1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách tại cấp thị xã – nghiên cứu điển hình thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

97 607 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 902,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngân sách huyện, thị xã có vai trò cung cấp phương tiện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của chính quyền huyện, thị xã và các cấp chính quyền cơ sở, đồng thời là một công cụ để chính

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANG MỤC BẢNG, BIỂU

1 Lý do lựa chọn đề tài: 1

2 Mục tiêu nghiên cứu: 2

3 Phạm vi nghiên cứu: 2

4 Câu hỏi nghiên cứu: 2

5 Phương pháp nghiên cứu: 2

6 Bố cục chuyên đề: 2

CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CẤP THỊ XÃ 4 I Ngân sách Nhà nước và phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước 4

1 Ngân sách Nhà nước và vai trò của ngân sách Nhà nước 4

1.1 Khái niệm 4

1.2 Vai trò của ngân sách Nhà nước 6

2 Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước 8

2.1 Khái niệm phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước 8

2.2 Nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước 10

2.3 Nội dung phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước 11

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước 12

3 Hệ thống ngân sách Nhà nước hiện nay 13

II Ngân sách thị xã và quản lý ngân sách thị xã 15

1 Ngân sách thị xã 15

1.1 Khái quát về ngân sách thị xã 15

1.2 Vai trò của ngân sách cấp thị xã 16

2 Nguyên tắc quản lý ngân sách thị xã 17

3 Nội dung quản lý ngân sách thị xã 18

3.1 Quản lý lập dự toán ngân sách 18

3.2 Chấp hành dự toán ngân sách 19

3.3 Quyết toán ngân sách 21

Trang 2

4 Sự cần thiết phải tăng cường phân cấp quản lý ngân sách thị xã 22

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH THỊ XÃ TỪ SƠN – BẮC NINH (2005 – 2009) 24 I Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Từ sơn 24

1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và dân số 24

2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thị xã Từ Sơn 26

II Tình hình thực hiện thu - chi ngân sách Nhà nước tại thị xã Từ Sơn 30

1 Tình hình thực hiện thu Ngân sách Nhà nước 30

2 Tình hình thực hiện chi NSNN trên địa bàn thị xã Từ Sơn 36

2.1 Về chi đầu tư phát triển 37

2.2 Về chi thường xuyên 38

2.3 Tình hình chi ngân sách địa phương 46

III Thực trạng công tác quản lý ngân sách Nhà nước ở thị xã Từ sơn 49

1 Công tác phân cấp quản lý ngân sách: 49

1.1 Nội dung phân cấp ngân sách tại thị xã Từ Sơn 49

1.2 Quy trình lập và chấp hành ngân sách tại thị xã Từ Sơn 51

1.3 Về công tác cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý bộ máy Nhà nước .53

2 Công tác quản lý thu ngân sách tại Từ Sơn 55

3 Công tác quản lý chi ngân sách tại Từ Sơn 56

IV Đánh giá chung và nguyên nhân 59

1 Đánh giá chung 59

2 Nguyên nhân 59

2.1 Nguyên nhân của những kết quả đạt được 59

2.2 Nguyên nhân của những mặt còn tồn tại 60

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH THỊ XÃ TỪ SƠN - BẮC NINH 62

I Phương hướng chung về đổi mới quản lý NSNN ở Từ sơn 62

II Một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác phân cấp quản lý NSNN trên địa bàn thị xã Từ Sơn 62

1 Nâng cao công tác quản lý NSNN tại thị xã Từ Sơn 62

1.1 Nâng cao công tác quản lý thu NSNN 62

1.2 Nâng cao công tác quản lý chi NS tại thị xã 65

1.3 Nâng cao công tác tổ chức huy động các nguồn lực tài chính 66

Trang 3

2 Tiếp tục đổi mới phân cấp quản lý ngân sách thị xã Từ Sơn 67

2.1 Công tác lập dự toán NSNN 68

2.2 Chấp hành NSNN 68

2.3 Quyết toán NSNN 69

3 Tiếp tục nâng cao công tác quản lý ngân sách tại các xã, phường trên địa bàn thị xã Từ Sơn 69

4 Nâng cao bộ máy quản lý NSNN và năng lực trình độ của cán bộ quản lý NSNN tại thị xã Từ Sơn 71

4.1 Tiếp tục nâng cao bộ máy quản lý NSNN 71

4.2 Tiếp tục nâng cao năng lực trình độ của cán bộ quản lý NSNN 71

KẾT LUẬN 73

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Sơ đồ 1: Hệ thống các cấp ngân sách Nhà nước 19

Bảng 2.1: Cơ cấu GDP ở thị xã Từ Sơn 31

Bảng 2.2: Tổng hợp thu NSNN thị xã Từ Sơn giai đoạn 2005 - 2009: 34

Bảng 2.3: Tỷ lệ huy động GDP vào NSNN trên địa bàn thị xã 40

Biểu 1: Tình hình chi NSNN tại thị xã Từ Sơn giai đoạn 2005 - 2009 41

Bảng 2.4: Cơ cấu chi thường xuyên NSNN 43

Bảng 2.5: Tình hình chi ngân sách địa phương (Phân tích theo một số mục chủ yếu) .51

PHỤ LỤC 74

1, Bảng 1: Tổng hợp thu NSNN thị xã Từ Sơn giai đoạn 2005 - 2007 80

Nguồn: Báo cáo của phòng tài chính – kế hoạch thị xã Từ Sơn 82

2, Bảng 2: BÁO CÁO QUYÊT TOÁN THU NGÂN SÁCH NĂM 2008 82

3, Bảng 3: Tình hình chi ngân sách thị xã Từ sơn giai đoạn 2005-2007 84

4, Bảng 4: QUYẾT TOÁN CHI NGÂN SÁCH CẤP THỊ XÃ TỪ SƠN NĂM 2008 (HĐND thị xã giao) 93

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài:

Sau khi chứng kiến cuộc khủng hoảng kinh tế Thế Giới năm 2008, hiện nay tất

cả các nước trên thế giới đều đang cố gắng đưa đất nước mình thoát khỏi khủnghoảng và cùng với đó là sự phát triển đi lên của nền kinh tế Để khôi phục lại mộtnền kinh tế tăng trưởng cao, ổn định cần phải có các biện pháp và chính sách phùhợp với từng quốc gia, trong đó đặc biệt phải kể tới các gói kích cầu mà chính phủcác nước đưa ra Khi đó ngân sách nhà nước với ý nghĩa là nội lực tài chính mộtmặt giúp Nhà nước trong việc quản lý và điều hành nền kinh tế, mặt khác vừa làcông cụ hữu hiệu để Nhà nước đưa ra các chính sách kích cầu hợp lý, kịp thời Mộtnước có nguồn lực ngân sách mạnh mẽ sẽ giúp chính phủ tốt hơn trong thực hiệncác hoạt động liên quan tới chức năng, nhiệm vụ của mình Vì vậy ngân sách nhànước là một nhân tố vô cùng quan trọng cần được quản lý tốt nhằm tạo động lựctiền đề cho sự phát triển kinh tế, ổn định xã hội và giữ vững an ninh – quốc phòng.Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, đồngthời thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước nhằm hướng tới một nềncông nghiệp hiện đại Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, công tác quản lýngân sách cũng có nhiều thay đổi phù hợp hơn Việc phân cấp quản lý ngân sách đãngày càng hoàn thiện nhằm tạo điều kiện cho các chính quyền địa phương chủ độnghơn trong việc thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ công tác của mình

Ngân sách huyện, thị xã có vai trò cung cấp phương tiện vật chất cho sự tồn tại

và hoạt động của chính quyền huyện, thị xã và các cấp chính quyền cơ sở, đồng thời

là một công cụ để chính quyền cấp huyện, thị xã thực hiện quản lý toàn diện cáchoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn Tuy nhiên, ngân sách cấp huyện, thị xã vẫnchưa thể hiện được vai trò của mình đối với kinh tế địa phương Việc thực thi phâncấp ngân sách Nhà nước trên thực tế còn nhiều vướng mắc và không ít hạn chế.Mặc dù địa phương được trao quyền quản lý ngân sách nhiều hơn, song hầu hết địaphương vẫn phụ thuộc nhiều vào các quyết định từ Trung Ương Do vậy để chínhquyền thị xã thực thi được hiệu quả những nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà Nhà nướcgiao cho trong việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế Nhà nước, kinh tế địaphương trên các lĩnh vực đặc biệt là nông nghiệp nông thôn tại địa bàn thì cần cómột ngân sách đủ mạnh và phù hợp là một đòi hỏi thiết thực và cấp bách nhất Đó là

Trang 7

một mục tiêu phấn đấu đối với cấp thị xã Vì thế cần thiết phải làm tốt công tácphân cấp quản lý ngân sách cấp thị xã một cách hiệu quả để nó thực sự là một ngânsách mạnh tạo điều kiện chủ động cho chính quyền địa phương thực hiện chức năngnhiệm vụ của mình.

Trong thời gian thực tập tại phòng Kế hoạch – Tài chính thị xã Từ Sơn, tỉnh BắcNinh, với những kiến thức đã được học cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo:TS.Vũ Thị Tuyết Mai và các cán bộ phòng kế hoạch – tài chính thị xã đã hướng dẫn

em về việc tìm hiểu và phân tích tình hình phân cấp quản lý ngân sách huyện, thị

xã Do đó em đã lựa chọn đề tài: “Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách tại cấp thị xã – nghiên cứu điển hình thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Với đề tài mình đã chọn, em xin đưa ra mục tiêu nghiên cứu của mình Đó làkhảo sát đánh giá phân cấp quản lý ngân sách trên đại bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh BắcNinh, từ đó đề xuất các quan điểm, phương hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiệnphân cấp quản lý ngân sách cho thị xã trong giai đoạn tới

- Về mặt lý luận: trên cơ sở hệ thống các lý luận về ngân sách để làm rõ vấn

đề phân cấp quản lý ngân sách thị xã Với các khái niệm về ngân sách nhà nước vàvai trò của ngân sách nhà nước; phân cấp ngân sách nhà nước của nước ta hiện nay

- Về mặt thực tiễn: đề ra các giải pháp nhằm tăng cường phân cấp quản lýngân sách cho thị xã Từ Sơn phù hợp với nhiệm vụ quản lý ngân sách cấp thị xãcũng như nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội

3 Phạm vi nghiên cứu:

Về nội dung: phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

Về không gian: thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Về thời gian: thu thập số liệu từ năm 2005 – 2008

4 Câu hỏi nghiên cứu:

Thế nào là phân cấp quản lý ngân sách?

Tại sao phải phân cấp quản lý ngân sách?

Thực trạng quản lý ngân sách thị xã Từ Sơn giai đoạn 2006 – 2008 như thế nào?Giải pháp nào nhằm tăng cường phân cấp quản lý ngân sách trên địa bàn thị xã?

5 Phương pháp nghiên cứu:

Sử dụng phương pháp thu thập số liệu, khảo sát, phân tích, so sánh…

6 Bố cục chuyên đề:

Chuyên đề thực tập này được chia thành 3 phần:

Trang 8

Phần I: Một số lý luận về phân cấp quản lý ngân sách cấp thị xã.

Phần II: Thực trạng phân cấp quản lý ngân sách thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Phần III: Giải pháp tăng cường phân cấp quản lý ngân sách thị xã.

Qua việc nghiên cứu đề tài, em đã thu nhận được nhiều kiến thức mới về phâncấp quản lý ngân sách nói chung và ngân sách thị xã nói riêng cả về mặt lý luận vàthực tiễn Tuy nhiên do kinh nghiệm thực tế còn hạn chế và thời gian hạn hẹp chonên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em kính mong cô góp

ý, bổ sung cho em để chuyên đề của em được hoàn thiện và phong phú hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 9

CHƯƠNG I: SỰ CẦN THIẾT TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC PHÂN

CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CẤP THỊ XÃ

I Ngân sách Nhà nước và phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước

1 Ngân sách Nhà nước và vai trò của ngân sách Nhà nước

1.1 Khái niệm

Sự xuất hiện của Nhà nước và sự tồn tại của nền kinh tế hàng hóa đã là tiền đềcho sự ra đời của NSNN Cho đến nay, thuật ngữ “ngân sách Nhà nước” được sửdụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia Song quan niệm vềNSNN lại chưa thống nhất Trên thực tế người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa vềNSNN không giống nhau tùy theo quan điểm của mỗi người định nghĩa thuộc cáctrường phái kinh tế khác nhau hoặc tùy theo mục đích nghiên cứu khác nhau

Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển thì NSNN là một vănkiện tài chính trong đó mô tả các khoản thu và chi của Chính phủ được thiết lậphàng năm

Theo các nhà kinh tế học hiện đại thì đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau vềNSNN Cụ thể như:

Các nhà kinh tế Pháp đưa ra quan điểm “NSNN là văn kiện được Nghị viện hoặchội đồng thảo luận và phê chuẩn mà trong đó các nghiệp vụ tài chính của một tổchức công hoặc khu vực tư được dự kiến và cho phép”

Các nhà kinh tế Trung Quốc lại cho rằng: “NSNN là kế hoạch thu – chi tài chínhhàng năm của nhà nước được xét duyệt theo trình tự pháp định” Còn ở Nga

“NSNN là bảng liệt kê các khoản thu chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất địnhcủa quốc gia”

Đối với Việt Nam, theo giáo trình lý thuyết tài chính đã định nghĩa“NSNN làphạm trù kinh tế và phạm trù lịch sử NSNN được đặc trưng bằng sự vận động củacác nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung củanhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân phốicác nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu”.Hay “NSNN là dự toán hàng năm về toàn bộ các nguồn tài chính được huy độngcho nhà nước và sử dụng các nguồn tài chính đó nhằm đảm bảo thực hiện chứcnăng của nhà nước do hiến pháp quy định” – giáo trình quản lý tài chính công

Trang 10

Theo giáo trình quản lý tài chính nhà nước lại viết: NSNN là một phạm trù kinh

tế lịch sử gắn liền với sự ra đời của Nhà nước, gắn liền với kinh tế hàng hóa – tiền

tệ Nói một cách khác sự ra đời của Nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa tiền tệ

là những điều kiện cần và đủ cho sự phát sinh và tồn tại của NSNN NSNN là chỉcác khoản thu và các khoản chi của Nhà nước được thể chế hóa bằng pháp luật thựchiền quyền luật pháp về NSNN còn quyền hành pháp giao cho chính phủ thực hiện

Có thể nói đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về NSNN do cách tiếp cận vànhìn nhận vai trò cũng như tác dụng của NSNN trên nhiều khía cạnh khác nhau.Song chung quy lại chúng ta thống nhất sử dụng định nghĩa NSNN theo luật NSNNhiện hành như sau:

Theo điều 1 luật NSNN đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002định nghĩa: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quanNhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảothực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước” NSNN bao gồm ngân sáchtrung ương và ngân sách địa phương Ngân sách trung ương là ngân sách của các

Bộ, cơ quan ngang Bộ thuộc chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương Ngânsách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồngnhân dân và Ủy ban nhân dân

Như vậy có thể nói NSNN là một bảng dự toán bằng tiền các hoạt động thu vàchi của Nhà nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm) Trong đó có 2khoản mục thu, chi được Quốc hội phê chuẩn

Thứ nhất: đứng trên phương diện pháp lý, thu NSNN bao gồm những khoản tiềnNhà nước huy động vào ngân sách để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Vềmặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xãhội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thànhnên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu củamình Thu NSNN chỉ bao gồm những khoản tiền Nhà nước huy động vào ngân sách

mà không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp TheoLuật NSNN hiện hành, nội dung các khoản thu NSNN bao gồm: - Thuế, phí, lệ phí

do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp luật; - Các khoản thu từ hoạtđộng kinh tế của Nhà nước; - Các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; - Cáckhoản viện trợ; - Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật Cần lưu ý làkhông tính vào thu NSNN các khoản thu mang tính chất hoàn trả như vay nợ vàviện trợ có hoàn lại

Trang 11

Thứ hai chi NSNN là quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách nhà nước saocho hợp lý để thực hiện các nhiệm vụ của chính phủ nhằm khuyến khích phát triểnkinh tế xã hội và đạt các mục tiêu quản lý của Nhà nước Thực chất của nó là việccung cấp các phương tiện tài chính cho các nhiệm vụ của chính phủ Theo chứcnăng nhiệm vụ, chi ngân sách nhà nước gồm các khoản chi cho các hoạt động kinh

tế - xã hội, an ninh, quốc phòng như chi đầu tư phát triển kinh tế và kết cấu hạ tầng,chi bảo đảm xã hội

Như vậy, hoạt động của NSNN chính là việc tạo nguồn thu và sử dụng nguồnthu đó cho các hoạt động chi từ quỹ tiền tệ quốc gia, làm cho nguồn tài chính vậnđộng giữa một là chủ thể Nhà nước và một bên là các chủ thể kinh tế - xã hội kháctrong quá trình phân phối tổng sản phẩm quốc dân dưới hình thức giá trị Trong quátrình phân phối này làm xuất hiện các mối quan hệ tài chính bao gồm:

 Quan hệ tài chính giữa Nhà nước và các chủ thể doanh nghiệp hoạt động sảnxuất kinh doanh

 Quan hệ kinh tế NSNN với các hộ gia đình và dân cư

 Quan hệ tài chính giữa NSNN và các đơn vị quản lý Nhà nước nằm tronglĩnh vực sự nghiệp văn hóa xã hội, hành chính và an ninh quốc phòng

 Quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính

Với các hoạt động và mối quan hệ đó chức năng của NSNN là công cụ để thựchiện huy động và phân bổ nguồn lực tài chính trong xã hội Đằng sau hoạt động thuchi ngân sách bằng tiền là sự thể hiện quá trình phân bổ các yếu tố đầu vào cho quátrình sản xuất kinh doanh

Bên cạnh đó, NSNN là bộ phận tài chính của Nhà nước nên nó có chức năngphân phối và chức năng giám đốc Trong nền kinh tế thị trường việc phân bổ nguồnlực được thực hiện chủ yếu trên hai kênh: kênh của lực lượng thị trường và kênhcủa Nhà nước thông qua hoạt động thu chi của tài chính Nhà nước nói chung vàNSNN nói riêng, từ đó NSNN còn thể hiện chức năng điều chỉnh kinh tế - xã hộithông qua các công cụ của nó

1.2 Vai trò của ngân sách Nhà nước

NSNN là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sảnxuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội Do đó, NSNN

có vai trò vô cùng quan trọng nhất là trong cơ chế thị trường đầy biến động ngàynay, nó được thể hiện cụ thể trên các khía cạnh cơ bản sau:

Trang 12

Vai trò của NSNN trong việc điều tiết quản lý nền kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế

Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đivào quỹ đạo mà chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạođiều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững Đồng thời tạo hành lang,môi trường thuận lợi nhằm kích thích, tạo động lực cho phát triển hay ở việc gâysức ép cản trở để hạn chế bớt những ảnh hưởng có hại Nhà nước thực hiện chínhsách thuế để vừa kích thích lại vừa gây sức ép Hoặc tạo điều kiện thuận lợi trên cácmặt tài chính để khuyến khích các thành phần kinh tế có doanh lợi trong đầu tư pháttriển Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế,ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặchạn chế sản xuất kinh doanh

Mặt khác, thông qua hoạt động chi Ngân sách, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phíđầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành thenchốt trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triểncác doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (có thể thấy rõ nhất tầm quan trọngcủa điện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt động kinh doanh của các Doanhnghiệp) Các khoản chi từ NSNN này nhằm phân bổ có hiệu quả các nguồn lực vàocác lĩnh vực then chốt, các lĩnh vực mà khu vực tư nhân chưa có điều kiện hoặckhông dám đầu tư vào…

Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các DNNN là một trong những biện phápcăn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranhkhông hoàn hảo Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sáchcũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảmbảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mới hợp lýhơn

Vai trò của NSNN trong việc giải quyết các vấn đề xã hội

Nhà nước thực hiện phân phối tổng sản phẩm xã hội, ổn định và phát triển kinh

tế, nâng cao đời sống nhân dân, tạo điều kiện cho ổn định chính trị đều phải thôngqua NSNN, từ đó đảm bảo các nhu cầu và điều kiện nhằm không ngừng hoàn thiện

bộ máy Nhà nước, bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo vệ và phát triển những thànhtựu đã đạt được trong sự nghiệp cách mạng

Trang 13

Các khoản chi từ NSNN nhằm tiến tới các mục đích xã hội to lớn như trợ cấpcho người nghèo, trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay cóhoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giácho các mặt hàng thiết yếu, chi cho các chương trình xóa đói giảm nghèo, chi chocác mục tiêu quốc gia như kế hoạch hóa dân số, nước sạch, hỗ trợ đồng bào bãolụt… nhằm tiến tới một xã hội văn minh và bình đẳng

Vai trò của NSNN trong việc góp phần ổn định thị trường, chống lạm phát, bình ổn giá cả thị trường

Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng những mặt hàng mang tínhchất chiến lược Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế suất thuế xuấtnhập khẩu, dự trữ quốc gia Thị trường vốn sức lao động: thông qua phát hành tráiphiếu và chi tiêu của chính phủ Kiềm chế lạm phát: cùng với ngân hàng trung ươngvới chính sách tiền tệ thích hợp NSNN góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế

và chi tiêu của chính phủ

2 Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước

2.1 Khái niệm phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước

Phân cấp quản lý NSNN là xác định phạm vi trách nhiệm và quyền hạn củaChính quyền Nhà nước các cấp trong việc điều hành và quản lý NSNN, nhằm tậptrung đầy đủ, kịp thời, đúng chính sách các nguồn thu của Nhà nước và phân phối,

sử dụng công bằng, hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả cao, phục vụ các mục tiêu, nhiệm vụ

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chế độ pháp lý về phân cấp quản

lý NSNN là tổng hợp các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyềnban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình phân địnhquyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vựcNSNN và các quan hệ xã hội phát sinh trong qúa trình thực hiện việc phân giaonguồn thu và chi của ngân sách các cấp Do đó chế độ phân cấp quản lý ngân sáchcho địa phương phải thể hiện được các yêu cầu sau:

Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm quyền quyết định của Quốchội và sự điều hành thống nhất của Hội đồng Bộ trưởng đối với toàn bộ ngân sáchNhà nước; đề cao trách nhiệm, quyền chủ động, sáng tạo và khuyến khích thoả đángđối với chính quyền địa phương trong việc quản lý chặt chẽ, tăng thu và tiết kiệmchi cho ngân sách Nhà nước

Trang 14

Bảo đảm tính thống nhất của nền tài chính quốc gia Uỷ ban Nhân dân các cấp

có trách nhiệm hướng dẫn và kiểm tra hoạt động sản xuất, kinh doanh và thực hiệnnghĩa vụ thu nộp ngân sách Nhà nước của các đơn vị kinh tế quốc doanh, kinh tế tậpthể, cá thể và tư nhân trên địa bàn; đồng thời, thực hiện nhiệm vụ chi ngân sách theo

kế hoạch, chính sách, chế độ tài chính thống nhất do Trung ương quy định với hiệuquả cao Mọi khoản thu, chi của Nhà nước đều phải được phản ánh đầy đủ, kịp thời,trung thực vào NSNN

Chính quyền Nhà nước các cấp phải coi việc quản lý chặt chẽ NSNN là nhiệm

vụ quan trọng hàng đầu để chống lạm phát, ổn định và phát triển kinh tế - xã hộitrong giai đoạn hiện nay Các ngành, các cấp cần phát huy tinh thần chủ động, sángtạo và trách nhiệm cao trong việc khai thác mọi tiềm năng của ngành và của địaphương để phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo kế hoạch của Nhànước, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, góp phần vào việc tăng thu, triệt đểtiết kiệm chi, sớm tiến tới thăng bằng thu - chi NSNN

Như vậy, quản lý Nhà nước về ngân sách là một trong những nội dung quantrọng của công tác quản lý Nhà nước Đó là sự tác động, điều chỉnh của Nhà nướcvào các quan hệ phát sinh trong việc quản lý và sử dụng NSNN thông qua các công

cụ pháp luật, chính sách nhằm quản lý và sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm nguồn lựctài chính quốc gia Trong thời điểm hiện nay, Nhà nước ta đã và đang tiến hành cảicách, đổi mới tổ chức và hoạt động bộ máy Nhà nước, chúng ta đã thu được nhiềuthành tựu rất có ý nghĩa nhưng hiện tượng vi phạm pháp luật, nạn tham nhũng và sửdụng lãng phí nguồn NSNN còn khá phổ biến, rất nhiều bất cập tồn tại trong côngtác quản lý và sử dụng NSNN Do đó, phân cấp quản lý Nhà nước về ngân sáchtrong giai đoạn hiện nay là tất yếu để khắc phục những biểu hiện tiêu cực trên

 Phân cấp quản lý NSNN nhằm đảm bảo cho việc tương thích giữa thẩmquyền và trách nhiệm, giữa tổ chức bộ máy với việc cung cấp các nguồn lực và điềukiện hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước, như vậy sẽ góp phần đảm bảohiệu lực và từng bước nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước

 Phân cấp quản lý NSNN làm tăng quyền chủ động, tăng sự linh hoạt, khắcphục sự thụ động, trông chờ và cơ chế xin cho trong hoạt động quản lý Nhà nướccủa cấp chính quyền, của cơ quan Nhà nước cấp dưới đồng thời tạo điều kiện để các

cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung ương tập trung vào thực hiện chức năng chỉ đạo,

Trang 15

điều hành, xây dựng và hoạch định các kế hoạch, chính sách, pháp luật cũng nhưvạch ra chiến lược quản lý vĩ mô nền kinh tế - xã hội.

 Phân cấp quản lý NSNN tạo điều kiện tăng cường kiểm tra, thanh tra côngtác quản lý Nhà nước về ngân sách đối với hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước cáccấp từ đó góp phần làm lành mạnh, minh bạch nền tài chính Quốc gia

 Phân cấp quản lý NSNN sẽ giúp cho việc xác định một cách rõ ràng thẩmquyền và trách nhiệm giữa các cấp quản lý Nhà nước về ngân sách, đảm bảo giảiquyết kịp thời các nhiệm vụ quản lý Nhà nước về ngân sách

 Phân cấp quản lý NSNN góp phần quan trọng tạo môi trường đầu tư sản xuất– kinh doanh, dịch vụ phát triển nền kinh tế trong điều kiện Việt Nam đã trở thànhthành viên chính thức của Tổ chức thương mại WTO và ngày càng hội nhập sâurộng vào nền kinh tế quốc tế

Với những tác dụng to lớn trên việc phân cấp quản lý NSNN thực sự là rất cầnthiết, đó là một phương pháp tốt để Nhà nước ta quản lý và sử dụng có hiệu quả vàtiết kiệm nguồn tài chính quốc gia Đặc biệt đây chính là yêu cầu khách quan, tấtyếu trong lộ trình xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, từng bướchoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

2.2 Nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN

Phân cấp quản lý NSNN là một công việc cấp thiết nhằm tăng tính chủ động,sáng tạo cho các cấp địa phương trong công tác quản lý và phát triển kinh tế - xãhội Do đó việc phân cấp NSNN cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

 Bảo đảm đúng quy định của Luật NSNN Do việc phân cấp quản lý NSNN

đã được đưa vào Luật NSNN năm 1996 (được sửa đổi năm 2002) vì vậy để thựchiện phân cấp NSNN cho trung ương và địa phương, cũng như đối với các cấpchính quyền địa phương đều phải tuân thủ theo các quy định trong luật và các vănbản hướng dẫn thi hành của cấp trên

 Phân cấp tối đa các nguồn thu nhằm tăng quyền chủ động trong quá trìnhquản lý và điều hành ngân sách phục vụ cho nhiệm vụ kinh tế - xã hội của các cấpchính quyền, nhất là cấp cơ sở, từ đó giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách cấp trên(số trợ cấp từ ngân sách cấp trên) Kế thừa và phát huy những ưu điểm, khắc phụcnhững tồn tại của việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi, tỷ lệ % phân chia cácnguồn thu giữa các cấp ngân sách trong thời gian qua

Trang 16

 Đảm bảo nguyên tắc phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốcphòng, an ninh và nhất là phù hợp với đặc điểm kinh tế, địa lý, dân cư từng vùng,năng lực của đội ngũ các bộ để đạt được hiệu quả tốt nhất.

 Phân cấp nhiệm vụ chi bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ pháttriển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội của các cấpchính quyền

 Không phân chia các nguồn thu có quy mô nhỏ cho các cấp ngân sách Vớimỗi khoản thu thì phải được phân cấp theo tỷ lệ rõ ràng nhưng tùy theo điều kiệnhoàn cảnh kinh tế xã hội của địa phương để áp dụng tỷ lệ phân chia tránh trườnghợp phân nhỏ các nguồn thu mà trái lại nên khuyến khích giao các khoản thu 100%cho cấp dưới

2.3 Nội dung phân cấp quản lý NSNN

Hệ thống Nhà nước bao gồm nhiều cấp chính quyền trong đó NSNN được coi làphương tiện vật chất chủ yếu để mỗi cấp chính quyền thực hiện các nhiệm vụ, chứcnăng theo Hiến định và theo Luật định Vì vậy phân cấp quản lý NSNN chính là sựgiải quyết các mối quan hệ về ngân sách giữa chính phủ trung ương và chính quyềnđịa phương thông qua các mặt chủ yếu sau

 Trước hết phải kể đến thẩm quyền NSNN Phân định quyền hạn, trách nhiệmcủa Chính phủ và chính quyền địa phương trong các vấn đề chủ yếu thuộc vềNSNN bao gồm: quyết định dự toán ngân sách, phân bổ dự toán ngân sách, phêchuẩn quyết toán ngân sách, điều chỉnh dự toán ngân sách, ban hành chế độ, tiêuchuẩn và định mức về NSNN

 Tiếp theo là việc phân định nội dung cụ thể về từng nguồn thu, nhiệm vụ chigiữa các NSNN Cụ thể thực hiện phân chia giữa ngân sách trung ương và ngânsách địa phương về nguồn thu và nhiệm vụ chi NSNN Đó là xác định ngân sáchtrung ương được thu những khoản gì và phải chi những khoản gì; ngân sách tỉnh,ngân sách xã, ngân sách huyện được thu những khoản nào và phải chi những khoảngì

 Cuối cùng là việc quy định mối quan hệ giữa các cấp NSNN Đó là quy địnhcác nguyên tắc về chuyển giao ngân sách của cấp trên xuống cấp dưới và ngược lại.Đây là một vấn đề cốt lõi của quá trình phân cấp NSNN vì thông qua số lượng, quy

mô cũng như cơ cấu chuyển giao giữa các cấp, người ta có thể đánh giá mức độ độclập và đi liền với nó là quyền tự chủ của ngân sách mỗi cấp trong hệ thống NSNN

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới phân cấp quản lý NSNN

Trang 17

Phân cấp quản lý NSNN chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố, trong đó phải kểđến các nhân tố cơ bản sau:

 Hình thức cấu trúc Nhà nước

Hình thức cấu trúc Nhà nước chính là sự phân chia cấu tạo Nhà nước thành cácđơn vị hành chính lãnh thổ từ đó xác lập những mối quan hệ qua lại giữa các cơquan Nhà nước với nhau và giữa các cơ quan Nhà nước trung ương với cơ quanchính quyền địa phương Với mỗi hình tức cấu trúc Nhà nước khác nhau thì tươngứng với nó bộ máy Nhà nước cũng được phân chia thành từng cấp và được giaonhiệm vụ, quyền hạn cụ thể trong quản lý kinh tế - xã hội khác nhau

Hiện nay trên Thế giới có hai hình thức cấu trúc Nhà nước chủ yếu đó là: Nhànước liên bang và Nhà nước đơn nhất (phi liên bang) Với Nhà nước liên bang tiêubiểu như Đức, Mỹ, Canada… Đây là kiểu Nhà nước có từ hai hay nhiều thành viênhợp lại, cơ quan quyền lực và cơ quan quản lý được tổ chức thành hai hệ thốngtrong đó một hệ thống chung cho toàn bang và một hệ thống riêng của từng thànhviên Đối với những nước này thì hệ thống NSNN được tổ chức thành ba cấp baogồm ngân sách liên bang, ngân sách các bang và ngân sách của các cấp địa phươngtrực thuộc bang Còn với kiểu Nhà nước đơn nhất như ở Pháp, Anh, Nhật… Theohình thức cấu trúc này thì Nhà nước có chủ quyền chung, cơ quan quyền lực và cơquan quản lý được thống nhất từ trung ương đến địa phương, tập trung quyền lựccao ở cấp trung ương Tương ứng với kiểu Nhà nước này thì hệ thống NSNN lạibao gồm hai cấp là ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Trong đó mức

độ và giới hạn phần lớn tập trung cao ở ngân sách trung ương

Như vậy có thể thấy rõ rằng đối với mỗi hình thức cấu trúc Nhà nước khác nhauthì cách phân cấp và quản lý hành chính Nhà nước cũng khác nhau và kéo theo làkhác nhau trong phân cấp quản lý NSNN

 Đặc điểm tự nhiên và trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng vùng lãnhthổ

Đây là những nhân tố ảnh hưởng rất nhiều tới việc phân cấp quản lý hành chínhNhà nước Với vùng hải đảo, vùng biên giới, vùng miền núi hay đồng bằng thì cáchquản lý hành chính đều khác nhau sao cho phù hợp với điều kiện tự nhiên, trình độdân trí của từng vùng Bên cạnh sự khác biệt về điều kiện tự nhiên thì khác biệt vềtrình độ kinh tế - xã hội cũng ảnh hưởng lớn đến quản lý Nhà nước như sự khác biệtgiữa thành thị và nông thôn Các yếu tố này hình thành nên sự phân cấp mang tính

Trang 18

đặc thù vì vậy tất yếu sẽ có sự phân cấp quản lý NSNN đặc biệt là trong phân cấpquản lý NSNN về phận định nguồn thu, nhiệm vụ chi.

 Nhiệm vụ cung cấp hàng hóa công cộng

Cung cấp hàng hóa công cộng là một chức năng và nhiệm vụ vô cùng quantrọng của Nhà nước mà không thể ai thay thế được Để việc cung cấp hàng hóa côngcộng, dịch vụ công cộng có hiệu quả nhất và đáp ứng được nhu cầu của nhân dân thìcần phải được giao cho các cấp chính quyền thực hiện Những hàng hóa, dịch vụnày cần có nguồn vốn lớn, khả năng quản lý cao và mang tính chất quan trọng như

an ninh, quốc phòng… thường do chính quyền Nhà nước trung ương đảm bảo, cònnhững hàng hóa mang tính phổ biến hơn thường giao cho chính quyền địa phươngthực hiện, đảm bảo tính phù hợp và hiệu quả theo tình hình mỗi địa phương Mặtkhác chính việc phân cấp trong cung ứng hành hóa và dịch vụ công cộng chính làtiền đề để phân định rõ nhiệm vụ thu và nhiệm vụ chi cho từng cấp, từng địaphương thực hiện Chính điều đó ảnh hưởng đến việc phân cấp quản lý NSNN

 Trình độ tổ chức và mức độ phân cấp quản lý kinh tế - xã hội

Việc phân cấp quản lý NSNN phải đi liền với phân cấp quản lý kinh tế - xã hộikhác Ở các cấp chính quyền khác nhau về trình độ tổ chức quản lý thì sự phâncông, phân cấp quản lý NSNN cũng phải khác nhau nhằm đảm bảo sử dụng hiệuquả nhất nguồn NSNN

3 Hệ thống ngân sách Nhà nước hiện nay

Hệ thống các cấp NSNN là tổng thể các cấp ngân sách gắn bó hữu cơ với nhau

và có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụthu – chi của từng cấp ngân sách

Ở Việt Nam hiện nay, tổ chức hệ thống NSNN luôn gắn liền với tổ chức bộ máyNhà nước và vai trò của bộ máy đó trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nướctrên cơ sở Hiến pháp pháp luật Phù hợp với mô hình chính quyền Nhà nước ta thì

hệ thống NSNN theo luật định cũng bao gồm ngân sách trung ương và ngân sáchđịa phương

Trong đó ngân sách địa phương bao gồm:

- Ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (được gọi chung làngân sách tỉnh)

- Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung làngân sách huyện)

- Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách xã)

Trang 19

Sơ đồ 1: Hệ thống các cấp ngân sách Nhà nước

Trong hệ thống NSNN của nước ta hiện nay thì ngân sách trung ương chi phốiphần lớn các khoản thu và chi quan trọng Còn ngân sách địa phương được giaonhiệm vụ đảm nhận các khoản thu và chi có tính chất địa phương Mỗi cấp chínhquyền có một phân cấp ngân sách riến nhằm cung cấp phương tiện vật chất chochính quyền đó hoạt động và thực hiện các chức năng của mình trên từng vùng lãnhthổ Quan hệ giữa các cấp ngân sách trong hệ thống NSNN luôn tuân thủ cácnguyên tắc:

 NSNN tại Việt Nam hiện nay đã thực hiện phân định nguồn thu và nhiệm vụchi cụ thể cho ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Thực hiện phân chiatheo tỷ lệ phần trăm cho các khoản thu giữa các cấp ngân sách Tỷ lệ phần trămphân chia các khoản thu và số bổ sung từ cấp trên cho cấp đưới ổn định trong vòng

3 – 5 năm gọi chung là thời kỳ ổn định ngân sách Chính phủ trình Quốc hội thời kỳ

ổn định ngân sách giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương còn UBNDcấp tỉnh trình HĐND cùng cấp quyết định thời kỳ ổn định ngân sách giữa các cấpngân sách địa phương Trong thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương được phép

sử dụng nguồn tăng thu cho ngân sách địa phương – phần mà ngân sách đượchưởng, để chi cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội cần thiết trên địa bàn quản

lý của mình Sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách phải tăng khả năng tự cân đối đồngthời phát triển ngân sách địa phương và thực hiện giảm dần số lượng bổ sung củacấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm điều tiết cho cấp trên

Trang 20

 Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó đảm bảo Trongtrường hợp cần ban hành chính sách hoặc chế độ mới làm tăng các khoản chi ngânsách sau khi dự toán thì phải có giải pháp đảm bảo nguồn tài chính phù hợp với khảnăng cân đối của ngân sách từng cấp Nếu cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên ủyquyền cho cơ quan quản lý cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình thì phảichuyển kinh phí cho cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi đó.

 Thực hiện bổ sung ngân sách cấp trên cho cấp dưới để đảm bảo công bằng,phát triển cân đối giữa các vùng miền và các địa phương Số bổ sung này là khoảnthu ngân sách cấp dưới

 UBND các cấp được sử dụng nguồn ngân sách của mình để hỗ trợ cho cácđơn vị do cấp trên quản lý đóng trên địa bàn trong các trường hợp: khi xảy ra thiêntai và các trường hợp cấp thiết khác mà địa phương cần khẩn trương huy độngnguồn lực để đảm bảo ổn định tình hình kinh tế - xã hội

Đặc biệt chú ý là ngoài việc bổ sung nguồn thu và thực hiện quyền nhiệm vụ chithì không được dùng ngân sách cấp này để chi cho ngân sách cấp khác

II Ngân sách thị xã và quản lý ngân sách thị xã

1 Ngân sách thị xã

1.1 Khái quát về ngân sách thị xã

Ngày 15/05/1978, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị quyết số 108/CP xác địnhquyền hạn và trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp quận, huyện, thị xã vềquản lý tài chính ngân sách nhằm xây dựng quận, huyện, thị xã thành một cấp có cơcấu kinh tế hoàn chỉnh

Đến ngày 19/11/1983, Hội đồng Bộ trưởng lại ra Nghị quyết số 138/HĐBT vềcải tiến phân cấp ngân sách địa phương nói rõ hơn về quyền hạn và trách nhiệm củangân sách quận, huyện, thị xã

Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, đất nước ta tiến hành chuyển đổi mô hình kinh tếtập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, cùng với công cuộc đổi mới và tiến hành thực hiện công nghiệp hóa – hiệnđại hóa đất nước, ngân sách cấp thị xã xũng được xác định lại vai trò và nhiệm vụcủa mình Ngày 27/11/1989 Hội đồng Bộ trưởng đã ra Nghị quyết số 186/HĐBT vềphân cấp quản lý ngân sách địa phương trong đó có ngân sách cấp thị xã Tiếp đếntại kỳ họp thứ tám Quốc hội khóa IX đã khẳng định: Ngân sách quận – huyện – thị

xã là một cấp ngân sách thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN trênphạm vi địa bàn quận, huyện, thị xã

Trang 21

Như vậy, ngân sách cấp thị xã mang bản chất của NSNN, đó chính là các mốiquan hệ giữa các cấp ngân sách thị xã với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn trongquá trình phân bổ, sử dụng các nguồn lực cho thị xã và mối quan hệ đó được điềuchỉnh cho phù hợp với bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

1.2 Vai trò của ngân sách cấp thị xã

Ngân sách cấp thị xã cũng giống như ngân sách các cấp khác có vai trò quantrọng đảm bảo chức năng Nhà nước, an ninh, quốc phòng, ổn định kinh tế thúc đẩyphát triển đồng thời tạo ra công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Để hiểu rõ hơnvai trò của nó ta có thể xét trên 3 khía cạnh:

 Ngân sách thị xã bảo đảm thực hiện vai trò Nhà nước, bảo vệ quốc phòng và

an ninh trật tự cấp thị xã

Là một cấp chính quyền nên thị xã cũng phải tổ chức ra cho mình một hệ thốngcác cơ quan, đoàn thể hành chính nhằm thực hiện các chức năng và quyền hạn Nhànước giao phó Vậy để cho các cơ quan đoàn thể đó hoạt động được cần phải có mộtquỹ tài chính tập trung cho nó – đó chính là ngân sách cấp thị xã Ngân sách này tạođiều kiện cho thị xã chủ động trong việc thực hiện chức năng Nhà nước ở địaphương Tùy theo phạm vị địa lý và tình hình kinh tế - xã hội trên từng thị xã mànhu cầu về ngân sách là khác nhau

Trong các chức năng của Nhà nước, chức năng đảm bảo quốc phòng an ninh trật

tự, an toàn xã hội, đóng vai trò đặc biệt quan trọng do đó cũng rất cần có nguồn vốnlớn Để đảm bảo cho chức năng đặc biệt này, ngân sách thị xã cần phải có kế hoạch

cụ thể, chi tiết và có các khoản dự phòng hợp lý

 Ngân sách thị xã là phương tiện bù đắp khuyết tật của thị trường, đảm bảocông bằng xã hội

Đây là vai trò không thể thiếu đối với ngân sách mỗi quốc gia Khi hội nhậpcàng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, tác động của nền kinh tế thị trường sẽ gây ranhiều mặt trái khó có thể lường trước được như: thất nghiệp, hố ngăn cách giàunghèo tăng, lừa đảo, chiếm đoạt, không quan tâm tới sức khỏe cho người già và trẻnhỏ, môi trường bị ô nhiễm nặng nề… Những điều đó tạo ra rất nhiều thách thức,khó khăn cho nước ta Do đó không chỉ cấp trung ương mà cả cấp thị xã luôn phảitheo dõi các báo cáo tổng hợp từ cấp phường để có biên pháp kịp thời giải quyết Bên cạnh việc quan tâm đến đời sống vật chất cho người lao động, thị xã phảithường xuyên quan tâm đến đời sống văn hóa, tinh thần của quần chúng, cải tạo cácsân chơi, phương tiện giải trí lành mạnh, tiến bộ Cơ sở hạ tầng được nâng cấp, các

Trang 22

dịch vụ công cộng như giáo dục, y tế phải giảm được chi phi cho người dân làm sao

để ai cũng được học hành và chăm sóc sức khỏe tốt Muốn vậy luôn cần phải cóngân sách thị xã và nguồn ngân sách phải dồi dào, đầy đủ

 Ngân sách thị xã là công cụ thúc đẩy, phát triển và ổn định kinh tế

Nhằm thực hiện tốt chiến lược kinh tế - tài chính do Nhà nước đề ra, cấp thị xãcần phải sử dụng các công cụ sẵn có của mình để điều tiết, định hướng theo đườnglối, chính sách chung mà cấp trung ương, cấp tỉnh đề ra Sẽ không thể có một cơ cấukinh tế ổn định, phát triển nếu không có ngân sách làm công cụ Vì vậy, các thị xãcũng như các quận, huyện phải căn cứ vào thế mạnh của địa phương mình để địnhhướng, hình thành cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động vàkích thích phát triển Đồng thời các thị xã phải cung cấp kinh phí, vốn đầu tư hỗ trỡ

về cơ sở hạ tầng, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp trên địa bàn hoạtđộng Do đó, ngân sách thị xã là rất cần thiết

2 Nguyên tắc quản lý ngân sách thị xã

Ngân sách thị xã chính là một cấp trong ngân sách địa phương và mang bản chấtcủa NSNN do đó quản lý ngân sách thị xã cũng cần phải tuân thủ theo các nguyêntắc quản lý NSNN Cụ thể đó là

Nguyên tắc rõ ràng, trung thực, chính xác

Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của quản lý NSNN Nguyêntắc này là cơ sở, tạo tiền đề cho mỗi người dân có thể nhìn nhận được chương trìnhhoạt động của chính quyền địa phương và chương trình này phải được phản ánh đầy

đủ qua việc thực hiện chính sách tài chính địa phương Nội dung cơ bản của nó baohàm việc tất cả mọi khoản thu, chi phải được ghi đầy đủ vào kế hoạch NSNN, mọikhoản chi phải được vào sổ và quyết toán rành mạch Chỉ có kế hoạch ngân sáchđầy đủ, trọn vẹn mới phản ánh đúng mục đích chính sách và đảm bảo tính minhbạch của các tài khoản thu, chi Nguyên tắc này đòi hỏi NSNN phải được xây dựngrành mạch, có hệ thống Các dự toán thu, chi phải được tính toán một cách chínhxác và phải đưa vào kế hoạch ngân sách, không được che đậy và bào chữa đối vớitất cả các khoản thu chi NSNN, không được phép lập quỹ đen hay ngân sách phụ

Nguyên tắc công khai minh bạch

Về mặt chính sách, thu chi NSNN là một chương trình hoạt động của Chính phủđược cụ thể hóa bằng số liệu NSNN luôn phải được quản lý công khai, được minhbạch để mọi người dân có thể biết nếu họ quan tâm Do đó tại mỗi thị xã, mỗi vùngđều quán triệt tinh thần “Dân biết, dân làm, dân kiểm tra” Nguyên tắc công khai

Trang 23

này được thể hiện trong suốt chu trình NSNN và phải được áp dụng cho tất cả các

cơ quan tham gia vào chu trình NSNN

Nguyên tắc thống nhất trong quản lý ngân sách

Nguyên tắc này bắt nguồn từ yêu cầu tăng cường sức mạnh vật chất của Nhànước Biểu hiện cụ thể thông qua hoạt động thu – chi của NSNN Mọi khoản thu –chi của NSNN phải tuân thủ theo những quy định của Luật NSNN và phải được dựtoán hàng năm và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Tất cả các khâu trongchu trình NSNN khi triển khai thực hiện phải đặt dưới sự kiểm tra giám sát của cơquan quyền lực Nhà nước

Hoạt động NSNN đòi hỏi phải có sự thống nhất với hoạt động kinh tế - xã hộicủa thị xã Hoạt động kinh tế - xã hội của thị xã là nền tảng của hoạt động NSNNcấp thị xã Bên cạnh đó hoạt động NSNN lại phục vụ cho hoạt động kinh tế - xã hội,đồng thời là hoạt động mang tính chất kiểm chứng đối với hoạt động kinh tế - xãhội

Nguyên tắc cân đối

Cân đối ngân sách bao giờ cũng là một đòi hỏi quan trọng Nguyên tắc này chỉ

ra rằng các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủ các nguồn thu bù đắp.UBND và HĐND luôn cố gắng để đảm bảo cân đối nguồn NSNN bằng cách đưa racác quyết định liên quan tới các khoản chi để thảo luận và cắt giảm những khoảnchi chưa thực sự cần thiết, đồng thời nỗ lực khai thác mọi nguồn thu hợp lý mà nềnkinh tế có khả năng đáp ứng

3 Nội dung quản lý ngân sách thị xã

3.1 Quản lý lập dự toán ngân sách

Quản lý quá trình lập dự toán ngân sách chính là quản lý các quy trình lập dựtoán có theo đúng luật ngân sách hay không, đồng thời kiểm tra chất lượng bản dựtoán ngân sách có phù hợp với các yêu cầu và quy định không Để lập một bản dựtoán ngân sách hoàn chỉnh cần phải dựa trên những căn cứ và các yêu cầu nhất định

 Căn cứ để lập bản dự toán ngân sách thị xã

Lập dự toán NSNN phải dựa trên nhiệm vụ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội,đảm bảo an ninh, quốc phòng của Đảng và chính quyền địa phương trong năm kếhoạch và những năm tiếp theo; dựa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thị

xã trong năm kế hoạch Đây vừa là các cơ sở, căn cứ để đảm bảo nguồn thu choNSNN, vừa là nơi sử dụng các khoản chi tiêu của NSNN

Trang 24

Lập dự toán NSNN phải tính đến các kết quả phân tích, đánh giá tình hình thựchiện kế hoạch ngân sách của các năm trước đó, đặc biệt là năm báo cáo.

Lập dự toán ngân sách luôn phải căn cứ vào các chính sách, chế độ, định mức cụthể về thu, chi tài chính Nhà nước Do lập dự toán NSNN là xây dựng các chỉ tiêuthu, chi cho năm kế hoạch, các chỉ tiêu này chỉ có thể xây dựng sát và đúng đặc biệtphải tuân thủ theo các chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu chi tài chính Nhà nướcthông quan hệ thống pháp luật và các văn bản pháp lý khác của Nhà nước

 Yêu cầu của một bản dự toán ngân sách thị xã

Với các căn cứ kể trên thì yêu cầu của một bản dự toán ngân sách thị xã trướchết phải bám sát kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, khi đó dự toán ngân sách mớimang tính hiện thực và có tác động tích cực đến thực hiện kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội, tiền đề cho việc thực hiện tốt NSNN

Dự toán ngân sách phải đảm bảo thực hiện đầy đủ và đúng đắn các quan điểmcủa chính sách tài chính thị xã trong thời kỳ tới và yêu cầu của Luật NSNN Hoạtđộng NSNN là nội dung cơ bản của chính sách tài chính do vậy, lập dự toán phảithể hiện được đầy đủ và đứng đắn các quan điểm chủ yếu của chính sách tài chínhthị xã như: trật tự và cơ cấu động viên các nguồn thu; thứ tự và cơ cấu bố trí các nộidung chi tiêu Bên cạnh đó, NSNN hoạt động luôn phải tuân thủ các yêu cầu củaLuật NSNN nên ngay từ khâu lập dự toán ngân sách cũng phải thể hiện đầy đủ cácyêu cầu của Luật NSNN bao gồm: xác định phạm vi, mức độ của nội dung cáckhoản thu, chi; thực hiện phân định thu, chi giữa các cấp ngân sách

3.2 Chấp hành dự toán ngân sách

Đây là khâu quyết định đến sự ảnh hưởng của NSNN cấp thị xã đối với sự pháttriển kinh tế - xã hội ở địa phương Vì vậy công tác này rất quan trọng luôn cầnphải bám sát vào dự toán để tổ chức quản lý việc chấp hành các khoản thu và khoảnchi trên địa bàn thị xã

 Trong thu ngân sách

Chỉ có cơ quan tài chính, cơ quan thuế được giao nhiệm vụ thu ngân sách (gọichung là cơ quan thu) được tổ chức thu NSNN Cơ quan thu có nhiệm vụ, quyềnhạn là: phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức thu đúng pháp luật, chịu sự chỉđạo, kiểm tra của UBND thị xã và sự giám sát của HĐND thị xã về công tác thungân sách trên địa bàn; Phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chứcthành viên tuyên truyền, vân động tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa

Trang 25

vụ nộp ngân sách theo quy định của Luật ngân sách và các quy định khác của Phápluật

Cơ quan thu các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có tráchnhiệm đôn đốc, kiểm tra các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp ngân sách phải nộpđầy đủ, đúng hạn các khoản nộp vào NSNN

 Trong chi ngân sách

Chi ngân sách gồm hai khoản mục lớn là chi thường xuyên và chi cho đầu tưphát triển Sau khi UBND giao dự toán ngân sách, các đơn vị dự toán tiến hànhphân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc.Chi ngân sách là công việc vô cùng quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến quátrình phát triển kinh tế xã hội và có tác dụng lâu dài ở tầm vĩ mô Vì vậy cần đánhgiá tính hiệu quả của chi ngân sách qua các chỉ tiêu, chỉ số bao gồm cả định tính vàđịnh lượng Điều đó sẽ giúp cho các nhà phân tích đúng đắn hơn, đánh giá chínhxác hơn tính hiệu quả của chi ngân sách và giúp chi ngân sách đúng dự toán, tiếtkiệm và đạt hiệu quả

Nội dung cơ bản của chi thường xuyên ngân sách thị xã bao gồm: chi cho cáchoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, thể dục thể thao, khoa học vàcông nghệ, văn hóa xã hội; chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế của Nhà nước,chi cho hoạt động hành chính Nhà nước, chi cho quốc phòng – an ninh và trật tự antoàn xã hội, chi khác

Quản lý chi thường xuyên của ngân sách thị xã luôn phải tuân theo các nguyêntắc: nguyên tắc quản lý theo dự toán, nguyên tắc hiệu quả, tiết kiệm, nguyên tắc chitrực tiếp qua kho bạc Nhà nước

Nội dung cơ bản của chi cho đầu tư phát triển lại dựa trên nguyên tắc quản lýcấp phát thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản như cấp phát vốn trên cơ sở thựchiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư và xây dựng, đảm bảo đầy đủ các tài liệu thiết kế,

dự toán Việc cấp phát thanh toán vốn đầu tư phải đảm bảo đúng mục đích, đúng kếhoạch Cấp phát vốn đầu tư xây dựng này được thực hiện bằng hai phương pháp cấpphát không hoàn trả và có hoàn trả Nó chỉ được thực hiện theo đúng mức độ thực tếhoàn thành kế hoạch và phải thực hiện giám đốc bằng tiền với việc sử dụng vốnđúng mục đích có hiệu quả vốn đầu tư

3.3 Quyết toán ngân sách

Thứ nhất, việc thực hiện quyết toán ngân sách trước hết là quản lý về số liệuquyết toán NSNN có đảm bảo các quy định sau hay không

Trang 26

- Số quyết toán thu NSNN là số thu đã được thực nộp hoặc hạch toán thuNSNN qua Kho bạc Nhà nước Số quyết toán chi NSNN là số chi đã thực thanhtoán hoặc đã thanh toán chi theo quy định.

- Kho bạc Nhà nước cấp thị xã có trách nhiệm tổng hợp số liệu quyết toángửi phòng tài chính – Kế hoạch thị xã để lập báo cáo quyết toán Kho bạc xác nhân

số liệu thu, chi ngân sách trên báo cáo quyết toán của ngân sách các cấp, đơn vị sửdụng

- Ngân sách cấp dưới không được quyết toán các khoản kinh phí ủy quyềncủa ngân sách cấp trên và báo cáo quyết toán ngân sách cấp mình Cuối năm phòngtài chính – kế hoạch được ủy quyền lập báo cáo quyết toán kinh phí ủy quyền theoquy định gửi Sở tài chính

Thứ hai, quản lý việc quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản thì hết năm kếhoạch, chủ đầu tư lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư năm theo biểu mẫu quy địnhtrong chế độ kế toán áp dụng cho đơn vị chủ đầu tư Nội dung báo cáo quyết toánvốn đầu tư hoàn thành bao gồm nguồn vốn đầu tư thực hiện dự án đến ngày khóa sổlập báo cáo quyết toán, chi phí đầu tư đề nghị quyết toán, chi tiết theo cơ cấu xâylắp, thiết bị, chi tiết theo từng hạng mục, khoản mục chi phí đầu tư; xác định chi phíđầu tư thiệt hại không tính vào giá trị tài sản hình thành qua đầu tư

Thứ ba là quản lý quyết toán các khoản chi thường xuyên Việc quản lý này thựchiện được trước hết là phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời cácloại báo cáo đó đến các cơ quan có thẩm quyền Số liệu trong báo cáo quyết toánphải đảm bảo trung thực, chính xác, đặc biệt báo cáo quyết toán hàng năm của cácđơn vị dự toán trước khi trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn phải có

sự xác nhận của Kho bạn nhà nước Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toánkhông được để xảy ra tình trạng quyết toán chi lớn hơn thu Cơ quan kiểm toán Nhànước thực hiện kế hoạch kiểm toán, xác định tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáoquyết toán NSNN các cấp, cơ quan đơn vị có liên quan theo quy định của pháp luật.Cuối cùng quản lý trình tự lập, gửi, xét duyệt và thẩm định quyết toán năm củacác đơn vị dự toán

4 Sự cần thiết phải tăng cường phân cấp quản lý ngân sách thị xã

Như đã nói ở trên ta có thể thấy thị xã là một cấp quản lý hành chính, nối liềnmối quan hệ giữa trung ương và địa phương Chính quyền cấp thị xã đã được traoquyền phân cấp về quản lý hành chính nhằm thực hiện tốt hơn các chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn của mình đối với địa phương Để chính quyền thị xã có thể

Trang 27

thực hiện tốt chức năng nhằm phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn cần phải cómột nguồn lực tài chính đủ mạnh Vì vậy ngân sách cấp thị xã cần luôn luôn phảiđược phân cấp quản lý chặt chẽ đảm bảo sao cho hiệu quả nhất.

Phân cấp quản lý NSNN cấp thị xã là việc làm quan trọng nhằm nâng cao tínhđộc lập tự chủ về ngân sách của thị xã Đồng thời nâng cao tinh thần tự chịu tráchnhiệm của cơ quan quản lý cấp thị xã trước cơ quan quản lý cấp tỉnh và trung ương.Nhất là trong công cuộc cải cách hành chính nước ta hiện nay thì phân cấp quản lýngân sách là một nhiệm vụ quan trọng do đó cần tăng cường công tác phân cấpquản lý ngân sách cho cấp thị xã cho phù hợp với năng lực quản lý và khả năng pháttriển kinh tế xã hội của thị xã

Phân cấp quản lý NSNN cấp thị xã giúp cho Nhà nước quản lý hiệu quả nguồnthu và nhiệm vụ chi của chính quyền địa phương cấp thị xã Phân cấp nguồn thu tạocho thị xã có sự chủ động về nguồn tài chính và cố gắng hơn trong việc tổ chức thựchiện thống nhất thu ngân sách Song song với đó là phân cấp nhiệm vụ chi nhằmgiúp thị xã có những khoản chi hiệu quả và tiết kiệm, không gây ra tình trạng lãngphí, thất thoát Các khoản chi này phải được tính toán đầy đủ theo định mức nhằmđảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn

Khi tăng cường phân cấp NSNN cho cấp thị xã sẽ tăng thêm quyền quyết định

về các khoản thu, chi NSNN của chính quyền thị xã trên địa bàn địa phương mình.Những quyết định này giúp cho thị xã thực hiện các hoạt động quản lý nguồnNSNN phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, từ đó chínhquyền cũng sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm tronng các quyết định phê duyệtphân bổ ngân sách của mình giúp cho quá trình thanh tra, kiểm tra được thực hiệntốt hơn và quản lý NSNN hiệu quả hơn

Việc thực hiện phân cấp quản lý NSNN cho cấp thị xã chính là công việc nhằmthực hiện điều hòa NSNN ở địa phương, tránh tình trạng cơ chế “xin - cho” tronghoạt động quản lý NSNN đã tồn tại rất nhiều bất cập trong thời gian qua

Như vậy, tăng cường phân cấp quản lý NSNN cấp thị xã là việc làm tất yếu vàrất cần thiết Trong công tác cải cách hành chính ở nước ta hiện nay xu hướng phâncấp cho chính quyền địa phương diễn ra trên nhiều lĩnh vực trọng yếu Vì vậy, đểđảm bảo sự tương thích, thống nhất giữa thẩm quyền và trách nhiệm, giữa tổ chức

bộ máy Nhà nước và chức năng của bộ máy Nhà nước thì phải tăng cường phân cấptheo đúng lộ trình Tăng cường phân cấp NSNN cho cấp thị xã quản lý cũng cầnđược thực hiện đông bộ với các quyết định tăng cường phân cấp quản lý khác của

Trang 28

Chính phủ nhằm hoàn thiện hơn nữa bộ máy quản lý hành chính Nhà nước nhất làtrong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay.

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH THỊ XÃ TỪ SƠN – BẮC NINH (2005 – 2009)

I Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Từ sơn

1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và dân số.

Thị xã Từ Sơn (huyện Từ Sơn trước đây) được tái lập tháng 9/1999 theo Nghị định 68/

CP của Chính phủ, hiện trạng đơn vị hành chính của thị xã có 07 phường và 05 xã; diệntích tự nhiên là 61,33km2, dân số 143.843 người( tính đến hết 01/06/2007), trong đó:Thường trú: 125.285 người, tạm trú: 18558 người Từ Sơn nằm ở cửa ngõ phía Bắc củathủ đô Hà Nội, trong vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng, tiếp giáp với các huyện Yênphong- Tiên Du của tỉnh Bắc Ninh; huyện Gia Lâm, huyện Đông Anh của thành phố HàNội Có tuyến đường sắt Hà Nội- Lạng Sơn và đường quốc lộ 1A, 1B mới chạy qua, rất

Trang 29

thuận lợi cho việc phát triển, giao lưu kinh tế với các vùng kinh tế trọng điểm như Hà Nội,Hải Phòng và vùng kinh tế phía Bắc.

Từ Sơn là vùng đất địa linh nhân kiệt, giàu truyền thống yêu nước và cách mạng,nơi phát tích vương triều Lý và tạo dựng nên nhà nước Đại Việt, là nơi sinh ra nhiềudanh nhân, thi sỹ nổi tiếng Người Từ Sơn cần cù, năng động, sáng tạo trong laođộng, kiên cường, bất khuất trong đấu tranh, luôn tự lực, tự cường, không chịukhuất phục trước khó khăn, có ý thức cộng đồng sâu sắc, luôn kế thừa và phát huytruyền thống tốt đẹp của cha ông để xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước

Từ Sơn có phong trào cách mạng sớm Vào những năm 20 của thế kỷ XX, nhiềuthanh niên, học sinh yêu nước; tiêu biểu như các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, NgôGia Tự đã sớm tiếp thu chủ nghĩa yêu nước, giác ngộ cách mạng trở thành cán bộlãnh đạo xuất sắc của Đảng ta, là lớp đảng viên cộng sản đầu tiên có những cốnghiến xuất sắc cho sự nghiệp cách mạng của quê hương, đất nước, đã nêu cao phẩmchất cách mạng cao đẹp cho các thế hệ cán bộ và nhân dân Từ Sơn hôm nay và maisau

Từ Sơn xưa đã nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống như: nghề mộc ở PhùKhê, Hương Mạc, nghề rèn sắt ở Đa Hội, Châu Khê, nhiều chợ nổi tiếng sầm uất,hàng hoá rất đa dạng, phong phú, người mua, người bán đông đúc Trong hệ thốngchợ truyền thống của Từ Sơn xưa, nổi tiếng là chợ Giàu, chợ Đồng Kỵ, chợ ĐìnhBảng…

Dưới thời Pháp thuộc, chính quyền thực dân tiến hành các cuộc cải cách hànhchính, điều chỉnh địa giới ở một số địa phương, xoá bỏ cấp phủ trung gian giữa tỉnh vàhuyện, Từ Sơn lúc này gọi là huyện Đông Ngàn Năm 1925 lại đổi thành phủ Từ Sơn,sau cách mạng Tháng Tám đổi là huyện Từ Sơn

Năm 1963, huyện Từ Sơn và huyện Tiên Du sáp nhập thành huyện Tiên Sơn.Sau 36 năm chung vai sát cánh cùng đóng góp sức người, sức của trong kháng chiếnchống Mỹ cứu nước, cán bộ và nhân dân huyện Tiên Sơn được Nhà nước tặng danh

hiệu “ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” Với điều kiện tự nhiên thuận lợi,

các phường, xã thuộc thị xã Từ Sơn vẫn có những bước tiến vượt bậc về kinh tế, cáclàng nghề tiểu thủ công nghiệp vẫn phát triển mạnh đến năm 1999, huyện Từ Sơnđược tái lập (nay là thị xã Từ Sơn), được sự quan tâm giúp đỡ của các cấp, cácngành, thị xã Từ Sơn đã có những bước phát triển mạnh và khá toàn diện về kinh tế,

Trang 30

văn hoá, xã hội Căn cứ vào nội dung quy hoạch chung của huyện đã được UBNDtỉnh Bắc Ninh phê duyệt, thị xã Từ Sơn đã thực hiện việc đầu tư xây dựng cơ sở vậtchất ban đầu như: Trụ sở làm việc của các cơ quan thị xã, các phòng, ban chuyênmôn, các dự án đất dân cư đô thị, các khu đất tái định cư, tạo điều kiện để ổn định

và nâng cao đời sống cho cán bộ, công nhân viên chức và nhân dân trong thị xã.Được sự quan tâm của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh và các Sở, ban, ngành, cùng với quyếttâm của Thị uỷ, UBND thị xã, từ năm 1999 đến nay thị xã đã từng bước đầu tư xâydựng được hệ thống các công trình hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật đô thị kháhoàn thiện và đồng bộ như: Cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới đường giao thông, hệthống thoát nước, hệ thống chiếu sáng công cộng, bưu điện, nâng công suất trạmbiến áp và cải tạo đường dây tải điện, xây dựng mới các công trình phúc lợi côngcộng như trường học, bệnh viện, công viên, vườn hoa, hệ thống cây xanh, các khucông nghiệp tập trung… nhằm phục vụ nhu cầu đời sống ngày càng cao của nhândân địa phương, đáp ứng được sự chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế theohướng công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ

Đến năm 2009, kinh tế thị xã Từ Sơn đã phát triển theo hướng công nghiệp hoá,

cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp- tiểu thủ côngnghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp một cách hợp lý Hệ thống cơ sở hạtầng được đầu tư đồng bộ, hoàn chỉnh, kết hợp với điều kiện thuận lợi về vị trí địa

lý, hệ thống giao thông hoàn chỉnh, nguồn nhân lực dồi dào, cùng với ý chí và nghịlực vươn lên mạnh mẽ của người dân Từ Sơn Thị xã Từ Sơn đã và đang trở thànhđiểm hấp dẫn thu hút đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước góp phầnquan trọng thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Tỉnh

Những đặc điểm chung, cơ bản nêu trên đã có tác động không nhỏ tới công tácquản lý NSNN trên địa bàn, đặc biệt là thu- chi NSNN

2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thị xã Từ Sơn.

Từ Sơn nằm trong vùng tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, có

2 tuyến Quốc lộ 1A, 1B và tuyến đường sắt quốc tế Hà Nội - Lạng Sơn - TrungQuốc chạy qua, nên rất có điều kiện giao lưu, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 10 năm (1999-2009) của thị xã Từ Sơn đạt14% Riêng năm 2009, mặc dù chịu ảnh hưởng chung của suy thoái kinh tế nhưngtăng trưởng kinh tế của Thị xã vẫn đạt 13,63%; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch

Trang 31

theo hướng tích cực Thu nhập bình quân đầu người đạt 2.215 USD/năm cao hơnbình quân của cả nước, tăng gấp 2 lần so với năm 1999 Thị xã đã quy hoạch 11 khucông nghiệp tập trung với diện tích 350 ha, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn3.750 tỷ đồng; thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đạt 448 tỷ đồng, tăng 4 lần sovới năm 1999 Công tác đầu tư xây dựng được quan tâm và thực hiện có hiệu quả,tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân hàng năm thời kỳ 1999-2009 trên 200 tỷđồng, bộ mặt Thị xã và các xã, phường có nhiều đổi mới.

Bảng 2.1: Cơ cấu GDP ở thị xã Từ Sơn.

Nguồn: Niên giám thống kê thị xã Từ Sơn

* Sản xuất công nghiệp- xây dựng đã chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu GDP thị xã,

tăng từ 65.8% (năm 2005) lên 69.3% (năm 2009); ngành thương mại dịch vụ có chiềuhướng phát triển tốt, tăng dần trong cơ cấu GDP, từ 23.2% (năm 2005) lên 24.8% (năm2009); lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có chiều hướng giảm dần tỷ trọng trong cơ cấuGDP từ 11% (năm 2005) xuống còn 5.9% (năm 2009)

* Sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp của thị xã phát triển cao cả về giá

trị và số lượng Năm 2009 tổng giá trị sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệpđạt 3685 tỷ đồng (giá CĐ năm 1994), bằng 94.7% kế hoạch, tăng 16% so với năm

2008 Toàn thị xã hiện có 10 cụm công nghiệp làng nghề và đa nghề do huyện quản

lý, 01 khu công nghiệp tập trung( khu công nghiệp Tiên Sơn) do Tỉnh quản lý vớitổng diện tích trên 600 ha, trong đó:

Khu công nghiệp tập trung có diện tích 377 ha, các cụm công nghiệp có tổngdiện tích 232 ha Nhìn chung khu công nghiệp tập trung, các cụm công nghiệp làng

Trang 32

nghề và đa nghề đã xây dựng nhà xưởng và đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh,thu hút trên 10 nghìn lao động.

Tuy nhiên sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp còn một số tồn tại: Côngtác giải phóng măt bằng một số khu công nghiệp, cụm công nghiệp còn hết sức khókhăn như: Cụm công nghiệp sản xuất Châu Khê mở rộng, cụm công nghiệp làngnghề Đồng Quang; khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ VSIP- Phù Chẩn…; việcquản lý sau đầu tư ở các cụm công nghiệp còn chậm, tình trạng ô nhiễm môi trườngchậm được khắc phục, công nghệ sản xuất các làng nghề nhìn chung còn lạc hậu

* Hoạt động thương mại- dịch vụ.

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và dịch vụ trên địa bàn ước đạt 2.594 tỷ đồng bằng116,9% KH và tăng 19% so với năm 2008 bằng 162,6 % so với mục tiêu Đại hội.Công tác quản lý thị trường có tiến bộ Việc cấp đăng ký kinh doanh được duy trìđều, đảm bảo đúng quy định

Doanh thu doạt động bưu chính viễn thông cả năm ước đạt 45,3 tỷ đồng tăng8,8% so với năm 2008 Lắp đặt mới ước đạt 1.425 máy điện thoại, thuê bao cố địnhbình quân ước đạt 35 máy/100 dân (không kể điện thoại di động)

Đến nay trên địa bàn thị xã có 11 ngân hàng thương mại và 01 ngân hàng chínhsách xã hội Các ngân hàng và tổ chức tín dụng xác định đúng hướng kinh doanh,đúng mục tiêu phục vụ, giải ngân các gói kích cầu kịp thời đã đáp ứng cơ bản nhucầu vay vốn của các doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn Tính đến14/10/2009 các ngân hàng thương mại đã triển khai cho 423 cá nhân, đơn vị vayvốn theo các gói kich cầu của chính phủ với tổng dư nợ 1.196,1 tỷ đồng Ngân hàngCSXH đã cho các hộ nghèo, học sinh – sinh viên và cho vay giải quyết việc làm vớitổng dư nợ tính đến 30/11/2009 là 104,2 tỷ đồng

* Sản xuất nông nghiệp.

Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2009 ước đạt 185, tỷ đồng (tính theo giá cốđịnh năm 1994) bằng 108,1% so với KH và tăng 9,6 % so với năm 2008 (99.4%mục tiêu đại hội), nguyên nhân giảm là do chuyển đổi 299 ha đất nông nghiệp sangđất sản xuất công nghiệp và đất tiêu dùng khác Trong đó: giá trị trồng trọt ước đạt5,9tỷ đồng cao hơn so với năm 2008 là 65, tỷ đồng Chăn nuôi + thủy sản ước đạt112,4 tỷ đồng tăng 15,7% so với năm 2008 Dịch vụ nhà nước ước đạt 6,9 tỷ đồngbằng 104,5% so với năm 2008 Cơ cấu giá trị: trồng trọt 40%, chăn nuôi 56,1%,dịch vụ 3,9% đạt mục tiêu Đại hội đề ra

Trang 33

Về trồng trọt

- Diện tích gieo trồng cả năm 5933.4 ha đạt 97,3% KH, giảm 258,6 ha so vớinăm 2008 Trong đó: diện tích lúa vụ xuân 2796 ha đạt 99,6 % KH, diện tích lúa vụmùa 2774 ha đạt 98,6% KH Sản lượng lúa ước đạt: 30.738 tấn bằng 99,8% KH

- Giá trị trồng trọt ước đạt 52 triệu đồng/ ha canh tác (giá hiện hành) tăng 3,1triệu đồng so với năm 2008 bằng 96,3% mục tiêu Đại hội

Về chăn nuôi

- Tổng đàn lợn thịt ước đạt 27.000 con bằng 70,9% so với cùng kỳ năm 2008.Tổng đàn bò 387 con bằng 76,6% so với cùng kỳ, riêng đàn bò sữa 63 con bằng98,4% với cùng kỳ năm 2008 Tổng đàn gia cầm ước đạt 243.800 con bằng 106,9%

so với cùng kỳ năm 2008

- Diện tích nuôi thả cá ước đạt 232,1 ha đạt 93% KH và bằng 102% so vớicùng kỳ; trong đó diện tích nuôi cá thịt là 222,1 ha, sản lượng cá ước đạt 1.066 tấn

- Trồng cây phân tán: ước cả năm trồng được 6.250 cây các loại, trong đó cây

ăn quả được chú trọng phát triển

Công tác thủy lợi

- Đã hoàn thành KH tu bổ, đào đắp đê ngũ huyện khê 51.103 m3; san lấp ổ gà,sửa chữa mặt đê và rải cấp phối đá dăm được 2.454 m3 Cứng hóa mặt đê 2.568m3,

xử kè song tháp đê tả ngũ huyện khê Hoàn thành chiến dịch làm thủy lợi cải tạo đấtvới tổng khối lượng đào đắp 61.664m3, đạt 107% KH

Công tác văn hóa-thông tin-thể dục thể thao, giáo dục và đào tạo

Thị xã Từ Sơn qua các năm gần đây đã chỉ đạo và thực hiện tốt công tác thôngtin tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị của thị xã nhất là vào dịp các ngày lễ,ngày kỷ niệm lớn của đất nước Công tác quản lý nhà nước về văn hóa tiếp tục đượcđẩy mạnh về mọi mặt Phong trào xây dựng làng văn hóa, khu dân cư văn hóa tiếptục phát triển năm 2009 có 55/81 thôn, khu phố đăng ký xây dựng làng văn hóa,88,7% hộ gia đình đăng ký xây dựng gia đình văn hóa Tổng kết phong trào 20 nămxây dựng làng văn hóa và khen thưởng 32 tập thể, 61 hộ gia đình và 10 cá nhân tiêubiểu; ước đến hết năm có 50/81 thôn, khu phố nhà sinh hoạt riêng, khu phố riêng

Tổ chức thành công đại hội TDTT thị xã Từ Sơn lần thứ 6 năm 2009, 3 giải đấu thểthao cấp thị xã: các xã, phường đã tổ chức được trên 260 giải thể thao chào mừngcác ngày lễ kỉ niệm, và giải đại hội TDTT cơ sở Tham gia các giải thể thao cấp tỉnhđạt 35 huy chương các loại

Trang 34

Năm 2009 ước sản xuất 323 chương trình phát thanh với trên 3.252 tin bài Thựchiện 12 trang phát thanh, 24 trang truyền hình phát trên sóng đài tỉnh Công táctuyên truyền đảm bảo kịp thời, chính xác Duy trì có hiệu quả trang website Đài TừSơn 12 đài các xã, phường được kiện toàn, biên tập chương trình trên máy vi tính.Không để xảy ra sự cố kỹ thuật Đã chú trọng chỉ đạo phát triển sự nghiệp giáo dụcđào tạo, phấn đấu đầu tư để hoàn chỉnh chỉ tiêu xây dựng phòng học, trường chuẩnQuốc gia, đảm bảo tốt công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, hoàn thành chuẩnQuốc gia về y tế; tập trung chỉ đạo thực hiện tốt công tác truyền thông DS -KHHGĐ, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm chính sách DS - KHHGĐ; tăngcường các hoạt động văn hoá, TDTT, bảo tồn các di tích lịch sử, văn hóa… Chàomừng kỷ niệm 10 năm tái lập huyện, 01 năm thành lập thị xã Từ Sơn và tiến tới đại

lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội Thực hiện tốt công tác đảm bảo xã hội, tăngcường đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động v.v

Việc thực hiện chính sách xã hội được quan tâm kịp thời Năm 2005 phê duyệt

35 dự án vay vốn từ quỹ hỗ trợ giải quyết việc làm với số tiền 1,15 tỷ đồng; năm

2006 là 33 dự án với số tiền là 1,53 tỷ đồng, tăng 33%; năm 2007 là 21 dự án với sốtiền là 1,1 tỷ đồng Giảm tỷ lệ hộ nghèo trong toàn thị xã từ 3.74% năm 2005 xuốngcòn 2.3% năm 2007, đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ, đảng viên và nhândân tiếp tục được nâng lên

II Tình hình thực hiện thu - chi ngân sách Nhà nước tại thị xã Từ Sơn.

1 Tình hình thực hiện thu Ngân sách Nhà nước

Trong giai đoạn 2005 – 2009, tình hình thực hiện thu NSNN tại thị xã Từ Sơn đãđạt được những thành tựu đáng kể Số dự toán giao ở các năm 2008, 2009 đều tănghơn so với năm 2005 và năm 2006 Số thực hiện thu NSNN trên địa bàn thị xã TừSơn cũng tăng dần, tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt Luật NSNN và các luật thuế mới.Thị xã đã chú trọng và mở rộng nguồn thu, chống thất thu nhất là thuế ngoài quốcdoanh, do đó năm 2005 thị xã mới thực hiện thu được 142.897 triệu đồng thì tớinăm 2009 tổng thu ngân sách đã đạt 448.300 triệu đồng

Bảng 2.2: Tổng hợp thu NSNN thị xã Từ Sơn giai đoạn 2005 - 2009:

ĐVT: Triệu đồng

Trang 35

Dự toán

Thực hiện

Dự toán

Thự c hiện

Dự toán

Thực hiện

Dự toán

Thực hiện

331.52 6

354.38 7

448.30 0

A Thu tiền từ quỹ đất

155.00 0

140.10 9

150.00 0

200.00 0

B Các khoản thu trong

140.92 1

146.67 8

160.00 0

209.60 0

C Các khoản thu không

cân đối, quản lý qua

NS

22.632 40.6 31.550 44.739 44.387 38.700

Nguồn: Báo cáo của phòng tài chính – kế hoạch thị xã Từ Sơn

Qua biểu tổng hợp trên cho thấy các khoản thu cơ bản đều vượt so với chỉ tiêu.Riêng năm 2009, tổng thu ngân sách tại thị xã bằng 126,5% kế hoạch và bằng135,2% so với cùng kỳ năm 2008 Tình hình cụ thể về thu ngân sách trên địa bàn thị

xã Từ Sơn qua từng khoản mục (phụ lục đính kèm) như sau:

Thu ngoài quốc doanh: năm 2005 thị xã thực hiện thu đạt 8.150 triệu đồng/dự

toán giao 7.761 triệu đồng đạt 95,2 % dự toán; 9.637 triệu đồng năm 2006/dự toángiao 8.933 triệu đồng đạt 107,8% dự toán; Năm 2007 thị xã thu được 12.101 triệuđồng/ dự toán giao 11.000 triệu đồng đạt 110% dự toán và 20.496 triệu đồng vàonăm 2008 Điều này có được do từ năm 2007 tới nay thị xã đã tích cực trong côngtác đôn đốc thu, tiếp tục đẩy mạnh thu thuế ngoài quốc doanh

Thu phí và lệ phí tương tự đều tăng: Năm 2005 thị xã đã thực hiện thu đạt 1.289

triệu đồng/ dự toán giao 1.122 triệu đồng đạt 144,8%; Năm 2006 là 743 triệu đồng/

dự toán giao 650 triệu đồng đạt 114,3%; Năm 2007, tiền thu phí và lệ phí đã đạt1.797 triệu đồng/ dự toán 1.390 triệu đồng đạt 129,3% dự toán Từ năm 2007 tớinay số thu này tăng mạnh hơn do ghi thu ghi chi học phí và các loại phí khác mà cácnăm trước chưa thực hiện ghi thu , ghi chi qua ngân sách

Thu lệ phí trước bạ cũng tăng cao đều đạt trên 100% kế hoạch tỉnh giao Lý do

thu lệ phí triước bạ tăng cao qua các năm, đặc biệt là ở năm 2006 xuất phát từ tìnhhình thực tế là một số hộ gia đình ở các phường: Đồng Quang, Tân Hồng, ĐồngNguyên đã nộp lệ phí trước bạ nhà đất khi được giao đất ở nhân dân

Trang 36

Thu tiền thuế nhà đất đạt thấp ở 2 năm: 2005 và năm 2006 do thị xã đã không

sát không sát sao đôn đốc thu khoản thuế nhà đất ở một số phường, xã và ý thứcchấp hành nộp thuế của một số hộ dân chưa cao nên không đạt dự toán giao

Thu từ tiền thuế chuyển quyền sử dụng đất: năm 2005 thị xã thực hiện đạt 644

triệu đồng/ dự toán 3.600 triệu đồng đạt 17,8%; Năm 2006 là 1.578 triệu đồng/ dựtoán 1.390 triệu đồng đạt 81,7%; Năm 2007 là 4.295 triệu đồng / dự toán 1.600triệu đồng đạt 268,4% Nguyên nhân của khoản thu thuế chuyển quyền sử dụng đấtthấp ở 2 năm 2005 và năm 2006 là do tỉnh giao dự toán cao trong khi khoản tiềnnày tăng được hay không phụ thuộc vào tình hình thực tế ở các địa phương và các

cá nhân, hộ gia đình có chuyển quyền sử dụng đất hay không Nếu cá nhân, hộ giađình họ không chuyển quyền sử dụng đất thì không thể có khoản thu này

Thu tiền khi giao đất: Năm 2005 thị xã thu chỉ đạt được 56,7% kế hoạch do một

số dự án không hoàn thành kế hoạch đã lập dự án quy hoạch trình UBND tỉnhnhưng chưa được phê duyệt, một số dự án đã trình duyệt UBND Tỉnh nhưng vàodịp cuối năm nên thị xã đã chưa thu được tiền giao đất ở

Tiền thuế sử dụng đất nông nghiệp: đều tăng ở 2 năm 2005 và năm 2006 nhưng

đến năm 2007 không đạt được dự toán giao, chỉ đạt 95,4% và chỉ đạt 78% vào năm

2008 so với dự toán nguyên nhân là do diện tích đất nông nghiệp giảm dần cho giảiphóng mặt bằng để giao đất ở cho nhân dân, cho các khu công nghiệp, làng nghềthuê đất Ngoài ra số thu này giảm dần ở các năm là do chính sách của Nhà nướcmiễm giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp cho nhân dân

Tiền thuê đất không ổn định và có chiều hướng giảm dần do quỹ đất công đã

được nằm trong quy hoạch hoặc có quyết định thu hồi đất để sử dụng vào các mụcđích khác của thị xã và của tỉnh Trước hết thị xã đã có kế hoạch sử dụng đất thời kỳ

2005 – 2010 nhằm chủ động quy hoạch các dự án có sử dụng đến đất đai nhằm đầu

tư xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi xã hội trên địa bàn như tậptrung triển khai 8 dự án đổi đất lấy công trình với tổng số tiền trên 580 tỷ đồngtrong 5 năm qua

Thu tiền sử đụng đất của các dự án đô thị: Đây là khoản thu lớn của thị xã Năm

2006 và năm 2007 thị xã đã thu đạt hơn 200 tỷ từ các dự án đô thị; (đô thị Nam Từ sơn,Khu đô thị Đình Bảng- Đồng Nguyên ,Tân Hồng )

Trang 37

Thu khác của ngân sách: là các khoản thu không ổn định chủ yếu là các khỏan

thu về tiền phạt, tịch thu hàng chốn lậu và thực tế có một số khoản thu không dựkiến hết trong dự toán hàng năm nhưng thực tế lại phát sinh

Các khoản thu tại phường, xã: Đây là khoản thu khá lớn của thị xã Năm 2005

thực hiện đạt 10.612 triệu đồng/ dự toán 4.100 triệu đồng đạt 258,8% dự toán; Năm

2006 đạt 3.959 triệu đồng / dự toán 5.600 triệu đồng đạt 65,3%; Năm 2007 đạt5.377 triệu đồng / dự toán 5.100 triệu đồng đạt 105,4% Khoản thu này đòi hỏi cácđơn vị, phường, xã phát huy triệt để khai thác nguồn thu nhưng cũng chỉ tập trungchủ yếu từ thu quỹ đất công ích và đất công, thu cho thuê đầm, hồ ao

Năm 2008, đầu năm 2009 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoáikinh tế thế giới tình hình sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp cũng như các

hộ cá thể trên địa bàn vẫn chưa phục hồi hẳn Hơn nữa, việc thực hiện chính sáchgiảm, giãn nộp thuế làm giảm thu 8 – 9 tỷ đồng, nên nên hoạt động thu ngân sáchcủa thị xã Từ Sơn cũng gặp phải nhiều khó khăn Tổng thu NSNN trên địa bàn thị

xã 6 tháng đầu năm chỉ đạt 94,7 tỷ đồng, bằng 26,7% kế khoạch của thị xã và bằng28,6% của tỉnh Song tính đến hết năm 2009, tổng thu NSNN của thị xã vẫn vượt kếhoạch trong đó thu trong kế hoạch cân đối đạt 209,6 tỷ đồng đạt 118,1%, tăng 43%

so với năm 2008; thu các khoản không cân đối, quản lý qua ngân sách đạt 38,7 tỷđồng Để đạt được điều này, phòng tài chính – kế hoạch thị xã đã động tham mưugiúp thị xã xây dựng dự toán thu NSNN và đưa ra những biện pháp tích cực, hiệuquả trong công tác quản lý thu như: giao nhiệm vụ thu ngân sách gắn với thực hiệnchi ngân sách đối với các đơn vị cơ sở đặc biệt là khối phường, xã Rà soát toàn bộnguồn thu trên địa bàn, phân loại đưa vào quản lý các đối tượng nộp thuế đủ điềukiện theo luật định Tăng cường công tác chống thất thu trên từng lĩnh vực, tậptrung vào các đối tượng nộp thuế ngoài quốc doanh Quản lý chặt chẽ các khoản thu

từ đất và thực hiện tốt việc tuyên truyền phổ biến và triển khai thực hiện Luật thuếthu nhập cá nhân Đối với cấp xã, phường quản lý khai thác triệt để nguồn thu tạiđịa phương tập trung về ngân sách xã, phường để bảo đảm cân đối chi theo luậtđịnh Phối hợp với các đơn vị, cơ quan liên quan đến công tác chống buôn lậu gianlận thương mại, tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Riêng trong năm 2009,thị xã đã rà soát đối tượng thu đưa vào quản lý sổ bộ thuế thêm 825 hộ, chủ yếu là ởcác làng nghề Đẩy nhanh tiến độ đấu giá đất; đề nghị các xã, phường đẩy mạnhcông tác tuyên truyền và thu thuế …

Trang 38

Nhìn chung các khoản thu do thị xã thu qua các năm đều đạt hoặc vượt chỉ tiêu

dự toán tỉnh giao: một số khoản thu lớn đều tăng hơn so với năm trước và so với dựtoán giao Tuy nhiên còn một số khoản thu đạt thấp không đạt dự toán giao do tìnhhình thực tế từng năm

* Các khoản thu thuế do tỉnh thu (Doanh nghiệp ngoài quốc doanh) thị xã được hưởng.

Thuế môn bài: Năm 2005 thực hiện đạt 436 triệu đồng / dự toán 362 triệu đồng

đạt 124,5% dự toán giao; Năm 2006 thực hiện 365 triệu đồng/ dự toán 362 triệuđồng đạt 100,8% dự toán giao; Năm 2007 thực hiện 378 triệu đồng/ dự toán 352triệu đồng đạt 107,1% dự toán

Thuế VAT (Giá trị gia tăng) Là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng

hóa trong quá trình sản xuất, lưu thông, tiêu dùng Năm 2005 đạt 11.812 triệu đồng/

dự toán 10.720 triệu đồng đạt 110,1% dự toán; năm 2006 đạt 19.100 triệu đồng/ dựtoán 14.728 triệu đồng đạt 129,7%; Năm 2007 thực hiện 53.505 triệu đồng / dự toán16.975 triệu đồng đạt 315,2% dự toán, khoản thuế này tăng do một phần do sản xuấtphát triển và do thay đổi cơ chế chính sách thu

Thuế thu nhập doanh nghiệp: Năm 2005 thực hiện 3.969 triệu đồng/ dự toán

1.130 triệu đồng đạt 351,2 % dự toán; Năm 2006 thực hiện 2.738 triệu đồng / dựtoán 2.481 triệu đồng đạt 110,3% dự toán; Năm 2007 thực hiện 4.181 triệu đồng/ dựtoán 2.199 triệu đồng đạt 190,1%

Các khoản thu trên là các khoản thu chiểm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN

Số thu này tăng đều hàng năm do giá trị sản xuất kinh doanh, dịch vụ ngoài quốcdoanh đều tăng qua các năm thêm vào đó là một số doanh nghiệp khi dự toán giaochưa hình thành, chưa đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng khi đã hoạtđộng sản xuất kinh doanh thì làm ăn có hiệu quả đóng góp thu các khoản thuếGTGT và TNDN vượt rất nhiều lần so với dự toán được giao điển hình như doanhnghiệp Tân Thành Đồng, Công ty Thanh Tùng, Công ty cáp Thiên Thanh

Ngoài ra thu NSNN thị xã còn có các khoản thu sau:

Thu các khoản đóng góp: Khoản thu này hầu hết phát sinh ở cấp xã, mục đích

huy động để xây dựng kết cấu hạ tầng ở địa phương theo chủ trương của Nhà nước

và nhân dân cùng làm, xây dựng nhà tình nghĩa, ủng hộ đồng bào bị thiên tai

Trang 39

Ở các thôn, xã có các dự án thuê đất các công ty, doanh nghiệp tự nguyện đónggóp ủng hộ cho khu phố, phường, xã số tiền khá lớn để xây dựng cở sở hạ tầng như

ở phường Đình bảng, Tân Hồng, Đồng Nguyên, Đồng Quang Với số kinh phí hàngnăm được tài trợ ,các phường, xã, thôn, khu phố đã xây dựng kiến thiết các côngtrình phúc lợi phục vụ lợi ích chung của tập thể

Năm 2005 tổng số đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng đạt 18.421 triệu đồng; Năm

2006 đạt 34.883 triệu đồng; Năm 2007 đạt 30.324 triệu đồng Đây là khoản thu lớnđạt và vượt nhiều so với dự toán tỉnh giao hàng năm

Các khoản thu phí, lệ phí khác: là khoản thu nhằm phục vụ các hoạt động nơi

công cộng như lệ phí an ninh, phí bến bãi, lệ phí chợ, lệ phí trông xe các khoảnthu này rất thấp

Học phí, viện phí: Là khoản thu ngân sách Nhà nước được thực hiện thông qua

việc ghi thu, ghi chi ngân sách hàng năm nhưng thực tế chưa phản ánh hết vào thuNSNN được Do đó, chưa tính toán đầy đủ chính xác kinh phí đầu tư cho sự nghiệpgiáo dục, sự nghiệp y tế Do chế độ, chính sách làm lương phải dành 40% số thuhọc phí, 35% số thu viện phí để lại làm lương nên phần kinh phí còn lại trong tổng

số thu học phí, viện phí chi cho sự nghiệp giáo dục , y tế không lớn NSNN vẫnphải cấp bù

Với dự toán NS hàng năm giao 750 triệu học phí và 850 triệu viện phí thì ở thị

xã đã thu đủ và vượt chỉ tiêu dự toán giao Cuối năm ghi thu, ghi chi số kinh phítheo đúng thời gian quy định Song việc thực hiện ghi thu, ghi chi qua Kho bạc cònchậm, một số khoản chưa ghi chi được do thiếu chứng từ

Các khoản thu tài chính thôn: Đây là khoản thu rất lớn hàng năm ở các thôn, xã

song qua nhiều năm công tác quản lý tài chính thôn chưa thực sự đi vào nề nếp,hoạt động quản lý tài chính thôn chỉ nằm ở các thôn không được kiểm tra giám sátkịp thời của các cấp nên gây nhiều hậu quả sai phạm, lạm dụng quỹ công, thêm vào

đó một số kế toán, trưởng thôn do năng lực quản lý, trình độ hiểu biết có hạn khôngnắm được nguyên tắc quản lý thu chi tài chính thôn, không dựa vào các văn bản,quyết định của cấp trên thực hiện công việc quản lý điều hành mà làm theo cảmtính, kinh nghiệm

Đến nay Phòng tài chính kế hoạch thị xã Từ sơn đã tập huấn 7 đợt, mỗi năm 1đợt cho 07 phường, 05 xã về công tác quản lý tài chính thôn theo Quyết định số122/2003/QĐ-UBND ngày 28/11/2003 của UBND Tỉnh Bắc ninh Quy định tạm

Trang 40

thời về quản lý tài chính thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh trên cơ sở hướng dẫn của

Sở tài chính Song số kinh phí làm thủ tục ghi thu, ghi chi tài chính thôn qua Khobạc nhà nước chưa thực hiện được

Bên cạnh các khoản mục trên về thu thuế, phí… còn phải kể đến sự đóng gópcủa GDP vào NSNN qua các năm

Bảng 2.3: Tỷ lệ huy động GDP vào NSNN trên địa bàn thị xã.

1.Tổng SP quốc nội Tr đồng 264.084 267.705 418.3312.Tổng thu NSNN trên địa bàn Tr đồng 142.897 238.031 265.5443.Tỷ lệ huy động GDP vào

NSNN

Nguồn: Niên giám thống kê thị xã Từ Sơn

Năm 2005: 142.897 triệu đồng; Năm 2006: 238.031 triệu đồng; Năm 2007:265.544 triệu đồng, có thể khẳng định: Từ sơn là một thị xã có sự tăng trưởng kinh

tế cao, cơ cấu chuyển dịch kinh tế hợp lý Tuy vậy tỷ lệ hoàn thành kế hoạch và huyđộng từ GDP vào ngân sách chưa tăng đều hàng năm, tốc độ còn thấp chưa phát huyđược thực lực số thu nộp ngân sách Điều này thể hiện công tác thu nộp NS còn phụthuộc vào ý thức chấp hành luật thuế của nhân dân, các đối tượng nộp thuế Đặc biệt

là dự án các khu đô thị nộp tiền còn chậm vào NSNN ( Năm 2007 dự toán 150 tỷ,thực hiện xấp xỉ 117 tỷ đồng)

Năm 2008, thị xã tăng cường công tác quản lý và khai thác tốt các nguồn lực tàichính tập trung cho đầu tư phát triển Tiếp tục chỉ đạo và thực hiện tốt công tácchống thất thu ngân sách, tập trung thu thuế khu vực làng nghề, các hộ kinh doanhvận tải và xây dựng nhà ở Đẩy nhanh tiến độ thực hiện kế hoạch đấu giá quyền sửdụng đất, tích cực triển khai các dự án mới kiên quyết thực hiện các biện pháp thu

nợ v.v Phấn đấu vượt mức dự toán đầu năm 1000 tỷ đồng, tăng tỷ lệ huy độngGDP đóng góp vào NSNN của thị xã

2 Tình hình thực hiện chi NSNN trên địa bàn thị xã Từ sơn.

Song song với việc quản lý thu ngân sách, công tác quản lý chi ngân sách cũngđược thị xã Từ Sơn quan tâm từ khâu lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngânsách Tăng cường kiểm tra, giám sát trong chi tiêu nhằm chi tiết kiệm, có hiệu quả,nhất là chi quản lý hành chính Sử dụng có hiệu quả vốn trong đầu tư xây dựng cơbản, hướng dẫn kiểm tra đối với ngân sách xã và công tác quản lý tài chính thôn Vì

Ngày đăng: 29/04/2015, 10:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Huyện Từ sơn lần thứ XV Khác
5. Thông tư 40/1998/TT- BTC ngày 31/3/1998 hướng dẫn chế độ quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi Ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Khác
6. Thông tư số: 41/1998/TT- BTC hướng dẫn chế độ tập trung quản lý các khoản thu Ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Khác
7. Thông tư số 79/2003/TT- BTC ngày 13/8/2003 của Bộ tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi ngân sách qua Kho bạc Nhà nước Khác
8. Thông tư số 80/2003- TT- BTC ngày 13/8/2003 của Bộ tài chính hướng dẫn tập trung, quản lý các khoản thu Ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Khác
9. Giáo trình Tài chính học - Học viện Tài chính- kế toán Hà Nội Khác
10. Giáo trình kinh tế chính trị Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Khác
11. Báo cáo của UBND huyện Từ Sơn:- Về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội năm 2005- 2009 - Về dự toán thu, chi ngân sách 2005- 2007 và đánh giá tình hình thực hiện dự toán thu, chi ngân sách năm 2005- 2007 Khác
12. Đổi mới Ngân sách Nhà nước. Nguyễn Công Nghiệp- Tào Hữu Phùng. NXB Thống kê Hà Nội Khác
13. Niên giám thống kê thị xã Từ Sơn năm 2005-2006-2007-2008-2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Hệ thống các cấp ngân sách Nhà nước - Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách tại cấp thị xã – nghiên cứu điển hình thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Sơ đồ 1 Hệ thống các cấp ngân sách Nhà nước (Trang 17)
Bảng 2.1: Cơ cấu GDP ở thị xã Từ Sơn. - Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách tại cấp thị xã – nghiên cứu điển hình thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Bảng 2.1 Cơ cấu GDP ở thị xã Từ Sơn (Trang 29)
Bảng 2.2: Tổng hợp thu NSNN thị xã Từ Sơn giai đoạn 2005 - 2009: - Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách tại cấp thị xã – nghiên cứu điển hình thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Bảng 2.2 Tổng hợp thu NSNN thị xã Từ Sơn giai đoạn 2005 - 2009: (Trang 33)
Bảng 2.4: Cơ cấu chi thường xuyên NSNN - Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách tại cấp thị xã – nghiên cứu điển hình thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Bảng 2.4 Cơ cấu chi thường xuyên NSNN (Trang 42)
1, Bảng 1: Tổng hợp thu NSNN thị xã Từ Sơn giai đoạn 2005 - 2007 - Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách tại cấp thị xã – nghiên cứu điển hình thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
1 Bảng 1: Tổng hợp thu NSNN thị xã Từ Sơn giai đoạn 2005 - 2007 (Trang 78)
2, Bảng 2: BÁO CÁO QUYÊT TOÁN THU NGÂN SÁCH NĂM 2008 - Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách tại cấp thị xã – nghiên cứu điển hình thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
2 Bảng 2: BÁO CÁO QUYÊT TOÁN THU NGÂN SÁCH NĂM 2008 (Trang 80)
3, Bảng 3: Tình hình chi ngân sách thị xã Từ sơn giai đoạn 2005-2007. - Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách tại cấp thị xã – nghiên cứu điển hình thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
3 Bảng 3: Tình hình chi ngân sách thị xã Từ sơn giai đoạn 2005-2007 (Trang 86)
4, Bảng 4: QUYẾT TOÁN CHI NGÂN SÁCH CẤP THỊ XÃ TỪ SƠN NĂM 2008 (HĐND thị xã giao) - Tăng cường phân cấp quản lý ngân sách tại cấp thị xã – nghiên cứu điển hình thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
4 Bảng 4: QUYẾT TOÁN CHI NGÂN SÁCH CẤP THỊ XÃ TỪ SƠN NĂM 2008 (HĐND thị xã giao) (Trang 91)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w