1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nội dung tập huấn ứng dụng CNTT trong dạy học

29 411 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, có thể thấy chúng ta đã bỏphí rất nhiều tiềm năng của máy tính, chưa khai thác hết những ứng dụng to lớn củacông nghệ thông tin, mà một trong những ứng dụng đó là việc sử dụng c

Trang 1

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG

DẠY HỌC 2010

Điện Biên, 16/10/2010

Trang 2

MỤC LỤC

1 VAI TRÒ CỦA CNTT&TT (ICT) 2

1.1 Máy tính, mạng Internet và thế giới ảo trên Internet 2

1.2 Lợi ích mà thể giới ảo trên Internet mang lại 2

1.3 Những thế mạnh của thế giới ảo so với thế giới thật 3

2 ỨNG DỤNG CNTT&TT TRONG VIỆC DẠY VÀ HỌC 3

2.1 Thực trạng ứng dụng CNTT trong nhà trường phổ thông hiện nay 3

2.2 Một số giải pháp và đề xuất ứng dụng CNTT trong dạy và học 4

2.2.1 Các hình thức ứng dụng CNTT trong dạy học 4

2.2.2 Tích cực sử dụng các bài giảng điện tử trong giảng dạy 6

2.3 Sử dụng các phần mềm tiêu biểu phục vụ cho công tác giảng dạy 8

2.3.1 Các phần mềm phổ thông 9

2.3.2 Các phần mềm chuyên dụng phục vụ cho giáo dục 9

2.3.3 Sử dụng phần mềm nguồn mở thay cho phần mềm bản quyền 10

2.4 Sử dụng Internet trong việc tìm kiếm các thông tin trực tuyến 12

2.4.1 Truy cập các thư viện tài nguyên trực tuyến 12

2.4.2 Sử dụng các dịch vụ tìm kiếm như Google, Yahoo, Baamboo… 14

2.4.3 Trao đổi chuyên môn, chia sẻ tài nguyên trên các mạng xã hội 17

3 MỘT SỐ PHẦN MỀM TIÊU BIỂU PHỤC VỤ DẠY VÀ HỌC 19

3.1 Giới thiệu phần mềm Violet 19

3.2 Cài đặt và chạy chương trình 21

4 Giới thiệu một số website phục vụ công tác giảng dạy 22

4.1 Trang web đào tạo kỹ năng vi tính trực tuyến cho giáo viên 22

4.2 Các hệ thống Thư viện trực tuyến của công ty Bạch Kim 23

4.2.1 Hệ thống Thư viện tư liệu giáo dục (http://tulieu.edu.vn) 23

4.2.2 Hệ thống Thư viện bài giảng điện tử (http://baigiang.edu.vn) 24

4.2.3 Những lợi ích và xu hướng phát triển của các hệ thống mở 25

4.3 Trường học thời đại số: http://hocmai.vn 26

Trang 4

NỘI DUNG TẬP HUẤN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC

1 VAI TRÒ CỦA CNTT&TT (ICT)

1.1 Máy tính, mạng Internet và thế giới ảo trên Internet

Máy vi tính với các phần mềm phong phú đã trở thành một công cụ đa năngứng dụng trong mọi lĩnh vực của nghiên cứu, sản xuất và đời sống Tuy nhiên nếunhư công dụng của máy là tính là có thể đo đếm được thì sự ra đời của mạng máy tínhtoàn cầu (Internet) đem lại những hiệu quả vô cùng lớn, không thể đo đếm được.Chính vì vậy, ngày nay chúng ta thường nghe nói đến thuật ngữ CNTT&Truyềnthông (ICT) thay vì CNTT (IT)

Một máy tính nối mạng không phải chỉ giúp chúng ta đọc báo điện tử, gửiemail mà nó là kênh kết nối chúng ta với tất cả thế giới Chúng ta có thể tiếp cận toàn

bộ tri thức nhân loại, có thể làm quen giao tiếp với nhau hoặc tham gia những tổ chức

ở xa nửa vòng trái đất Mạng máy tính toàn cầu thực sự đã tạo ra một thế giới mớitrong đó cũng có gần như các hoạt động của thế giới thực: thương mại điện tử(ecommerce), giáo dục điện tử (elearning), trò chơi trực tuyến (game online), các diễnđàn (forum), các mạng xã hội (social network), các công dân điện tử (blogger),…

1.2 Lợi ích mà thể giới ảo trên Internet mang lại

Tuy gọi là thế giới ảo nhưng nó đem lại lợi ích thực sự cho những người thamgia, thậm chí những lợi ích đem lại còn nhiều hơn so với trong thế giới thật Ví dụnhững cá nhân tham gia thương mại điện tử có thể ngồi ở nhà, thông qua máy tính nốimạng để buôn bán trao đổi và có thể thu được rất nhiều lợi nhuận Học sinh có thểtham gia các hệ thống học trực tuyến trên mạng mà không phải tốn một đồng học phí,

mà kiến thức thu được còn nhiều hơn là theo lớp học thật Một học sinh ở Hà Nội cóthể thông qua một hệ thống học trực tuyến để theo học một thầy giáo ở tận TP HCM.Một thầy giáo có thể dạy cùng một lúc hàng vạn học sinh

Thông qua các diễn đàn và mạng xã hội, tất cả mọi người có thể trao đổi, chia

sẻ với nhau các tài nguyên số, cũng như các kinh nghiệm trong công việc trong đờisống và công việc Ví dụ mọi người có thể chia sẻ các đoạn phim hoặc các bài hát, cóthể chia sẽ các bài viết về những kiến thức khoa học, xã hội, v.v… Ví dụ các bậc phụhuynh trên cả nước có thể chia sẻ kinh nghiệm về cách chăm sóc con cái Các giáoviên có thể chia sẻ các tư liệu ảnh, phim, các bài giảng và giáo án với nhau, để xây

Trang 5

dựng một kho tài nguyên khổng lồ phục vụ cho việc giảng dạy của mỗi người Họcsinh cũng có thể thông qua các mạng xã hội để trao đổi những kiến thức về học tập vàthi cử.

1.3 Những thế mạnh của thế giới ảo so với thế giới thật

Trong nhiều lĩnh vực, các hoạt động của thế giới ảo trên mạng Internet tỏ ra cónhiều ưu điểm vượt trội so với ở thế giới thực Bởi vì đó là một “Thế giới phẳng” (tênmột cuốn sách nổi tiếng của Thomas L.Friedman đã được dịch sang tiếng Việt) nơi

mà tất cả mọi người tham gia sẽ ở cùng một điểm xuất phát, không phân biệt vị trí địa

lý, nghề nghiệp, tuổi tác, địa vị xã hội Trong thế giới này, các hoạt động có thể diễn

ra vô cùng lớn mạnh với hàng triệu người tham gia Các kết quả mà thế giới ảo đạtđược có thể không bao giờ làm được trong thế giới thật (ví dụ xây dựng thư viện trựctuyến khổng lồ hoặc các công cụ tìm kiếm tri thức toàn cầu)

Chi phí để vận hành thế giới ảo này hầu như không đáng kể so với thế giớithật, ví dụ thương mại điện tử sẽ không cần phải có cửa hàng, kho bãi, không cầnnhân viên tiếp thị phải đi khắp nơi, học trực tuyến không cần trường học, lớp học, đồdùng dạy học, v.v hay các diễn đàn hội thảo không cần hội trường, chi phí đi lại ăn

ở cho các đại biểu v.v

Mặc dù ở nhiều lĩnh vực thì hoạt động của thế giới ảo trên Internet không thểthay thế, mà chỉ có thể hỗ trợ cho các hoạt động thật, tuy nhiên thực tế nó đang pháttriển mạnh mẽ và ở nhiều lĩnh vực đã lấn át các hoạt động thật (ví dụ đọc báo điện tử,nghe nhạc trực tuyến ) Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, mỗi chúng ta đều phảinhanh chóng thích nghi với những thay đổi mới của thế giới nếu như không muốn tụthậu

2 ỨNG DỤNG CNTT&TT TRONG VIỆC DẠY VÀ HỌC

2.1 Thực trạng ứng dụng CNTT trong nhà trường phổ thông hiện nay

Từ khá sớm, các trường học trên nhiều tỉnh thành đã bắt đầu đưa công nghệthông tin vào giảng dạy Hầu hết các trường đều có phòng máy tính riêng Tuy nhiên,những trang thiết bị này thường chỉ nhằm mục đích cho học sinh thực hành môn Tinhọc (chỉ là một môn trong rất nhiều môn học), hoặc ứng dụng trong công tác lưu trữ,quản lý hồ sơ nhân sự hay trợ giúp việc thi cử Như vậy, có thể thấy chúng ta đã bỏphí rất nhiều tiềm năng của máy tính, chưa khai thác hết những ứng dụng to lớn củacông nghệ thông tin, mà một trong những ứng dụng đó là việc sử dụng các phần mềm

Trang 6

hỗ trợ giảng dạy cho các tiết học trên lớp đối với các môn văn hoá khác như: Toán,Vật lý, Hoá học, Sinh học, Lịch sử, Địa lý, Ngoại ngữ v.v

Chính vì vậy, nhu cầu sử dụng phần mềm trong giảng dạy hiện nay là rất lớn.Hầu hết các giáo viên đều nhận thấy đây là vấn đề cấp thiết cần thực hiện ngay Cácsinh viên sư phạm cũng đều coi khả năng thiết kế bài giảng bằng máy tính như mộttiêu chuẩn nâng cao giá trị của mình khi xin việc vào các trường tốt Các lãnh đạotrường cũng như các cơ quan giáo dục đều khuyến khích và coi khả năng sử dụnggiáo án điện tử, bài giảng điện tử là ưu điểm của giáo viên Do đó, các lớp tập huấnTin học sử dụng Powerpoint, Violet, thường được các giáo viên tham gia rất đông.Trong các cuộc thi giáo viên dạy giỏi, gần như 100% là các bài giảng là dùng phầnmềm Ở các tỉnh thành lớn, đa số các trường học đều đã trang bị máy chiếu để phục

vụ việc giảng dạy bằng máy tính

Trên thực tế thì các phần mềm giáo dục của Việt Nam cũng đã xuất hiện rấtnhiều, phong phú về nội dung và hình thức như: sách giáo khoa điện tử, các websiteđào tạo trực tuyến, các phần mềm multimedia dạy học, Trên thị trường có thể dễdàng lựa chọn và mua một phần mềm dạy học cho bất cứ môn học nào từ lớp một chođến luyện thi đại học Tuy nhiên, các "Sách giáo khoa điện tử" không tỏ ra nổi trộihơn SGK truyền thống, Website đào tạo từ xa khó triển khai rộng được vì Internet ở

VN còn là một vấn đề lớn Các phần mềm dạy học cho học sinh, dù đã có rất nhiều cốgắng về mặt hình thức và nội dung, tuy nhiên sự giao tiếp giữa máy với người chắcchắn không thể bằng sự giao tiếp giữa thầy với trò

Hiện nay, các công ty thiết bị giáo dục cũng thường xây dựng các video quaycác tiết giảng mẫu để đưa về các trường Tuy nhiên định hướng này khó phát huyđược hiệu quả, vì sản phẩm cũng chỉ như một giáo án tham khảo trong khi chi phí đểxây dựng rất lớn (vài chục triệu đồng/tiết dạy) mà hầu như không thể chỉnh sửa về sauđược Nó thậm chí còn có thể gây phản tác dụng khi tạo ra sự áp đặt cho giáo viên,tạo ra tư duy lười suy nghĩ vì chỉ cần dạy theo giáo án mẫu, làm giảm đi sự sáng tạocủa giáo viên trong việc giảng dạy

2.2 Một số giải pháp và đề xuất ứng dụng CNTT trong dạy và học

2.2.1 Các hình thức ứng dụng CNTT trong dạy học

Hiện nay, trên thế giới người ta phân biệt rõ ràng 2 hình thức ứng dụng CNTTtrong dạy và học, đó là Computer Base Training, gọi tắt là CBT (dạy dựa vào máytính), và e-learning (học dựa vào máy tính) Trong đó:

Trang 7

- CBT là hình thức giáo viên sử dụng máy vi tính trên lớp, kèm theo các trangthiết bị như máy chiếu (hoặc màn hình cỡ lớn) và các thiết bị multimedia để hỗ trợtruyền tải kiến thức đến học sinh, kết hợp với phát huy những thế mạnh của các phầnmềm máy tính như hình ảnh, âm thanh sinh động, các tư liệu phim, ảnh, sự tương tácngười và máy.

- E-learning là hình thức học sinh sử dụng máy tính để tự học các bài giảng màgiáo viên đã soạn sẵn, hoặc xem các đoạn phim về các tiết dạy của giáo viên, hoặc cóthể trao đổi trực tuyến với giáo viên thông mạng Internet Điểm khác cơ bản của hìnhthức E-learning là lấy người học làm trung tâm, học viên sẽ tự làm chủ quá trình họctập của mình, giáo viên chỉ đóng vai trò hỗ trợ việc học tập cho học viên

Như vậy, có thể thấy CBT và e-learning là hai hình thức ứng dụng CNTT vàodạy và học khác nhau về mặt bản chất Một bên là hình thức hỗ trợ cho giáo viên, lấyngười dạy làm trung tâm và cơ bản vẫn dựa trên mô hình lớp học cũ Còn một bên làhình thức học hoàn toàn mới, lấy người học làm trung tâm, trong khi giáo viên chỉ làngười hỗ trợ Tuy nhiên, ở Việt Nam nhiều người vẫn bị nhầm lẫn 2 khái niệm này,trong đó có không ít các chuyên giá giáo dục, nên nhiều khi dẫn đến những sai lầmtrong đường hướng chỉ đạo Vì vậy, trong tài liệu này, chúng tôi sẽ phân tích kỹ hơnnhưng mặt mạnh mặt yếu của CBT và e-learning để có thể hiểu rõ hơn chúng ta đãlàm gì, cần làm gì và nên làm gì trong giai đoạn hiện nay

Có thể phát triển, cải tiến từ phương

pháp dạy học truyền thống Vẫn dựa

trên những hình thức cơ bản của một

lớp học thông thường

Thay đồi hoàn toàn cách dạy và học.Người học có thể học riêng rẽ, học ởnhà hoặc ở nơi làm việc E-learningkhai thác được tối đa sức mạnh củathế giới Internet: khả năng phổ biếnrất cao (có thể 1 bài giảng hàng triệungười học), hay có khả năng cập nhậtcác thông tin mới ngay lập tức

Chi phí đầu tư ban đầu thấp Chỉ cần

trang bị cho lớp học máy tính, máy

chiếu và các thiết bị multimedia

Chi phí đầu tư ban đầu rất cao Mỗilớp học phải là một phòng máy tínhnối mạng Internet, mỗi học sinh vàgiáo viên phải có máy tính riêng vànhững phần mềm chuyên dụng

CBT là phương pháp kết hợp được cả

những thế mạnh của phương pháp dạy

học truyền thống (dựa trên giao tiếp

Chỉ dựa trên thế mạnh của các bàigiảng điện tử, hầu như không có giaotiếp thầy trò

Trang 8

thầy-trò) và khai thác được những ưu

thế của các công nghệ hiện đại (ví dụ

những bài giảng điện tử)

Phù hợp hơn với giáo dục phổ thông,

vì là ở đây, giáo viên không chỉ dạy

kiến thức mà còn phải theo dõi hướng

dẫn cách tư duy Vả lại học sinh nhỏ

tuổi chưa đủ khả năng để làm chủ

được quá trình học tập của mình

Phù hợp hơn với giáo dục Đại học,Sau đại học và những người đã đilàm

Đây là phương pháp mà các giáo viên

ở Việt Nam hay dùng phổ biến hiện

nay như dùng Powerpoint, Violet để

thiết kế bài giảng và dạy học dùng

máy chiếu Những kết quả thu được là

Các công cụ tạo bài giảng cho CBT

gọi là các Authoring Tools như là

Powerpoint, Violet, Impress,

Author-ware

Các công cụ tạo bài giảng cho learning thì tuân theo một chuẩnchung để đưa lên mạng, trong đó nổitiếng nhất là chuẩn SCORM

e-2.2.2 Tích cực sử dụng các bài giảng điện tử trong giảng dạy

Từ nhiều năm nay, ở các trường phổ thông cũng đã tương đối phổ biến môhình giảng dạy sử dụng bài giảng điện tử cùng với các trang thiết bị khác như máy

tính, máy chiếu (projector), Bài giảng điện tử và các trang thiết bị này có thể coi là

những công cụ dạy học đa năng vì nó có thể thay thế cho hầu hết các công cụ dạy họckhác từ truyền thống (tranh vẽ, bản đồ, mô hình, ) đến hiện đại (cassette, ti vi, đầuvideo ) Hơn nữa, nếu các bài giảng điện tử được đầu tư xây dựng cẩn thận thì sẽđem lại hiệu quả hơn hẳn Chẳng hạn khi mô phỏng một trận đánh lịch sử, trên bản đồgiấy chỉ có thể diễn tả được bằng các mũi tên chỉ hướng tấn công, còn trên phần mềm

có thể diễn tả được hình ảnh của các đoàn quân di chuyển, nên tạo được sự hấp dẫn

và học sinh có thể tiếp thu bài giảng dễ dàng hơn

Khác với các phần mềm giáo dục khác, bài giảng điện tử không phải là phầnmềm dạy học, nó chỉ trợ giúp cho việc giảng dạy của giáo viên (đối tượng sử dụng làgiáo viên, không phải là học sinh) Chính vì vậy, việc truyền đạt kiến thức vẫn dựatrên giao tiếp thầy-trò, chứ không phải giao tiếp máy-người Mặt khác, vì giáo viên làngười trực tiếp điều hành việc sử dụng phần mềm nên có thể khai thác tối đa được

Trang 9

những kiến thức cần chuyển tải trong phần mềm, tuỳ thuộc vào trình độ của học sinh

và phương pháp giảng dạy của giáo viên

Rõ ràng việc sử dụng các bài giảng điện tử sẽ tăng hiệu quả đáng kể đối vớicác tiết dạy của giáo viên Có thể nói đó là sự kết hợp những ưu điểm của phươngpháp dạy học truyền thống và của các công nghệ hiện đại

Tuy nhiên, nếu đầu tư xây dựng các bài giảng đóng gói đơn lẻ như sau thì dễthấy những mặt hạn chết như sau:

- Tính cứng nhắc trong nội dung bài giảng: Các bài giảng điện tử xây dựngtheo mô hình trên thường không thể ứng dụng trên quy mô rộng được Một bài giảng

do giáo viên này thiết kế khó có thể áp dụng cho một giáo viên khác vì mỗi người sẽ

có một phương pháp giảng dạy khác nhau Thậm chí với cùng một giáo viên nhưngvới những trình độ học sinh khác nhau thì cũng phải có những bài giảng khác nhau

- Giá thành cao: Để có được những sản phẩm có chất lượng phù hợp với yêucầu của các giáo viên thì đòi hỏi phải có một đội ngũ kỹ thuật viên có đủ chuyên môn

và kinh nghiệm làm việc, phải đầu tư không ít thời gian cho các việc thiết kế, sản xuất

và bảo trì phần mềm Do vậy, nếu tính theo giá thị trường thì giáo viên khó có thể đápứng được, thậm chí đối với một trường học thì giá thành cũng là một vấn đề lớn

- Sự áp đặt máy móc: Hiện nay, nhiều cơ quan trong ngành Giáo dục hay các

Sở Giáo dục địa phương cũng thường đầu tư xây dựng hoặc mua phần mềm hỗ trợgiảng dạy, sau đó đưa về các trường để sử dụng Tuy nhiên, giáo viên phải tâm đắcvới phần mềm nào thì quá trình giảng dạy mới đạt hiệu quả Mọi sự áp đặt từ cấp trênđưa xuống sẽ trở nên vô nghĩa Phương pháp giảng dạy tốt nhất là do giáo viên trựctiếp đứng lớp quyết định, không phải một người khác sáng tác ra để áp đặt cho họ.Thậm chí việc áp đặt còn có thể gây ra hiệu quả xấu khi tạo cho người giáo viên tínhlười soạn bài, không phát huy tính sáng tạo trong giảng dạy và cũng không nắm rõđược những ý đồ sư phạm trong một bài giảng

Chỉ có một cách duy nhất là phải hướng dẫn, tập huấn các giáo viên để có thể

tự xây dựng các bài giảng cho riêng mình Tuy nhiên, việc tập huấn cũng chỉ dừng lại

ở mức độ sử dụng thành thạo một vài công cụ thiết kế bài giảng như Powerpoint hayViolet, cách tìm kiếm các tư liệu qua mạng Internet, sử dụng máy quay phim, máyảnh số, máy quét

Ở mức độ này, giáo viên mới chỉ có thể tạo được bài giảng ở mức cơ bản, chấtlượng trung bình Chẳng hạn như họ không thể tự vẽ thêm một bức tranh, tự xây dựngmột hình ảnh động hoặc lập trình tạo ra một thí nghiệm mô phỏng, hoặc cũng khôngthể tự chỉnh sửa được các tư liệu hình ảnh sau khi quét ảnh hoặc lấy về từ Internet chođẹp hơn, biên tập lại các đoạn phim, dịch thuyết minh các tư liệu của nước ngoài

Trang 10

thành tiếng Việt, v.v đặc biệt rất khó có thể tìm kiếm thu thập được những phim ảnh

tư liệu quý hiếm Tất cả những việc này đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ, họa sĩ, kỹthuật viên tin học chuyên nghiệp thì mới đảm nhiệm tốt được

Hiện nay, nhiều chuyên gia giáo dục đã cảnh báo tình trạng “lạm dụng CNTT”khi các giáo viên tự xây dựng bài giảng Do hạn chế về định hướng, công nghệ nêngiáo viên thường hay xây dựng những bài giảng mang nặng tính trình chiếu, ví dụnhư sử dụng Powerpoint “bắn” rất nhiều chữ ra màn hình và khi giảng bài thì gần nhưđọc lại nội dung đó Phương pháp này thậm chí sẽ làm cho học sinh giảm hiệu quảtiếp thu khi phải đồng thời nghe giảng, vừa đọc chữ, chưa kể là còn bị cuốn hút vàonhững hiệu ứng chữ chạy nhảy và âm thanh kèm theo (xem thêm bài báo ở phần Phụlục “Thuyết trình bằng Powerpoint là một thảm họa” và ý kiến của một giáo viên vềGiáo án điện tử)

Một trong những lý do của tình trạng trên là do các giáo viên chưa hiểu đượcrằng: cách sử dụng hiệu quả của ứng dụng phần mềm dạy học là phải khai thác triệt

để các nội dung tư liệu, đặc biệt là các tư liệu multimedia (âm thanh, hình ảnh, phim,Flash, ) Một lý do quan trọng nữa là kể cả khi hiểu được như vậy thì cũng khó cóthể thực hiện, vì việc giáo viên đưa một đoạn văn bản vào phần mềm thì dễ, chứ nếu

tự vẽ hình, tự tạo ảnh động hay tìm kiếm tư liệu bên ngoài thì sẽ rất khó khăn

Chính vì vậy, giáo viên nên sử dụng các công cụ tìm kiếm trên Internet tư liệunhư Google hay Yahoo, hoặc các truy cập các nguồn tư liệu phong phú nhưWikipedia, YouTube, đặc biệt là các nguồn tài nguyên phục vụ cho giáo dục và đào

tạo như Thư viện tư liệu giáo dục tại http://tulieu.edu.vn (cung cấp các tư liệu giúp

giáo viên sử dụng vào bài giảng) và Thư viện bài giảng điện tử tại

http://baigiang.edu.vn (cung cấp các bài giảng tham khảo có chất lượng để giáo viênhọc tập và chia sẻ kinh nghiệm trong giảng dạy)

2.3 Sử dụng các phần mềm tiêu biểu phục vụ cho công tác giảng dạy

Học sử dụng máy vi tính thực chất là học cách sử dụng các phần mềm vi tính

Có thể phân ra 2 loại là các phần mềm phổ thông (như soạn thảo văn bản, xử lý ảnh,bảng tính, gõ tiếng Việt, các phần mềm gửi thư điện tử ) và các phần mềm chuyêndụng, cụ thể đối với giáo viên đó là những phần mềm tạo bài giảng như Powerpoint,Violet, tạo các hình ảnh mô phỏng để dạy học như Macromedia Flash, Swish, v.v

2.3.1 Các phần mềm phổ thông

Các phần mềm phổ thông là bắt buộc phải sử dụng thành thạo đối với cả mọingười, từ cấp quản lý đến giáo viên trong nhà trường Trong đó một số phần mềm

Trang 11

quan trọng có thể kể ra (chủ yếu nằm trong bộ phần mềm văn phòng MicrosoftOffice)

Microsoft Word: Phần mềm soạn thảo văn bản, dùng để soạn công văn, báo

cáo, kế hoạch và tất cả các giấy tờ tài liệu khác Các giáo viên có thể dùng để soạngiáo án vừa có thể in ra để sử dụng, lưu trữ trên máy tính hoặc chia sẻ trên mạngInternet

Microsoft Excel: Phần mềm tạo bảng tính để xây dựng các kế hoạch, các chi

phí tài chính, hoặc lưu trữ và tính điểm của học sinh Excel mạnh ở điểm là có thể đưavào những phương pháp tính toán, thống kê tùy ý một cách rất dễ dàng

Microsoft Outlook: Phần mềm gửi nhận thư điện tử Đã qua rồi thời kỳ mà

các đơn vị hoặc cá nhân trao đổi với nhau với nhau hoàn toàn bằng công văn giấy tờhoặc gọi điện thoại (thậm chí điện thoại đường dài) trong những công việc thườngngày Ngày nay thư điện tử đã được sử dụng chủ yếu, với những ưu điểm vượt trộinhư rẻ tiền, thông tin nhanh chóng và đơn giản Mỗi cá nhân sẽ có một địa chỉ thưđiện tử riêng Microsoft Outlook là phần mềm hỗ trợ việc quản lý và gửi nhận thưđiện tử rất dễ dàng

UniKey: Cài đặt phần mềm này, ta mới có thể gõ được tiếng Việt trong các

văn bản, thư tín, Ta có thể chọn kiểu gõ Telex hay VNI, có thể chọn mã chữ làUnicode hay TCVN, Đặc biệt phần mềm có chức năng chuyển mã chữ rất tiện lợi,giúp có thể đọc được những văn bản không dùng Unicode mà máy tính không có fontchữ tương ứng Ví dụ trước đây các văn bản từ miền Bắc vào miền Nam hoặc ngượclại thì đều không thể đọc được, vì miền Bắc dùng mã TCVN, còn miền Nam thì dùng

mã VNI

Adobe Photoshop: Là phần mềm xử lý ảnh thông dụng nhất, với rất nhiều

tính năng từ nghiệp dư đến chuyên nghiệp đều có thể sử dụng được Với những chứcnăng cơ bản thì giáo viên và cán bộ quản lý cũng nên sử dụng được, vì nó hiện nay dùlàm bài giảng hay báo cáo, kế hoạch cũng ít nhiều sử dụng các tư liệu ảnh (ảnh chụphoặc hình vẽ)

2.3.2 Các phần mềm chuyên dụng phục vụ cho giáo dục

Đối với giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, chúng tôi khuyến khích học và

sử dụng các phần mềm sau vì sẽ rất có ích trong việc xây dựng các bài giảng hỗ trợcho việc giảng dạy

Microsoft Powerpoint: Phần mềm cho phép soạn các bài trình chiếu hấp dẫn

để làm bài giảng điện tử Powerpoint có thể sử dụng được các tư liệu ảnh phim, chophép tạo được các hiệu ứng chuyển động khá hấp dẫn và chọn các mẫu giao diện đẹp

Trang 12

Hiện nay, phần lớn các bài giảng điện của giáo viên ở Việt Nam đều sử dụngphần mềm Powerpoint, tuy nhiên, xu hướng đang chuyển dần sang các phần mềmkhác hiện đại hơn, dễ dùng hơn và không gặp phải vấn đề bản quyền.

Phần mềm Violet: Dùng cho giáo viên có thể tự thiết kế và xây dựng được

những bài giảng điện tử sinh động, hấp dẫn, để trợ giúp cho các giờ dạy học trên lớp(sử dụng với máy chiếu projector hoặc ti vi), hoặc để đưa lên mạng Internet Tương tựnhư Powerpoint nhưng Violet có nhiều điểm mạnh hơn như giao diện tiếng Việt, dễdùng, có những năng chuyên dụng cho bài giảng như tạo các loại bài tập, chức năngthiết kế chuyên cho mỗi môn học, và đặc biệt là khả năng gắn kết được với các phầnmềm công cụ khác

Macromedia Flash: Đây là phần mềm cho phép vẽ hình, tạo ra hình ảnh

động, các hiệu ứng chuyển động và biến đổi, lập trình tạo ra các hoạt động mô phỏng

và tương tác sinh động, hấp dẫn Để sử dụng tốt Flash đòi trình độ người sử dụngcũng phải ở mức khá và phải thực hành nhiều Thông thường không dùng Flash đểtạo cả một bài giảng vì nó sẽ tốn khá nhiều công sức, mà chỉ dùng để tạo ra các tư liệurồi kết hợp với Violet hoặc Powerpoint để tạo thành một bài giảng hoàn chỉnh

2.3.3 Sử dụng phần mềm nguồn mở thay cho phần mềm bản quyền

Ngày nay, trong xu hướng hội nhập, việc tôn trọng bản quyền đang trở nên mộtvấn đề không thể không quan tâm Hầu hết ở Việt Nam hiện nay chúng ta đang sửdụng các phần mềm vi phạm bản quyền, thậm chí vi phạm mà cũng không biết rằngmình đang vi phạm Giá thành của một phần mềm là không nhỏ, thậm chí còn caohơn cả giá thành của chiếc máy tính Vì vậy với một chiếc máy tính, tổng giá trị cácphần mềm trong đó có khi lớn gấp hàng chục lần giá trị của máy tính

Trong vài năm gần đây, Chính phủ và các Bộ ngành cũng đã ra nhiều chỉ thị vềviệc mua bản quyền các phần mềm trong các cơ quan hành chính Nhà nước, tuy nhiênkết quả đạt được cũng chưa đáng kể là bao Hiện nay, mới chỉ có một số doanhnghiệp lớn của Việt Nam là có đủ tiềm năng để trang bị bản quyền phần mềm chođơn vị mình

Vì vậy, do điều kiện kinh tế còn khó khăn, vả lại chúng ta đã quá quen với việcdùng phần mềm mà không trả tiền nên việc mua bản quyền các phần mềm, nhất làphần mềm của nước ngoài trong giai đoạn hiện nay là không dễ thực hiện Một trongnhững giải pháp đơn giản cho vấn đề này là chúng ta tìm và sử dụng các phần mềmmiễn phí có tính năng gần tương tự như các phần mềm bản quyền kia Ví dụ: Hệ điềuhành Linux thay cho Windows, bộ phần mềm Open Office của hãng Sun là miễn phí

và có thể sử dụng thay cho Microsoft Office, v.v

Trang 13

Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ban hành công văn số 12966/BGDĐT-CNTTngày 10/12/2007 về việc đẩy mạnh triển khai một số hoạt động về CNTT trong đó có

đề cập đến việc sử dụng các phần mềm mã nguồn mở, cụ thể 4 phần mềm cần thiết làOpenOffice, FireFox, Thunderbird và UniKey

2.4 Sử dụng Internet trong việc tìm kiếm các thông tin trực tuyến

Chúng ta có thể tự xây dựng một kho tài nguyên dạy học với vài nghìn tư liệu,nhưng như vậy liệu đã đủ chưa Thực ra, việc đó giờ không còn là vấn đề cần lo lắng

vì Internet đã chính là một thư viện không lồ, là nơi lưu chứa tri thức của toàn nhânloại với hàng tỷ tư liệu và các bài viết của mọi lĩnh vực, đặc biệt các thông tin trên đóluôn được cập nhật từng ngày, từng giờ Như vậy một vấn đề quan trọng và bắt buộcđối với giáo viên trong việc ứng dụng CNTT trong dạy học là phải biết khai thácnguồn tài nguyên phong phú trên Internet

Có 3 phương pháp để khai thác các thông tin phục vụ việc giảng dạy như sau:

2.4.1 Truy cập các thư viện tài nguyên trực tuyến

Thông thường hiện nay, các thư viện lớn đều được phát triển theo mô hình xãhội, nội dung sẽ do chính người sử dụng cùng xây dựng lên với số lượng người thamgia xây dựng lên đến hàng triệu Trên thế giới đã xuất hiện các thư viện nổi tiếng như:

- Wikipedia.org (trang tiếng Việt là vi.wikipedia.org) là hệ thống bách khoa

toàn thư khổng lồ với đầy đủ tri thức nhân loại từ xưa đến nay, do hàng chục triệutình nguyện viên trên thế giới đóng góp xây dựng Có thể tìm ở đây từ các kiến thứckhoa học phổ thông đến các nghiên cứu khoa học chuyên ngành, tìm hiểu về tiểu sửnhững người nổi tiếng cho đến những vấn đề thời sự được cập nhật hàng ngày v.v

Trang 14

Figure 2-1 Bài viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên Wikipedia

Một đặc điểm nổi bật của Wikipedia là khả năng liên kết giữa các bài viết, ví

dụ trong bài viết về đại tướng Võ Nguyên Giáp, người dùng có thể click vào nhữngchữ màu xanh, ví dụ click vào chữ “quân đội nhân dân Việt Nam” thì sẽ chuyển đếnmột bài viết về Quân đội nhân dân Việt Nam

- Youtube.com, là trang web chia sẻ video lớn nhất thế giới, ở đây chúng ta có

thể dễ dàng tìm được những tư liệu phim phù hợp với mục đích dạy học Ở Việt Namcũng có trang chia sẻ video riêng ở địa chỉ Clip.vn

Ngày đăng: 29/04/2015, 20:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2-9. Diễn đàn Mạng giáo dục của Bộ GD&ĐT - Nội dung tập huấn ứng dụng CNTT trong dạy học
Hình 2 9. Diễn đàn Mạng giáo dục của Bộ GD&ĐT (Trang 20)
Hình 2-10. Một blog của giáo viên tên Vân Chi trên My Opera - Nội dung tập huấn ứng dụng CNTT trong dạy học
Hình 2 10. Một blog của giáo viên tên Vân Chi trên My Opera (Trang 21)
Hình 3-1: Giao diện chương trình Violet - Nội dung tập huấn ứng dụng CNTT trong dạy học
Hình 3 1: Giao diện chương trình Violet (Trang 23)
Hình 4-9. Giao diện của trang web đào tạo trực tuyến - Nội dung tập huấn ứng dụng CNTT trong dạy học
Hình 4 9. Giao diện của trang web đào tạo trực tuyến (Trang 24)
Hình 4-10. Giao diện trang Thư viện tư liệu giáo dục - Nội dung tập huấn ứng dụng CNTT trong dạy học
Hình 4 10. Giao diện trang Thư viện tư liệu giáo dục (Trang 25)
Hình 4-11. Giao diện trang Thư viện Bài giảng điện tử - Nội dung tập huấn ứng dụng CNTT trong dạy học
Hình 4 11. Giao diện trang Thư viện Bài giảng điện tử (Trang 26)
Hình 4-12. Giao diện trang chủ hocmai.vn - Nội dung tập huấn ứng dụng CNTT trong dạy học
Hình 4 12. Giao diện trang chủ hocmai.vn (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w