Khoa học , lực lượng sản xuất trực tiếp, xem xét vấn đề , công cuộc đổi mới, nền kinh tế Việt Nam
Trang 1Mở đầu
Đất nớc ta đang trong quá trình xây dựng và phát triển theo con đờng côngnghiệp hoá hiện đại hoá ,đi vào chiều sâu Xuất phát từ thực tiễn ấy , việcnghiên cứu và thống nhất ý kiến để đi đến nhận định về mối quan hệ giữakhoa học và lực lợng sản xuất trực tiếp có một ý nghĩa lý luận và thực tiễn rấtquan trọng
Khi nghiên cứu đề tài“Khoa học là lực lợng sản xuất trực tiếp và xem xét
vấn đề trên trong công cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam” vấn đề đặt ra
sự tác động ,ảnh hởng của khoa học đối với lực lợng sản xuất trong thời gianqua nh thế nào ? Và đòi hỏi sự vận dụng những thành tựu khoa học côngnghệ nh thế nào cho phù hợp đúng đắn vào công cuộc đổi mới kinh tế ViệtNam
Trang 21: Mối quan hệ giữa khoa học va` lực lợng sản xuất
1.1 Lực lợng sản xuất là gi`?
Lực lợng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiêntrong quá trình sản xuất Lực lợng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn củacon ngời trong quá trình sản xuất của cải vật chất Lực lợng sản xuất baogồm ngời lao động với kỹ năng lao động của họ và t liẹu sản xuất, trớc hết làcông cụ lao động Trong quá trình sản xuất, sức lao động của con ngời và tliệu sản xuất, trớc hết là công cụ lao động, kết hợp với nhau tạo thành lực l -ợng sản xuất
1.2 khoa hoc
1.2.1 Trong lịch sử phát triển của t duy nhân loại có rất nhiều quan niệmkhác nhau về khoa học, nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội vàphụ thuộc vào trình độ nhận thức Về phơng diện triết học, theo quan điểmduy vật biện chứng, khoa học là sản phẩm tinh thần, phản ánh các cấu trúc,thuộc tính và quy luật vận động của các đối tợng vật chất trong thế giớikhách quan Khoa học là một hình thái xã hội đặc biệt Bởi vì khoa họckhông chỉ phản ánh sự tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội, nhữngchân lý của nó đợc thực tiễn xã hội kiểm nghiệm, mà khoa học còn là kếtquả của quá trình sáng tạo lôgíc, của trực giác thiên tài Mặt khác khoa học(cùng với công nghệ) là những yếu tố ngày càng có vai trò đặc biệt quantrọng của lực lợng sản xuất, quyết định trình độ phát triển của lực lợng sảnxuất nói riêng của phơng thức sản xuất và cuả xã hội nói chung Về phơngdiện nhận thức luận, khoa học là giai đoạn cao của nhận thức - giai đoạnnhận thức luận
Ngày nay, quan niệm khoa học đợc phổ biến với những đặc trng cơ bản sau
đây:
- Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con ngời và tduy của con ngời Nó nghiên cứu và vạch ra những mối quan hệ nội tại,bản chất của các sự vật, hiện tợng, quá trình, từ đó chỉ ra những quy luậtkhách quan của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và t duy
- Hệ thống tri thức khoa học đợc hình thành trong quá trình nhận thức củacon ngời từ trực quan sinh động, đến t duy trừu tợng, từ t duy trừu tợng
đến thực tiễn, dới dạng khái niệm, phạm trù, quy luật, lý thuyết Nh vậy,
Trang 3tri thức khoa học không chỉ là sự phản ánh thế giới hiện thực mà còn đợckiểm nghiệm qua thực tiễn.
- Hệ thống tri thức khoa học còn có thể đợc hình thành nhờ trực giác hoặctuân theo những quy luật của lôgíc học Do đó, một hệ thống tri thức đợccoi là tri thức khoa học phải đảm bảo tính đúng đắn, tính chân thực
- Nhờ giáo dục, đào tạo, hệ thống tri thức khoa học có sức sống mãnh liệt,
đợc phổ biến rộng rãi và lan truyền rất nhanh chóng Tốc độ tăng truyền
đó tăng lên rất nhiều lần nhờ vào quá trình toàn cầu hóa và công nghệthông tin Nó không chỉ là sức mạnh, là sự biến đổi mau lẹ, mà còn làbiểu hiện sự giàu có, thịnh vợng của mọi quốc gia, dân tộc và cá nhân
- Hệ thống tri thức khoa học là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài,liên tục của t duy nhân loại từ thế hệ này sang thế hệ khác Ngày nay nó
đang trở thành tài sản chung của xã hội loài ngời
Nh vậy qua một số đặc trng cơ bản trên đây về quan niệm khoa học, tathấy nổi lên cái cốt lõi của khoa học - đó là hệ thống tri thức chân thực về tựnhiên, xã hội và t duy
1.2.2.Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật
Từ khi loài ngời xuất hiện cho đến cuối thế kỷ XV, sự phát triển củakhoa học và kỹ thuật diễn ra rất chậm chạp và tơng đối độc lập với nhau Sựphát triển của kỹ thuật chủ yếu đợc thực hiện trên cơ sở hoàn thiện nhữngkinh nghiệm, những bí quyết nghề nghiệp đợc la truyền Về phía mình, khoahọc lại thờng đợc phát triển không phụ thuộc vào những nhu cầu của sảnxuất, mà phục tùng một cách lôgíc nội tại của riêng mình
Đến những năm đầu thế kỷ XVI ,sự phát triển khoa học diễn ra tơng
đối nhanh , là thời kỳ mà ở châu Âu, kinh tế – xã hội phát triển rất sôi động
Và kéo dài khoảng đến thế kỷ XVIII Những nhu cầu của thơng mại, hằnghải, công trờng thủ công đòi hỏi phải giải quyết hàng loạt các vấn đề thựctiễn Sự phát triển của lực lợng sản xuất không thể đợc thực hiện trên cơ sởcủa các kỹ thuật cũ Việc chuyển từ sản xuất thủ công sang sản xuất cơ khí
đặt ra vấn đề là phải phát triển khoa học để ứng dụng những kết quả của nóvào phát triển kỹ thuật
Trang 4Những tiến bộ của khoa học - kỹ thuật có thể chia thành những giai
đoạn lớn, gắn liền với những thay đổi về chất của lực lợng sản xuất Nhữnggiai đoạn ấy đợc xem nh những giai đoạn của cuộc cách mạng khoa học - kỹthuật Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn khi mà nhờ những tiến bộ khoa học -
kỹ thuật, ngời ta đã tiến hành cơ khí hoá nền sản xuất, giải phóng con ngờikhỏi lao động chân tay nặng nhọc và nâng cao năng suất lao động lên nhiềulần Giai đoạn này bắt đầu từ cuối thế kỷ XVIII với sự ra đời của máy hơi n -
ớc và đợc biết đến nh là cuộc cách mạng công nghệ lần thứ nhất Từ giữa thế
kỷ XX trở đI, bắt đầu giai đoạn hiện đại của cuộc cách mạng khoa học - kỹthuật, khi mà nhờ những tiến bộ của khoa học - kỹ thuật, ngời ta bắt đầu tiếnhành tự động hoá nền sản xuất, làm thay đổi tận gốc rễ lực lợng sản xuất củaxã hội và tăng năng suất lao động lên mức cha thấy Xã hội phơng Tây gọinhững thay đổi mang tính bớc ngoặt ấy của khoa học - kỹ thuật là “cuộccách mạng khoa học - kỹ thuật lần hai” Trong khi đó, tại Hội Nghị Trung -
ơng tháng Sáu năm 1955 của Ban Chấp hành Trung ơng Đảng Cộng sản LiênXô, lần đầu tiên khái niệm “cách mạng khoa học - kỹ thuật ” đợc đa ra dùng
để chỉ toàn bộ những hiện tợng và những quá trình liên quan đến sự pháttriển chóng của khoa học - kỹ thuật
Trong mọi lĩnh vực sản xuất xã hội, đều có thể quan sát thấy nhữngluân phiên đặc sắc của cuộc nhảy vọt và sự phát triển tuần tự trong nhiều lĩnhvực nh:
Trong ngành năng lợng - từ sử dụng năng lợng nớc, cơ bắp, gió, sang
than điện, dầu lửa, rồi năng lợng nguyên tử và trong thế kỷ XXI sẽ là năng ợng nhiệt hạch
l-Trong lĩnh vực sản xuất - từ hợp tác lao động giản đơn qua giai đoạn
công trờng thủ công, rồi tiến lên phơng thức sản xuất đại cơ khí với các quytrình sản xuất và công nghệ đợc cơ giới hóa rồi cơ giới hoá tổng hợp, xuấthiện các hệ thống máy móc, tạo ra các máy tự cộng, tự động hoá đồng bộ, hệthống sản xuất linh hoạt
Trong giao thông vận tải - máy và động cơ hơi nớc đợc thay thế bằng
các động cơ đốt trong và động cơ điêzen, tuabin và động cơ phản lực, tàu vũtrụ, tàu con thoi
Trong sản xuất vật liệu - chuyển từ các nguyên liệu nông nghiệp, các
vật liệu xây dựng truyền thống (gỗ, gach, đá ) sử dụng kim loại đen (sắt,
Trang 5gang ) là chủ yếu sang sử dụng các kim loại màu, chất dẻo, bê tông, các vậtliệu kết cấu(composite), vật liệu thông minh, vật liệu siêu dẫn
Trong công nghiệp sản xuất, chế tạo - từ sản xuất thủ công, tiến lên
nửa tự động rồi tới công nghệ tự động hoá (tự động hoá thiết kế - chế tạo nhờ
sự trợ giúp của máy tính điện tử (CAD/CAM), công nghệ thông tin (tin học,truyền thông cà viễn thông vũ trụ ), công nghệ không gian, công nghệ sinhhọc, công nghệ vật liệu mới, công nghệ vi điện tử
1.3 Khoa học - lực l ợng sản xuất trực tiếp
1.3.1 Sự tác động của khoa học tới lực lợng sản xuất
Bằng quá trình phát triển của nhận thức khoa học, con ngời đã vẽ nênbức tranh về thế giới hiện thực Chính sự đa dạng, muôn màu muôn vẻ, luônvận động, biến đổi không ngừng của thế giới tự nhiên và thực tiễn xã hội đãtạo nên nguồn cảm hứng nhận thức vô tận của con ngời và điều đó đã tác
động mạnh mẽ đến sự phát triển của khoa học Song, con ngời đi nhận thứcthế giới không chỉ để nhận thức thuần túy, mà chủ yếu là để thỏa mãn cácnhu cầu về vật chất và tinh thần ngày càng cao của mình Do đó, cùng vớiquá trình nhận thức càng cao của mình, là quá trình biến đổi và cải tạo thếgiới, "nghĩa là thế giới không thỏa mãn con ngời, và con ngời quyết địnhbiến đổi thế giới bằng hành động của mình "(V.I.Lênin Toàn tập) Về điềunày, C.Mác cũng đã khẳng định rằng, con ngời phải tác động tích cực phảichiếm lĩnh thế giới bên ngoài nhờ sự tác động vào các đối tợng đã biết vàbằng cách nh vậy, con ngời mới có thể thỏa mãn những nhu cầu của mình
Sở dĩ khoa học và cùng với khoa học là công nghệ tham gia đợc vào quátrình biến đổi, cải tạo giới tự nhiên và phát triển bởi vì khoa học và côngnghệ là những yếu tố quan trọng của lực lợng sản xuất xã hội, chúng có mặt
ở tất cả mọi thành phần của lực lợng sản xuất: trong t liệu sản xuất (công cụ,
kĩ thuật), trong con ngời Cùng với sự phát triển của xã hội, khoa học côngnghệ càng ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong lực lợng sản xuất xãhội Thâm nhập vào khoa học và công nghệ hiện đại đã đảm bảo cho lực lợngsản xuất phát triển nhanh chóng theo hai hớng chủ yếu: 1) Thay đỏi chứcnăng và vị trí của con ngời trong sản xuất trên cơ sở dịch chuyển từ nền tảng
điện-cơ khí sang nền tảng cơ-vi điện tử; 2) Chuyển sang sản xuất trên cơ sởcác ngành công nghệ cao có thân thiện với môi trờng
Trang 61.3.2 Điều kiện để khoa học trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp.
Từ cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật trớc đây đến cách mạng khoahọc - công nghệ hiện nay, khoa học ngày càng thể hiện vai trò của mình mộtcách rõ ràng dới dạng thực tiễn xã hội trực tiếp, nhờ quá trình không ngừngbiến đổi của nó, từ chỗ là lực lợng sản xuất tiềm năng thành lực lợng sảnxuất trực tiếp.Có sự chuyển đổi này là nhờ các điều kiện sau :
Điều kiện về sản xuất: nền sản xuất xã hội phải đạt đến trình độ phát
triển nhất định Trong nền sản xuất xã hội còn ở trình độ thấp từ cộng sảnnguyên thuỷ cho đến phong kiến , khoa học không thể trực tiếo đi vào sảnxuất mà phải qua khâu trung gian: khâu thực nghiệm khoa học Từ nhữngthành tựu thu đợc qua thực tiễn thực nghiệm khoa học, con ngời tìm cách vậndụng chúng vào trong sản xuất Quá trình này diễn ra chậm chạp Trong điềukiện nh vậy, khoa học chỉ có thể biểu hiện nh một lực lợng sản xuất tiềmnăng mà thôi chứ cha thể trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp Ngợc lại, khisản xuất xã hội đã đạt đến trình độ phát triên cao, chính sản xuất lại đặt ranhững vấn đề mới, phức tạp đòi hỏi khoa học phải có phơng thức giải quyếtphù hợp , để thúc đẩy sản xuất phát triển và qua đó, khoa học cũng phát triểntheo Nh vậy, trong điều kiện này, sản xuất đã tạo ra những cơ sở quan trọng,những nhu cầu cấp thiết cho sự xuất hiện của những tri thức khoa học mới.Khoa học không phục vụ sản xuất một cách thụ động theo kiểu khoa họccũng đợc mà không khoa học cũng chẳng sao; khoa học đã tham gia mộtcách tích cực, chủ động và trở thành một yếu tố không thể thiếu của quátrình sản xuất xã hội Và, chỉ đến lúc này, khoa học mới có điều kiện để trởthành lực lợng sản xuất trực tiếp
Điều kiện về trình độ phát triển của khoa học : Trong nền sản xuất
cũ trình độ khoa học rất thấp ,và nó không ảnh hởng lớn đến sản xuất Trongnền sản xuất ngày nay , có một vấn đề nào của ngành sản xuất đặt ra mà trithức của ngành khoa học; thậm chí là của vài ngành khoa học cụ thể khôngthể giải quyết đợc hoàn toàn Tổng hợp khoa học, tổng hợp tri thức là xu h-ớng phát triển của khoa học ngày nay và điều kiện này hoàn toàn phù hợpvới nhu cầu của thực tiễn hiện đại Ngày nay, trong khoa học đang diễn ramột quá trình tơng tác mạnh mẽ giữa các khoa học, quá trình liên kết khoahọc theo hớng tổng hợp tri thức của khoa học hiện đại và đó là điều kiện
Trang 7quan trọng và tối cần thiết để biến khoa học trở thành lực lợng sản xuất trựctiếp.
Điều kiện về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, mà nếu biểu
hiện về mặt sản xuất thì đó chính là sự thống nhất giữa hoạt động sản xuấtvật chất và hoạt động khoa học Thực tiễn, trớc đây là thực tiễn xã hội, lànguồn gốc, là động lực của nhận thức khoa học, đồng thời cũng là tiêuchuẩn của chân lý Do vậy, việc khoa học trở thành lực lợng sản xuất trựctiếp sẽ là con đờng ngắn nhất và đáng tin cậy nhất để xác định độ chínhxác,đúng đắn, tính chân lý của tri thức khoa Sự thống nhất giữa lực lợng sảnxuất và hoạt động cơ bản của xã hội hiện đại đợc xây dựng trên cơ sở củanền sản xuất hiện đại và khoa học tiên tiến
Nh vậy cùng với sự phát triển của xã hội, vai trò của khoa học ngàycàng đợc tăng cờng, nhất là trong thời đại ngày nay, khi khoa học đang trởthành lực lợng sản xuất trực tiếp Tri thức khoa học vừa là sự biến đổi, vừa làquyền lực, vừa là sự giàu có, là một trong những yếu tố quan trọng nhấtquyết định sự phát triển, sự thịnh suy của một công ty, một dân tộc, một đấtnớc, một khu vực trong cuộc cạnh tranh khốc liệt cuả thế giới hiện đại
1.3.3 Khoa học trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp
Từ lâu khoa học đã trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp Có thể nóirằng nó xuất hiện cùng với con ngời khôn ngoan tức là con ngời thực sự cóhành vi lao động sản xuất đầu tiên, với công cụ lao động sản xuất đầu tiên.Vấn đề chỉ là ở chỗ xu hớng ấy ngày càng phát triển lên và trở nên đậm néttrong xã hội ngày nay Khoa học trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp đợcbiểu hiện dới nhiều hình thức:
Một là, tri thức khoa học đợc vật thể hóa thành các công cụ, máy móc tinh vi, hiện đại nh các loại máy vi tính, siêu tính, các máy công nghệ tự
động hóa, các thế hệ ngời máy (rôbốt) C.Mác là ngời đã chỉ ra cơ sở kỹthuật của nền kinh tế công nghiệp là máy móc mà trong đó việc đa năng suấtlao động tăng vọt là máy công tác, nhờ đó chuyển nền kinh tế nông nghiệpthủ công lên công nghiệp Còn máy điều khiển tự động mà trong đó, máytính điện tử nối mạng quốc gia và quốc tế là quan trọng nhất, là yếu tố quyết
định sự chuyển nền kinh tế công nghiệp lên kinh tế tri thức (kinh tế sau côngnghiệp), đồng thời tạo ra các loại công nghệ mới nh công nghệ thông tin,
Trang 8công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới Điều này không chỉ mang lạihiệu quả và năng suất cao hơn, chất lợng cao hơn mà còn góp phần quantrọng vào việc tiết kiệm nguyên vật liệu, tạo ra các nguyên vật liệu mới vốnkhông có sẵn trong tự nhiên; giảm thời gian lao động phải chi phí cho một
đơn vị sản phẩm Thực tế sản xuất ở các nớc công nghiệp phát triển đã chothấy rằng, tri thức khoa học ngày càng chiếm một hàm lợng cao trong giá trịsản phẩm, nguồn lợi do khoa học mang lại cũng ngày càng lớn hơn Cụ thể
là, vào những năm đầu của thế kỷ XX, khi chỉ có một bộ phận nhỏ của thếgiới bớc vào công nghiệp hóa, khi mà sự phát triển của khoa học cha đợc gắnchặt với kỹ thuật và sản xuất, thì lao động chân tay, tính trung bình, chiếmmột tỷ lệ rất cao, tới 9/10 trong giá trị sản phẩm Còn đến những năm 90, khihầu hết các nớc trên thế giới đã bớc vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và ởnhiều nớc đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật và cuộc cáchmạng khoa học - công nghệ, thì tỷ lệ đó đã giảm xuống còn 1/5, trong khi
đó, số lợng sản phẩm tăng 10 lần Với đà phát triển nh hiện nay của khoa học
và công nghệ, tỷ lệ đó còn giảm mạnh, theo số dự đoán đến năm 2010(thế kỷXXI) có thể chỉ còn 1/10 Trong thời đại thống trị của công nghệ thông tin,trí năng hóa sản xuất đang là xu hớng tất yếu và cũng là động lực mạnh mẽcủa sự phát triển xã hội Nguồn lợi do công nghệ thông tin mang lại càngngày tăng Trong những năm 90, ở Nhật Bản, nguồn lợi do tin học mang lạichiếm tới 40% tổng sản phẩm kinh tế quốc dân Chính “sự phát triển củacông cụ lao động là chỉ số cho thấy những tri thức xã hội nói chung – tứckhoa học - đã biến thành lực lợng sản xuất trực tiếp nh thế nào?”(C.Mác.Trích “Bách Khoa Triết học - Mátxcơva”)
Hai là,khoa học cùng với quá trình giáo dục và đào tạo đã tạo ra những ngời lao động mới: những con ngời lao động trí tuệ sáng tạo, vừa có tri
thức chuyên sâu một ngành nghề, vừa có hiểu biết rộng, tầm nhìn xa, baoquát, nhạy bén, vững vàng trong nghề nghiệp Tự bản thân khoa học khôngthể tạo ra bất kỳ một tác động nào mà phải thông qua sử dụng và hành độngthực tiễn của con ngời nó mới phát huy tác dụng Ngời lao động chính là lựclợng sản xuất mạnh mẽ nhất, to lớn nhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực, là
động lực của mọi động lực phát triển xã hội
Ba là,khoa học còn trực tiếp tham gia vào quá trình tổ chức, quản lý,
điều hành sản xuất Đó cũng là một biểu hiện của việc biến khoa học thành
Trang 9lực lợng sản xuất trực tiếp Việc tổ chức, quản lý, điều hành sản xuất ngàynay ở bất kỳ một cấp độ nào: trong một dây chuyền sản xuất, trong một phânxởng, một xí nghiệp, hay trong một liên hợp các xí nghiệp đều cần đến trithức khoa học, nhất là tri thức khoa học quản lý Cùng một thế hệ máy móc
nh nhau, cùng sản xuất ra một loại sản phẩm nh nhau, nếu biết tổ chức quản
lý, điều hành công việc tốt thì sẽ đem lại hiệu quả cao hơn
Bốn là thông tin, đây là tác nhân vô cùng quan trọng đối với sản xuất
trong điều kiện của nền kinh tế thị trờng mang tính quốc gia và quốc tế hiệnnay Thông tin là sản phẩm phát triển của khoa học, là sự biểu hiện của khoahọc Trong xã hội thông tin, kẻ giàu, kẻ mạnh, kẻ chiến thắng không phải là
kẻ trờng vốn, lắm lao động, mà là kẻ nắm bắt nhanh nhạy các thông tin, đặcbiệt là thông tin khoa học công nghệ và thông tin thị trờng Bởi vì, nhờ nắmbắt đợc thông tin mới có thể kịp thời thay đổi công nghệ để sản xuất ranhững sản phẩm phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của ngời tiêu dùng, giúpcho việc lu thông hàng hóa nhanh chóng Nắm bắt thông tin kịp thời, nhanhchóng còn giúp cho ngời sản xuất và ngời kinh doanh mở rộng thị trờng, dựbáo và đón đầu nhu cầu của ngời tiêu dùng, của xã hội, nhờ đó có thể giànhchiến thắng trong cuộc cạnh tranh gay gắt trên thơng trờng Trong thời đạicông nghệ thông tin, chỉ cần chậm một bớc trong việc nắm bắt thông tincũng có thể trả giá đắt nh thua lỗ, mất bạn hàng, thiệt hại, thậm chí đến phásản
Bởi vậy khoa học đang trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp là một đặctrng cơ bản của nền sản xuất hiện đại, đồng thời điều đó cũng chứng tỏ rằng,khoa học công nghệ ngày càng gắn bó và đóng vai trò quan trọng đối với sựphát triển của xã hội
2: Khoa học và công nghệ - lực lợng sản xuất hàng đầu trong công cuộc đổi mới nền kinh tế ở VN
2.1 Khoa học và công nghệ - lực lợng sản xuất trực tiếp trong quá trình côngnghiệp hóa - hiện đại hóa đất nớc
2.1.1Vai trò của khoa học và công nghệ đối với nền kinh tế Việt Nam
Trang 10Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nớc nông nghiệplạc hậu, cơ sở vật chất – kỹ thuật thấp kém Vì vậy, trong cuộc đổi mới nềnkinh tế đất nớc, công nghiệp hoá hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm xuyênsuốt thời kỳ đi lên chủ nghĩa xã hội Ngay từ khi bắt đầu quá trình đổi mới,
Đảng và nhà nớc ta đã quan tâm hoàn thiện và đổi mới quan điểm, các chủtrơng, chính sách trong lĩnh vực khoa học và công nghệ Nghị quyết 26 của
Bộ Chính trị (khóa VI) đã nêu rõ: "Đại hội lần thứ VI của Đảng đề ra đ ờnglối đổi mới, coi khoa học và công nghệ là một động lực mạnh mẽ của sự pháttriển kinh tế- xã hội theo định hớng xã hội chủ nghĩa, coi những ngời làmkhoa học là đội ngũ đáng tin cậy, quý báu của Đảng, Nhà nớc và nhân dân ta
" Nếu khoa học và công nghệ ở các giai đoạn phát triển trớc đây là yếu tốgián tiếp của lực lợng sản xuất, đứng ngoài qua trình sản xuất trực tiếp, theocái nghĩa là từ khoa học và công nghệ đến sản xuất phải trải qua một thờigian biến đổi, thì ngày nay, nhìn chung, chúng đã và đang trở thành lực lợngsản xuất trực tiếp giữ vai trò động lực cho sự phát triển của công cuộc đổimới nền kinh tế Việt Nam.Vai trò động lực của khoa học và công nghệ đợcthể hiện ở những mặt cụ thể sau:
Thứ nhất :khoa học và công nghệ đóng vai trò quyết định trong quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại, tiên tiến cho nền sản xuất xã hội nói riêng và cả các ngành kinh tế quốc dân nói chung.Trên thực tế, n-
ớc ta đã tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa từ đầu những năm 60của thế kỷ XX Nhng vẫn tiếp tục để cho lực lợng sản xuất trong tình trạnglạc hậu, các trang thiết bị máy móc phần lớn là thủ công, thủ công bán cơgiới Do vậy, mà cả năng suất lao động và chất lợng các sản phẩm do nền sảnxuất xã hội tạo ra vẫn còn rất thấp so với mặt bằng chung của thế giới ,vàtrong khu vực Chỉ có trên cơ sở thay đổi các trang thiết bị kỹ thuật hiện đạimới có thể đẩy mạnh đợc sản xuất, nhất là trong những ngành sản xuất mũinhọn nh bu chính viễn thông, năng lợng, vật liệu, chế biến
Thứ hai, khoa học và công nghệ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đào tạo, bồi dỡng, khai thác và phát huy nguồn lực con ngời, đặc biệt là nguồn lực trí tuệ – một nguồn lực to lớn, có tính chất quyết định đối với sự nghiệp CNH, HĐH ở nớc ta hiện nay Bằng nhiều con đờng, nhiều
cách thức khác nhau, chúng ta đang thực hiện quá trình trang bị và trang bịlại công nghệ cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân Tuy nhiên, điều quan
Trang 11trọng và có tính chất quyết định bậc nhất ở đây là cần phải có những con
ng-ời có tri thức và năng lực để có thể khai thác, sử dụng hiệu quả nhất các trangthiết bị kỹ thuật hiện đại.Từ chỗ có tri thức về khoa học và công nghệ, conngời và xã hội Việt Nam sẽ chuyển dần từ chỗ chủ yếu là lao động chân cơbắp, thủ công với những trang thiết bị kỹ thuật cũ kỹ, thô sơ, lạc hậu sang lao
động trí tuệ, lao động công nghiệp với máy móc, trang bị thiết bị kỹ thuậthiện đại
Thứ ba, khoa học và công nghệ giữ vai trò động lực trong việc tạo ra môi trờng và thị trờng thông tin – một môi trờng mới đầy sức mạnh và
quyền lực đối với sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH nói riêng, đối với sự pháttriển xã hội, nói chung Thông tin trong lĩnh vực khoa học và công nghệ cóliên quan hết sức chặt chẽ đến việc nắm bắt các bí mật, bí quyết công nghệ,
đợc thể hiện qua các phơng pháp, các thiết bị, dữ liệu khoa học và công nghệmới nhất Thông tin nh một ngời hớng dẫn nắm trong tay chiếc chìa khoáthần diệu, giúp chúng ta mở đợc những “cánh cửa làm ăn” một cách đúnglúc, đúng cách, giúp ta tìm kiếm nhng cơ hội những lĩnh vực làm ăn hiệuquả, và biết rút lui đúng lúc khi tiềm năng lĩnh vực đó đã cạn Công nghệthông tin có vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình xây dựng kinh tế trithức và hội nhập toàn cầu về kinh tế của Việt Nam
Thứ t, khoa học và công nghệ có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện cơ chế tổ chức, quản lý sản xuất nhằm thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá Trong sản xuất nói riêng, trong mọi hoạt động xã hội nói chung nếu
không có một cơ chế tổ chức quản lý điều hành quản lý thì chắc chắn khôngthể mang lại kết quả tích cực Điều đó cũng giống nh một dàn nhạc lớn, chỉ
có các nhạc công mà không có nhạc trởng thì troóng đánh xuôi, kèn thổi
ng-ợc, không thể hoà tấu bất kỳ bản nhạc nào
2.1.2 Sự phát triển khoa học và công nghệ trong công cuộc đổi mới nền kinh
tế Việt Nam giai đoạn hiện nay
Trên cơ sở lý luận vai trò cơ sở và động lực của khoa học đối với quátrình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong sự phát triển kinh tế xã hội ViệtNam nói chung là rất rõ ràng Tuy nhiên, đấy mới chỉ là về mặt nhận thức lýluận Còn trong thực tế thì sao? Qua việc tìm hiểu thực trạng khoa học vàcông nghệ trong điều kiện nớc ta hiện nay và những mâu thuẫn giữa nhu cầu