Trong những năm qua, giới nghiên cứu khoa học pháp lý đã có một số công trình, bài nghiên cứu liên quan đến vấn đề này với những phạm vi và mức độ khác nhau như: - Luận án tiến sĩ của Tr
Trang 1ĐỀ TÀI: Hợp đồng mua bán hàng hóa – thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phần Thương
Mại Viglacera
LỜI MỞ ĐẦU: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Trong xã hội hiện đại, mọi hoạt động kinh tế đều dựa trên cơ sở hợp đồng Một doanh nghiệp có thể phát triển vững chắc thì vấn đề quan trọng nhất là hợp đồng mua bán hàng hóa Doanh nghiệp càng kí kết được nhiều hợp đồng mua bán hàng hóa, doanh thu của doanh nghiệp càng cao Một Nhà xã hội nổi tiếng người Pháp A.Foullier đã nhận định: “Hợp đồng chiếm 9/10 dung lượng các bộ luật hiện hành và đến khi nào đó, trong các bộ luật quy định về hợp đồng ở các điều khoản, từ điều khoản thứ nhất đến điều khoản cuối cùng” Thực tế, việc kí kết được hợp đồng mua bán hàng hóa lại là vấn đề gây đau đầu cho các nhà kinh doanh Bởi tình trạng vi phạm hợp đồng cùng với sự xuất hiện ngày càng nhiều hành vi xấu gây ảnh hưởng đến các doanh nghiệp làm ăn chân chính Thực trạng hiện nay vẫn còn những doanh nghiệp chưa hiểu đúng về vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa, còn lúng túng trong vấn đề giải quyết vi phạm hợp đồng, từ đó
có thể dẫn đến những thiệt hại nhất định cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động và phát triển
Hợp đồng mua bán hàng hóa rất phong phú, được điều chỉnh bởi nhiều nguồn luật
và khá phổ biến trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào Trong
hệ thống pháp luật nước ta đã có những quy định cụ thể về sự điều chỉnh quan hệ hợp đồng ngay từ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989, tiếp đến là Bộ luật Dân sự 1995, Luật Thương mại 1997… và hiện tại tiêu biểu là hai văn bản pháp luật mới được ban hành: Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Thương mại 2005
Có thể nói hợp đồng mua bán hàng hóa là một nội dung không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh, hợp đồng mua bán hàng hóa thực sự là một phương tiện, công cụ hữu hiệu nhất để ổn định, phát triển thị phần, tạo ra lợi nhuận và danh tiếng cho mỗi doanh nghiệp Việc nắm vững, hiểu rõ các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ giúp các chủ thể kinh doanh ký kết và thực hiện hợp đồng được thuận lợi, an toàn
và hiệu quả, tránh các tranh chấp, rủi ro đáng tiếc
Trang 2Công ty Cổ phần Thương Mại Viglacera là một công ty chuyên kinh doanh vật tư, nguyên vật liệu xây dựng, vật liệu trang trí nội ngoại thất,… Các mặt hàng như sứ vệ sinh, gạch ốp lát ceramic, gạch granite, gạch gốm đất sét nung, kính… được tiêu thụ rộng rãi ở khắp mọi miền đất nước và xuất khẩu đến nhiều nước trên thế giới Đây là các mặt hàng rất phổ biến và có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, đặc biệt đối với những quốc gia đang trong quá trình công nghiệp hóa
và hiện đại hóa đất nước như Việt Nam hiện nay Do đó, các hoạt động mua bán các mặt hàng của công ty diễn ra rất sôi nổi trên thị trường trong nước Chính vì vậy, em đã chọn
đề tài: “Hợp đồng mua bán hàng hóa và thực trạng thực hiện hợp đồng mua bán hàng
hóa của công ty Cổ phần Thương Mại Viglacera trong bối cảnh hội nhập hiện nay”
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Pháp luật hợp đồng nói chung và pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng là vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều người Trong những năm qua, giới nghiên cứu khoa học pháp lý đã có một số công trình, bài nghiên cứu liên quan đến vấn đề này với những phạm vi và mức độ khác nhau như:
- Luận án tiến sĩ của Trương Văn Dũng năm 2003: “Trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam”
- Luận án tiến sĩ của PGS.TS Phạm Hữu Nghị năm 1996: “Chế độ Hợp đồng trong nền kinh tế thị trường Việt Nam ở giai đoạn hiện nay”
- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Hùng năm 2002: “Một số vấn đề về Hợp đồng dân sự - Hợp đồng kinh tế - Hợp đồng thương mại và các giải pháp hoàn thiện chế định pháp luật hợp đồng”
- “Hợp đồng mua bán hàng hóa từ lý thuyết đến thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH IPC” được thực hiện bởi sinh viên Phạm Thị Lan Phương – Khoa Luật – Trường Đại học kinh
tế quốc dân (năm 2006)
- “Các khía cạnh pháp lý trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” được thực hiện bởi sinh viên Đỗ Hồng Phúc – Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ (năm 2008)Ngoài ra, còn có những công trình nghiên cứu, các giáo trình có đề cập đến các khía cạnh pháp lý của hợp đồng, sử dụng rộng rãi trong các trường Đại học như:
- Giáo trình Luật kinh tế Việt Nam (2001), Giáo trình Luật Thương mại (2002), của khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3- Giáo trình pháp luật kinh tế (2005), của khoa Luật kinh tế, trường Đại học kinh tế quốc dân.
- Giáo trình Luật kinh tế của Đại học Luật Hà Nội
Những công trình trên đều chứng tỏ được tầm quan trọng của hợp đồng nới chung Tuy nhiên, các quy định về hợp đồng hiện nay còn chưa thống nhất và đồng bộ Chính vì vậy, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa qua từng thời kì
là điều tất yếu Do đó, một trong những thành công của những đề tài nghiên cứu trên chính là việc phát hiện ra những điểm bất cập, những mặt còn hạn chế Từ đó, đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng Các công trình nói trên là những tài liệu rất quý giá để tham khảo, phục vụ cho việc nghiên cứu khóa luận này
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cốt yếu nhất về hợp đồng mua bán hàng hóa ở nước ta
- Phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam hiện nay về hợp đồng mua bán hàng hóa, áp dụng cho Công ty Cổ phần Thương Mại Viglacera
- Phát hiện các điểm mạnh cần phát huy và hạn chế cần khắc phục
- Đề xuất một số giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu những vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước của công ty Cổ phần Thương Mại Viglacera Từ
đó, đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa và nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
- Phạm vi thời gian: Trong khoảng từ năm 2010 trở lại đây
4.3. Mục tiêu nghiên cứu:
Trang 4Mục tiêu của đề tài là tiếp cận một cách có hệ thống các quy định hiện hành của pháp luật
về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên cũng như thực tiễn việc thi hành các quy định này của công ty Cổ phần Thương Mại Viglacera Đồng thời có sự so sánh giữa các quy định của luật và thực tiễn thực hiện Nhằm tìm hiểu tình hình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa của công ty Cổ phần Thương Mại Viglacera trong quá trình kí kết và thực hiện hợp đồng có phát sinh những tranh chấp và vi phạm hợp đồng gì, để từ
đó đề xuất những phương pháp nhằm hạn chế vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa
5. Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng những phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp, so sánh và đối chiếu để có cái nhìn khách quan và toàn diện Từ đó đưa ra những ý kiến về mặt lý luận cũng như những
đề xuất trong thực tiễn nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại hiện nay: Hạn chế vi phạm hợp đồng
- Các phương pháp nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở các phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng, đường lối và chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiếp
Với mục đích và phạm vi nghiên cứu ở trên, ngoài lời nói đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa và các quy định của
pháp luật điều chỉnh việc thực hiện hợp đồng
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật điều chỉnh quá trình thực hiện hợp đồng mua
bán hàng hóa của công ty Cổ phần Thương Mại Viglacera trong bối cảnh hội nhập hiện nay
Chương 3: Một số đề xuất cho việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán
hàng hóa và một số kiến nghị cho quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty Cổ phần Thương mại Viglavera
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VIỆC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG
I.1. Lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng hóa
I.1.1. Lịch sử hình thành của pháp luật về hợp đồng
Trang 5Nghiên cứu lịch sử hình thành của pháp luật về hợp đồng ở nước ta cho thấy sự điều chỉnh pháp luật về hợp đồng trong hoạt động kinh doanh đã có từ rất sớm Từ khi còn là thuộc địa của Pháp, Việt Nam đã có bộ luật về hợp đồng Việt Nam bao gồm hai bộ phận cấu thành: Pháp luật về hợp đồng dân sự và pháp luật về hợp đồng thương mại.Tháng 12/1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã ra quyết định đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theo hướng chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp sang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ngày 25/9/1989, Hội đồng Nhà nước đã thông qua các pháp lệnh hợp đồng kinh tế, bước đầu xây dựng một chế độ pháp lý về hợp đồng kinh tế Theo đó “Hợp đồng kinh tế
là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên kí kết về việc tham gia sản xuất, trao đổi hàng hóa dịch vụ nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình” (Điều 1 – Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế)
Bộ luật Dân sự được Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995 cũng đưa ra những quy định về hợp đồng dân sự Đến năm 1997, khi Luật Thương mại được Quốc hội thông qua ngày 10/05/1997 cũng có những quy định về hợp đồng trong một số hành vi thương mại Trên thực tế, các quan hệ hợp đồng trong kinh doanh thương mại vẫn chủ yếu căn cứ vào Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989
Có thể thấy, các vấn đề pháp lý về hợp đồng được quy định trong ba văn bản: Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989, Bộ luật Dân sự 1995 và Luật Thương mại 1997 Trong các văn bản này lại có những quy định không thống nhất và cũng không có các quy định về mối quan hệ giữa các văn bản với nhau gây nhiều khó khan cho người sử dụng, đòi hỏi
sự hoàn thiện và đổi mới các quy định của pháp luật về hợp đồng
Ngày 14/06/2005, Bộ luật Dân sự mới đã được Quốc hội khóa XI thông qua và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 Bộ luật Dân sự 2005 được ban hành thay thế cho Bộ luật Dân sự 1995 và Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989 Đây được coi là đạo luật chung,
áp dụng cho tất cả các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại, tạo sự thống nhất về pháp luật, đặc biệt trong việc điều chỉnh những quan hệ hợp đồng
Trang 6Luật Thương mại 1997 cũng được thay thế bởi Luật Thương mại mới được Quốc hội thông qua ngày 14/06/2005, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 Đây là nguồn luật chính điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại theo Luật Thương mại 2005, hợp đồng thương mại có thể chia thành hai nhóm là hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng cung ứng dịch vụ.
Như vậy, đối với hợp đồng mua bán hàng hóa, nguồn luật chủ yếu điều chỉnh hiện hành là:
Bộ luật Dân sự 2005 là nguồn luật gốc cho tất cả các quan hệ hợp đồng Luật Thương mại 2005 quy định những vấn đề cụ thể về hợp đồng mua bán hàng
hóa Khi có những vấn đề liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa mà Luật Thương mại không quy định thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự
Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài trong kinh doanh, thương mại được điều chỉnh bởi nhiều nguồn luật khác nhau như luật quốc gia, các điều ước quốc tế và các tập quán quốc tế
I.1.2. Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa
I.1.2.1. Khái niệm
Hợp đồng nói chung là một hành vi pháp lý, là sự thể hiện ý chí của các bên để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ Hợp đồng là loại hành vi pháp lý cơ bản và thông dụng nhất
Ý chí của cá nhân đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, khi sự thống nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh các nghĩa vụ ràng buộc các bên
Hàng hóa theo nghĩa rộng được hiểu là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thỏa mãn những nhu cầu mang tính xã hội nhu cầu của con người rất phong phú và biến thiên lien tục vì vậy hàng hóa luôn phát triển phong phú va
đa dạng theo định nghĩa của pháp luật hiện hành của Việt Nam, tại Khoản 2 Điều 3 Luật Thương Mại 2005: “Hàng hóa bao gồm: Tất cả các bất động sản, kể cả bất động sản hình
thành trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai” Cũng tại Điều 3 luật này, tại Khoản
8 có quy định: “Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, là sự thỏa thuận theo đó bên
bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa
Trang 7theo thỏa thuận” Việc mua bán hàng hóa được thực hiện dựa trên cơ sở hợp đồng Hiện nay hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng thông dụng của hợp đồng dân sự, chiếm một
số lượng lớn Tại điều 388 BLDS 2005 có nêu khái niệm chung của hợp đồng dân sự:
“Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Đối với hoạt động mua bán hàng hóa hay hợp đồng mua bán hàng hóa cũng là sự xác lập
Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, nó là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán Luật Thương mại 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân sự để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa Theo Điều 428 Bộ luật dân sự 2005:
“Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán” Hàng hóa được hiểu là động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, và các vật gắn liền với đất Như vậy, hàng hóa thuộc tài sản và có phạm vi hẹp hơn tài sản Từ đó cho thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản
Cần phân biệt hợp đồng mua bán hàng hóa với các hợp đồng khác, ví dụ như thuê mua tài sản, dịch vụ gắn liền với hàng hóa, gia công hàng hóa… Mua bán hàng hóa khác với quan hệ thuê mua tài sản Khi thuê tài sản, quyền sử dụng và chiếm hữu được chuyển cho người thuê nhưng quyền sở hữu lại không được người cho thuê chuyển giao cho người đi thuê Mua bán hàng hóa khác với các dịch vụ giao nhận hàng hóa, vì người giao nhận hàng hóa chỉ thực hiện chức năng trung gian
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, ta xem xét hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các tổ chức
cá nhân có đăng ký kinh doanh mà quan hệ với nhau vì mục đích lợi nhuận Theo Khoản
8 - Điều 3 Luật Thương mại 2005 có quy định: “ Hoạt động thương mại, theo đó bên bán
có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận” Như vậy, về khái niệm chung không khác gì so với hợp đồng dân sự hay hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường Trong LTM 2005 không có nêu khái niệm về hợp đồng thương mại mà chỉ có hoạt động thương mại, trong đó mua bán hàng hóa là một hoạt động thương mại Các hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi
Trang 8nhuận, và đây là điểm khác biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động thương mại Các hợp đồng được giao kết không nhằm mục đích lợi nhuận là hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất dân sự
Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng được giao kết bởi các thương nhân, là
sự thỏa thuận giữa các bên để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên, và giao kết nhằm mục đích sinh lợi
I.1.2.2. Đặc điểm
Có thể xem xét các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa trong mối liên hệ với hợp đồng mua bán tài sản theo nguyên lý của mối quan hệ giữa luật riêng và luật chung.Hợp đồng mua bán hàng hóa cũng có những đặc điểm chung của hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự như:
+ Là hợp đồng ưng thuận: tức là nó được coi là giao kết tại thời điểm các bên thỏa
thuận xong các điều khoản cơ bản, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng không phụ thuộc vào thời điểm bàn giao hàng hóa, việc bàn giao hàng hóa chỉ được coi là hành động của bên bán nhắm thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng mua bán đã có hiệu lực
+ Có tính đền bù: Bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì sẽ
nhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạng khoản tiền thanh toán
+ Là hợp đồng song vụ: Mỗi bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đều bị ràng buộc
bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình Trong hợp đồng mua bán hàng hóa tồn tại hai nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau: nghĩa vụ của bên bán phải bàn giao hàng hóa cho bên mua và nghĩa vụ của bên mua phải thanh toán cho bên bán
Với tư cách là hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm nhất định, xuất phát từ bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa:
- Về chủ thể của hợp đồng
Hợp đồng được ký kết giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật Theo Luật Thương mại 2005, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được giao kết giữa các thương nhân hoặc ít nhất một bên là thương nhân
Trang 9Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Các tổ chức kinh
tế được thành lập hợp pháp có thể bao gồm các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty nhà nước và các tổ chức kinh tế khác Thương nhân là cá nhân bao gồm các hộ kinh doanh cá thể có đăng ký kinh doanh và tiến hành hoạt động thương mại một cách thường xuyên, độc lập
Các thương nhân này có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm Ngoài ra, hợp đồng mua bán hàng hóa còn được ký kết giữa các tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại
- Đối tượng của hợp đồng
Trong hợp đồng mua bán hang hóa thì cả bên mua và bên bán đều hướng tới hàng hóa, hang hóa là đối tượng của hợp đồng Theo Khoản 2 – Điều 3 – Luật Thương mại 2005 hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai Mỗi đối tượng đều có hình thức trao đổi khác nhau, nhưng vẫn phải tuân theo những nguyên tắc chung trong hợp đồng mua bán hàng hóa
- Nội dung của hợp đồng
Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm những điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng thỏa thuận xác lập nên sau khi đã tự do bàn bạc, thương lượng Các bên khi thỏa thuận về nội dung của hợp đồng phải đảm bảo là những nội dung hợp pháp với các điều khoản rõ ràng, cụ thể, có tính hiện thực cao
Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa cần chứa đựng đầy đủ các nội dung cơ bản sau:
- Tên hàng;
- Số lượng;
- Quy cách chất lượng;
- Giá cả, phương thức thanh toán;
- Địa điểm và thời hạn giao hàng;
Ngoài ra hợp đồng còn phải có thêm những điều khoản để đảm bảo quyền lợi cho các bên không có chung một hệ thống pháp luật như điều khoản về chọn Luật áp dụng hay cơ
Trang 10quan và nơi giải quyết tranh chấp Do loại hợp đồng này có đặc điểm là các bên đều nhằm đến mục tiêu lợi nhuận, đòi hỏi nội dung của hợp đồng phải đầy đủ, rõ ràng, tránh những hiểu lầm dẫn đến tranh chấp Vì vậy cần cẩn trọng soạn thảo nội dung hợp đồng Chẳng hạn, đối với điều khoản về tên hàng, kèm theo tên cần có mã số và mẫu hàng; đối với điều khoản về số lượng và trọng lượng cần chọn những đơn vị đo lường thống nhất, trong trường hợp không có đơn vị thống nhất, cần có điều khoản giải thích, đối với điều khoản về thanh toán cần quy định rõ đồng tiền thanh toán và phương thức thanh toán…
I.1.3. Nội dung cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa
Nội dung của hợp đồng là tất cả những gì mà các bên thỏa thuận và pháp luật quy định đối với một hợp đồng Luật Thương mại 2005 đã không quy định về nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa Tuy nhiên, ta có thể thấy rằng, một hợp hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường phải chứa đựng sự thỏa thuận về đối tượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm nhận giao hàng Khi các bên thỏa thuận được những nội dung chủ yếu thì hợp đồng mua bán hàng hóa coi như đã có hiệu lực pháp lý Nội dung khác các bên có thể thỏa thuận ghi vào hợp đồng, khi các bên không ghi vào hợp đồng thì mặc nhiên chấp nhận những quy định chung của pháp luật về vấn đề đó hoặc chấp nhận những thói quen trong hợp đồng thương mại
Trang 11Trên cơ sở việc xác lập mối quan hệ với Bộ luật Dân sự 2005, nội dung của hợp đồng có thể chia thành ba loại điều khoản với những ý nghĩa khác nhau: điều khoản chủ yếu, điều khoản thường lệ, điều khoản tùy nghi.
- Điều khoản chủ yếu: Các điều khoản chủ yếu nêu nên những quyền và nghĩa vụ chủ yếu
của các bên, làm cơ sở cho việc thực hiện mà nếu thiếu nó thì quan hệ hợp đồng chưa được coi là đã được xác lập
- Điều khoản thường lệ: Là điều khoản đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp
luật Dù các điều khoản này không được ghi vào hợp đồng nhưng các bên mặc nhiên thừa nhận và phải thực hiện đúng như pháp luật đã quy định
- Điều khoản tùy nghi: Là những điều khoản được đưa vào hợp đồng theo sự thỏa thuận
của các bên, căn cứ vào khả năng, nhu cầu của các bên để xác định thêm một số điều khản khác Trong khuôn khổ của pháp luật, các bên có quyền lựa chọn và thỏa thuận về những hành vi cụ thể Điều đó nhằm làm cho nội dung của hợp đồng được rõ ràng, cụ thể, tạo điều kiện cho việc thực hiện hợp đồng nhanh chóng, tránh sự hiểu lầm trong quan
hệ hợp đồng
Khi xem xét về nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa chúng ta có thể dựa trên các quy định của Bộ luật dân sự Theo đó trong hợp đồng mua bán hàng hóa các bên có thể thỏa thuận những nội dung chủ yếu sau:
- Đối tượng của hợp đồng:
Trong mua bán hàng hóa, đối tượng của hợp đồng là một hàng hóa nhất định đây là điều khoản cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa, mà khi thiếu nó hợp đồng mua bán hàng hóa không thể hình thành được do người ta không thể hình dung được các bên tham gia hợp đồng nhằm mục đích gì, trao đổi cái gì Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa được xác định thông qua tên gọi của hàng hóa, các bên có thể ghi rõ tên hàng bằng tên thông thường tên thương mại…để tránh có sự hiểu sai lệch về đối tượng hợp đồng
- Số lượng hàng hóa:
Điều khoản về số lượng hàng hóa xác định về mặt đối tượng của hợp đồng Các bên có thể thỏa thuận và ghi trong hợp đồng về số lượng hàng hóa cụ thể hoặc số lượng được xác định băng đơn vị đo lương theo tập quán thương mại như chiếc, bộ, tá, mét vuông, mét khối hay bằng đơn vị nào khác tùy theo tính chất của hàng hóa
- Chất lượng hàng hóa:
Trang 12Chất lượng hàng hóa giúp xác định chính xác đối tượng của hợp đồng, cái mà người mua biết tường tận với những yêu cầu được tính năng, tác dụng, quy cách, kích thước, công suất, hiệu quả…xác định cụ thể chất lượng của sản phẩm thường cũng là cơ sở để xác định giá cả một cách tốt nhất Trách nhiệm của các bên thường khác nhau, tương ứng với mỗi phương pháp xác định chất lượng được thỏa thuận Thông thường có các biện pháp xác định chất lượng như dựa vào mẫu hàng, dựa vào các tiêu chuẩn, dựa vào mô tả tỉ mỉ, dựa vào nhãn hiệu hàng hóa hoặc điều kiện kỹ thuật…
- Giá cả hàng hóa:
Các bên có quyền thỏa thuận giá cả và phải được ghi cụ thể trong hợp đồng hoặc nếu không ghi cụ thể thì phải xác định rõ phương hướng xác định giá, vì đây là điều khoản quan trọng trong các cuộc thương lượng để đi đến ký kết hợp đồng Để mang lại lợi ích cho cả hai bên, các bên cũng có thể thỏa thuận với nhau lựa chọn hình thức giảm giá phù hợp ghi trong hợp đồng như giảm giá giao hàng sớm, do mua số lượng nhiều và quy định
rõ mức giá giảm
- Phương thức thanh toán:
Phương thức thanh toán là các cách thức mà bên mua và bên bán thỏa thuận, theo đó bên mua phải thanh toán cho bên bán tiền hàng đã mua theo phương thức nhất định Có nhiều phương thức thanh toán nhưng việc lựa chọn phương thức nào cũng xuất phát từ nhu cầu của người bán là thu tiền nhanh đầy đủ và yêu cầu của người mua là nhận được hàng đúng số lượng, chất lượng, thời hạn như đã thỏa thuận và không có rủi ro vào sự thỏa thuận giữa các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa Sự lựa chọn phương thức thanh toán cũng căn cứ vào mức độ an toàn của phương thức thanh toán và phí tổn cho việc thanh toán
- Thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng:
Thời gian thực hiện hợp đồng là khoảng thời gian mà bên bán phải hoàn thành nghĩa vụ giao hàng cho bên mua theo đúng đối tượng của hợp đồng, địa điểm giao hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng Bên mua có nghĩa vụ và nhận hàng đúng thời gian, địa điểm và trả tiền cho bên bán Các bên có thể thỏa thuận với nhau sao cho hợp lý với tình hình thực tiễn, khả năng thực hiện của mỗi bên Địa điểm giao hàng có thể do hai bên thỏa thuận, phù hợp với điều kiện thực tế, thuận tiện và có lợi cho cả hai bên Khi thỏa thuận cần thỏa
Trang 13thuận cụ thể địa chỉ giao hàng, đảm bảo nguyên tắc phù hợp với khả năng đi lại của phương tiện vận chuyển, đảm bảo an toàn cho phương tiện.
I.2. Pháp luật điều chỉnh việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
I.2.1. Pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng
I.2.1.1. Quyền và nghĩa vụ của bên bán
- Nghĩa vụ của bên bán
Bên bán phải giao hàng hóa phù hợp với quy định của hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng Điều 35 – Luật Thương mại quy định bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng trường hợp bên bán giao hàng trước thời hạn đã thỏa thuận thì bên mua có quyền nhận hoặc không nhận hàng nếu có thỏa thuận khác (Điều 38 – Luật Thương mại)
Nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hóa được quy định tại Điều 42 – Luật Thương mại Trường hợp có thỏa thuận về việc giao chứng từ thì bên bán có nghĩa vụ giao chứng
từ liên quan đến hàng hóa cho bên mua vào thời hạn, tại địa điểm và bằng hình thức đã thỏa thuận
Một trong các nghĩa vụ của bên bán là phải kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng Bên bán phải chịu những khiếm khuyết của hàng hóa mà bên mua hoặc đại diện của bên mua
đã kiểm tra nếu các khiếm khuyết của hàng hóa không thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra bằng biện pháp thông thường và bên bán biết hoặc không thể không biết về các khiếm khuyết đó nhưng không thông báo cho bên mua (Khoản 5 - Điều 44 – Luật Thương mại)
Bên bán có nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với hàng hóa Theo đó, bên bán phải bảo đảm: (1) Quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa đã bán không bị tranh chấp bởi bên thứ ba; (2) Hàng hóa đó phải hợp pháp; (3) Việc chuyển giao hàng hóa là hợp pháp
Ngoài ra, bên bán không được bán hàng hóa vi phạm quyền sở hữu trí tuệ (Điêuù 6 – Luật Thương mại) Trường hợp hàng hóa mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận và phải chịu các chi phí về việc bảo hành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Điều 49 _ Luật Thương mại)
Trang 14- Quyền của bên bán
Bên bán có quyền nhận tiền hàng hóa theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa Nếu bên bán chậm nhận được hoặc không nhận được tiền bán hàng do lỗi của bên mua thì bên bán có quyền áp dụng các biện pháp do Luật Thương mại quy định để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình
Điều 306 – Luật Thương mại quy định bên bán có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lã suật nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Ngoài ra, bên bán có thể áp dụng các hình thức chế tài theo quy định của Luật Thương mại
I.2.1.2. Quyền và nghĩa vụ của bên mua
- Nghĩa vụ của bên mua
Điều 50, 55 – Luật Thương mại quy định bên mua có nghĩa vụ:
+ Thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thảo thuận
+ Tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định của pháp luật
+ Thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc giao chứng từ lien quan đến hàng hóa; bên mua vẫn phải thanh toán tiền hàng trong trường hợp hàng hóa mất mát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua, trừ trường hợp mất mát, hư hỏng do lỗi của bên bán gây ra
Ngoài ra, bên mua mất quyền sở hữu đối với hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa nếu bên mua không thông báo ngay cho bên bán về khiếu nại của bên thứ ba đối với hàng hóa được giao sau khi bên mua đã biết hoặc phải biết về khiếu nại của bên thứ ba (Khoản 1 - Điều 45, Điều 46 – Luật Thương mại)
- Quyền của bên mua
Bên mua có quyền ngừng thanh toán tiền mua hàng trong các trường hợp: (1) Bên mua
có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng việc thanh toán; (2) Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì có quyền tạm
Trang 15ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp được giải quyết; (3) Bên có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục được sự không phù hợp đó
I.2.2. Pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ phát sinh ngoài hợp đồng
Trong quan hệ hợp đồng, nếu phát sinh những tình huống không nằm trong thỏa thuận của hai bên được ghi trong hợp đồng thì bên vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi mang tính vât chất Điều kiện để xuất hiện trách nhiệm vật chất là sự vi phạm hợp đồng được hiểu là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa
vụ trách nhiệm Pháp luật Việt Nam tuân thủ nguyên tắc chỉ chịu trách nhiệm khi có lỗi (Điều 312 BLDS 2005), do đó nếu chứng minh mình không có lỗi thì không phải chịu trách nhiệm vật chất Người bán phải chịu trách nhiệm về việc hàng không phù hợp với hợp đồng trừ trường hợp chứng minh là mình không có lỗi
Tùy theo từng loại nghĩa vụ hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận hoặc bên vi phạm có thể lựa chọn các loại chế tài sau: (Điều 292 LTM 2005)
Những trường hợp các bên được miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng: (Điều 294 LTM 2005)
- Xảy ra các trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận
- Xảy ra sự kiện bất khả kháng
- Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia
Trang 16- Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được giao kết hợp đồng.
Bên vi phạm hợp đồng có nhĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm bằng văn bản, dữ liệu trước các hậu quả có thể xảy ra, tìm biện pháp xử lý hậu quả trên tinh thần hợp tác (Điều 295 LTM 2005)
Đối với những quan hệ mua bán hàng hóa có thời hạn cố định về giao hàng, nếu xảy ra trường hợp bất khả kháng các bên đều có quyền từ chối thực hiện hợp đồng và không bên nào có quyền đòi bên kia bồi thường Nếu việc giao hàng được thỏa thuận trong một thời hạn khi các bên không thỏa thuận, thì thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được tính thêm một thời gian bằng thời gian xảy ra trường hợp bất khả kháng cộng với thời gian hợp lý để khắc phục hậu quả
Tuy nhiên, để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng cũng như để ràng buộc và tăng cường trách nhiệm trong việc thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng, pháp luật có những quy định điều chỉnh nghĩa vụ phát sinh ngoài hợp đồng Các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có thể thỏa thuận áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng quy định tại Điều 318 – Bộ luật Dân sự như:
- Cầm cố tài sản: Là việc một bên giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên kia để đảm
bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự
- Thế chấp tài sản: Là việc một bên (bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu cùa mình để
đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (bên nhận thế chấp) Tài sản thế chấp
do bên thế chấp giữ, không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp trừ trường hợp các bên có thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản thế chấp
- Đặt cọc: Là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý,
hoặc vật có giá trị khác (tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để đảm bảo giao kết, thực hiện hợp đồng
- Ký quỹ: Là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý, hoặc giấy
tờ có giá trị khác vào tài khoản phong tỏa tại một ngân hàng để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ dân sự
- Bảo lãnh: Là việc người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo
lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà been được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
Trang 17CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VIGLACERA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP HIỆN NAY
2.1. Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến hợp đồng mua bán hàng hóa
của Công ty Cổ phần Thương Mại Viglacera
2.1.1. Tổng quan về Công ty Cổ phần thương mại Viglacera
Công ty Cổ phần Thương Mại Viglacera được thành lập theo quyết định số
0103022396 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp ngày 14/02/2008 Công ty thuộc hình thức công ty Cổ phần, hoạt động theo luật Doanh nghiệp và các quy định hiện hành khác của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tên công ty viết bằng tiếng Việt: CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI VIGLACERA Tên công ty viết bằng tiếng nước ngoài: VIGLACERA TRADING JOINT STOCK
COMPANY
Tên công ty viết tắt: VIGLACERA TRADING.,JSC
Địa chỉ: Tầng 1- Viglacera Tower- số 1 Đại lộ Thăng Long- xã Mễ Trì- huyện Từ Liêm-
Công ty được thành lập với Đại Hội Đồng Cổ Đông gồm:
Chủ tịch HĐQT: Ông Nguyễn Minh Tuấn
Tổng Giám đốc: Ông Nguyễn Văn Lý
Ủy viên HĐQT: Bà Nguyễn Thị Hương Giang
Trưởng BKS: Bà Bùi Thị Thanh Nam
Người đại diện đồng thời là Tổng Giám đốc công ty: Ông Nguyễn Văn Lý
Vốn pháp định là : 60.000.000.000 VNĐ (Sáu mươi tỷ đồng)
Tổng số cổ phần: 6.000.000 cổ phần (mệnh giá: 10.000 đồng/cổ phần)
Trang 18Ngành, nghề kinh doanh chính
- Kinh doanh vật liệu xây dựng, vật liệu trang trí nội thất, ngoại thất
- Kinh doanh vật tư, nguyên vật liệu, thiết bị, phụ tùng máy móc, hóa chất (ngoại trừ các hóa chất Nhà nước cấm), phụ gia phục vụ sản xuất và xây dựng
Phó TGĐ công ty
Phó TGĐ kinh
doanh nội địa
Phòn
g xuất nhập khẩu
Chi nhán
h miề
n Trun g
Phòn
g phát triển thị trườ ng
Phòn
g tổng hợp
Phòn
g tài chính
kế toán
Trun
g tâm thiết
kế sáng tạo khuô
Trun
g tâm xuất khẩu lao độn g
Trun
g tâm
tư vấn trang trí nội
Phòn
g kinh doan h