1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của tri thức khoa học trong công cuộc đổi mới của Việt Nam

18 498 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò của tri thức khoa học trong công cuộc đổi mới của Việt Nam
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 105,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của tri thức khoa học trong công cuộc đổi mới của Việt Nam

Trang 1

Lời mở đầu

rải qua một thời gian dài sống trong chiến tranh, đất nớc Việt Nam phải hứng chịu bao đau thơng mất mát Sau cuộc chiến đất nớc hoang tàn, đổ nát với một cơ sở vật chất cũ kĩ, lạc hậu Vậy mà trải qua hơn 20 năm kể

từ ngày đất nớc đợc hoàn toàn giải phóng, giờ đây chúng ta đang đợc sống trong nền kinh tế - văn hoá - chính trị ổn định Cuộc sống của ngời dân đợc cải thiện rõ rệt, đặc biệt là từ năm 1988 trở lại đây Đó là năm chúng ta tiến hành công cuộc

đổi mới đất nớc một cách toàn diện Về mọi mặt đời sống xã hội có những chuyển biến sâu sắc, tích cực Đảng và Nhà nớc đã vận dụng có sáng tạo t duy

của Triết học Mác-Lênin: "Bản chất con ngời là tổng hoà các quan hệ xã hội".

Vì vậy con ngời là sản phẩm của xã hội nhng cũng chính con ngời làm nên xã hội ấy, ý thức chỉ tồn tại ở con ngời, chỉ con ngời mới có những t duy khoa học sáng tạo tiếp thu và phát huy tri thức của nhân loại Thành công của chúng ta trong công cuộc đổi mới không thể không kể đến vai trò của tri thức khoa học Chính tri thức khoa học đã giúp ta tiến những bớc tiến dài trên con đờng đổi mới một cách vững chắc và hiệu quả Chúng ta luôn coi khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự phát triển đất nớc

T

Bài tiểu luận với đề tài: "Vai trò của tri thức khoa học trong công cuộc

đổi mới của Việt Nam" sẽ giúp chúng ta một phần nào đó hiểu đợc thế nào là tri

thức khoa học và những đóng góp to lớn của nó trong công cuộc đổi mới của đất nớc ta, đồng thời thể hiện quan điểm cách nhìn của giới trẻ Việt Nam về cuộc sống và những biến đổi lớn lao của đất nớc mình

Chơng I :Tìm hiểu chung về

tri thức khoa học

Trang 2

1-Tri thức khoa học

1.1-Khái niệm về tri thức

Tri thức là lĩnh vực rất rộng, có thể xem xét ở nhiều cấp độ, khía cạnh khác nhau Tri thức có thể là tri thức đời thờng (còn gọi là tri thức tiền khoa học, tri thức kinh nghiệm đời thờng hoặc có sách viết là tri thức thờng nghiệm), tri thức nghệ thuật và tri thức khoa học (kinh nghiệm và lý luận) Nh đã biết, tri thức nghệ thuật là phơng thức đặc thù nhằm nắm bắt hiện thức về mặt thẩm mĩ Tri thức đời thờng dựa trên lẽ phải và ý thức thông thờng, nó là cơ sở định hớng quan trọng cho các hành vi hàng ngày của con ngời Hình thức này của tri thức phát triển phong phú thêm cùng với sự tiến bộ của tri thức khoa học Xét về nguồn gốc phát sinh và phơng thức hoạt động, tri thức là một hiện tợng xã hội

1.2-Khái niệm về tri thức khoa học

Tri thức khoa học là những kiến thức thu đợc qua những quá trình học tập một cách công phu

Tri thức khoa học bao gồm tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận Trong

đó tri thức kinh nghiệm là trình độ thấp, còn tri thức lý luận là trình độ cao của tri thức khoa học Giữa hai trình độ này của tri thức khoa học có mối quan hệ mật thiết với nhau, làm tiền đề, cơ sở cho nhau cùng phát triển, phản ánh ngày càng gần đúng hơn, đầy đủ hơn và sâu sắc hơn về thế giới vật chất đang vận

động không ngừng

*Tơng quan giữa hai cấp độ của tri thức khoa học:

Tri thức kinh nghiệm chủ yếu thu nhận đợc thông qua quan sát và thí nghiệm Nó nảy sinh một cách trực tiếp từ thực tiễn, từ lao động sản xuất đến

đấu tranh xã hội hoặc từ thí nghiệm đến khoa học Xét một cách toàn diện và đầy

đủ hơn, tri thức kinh nghiệm lại đợc chia làm hai loại:

+ Thứ nhất, là loại tri thức kinh nghiệm thông thờng, còn gọi là tri thức

tiền khoa học, tri thức thờng nghiệm Tri thức thờng nghiệm thông thờng chủ yếu thu nhận đợc từ những quan sát hàng ngày trong cuộc sống Loại tri thức này phản ánh trực tiếp vẻ bề ngoài và mang đậm màu sắc cảm tính nhng không đồng nhất với nó Đơng nhiên, tri thức ở cấp độ này hình thành từ nhận thức giản đơn,

từ sự tác động một cách trực tiếp của sự vật lên các cơ quan cảm giác, từ những

"lẽ phải thông thờng", và là trình độ thấp mà ngời ít học vấn vẫn có thể có đợc

+ Thứ hai, là loại tri thức kinh nghiệm khoa học, thu thập từ những thí

nghiệm khoa học, từ sự khái quát các thực nghiệm khoa học

Trong sự phát triển của xã hội, hai loại tri thức này có sự xâm nhập, bổ sung lẫn nhau, giả định và chuyển hoá nhau, làm phong phú hơn quá trình nhận thức thế giới Loại tri thức kinh nghiệm dợc hình thành thông qua so sánh, đối chiếu và đợc kiểm nghiệm qua thực tiễn đã chứa đựng nhiều yếu tố khoa học, giúp con ngời nhận thức và cải tạo thực tiễn, gọi là tri thức kinh nghiệm khoa học Tri thức kinh nghiệm khoa học đúng nh Ph Ăngghen chỉ ra, có tác dụng:

"Chọn lọc lại những giả thuyết … gạt gạt bỏ những giả thuyết này, sửa đổi những giả

Trang 3

thuyết khác cho đến lúc cuối cùng, quy luật đợc xác định dới hình thức thuần khiết" (C Mac và Ph Ăngghen, 1978-1995, tập 20, tr 733) Tri thức kinh

nghiệm là những hiểu biết đợc tích luỹ từ cuộc sống hàng ngày Tri thức kinh nghiệm đã giúp cho con ngời có đợc những hình dung thực tế về các sự vật, hiện tợng, biết cách ứng xử trớc các hiện tợng tự nhiên và trong các quan hệ xã hội Theo thời gian và bằng kinh nghiệm sống, số lợng và chất lợng tri thức kinh nghiệm ngày càng trở nên phong phú, đa dạng, chứa đựng những mặt đúng đắn,

nhng còn riêng biệt, cha thể đi sâu vào bản chất các sự vật và do vậy, "tri thức

kinh nghiệm chỉ giúp cho con ngời phát triển đến một khuôn khổ nhất định" (Vũ

Cao Đàm, 2002, tr 13)

Tri thức kinh nghiệm (ở cả hai cấp độ nói trên), có vai trò quan trọng không thể thiếu đợc trong đời sống hàng ngày, cũng nh trong mọi hoạt động xã hội khác để xây dựng cuộc sống con ngời Chính kinh nghiệm là cơ sở để kiểm tra lý luận, sửa đổi và bổ sung lý luận đã có, là luận cứ đanh thép để tổng kết, khái quát và hình thành nên lý luận mới Song cũng cần nhận thấy rằng, dù có vai trò rất quan trọng nhng tri thức kinh nghiệm mới chỉ nhận thức đợc những lớp thuộc tính bề mặt, cha có khả năng đi sâu vào khám phá đợc những mối liên

hệ phức tạp bên trong của sự vật Tri thức kinh nghiệm mới chỉ là những hiểu biết về những mặt riêng rẽ, rời rạc về các mối liên hệ bên ngoài của đối tợng Vì thế, dù đã mang tính trừu tợng và khái quát nhất định nhng tri thức kinh nghiệm mới chỉ là bớc đầu và còn nhiều hạn chế

Nói tóm lại, tri thức kinh nghiệm là sự phản ánh cái hiện tợng, cái đơn

nhất, cái cụ thể, cái trực tiếp, bề ngoài của sự vật Nó mới chỉ là một hình thức, một trình độ của nhận thức, nên cha thể nắm bắt đợc một cách đầy đủ, toàn diện cái tất yếu, cái bản chất sâu sắc, cũng nh các mối liên hệ bên trong của sự vật,

hiện tợng Ph Ăngghen nhận xét trong Biện chứng của tự nhiên: "Sự quan sát

theo kinh nghệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh đợc đầy đủ tính tất yếu"

(C Mác và Ăngghen, 1978-1995, tập 20, tr 718) Về điểm này, triết gia duy tâm khách quan Đức nổi tiếng thời cận đại là G.V Heget cũng từng khẳng định rằng, nếu chỉ dừng lại ở sự quan sát kinh nghiệm thì chỉ: ''… gạt biến đổi kế tiếp nhau … gạt nhng nó không cho ta thấy tính tất yếu của mối liên hệ" (C Mác và Ăngghen,

1978-1995, tập 20, tr 963)

Để nắm bắt đợc bản chất của sự vật thì nhận thức của con ngời tất yếu phải chuyển lên trình độ tri thức lý luận Đây là một trình độ cao hơn về chất so với tri thức kinh nghiệm Tri thức lý luận đợc khái quát từ tri thức kinh nghiệm

Nó tồn tại trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật, giả thuyết, lý thuyết, học thuyết nào đó Lý luận hình thành từ kinh nghiệm nhng nó không xuất hiện một cách trực tiếp, tự phát và không phải mọi lý luận đều xuất phát

trực tiếp từ kinh nghiệm Hồ Chí Minh nói: "Lý luận là sự tổng kết những kinh

nghiệm của loài ngời, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội, đợc tích luỹ lại trong quá trình lịch sử" (Hồ Chí Minh, 1995-1996, tập 8, tr 497).

Trang 4

Tri thức lý luận ở vào trình độ cao nhất của tri thức khoa học, là sản phẩm của t duy bậc cao Cố nhiên nó phải là kết quả của quá trình nghiên cứu, học tập nghiêm túc, bền bỉ, có hệ thống của con ngời Một sự nghiên cứu cẩu thả, hời hợt, không chịu đào sâu, thiếu kiên trì, không chuyên tâm, chắc chắn không thể

đem lại hiểu biết ở trình độ tri thức lý luận đợc Nó là sự phản ánh gián tiếp, trừu tợng, khái quát khách thể nhng là sự phản ánh sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, chính xác hơn tri thức kinh nghiệm Tri thức lý luận mang lại những hiểu biết có tính bản chất, bên trong, vạch ra những mối liên hệ tất nhiên, và tính quy luật của đối tợng Một sự hiểu biết nh vậy sẽ cho phép con ngời tiến gần sát đến chân lý về sự

thật Nh C Mác chỉ ra, nhiệm vụ của nhận thức lý luận là: "đem quy sự vận động

bề ngoài chỉ biểu hiện trong hiện tợng về sự vận động bên trong thực sự" (Bộ

Giáo dục và Đào tạo, 1993, tập 3, tr 65) Tri thức lý luận chính là sự khái quát từ tri thức kinh nghiệm; là một trình độ cao hơn về chất so với tri thức kinh nghiệm Tri thức lý luận dù đợc hình thành từ tri thức kinh nghiệm nhng không phải hình thành một cách tự phát và không phải tri thức lý luận nào cũng hình thành từ kinh nghiệm Nhờ tính độc lập tơng đối này mà có lúc lý luận có thể đi trớc các dữ liệu kinh nghiệm Tri thức lý luận là sự biểu hiện chân lý chính xác hơn, hệ thống hơn, có tính bản chất sâu sắc hơn và vì thế, phạm vi ứng dụng của nó cũng rộng hơn nhiều so với tri thức kinh nghiệm (Hội đồng Trung Ương, 1999, tr 363)

Nhờ những u điểm trên mà tri thức lý luận có vai trò rất quan trọng đối với thực tiễn, tác động và góp phần biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động năng

động có ý thức của con ngời Lý luận là kim chỉ nam cho mọi hoạt động và góp phần soi đờng chỉ lối cho thực tiễn đi đúng hớng V.I Lênin đã chỉ ra vai trò

quan trọng của lý luận: "Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong

trào cách mạng" (V.I Lênin, 1974-1981, tập 26, tr 30) Trớc đó, C Mác cũng

đã chỉ ra vai trò quan trọng của lý luận, một khi nó thâm nhập đợc vào quần chúng nhân dân thì sẽ trở thành sức mạnh vật chất to lớn Tri thức lý luận có thể

dự kiến đợc sự phát triển và vận động của sự vật trong tơng lai, dự báo đợc những phơng hớng mới cho sự phát triển của thực tiễn Lý luận khoa học làm cho hoạt động của con ngời chủ động hơn, tự giác hơn, hạn chế đợc sự mò mẫm,

tự phát, mất phơng hớng

Tri thức lý luận và tri thức kinh nghiệm là hai trình độ phản ánh khác nhau nhng chúng liên hệ hữu cơ, mật thiết với nhau và bổ sung cho nhau để nắm bắt chuẩn xác hơn bản chất của sự vật Xét về nguồn gốc của hai trình độ nhận thức này, có tác giả nhầm tởng nhận thức kinh nghiệm chính là nhận thức cảm tính,

và nhận thức lý luận là đồng nhất với nhận thức lý tính Cách hiểu trên là máy móc, siêu hình, không thấy đợc tính phức tạp của sự phản ánh bằng ý thức, một thuộc tính đặc biệt, chỉ riêng có ở bộ óc con ngời chứ không có ở bất cứ một hệ thống vật chất nào khác Thực ra, nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận

không đồng nhất với nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính "Ranh giới của

nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận, do vậy, không trùng khớp với ranh

Trang 5

giới của nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính" Và: "Nhận thức kinh nghiệm, trên thực tế, có một phần ở trình độ lý tính, do đó nó rộng hơn cảm tính, nhận thức kinh nghiệm bao hàm một phần công việc xử lý về mặt lý tính các tài liệu cảm tính" (Nguyễn Duy Quý, 2000, tr 18-19) Cách hiểu trên phù hợp với tiến

trình biện chứng nhận thức hiện đại, đợc Nguyễn Duy Quý mô tả trong tác phẩm

Nhận thức thế giới vi mô Nếu tuyệt đối hoá một trong hai giai đoạn của nhận

thức, để đi đến sự phân định rạch ròi giữa hai trình độ của tri thức khoa học, nhận thức của chúng ta sẽ rơi vào một trong hai cực của quan điểm siêu hình về nhận thức mà lịch sử t tởng nhân loại đã từng cho thấy Đó là chủ nghĩa duy cảm hoặc chủ nghĩa duy lý

Chia sẻ và tán đồng quan niệm nói trên của Nguyễn Duy Quý, trong bài báo Từ t duy kinh nghiệm đến t duy lý luận, Hoàng Chí Bảo cũng cho rằng, tri

thức kinh nghiệm thông thờng "tuy đã ở vào giai đoạn nhận thức lý tính nhng

đó là lý tính cha đầy đủ, cha khoa học" Tri thức kinh nghiệm thờng hớng tới

"mô tả những đặc điểm, những mối liên hệ, quan hệ của đối tợng, hơn là

phân tích, khái quát những bản chất của sự vật", bởi thế, "phạm vi của tri thức kinh nghiệm hẹp hơn, thuần phác và thô sơ hơn, ít triệt để hơn" (Hoàng

Chí Bảo, 1988, tr 54-55) Tuy nhiên, trên thực tế, ranh giới giữa tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận đôi khi chỉ là tơng đối, vì không có một kết quả nào của nhận thức lại không phả là sự thống nhất biện chứng của hai quá trình nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

Do tri thức kinh nghiệm có nội dung "khách quan hơn, bắt nguồn từ hoạt

động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn của con ngời" (Hữu Ngọc, 1987,

tr 245) nên nó đóng vai trò là cơ sở cung cấp thông tin, dữ liệu chân thực để nhận thức đợc các thuộc tính, bản chất của đối tợng Theo phơng pháp nhận thức

đi từ trừu tợng đến cụ thể thì tri thức kinh nghiệm chỉ là sự trừu tợng chung, mới chỉ nhận thức đợc một số mặt của đối tợng Chính vì vậy, bớc chuyển từ tri thức kinh nghiệm lên trình độ tri thức lý luận là tất yếu, khách quan nhằm nắm bắt

đ-ợc đầy đủ hơn bản chất của sự vật Bớc chuyển này phù hợp với con đờng biện

chứng của sự nhận thức chân lý mà V.I Lênin đã vạch ra trong tác phẩm Bút kí

triết học: "Từ trực quan sinh động đến t duy trừu tợng và từ t duy trừu tợng

đến thực tiễn- đó là con đờng biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự

nhận thức thực tại khách quan" (V.I Lênin, 1974-1981, tập 29, tr 179) Tách

khỏi tri thức kinh nghiệm, tuyệt đối hoá tri thức lý luận, xa rời thực tiễn thì tri

thức lý luận dễ trở thành giáo điều, ảo tởng hoặc duy lý Bởi vì: "lí luận mà

không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông" (Hồ Chí Minh, 1995-1996, tập 8,

tr 496) Ngợc lại nếu đè cao quá mức vai trò của tri thức kinh nghiệm mà coi th-ờng tri thức lý luận cũng sẽ rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm, một cực khác của lối

t duy siêu hình, máy móc Đúng nh Hồ Chí Minh nói: "Có kinh nghiệm mà

không có lý luận, cũng nh một mắt sáng một mắt mờ" và "không có lý luận

thì lúng túng nh nhắm mắt mà đi" (Hồ Chí Minh, 1995-1996, tập 5, tr 234).

Tuyệt đối hoá vai trò của tri thức kinh nghiệm cũng dẫn đến thứ chủ nghĩa giáo

Trang 6

điều kinh nghiệm, đây là "lối t duy ở trình độ kinh nghiệm cảm tính, rất ít yếu

tố duy lý, coi trọng tổng hợp thô sơ, hoặc suy diễn trừu tợng, coi nhẹ phân

tích, chứng minh, quy nạp" (Trần Hữu Tiến, 1988, tr 15) Thấy rõ u thế của tri

thức lý luận so với tri thức kinh nghiệm, song cũng cần phải tỉnh táo nhận thấy rằng, do tính gián tiếp trong sự phản ánh hiện thực khách quan, nên lý luận có nguy cơ phản ánh sai sự thật do xa rời thực tiễn Khả năng đó càng tăng lên nếu

lý luận đó bị chi phối của các t tởng không khoa học Trớc đây, khi bàn về lý luận nhận thức, V.I Lênin đã từng chỉ ra khả năng này, yêu cầu phải quán triệt chặt chẽ con đờng biện chứng của nhận thức là từ trực quan sinh động đến t duy trừu tợng và từ t duy từu tợng đến thực tiễn Vì vậy, cần coi trọng lý luận nhng không đợc thổi phồng vai trò của lý luận đến mức tách rời lý luận khỏi thực tiễn, làm cho lý luận mất hết sinh khí của nó Điều này đã đợc Hồ Chí Minh nhắc nhở

nhiều lần: "Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc căn bản của

chủ nghĩa Mác-Lênin Thực tiễn không có lý luận hớng dẫn là thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông " (Hồ Chí

Minh, 1995-1996, tập 8, tr 496)

Học giả Xô Viết, G.I Ruzavin, trong cuốn Các phơng pháp nghiên cứu

khoa học, cũng đã chỉ ra sự khác biệt giữa tri thức khoa học và tri thức thông

th-ờng Theo tác giả, giữa chúng có đặc điểm chung là đều dựa trên các sự kiện khách quan, đều nhằm đạt tới chân lý khách quan Trong đó tri thức khoa học nảy sinh từ những hiểu biết thông thờng nhng không phải là sự kế tục trực tiếp tri thức thông thờng Tri thức khoa học không chỉ tìm ra các sự kiện mới mà còn nhằm giải thích các hiểu biết mới này bằng các giả thuyết, lý thuyết, định luật đã

có, hoặc đề ra các lý thuyết mới để giải thích chúng Hơn nữa, con ngời chỉ có thể đạt đến tri thức khoa học thông qua những phơng pháp nghiên cứu nhất định, dựa trên những quy luật nhất định của thế giới khách quan Trong khi đó, tri thức thông thờng đợc nhận thức một cách trực tiếp, là t duy thực tế không có hệ thống

và không có phơng pháp (G.I Ruzavin, 1983, tr 3) Một số tác giả, trong công

trình Lịch sử phép biện chứng mácxít, cũng có quan niệm tơng tự Theo họ, sự

hiểu biết mang tính chất lý luận khoa học so với hiểu biết thông thờng, đợc ví

nh là: "hai tấm gơng của cùng một hiện thực, trong đó hiện thực này đợc thể

hiện một cách khác nhau, nhiều khi đối lập nhau " (Nhiều tác giả, 1986, tr.

327)

Phân tích trên cho thấy, việc vơn lên từ trình độ tri thức kinh nghiệm đến trình độ tri thức lý luận là một tất yếu khách quan, nhằm nắm bắt bản chất sự vật một cách ngày càng đầy đủ hơn, gần đúng hơn Hơn thế nữa, đối với nớc ta, nó

có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc khắc phục " bệnh chủ quan, duy ý chí,

lối suy nghĩ giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan" mà Văn

kiện Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiên quyết vạch ra (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1986, tr 26)

Trong lịch sử t tởng nhân loại, triết gia cổ điển Đức, I.Kant, cũng đã chia tri thức ra thành tri thức khoa học và tri thức thông thờng Theo ông tri thức khoa

Trang 7

học tuyệt đối là chính xác, mang tính phổ biến và tất yếu vì nó là tri thức siêu nghiệm có trớc kinh nghiệm Còn tri thức thông thờng do dựa trên kinh nghiệm nên không tuyệt đối chính xác, không có tính tất yếu và phổ biến Do quan điểm duy tâm chủ quan và vì không xem xét sự phát triển của tri thức kinh nghiệm theo quan điểm lịch sử nên ông đã giải quyết vấn đề tính phổ biến và tính tất yếu tiên thiên một cách duy tâm (Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, 1962, tr 54-55) Thực ra, ngay cả tri thức toán học, dù có vẻ rất cao siêu, trừu tợng nhng nh Ph

Ăngghen chỉ ra, nó cũng chỉ là sự phản ánh "những nhu cầu thực tiễn của con

ngời từ việc đo diện tích các khoảng đất và việc lờng diện tích của ngững bình chứa, từ việc đếm thời gian và từ cơ học " ( C.Mác, Ph Ăngghen, 1978-1995,

tập 20, tr 59) Có thể khẳng định rằng: tri thức khoa học là kết quả của sự phản

ánh thực tiễn, chứ không phải là sản phẩm thuần tuý tinh thần nh G.V Hegel quan niệm, cũng không phải là cái tiên thiên có sẵn nh cách hiểu của I.Kant Tri thức chỉ có thể tìm thấy trong cuộc sống, trong thực tiễn chứ không thể dừng lại trong sách vở Tri thức sách vở xét đến cùng chẳng qua là sự tổng kết cuộc sống

và thực tiễn mà thôi Sự phát triển của tri thức khoa học, cùng với hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật của nó ngày càng phong phú hơn cả về số lợng lẫn

chất lợng, càng chứng tỏ "sự tách khỏi giới tự nhiên" của con ngời để chinh phục và ngày càng "nắm vững đợc mạng lới " tự nhiên đó, đúng nh nhận xét của V.I Lênin trong Bút Ký triết học (V.I Lênin, 1974-1981, tập 29, tr 102)

Phân tích hai cấp độ của tri thức khoa học là tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận trên đây cho phếp chúng ta thấy đợc mức độ nông sâu của chúng, cũng nh vai trò của từng cấp độ tri thức và sự đan xen và tác động qua lại giữa chúng một cách hữu cơ Giữa các cấp độ, trình độ của các tri thức khoa học có sự tiếp nối, kế thừa lẫn nhau Ngay cả trình độ tri thức kinh nghiệm (tiền khoa học)

đã xuất hiện những mầm mống của lý luận Tri thức kinh nghiệm, chính là cơ sở dữ liệu để khái quát, hình thành nên tri thức lý luận Tri thức lý luận nâng tri thức kinh nghiệm lên trình độ cao hơn về chất, từ chỗ là cái cụ thể, đơn nhất trở thành cái có tính khái quát, phổ biến Ngày nay, cùng với việc nâng cao trình độ học vấn của nhân dân, các thuật ngữ khoa học, công nghệ hiện đại cũng đợc các phơng tiện thông tin đại chúng phổ cập và dần đI vào tri thức của quần chúng

Đó chính là cơ sở để họ tiếp nhận và nâng cấp từ trình độ tri thức kinh nghiệm lên tới trình độ tri thức lý luận và nâng cao khả năng du nhập tri thức khoa học

áp dụng vào đời sống thực tiễn, biến tri thức đó thành sự giàu có và văn minh Tri thức khoa học đã và đang đi vào cuộc sống, góp phần nâng cao chất lợng sống cho nhân dân, làm cho họ có thể làm chủ vận mệnh của mình

* Tri thức khoa học có những đặc trng sau:

-Tri thức khoa học là tri thức ở tầm quản lí đợc cái bản chất, quy luật, nguyên nhân, xu hớng của thế giới khách quan

-Tri thức khoa học là tri thức có tính hệ thống về sự vật khách quan

Trang 8

-Tri thức khoa học là tri thức chân thực về thế giới khách quan và không ngừng phải đợc kiểm tra và chứng minh bởi logic và thực tiễn

2- Vai trò của tri thức khoa học đối với sự phát triển của kinh tế-xã hội

Tri thức khoa học hình thành và phát triển trên cơ sở sản xuất và hoạt

động thực tiễn Vai trò của tri thức khoa học ngày càng tăng lên đối với sự phát triển của xã hội

Ngày nay, tri thức khoa học đã trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp Vai trò của nó đợc thể hiện ở chỗ tri thức khoa học trở thành điểm xuất phát, ra đời những ngành sản xuất mới, công nghệ mới, nguyên liệu mới Không chỉ vậy khoa học còn là yếu tố tri thức không thể thiếu đợc của ngời lao động, biến ngời lao động thành ngời điều khiển, kiểm tra quá trình sản xuất Đội ngũ các nhà khoa học, kĩ thuật viên trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất ngày một đông Bản thân khoa học cũng đã là một lĩnh vực hoạt động sản xuất vật chất với quy mô ngày càng lớn

Cùng với khoa học tự nhiên và khoa học kĩ thuật, các khoa học xã hội nh kinh tế học, luật học, xã hội học… cũng không ngừng phát triển và đóng vai trò cũng không ngừng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Khoa học không chỉ góp phần nâng cao chất l-ợng cuộc sống mà còn giúp con ngời có đầu óc t duy sáng tạo, tầm nhìn sâu rộng Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các nhà lãnh đạo vì phải nắm đợc cơ

sở khoa học thực tế thì mới hoạch định đợc chính sách, đờng lối phát triển của một tổ chức hay một quốc gia

Nền kinh tế thế giới chuyển dần sang cơ cấu phát triển theo chiều sâu, đặc biệt là trong công nghiệp cơ cấu đó chuyển dịch khá nhanh về phía những ngành

có hàm lợng khoa học, công nghệ và trí tuệ cao Chính tiến bộ khoa học - kỹ thuật đã làm cho vai trò của năng lợng và lợi thế so sánh của nguyên liệu và sản phẩm sơ cấp trong công nghiệp giảm dần Trớc tình hình đó để tránh thua thiệt những nớc xuất khẩu nguyên liệu và những sản phẩm sơ cấp - mà ở đây chủ yếu

là các nớc đang phát triển - phải tìm cách nhanh chóng nâng cao năng lực biến

đổi tài nguyên thành sản phẩm tiêu dùng cao cấp, muốn nh thế thì không có cách nào khác hơn là phảI tìm đến tiến bộ khoa học - kỹ thuật

Nh vậy do tác động của tiến bộ khoa học - kỹ thuật mà yêu cầu phảI đổi mới về mặt kinh tế, từ cơ cấu sản xuất cho đến quan hệ giữa các quốc gia, trở thành một tất yếu không thể cỡng lại đợc nếu nh quốc gia đó muốn tồn tại và không bị nhấn chìm

Ngày nay, việc quản lý xã hội, trong đó quan trọng là quản lý kinh tế, quản lý Nhà nớc, xã hội thành công đến mức nào là tuỳ thuộc vào khả năng xử lý thông tin Không theo kịp những biến đổi hết sức mới trong lĩnh vực này mà kh

kh giữ lấy cách quản lý cũ, lạc hậu thì không tránh khỏi bỏ lỡ thời cơ có thể vơn lên để tiến kịp cùng thời đại và thoát ra sự trì trệ

Tiến bộ khoa học - kỹ thuật một mặt tạo thời cơ thuận lợi cho các nớc thoát ra khỏi sự lạc hậu và trì trệ nếu nh biết định hớng đúng, nếu có một tiềm

Trang 9

năng nhất định nào đó về nguồn vốn và nguồn nhân lực có trình độ cần thiết để tiếp thu các công nghệ tơng đối hiịen đại Khi đã có những kỹ thuật và công nghệ mới, tiến bộ thì vấn đề đặt ra tiếp theo là giải quyết việc làm cho số đông lao động dôi ra, tìm thị trờng tiêu thụ sản phẩm… cũng không ngừng phát triển và đóng vai trò Nếu giải quyết tốt chúng thì khả năng hội nhập với trào lu chung của thế giới là hiện thực Song tiến bộ khoa hoc - kỹ thuật thời đại chúng ta còn có một mặt khác nghiệt ngã là hoàn toàn có khả năng nhấn các nớc kém phát triển chìm sâu hơn trong cảnh lạc hậu và phụ thuộc, đồng thời còn tạo nên một khoảng cách còn lớn gấp bội so với khoảng cách đã từng tồn tại trớc đây giữa họ và các nớc phát triển nếu nh họ không tìm

ra con đờng thích hợp hoặc cố tình duy trì cách làm ăn cũ, thói quen cũ, không thích nghi với những biến đổi của thời đại

Nh vậy trong thế giới hiện đại vừa liên kết hợp tác, vừa chứa đầy mâu thuẫn và cạnh tranh khốc liệt, mọi quốc gia trong đó có chúng ta, nếu không muốn giành cho một vị trí xứng đáng hay ít ra để không bị nhấn chìm, đều không thể cỡng lại xu thế của thời đại là đổi mới mọi mặt trên cơ sở nhận thức,

đánh giá và sử dụng đúng đắn, nhanh chóng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật mới nhất đợc loài ngời tạo ra, đồng thời biết khai thác những nguồn lực khác có thể khai thác Sự tác động hết sức to lớn của tri thức khoa học - công nghệ ngày nay

đang dẫn dắt các nền kinh tế của các nớc phát triển đến "nền kinh tế tri thức"

Đó chính là tiên đoán của C Mác: "Khoa học ngày càng trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp"

Tóm lại, có khoa học là bạn đồng hành thì xã hội ngày càng văn minh tiến

bộ

Trang 10

Chơng II :Thực trạng tri thức khoa học trong

công cuộc đổi mới của Việt Nam

1.Vai trò của tri thức khoa học trong công cuộc đổi mới của Việt Nam.

1.1.Tính tất yếu của công cuộc đổi mới:

Hiện nay trên thế giới đang diễn ra những biến đổi xã hội nhanh chóng và sâu sắc Khoa học - công nghệ đã đạt đợc những thành tựu rất to lớn So với các nớc trên thế giới, Việt Nam tụt hậu rất nhiều Cụ thể là:

- Trình độ công nghệ lạc hậu tụt xa so với các nớc

- Tiềm lực khoa học công nghệ yếu cả về nguồn nhân lực, khoa học công nghệ lẫn nguồn vốn cho hoạt động khoa học công nghệ

- Cơ chế quản lí khoa học công nghệ còn yếu kém

- Khoa học công nghệ ít gắn bó với sản xuất kinh doanh

Do vậy đổi mới chính là con đờng duy nhất của chúng ta Chỉ có đổi mới mới đa đất nớc ta thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, trở thành một nớc có nền kinh tế phát triển, làm cho "Dân giàu, nớc mạnh, Xã hội công bằng, văn minh"

1.2.Tri thức khoa học là nền tảng và động lực cho sự phát triển của Việt Nam trong công cuộc đổi mới.

Trong công cuộc đổi mới, tri thức khoa học đợc xem là nền tảng và động lực của sự phát triển đất nớc Những cơ sở khoa học cùng những luận cứ khoa học đã giúp Đảng có một sự định hớng đúng đắn về đờng lối chính sách phát triển của đất nớc; vạch ra kế hoạch phát triển cho từng lĩnh vực cụ thể: Công nghiệp, Nông nghiệp, Du lịch dịch vụ, Khoa học công nghệ… cũng không ngừng phát triển và đóng vai trò Nói đến vai trò nền tảng và động lực của tri thức khoa học trong công cuộc đổi mới là nói đến con đờng công nghiệp hoá hiện đại hoá dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ, coi khoa học công nghệ là lực lợng sản xuất trực tiếp và hàng đầu Quan diểm này cho thấy rõ sự quyết tâm và lựa chọn sáng suốt của Đảng ta trong đổi mới t duy, đổi mới quan niệm và đổi mới phơng thức phát triển phù hợp với những đòi hỏi phải tiến hành công nghiệp hoá đi đôi với hiện đại hoá với tốc độ nhanh nhng vẫn đảm bảo tính bền vững trong những thập niên đầu thế kỉ 21

Nhìn lại thế kỉ 20 đã qua chúng ta thấy có những đổi thay to lớn do khoa học - công nghệ mang lại Trên thế giới sự xuất hiện các nhóm nớc mới công nghiệp hoá (NIC) sau chiến tranh thế giới thứ 2 cũng không nằm ngoài ảnh h-ởng lan toả của các thành tựu khoa học công nghệ thông qua quá trình chuyển giao công nghệ tiến bộ bằng các chính sách công nghiệp và nông nghiệp khôn ngoan, các nớc NIC đã tận dụng đợc cơ hội tiếp thu nhanh chóng các công nghệ mới, thay đổi các phơng thức sản xuất cũ vốn dựa trên lao động thủ công và tài nguyên chủ yếu để chuyển sang áp dụng các kĩ thuật cơ khí hoá, tự động hoá theo hớng tạo ra các giá trị gia tăng cao thúc đẩy sự phát triển, tăng trởng kinh

tế Nhờ đi theo con đờng công nghiệp hoá dựa hẳn vào khoa học - công nghệ mà

Ngày đăng: 05/04/2013, 14:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w