1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lí luận về lạm phát và vận dụng lí luận ấy vào Việt Nam

28 479 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lí Luận Về Lạm Phát Và Vận Dụng Lí Luận Ấy Vào Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 147 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ chế thị trường đã và đang làm đổi thay của nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây theo hướng tích cực

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Nho giáo ra đời từ thế kỉ VI trước Công nguyên tại Trung Quốc, do Khổng Tửsáng tạo Đây không những là một học thuyết thống trị trong xã hội TrungHoa suốt một thời gian dài, mà còn du nhập và có ảnh hưởng rất sâu sắc đếnnước ta thông qua con đường xâm lược của phong kiến phương Bắc Trongsuốt hơn một nghìn năm Bắc thuộc và nhất là trong các triều đại phong kiếnViệt Nam (chủ yếu từ thế kỉ X đến XIX) Nho giáo đã có những tác động tolớn vào mọi mặt đời sống tinh thần của người Việt Nam Ở một khía cạnh nào

đó nó cũng góp phần xây dựng một yếu tố truyền thống của người Việt Nhưgiáo sư Đào Duy Anh đã nói: “ Không ai chối cãi được rằng Khổng giáo hayNho giáo đã tham gia một phần quan trọng vào sự đúc nặn cái diện mạo tinhthần của dân tộc và sự tạo thành văn hoá của dân tộc Cho nên trong cuộccách mạng văn hoá hiện nay chúng ta tất phải nghiên cứu Khổng giáo hayNho giáo để xem nó ảnh hưởng đến văn hoá của chúng ta như thế nào”( ĐàoDuy Anh, Nho Giáo tại Việt Nam, Tr 23, 1994) Vì vậy trong quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, để xây dựng con người Việt Nam

xã hội chủ nghĩa, vấn đề đặt ra là phải giải quyết mối quan hệ biện chứng giữacon người Việt Nam truyền thống và con người Việt Nam hiện đại Chính vì

vậy, trong bài tiểu luận này, em chọn đề tài “Những giá trị và hạn chế của Nho giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay” nhằm mục đích tìm hiểu sơ qua

về quá trình hình thành, phát triển, nội dung chính của học thuyết Nho giáo,quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam và đặc biệt là xem xét, đánhgiá các nhân tố tích cực và tiêu cực của nó đối với xã hội Việt Nam hiện đại

Trang 2

NỘI DUNG CHÍNH

1. Sơ lược về lịch sử học thuyết Nho giáo

Ở Trung Quốc, khoảnh thế kỉ XII Tr CN, bộ tộc Chu nổi lên chinh phục các

bộ tộc lân cận, chuẩn bị lật đổ nhà Thương Khoảng thế kỉ XI Tr CN, con traicủa Chu Văn Vương là Chu Vũ Vương đã diệt vua Trụ của nhà Thương, lậpnên nhà Chu Từ khi nhà Chu lên giữ ngôi thiên tử, chế độ vẫn theo lối phongkiến (phong hầu kiến quốc), chia thiên hạ thành 70 nước để phong cho cáccông thần va con cháu làm chư hầu Các nước chư hầu đều có quyền tự chủnhưng hàng năm phải triều cống thiên tử nhà Chu và theo lệnh nhà Chu đichinh phạt những khi có chiến sự Khi nhà Chu còn thịnh thì trật tự trên vẫnđược đảm bảo Nhưng khi nhà Chu suy nhược, mệnh lệnh không còn đượccác nước chư hầu nghe theo, chư hầu phân ra đến 160 nước Chiến tranh liênmiên kéo theo đó là cương thường đổ nát, nhân dân oán thán Thời đại ấytrong lich sử Trung Quốc gọi là Xuân Thu (hay thời Tiền Tần) Thời buổiloạn lạc, người người tham phú quý, mê danh lợi, không thiết nhân nghĩa,nhân dân khổ sở Vì thế người trong nước mới lo tìm cách cứu vớt thiên hạ,

do đó các học thuyết đua nhau ra đời Theo sách sử chép thì ở Trung Quốc lúcbấy giờ có tới 130 học phái, trong đó có 6 phái lớn nổi bật là: Nho gia, Mặcgia, Đạo gia, Danh gia, Pháp gia và Ân Dương gia, mà ảnh hưởng lớn nhất là

ba học phái đầu tiên: Nho gia, Mặc gia và Đạo gia

Nho gia (Nho giáo) xuất hiện ở Trung Quốc chính vào thời Xuân Thu đầynhững biến động ấy do Khổng Tủ (551 – 497 Tr CN) sáng lập Tuy rằng cónhiều nhà nghiên cứu khẳng định Tước khi có học thuyết Nho giáo củaKhổng Tử thì đã có những người và tầng lớp xã hội được gọi lag Nho Nhưngcũng không ai phủ nhận Nho giáo từ thời Xuân Thu trở đi nhờ Khổng Tử màtrở thành học thuyết có hệ thống, tôn chỉ rõ ràng Vì vậy về sau nói Khổng

Trang 3

giáo cũng chính nói Nho giáo Khổng Tử tên là Khổng, tự là Trọng Ni, sinh ởnước Lỗ trong một gia đình quý phái nhưng đang trong thời kì sa sút Vì thếthủa bé ông đã biết đến những việc nặng nhọc, vất vả Có lẽ đó cũng là mộttrong những lí do khiến học thuyết của ông có nhiều quan điểm coi khinh laođông chân tay Khổng Tử là người rất thông minh, nhân hậu, từ nhỏ đã hamhọc, hay chú ý về lễ nghi, phép tắc của con người nhất là những bậc đếvương Nhưng hết thẩy những tư tưởng đao đức và việc làm của ông trongsuốt cuộc đời đều nhằm mục đích cứu đời, giúp nước cho dù nó có phần hạnchế khi muốn khôi phục thể chế nhà Chu trên cơ sở những chủ trương cảilương, ôn hoà nhằm không đảo lộn đẳng cấp xã hôi “Khổng Tử khảo cứu chế

độ và phong tục thời cổ, ngẫm nghĩ những tư tưởng của các bậc thánh hiềnđời trước và suy xét cái lẽ biến hoá của trời đất, rồi đem những điều mình tâmđắc lập thành học thuyết có tông chỉ rất cao, quán triệt cả căn nguyên của vạnvật và các lẽ sinh hoá của vạn vật, cả tâm tính và hành động của ngườita”(Trần Trọng Kim, Nho Giáo, NXB văn hoá thông tin 2001) Ông đi chu dukhắp nơi trong nước mong tìm được minh quân để phò giúp nhằm khôi phụchoà bình, thống nhất đất nước, nhưng không được trọng dụng, phần vì khôngtìm được minh chủ, phần vì học thuyết của ông thoát ly hiện thực Cuối đời,hết sức thất vọng, ông trở về nước Lỗ chuyên tâm dạy học, chỉnh lý, san địnhsách cổ nhằm giữ gìn, truyền bá văn hoá cổ đại Những tập sách đó sau nàytập trung thành Ngũ Kinh, gồm có: Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh lễ, Kinh XuânThu Ông không có trước tác riêng truyền lại cho hậu thế, nhưng học trò củaông có hàng ngàn người, học ghi chép lại những lời Khổng Tử và soạn lạitrong các bộ Luận Ngữ, Trung Dung, Đại Học nhằm truyền đạo cho ông (ba

bộ trên sau này cùng với bộ Mạnh Tử hợp thành Tứ thư) Sau khi Khổng Tửmất, hoc thuyết cảu ông chia ra làm nhiều phái, mỗi phái có ý nghĩa khácnhau, nhưng hầu như càng về sau tinh thần của Nho giáo ngày càng kém đi và

xa rời dần so với những tư tưởng ban đầu của Khổng Tử Tuy nhiên dù gặpnhiều thăng trâm trong lịch sử nhưng Nho giáo vẫn trở thành công cụ đắc lực

Trang 4

của gia cấp thống trị nhằm duy trì quyền lực của mình trong xã hôi phongkiến Từ đời Xuân Thu cho đến các đời Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh,Thanh trong hơn 2000 năm, Nho giáo cùng với ngai vàng của các triều đại đãcùng nhau thống trị đời sống tinh thần của con người trong xã hội phong kiến.Cho tới ngày nay khi đã kết thúc vai trò lịch sử của mình, Nho giáo vẫn cónhững ảnh hưởng nhất định đối với xã hội Trung Quốc và một số quốc giachâu Á khác trong đó có Việt Nam.

Tóm lại, Nho giáo là học thuyết có lịch sử lâu đời và mạng nhiều tính chấtphức tạp Ngoài ra quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam cũng cónhiều đặc biệt đáng lưu ý và đòi hỏi có sự nghiên cứu, tìm hiểu một cách to àndiện khách quan

2. Quá trình du nhập và phất triển Nho giáo ở Việt Nam

Nho giáo là học thuyết có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài tại Trung Quốc vàmột số quốc gia châu Á khác trong đó có Việt Nam Nho giáo du nhập vàoViệt Nam không phải theo con đương giao lưu văn hoá mà là theo vó ngựacủa quân xâm lược, được thế lực phong kiến phương Bắc âm mưu sử dụnglàm công cụ đồng hoá nhân dân ta Cũng chính vì thế nên ban đầu khi mới dunhạp, Nho giáo không nhận được sự ủng hộ của nhân dân Việt Nam, mà thậmchí trong hơn 1000 năm Bắc thuộc nó còn bị tẩy chaym chối bỏ Tuy nhiên từthế kỉ X sau khi nước ta giành độc lập thì nhân dân ta dần tiếp thu những tưtưởng chủ đạo của Nho giáo mà rõ nét hơn cả là việc các triều đại phong kiếnViệt Nam đã sử dụng Nho giáo như là hệ tư tưởng, công cụ trị nước, công cụđào tạo con người nhằm phục vụ gia cấp thống trị Khi đó các triều đại phongkiến Việt Nam đã nhận thấy Nho giáo là học thuyết có lợi cho sự thống trị củamình nên đã không ngừng củng cố và đề cao nó, nhất là ở việc giáo dục theoNho giáo Tuy nhiên ở các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê do phải củng cốchính quuyền nên sự tác động của Nho giáo chỉ ở mức dộ công cụ để củng cố

bộ máy nàh nước chứ chưa ảnh hưởng đến chế độ khoa cử Đến thời Lý, nền

Trang 5

giáo dục Nho học được chính thức xác lập kể từ khi vua Lý Thánh Tông(1034 – 1072) trị vì Đây là Thời kì mà triều đại phong kiến Việt Nam hìnhthành về cơ bản Nhà Lý mở trường dạy Khổng giáo và tổ chức các kì thiKhổng giáo Tháng tám, mùa thu năm Canh Tuất 1070 nàh Lý cho xây dưngVăn Miếu, đắp tương Khổng Tử, Chu Công và thất thập nhị hiền Đây là sựkiện đánh dấu việc nho giáo được chính thức thừa nhận về mặt nhà nước.Năm 1075 vua Lý Nhân Tông (1073 – 1127) đã tuyển những người học rộng,

am hiểu Khổng giáo và tổ chức thi “Minh kinh bác học”, “Nho học tamtrường” Năm 1076 Vua Lý cho thành lập Quốc Tử Giám bên cạnh Văn Miếu

và đặt ra Hàn lâm viện Qua đó vau Lý đã khẳng định nền giáo dục chínhthống la nền giáo dục Nho học Đến thời Trần, giáo dục Nho họpc tiếp tụcphát triển, phép thi quy củ hơn Năm 1227 vua Trần Thái Tông (1225 – 1258)

mở khoa thi “Tam giáo” nghĩa là thi những người học Nho, Phật và Lão giáo.Năm 1232, vua Trần Thánh Tông cho mở khoa thi “Thái học sinh” lấy 3người đoc đầu gọi là Tam khôi gồm có Trang nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa.Ngoài ra nhà vua cong đặt quốc học viện để giảng Tứ thư, Ngũ kinh Đến đờinhà Trần Nho học thịnh hơn nhà Lý và có nhiều Nho gia chân chính như MạcĐĩnh Chi đỗ Trạng nguyên thời vua Trần Anh Tông (1293 – 1314), TrươngHán Siêu làm quan đời cua Trần Anh Tông và vua Trần Minh Tông, Phạm SưMạnh làm quan đời vua đời TRần Minh Tông và TRần Dụ Tông Và đặc biệt

là Chu Văn An, nhà giáo dục, nhà Nho yêu nước, người đã dâng “Thất trảmsớ” xin vua Trần Dụ Tông chém 7 tên nịnh thần nhưng vua không nghe Nhogiáo thời kì này chủ yếu là Hán Nho và Đương Nho Nhưng sau khi nhà Hồcướp ngôi nhà Trần rồi để đât nước rời vào tay quân Minh thì chúng đemTống Nho dạy cho nhân dân ta Vua Lê Thái Tổ đánh đổ giặc Minh, khôiphục nước nhà, mở mang Nho học Năm 1428, Lê Thái Tổ đã hạ chiếu trongnước dưng nhà học, dạy dỗ nhân tài Đến năm 1429 khảo thí Minh kinh Đếnđời vau Lê Thánh Tông (1460 – 1497) thì chế độ phong kiến Việt Nam cũngnhư nền giáo dục Nho học ở vào thời kì cực thịnh, phát triển vượt bậc với

Trang 6

nhiều thành tựu rực rỡ Khổng giáo giờ đây đã vượt lên vị trí độc tôn, đượcxem như “học thuyết triết học chính trị - xã hội mà giai cấp phong kiến làmtinh thần thống trị tinh thần xã hội Vào năm Giáp Thìn (1484), Lê ThànhTông đã cho ghi tên tuổi các vị tiến sĩ vào bia dưng tại Quốc Tử Giám để lưudanh những người đỗ đạt và khuyến khích tinh thần học tập của các Nho sĩ.Thời kì này xuất hiện nhiều nàh Nho yêu nước sâu sắc mà tiêu biểu nhất làNguyễn Trãi, hiệu Ức Trai, là người tiếp thu Khổng giáo và vận dụng sángtạo nó vào việc củng cố chế độ phonng kiến Việt Nam trong thời đại Lê sơ.Ngoài ra còn có các nhà Nho yêu nước khác như Nguyễn Trực, đỗ trạngnguyện thời vau Lê Thái Tông, Lương Thế Vinh dỗ trạng nguyên thời vuaThánh Tông “Từ thời nhà Lê về sau, trải qua nhà Mạc, nhà hậu Lê và nhàNguyễn, Nho học ở Việt Nam tuy thịnh nhưng học giả trong nước phần nhiềuchỉ học lối khoa cử, lấy văn chương để cầu sự độ đạt chứ không có mấy ngườihọc đến chỗ uyên thâm của Nho giáo để tìm thầy cái đạo lí cao xa hoăck là đểxướng lên các học thuyết có giá trị”(GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn, TS PhạmVăn Đức, TS Hồ Sĩ Quý “ Tìm hiểu giá trị văn hoá truyền thống trong quátrình công nghiệp hoá hiện đại hoá) Nhưng trong đó không thể phủ nhận rằngvẫn cong những nhà Nho học rộng và có tài, có tinh thần yêu nước nhưNguyễn Bỉnh Khiêm đời nhà Mạc, những bậc văn sĩ tài giỏi như Phùng KhắcKhoan, Lương Hữu Khánh, Nguễn Dữ (đều là học trò của Nguyễn BỉnhKhiêm) đời hậu Lê, Phạm Quý Thích, Nguyễn Du là những di Nho nhà Lêsống trong thời Tây Sơn, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến Theo thời gian, qua nhiều thăng trầm của lịch sử nhìn chung Nho giáo cũng

đã chiếm một vị trí quan trọng trong hệ tư tưởng chính thống của các triều đạiphong kiến và đến nhà Nguyễn (thế kỉ XIX), Nho giáo đã giữ vị trí độc tôn.Tuy nhiên, Nho giáo triều Nguyễn cũng là giai đoạn hưng thịnh cuối cùng củaNho giáo Việt Nam “Nếu như Nho giáo Việt Nam trong một số triều đạitrước ít nhiều có tính chất tích cực và hợp thời thì Nho giáo triều Nguyễn đãtrở thành hết sức tiêu cực và lỗi thời Vì lỗi thời nên Nho giáo triều Nguyễn

Trang 7

đã thất bại trong việc ấn định trật tự xã hội và hoàn toàn thất bại trước thửthách của lịch sử Sự thất bại của Nho giáo triều Nguyễn đã cho thấy đượcchân lý lúc bấy giờ: muốn giành được độc lập dân tộc và cải thiện được dânsinh và đưa nhà nước tiến lên những đỉnh cao của htời đại, người Việt Namphải được trang bị bằng một tư tưởng khác cao hơn Nho giáo” (GS.TSNguyễn Trọng Chuẩn, TS Phạm Văn Đức, TS Hồ Sĩ Quý “ Tìm hiểu giá trịvăn hoá truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá) Đầu thế

kỷ XX chính quyền thực dân Pháp và phong kiến Việt Nam đã huỷ bỏ chế đọhọc tập và thi cử theo Khổn giáo Tuy vậy, Khổng giáo vẫn có ảnh hưởng lâudai đến xã hội và con người Việt Nam Phan Bội Châu là nhà cách mạng dântộc tiêu biểu cho những năm đầu của thế kỷ XX Với tư cách là một nhà Nhoyêu nước, ông đã kêu gọi những phần tử ưu tú của tầng lớp nhà Nho nổi dậychống lại ách thống trị của kẻ xâm lược Nhưng càng về sau này, Nho giáocàng trở nên lạc hậu, phản động và dần dần mất đi ảnh hưởng của mình ngay

cả trên quê hương Trung Quốc cũng như ở Việt Nam và đến nay đã hoàn toànchấm dứt vai trò lịch sử của mình

3 Những nội dung cơ bản của học thuyết đạo đức nho giáo.

3.1 Vai trò của đạo đức nho giáo.

Quan điểm đạo đức của một trường phái triết học, của một tôn giáo nào đó

bảo vệ lợi ích, quyền lợi cho một chế độ, một hình thái kinh tế xã hội nào đó

Vì vậy học thuyết đạo đức Nho giáo được sinh ra nhằm phục vụ cho chế độnhà nước phong kiến

Học thuyết đạo đức Nho giáo một mặt phản ánh những hành vi ứng xử giữa

cá nhân và xã hội, mặt khác phản ánh quan hệ giai cấp trong xã hội TrongNho giáo vấn đề cơ bản nhất, bao quát nhất là vấn đề đạo đức: “Trời có đạotrời, đức trời, đất có đạo đất, đức đất, muôn vật cũng có đạo đức của muônvật.”(Quang Đạm, Nho Giáo xưa và nay)con người có đạo đức của con người

Vì vậy con người phải đặt việc rèn luyện trau dồi đạo đức lên hàng đầu

Trang 8

Hơn nữa, Nho giáo còn được coi là một học thuyết đạo đức bởi vì nho giáođưa ra những quan điểm về thiện, ác, đạo làm người cùng những chuẩn mực,những quy tắc, quy phạm đạo đức để điều chỉnh, đánh giá hành vi của conngười trong quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với gia đìnhvới quốc gia và thiên hạ Trong xã hội, Nho giáo chú ý nhiều nhất đến quan

hệ vua- tôi Vua được coi là thiên tử(con trời) có quyền lực tối cảôtng thiên

hạ, thay trời cai trị muôn dân Còn kẻ bề tôi phải tận trung với vua, đúng nhưĐổng Trọng Thư nói “ Vua xử thần tử thần bất tử bất trung”(Nguyễn Hữu Vi,Giáo trình lịch sử triết học)

Trong gia đình, Nho giáo đề cao mối quan hệ cha-con và mối quan hệchồng vợ Nhằm duy trì trật tự tôn ti trong gia đình góp phần củng cố trật tự

kỷ cương ổn định xã hội và ràng buộc trách nhiệm giữa con người với conngười Trong quan hệ cha con, Nho giáo đặt vị trí người cha cao hơn, ngườicon có ngiã vụ phải kính trọng và chăm sóc cha mẹ Phải coi việc phụng sựcha mẹ là gốc của mọi việc trọng đại Đấy là chữ “Hiếu” Đồng thời ngườicon phải phục tùng mệnh lệnh của người cha Trong quan hệ vợ chồng, Nhogiáo đưa ra những chuẩn mực đạo đức ràng buộc trách nhiệm và nghĩa vụgiữa vợ chồng với nhau Đặc biệt Nho giáo đề cao vai trò của người chồngtrong gia đình, người phụ nữ thường phải chịu nhiều thiệt thòi hơn

Tóm lại học thuyêt đạo đức nho giáo không chỉ phản ánh quan hệ đạo đức

mà còn phản ánh quan hệ đạo đức xã hội nhằm mục đích chính trị

3.2 Những phạm trù cơ bản của đạo đức nho giáo.

Trong học thuyết đạo đức Nho giáo thì trung tâm nằm ở Tam Cương và

Ngũ thường Tam cương liên kết với Ngũ thường bằng năm đức Nhân, lễ,Nghĩa, Trí, Tín

Đức nhân

Trong đạo đức làm người, chữ nhân được Khổng Tử đặt lên hàng đầu, đứcnhân là tiêu chuẩn cao nhất, Nhân là điều hợp với đạo đức và lòng người

Trang 9

Nhân, một mặt là lòng thương người “điều mà mình không muốn thì đừnglàm cho người khác”, “ muốn lập thân thì phải giúp người khác lập thântrước, muốn thành đạt cũng phải giúp người khác thành đạt Đồng thời vớibản thân phải kiềm chế mình theo đúng lễ, nếu không hợp với lễ thì khôngnhìn, không nói, không nghe, không làm Ngoài ra nhân còn bao gồm các nộidung khác như: cung kính, nghiêm túc, thành thật, dũng cảm, rộng lượng, cầncù Như vậy nhân là một phạm trù rất rộng gần như đồng nghĩa với đạo đức.Khổng tử coi Nhân và Thánh gần như một, đã Thánh là Nhân, đã Nhân làThánh Bản thân Khổng Tử cũng chưa dám nhận là người có nhân CònKhổng Nhan, Mạnh Tử, Tăng Tử đều khẳng định Nhân là đỉnh cao chót vótcủa lâu đài đạo đức.

Trong quan hệ gia đình, Khổng Tử nhấn mạnh đến quan hệ cha mẹ- con cáitrong đó nổi lên chữ hiếu Ông khẳng định rằng Nhân là gốc của Hiếu Concái phải luôn có hiếu với cha mẹ, chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ là nghĩa vụ

và bổn phận của con cái, đồng thời phải yêu thương kính trọng cha mẹ Kínhđồng thời cũng là bản chất của chữ Hiếu, có nghĩa Kính cũng chính là Nhân.Đối với các phẩm chất Trí, Dũng cũng vậy Khổng Tử nói “Nhân giả tất hữudũng, dũng giả bất tất hữu nhân”(Luận Ngữ) (người có nhân tất có dũng,người có dũng chưa chắc có nhân)

Như vậy có thể khẳng định rằng “Chữ Nhân đối với mọi người trong thiên

hạ còn hơn cả nước, lửa, người ta có thể đạp lên nước, lửa mà chết chứ khôngđạp lên chữ nhân”(Nguyễn Đăng Duy,Nho Giáo với văn hoá Việt Nam)(Dânchi ư nhân dã, thậm ư thuỷ hoả, thuỷ hoả ngô kiến đạo nhi tử giả, dễ di kiếnđạo nhân nhi tử giả dã)

Đồng nghĩa với việc coi chữ Nhân là nội dung, là tinh thần cốt lõi trong học thuyết đạo đức nho giáo

Trang 10

Thứ hai, lễ là những chuẩn mực, những quy tắc, những yêu cầu có tính bắtbuộc, ràng buộc với mọi hành vi, ứng xử của con người trong các mối quan

hệ xã hội cũng như trong các hoạt động khác của con người Tuy nhiên lễkhông phải là một tiêu chuẩn đạo đức hoàn toàn độc lập mà là một vấn đềluôn gắn liền với Nhân Trong mối quan hệ giữa Nhân và lễ thì Nhân là gốc,

là nội dung còn lễ là biểu hiện của nhân Ví dụ trong các tang lễ, xa xỉ chẳngbằng tiết kiệm, đầy đủ mọi nghi thức chẳng bằng xót thương

Do đó “Người không có lòng nhân thì thực hành lễ sao được” vì “ Nói về lễkhông phải chỉ có lụa ngọc mà thôi”

Lễ không những là biểu hiện của Nhân mà lễ còn điều chỉnh đức Nhân chođúng Khổng Tử nói “ Cung kính mà không biết lễ thì mệt nhọc, cẩn thận màkhông biết lễ thì nhút nhát, dũng cảm mà không biết lễ thì làm loạn, thẳngthắn mà không biết lễ thì làm phật ý người khác”

Và theo Khổng Tử giữa tình và lễ thì lễ quan trọng hơn, vì thế ông đã nói caitrị dân mà dùng mệnh lệnh, đưa dân vào khuôn phép mà dùng hình phạt thìdân có thể tránh được tội lỗi nhưng không biết liêm sỉ Cai trị dân mà dùngđạo đức đưa dân vào khuôn phép mà dùng lễ thì dân sẽ biết liêm sỉ và thựclòng quy phục” Như vậy đức lễ có vai trò rất lớn trong việc cai trị dân, trongđường lối cai trị nước của các bậc thiên tử ở thời đại phong kiến

Trang 11

Trong giáo dục cũng chủ trương đề cao đức lễ, mục đích giáo dục là uốn nắnnhân cách và bồi dưỡng nhân tài vì vậy phương châm giáo dục quan trọngtrong nho giáo là “ Tiên học lễ, hậu học văn”.

Vì vậy đức lễ có vai trò rất lớn, nó quy định hình thức mối quan hệ giữangười với người trong xã hội

Đức nghĩa

Trong quan niệm của nho giáo, “Nghĩa vừa là phạm trù đạo đức vừa là phạm trù chính trị xã hội Khổng tử coi nghĩa là phẩm chất cơ bản của người quân tử “ Bậc quân tử tinh tường về việc nghĩa” (quân tử dụ ư nghĩa”) đồng thời người quân tử phải hành động vì nghĩa “ Người quân tử dùng nghĩa lí làm căn bản” (Luận Ngữ )(quân tử nghĩa dĩ vi chất)

Nghĩa gắn liền với Nhân, Nhân thể hiện tình cảm sâu sắc thì nghĩa là nghĩa

vụ để thực hiện tình cảm đó Do đề cao nghĩa ngang với Nhân nên Mạnh Tử khuyên người ta chỉ nên nói điều “nhân nghĩa” “Tôi vì Nhân nghĩa mà thờ vua, con vì Nhân nghĩa mà thờ cha, em vì Nhân nghĩa mà thờ anh Vua tôi, cha con, anh em đều bỏ lợi, đối với nhau chỉ bằng lòng hâm mộ nhân nghĩa Quốc gia như thế mà không hưng thịnh thì chưa từng có”(.Luận Ngữ )(Vì vậy nghĩa mục tiêu sống mà con người cần vươn tới

Nghĩa cũng gắn liền với dũng, muốn làm việc nghĩa mà không có dũng thì không thể thực hiện được, Khổng Tử trọng dũng gắn liền dũng với nghĩa, trong đó nghĩa chỉ đạo dũng và dũng phải phù hợp với nghĩa

Ngoài ra nghĩa cũng đồng nghĩa với cái tâm trong sáng, không bị những ham muốn tầm thường ảnh hưởng Người làm việc nghĩa với cái tâm trong sáng, không bị những ham muốn tầm thường ảnh hưởng Người làm việc nghĩa là những bậc công tử mà “phú quý bất năng dâm bần tiện bất năng di,

uy vũ bất năng khuất”( phú quý không ham muốn, không vì nghèo đói mà hạ thấp mình, không vì uy vũ mà bị khuất phục)

Trang 12

Đức trí

Trí là một trong bốn đức lớn, đầu mối có sẵn trong tâm con người Ngày nay

ta thường nói trí tuệ là sức mạnh, ngày xưa Khổng tử đã đặt chữ Trí sau chữNhân vì ông cho rằng con người phải hiểu biết, có trí tuệ mới thực hiện đạođức có hiệu quả

Trí nghĩa cơ bản theo Khổng Mạnh là sự hiểu biết đạo đức, là sự minh mẫnnói chung để phân biệt, để đánh giá con Người và tình huống qua đó xác địnhcho mình lối ứng xử hợp lí nhất Mạnh tử coi đó là chuyện lương tâm, lươngtri, còn Khổng Tử cho rằng đức trí và các đức khác muốn biết phải học, hamtrí mà không ham học cái hại che lấp mất trí là sự bừa bãi, lung tung Theoông “ Người có đức nhân mà không ham học là không có bao giờ”( Hữu nhânbắt hoá học vô giã)

Sách lễ kí nói rằng: “Ngọc bất trác bất thành khí, Nhân bất học bất chiđạo”(Trần Trọng Kim, Nho Giáo) (ngọc không dũa không thành đồ, ngườikhông học không thành đạo).Hay câu nói “ Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” đã nóilên tinh thần ham học , cầu học, tinh thần tôn sư trọng đạo của nho giáo Đồngthời nói đến đức trí khong thể không nói đến đức dũng Theo Khổng TửNhân, Trí, Dũng là ba điều đạo đức của người muốn làm nên sự nghiệp lớn.Đức trí thể hiện sự hiểu biết và mưu lược, đức dũng thể hiện sự gan dạ kiêncường Người có Trí Dũng ắt làm nên việc lớn

Đức Tín

Chữ Tín được xếp cuối cùng trong đạo đức Nho giáo nhưng không phải vìthế mà hạ thấp chữ Tín Bởi chữ Tín là hệ quả của bốn đức trên, có Nhân, Lễ,Nghĩa, Trí thì mới có Tín Tín có Nghĩa là uy tín, là lòng tin, có lòng tin tuyệtđối vào chính đạo, vào đạo lí của thánh hiền, vào mối quan hệ giữa vua-tôi,cha-con, anh-em, chồng- vợ, bằng- hữu Chính vì thế Khổng Tử đã nói:

“Nhân vô tín tắc phản- người không có chữ tín rất dễ phản” hoặc “Nhân vô

Trang 13

tín bất lập- người không có tín thì đừng lập”( Nguyễn Đăng Duy, Nho Giáovới văn hoá Việt Nam)

Khái niệm “Trung” và “Tín” cũng là moọt thành tố trong tư tưởng của đạođức Nho giáo Nó còn được dùng trong quan hệ của người cai trị với dân Nhogiáo nhấn mạnh rằng người cai trị sai khiến dân phải thận trọng, hợp ý dân,phải giữ Trung Tín với dân Chính vì thế Khổng Khâu đã nêu bật ba yếu tốđảm bảo sự vững chắc và thế mạnh của một nước là: thực túc, binh cường vàdân tín Trong hoàn cảnh phải bớt đi một thì phải bớt đi quân đội, bớt đi haithì bớt quân đội và lương thực, còn dân tín là điều không thể mất vì “dânkhông tín thì chính quyền không thể đứng vững được”-

Khi tìm hiểu về đạo đức Nho giáo ngoài việc tìm hiểu năm đức Nhân, Lễ,Nghĩa, Trí, Tín hay còn gọi là ngũ thường chúng ta cũng không thể bỏ quađức trung và đức hiếu Nếu coi đức Nhân là “đỉnh cao chót vót của tháp ngọcngà”(Quang Đạm)thì đức Hiếu là gốc của tất cả mọi đạo đức Nho giáo luôn

đề cao mối quan hệ giữa gia đình và xã hội, gia đình mạnh thì nước mớimạnh, gia đình đoàn kết, có trật tự kỷ cương thì đất nược mới có kỷ cươngphép tắc Nho giáo coi nhà là gốc của đất nước, cũng như nước là gốc củathiên hạ, muốn bình thiên hạ phải biết trị quốc, muốn trị quốc phải biết tề gia Như vậy Nho giáo coi năm đức Nhân, Nghĩa, Lễ , Trí , Tín là những phẩmchất đạo đức cơ bản của mẫu người lí tưởng trong xã hội xưa kia và ngày nay.Năm đức này vẫn còn giá trị đối với người hiện đại, vẫn còn được coi lànhững phẩm chất đạo đức cơ bản của con người

I. ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO ĐÔI VỚI CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

II.1 Anh hưởng tiêu cực

Trong xã hội Viêt Nam ngày nay, chúng ta vẫn có thể nhận ra dấu ấn khá rõnét của tư tưởng đạo Nho trong từng người, từng lứa tuổi Nó tồn tại rất đa

Trang 14

dạng, ở nhiều mức độ khác nhau trong từng mặt khác nhau của đời sống xãhội Ở một số người đã từng học nó ít nhiều thì có những mặt họ coi là đúng,

họ chịu ảnh hưởng một cách có ý thức Còn ở phần đông, tư tưởng đạo Nhosống dai dẳng dưới dạng nếp nghĩ, thói quen, thấm vào tư tưởng của họ từ rất

xa xưa Phần lớn nhân dân Việt Nam mang trong mình tư tưởng Nho giáonhưng họ không xác định được bản thân đang bị ảnh hưởng bởi một họcthuyết nào đó Những quan điểm họ mang được coi là đương nhiên, cách cư

xử của họ cũng được coi là một điều tất nhiên Họ không cần suy tính nóđúng đắn hay sai lầm Điều này có ảnh hưởng rất xấu đến các thế hệ ViệtNam hiện tại và sau này Vì vậy chúng ta cần chỉ ra những ảnh hưởng tiêu cựccủa tư tưởng Nho giáo đang tồn tại dai dẳng trong xã hội, để từ đó tìm ranhững biện pháp hữu hiệu nhằm xoá bỏ những mặt tiêu cực của tư tưởng Nhogiáo và phát huy những mặt tích cực của nó

II.1.1 Nếp sống không thật sự dân chủ trong xã hội.

Một xã hội Xã hội chủ nghĩa là một xã hội trong đó nhân dân làm chủ mọi

tư liệu sản xuất rồi hưởng thụ theo lao động, là một xã hội của dân, do dân, vìdân, phải là một xã hội thực sự dân chủ, hơn hẳn nền dân chủ tư sản ViệtNam là một quốc gia đang trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưngtrong xã hội Việt Nam vẫn tồn tại những nếp sống không thực sự dân chủ Như tất cả chúng ta đều biết, một nền dân chủ chân chính phải xây dựngtrên cơ sở kinh tế như xã hội xã hội chủ nghĩa của nước ta Nhưng nghĩ rằng

đã có quyền sở hữu tập thể hay toàn thể về tư liệu sản xuất thì tự nhiên mọingười đều có quyền dân chủ một cách đầy đủ thì lại là một quan điểm chưathực sự đúng đắn với hiện thực Nói đến thiếu hay mất dân chủ đa số chúng ta

có xu hướng quy hết trách nhiệm cho lớp người có trách nhiệm thi hànhquyền dân chủ Đó là một cách nhìn phiến diện nhưng không phải là không cócăn cứ Điều này vẫn ngày ngày diễn ra trong thực tế hiện nay Đó là một sốngười có trách nhiệm khi đã nêu ra một số ý kiến gì thì thường không thể chịu

Ngày đăng: 05/04/2013, 14:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w