môn học

- Vận dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau, kết hợp giữa các hình thức dạy học trên lớp, ngoài lớp, thực hành một cách hợp lý

- Dạy học và coi tất cả các môn học theo quy định của phân phối chương trình - nghiêm cấm việc cắt xén, dồn ép bài học, thêm bớt tiết học với bất cứ môn học nào, lớp học nào, dưới bất kỳ hình thức nào

Để việc quản lý thực hiện chương trình dạy học đạt kết quả, đảm bảo thời gian cho việc thực hiện chương trình dạy học người quản lý phải chú ý sử dụng thời khóa biểu như là công cụ để theo dõi, điều khiển và kiểm soát tiến độ thực hiện chương trình dạy học, để thường xuyên, kịp thời điều chỉnh những lệch lạc trong quá trình thực hiện chương trình dạy học

2) Quản lý việc sọan bài và chuẩn bị lên lớp

Soạn bài là khâu quan trọng nhất trong việc chuẩn bị của giáo viên cho giờ lên lớp, tuy nó chưa dự kiến hết các tình huống trong quá trình lên lớp nhưng soạn bài thực sự là lao độngsáng tạo của từng giáo viên, nó thể hiện sự suy nghĩ, lựa chọn, quyết định của giáo viên vềnội dung, phương pháp giảng dạy, hình thức lên lớp phù hợp đối tượng học sinh và đúng yêu cầu của chương trình

Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị bài trước khi lên lớp phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Đảm bảo tính tư tưởng, tính giáo dục của bài giảng

Trang 12

- Thực hiện soạn bài phải đúng quy chế, chu đáo trước khi lên lớp, chống việc soạn để đối phó với kiểm tra.

- Đảm bảo nội dung, tri thức khoa học mang tính giáo dưỡng Đưa việc soạn bài, chuẩn bị lên lớp vào nề nếp, nghiêm túc và đảm bảo chất lượng

- Chỉ đạo không rập khuôn máy móc, đảm bảo và khuyến khích tính tích cực, tự giác và sáng tạo của giáo viên

Để soạn bài chuẩn bị lên lớp của giáo viên có thể thực hiện theo một kế

hoạch đồng bộ và có hiệu quả, hiệu trưởng nhà trường cần phải phân công trách nhiệm cụ thể cho cán bộ giáo viên trong nhà trường, tạo mọi điều kiện để họ thực hiện tốt việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp, có kế hoạch thường xuyên kiểm tra, theo dõi khuyến khích kịp thời, đồng thời điều khiển những sai lệch nhằm thực hiện đúng những quy định đề ra.3) Quản lý giờ lên lớp của giáo viên

Hoạt động dạy và học trong nhà trường hiện nay được thực hiện chủ yếu bằng hình thức dạy và học trên lớp, với những giờ lên lớp và hệ thống bài học cụ thể Chính vì vậy trong quá trình quản lý dạy và học của mình người quản lý phải có những biện pháp tác động cụthể, phong phú và linh hoạt để nâng cao chất lượng giờ lên lớp của giáo viên, đó là việc làm của hiệu trưởng, là trách nhiệm của người quản lý

Quản lý giờ lên lớp của giáo viên phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu sau:

- Xây dựng được “ chuẩn ” giờ lên lớp để quản lý giờ lên lớp của giáo viên Chuẩn này ngoài những quy định chung của ngành như thông tư 13/TT- GD&ĐT ngày 12/9/1994 Cần thường xuyên bổ sung, điều chỉnh để thực hiện được sự tiến bộ chung của trường và của giáo viên trong trường

- Phải xây dựng nề nếp giờ lên lớp cho thày và trò nhằm đảm bảo tính nghiêm túc trong mọi hoạt động hết sức nhịp nhàng của nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng dạy học

- Phải tác động đến giờ lên lớp một cách tích cực và càng trực tiếp càng tốt để mọigiờ lên lớp thực hiện đúng mục tiêu

- Để đảm bảo được những yêu cầu quản lý giờ lên lớp, người quản lý cần quy định và rõ chế độ thực hiện và kiểm tra, sử dụng thời khóa biểu nhằm kiểm soát các giờ lên lớp, duy trì nề nếp dạy học, điều khiển nhịp điệu dạy học và tạo nên bầu không khí sư phạm trong nhà trường

4) Quản lý việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học

Nét đặc thù cơ bản của người quản lý trường học khác với người quản lý khác là có hoạt động dự giờ và phân tích sư phạm bài học Đây là chức năng trung tâm của hiệu trưởng trong việc quản lý hoạt động dạy học Để quản lý viêc dự giờ và phân tích sư phạm bài học có hiệu quả cần quán triệt đầy đủ những yêu cầu cơ bản sau đây:

- Phải nắm vững được lý luận dạy học và lý thuyết về bài học, nắm vững quan điểm trong phân tích sư phạm bài học

- Nắm vững các bước trong việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học để chỉ đạo tất cả giáo viên trong trường thực hiện

- Tổ chức tốt việc dự giờ trong trường, có chế độ dự giờ rõ ràng, có kế hoạch cụ thể, đặc biệt phải có chuẩn đánh giá phù hợp, có đầy đủ hồ sơ dự giờ, đánh giá đúng tình hình giờ lên lớp cũng như chất lượng giờ lên lớp trên cơ sở đó tìm ra những biện pháp thích hợp cho công tác quản lý giờ lên lớp

Để nâng cao chất lượng dự giờ, phân tích sư phạm bài học cần có tổ chức các chuyên đề

về giờ lên lớp, như trao đổi về nội dung và phương pháp giảng dạy, xây dựng giờ dạy mẫu, tổ chức dạy thử, tổ chức kiến tập, thao giảng nhằm giúp giáo viên nắm vững lý thuyết, rút kinh nghiệm về phương pháp giảng dạy, về các bước trong dự giờ và phân tích

sư phạm bài giảng trên cơ sở đó khuyến khích sự sáng tạo của giáo viên Hiệu trưởng nhà

Trang 13

trường cần phải có tổ chức tốt để tạo điều kiện cho giáo viên phát huy khả năng của mình nhằm nâng cao chất lượng dạy học

5) Quản lý hồ sơ chuyên môn của giáo viên

Hồ sơ chuyên môn của giáo viên là phương tiện phản ánh quá trình quản lý có tính khách quan và cụ thể, giúp hiệu trưởng nắm chắc hơn, cụ thể hơn tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo viên

Có thể nói hồ sơ chuyên môn của giáo viên là một trong những cơ sở pháp lý để nói lên việc thực hiện nề nếp chuyên môn Nhưng hồ sơ chuyên môn của giáo viên không thể xemđồng nghĩa với năng lực giảng dạy của giáo

viên trên lớp Nó chỉ là điều kiện cần thiết

Hồ sơ của giáo viên phục vụ hoạt động dạy học theo Điều 37, Điều lệ trường trung học chuyên nghiệp gồm:

và học

6) Quản lý hoạt động kiểm tra- đánh giá kết quả học tập của HS

Kiểm tra đánh giá là bộ phận hợp thành, không thể thiếu được trong quá trình dạy học ở tất cả các môn học Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh được tồn tại đồng thời với quá trình dạy học, đó là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ và khả năng thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp phù hợp giúp học sinh học tiến bộ

Cũng chính qua việc quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá học sinh của giáo viên, người quản lý sẽ nắm bắt được chất lượng dạy và học của người dạy lẫn người học, việc quản lý hoạt động kiểm tra kết quả học tập của học sinh là điều rất quan trọng

Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, là việc làm hết sức cần thiết của người quản lý nhằm tác động trực tiếp đến giáo viên thực hiện đầy đủ và chính xác quá trình kiểm tra đánh giá, thúc đẩy quá trình nâng cao hiệu quả dạy học theo mục tiêu Quản

lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh phải đạt được những yếu cầu

cơ bản sau đây:

- Phải thực hiện nghiêm chỉnh quy chế chuyên môn của nhà trường thông qua điểm

số, đánh giá chất lượng học của HS và giảng dạy của giáo viên, từ đó rút ra được những vấn đề cần phải điểu chỉnh, uốn nắn và bổ sung, giúp cho người QL chỉ đạo hoạt động nàymột cách đầy đủ, chặt chẽ hơn

- Phải thực hiện đầy đủ nghiêm túc các văn bản hướng dẫn về đánh giá xếp loại học sinh

- Việc đánh giá xếp loại học sinh phải công bằng chính xác, tránh những biểu hiện sai lệch không đúng thực chất Trong quá trình thực hiện, hiệu trưởng cần phân công cụ thể cho cán bộ quản lý cấp dưới lập kế hoạch kiểm tra đánh giá học tập một cách đầy đủ theo yêu cầu của chương trình Đồng thời hiệu trưởng thường xuyên kiểm tra, xem xét việc thực hiện nhiệm vụ của các đối tượng để đảm bảo công việc đã đề ra, từng bước nâng cao chất lượng toàn diện của quá trình dạy học

b Quản lý hoạt động học tập của học sinh:

Trang 14

Hoạt động học tập của học sinh là một hoạt động song song tồn tại cùng với hoạt động dạy của thày giáo Vì vậy quản lý hoạt động của học sinh sinh cần phải đạt được những yêu cầu chủ yếu sau

- Phải làm cho học sinh có thái độ đúng đắn trong học tập và rèn luyện, ham thích đến trường, đến lớp ham học các môn học, tự giác tìm tòi phát hiện vấn đề, chủ động lĩnh hội kiến thức, biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục

- Phải tổ chức hướng dẫn cho học sinh học tập, giúp học sinh học tập có phương pháp, nắm được các phương pháp học tập ở từng môn

- Phải làm cho học sinh có nề nếp thói quen học tập tốt, làm cho hoạt động học tập

ở nhà trường có kỷ luật, có trật tự

- Kết quả kiểm tra, xếp loại phản ánh được khả năng học tập của học sinh Kết quả này giúp cho học sinh nhận ra mặt mạnh, mặt hạn chế để vươn lên đồng thời nó giáo dục cho học sinh tính trung thực trong học tập, cuộc sống Việc quản lý học tập của học sinh phải được thực hiện đầy đủ, toàn diện và mang tính giáo dục cao Quản lý hoạt động học tập của học sinh bao gồm các nội dung sau:

1) Quản lý việc giáo dục phương pháp học tập cho học sinh:

Phương pháp học tập là vấn đề hết sức quan trọng trong việc nâng cao

chất lượng học tập của học sinh Vì vậy quản lý việc hướng dẫn phương pháp học tập cho học sinh cần phải đạt được những yêu cầu chủ yếu là:

- Làm cho học sinh nắm được kỹ năng chung của hoạt động học tập

- Làm cho học sinh có kỹ năng học tập phù hợp với từng bộ môn

- Giúp học sinh có phương pháp học tập ở trên lớp

- Giúp cho học sinh có phương pháp học tập ở nhà

Để đạt được những yêu cầu trên, hiệu trưởng phải tổ chức học tập nghiên cứu, bồi dưỡng để toàn thể giáo viên trong nhà trường nắm vững và thống nhất các phương pháp học tập và trách nhiệm của các đối tượng, từ đó vạch vạch ra kế hoạch chỉ đạo thực hiện

và thường xuyên kiểm tra đôn đốc điều chỉnh, uốn nắn kịp thời biểu hiện những sai lệch nhằm thực hiện có hiệu quả việc giáo dục phương pháp học tập cho học sinh

2) Quản lý nề nếp thái độ học tập cho học sinh:

Nề nếp học tập, kỷ luật học tập của học sinh là những điều quy định cụ thể về tinh thần, thái độ, hành vi ứng xử nhằm làm cho hoạt động học tập được hoạt động nhịp nhàng

và có hiệu quả Nề nếp học tập sẽ quyết định nhiều đến kết quả học tập Vì vậy cần phảixây dựng và hình thành được những nề nếp học tập sau đây:

- Phải xây dựng cho học sinh có tinh thần, thái độ học tập tốt, chuyên cần, chăm chỉ, có nề nếp học bài và làm bài đầy đủ

- Giúp học sinh có nề nếp tổ chức học tập ở trường cũng như ở nhà và những nơi sinh hoạt văn hóa

- Nề nếp sử dụng, bảo quản và chuẩn bị đồ dùng học tập

- Xây dựng được nề nếp khen thưởng, kỷ luật, chấp hành nề nếp nội quy học tập cho học sinh

Như vậy có xây dựng được nề nếp học tập tốt sẽ duy trì mọi hoạt động

học tập tốt, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Vì vậy hiệu trưởng nhà trường phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, nhận xét tình hình thực hiện nề nếp và phân công trách nhiệm cụ thể cho các đối tượng để phối hợp thực hiện

, tạo môi trường thuận lợi cho sự giáo dục của nhà trường

3) Phối hợp các lực lượng giáo dục QL hoạt động học tập của học sinh

Hoạt động của học sinh trong nhà trường diễn ra trong không gian và thời gian tương đối rộng, hoạt động học tập chủ yếu là học trên lớp và ở nhà, vì vậy cần phải tổ chức phối hợpgiữa giáo viên chủ nhiệm, đoàn thanh niên, cán bộ quản lý học sinh nhà trường và gia đình

Trang 15

học sinh nhằm đưa hoạt động học tập của học sinh vào nề nếp chặt chẽ từ trong trường, lớp đến gia đình Trong sự phối hợp này cần đặc biệt chú ý đến vai trò hoạt động tổ chức đoàn thanh niên thông qua hoạt động tập thể giúp các em phát huy vai trò tự giác tích cực,

tự quản các hoạt động học tập của mình Đồng thời thông qua hoạt động cần động viên khích lệ tinh thần học tập tiến bộ của học sinh một cách thường xuyên nhằm thưc đẩy sự

cố gắng vuơn lên của các em, nâng cao chất lượng học tập theo yêu cầu mục tiêu đặt ra

Có thể nói, quản lý hoạt động học của trò là yêu cầu không thể thiếu được trong hoạt độngdạy học của nhà trường Nếu quản lý tốt đối tượng này sẽ tạo cho học sinh ý thức tự giác trong học tập, rèn luyện, từ đó các em sẽ có được thái độ, động cơ học tập đúng đắn góp phần nâng cao hiệu quả học tập thực hiện được mục tiêu giáo dục đề ra

c Quản lý cơ sở vật chất - thiết bị dạy học

Cơ sở vật chất là điều kiện tiên quyết cho nhà trường hình thành và đi vào hoạt động, là điều kiện không thể thiếu được trong việc nâng cao chất lượng đào tạo Cơ sở vật chất - thiết bị dạy học của nhà trường là hệ thống các phương tiện vật chất - kỹ thuật dạy

và học của nhà trường

Quản lý cơ sở vật chất - thiết bị dạy học phục vụ cho dạy và học đảm bảo được 3 yêucầu liên quan mật thiết với nhau đó là:

- Đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất - thiết bị dạy và học

- Sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất - thiết bị trong việc dạy và học

- Tổ chức QL tốt cơ sở vật chất - thiết bị dạy và học trong nhà trường

Nội dung quản lý cơ sở vật chất - thiết bị dạy học phục vụ dạy và học trong nhà trường bao gồm:

- Quản lý lớp học, phòng học, các đồ dùng trong lớp học

- Quản lý các trang thiết bị phục vụ dạy học, hoạt động của các phòng bộ môn, phòng thực hành, thí nghiệm và các phòng chức năng khác

- Quản lý thư viện trường học với các giáo trình, tài liệu sách báo

- Quản lý đồ dùng học tập của học sinh

d Quản lý nguồn kinh phí chi cho hoạt động dạy và học :

Trong bất kỳ tổ chức đơn vị nào thì nguồn kinh phí tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì các hoạt động dạy và học trong nhà trường, nó là nguồn lực dùng

để chi trả lương cho cán bộ, giáo viên, khen thưởng giáo viên, học sinh có thành tích trongdạy và học

Ngoài nguồn ngân sách của nhà nước chi thường xuyên cho trường chiếm tỷ lệ rất lớn thì nhà trường còn tạo nguồn kinh phí bằng nhiều cách như:

- Kinh phí được trích từ nguồn học phí, qua việc dạy các lớp tại chức trong và ngoài trường, lớp bồi dưỡng cán bộ, các lớp đào tạo liên kết với các huyện

- Kinh phí được chi cho các hoạt động chuyên môn như: hoạt động đào tạo, hội thi, thao giảng, thí nghiệm thực hành, chi khen thưởng cho cán bộ, giáo viên và học sinh có thành tích tốt,

- Kinh phí hỗ trợ giáo viên đi bồi dưỡng chuyên môn và đào tạo trên chuẩn như thạc sĩ, tiến sĩ

Nếu nhà trường tạo nguồn kinh phí tốt và sử dụng đúng vào mục đích trên thì người quản lý không những thực hiện tốt phương pháp kinh tế mà còn

làm tốt phương pháp tâm lý- xã hội trong quản lý giáo dục Nội dung quản lý hoạt động dạy và học ở nhà trường được tóm tắt bằng sơ đồ sau:

Trang 16

Hình 1.5 : Nội dung quản lý hoạt động dạy và học ở nhà trường [38 ]

Chương II

thực trạng chất lượng dạy học và quản lý

nâng cao chất lượng dạy học trường trung cấp

kinh tế - kỹ thuật Bắc Giang

2.1 Lịch sử phát triển Trường trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật

Bắc Giang

2.1.1 Đặc điểm kinh tế- xã hội của tỉnh Bắc Giang và tác động của nó tới quá trình dạy học ở các trường Trung cấp chuyên nghiệp

a Đặc điểm kinh tế- xã hội của tỉnh Bắc Giang

Bắc Giang là tỉnh miền núi có 10 huyện thị, diện tích tự nhiên là 3.822 km2, dân số là 1.522.807 người phân bố tương đối đồng đều ở các huyện thị, gồm nhiều dân tộc khác nhau trong đó dân tộc kinh là chủ yếu chiếm hơn 80% dân số của tỉnh nhà

Là vùng đất có bề dày lịch sử và truyền thống hiếu học, đấu tranh Cách mạng, trong khángchiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng Vũ trang Nhân dân Bắc Giang có vị trí quan trọngtrong chiến lược phát triển KT-XH của đất nước Sau những năm đổi mới đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, phát triển, các khu công nghiệp được hình thành và phát triển mạnh đã đi vào sản xuất, bộ mặt đô thị ngày càng được mở rộng và khang trang hơn Các ngành nghề truyền thống được khôi phục và hoạt động có hiệu quả góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế tỉnh nhà

Nền kinh tế của tỉnh Bắc Giang tăng trưởng khá Trong 5 năm từ 2001 - 2005, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 8,3%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Năm 2005 tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng chiếm 43,5%, công nghiệp - xây dựng chiếm 22%; dịch vụ chiếm 34,5% GDP bình quân đầu người năm 2005 đạt 305 USD Các thành phần kinh tế được khuyến khích và phát triển đúng hướng Việc đầu tư phát triển có chuyển biến mới Sự nghiệp GD&ĐT của tỉnh đạt nhiều thành tựu đáng kể

Sự nghiệp khoa học - công nghệ và môi trường có bước chuyển biến tích cực Các lĩnh

Trang 17

vực văn hoá - xã hội có tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện Song nền kinh tế của tỉnh nhà còn không ít khó khăn, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, tốc độ phát triển chậm, đời sống vật chất tinh thần của một số bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, bên cạnh do tác động của mặt trái cơ chế thị trường Sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ nét.chính những đặc điểm kinh tế - xã hội ấy đã có những tác động thuận lợi, nhưng cũng không ít khó khăn cho giáo dục - đào tạo.

Thuận lợi: Môi trường giáo dục thuần nhất, nhịp sống khẩn trương náo nhiệt của nền kinh

tế thị trường chưa thâm nhập sâu và tác động đến nhà trường Truyền thống cần cù chịu khó và hiếu học của người Kinh bắc đã tác động nhiều đến quá trình học tập của học sinh Đội ngũ giáo viên có điều kiện tiếp xúc gần gũi đồng cảm với điều kiện hoàn cảnh học sinh phần nào tăng thêm tình thương yêu tận tụy với nghề nghiệp, đó cũng là yếu tố cơ bản giúp cho các trường trong tỉnh nhiều năm qua giữ vững ổn định, nâng cao chất lượng dạy học và phát triển trong những năm gần đây

Khó khăn: Mức thu nhập của dân bình quân trên đầu người trong tỉnh còn thấp, chưa đạt bình quân đầu người của cả nước, thu nhập chính dựa vào sản xuất nông nghiệp, trình độ dân trí chưa cao Việc huy động cộng đồng tham gia vào công tác giáo dục còn nhiều hạn chế Đầu tư cho học tập chưa cao Một bộ phận nhân dân còn ỷ lại, khoán trắng cho nhà trường, thờ ơ và chưa quan tâm đến con em mình về việc học tập và việc làm sau này

b Phương hướng phát triển đến năm 2010

- Tập trung đầu tư phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp nâng cao tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ giữ vững, ổn định sản xuất lương thực, chuyển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá; đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu theo hướng CNH , HĐH, tiếp tục phát triển GD&ĐT, tăng cường đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lao động một cách hợp lý tạo bước chuyển biến mạnh về chất lượng và giáo dục toàn diện, mở rộng đào tạo bồi dưỡng nghề cho người lao động Đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục đào tạo phấn đấu đến năm 2010 thành lập trường Đại học Bắc Giang trong đó trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang là một khoa của trường Đại học

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của nhà trường

- Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang được thành lập ngày 15/12/1989 theo Quyết định số 899/ UB của UBND tỉnh Hà Bắc trên cơ sở sát nhập các trường Trường trung cấp tài chính, trường trung cấp nông nghiệp và trường dạy nghề nội thương của tỉnh

Hà Bắc cũ Sau khi chia tách tỉnh ngày 20/ 01/1997 UBND tỉnh Bắc Giang có quyết định

số 56/ UB về việc gọi tên trường: Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang

- Từ khi thành lập trường đến nay, trường đã liên tục phấn đấu nỗ lực phục vụ nhiệm vụ đào tạo để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Công tác đào tạo thường xuyên được đổi mới, đang từng bước gắn chặt hơn giữa đào tạo và sử dụng, với việc làm của học sinh sau khi tốt nghiệp Gần đây đang chuyển mạnh toàn diện cả về mục tiêu và phương thức đào tạo, tiếp tục phát triển để đáp ứng các yêu cầu mới của tỉnh

- Trong quá trình xây dựng và trưởng thành, trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang đã khẳng định được vị trí của trường trong hệ thống giáo dục trung cấp chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho ngành kinh tế và ngành nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu phát triển nền kinh tế của tỉnh nhà cũng như của xã hội

- Theo Quyết định số 204/ 2002/ QĐ-UB ngày 24/10/2002 của UBND tỉnh Bắc Giang về việc phê duyệt đề án thành lập trường Đại học Bắc Giang, trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang sẽ phát triển theo định hướng: đến năm 2007 được nâng cấp lên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật và đến năm 2010 sẽ thành cơ sở 2 của trường Đại học Bắc Giang

a Nhiệm vụ, quy mô đào tạo của nhà trường

Trang 18

1) Nhiệm vụ của nhà trường.

- Căn cứ vào Quyết định số 899/ UB của UBND tỉnh Bắc Giang và điều lệ tổ chức hoạt động của trường Trung cấp chuyên nghiệp ban hành Theo đó nhiệm vụ hiện nay của trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang được xác định là:

- Đào tạo cán bộ Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật với 3 chuyên ngành là:

+ Ngành hạch toán - kế toán ;+ Ngành quản lý kinh tế ;+ Ngành kỹ thuật nông nghiệp

- Bồi dưỡng và đào tạo lại cán bộ, công chức QL kinh tế theo yêu cầu của Bộ GD&ĐT,

Bộ tài chính và các cơ quan đơn vị có nhu cầu

- Thực hiện quan hệ hợp tác, liên kết với các cơ quan, tổ chức, trường Cao đẳng kinh tế, các đơn vị sản xuất kinh doanh trong nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

- Tổ chức công tác nghiên cứu, triển khai khoa học quản lý kinh tế, khoa học giáo dục, thực hiện gắn đào tạo với nghiên cứu thực nghiệm khoa học và lao động sản xuất nhằm nâng cao chất lượng đào tạo theo yêu cầu phát triển ngày càng cao của sản xuất - kinh doanh

2) Quy mô đào tạo của nhà trường:

Bảng 2.1: Quy mô đào tạo từ năm 2003 đến năm 2010

Quy mô đào tạo của trường thực hiện qua 3 giai đoạn :

- Năm 2005: Hoàn chỉnh trường theo điều lệ trường trung cấp chuyên

nghiệp ( xem quy mô ĐT ở biểu 1 )

- Năm 2007: Nâng cấp trường lên Cao đẳng (xem quy mô ĐT ở biểu 2)

- Năm 2010: Trở thành 2 khoa của trường Đại học Bắc Giang

( xem quy mô ĐT ở biểu 3)

3/ Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của nhà trường

Tổ chức bộ máy quản lý nhà trường

- Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của trường được xây dựng theo mô hình trường trung cấpchuyên nghiệp theo qui định của Điều lệ tổ chức và hoạt động của trường Trung cấp do

Trang 19

* Các cơ sở phục vụ, dịch vụ có: Thư viện, phòng học, phòng thực hành, ký túc

xá, nhà ăn cho học sinh, nhà thi đấu đa năng

* Các Hội đồng có: Hội đồng đào tạo, tuyển sinh, thi đua, khoa học, khen thưởng

và kỷ luật

* Các lớp học có:

- Các lớp học sinh trung cấp hệ chính quy,

- Các lớp học sinh hệ tại chức, hệ ĐT bồi dưỡng công chức,viên chức

-›

Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của nhà trường được thể hiện qua sơ đồ trên

b Phương hướng phát triển của nhà trường đến năm 2010

- Căn cứ vào yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh từ nay đến năm 2010, yếu tố con người (chủ yếu là nguồn nhân lực có trình độ, có kỹ thuật ) là yếu tố có tính quyết định trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh đã nêu ở trên Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang phải phải nâng cấp đào tạo mới đáp ứng một phần trong việc thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho tỉnh

- Việc nâng cấp trường từ trung cấp chuyên nghiệp lên trường Cao đẳng vào năm 2007 và nhập vào trường Đại học năm 2010 là một yêu cầu có tính khách quan và hoàn toàn phù hợp với NQTW2 khoá VIII về GD&ĐT và Nghị quyết TW5

1) Mục tiêu đào tạo:

- Đào tạo các hệ từ sơ cấp đến đại học, trước mắt là các ngành hạch toán

kế toán, kỹ thuật nông nghiệp, quản lý kinh tế, lâu dài sẽ mở rộng đào tạo một số ngành nghề khác phục vụ sự phát triển kinh tế của tỉnh nhà

- Đào tạo những học sinh có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có ý thức thức phục vụ nhândân, có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành về một ngành nghề, có khả năng phát hiện, giải quyết những vấn đề thông thường thuộc về chuyên ngành đào tạo

- Phấn đấu đến năm 2007 nâng cấp trường thành trường Cao đẳng, Kinh tế - Kỹ thuật, đếnnăm 2010 sát nhập với trường Đại học Bắc giang

2) Chuyên ngành đào tạo, đối tượng tuyển sinh

Đào tạo cán bộ có trình độ từ sơ cấp đến Đại học tài chính kế toán, kỹ thuật nông nghiệp

và quản lý kinh tế các ngành nghề đào tạo như sau:

+ Quản lý ngân sách nhà nước

+ Quản lý ngân sách xã, phường

Trang 20

- Ngành kỹ thuật nông nghiệp gồm:

+ Chăn nuôi thú y, địa chính, trồng trọt, cơ khí nông nghiệp + Thuỷ sản

+ Quản lý kinh tế nông lâm

- Hàng năm tuyển khoảng 600 học sinh hệ chính quy tập trung, 500 học viên tại chức và đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn cho 1000 người

- Đối tượng tuyển sinh bao gồm: Học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông, học sinh hệ cử tuyển thuộc con em dân tộc trong tỉnh, học sinh tốt nghiệp trung cấp (với hệ Cao đẳng, Đại học)

2.2 Thực trạng chất lượng dạy học và quản lý chất lượng DH ở Trường trung cấp Kinh tế

cờ, giấy khen, bằng khen của Thủ tướng Chính Phủ, Bộ GD&ĐT và UBND Tỉnh Bắc Giang 2 giáo viên giỏi cấp quốc gia và nhiều giáo viên giỏi cấp tỉnh Ngoài ra nhà trường còn được nhiều giải thưởng cao trong các cuộc thi về văn nghệ thể thao, các cuộc hội giảng do tỉnh, sở GD&ĐT tổ chức

Tiến tới kỷ niệm 20 năm ngày thành lập trường, tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh, sinhviên nhà trường quyết tâm phấn đấu thực hiện tốt các chỉ tiêu thi đua, lập nhiều thành tích trong công tác dạy và học, góp phần nâng cao dân chí, đào tạo nhân tài phục vụ quê hương, đất nước Tin rằng với những thành công nhà trường đã đạt được, trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang mãi mãi xứng đáng với niềm tin của lãnh đạo và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang

2.2.2 Thực trạng chất lượng dạy học của trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang

a Chất lượng tuyển sinh

Bắc Giang là tỉnh miền núi, đối tượng tuyển sinh đầu vào hàng năm vào trường chủ yếu

là học sinh thuộc các khu vực miền núi và nông thôn Về học lực của các em đa số là trung bình, tỷ lệ khá, giỏi chiếm rất ít Phần lớn các em vào học tại trường đều là những

em đã tham gia vào kỳ thi tuyển sinh Đại học và Cao đẳng nhưng không đỗ, số học sinh khá giỏi ở các trường phổ thông có nguyện vọng vào trường rất ít chủ yếu là những học sinh có lực học trung bình

Số học sinh khá, giỏi có nguyện vọng thi vào trường là rất ít nguyên nhân chính là do: sau khi tốt nghiệp ở trường cơ hội xin việc làm là rất khó vì nhu cầu sử dụng về kế toán vàcán bộ chăn nuôi thú y ở các cơ quan nhà nước, trường học, doanh nghiệp cơ bản đã đủ không có nhu cầu tuyển dụng

Chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm của trường có chính sách ưu tiên, dành cho học sinh vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số Số học sinh này chủ yếu có học lực trung bình, thậm chí có

cả học lực yếu, bên cạnh đó còn nhiều hạn chế về thông tin, văn hoá, giao lưu xã hội, điều

đó cũng tạo nên những khó khăn nhất định trong quá trình giảng dạy và học tập tại trường.Qua khảo sát thực trạng tại trường cho thấy chất lượng tuyển sinh được thể hiện qua bảngsau:

Bảng 2.2: Điểm tuyển sinh vào trường qua các năm học

Trang 21

b Tỷ lệ học sinh lên lớp, học sinh khá giỏi và tốt nghiệp.

Nhà trường đã có nhiều biện pháp thiết thực để nâng cao chất lượng ĐT, tuy đã có sự bứt phá, có bước ngoặc mới về chất lượng ĐT thực chất trong các năm học vừa qua song vẫn

ở tình trạng chất lượng thấp so với yêu cầu sử dụng

Bảng 2.3: Kết quả học tập qua các năm học từ 2000- 2005

Năm học Lên lớp Khá giỏi Tốt nghiệp

Như vậy qua theo dõi bảng thống kê về kết quả học tập ta có thể nhận xét như sau:

- Chất lượng tuyển sinh đầu vào còn thấp, tỷ lệ lên lớp và tốt nghiệp vẫn đạt được mục tiêu đề ra

- Tỷ lệ học sinh lên lớp, học sinh khá giỏi, học sinh tốt nghiệp hàng năm có tăng song vẫncòn chậm

Về kết quả rèn luyện đạo đức qua các năm học của nhà trường được thể hiện qua bảng sau

Bảng 2.4: Kết quả rèn luyện qua các năm học từ 2000-2005:

Trang 22

- Từ 30 - 40 : 06 = 20 %

- Từ 40 - 50 : 09 = 30 %

- Từ 50 trở lên : 03 = 10 %3/ Trình độ chuyên môn và thâm niên giảng dạy:

Như vậy chất lượng đội ngũ giáo viên nhà trường không đồng đều, Số giáo viên có tuổi nghề, tuổi đời cao nhưng chất lượng dạy học không đồng đều, bên cạnh số giáo viên tâm huyết với nghề nghiệp, gương mẫu trong công tác còn một số bộ phận sa sút về ý chí, giảng dạy thiếu nhiệt tình, ít đọc sách, không cải tiến đổi mới phương pháp giảng dạy, nên

số giáo viên này chưa có cách tiếp cận tốt với sự thay đổi của nội dung và chương trình nhà trường đề ra Đó cũng là những khó khăn nhất định của nhà trường trong giai đoạn phát triển hiện nay để nâng cấp lên Cao đẳng và Đại học vào năm 2010 Do vậy đòi hỏi

Trang 23

người quản lý phải nghiên cứu đưa ra các biện pháp quản lý thiết thực, hiệu quả mới đạt được mục tiêu đề ra

2.2.3 Thực trạng quản lý chất lượng dạy học của trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật BắcGiang

2.2.3.1 Quản lý mục tiêu, nội dung và chương trình đào tạo

a Quản lý mục tiêu đào tạo:

- Đào tạo bậc trung học và dưới trung học, gồm các ngành nghề hạch toán - kế toán, quản

lý kinh tế, kỹ thuật nông nghiệp và lâu dài sẽ mở rộng đào tạo một số ngành nghề khác phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh nhà

- Đào tạo học sinh có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành về một số ngành nghề, có khả năng phát hiện,giải quyết những vấn đề thông thường về chuyên ngành đào tạo

b Quản lý nội dung và chương trình đào tạo:

- Đảm bảo quy định chương trình khung của Bộ GD&ĐT đối với từng cấp học, trường đã

tổ chức xây dựng nội dung, chương trình đào tạo phù hợp với mỗi khoá, ngành học, và đảm bảo tính ứng dụng thực tiễn ở địa phương Chương trình đào tạo được soạn thảo trên nguyên tắc: Cơ bản - hiện đại và phát triển năng lực thực hành, nhằm đảm bảo cho người học sau khi tốt nghiệp có khả năng thích nghi ngay với công việc đã được đào tạo ở các cơquan nhà nước, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nông nghiệp Do đặc thù của ngành, đòi hỏi đào tạo nguồn lực phục vụ cho nhiều cấp như kế toán trưởng, kế toán viên, bậc sơ cấp, bồi dưỡng ngắn hạn Vì vậy khi thiết kế nội dung phải tạo ra sự gia tăng (về khối lượng kiến thức và số tiết môn học ), sự khác biệt giữa các bậc học

- Qua 20 giáo viên được hỏi về việc đánh giá chương trình đào tạo hệ trung học kết quả đãcho thấy: tính khoa học 66% tính thực tiễn 56%, tính hệ thống 54% Tính cơ bản 86%, đảm bảo tỷ lệ lý thuyết và thực hành 53%, tính cập nhật thông tin 45%, tính hiện đại 33%

và tính chuyên sâu 39%

- Từ kết quả đánh giá cho thấy mặt mạnh trong chương trình đào tạo đó là khối lượng kiến thức cơ bản, tỷ lệ giữa lý thuyết và thực hành, thực tập, khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước là phù hợp Từ đó cho thấy việc bố trí thờigian thực tập tại các cơ sở trong nội dung chương trình đào tạo có ý nghĩa quan trọng Chính điều đó cho phép đánh giá hiệu quả đào tạo thông qua mối quan hệ giữa mục tiêu đào tạo, kết quả đào tạo( đạt chất lượng trong ) với nhu cầu xã hội ( đạt chất lượng ngoài).2.2.3.2 Quản lý hoạt động dạy của đội ngũ giáo viên

Trường xác định quản lý hoạt động dạy của giáo viên thực chất là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ của đội ngũ GV và từng giáo viên, phấn đấu đến năm 2007 trường đủ số lượng giáo viên theo biên chế của khoa, nâng cấp lên trường Cao đẳng

Đội ngũ giáo viên được đào tạo cơ bản, có trình độ ngoại ngữ, tin học theo quy định của

Bộ GD&ĐT có khả năng nghiên cứu khoa học, cập nhật kiến thức, thông tin mới đáp ứng nhiệm vụ giảng dạy của trường trong tình hình mới

a Quản lý việc lập kế hoạch của giáo viên

Việc lập kế hoạch của đội ngũ giáo viên cũng như từng giáo viên là khâu có tính chất tiền đề, định hướng cho toàn bộ quá trình hoạt động dạy học của giáo viên và cũng là cơ

sở cho việc quản lý giáo viên Việc quản lý kế hoạch hoạt động của giáo viên nằm trong

hệ thống quản lý hoạt động dạy học của trường, chỉ tiêu nhiệm vụ năm học, kế hoạch giảng dạy của phòng, tổ bộ môn và từng giáo viên

Như vậy để đánh giá thực trạng quản lý việc lập kế hoạch của đội ngũ giáo viên của trường tác giả đề tài đã xin ý kiến đánh giá của 30 cán bộ quản lý và giáo viên nhà trường kết quả thể hiện ở bảng như sau:

Bảng 2.6: Thực trạng QL hoạt động lập kế hoạch của đội ngũ giáo viên

Trang 24

b Quản lý kế hoạch giảng dạy:

- Vào đầu năm học nhà trường xây dựng kế hoạch và chỉ tiêu chung cho cả năm học sau

đó các phòng ban, tổ bộ môn trên cơ sở kế hoạch của nhà trường xây dựng kế hoạch hoạt động cho đơn vị mình Từ đó giáo viên trực tiếp xây dựng kế hoạch giảng dạy của mình dựa trên kế hoạch giảng dạy của tổ bộ môn, của phòng phân công cho từng giáo viên Việclập kế hoạch này được tiến hành ngay từ đầu năm học (kế hoạch năm) Sau khi giáo viên xây dựng kế hoạch xong được gửi lại tổ bộ môn, phòng đào tạo, Ban giám hiệu duyệt kế hoạch của từng đơn vị Đây là căn cứ để nhà trường kiểm tra, theo dõi tiến độ thực hiện công việc của mỗi đơn vị, của mỗi giáo viên trong quá trình giảng dạy

- Mọi công tác điều hành giảng dạy, kiểm tra đánh giá giáo viên đều dựa trên cơ sởcủa kế hoạch Trong kế hoạch giảng dạy của giáo viên không chỉ thể hiện tiến độ thực hiện chương trình dạy học mà còn thể hiện rõ cả ý đồ thực hiện bài giảng cụ thể: bao gồm PPDH, phương tiện và thiết bị dạy học, môi trường sư phạm Trong đó phương pháp giảngdạy phải phù hợp với nội dung kiến thức

c Quản lý kế hoạch NCKH và tự học của giáo viên

Xác định nhiệm vụ chính trị trọng tâm của giáo viên trong trường là giảng dạy đi đôi với NCKH, do đó mọi giáo viên phải có kế hoạch nghiên cứu khoa học và tự học của mình dựa trên cơ sở kế hoạch của nhà trường của phòng và bộ môn Giáo viên tuỳ theo khả năng và nhiệm vụ đăng ký xây dựng kế hoạch cho sát: xây dựng hồ sơ bài giảng, kinh nghiệm giảng dạy, cải tiến phương pháp dạy học, kỹ năng hướng dẫn thực hành nghề Những năm gần đây nhà trường đã quan tâm đúng mức, giữ vững và tăng cường nề nếp

kỷ cương trong công tác NCKH trên cơ sở đó nâng cao dần chất lượng, hiệu quả của công tác này trong trường, chuẩn bị các điều kiện để có thể nâng cấp đề tài NCKH vào các năm tiếp theo Nhà trường đã đề ra chỉ tiêu trong các năm học như sau:

- 100 % giáo viên có đề tài NCKH

- Đề tài cấp tỉnh đạt 20% còn lại 80% đạt cấp cơ cơ sở

Để thực hiện tốt chỉ tiêu đề ra nhà trường đã đề ra các giải pháp sau:

- BGH nhà trường có hướng dẫn riêng về công tác NCKH để đảm bảo công tác này được tiến hành bình thường đối với mọi giáo viên trong suốt cả năm học

- Tổ chức cho giáo viên trao đổi học tập giao lưu với các đơn vị bạn trong công tác NCKH để nâng cao năng lực NCKH cho giáo viên

Trang 25

- Kết hợp giữa việc BGH giao đề tài với việc tự đăng ký đề tài trong giáo viên và các đơn vị

- Rà soát kết quả NCKH của các năm trước, chọn lọc phát huy tác dụng của những bài có chất lượng khá để cho giáo viên và học sinh tham khảo phục vụ cho việc giảng dạy

và học tập

Trong năm học 2004- 2005 vừa qua, Hội đồng khoa học nhà trường đã tiến hành thẩm định và đánh giá đề tài NCKH của giáo viên nhà trường Kết quả đạt được như sau: + 5/27 đề tài NCKH của GV đạt cấp ngành (tỉnh ) tỷ lệ 18,5%

+ 22/27 đề tài NCKH của GV đạt cấp cơ sở tỷ lệ 81,5%

d Quản lý tổ chức, chỉ đạo hoạt động dạy của giáo viên

Tổ chức chỉ đạo hoạt động dạy của giáo viên là những hoạt động quản lý cụ thể dựa trên cơ sở việc lập kế hoạch của các cấp, thể hiện rõ tài năng thực hiện của người quản lý được biểu hiện qua các khâu sau:

- Về phân công giảng dạy:

Chương trình nội dung các môn học, ngành học được sắp xếp, phân công tương đối ổn định về các phòng, tổ bộ môn trước khi bước vào năm học mới Công tác phân công giáo viên đã được quán triệt và tổ chức chu đáo trên cơ sở phối hợp giữa các tổ bộ môn, phòng đào tạo và sự chỉ đạo từ các cấp xuống phòng, tổ bộ môn và giáo viên Cán bộ quản lý phòng đào tạo căn cứ số lượng giờ giảng, lịch giảng, định mức giờ giảng để phân công giảng dạy trên nguyên tắc đảm bảo mức độ cao nhất về sự phù hợp giữa chuyên môn giảng dạy với chuyên môn được đào tạo

- Về quản lý hoạt động dạy của giáo viên:

Quản lý hoạt động dạy của giáo viên vừa mang tính phân cấp, vừa mang tính trực tiếp

GV trực tiếp chịu sự quản lý của trưởng bộ môn Phòng đào tạo vẫn phải nắm cụ thể được phân phối chương trình của các môn học, tiến độ giảng dạy của các môn học, nội dung bàigiảng, đối tựơng lên lớp, địa điểm thời gian giảng dạy Phòng đào tạo là cơ quan tham mưu giúp Hiệu trưởng về công tác điều hành giảng dạy toàn trường bằng kế hoạch,

chương trình môn học, thời gian biểu cụ thể như:

- Quản lý việc lập kế hoạch và ghi chép hồ sơ chuyên môn

- Quản lý và hướng dẫn giáo viên trong việc sử dụng giáo trình

- Quản lý giáo án của giáo viên

- Quản lý giờ giấc lên lớp hàng ngày của giáo viên

- Kiểm tra việc cho điểm, sổ theo dõi và đánh giá xếp loại HS

- Kiểm tra sổ tự học, bồi dưỡng của giáo viên

- Quản lý việc NCKH của giáo viên như đăng ký đề tài, đề cương, tiến độ thực hiện cuối cùng là đánh giá thẩm định kết quả CNKH của GV trong năm Kết quả hoạt động dạy học của đội ngũ giáo viên được thể hiện ở bảng như sau:

Bảng 2.7: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học của đội ngũ giáo viên

2 Quản lý việc xây dựng kế hoạch công tác 26,7% 46,7% 16,7% 10,0% 0

3 Quản lý việc soạn bài và và chuẩn bị lên lớp 3,3% 43,3% 36,7% 16,7% 0

4 Quản lý nề nếp lên lớp của giáo viên 16,7% 50,0% 13,3% 20,0% 0

Trang 26

5 Quản lý việc đổi mới phương pháp giảng dạy 0 26,7% 46,7% 26,7%

Qua điều tra cho thấy hai nội dung có đánh giá thực hiện tốt nhất đó là quản lý thực hiện

về hồ sơ chuyên môn và quản lý chương trình giảng dạy Ba nội dung như quản lý thực hiện xây dựng kế hoạch công tác, quản lý nề nếp lên lớp của giáo viên, quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh được đánh giá là tốt Các hoạt động được đánh giá

là trung bình

- Quản lý về đổi mới phương pháp dạy học

Tiếp tục quán triệt và làm công tác tư tưởng trong cán bộ, giáo viên về đổi mới PPDH Tạo tâm thế cho mọi người sẵn sàng thực hiện một quy trình mới trong việc đổi mới PPDH ở từng bộ môn Thông qua các hoạt động như tổ chức trao đổi, hội thảo, các lớp bồidưỡng do Bộ GD&ĐT tổ chức… từ đó nâng cao nhận thức cho mỗi giáo viên thấy rõ sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học nhằm:

 Phát huy tính chủ động sáng tạo của giáo viên và và học sinh

 Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh vào bài giảng

 Tạo ra ý tưởng và khám phá các cách giải quyết mới

 Vận dụng khả năng và kinh nghiệm của các thành viên khác vào việc giảng dạy của mình

Việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay của nhà trường đang tập trung vào một số nội dung như:

 Đổi mới cách soạn giáo án, tập trung phần phương pháp thực hiện

 Đẩy mạnh việc tự làm và sử dụng đồ dùng dạy học

 Đưa các phương pháp dạy học tích cực vào bài giảng để phát huy

tính chủ động sáng tạo của học sinh

Đổi mới phương pháp dạy học phải được làm thường xuyên nhất là gắn việc đổi mới vào hội giảng, thi giáo viên giỏi, các đợt thi đua nhân dịp ngày lễ lớn Để thực hiện tốtnội dung trên cần tổ chức đưa giáo viên đi tập huấn về đổi mới PPDH do Bộ GD&ĐT tổ chức hàng năm

Kết quả khảo sát nhiệm vụ vận dụng và ggổi mới phương pháp giảng dạy của trường được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 2.8: Thực trạng QL hoạt động đổi mới PPDH và đánh giá giờ dạy của giáo viên

TT

Nội dung Mức độ thực hiện

Tốt(%) Khá(%) T.B(%) Yếu(%) Kém(%)

1 Quy định chế độ dự giờ đối với giáo viên 33,3% 46,7% 20,0% 0 0

2 Tổ chức các tổ bộ môn dự giờ thường xuyên 3,3% 66,7% 20% 10,0%

Trang 27

6 Bồi dưỡng nâng cao năng lực phương pháp cho GV 0 46,7% 33,3% 18,7%

- Tổ chức dự giờ đột xuất còn hạn chế mới chỉ đảm bảo được kế hoạch dự giờ thường xuyên

- Nhà trường đã đưa ra biện pháp bồi dưỡng kỹ năng sử dụng phương tiện, kỹ thuậtmới trong dạy học để hỗ trợ giáo viên song cán bộ quản lý, giáo viên cũng không đánh giácao biện pháp này

- Tổ chức hội thảo vận dụng đổi mới PPDH chưa thực hiện tốt mang tính hình thứchiệu quả không cao

e Quản lý khâu kiểm tra, đánh giá giáo viên

Xác định việc kiểm tra đánh giá giáo viên làm công cụ đo lường và điều chỉnh hoạt động của giáo viên Việc kiểm tra đánh giá giáo viên vừa theo quy chế của Bộ GD&ĐT, vừa mang tính đặc thù của trường

Nội dung, hình thức kiểm tra (quy chế giảng dạy, giờ giấc lên lớp, soạn giáo án ) được cụthể:

- Kiểm tra chất lượng dạy và học bằng cách dự giờ dạy của giáo viên Trong nội dung này đặc biệt cần chỉ rõ hiệu quả, động viên khuyến khích giáo viên tích cực đổi mới phương pháp, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh

- Kiểm tra việc lập kế hoạch giảng dạy, kế hoạch phương pháp, kế hoạch tự học, nghiên cứu khoa học

- Kiểm tra nhận thức của GV về các quan điểm, nghị quyết giáo dục

- Kiểm tra trực tiếp giáo viên

- Tổ chức kiểm tra, đánh giá giáo viên theo phân cấp và có sự phối hợp giữa các tổ chức Kiểm tra đánh giá giáo viên theo kế hoạch, với phương thức có báo trước hoặc kiểm tra đột suất không báo trước, thực hiện công tác thanh tra đào tạo Thực hiện phương pháp trên qua thực tế kiểm tra cho thấy có 20 giáo viên được hỏi về công tác kiểm tra đánh giá thì công tác kiểm tra giáo án có trước khi lên lớp đạt 94% Công tác kiểm tra đánh giá có

đủ nội dung, phong phú về hình thức do vậy tình trạng giáo viên chậm giờ, giảng không theo kế hoạch, sai nội dung hiếm khi xảy ra và những hạn chế đó đã được giáo viên, cán

bộ quản lý tìm các giải pháp khắc phục thông qua sinh hoạt phòng, tổ bộ môn

Kết quả kiểm tra được thống nhất bằng thang điểm Đây là cơ sở chính để đánh giá phẩm chất, năng lực giáo viên hàng năm, làm cơ sở cho việc bồi dưỡng, giáo dục giáo viên về các mặt còn tồn tại qua đợt kiểm tra Từ đó nhà trường lập kế hoạch bồi dưỡng giáo viên qua các đợt tổ chức của cấp trên

2.2.3.3 Quản lý hoạt động học tập của học sinh

Trang 28

- Vào đầu năm học dưới sự chỉ đạo củaBGH, sự kết hợp giữa phòng chuyên môn, phòng công tác học sinh, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, giáo viên chủ nhiệm, chính quyền địa phương làm nhiệm vụ ổn định tổ chức cho học sinh ngay từ khi nhập học cụ thể như:

- Kiểm tra lại sức khoẻ cho học sinh

- ổn định sĩ số, sắp xếp chuyên ngành, lớp, bổ nhiệm cán bộ lớp

- Theo quy định hàng năm vào tuần đầu của năm học mới nhà trường tổ chức tuần lễ

“Công dân - Học sinh, sinh viên ” qua đó nhà trường triển khai tới học sinh qui chế trong các trường trung cấp chuyên nghiệp, nội quy của nhà trường đối với học sinh, triển khai quy chế về học tập, quy chế thi, kiểm tra, xét lên lớp đối với học sinh trong các trường công lập Cũng qua buổi học tập đó giới thiệu cho học sinh về truyền thống nhà trường, những thành tích của nhà trường đạt đựợc trong các năm qua giúp học sinh hiểu, nhận thức được quyền lợi, nghĩa vụ của học sinh từ đó tạo môi trường giáo dục có văn hoá, duy trì quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong hoạt động GD

- Cán bộ quản lý học sinh, giáo viên chủ nhiệm lớp quán triệt nhiệm vụ, chỉ thị năm học đồng thời hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch học tập, kế hoạch rèn luyện phấn đấu cho cá nhân và tập thể học sinh, đây là cơ sở cho việc quản lý theo dõi HS trong quá trình học tập, rèn luyện tại trường

- Về học tập: Tổ chức thi, kiểm tra đánh giá theo thang bậc quy chế của Bộ GD&ĐT

- Về rèn luyện: Dựa trên cơ sở tu dưỡng, rèn luyện theo kỷ luật nhà trường, được đánh giá thông qua phiếu đánh giá điểm rèn luyện được thực hiện công khai, công bằng, dân chủ là

cơ sở cho việc xét chế độ học bổng khuyến khích học tập và khen thưởng cho học sinh

Đó chính là cơ sở vật chất để động viên học sinh phát huy tính tích cực trong môi trường giáo dục và kích thích nhu cầu học tập cao hơn nữa cho chính học sinh Đặc biệt, việc đánh giá kết quả học tập, và luyện gắn liền với tu dưỡng rèn luyện phấn đấu vào Đảng củahọc sinh

Để có được đánh giá khách quan thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh, đề tài

đã xin ý kiến đánh giá của 30 cán bộ quản lý và giáo viên trong trường kết quả đánh giá được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 2.9: Thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh

TT Biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh Mức độ thực hiện

Tốt(%) Khá(%) T.B(%) Yếu(%) Kém(%

1 Giáo dục ý thức động cơ và thái độ học tập 30% 53,3% 16,7% 0 0

2 Giáo dục phương pháp học tập cho học sinh 10,0% 53,3% 26,7% 10% 0

3 Xây dựng những quy định cụ thể về nề nếp học tập trên lớp của HS

Trang 29

hiệu quả học tập của học sinh.

2.2.3.4 Quản lý cơ sở vật chất - thiết bị dạy học

- Về cơ sở hạ tầng: Diện tích đất hiện có là 116.030 m2, trong đó diện tích đất khu trường 32.000 m2, khu sân chơi bãi tập 2.200 m2 Phần diện tích còn lại là đất canh tác nông nghiệp

+ Khu giảng đường gồm: 12 phòng học nhà 2 tầng kiên cố và 5 phòng học nhà cấp 4 + Khu ký túc xá gồm 2 dãy nhà B1, B2 gồm 2 tầng diện tích 840 m2

+ Khu nhà làm việc của BGH và các phòng ban, tổ bộ môn gồm:1dãy nhà 2 tầng diện tích

660 m2 có các phòng ban như: phòng Ban giám hiệu, phòng đào tạo, hành chính tổ chức, quản trị đời sống, công tác học sinh Tổ bộ môn kinh tế, tổ bộ môn chung, tổ tài vụ Văn phòng Đoàn thanh niên, công đoàn, phòng họp, văn thư

- Về hệ thống thư viện: Thư viện có tổ chức riêng với 1 cán bộ Hiện

tại thư viện có 2 phòng với diên tích khoảng 250 m2 gồm phòng đọc và kho lưu trữ, nhiệm vụ chính của thư viện là:

- Tổ chức, sắp xếp, bảo quản lưu trữ và cấp phát tài liệu cho học sinh

- Phục vụ cán bộ giáo viên, học sinh đọc tại chỗ và hướng dẫn nghiệp vụ thư viện cho người đọc

- Các trang thiết bị chính khác như: 50 bộ máy vi tính,1 bộ máy chiếu , 7 máy in, 3 máy phô tô, 1 xe ô tô 9 chỗ ngồi, tăng âm loa đài và các thiết bị về điện và các cơ sở phục vụ khác

Ngoài CSVC- TBDH, trường còn có phòng sinh hoạt văn hoá, sân chơi thể dục thể thao, khu vườn hoa cây cảnh tạo môi trường xanh, sạch, đẹp và thoáng mát Cảnh quan trường

Trang 30

ngày càng được khang trang hơn những năm qua trường liên tục đựơc công nhận “Cơ quan văn hoá”.

Công tác quản lý CSVC-TBDH của trường theo phân cấp với phương châm giữ tốt, dùng bền, khai thác và sử dụng có hiệu quả Kết quả quản lý

CSVC-TBDH được đánh giá qua bảng sau:

Qua kết quả đánh giá trong bảng cho thấy bộc lộ một số hạn chế Trong công tác xây dựng

kế hoạch trang bị CSVC - TBDH không được chủ động và không có khả năng độc lập thực hiện kế hoạch đặt ra Trong biện pháp bồi dưỡng kỹ năng sử dụng đồ dùng DH không có hiệu quả cao

2.2.3.5 Đội ngũ cán bộ quản lý

Ban giám hiệu nhà trường gồm có 2 đồng chí (1 Hiệu trưởng và 1 phó hiệu

trưởng ) Các đồng chí đều được đào tạo cơ bản và đã qua giảng dạy trên 15 năm Công tác quản lý, điều hành bộ máy đã được xem xét một cách nghiêm túc tạo ra một cơ cấu quản lý thích hợp, hiệu quả và chất lượng dạy học từng bước được nâng cao Vì vậy trường đã có tiến bộ về nhiều mặt, đặc biệt là quản lý dạy học đã và đang từng bước được hoàn thiện theo điều lệ tổ chức và hoạt động của hệ thống các trường trung cấp chuyên nghiệp

Đội ngũ cán bộ phòng gồm 5 đồng chí, các đồng chí đều được đào tạo cơ bản về chuyên môn, số cán bộ có chứng chỉ quản lý nhà nước còn ít, thâm niên giảng dạy trên

15 năm, ít đồng chí là giáo viên dạy giỏi Tập huấn về nghiệp vụ quản lý còn ít Bên cạnh

đó đội ngũ cán bộ phòng được bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn, cập nhật các thông tin mới về GD&ĐT và quản lý do cấp trên tổ chức Do vậy công tác quản lý dạy họccủa nhà trường tiến dần thực hiện đúng phương châm giáo dục của Đảng “ Học đi đôi với hành” , “ lý luận gắn thực tiễn”

2.2.4 Những thành công và tồn tại trong quản lý chất lượng dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang

Qua kết quả nghiên cứu thực trạng chất lượng dạy học và quản lý quá trình dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế- Kỹ thuật Bắc Giang, Các cán bộ quản lý đã nhận thức được quátrình dạy học là hoạt động trọng tâm của đơn vị, hoạt động này là tiền đề để tổ chức các hoạt động khác Quản lý tốt hoạt động này sẽ nâng cao chất lượng dạy học

Với mỗi nội dung cụ thể trong quản lý quá trình dạy học, nhà trường đã xây dựng được một số biện pháp cụ thể để chỉ đạo thực hiện Tuy nhiên trong quá trình chỉ đạo, với mỗi nội dung quản lý có những biện pháp thực hiện tốt, còn có những biện pháp thực hiện

Trang 31

chưa tốt, hiệu quả chưa cao Chúng tôi thấy trong quá trình quản lý chất lượng dạy học và nâng cao chất lượng dạy học của trường có những thành công và tồn tại chủ yếu sau đây:2.2.4.1 Những thành công:

Học sinh được tuyển vào trường có học lực chủ yếu là trung bình, kinh tế của địa phương còn nhiều khó khăn, thu nhập bình quân đầu người thấp, nên việc đầu tư cho hoạt động học tập còn hạn chế Song những năm gần đây dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, ngành giáo dục cùng với sự phấn đấu nỗ lực của tập thể cán bộ giáo viên nhàtrường chất lượng giáo dục đào tạo ngày càng được nâng lên năm sau cao hơn năm trước,góp phần trong việc cung cấp nguồn lực lao động có trình độ và tay nghề vững chắcphục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội địa phương

2.2.4.2 Những tồn tại:

Do những nguyên nhân chủ quan và khách quan, việc quản lý chất lượng dạy học còn bộc

lộ những hạn chế cần được nghiên cứu, khắc phục, để nâng cao chất lượng dạy học Trongkhuôn khổ, giới hạn của đề tài, thông qua quá trình nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu hiện

có và kết quả trưng cầu ý kiến của giáo viên và cán bộ quản lý, bản luận văn phân tích và đánh giá những tồn tại trong công tác quản lý hiện tại của trường trên một số nội dung chủyếu sau:

a Trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý

- Việc áp dụng đổi mới phương pháp quản lý theo hệ thống trường trung cấp chuyên nghiệp còn chậm, cán bộ quản lý phòng năng lực quản lý chưa tương xứng với yêu cầu, sốcán bộ quản lý có trình độ trên đại học còn ít, phần lớn chưa qua lớp đào tạo quản lý nên công tác quản lý chủ yếu nặng về kinh nghiệm, ít sáng tạo Cán bộ QL còn kiêm nhiệm giờ dạy quá nhiều do vậy thời gian dành cho công tác quản lý bị eo hẹp Trong quá trình phối hợp hoạt động giữa các phòng, các tổ chuyên môn còn chưa đồng bộ, thiếu sự ăn ý giữa các bộ phận do vậy hiệu quả công việc điều hành chưa cao

b Công tác quản lý điều hành ở phòng, tổ bộ môn

- Công tác quản lý hoạt động dạy học của giáo viên nhiều lúc nặng về tính hành chính sư phạm Các quy định về hồ sơ giảng dạy, nề nếp dạy học tỏ ra chặt chẽ nhưng còn mang tính hình thức, câu lệ, giáo viên chấp hành còn mang tính đối phó, gò ép Việc đổi mới phương pháp dạy học ở các phòng, tổ bộ môn chưa thường xuyên, chủ yếu chỉ được tiến hành vào dịp thi giáo viên giỏi, các đợt hội giảng trong thực tế áp dụng đổi mới phương pháp dạy học còn ít Các cuộc hội nghị trao đổi về PPDH ít được tiến hành ở cấp phòng,

tổ Không ít giáo viên ngại cải tiến PPDH, ngại sử dụng thiết bị dạy học hiện đại trong dạyhọc, chưa đầu tư sâu nội dung và phương pháp sư phạm cho bài giảng, 20% số người đượchỏi cho rằng bài giảng của giáo viên đảm bảo tính hệ thống, tính khoa học, tính thực tiễn, song chưa có tính chuyên sâu và cập nhật thông tin mới và không thường xuyên sửdụng đổi mới phương pháp dạy học trong giờ lên lớp

- Việc phân công giáo viên giảng dạy và chỉ đạo hoạt động dạy của giáo viên chưa sâu sát,chưa phù hợp với năng lực giáo viên, có một số giáo viên dạy không đúng chuyên ngành đào tạo, sinh hoạt tổ bộ môn và nhóm chuyên môn còn ít, còn mang tính hình thức, chiếu

lệ, sự giúp đỡ chuyên môn cũng như phương pháp sư phạm của giáo viên có bề dày sư phạm với giáo viên mới, giáo viên yếu chưa thường xuyên và chất lượng chưa cao, việc cập nhật thông tin mới còn chậm chưa kịp thời

c Đội ngũ giáo viên chưa đồng đều về chất lượng, quản lý hành chính của nhà trường còn mâu thuẫn với quản lý chuyên môn

- Nhà trường đã có nhiều cố gắng trong xây dựng và phát triển đội ngũ ngũ giáo viên, song hiện nay chất lượng đội ngũ giáo viên mới đạt 50% Tỷ lệ giáo viên đạt trên chuẩn còn thấp so với yêu cầu phát triển của nhà trường Sự hẫng hụt đội ngũ giáo viên kế cận còn lớn, nhất là đội ngũ giáo viên môn cơ bản Việc học tập của cá nhân về nâng cao trình

Trang 32

độ chuyên môn còn ít, sự cải tiến PPDH của giáo viên lâu năm bị chững lại, cũng do một phần vì chế độ chính sách không tạo ra động lực cho họ và bản thân họ cũng có hạn chế vềnăng lực tiếp thu kiến thức khoa học mới.

- Thực tế hiện nay của trường tỷ lệ giáo viên trên đầu học sinh quá lớn, mỗi giáo viên phải kiêm nhiệm giảng dạy từ 3 - 4 môn (kiến thức cơ sở và kiến thức chuyên ngành),

do đó hạn chế việc bố trí chuyên môn hoá giáo viên, điều đó cũng làm ảnh hưỏng đến chất lượng giảng dạy Số lượng lớp của nhà trường hiện nay thì nhiều số giáo viên lại ít nên khối lượng giờ giảng của mỗi GV còn rất cao điều đó đã gây ảnh hưởng cho việc dànhthời gian đầu tư sâu về chuyên môn, quá trình tự học và nghiên cứu khoa học

- Đội ngũ giáo viên nhà trường chủ yếu tốt nghiệp ở các trường Đại học không thuộc khối các trường sư phạm (ĐH Kinh tế, ĐH Tài chính, ĐH Nông nghiệp ) vì vậy khi tuyển dụng về trường đều phải qua một lớp bồi dưỡng kiến thức về nghiệp vụ sư phạm do vậy về năng lực sư phạm còn hạn chế, chủ yếu dạy theo kinh nghiệm Hoạt động vẫn mang tính đơn điệu, độc thoại, lượng thông tin /tiết giảng còn ít, chưa tạo sự gia tăng kiến thức trong các môn học chuyên ngành, chưa kích thích năng lực sáng tạo của người học Trong dạy học sự kết hợp chặt chẽ giữa truyền đạt kiến thức và rèn luyện nhân cách học sinh còn hạn chế Chưa có sự cập nhật thông tin giáo dục hiện đại cũng như việc đổi mới phương pháp dạy học còn nặng về phương pháp truyền thống Một bộ phận giáo viên của nhà trường khả năng sử dụng thiết bị dạy học còn lúng túng, dạy học vẫn nặng về phương pháp cổ truyền, cho học sinh ghi là chính Không ít giáo viên có bề dày sư phạm, nghiệp

vụ chuyên môn khá lại được tổ chức sắp xếp sang công việc quản lý khác Công tác kiểm tra đánh giá giáo viên được tiến hành thường xuyên nhưng nặng tính hành chính sư phạm chủ yếu dựa vào quy chế văn bản, chưa bám sát thực tiễn, chưa mang tính động viên, uốn nắn giúp đỡ

d Chất lượng tuyển sinh đầu vào thấp, phương pháp học tập của học sinh chưa phù hợp với bậc trung học chuyên nghiệp

- Bắc Giang là tỉnh miền núi đối tượng tuyển sinh đầu vào hàng năm chủ yếu là học sinh thuộc các khu vực miền núi và nông thôn Phần lớn các em vào học tại trường đều là những em đã tham gia vào kỳ thi tuyển sinh Đại học và Cao đẳng nhưng không đỗ, số học sinh khá giỏi ở các trường phổ thông có nguyện vọng vào trường rất ít phần lớn là những học sinh có lực học trung bình khá và trung bình

- Chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm có chính sách ưu tiên, dành cho học sinh vùng sâu, vùng

xa, dân tộc thiểu số Số học sinh này chủ yếu có lực học trung bình, bên cạnh đó còn hạn chế thông tin, văn hoá và giao lưu xã hội, điều đó cũng là những hạn chế nhất định trong quá trình học tập Về nhận thức khi được hỏi có tới 20% - 30% số HS trả lời chưa xác định

rõ động cơ trách nhiệm học tập (do sắp xếp của gia đình, do không thi đỗ vào các trường Đại học và Cao đẳng khác, điều kiện kinh tế muốn được bao cấp trong nhà trường )

- Việc xây dựng kế hoạch học tập của học sinh mang nặng tính hình thức, khi thực hiện

kế hoạch có lúc tuỳ tiện, chưa quen với tác phong, phương

pháp học chuyên nghiệp nên có phần lúng túng, thụ động, khả năng tự nghiên cứu thấp, nhất là giai đoạn học môn đại cương, Phương pháp học tập, ôn thi, tác phong nghiên cứu

tư duy mang tính phổ thông (nặng về học thuộc lòng, học theo sách ghi, ít tìm tòi suy luận,tranh luận với bạn bè, có biểu hiện dấu dốt, mặc cảm)

e Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học còn thiếu, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ dạy học của nhà trường

- Do đặc thù về hệ thống trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật nên trang thiết bị phục

vụ cho công tác giảng dạy cũng rất khác nhau Về bộ môn kinh tế trang thiết bị và đồ dùngdạy học chủ yếu là sổ sách, bảng biểu, máy chiếu còn bộ môn kỹ thuật nông nghiệp thiết

bị dạy học cần rất nhiều và đa dạng phục vụ chủ yếu cho 2 chuyên ngành chăn nuôi và thú

Ngày đăng: 05/04/2013, 15:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Quy mô đào tạo từ năm 2003 đến năm 2010. - Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang
Bảng 2.1 Quy mô đào tạo từ năm 2003 đến năm 2010 (Trang 18)
Bảng 2.4: Kết quả rèn luyện qua các năm học từ 2000-2005: - Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Giang
Bảng 2.4 Kết quả rèn luyện qua các năm học từ 2000-2005: (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w