Nó có vai trò đặc biệt trong việc huy động cácnguồn lực tài chính và cung cấp các dịch vụ tài chính cho hoạt động sảnxuất, thương mại, dịch vụ và đầu tư phát triển nền kinh tế của đất nư
Trang 1Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS TS Trần Đăng Khâm, người mà kiến thức sâu rộng cùng với sự hướng dẫn, chỉ bảo
quý báu, tận tình của thầy đã giúp cho tôi hoàn thành được tốt nhất khoá luận tốt nghiệp của mình.
Trang 2Mục lục
Lời cảm ơn 1
Mục lục 2
Lời mở đầu 5
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả huy động vốn của Công ty Tài chính 7
1.1 Tổng quan về huy động vốn của Công ty Tài chính 7
1.1.1 Khái quát về Công ty Tài chính 7
1.1.1.1 Khái niệm, vai trò và phân loại Công ty Tài chính 7
1.1.1.2 Hoạt động cơ bản của Công ty Tài chính 11
1.1.2 Huy động vốn của Công ty Tài chính 12
1.1.2.1 Sự cần thiết huy động vốn đối với Công ty Tài chính 12
1.1.2.2 Các hình thức huy động vốn của Công ty Tài chính 14
1.2 Hiệu quả huy động vốn của Công ty Tài chính 19
1.2.1 Quan điểm về hiệu quả huy động vốn của Công ty Tài chính 19
1.2.2 Tiêu chí đánh giá hiệu quả huy động vốn của Công ty Tài chính 20
1.2.2.1 Khả năng đáp ứng nhu cầu vốn 20
1.2.2.2 Cơ cấu vốn hợp lý và an toàn 21
1.2.2.3 Chi phí vốn hợp lý 22
1.2.2.4 Sự ổn định của các hình thức huy động vốn 23
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của Công ty
Trang 31.3.1 Nhân tố chủ quan 24
1.3.2 Nhân tố khách quan 28
Chương 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Công ty Tài chính Công nghiệp Tàu thuỷ 30
2.1 Khái quát về Công ty Tài chính Công nghiệp Tàu thuỷ 30
2.1.1 Quá trình hình thành Công ty Tài chính Công nghiệp Tàu thuỷ 30
2.1.2 Kết quả hoạt động trong thời gian qua của Công ty Tài chính Công nghiệp Tàu thuỷ 33
2.2 Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Công ty Tài chính Công nghiệp Tàu thuỷ 38
2.2.1 Tình hình huy động vốn tại Công ty Tài chính Công nghiệp Tàu thuỷ 38
2.2.1.1 Huy động vốn chủ sở hữu 40
2.2.2.2 Huy động nợ 41
2.2.2 Phân tích hiệu quả huy động vốn Tại Công ty Tài chính Công nghiệp Tàu thuỷ 44
2.2.2.1 Khả năng đáp ứng nhu cầu vốn 45
2.2.2.2 Cơ cấu vốn của Công ty Tài chính 46
2.2.2.3 Sự ổn định của các hình thức huy động vốn 47
2.3 Đánh giá hiệu quả huy động vốn tại Công ty Tài chính Công nghiệp Tàu thủy 48
2.3.1 Thành tựu 48
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 50
ỉ Các hình thức huy động vốn vẫn chưa đa dạng và phong phú 50
Trang 4ỉ Cơ cấu vốn vẫn còn một số điểm chưa hợp lý 50
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn 53
tại Công ty Tài chính Công nghiệp Tàu thuỷ 53
3.1 Định hướng phát triển hoạt động huy động vốn của Công ty Tài chính Công nghiệp Tàu thuỷ trong thời gian tới 53
3.1.1 Chiến lược phát triển của Công ty Tài chính Công nghiệp Tàu thuỷ đến năm 2010 53
3.1.2 Định hướng huy động vốn của Công ty Tài chính Công nghiệp Tàu thủy 54
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Công ty Tài chính Công nghiệp Tàu thủy 56
3.2.1 Hoàn thiện bộ máy và tổ chức hoạt động của Công ty 57
3.2.2 Tăng nhanh nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty Tài chính 59
3.2.3 Đa dạng hoá các phương thức huy động vốn 60
3.2.2.1 Hoàn thiện các phương thức huy động vốn đã có 60
3.2.2.2 Phát triển các phương thức huy động vốn mới 61
3.2.4 Nâng cao chất lượng các hình thức huy động vốn 63
3.3 Kiến nghị 64
3.3.1 Kiến nghị với Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam 64
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 65
3.3.3 Kiến nghị với Chính phủ 66
Kết luận 69
Trang 5Danh mục tài liệu tham khảo 70
Lời mở đầu
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Sự nghiệpcông nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải huy động mọi nguồnlực của xã hội về con người, công nghệ, và vốn Đóng góp không nhỏ vào
sự nghiệp chung đó là các tổ chức tài chính - tín dụng
Tổng công ty Tài chính Công nghiệp Tàu thủy là Công ty Tàichính Nhà nước thuộc Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, hoạtđộng theo Luật các tổ chức tín dụng, Luật các doanh nghiệp Nhà nước
và các Luật có liên quan khác Được thành lập ngày 19/12/1998 theoQuyết định số 3456/QĐ-BGTVT của Bộ Giáo Thông Vận tải và chínhthức đi vào hoạt động từ ngày 9 tháng 5 năm 2005 Công ty tài chínhCông nghiệp tàu thuỷ là một trong những đơn vị thành viên của Tậpđoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam với nhiệm vụ chính là huy độngvốn để đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn, trung và dài hạn trong việcphát triển ngành Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam
Sau gần 5 năm hoạt động, thông qua hoạt động chủ yếu là huyđộng vốn, Tổng Công ty tài chính Công nghiệp Tàu thuỷ đã và đang dầnchứng tỏ được vai trò là đầu mối cung cấp và thu xếp vốn chủ yếu chocác thành viên trong Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, cho các
dự án trọng điểm mà Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam làm chủđầu tư trên các phương diện đầu tư mở rộng, đầu tư mới, đầu tư nângcấp, và bổ sung vốn lưu động
Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động này được đánh giá là chưa cao
Để đứng vững trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt trong thời
Trang 6gian tới và khẳng định vai trò không thể thiếu trong quá trình phát triển củaTập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, nâng cao hiệu quả huy độngvốn là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Tổng Công ty Tài chính Công
nghiệp Tàu thuỷ Đề tài “Nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Tổng
công ty Tài chính Công nghiệp Tàu thuỷ” được lựa chọn nghiên cứu làm
chuyên đề luận văn tốt nghiệp chính là nhằm góp phần đáp ứng đòi hỏi đócủa thực tiễn
Chuyên đề luận văn tốt nghiệp ngoài phần mở đầu và kết luậnđược chia thành 3 phần:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả huy động vốn của
Công ty Tài chính
Chương 2: Thực trạng huy động vốn tại Công ty Tài chính Công
nghiệp Tàu thuỷ
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Công
ty Tài chính Công nghiệp Tàu thuỷ
Do hạn chế về kinh nghiệm và nhận thức, chuyên đề luận văn tốtnghiệp không tránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảocủa thầy cô và các bạn
Hà Nội, ngày tháng năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Mạnh Thắng
Trang 7Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả huy động vốn của Công ty Tài chính
1.1 Tổng quan về huy động vốn của Công ty Tài chính
1.1.1 Khái quát về Công ty Tài chính
1.1.1.1 Khái niệm, vai trò và phân loại Công ty Tài chính
Khái niệm Công ty Tài chính
Các tổ chức trung gian tài chính là một bộ phận cấu thành của hệthống tài chính quốc gia Nó có vai trò đặc biệt trong việc huy động cácnguồn lực tài chính và cung cấp các dịch vụ tài chính cho hoạt động sảnxuất, thương mại, dịch vụ và đầu tư phát triển nền kinh tế của đất nước.Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các tổ chức trung gian tàichính cũng ngày càng phát triển phong phú và đa dạng
Có nhiều cách phân loại các tổ chức trung gian tài chính khác nhau ởcác nước, song nhìn chung thường được phân thành hai loại là các Ngânhàng và các Tổ chức Tài chính phi ngân hàng
Các Tổ chức tài chính phi Ngân hàng là các tổ chức kinh doanh tronglĩnh vực tài chính tiền tệ, được thực hiện một số hoạt động Ngân hàng như lànội dung kinh doanh thường xuyên nhưng không được nhận tiền gửi không
kỳ hạn và làm dịch vụ thanh toán Cũng như các Ngân hàng, các Tổ chức tàichính phi Ngân hàng cũng có chức năng làm trung gian tài chính: huy độngcác món tiền gửi có kỳ hạn, đặc biệt là tiền tiết kiệm để đưa vào lĩnh vực đầutư
Các Tổ chức Tài chính phi Ngân hàng bao gồm: Các Công ty Tàichính và các Công ty cho thuê Tài chính, Công ty Bảo hiểm, Công tyChứng khoán, Công ty quản lý Quỹ đầu tư
Trang 8Các Ngân hàng là loại hình trung gian tài chính tiêu biểu đã được xuấthiện từ lâu (thế kỷ XV) Nó cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhất chonền kinh tế Còn các Công ty Tài chính thì mới được hình thành sau này (thế
kỷ XX) Sự xuất hiện của loại hình này nhằm khắc phục được những hạn chế
về mặt luật pháp đối với hoạt động của các Ngân hàng (các Ngân hàngThương mại thường không được phép mở rộng các dịch vụ Tài chính Ngânhàng sang các lĩnh vực khác) và bổ sung cho các khu vực thị trường mà cácNgân hàng Thương mại không đáp ứng được nhu cầu về vốn đầu tư ngàycàng to lớn
Có nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau về Công ty Tài chính Bảnthân tên gọi Công ty Tài chính mới xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ
XX Tại mỗi nước, tuỳ theo chính sách phát triển loại hình các Tổ chức Tàichính để quy định phạm vi, nội dung các nghiệp vụ mà các Công ty Tàichính được phép thực hiện Thị trường tài chính càng phát triển thì cấu trúc
tổ chức và hoạt động của các Công ty tài chính càng phong phú, đa dạng.Song, các Công ty Tài chính trên thế giới đều có đặc điểm chung là:
- Các Công ty Tài chính là một tổ chức kinh doanh chuyên nghiệptrên thị trường tài chính, hạch toán độc lập, được đăng ký kinh doanh theopháp luật Quy mô thường nhỏ và vừa, và không có nhiều chi nhánh nhưcác Ngân hàng Thương mại
- Khác với các Ngân hàng Thương mại, được hoạt động cả ba khâu:nhận tiền gửi, cho vay và thanh toán, hoạt động của các Công ty Tài chínhhẹp hơn, giới hạn ở một số khâu và mang tính chuyên nghiệp, đặc biệttrong một số nghiệp vụ nhất định Đặc biệt các Công ty Tài chính khôngđược nhận tiền gửi không kỳ hạn hoặc ngắn hạn, không được thực hiệnnghiệp vụ thanh toán Các Công ty Tài chính huy động vốn bằng cách pháthành các công cụ nợ (kỳ phiếu, trái phiếu) và dùng số tiền đó để cho vayhoặc đầu tư
Trang 9Công ty Tài chính là một trung gian tài chính, vì vậy nó mang đầy đủvai trò của một trung gian tài chính trong nền kinh tế Một trung gian tàichính có nhiệm vụ thu hút, tích tụ tập trung các nguồn vốn nhằm chonhững người có nhu cầu sử dụng vốn vay Thông qua các phương thức huyđộng vốn chủ yếu là phát hành giấy tờ có giá, Công ty Tài chính thực hiệnhoạt động tín dụng, kinh doanh trên thị trường chứng khoán, hoạt độngngoại hối, các dịch vụ bảo hiểm, bao thanh toán, tư vấn tài chính Công tyTài chính đã đem lại lợi ích đầy đủ cho người có vốn (người cho vay),người cần vốn (người đi vay) và cho cả nền kinh tế Với tính chất là một tổchức tài chính chuyên môn hoá cao trong một số nghiệp vụ được quy định,các Công ty Tài chính tạo ra được nhiều lợi thế như sau:
- Thứ nhất: Công ty Tài chính giúp những khách hàng của mình tiếtkiệm được các chi phí về thông tin và giao dịch khi cung ứng hoặc sử dụngcác nguồn vốn Đặc biệt là tạo ra các cơ hội đầu tư sinh lời cho các cánhân: các cá nhân sẽ không dễ gì làm lợi từ các món tiền của mình do thiếunhững thông tin cần thiết trên thị trường tài chính Hơn nữa, món tiền của
họ lại nhỏ, chi phí giao dịch lại quá lớn, thủ tục đôi khi lại rườm rà khiến cánhân gặp khó khăn khi đầu tư Trong khi đó, Công ty Tài chính có đủ điềukiện cần thiết để phân tích, tổng hợp tình hình, do đó, việc đầu tư sẽ dễ đemlại lợi nhuận hơn Khi gửi tiền vào các Công ty Tài chính, nguồn lợi sẽmang lại cho cả hai bên nhờ tính kinh tế do quy mô, nhờ sự phân tán rủi ro
đa dạng hoá và nhờ việc giảm chi phí giao dịch trong tổng thể Các Công tyTài chính giúp khách hàng của mình tiết kiệm được các chi phí thông tin vàgiao dịch khi cung ứng hoặc sử dụng các nguồn vốn bởi họ luôn có nhữngchiến lược hợp lý, linh hoạt trong quan hệ với khách hàng, trong việc triểnkhai các nghiệp vụ được phép làm nên họ tạo ra được tỷ suất lợi nhuậncao, đảm bảo đem lại những cơ hội đầu tư tốt cho khách hàng gửi tiền vàoCông ty
Trang 10- Thứ hai: Công ty Tài chính là kênh có tính chất chuyên môn hoátrong việc thu hút và đầu tư các khoản vốn trung và dài hạn Các Công tyTài chính thường có khả năng cung cấp vốn cho các giao dịch dài hạn và cótính rủi ro cao hơn (đầu tư mạo hiểm) Nhờ đó, Công ty Tài chính đã gópphần làm phong phú thêm các dịch vụ tài chính, ngân hàng.
- Thứ ba: Hoạt động của các Công ty Tài chính cũng rất phù hợp vớicác hoạt động giao dịch vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, và do đó rấtphù hợp với các nước đang phát triển Vì ngoài các Ngân hàng, các Công
ty Tài chính với sự linh hoạt trong hoạt động cũng đã tập trung được mộtluợng vốn lớn từ nguồn tiết kiệm từ dân chúng và các tổ chức kinh tế trênthị trường tài chính Các Công ty Tài chính có thể phát hành những giấy tờ
có giá với lãi suất cao, mệnh giá thấp… để thu hút được được sự đầu tư củacác nhà đầu tư lớn, nhỏ trên thị trường tài chính vào nó, điều này sẽ khiếnnguồn vốn huy động được nhiều hơn, đồng thời mở rộng được giao dịchcho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Thứ tư: Đối với các Công ty Tài chính thuộc các tập đoàn kinh tế,hay trực thuộc Tổng Công ty có điều kiện hiểu biết sâu về các Công tythành viên, có nhiều điều kiện thuận lợi hơn trong việc trong việc quản lýrủi ro tài chính và huy động vốn cho tập đoàn, trong việc cấp vốn cho cácCông ty thành viên hay khách hàng của Công ty thành viên trong tập đoàn
- Thứ năm: Sự hình thành và hoạt động của các Công ty Tài chính đãthúc đẩy cạnh tranh trong đầu tư trên thị trường tài chính Thông qua việcđáp ứng các nhu cầu về vốn trung và dài hạn, hoạt động của các Công tyTài chính đã và đang thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính Nhữngnăm gần đây, nhiều loại hình Công ty Tài chính ra đời làm chất lượng phục
vụ được cải thiện, giá vốn đầu tư ngày càng giảm, tạo thêm nhiều khả nănglựa chọn cho khách hàng Vì vậy, Ngân hàng và Công ty Tài chính, mỗiloại hình đều có thế mạnh riêng, nhưng tất cả đều góp phần tăng cường
Trang 11Hiện nay Công ty Tài chính đang có xu hướng xích lại gần các Ngânhàng Thương mại về mặt chức năng khi thực hiện được ngày càng đa dạngcác dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp
1.1.1.2 Hoạt động cơ bản của Công ty Tài chính
Công ty Tài chính luôn có hai loại hoạt động chính: đó là huy độngvốn và cho vay, ngoài ra nó còn có một số hoạt động kinh doanh khác
Những năm vừa qua, do hoạt động của Công ty Tài chính bị bó hẹp vàgiới hạn hơn ở một số nghiệp vụ nhất định mang tính chuyên nghiệp nên khôngnhững loại hình cho vay của Công ty Tài chính đã luôn có sự thay đổi mà cáchthức huy động để cho vay cũng đã chuyển hướng
Các Công ty Tài chính không được nhận tiền gửi không kỳ hạn hoặcngắn hạn, không được thực hiện nghiệp vụ thanh toán Hoạt động huy độngvốn của Công ty Tài chính chủ yếu được thực hiện thông qua huy động tiềngửi có kỳ hạn hoặc phát hành các chứng khoán nợ hay vay của các Ngânhàng và các tổ chức tín dụng khác Vì vậy, Công ty Tài chính thường cóvốn lệ thuộc chủ yếu vào các định chế tài chính khác
Vốn huy động được sử dụng để cho vay ngắn hạn, trung và dài hạnđối với các đối tượng sản xuất hoặc tiêu dùng, thực hiện nghiệp vụ baothanh toán hoặc thuê mua Ngày nay, hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớnnhất trong thu nhập của các Công ty Tài chính Điều này phản ánh nhu cầu
đa dạng hoá các hoạt động và giảm thiểu rủi ro trong việc cho vay Bêncạnh đó, nhiều Công ty Tài chính đã theo đuổi phương thức mà các chuyêngia tài chính gọi là chiến lược thích ứng Nhiều Công ty sở hữu cá nhânngày càng nhắm vào bộ phận khách hàng đặc thù và tạo ảnh hưởng lên toàn
bộ sinh hoạt của họ để chiếm lĩnh những thị trường đặc thù đó
Như vậy, hoạt động cơ bản của một Công ty Tài chính bao gồm:
Hoạt động huy động vốn
Trang 12- Công ty Tài chính được nhận tiền gửi có kỳ hạn của các cánhân và các tổ chức kinh tế ;
- Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loạigiấy tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức và cánhân trong và ngoài nước;
- Vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước;
- Tiếp nhận vốn uỷ thác của Chính phủ, các tổ chức và cá nhântrong và ngoài nước
Cung cấp các dịch vụ Ngân hàng
Công ty Tài chính được thực hiện tất cả các loại dịch vụ Ngânhàng trừ việc phát hành và cho khách hàng sử dụng các phương tiệnthanh toán (tiền, thẻ tín dụng, ngân phiếu) và thanh toán vãng lai, liênngân hàng (bù trừ)
1.1.2 Huy động vốn của Công ty Tài chính
1.1.2.1 Sự cần thiết huy động vốn đối với Công ty Tài chính
Vốn là cơ sở nền tảng để Công ty Tài chính thực hiện hoạt
Trang 13Vốn là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp duy trì và pháttriển sản xuất kinh doanh, đồng thời là cơ sở để phân phối và đánh giáhiệu quả các hoạt động kinh tế Đối với Công ty Tài chính, vốn còn là
cơ sở nền tảng để tiến hành tổ chức mọi hoạt động kinh doanh Thậtvậy, với đặc trưng của Công ty Tài chính là tổ chức kinh doanh loạihàng hoá đặc biệt trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn thì vốn khôngcòn đơn thuần là phương tiện kinh doanh mà nó còn là đối tượng kinhdoanh chính của Công ty Tài chính, trực tiếp quyết định tới quy môhoạt động kinh doanh của Công ty Tài chính Như vậy, những Công tyTài chính có vốn lớn sẽ có nhiều thế mạnh trong kinh doanh, ngược lạinhững Công ty Tài chính không có hoặc có ít vốn cũng đồng nghĩa vớiviệc gặp nhiều khó khăn khi tiến hành kinh doanh
Quyết định khả năng cạnh tranh của Công ty Tài chính
Những Công ty Tài chính có quy mô lớn, trình độ nghiệp vụ củađội ngũ nhân viên cao cũng như trang bị phương tiện kỹ thuật hiệnđại là tiền đề quan trọng cho việc thu hút vốn Đồng thời khả năng vốnlớn lại là điều kiện thuận lợi đối với Công ty Tài chính trong việc mởrộng quan hệ tín dụng với các Ngân hàng và các tổ chức kinh tế xã hộitrong nền kinh tế Khi đó, Công ty Tài chính sẽ thu hút được ngàycàng nhiều khách hàng đến với mình, kết quả là doanh số hoạt độngcủa Công ty Tài chính sẽ tăng lên nhanh chóng và Công ty Tài chính
sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh Mặt khác, vốn lớn sẽ giúpcho Công ty Tài chính có đủ khả năng tài chính để kinh doanh đa dạngtrên thị trường, mở rộng các lĩnh vực kinh doanh như: kinh doanhchứng khoán, kinh doanh dịch vụ thuê mua chứ không chỉ dừng lại ởdịch vụ cho vay đơn thuần Thêm vào đó, chính các hình thức kinhdoanh đa dạng này đã góp phần phân tán giảm thiểu rủi ro, tạo thêmvốn cũng như tăng sức cạnh tranh cho Công ty Tài chính trên thịtrường
Trang 14 Đảm bảo khả năng thanh toán và uy tín của Công ty Tài chính
Trong hoạt động Công ty Tài chính, uy tín có thể nói là yếu tố quantrọng, quyết định trực tiếp đến sự sống còn của Công ty Tài chính Uy tíncủa Công ty Tài chính trong kinh doanh được thể hiện trước hết ở khả năngsẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng Khả năng thanh toán chi trảcủa Công ty Tài chính hàng càng cao thì uy tín cũng như vốn khả dụng củaCông ty Tài chính càng lớn Hay nói cách khác, khả năng thanh toán củaCông ty Tài chính tỷ lệ thuận với lượng vốn của Công ty Tài chính nóichung và vốn khả dụng của Công Tài chính nói riêng
Như vậy, với khả năng cung ứng vốn lớn, các Công ty Tài chính cóthể tiến hành hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, cạnhtranh có hiệu quả nhưng đồng thời lại giữ được chữ tín và nâng cao danhtiếng của Công ty Tài chính
Quyết định quy mô hoạt động kinh doanh của Công ty Tài chính.
Thực tế đã chứng minh, những Công ty Tài chính có vốn lớnthường có khoản mục đầu tư và cho vay đa dạng hơn rất nhiều so vớinhững Công ty Tài chính có quy mô vốn nhỏ, phạm vi và khối lượng chovay của các Ngân hàng này cũng lớn hơn Hơn nữa, do lượng vốn hạnhẹp nên các Công ty Tài chính nhỏ sẽ không phản ứng nhanh nhạy trướcnhững tình huống biến động về lãi suất thị trường, từ đó tác động đếnkhả năng huy động vốn đầu tư từ các tầng lớp dân cư và các thành phầnkinh tế Vì vậy, khi khả năng huy động vốn của Công ty Tài chính dồidào thì chắc chắn Công ty Tài chính sẽ mở rộng và đáp ứng được nhucầu vay vốn, có điều kiện để mở rộng thị trường tín dụng, tăng đều khảnăng thanh toán và dịch vụ Công ty Tài chính
1.1.2.2 Các hình thức huy động vốn của Công ty Tài chính
Trang 15Vốn của Công ty Tài chính bao gồm Vốn chủ sở hữu và nợ, vì vậyhuy động vốn của Công ty Tài chính bao gồm huy động vốn chủ sở hữu vàhuy động động nợ.
a Huy động Vốn chủ sở hữu
Để bắt đầu hoạt động, Công ty Tài chính phải có một lượng vốn nhấtđịnh Đây là loại vốn Công ty tài chính có thể sử dụng lâu dài, hình thànhnên trang thiết bị, nhà cửa cho Công ty Tài chính Hình thức huy động vốnnày rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của Công tyTài chính
Huy động vốn ban đầu (vốn góp)
Tuỳ theo tính chất của mỗi Công ty Tài chính mà nguồn gốc hìnhthành vốn ban đầu khác nhau Nếu là Công ty Tài chính Nhà nước, vốn banđầu do Nhà nước cấp (vốn của Nhà nước) Nếu là Công ty Tài chính Cổphần, vốn sẽ do các cổ đông đóng góp thông qua mua cổ phần hoặc cổphiếu Đối với Công ty Tài chính liên doanh vốn do các bên liên doanhgóp Công ty Tài chính trực thuộc tổ chức tín dụng, vốn ban đầu sẽ dochính tổ chức tín dụng đó cấp bằng vốn chủ sở hữu của mình
Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động
Trong quá trình hoạt động, Công ty Tài chính có thể tăng vốn chủ sởhữu theo nhiều phương thức khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể
+ Nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm
để mở rộng quy mô hoạt động, hoặc để đổi mới trang thiết hoặc để đáp ứngyêu cầu ra tăng vốn của chủ do Ngân hàng Nhà nước quy định Đặc điểmcủa hình thức huy động này là không thường xuyên, tuy nhiên, nó giúp choCông ty Tài chính có được lượng vốn sở hữu lớn vào lúc cần thiết
+ Nguồn từ lợi nhuận không chia: Trong điều kiện thu nhập sau thuếlớn hơn không, Công ty Tài chính có xu hướng gia tăng vốn chủ sở hữubằng cách chuyển một phần thu nhập sau thuế thành vốn chủ sở hữu Tỷ lệ
Trang 16tích luỹ tuỳ thuộc vào cân nhắc của chính Công ty Tài chính về tích luỹ vàtiêu dùng.
Các quỹ
Công ty Tài chính có nhiều quỹ Mỗi quỹ có mục đích riêng Trướctiên là quỹ dự phòng tổn thất Quỹ này được trích lập hàng năm và đượctích luỹ lại nhằm bù đắp những tổn thất xảy ra Quỹ bảo toàn vốn nhằm bùđắp hao mòn của vốn dưới tác động của lạm phát Quỹ thặng dư là phầnđánh giá lại tài sản của Công ty Tài chính và chênh lệch giữa thị giá vàmệnh giá cổ phiếu khi phát hành cổ phiếu mới Tùy theo quy định cụ thểcủa từng nước, các Công ty Tài chính có thể có quỹ phúc lợi, quỹ khenthưởng, quỹ giám đốc
Các quỹ của Công ty Tài chính thuộc sở hữu của Công ty Nguồnhình thành các quỹ này là từ thu nhập của Công ty Tuy nhiên, một số quỹkhông được sử dụng lâu dài
Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần
Các khoản vay trung hạn và dài hạn của Công ty Tài chính mà cókhả năng chuyển đổi thành vốn cổ phần có thể được coi là một bộ phận củavốn chủ sở hữu của Công ty Tài chính (vốn bổ sung) do nguồn này có một
số đặc điểm như sử dụng lâu dài, có thể đầu tư vào nhà cửa, đất đai và cóthể không phải hoàn trả khi đến hạn
b Huy động nợ
Công ty Tài chính có thể sử dụng nhiều công cụ huy động nợ khácnhau nhưng nhìn chung vẫn tập trung chủ yếu vào các công cụ sau:
Nhận tiền gửi và làm đại lý bảo hiểm
Công ty Tài chính được nhận tiền gửi của mọi tổ chức và cá nhân trong nềnkinh tế Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, nguồn vốn huy động từ tiền gửi chưatương xứng với vai trò của nó trong tổng nguồn vốn huy động của Công ty Tài
Trang 17Cùng với xu thế đa dạng hoá hoạt động, Công ty Tài chính còn thựchiện dịch vụ bảo hiểm Dịch vụ bảo hiểm giúp cho Công ty Tài chính huyđộng được một lượng vốn rất lớn từ khoản thu phí bảo hiểm Khoản phínày trong thời gian nhàn rỗi sẽ là một nguồn vốn quan trọng.
Vay trực tiếp các tổ chức kinh tế trong nước và quốc tế
Công ty Tài chính có thể vay vốn trực tiếp từ mọi tổ chức, cá nhânnếu có nhu cầu Nguồn vốn này có thể là nguồn ngắn hạn, trung hạnhoặc dài hạn Việc vay mượn có thể diễn ra trong ngắn hạn để phục vụnhu cầu thanh toán nhanh như vay trên thị trường liên ngân hàng hoặcvay từ các trung gian tài chính để tài trợ cho các dự án Tuy nhiên cácCông ty Tài chính chủ yếu vay trực tiếp từ Công ty mẹ và các thành viêncùng tập đoàn với lãi suất ưu đãi
Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có gía khác
Trái phiếu là tên chung của các giấy tờ vay nợ dài hạn và trung hạn.Trái phiếu hay còn gọi là trái khoán là một công cụ nợ mà người phát hànhđảm bảo sẽ chi trả cho người thụ hưởng một khoản tiền nhất định sau mộtkhoảng thời gian xác định
Sự hấp dẫn của trái phiếu phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Lãi suất trái phiếu: người đầu tư luôn muốn hưởng một lãi suất caonhưng người phát hành phải cân nhắc mức lãi suất có thể chấp nhận được
- Kỳ hạn của trái phiếu: tuỳ từng thời kỳ phát triển của nền kinh tếhay tâm lý mà trái phiếu với kỳ hạn khác nhau được ưa thích khác nhau
Kỳ hạn càng dài thì rủi ro càng cao nhưng lãi suất để bù đắp rủi ro cũngcàng cao
- Uy tín của doanh nghiệp: các doanh nghiệp có uy tín càng vữngmạnh thì dễ dàng phát hành trái phiếu ra công chúng
Trang 18Có rất nhiều loại trái phiếu hiện nay đang lưu hành trên thị trường tàichính mà Công ty Tài chính có thể phát hành: Trái phiếu có lãi suất cốđịnh, trái phiếu có lãi suất thay đổi, trái phiếu có thể thu hồi, trái phiếucông trình.
Chứng chỉ tiền gửi (CD) là một công cụ nợ được bán cho người gửitiền Nó thanh toán lãi hàng năm theo một khoản đã định và khi đến kỳ hạnthanh toán thì hoàn trả hết giá mua ban đầu Chứng chỉ tiền gửi có thể muabán trên thị trường
Tiếp nhận vốn uỷ thác đầu tư của Chính phủ, các Tổ chức và cá nhân
Uỷ thác là việc Công ty Tài chính nhận quản lý một lượng giá trị củamột đơn vị kinh tế khác Công ty Tài chính có quyền sử dụng nhưng không
có quyền sở hữu lượng giá trị này Lợi nhuận thu từ việc sử dụng, đầu tư trênlượng giá trị sẽ trích một phần gọi là phí uỷ thác cho Công ty
Có nhiều hình thức uỷ thác như uỷ thác đầu tư, uỷ thác quản lý tàisản, uỷ thác sử dụng vốn Nguồn uỷ thác ở Công ty Tài chính hiện nay chủyếu là uỷ thác đầu tư
Công ty Tài chính trong tập đoàn ở vị trí người được uỷ thác lẫnngười uỷ thác Các tổ chức uỷ thác cho Công ty Tài chính chủ yếu là Công
ty mẹ, các đơn vị thành viên và các trung gian tài chính khác Công ty mẹthường thông qua việc uỷ thác vốn cho Công ty Tài chính để hỗ trợ vốnđầu tư, phát triển cho các thành viên Mục đích thành lập của Công ty Tàichính chủ yếu là huy động vốn, hỗ trợ các đơn vị trong Tổng Công ty vàđơn vị cùng ngành kinh tế kỹ thuật nên Công ty Tài chính có lợi thế về việcnắm thông tin, nghiệp vụ chuyên môn trong ngành, dẫn đến việc thẩm địnhcác dự án tín dụng chính xác hơn, mối quan hệ với khách hàng chặt chẽhơn Do vậy mà các trung gian tài chính khác khi muốn đầu tư vào một dự
án trong ngành sẽ uỷ thác qua Công ty Tài chính nhằm hạn chế rủi ro
Trang 191.2 Hiệu quả huy động vốn của Công ty Tài chính
1.2.1 Quan điểm về hiệu quả huy động vốn của Công ty Tài chính
Công ty Tài chính hoạt động trong sự cạnh tranh khốc liệt của các
tổ chức tín dụng khác Hoạt động của Công ty Tài chính rất nhạy cảmđối với nền kinh tế Bất kỳ một biến động kinh tế, chính trị, xã hội nàocũng ngay lập tức gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nói chung vàhoạt động huy động vốn nói riêng của Công ty Tài chính và đòi hỏi Công
ty Tài chính phải có những điều chỉnh về cơ cấu Do vậy, hiệu quả huyđộng vốn không chỉ dừng lại ở việc đánh giá chính xác đúng đắn hoạtđộng huy động vốn của Công ty Tài chính mà còn là khả năng thích nghi
và khẳng định sự phát triển của mình trên thị trường
Hiệu quả hoạt động huy động vốn của Công ty Tài chính đượcthực hiện để đáp ứng cho hoạt động của Công ty Tài chính nói chung vàcho nhu cầu đầu tư vốn của Công ty Tài chính nói riêng Vì vậy, hiệuquả huy động vốn của Công ty Tài chính được thể hiện ở khả năng đápứng cao nhất nhu cầu vốn cho hoạt động của Công ty Tài chính Khảnăng đó được thể hiện thông qua sự đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầuđầu tư vốn Đây chính là yếu tố đầu tiên quan trọng nhất để đánh giáhiệu quả huy động vốn của Công ty Tài chính Bên cạnh khả năng đápứng kịp thời nhu cầu đầu tư vốn thì hiệu quả huy động vốn còn phảiđược thể hiện thông qua chất lượng của các nguồn vốn huy động Chấtlượng của nguồn vốn huy động của Công ty Tài chính được thể hiện ở cơcấu vốn hợp lý, an toàn và chi phí vốn, đảm bảo khả năng sinh lời củaCông ty Ngoài ra, hiệu quả huy động vốn của Công ty Tài chính còn thểhiện bởi sự ổn định của lượng vốn huy động Điều đó có ý nghĩa rất quantrọng, nó tạo cho hoạt động của Công ty Tài chính luôn được an toàn vàhiệu quả
Như vậy, hiệu quả huy động vốn của Công ty Tài chính chính là khảnăng đáp ứng nhu cầu đầu tư vốn của Công ty Tài chính với một cơ cấu hợp
Trang 20lý, an toàn, ổn định cùng với chi phí vốn phù hợp với khả năng sinh lời củaCông ty
Xuất phát từ nhận định trên, để đánh giá một cách xác thực hiệu quảhoạt động huy động vốn của Công ty Tài chính cần dựa trên các tiêu chí cơbản sau đây:
- Khả năng đáp ứng nhu cầu vốn
- Cơ cấu vốn hợp lý và an toàn
- Chi phí vốn hợp lý
- Sự ổn định của các hình thức huy động vốn
1.2.2 Tiêu chí đánh giá hiệu quả huy động vốn của Công ty Tài chính
1.2.2.1 Khả năng đáp ứng nhu cầu vốn
Đây là chỉ tiêu khó tính toán cụ thể mà dựa trên so sánh giữa nhu cầuvốn và nguồn huy động được Nhu cầu về vốn của doanh nghiệp có thể lànhu cầu ngắn hạn như: thanh toán hay nhu cầu dài hạn như: đầu tư, cho vayvào các dự án dài hạn
Nhu cầu về vốn của Công ty Tài chính có thể tính toán, dự toánnhưng khó chính xác tuyệt đối do có những nhu cầu nảy sinh tức thời Bởivậy, việc huy động không chỉ thể hiện ở việc đáp ứng nhu cầu dự tính trước
mà còn thể hiện ở khả năng đáp ứng linh hoạt các nhu cầu tức thời trongngắn hạn
Có các loại nhu cầu về vốn sau mà hoạt động vốn mà một Công tyTài chính cần đáp ứng:
- Nhu cầu về dự trữ, thanh toán: Mỗi Công ty Tài chính tuỳ vào từnggiai đoạn mà sẽ tính toán được mức ngân quỹ tối ưu Bên cạnh đó, doanhnghiệp còn phát sinh một số nhu cầu vốn trong ngắn hạn do phải thanh toánnhanh hay đảm bảo tỷ lệ dự trữ theo quy định của pháp luật
Trang 21- Nhu cầu cho hoạt động kinh doanh: Mọi Công ty Tài chính muốnthực hiện hoạt động kinh doanh của mình thì đều phải cần có vốn Nhu cầuvay vốn của khách hàng, nhu cầu đầu tư, liên doanh sẽ không thể thựchiện được nếu Công ty Tài chính không huy động được vốn Đây chính lànhu cầu quan trọng nhất mà Công ty Tài chính cần phải đáp ứng.
- Các nhu cầu khác như: nhu cầu mua sắm, nâng cấp tài sản cốđịnh… Mọi hoạt động về mua sắm, sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định hay
mở rộng hoạt động kinh doanh của Công ty Tài chính đều dẫn đến nhu cầu
về vốn
Chỉ tiêu này được đánh giá qua việc so sánh nguồn vốn huy độngđược với các nhu cầu tín dụng, thanh toán và các nhu cầu khác để thấynguồn vốn huy động có thể đáp ứng được bao nhiêu, Công ty Tài chính
sẽ phải huy động thêm bao nhiêu để thoả mãn nhu cầu ấy
Để đạt được mục tiêu này, Công ty Tài chính phải xây dựng đượcmột kế hoạch huy động vốn hợp lý bao gồm các loại vốn ngắn hạn, trunghạn và dài hạn đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng vốn, tránh tình trạng bất hợp
lý giữa vốn huy động với nhu cầu sử dụng vốn
1.2.2.2 Cơ cấu vốn hợp lý và an toàn
Nói đến cơ cấu vốn tức là đề cập tới tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ mà mộtCông ty Tài chính đang sử dụng Một cơ cấu vốn tối ưu cần đạt được cânbằng giữa rủi ro và lợi nhuận Bởi vậy, muốn đánh giá về hoạt động huyđộng vốn là hiệu quả và hợp lý hay không phải xem xét đến cơ cấu vốn củaCông ty Tài chính đem lại từ việc huy động vốn Một trong những mục tiêuquan trọng của việc huy động vốn là nhằm hình thành lên cơ cấu vốn tối ưucho Công ty trong từng thời điểm cụ thể Giữa cơ cấu vốn và huy động vốncòn có tác động qua lại: cơ cấu vốn sẽ góp phần quyết định đến hoạt độnghuy động vốn và ngược lại hoạt động huy động vốn hình thành nên cơ cấuvốn
Trang 22Ngày nay, các Công ty Tài chính không còn chịu hoạt động bó hẹptrong phạm vi một vùng nào đó, mà luôn cố gắng mở rộng mạng lưới hoạtđộng kinh doanh của mình thông qua việc mở chi nhánh, văn phòng đạidiện trong và ngoài nước Kết quả là mối quan hệ hợp tác kinh doanh giữaCông ty Tài chính và các tổ chức kinh tế khác ngày càng được tăng cườngchặt chẽ hơn Điều này giúp Công ty Tài chính hoạt động hiệu quả hơn,nhưng mặt khác cũng sẽ nguy hiểm hơn nếu như một trong những đối táckinh doanh hoạt động yếu kém hay thậm chí bị phá sản Vì vậy, rủi ro tronghoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn của Công tyTài chính nói riêng cũng tăng lên theo mức độ phát triển về mặt tổ chức vàquy mô hoạt động kinh doanh
Như vậy, để đảm bảo an toàn nguồn vốn, trước hết là nằm ở bản thânviệc quản lý điều hành của chính Công ty Tài chính đó, bằng việc chấphành đầy đủ những chỉ tiêu về an toàn vốn như: Hệ số an toàn vốn của chủ
so với tổng tiền gửi, Hệ số giữa vốn chủ sở hữu và các vốn dài hạn, Hệ sốthanh toán… Việc có áp dụng triệt để những chỉ tiêu trên hay không là còntuỳ thuộc vào quy định của Ngân hàng nhà nước, vào chiến lược kinhdoanh, vào đặc điểm riêng của từng Công ty Tài chính trong những điềukiện cụ thể nhất định Tuy nhiên, nếu mỗi Công ty Tài chính áp dụng đượcthì nó không chỉ đảm bảo an toàn cho bản thân Công ty Tài chính mà còncủng cố sự vững chắc chung cho toàn hệ thống tài chính quốc gia
1.2.2.3 Chi phí vốn hợp lý
Chi phí vốn nói chung được hiểu là chi phí cơ hội của việc sử dụngvốn Phân chia theo nợ và vốn chủ thì chúng ta cũng có chi phí của nợ vàchi phí vốn chủ
Đối với hoạt động huy động nợ thì chi phí của vốn chính là chi phí
nợ được tính bằng lãi suất của khoản nợ đó Bên cạnh đó còn có một số chiphí như chi phí tìm kiếm nguồn, chi phí phát hành
Trang 23Chi phí vốn chủ có thể được coi bằng lợi nhuận kỳ vọng của chủ sởhữu trên khoản đầu tư Có ba cách xác định mức lợi nhuận kỳ vọng này làphương pháp CAPM, phương pháp luồng tiền chiết khấu và phương pháplấy lãi suất trái phiếu cộng với phần thưởng rủi ro Chi phí vốn chủ có thểxác định dễ dàng hơn nếu có một thị trường tài chính phát triển với đầy đủthông tin và công cụ Còn đối với những nước có thị trường tài chính chưaphát triển như Việt Nam thì chi phí vốn chủ chưa mấy được quan tâm cũngnhư hiểu cặn kẽ.
Như vậy, chỉ tiêu chi phí vốn dùng để đánh giá hiệu quả của việc huyđộng vốn là nguồn huy động phải có chi phí thấp, hoặc chi phí hợp lý Việcxác định nguồn có chi phí hợp lý là vấn đề hết sức quan trọng đối với hoạtđộng huy động vốn của Công ty Tài chính Chi phí vốn phải đảm bảo hoạtđộng sử dụng vốn đem lại lợi nhuận đủ để bù đắp chi phí Đảm bảo hoạtđộng của Công ty Tài chính có hiệu quả
Quản lý chi phí vốn là hoạt động thường xuyên và quan trọng củamỗi Công ty Tài chính vì mỗi sự thay đổi về cơ cấu nguồn vốn hay lãi suấtđều có thể làm thay đổi chi phí trả lãi, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập sauthuế của Công ty Tài chính
Trang 24Thông thường, các nguồn vốn huy động đều có thể dự tính trước thờigian sử dụng như nguồn tiền gửi có thời hạn, nguồn phát hành có thời gianxác định, hay nguồn đi vay cũng có thời hạn vay Bên cạnh đó có nhữngnguồn có thời gian gắn liền với thời gian hoạt động của Công ty như pháthành cổ phiếu, lợi nhuận giữ lại Mỗi nguồn đều có đặc điểm riêng về sự ổnđịnh và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Bởi vậy, Công ty cần tính đến sự ổnđịnh của các nguồn trên cơ sở phân tích nhiều mặt để có sự lựa chọn.
Vốn huy động của Công ty Tài chính phải có sự tăng trưởng ổn định
về số lượng để thoả mãn nhu cầu tín dụng, cũng như các hoạt động kinhdoanh khác ngày càng tăng của Công ty Tài chính Tuy nhiên, vốn huyđộng được phải luôn ổn định về mặt thời gian Nếu Công ty Tài chính huyđộng được một lượng vốn lớn nhưng lại không ổn định, thường xuyên cónhững dòng tiền lớn bị rút ra thì lượng vốn dành cho đầu tư, cho vay sẽkhông lớn, hiệu quả huy động vốn không cao, thường xuyên phải đối đầuvới vấn đề thanh khoản Kết quả, trong nhiều trường hợp Công ty Tài chính
sẽ gặp phải rủi ro lớn là mất khách hàng Ngược lại, nếu vốn huy độngđược ổn định, dù nhỏ Công ty cũng có thể yên tâm sử dụng số tiền đó vàocác hoạt động chắc chắn, lâu dài và thu được lợi nhuận cao
Chỉ tiêu này được đánh giá qua: mức độ tăng giảm nguồn vốn huyđộng và số lượng vốn huy động có kỳ hạn Nếu nguồn vốn tăng đều quacác năm, có tốc độ gia tăng của từng thành phần vốn huy động ổn định, đềuđặn, thì nguồn vốn huy động đó được coi là nguồn vốn tăng trưởng ổnđịnh
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của Công ty Tài chính
1.3.1 Nhân tố chủ quan
Trình độ cán bộ và tổ chức quản lý tại Công ty
Trang 25Nhân tố này ảnh hưởng tới công tác huy động vốn không trực tiếpnhưng lại có vai trò rất quan trọng Nó thường biểu hiện qua trình độ, thái
độ phục vụ của các nhân viên Một Công ty Tài chính có hệ thống cán bộnhân viên có thái độ phục vụ vui vẻ, lịch sự, tận tình, chu đáo đối với kháchhàng đến gửi tiền, tác phong làm việc nhanh nhẹn với chuyên môn nghiệp
vụ vững vàng sẽ gây được ấn tượng tốt đối với khách hàng Đây là mộtđiểm mạnh của Công ty Tài chính giúp Công ty đó cạnh tranh với các Tổchức tín dụng khác
Lãnh đạo Công ty giỏi sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn, phùhợp với tình hình chung của ngành cũng như đất nước Nhân viên có trình
độ cao có khả năng đưa ra nhiều sáng kiến trong công tác huy động vốncũng như các hoạt động khác của Công ty Tài chính Tất cả những biểuhiện trên sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả huy động vốn của Công ty Tàichính trên thị trường tài chính
Hiệu quả cho vay, đầu tư của Công ty
Hiệu quả cho vay, đầu tư của Công ty có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệuquả huy động vốn Nếu hoạt động cho vay, đầu tư của Công ty được thựchiện tốt, đồng nghĩa với việc vốn huy động sẽ được sử dụng có hiệu quả.Việc sử dụng vốn huy động có hiệu quả sẽ tạo ra nhu cầu về sử dụng vốn,
từ đó tạo động lực thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả huy động vốn
Ngược lại, nếu hoạt động cho vay, đầu tư của Công ty hoạt độngkhông có hiệu quả sẽ dẫn đến nguồn vốn huy động không được sử có hiệuquả Như vậy, sẽ gây tác động đến hoạt động huy động vốn, làm giảm hiệuquả huy động vốn của Công ty
Như vậy, hiệu quả cho vay, đầu tư của Công ty sẽ tác động trực tiếptới hiệu quả huy động vốn Để hiệu quả huy động vốn đạt được thì hiệu quả
sử dụng vốn cũng phải đạt được,
Tình hình Tài chính của Công ty
Trang 26Tình hình tài chính của Công ty cũng có ảnh hưởng trực tiếp đếnhiệu quả huy động vốn Tình hình tài chính Công ty tốt hay yếu kém đềuảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn Các nhà cung ứng vốn luôn muốntăng cường tài trợ cho những doanh nghiệp có tình hình tài chính lànhmạnh.Vì vậy, nếu tình hình tài chính của Công ty yếu kém, khả năng thanhtoán của Công ty thấp thì Công ty khó có thể huy động thêm vốn từ các tổchức cá nhân trong nền kinh tế Ngược lại, nếu Công ty đang có tình hìnhtài chính tốt sẽ có điều kiện thuận lợi để huy động thêm vốn Từ đó nângcao thêm được hiệu quả huy động vốn
Tình hình tài chính chúng ta đề cập ở đây còn bao gồm cả nhu cầu vềvốn của Công ty Tình hình tài chính khả quan, các tỷ số doanh lợi tài sản(ROA), doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) cao đủ bù chi phí nợ sẽ dẫn đến xuhướng sử dụng nợ nhiều hơn của Công ty, như vậy hiệu quả vốn sẽ được tăngcường
Uy tín của Công ty thể hiện ở rất nhiều mặt như:
- Khả năng cung cấp và đáp ứng các dịch vụ tài chính: Một Công tyTài chính luôn có các chính sách lãi suất, chính sách sản phẩm, chính sáchkhách hàng theo đúng qui định chung của Ngân hàng Nhà nước, mà vẫnphù hợp với những biến động của ngành, của nền kinh tế sẽ có lợi thế rấtlớn trong việc thu hút khách hàng Tâm lý khách hàng luôn thích nhữngCông ty Tài chính hứa hẹn đem lại cho mình một khoản lợi lớn nhất từkhoản tiết kiệm của mình và phục vụ mình một cách tốt nhất Ngoài ra, cácdịch vụ do Công ty Tài chính cung ứng cũng tác động đến các tổ chức kinh
Trang 27động vốn Hệ thống dịch vụ đa dạng, tốt sẽ làm hài lòng tổ chức, cá nhângửi tiền.
- Cơ sở vật chất và công nghệ: Đây là điều kiện cần thiết và quantrọng để đánh giá tình hình hoạt động và uy tín của Công ty Tài chính Khimột cá nhân hay tổ chức kinh tế nào đó có nhu cầu gửi tiền, hay hợp táclàm ăn với Công ty Tài chính thì họ sẽ tìm đến Công ty có hình thức bềngoài có thể tin cậy nhất tức là có trụ sở ở địa điểm dễ nhìn thấy nhất, đượcxây dựng ưa nhìn, có trang thiết bị hiện đại, công nghệ tiến tiến, tiện lợi,tạo được không khí lịch sự điều đó sẽ tạo nên uy tín của Công ty Tàichính đối với khách hàng
Chính sách huy động vốn của Công ty
Chính sách huy động vốn của Công ty Tài chính sẽ ảnh hưởng quyếtđịnh đến hiệu quả huy động vốn của Công ty Chính sách huy động vốn củaCông ty sẽ quyết định số lượng vốn và cơ cấu vốn huy động Số lượng vốnphải đáp ứng nhu cầu cho vay, đầu tư của Công ty còn cơ cấu vốn phải đạtmục tiêu cân bằng giữ rủi ro và lợi nhuận Như vậy, nếu Công ty có chínhsách huy động vốn phù hợp về số lượng vốn và cơ cấu vốn thì hiệu quả huyđộng vốn sẽ đạt được
Do chính sách huy động vốn tác động tới hiệu quả huy động vốn củaCông ty, vì vậy nhân tố ảnh hưởng tới chính sách huy động vốn cũng ảnhhưởng tới hiệu quả huy động vốn, đó là các nhân tố:
- Thứ nhất là rủi ro kinh doanh: Rủi ro càng lớn thì tỷ lệ sử dụng nợcàng thấp, doanh nghiệp ít huy động vốn bằng các công cụ nợ
- Thứ hai là chính sách thuế và các chính sách tín dụng khác: Chínhsách thuế ảnh hưởng tới chi phí của nợ thông qua tiết kiệm nhờ thuế Nếuthuế cao sẽ khuyến khích doanh nghiệp sử dụng nợ do tiết kiệm nhờ thuế
Từ đó, nghiệp vụ huy động vốn cũng thay đổi theo hướng huy động nguồnnhư đi vay, phát hành trái phiếu Còn các chính sách tín dụng khác cũng
Trang 28tác động trực tiếp đến từng loại hình huy động vốn Ví dụ như hình thứchuy động vốn uỷ thác đầu tư Thời gian trước, Chính phủ có quy định tổchức nhận uỷ thác phải chịu trách nhiệm khi dự án xảy ra rủi ro, còn ngàynay, tổ chức uỷ thác lại phải chịu trách nhiệm khi dự án xảy ra rủi ro.Chính vì vậy, lượng vốn uỷ thác đầu tư sẽ được giảm dần Tổ chức tín dụng
có vốn để uỷ thác tự đầu tư thay vì uỷ thác cho một tổ chức tín dụng khác
- Thứ ba là quan điểm của bản thân nhà quản lý doanh nghiệp sẽ có
sự ưa thích trong sử dụng nợ hay vốn chủ Quan điểm này sẽ dẫn đếnnhững quyết định trong chiến lược huy động vốn của doanh nghiệp Điều
đó cũng gây ảnh hưởng tới hiệu quả huy động vón
1.3.2 Nhân tố khách quan
Môi trường pháp lý.
Nhân tố pháp lý ở đây được hiểu là những quy định của pháp luật vàNgân hàng Trung ương đối với hoạt động huy động vốn của Công ty Tàichính Vì Công ty Tài chính là một trung gian tài chính nên chịu sự điều tiếtcủa luật về các tổ chức tín dụng và sự quản lý chặt chẽ của Ngân hàng Trungương Công ty Tài chính phải tuân thủ những quy định của pháp luật về huyđộng vốn Như vậy, những quy định của pháp luật ảnh hưởng đến hiệu quảhuy động vốn của Công ty Tài chính, cụ thể là đến lượng vốn huy động và cơcấu vốn huy động Đây là nhân tố phải quan tâm đến đầu tiên trong hoạt độnghuy động vốn
Một môi trường pháp lý đồng bộ, hoàn thiện sẽ là điều kiện thuận lợicho hoạt động Công ty Tài chính nói chung và công tác huy động vốn nóiriêng Bởi vì khi có một hành lang pháp lý chặt chẽ, thuận lợi các tổ chức kinhdoanh tiền tệ sẽ có điều kiện hoạt động năng động, an toàn hơn, có khả nănghuy động được tối đa các nguồn vốn trong và ngoài nước đáp ứng kịp thờinhu cầu về vốn cho các hoạt động của Công ty, có khả năng hội nhập nhanhchóng với hệ thống các tổ chức kinh doanh tiền tệ trong khu vực và quốc tế
Trang 29 Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương
Chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương là những quy địnhhoặc nghiệp vụ của Ngân hàng Nhà nước tác động lên thị trường tài chính,tiền tệ nhằm vào các mục tiêu kinh tế như: công ăn việc làm, tăng trưởngkinh tế, ổn định giá cả, lãi suất, ổn định thị trường tài chính và thị trườngngoại hối
Các công cụ cơ bản của chính sách tài chính và tiền tệ là: nghiệp vụthị trường mở, chính sách chiết khấu, dự trữ bắt buộc, chính sách lãi suất vàhạn mức tín dụng Những công cụ này tác động lên thị trường tài chính tiền
tệ trong đó chủ yếu là các trung gian tài chính bao gồm cả Công ty Tàichính Chính sách này tác động trực tiếp tới hiệu quả huy động vốn nhưviệc quy định lãi suất cao hay thấp sẽ ảnh hưởng tới việc huy động vốn tiềngửi Các chính sách này tác động đến lượng cung tiền tệ, từ đó ảnh hưởnggián tiếp tới việc huy động vốn
Sự phát triển của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán của một quốc gia phát triển cao hay thấp sẽảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn của Công ty Tài chính Nếu một thịtrường chứng khoán phát triển cao với đầy đủ chức năng sẽ cung cấp choCông ty Tài chính đầy đủ những công cụ để huy động vốn và ngược lại nếu
mà thị trường chứng khoán kém phát triển sẽ hạn chế hoạt động huy độngvốn Ví dụ, thị trường chứng khoán kém phát triển thì việc huy động vốnthông qua phát hành một số công cụ trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi là khókhăn do tính thanh khoản của những công cụ này trên thị trường thấp
Tình trạng nền kinh tế
Đây là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạtđộng huy động vốn của Công ty Tài chính Nếu một nền kinh tế phát triển,lạm phát thấp, thu nhập bình quân đầu người cao thì việc huy động vốn từdân chúng là dễ dàng Bên cạnh đó, nền kinh tế phát triển tốt sẽ khuyến
Trang 30khích các doanh nghiệp sử dụng nợ, tức là làm tăng cả cung lẫn cầu về vốn.Trong khi đó, nếu nền kinh tế trong thời kỳ suy thoái, tỷ lệ lạm phát cao sẽrất khó huy động nguồn tiền gửi Nền kinh tế suy thoái cũng sẽ làm cácdoanh nghiệp hạn chế sử dụng nợ làm ảnh hưởng tới cầu về vốn do đó làmảnh hưởng tới cung vốn, việc huy động vốn của Công ty Tài chính bị suygiảm.
Sự chỉ đạo của Tập đoàn
Nếu Công ty Tài chính là một thành viên của một tập đoàn kinh tếthì lợi ích của Công ty Tài chính gắn liền với lợi ích của tập đoàn Việcthành lập Công ty Tài chính cũng nhằm mục tiêu huy động vốn hỗ trợ cácthành viên trong Tổng Công ty nên hoạt động huy động vốn sẽ được sựquan tâm, chỉ đạo và kiểm tra của Tổng Công ty Chiến lược của TổngCông ty trong từng giai đoạn sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới hiệu quả huy độngvốn
Chương 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Công ty Tài chính Công nghiệp Tàu thuỷ
2.1 Khái quát về Công ty Tài chính Công nghiệp Tàu thuỷ
2.1.1 Quá trình hình thành Công ty Tài chính Công nghiệp Tàu thuỷ
Tổng công ty tài chính Công nghiệp Tàu thủy (VFC) là Công ty tàichính Nhà nước thuộc Tập đoàn Công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam,hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng, Luật Doanh nghiệp và các Luật
có liên quan khác VFC được thành lập ngày 19/12/1998 theo Quyết định
số 3456/QĐ-BGTVT của Bộ Giao Thông Vận tải, được Thống đốc Ngânhàng nhà nước phê chuẩn điều lệ và cấp giấy phép hoạt động số 04/GP-NHNN ngày 16/03/2000 với số vốn điều lệ ban đầu là 30 tỷ đồng và chínhthức đi vào hoạt động từ ngày 09/05/2000 VFC được thực hiện một số
Trang 31định của Luật Các tổ chức tín dụng, các văn bản hướng dẫn thi hành củaNgân hàng Nhà nước và các văn bản pháp luật khác của các cơ quan, tổchức có thẩm quyền, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển ngành Côngnghiệp Tàu thủy Việt Nam và kinh tế - xã hội
VFC là một pháp nhân có con dấu, tài khoản riêng, có vốn điều lệ,hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về kếtquả kinh doanh và thực hiện các cam kết của mình
Nhiệm vụ chính của VFC là thực hiện huy động vốn, cấp tín dụng vàcung cấp các dịch vụ tài chính tiền tệ khác cho Vinashin, các đơn vị thànhviên của Vinashin Ngoài ra, VFC cũng thực hiện cung cấp các dịch vụ tàichính ngân hàng cho các tổ chức, cá nhân khác trong nền kinh tế với tưcách là một tổ chức tín dụng phi Ngân hàng
VFC có tên đầy đủ bằng tiếng Việt là: Công ty tài chính Công nghiệpTàu thuỷ Tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh: Vietnam ShipbuildingFinance Company, gọi tắt là Vinashin Finance Tên viết tắt là: VFC
Sự ra đời của VFC là một dấu mốc quan trọng, một tầm nhìn mớitrong chiến lược phát triển ngành Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam giaiđoạn 2001-2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định1420/QĐ-TTg ngày 02/11/2001 Trong quá trình hoạt động, VFC đã vàđang dần khẳng định được vị trí và uy tín trong hệ thống các tổ chức tàichính tiền tệ Việt Nam, góp phần quan trọng trong sự phát triển của ngànhCông nghiệp Tàu thủy Việt Nam
Theo các Quyết định số 103/2006/QĐ-TTg ngày 15/5/2006 của Thủtướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án thí điểm hình thành Tập đoànVINASHIN và Quyết định số 104/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
về việc thành lập Công ty mẹ - Tập đoàn CNTT Việt Nam, Tập đoàn Côngnghiệp Tàu thủy Việt Nam hoạt động theo mô hình công ty mẹ – con, với 8tổng công ty lớn, trong đó có Tổng CTTC phát triển từ CTTC CNTT Đây
Trang 32là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của Tập đoàn kinh tế Vinashin nóichung và CTTC Công nghiệp Tàu thủy nói riêng
Với chủ trương tiếp tục đổi mới hoàn thiện hệ thống quản lý tàichính trong Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, mục tiêu phát triển
của Công ty tài chính Công nghiệp tàu thủy đến năm 2010 là “Xây dựng
Công ty tài chính Công nghiệp Tàu thủy thành một Tổng CTTC chủ lực và hiện đại của Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, hoạt động kinh doanh có hiệu quả, tài chính lành mạnh với mạng lưới gồm các chi nhánh trên khắp cả nước và các Công ty con tiêu biểu trên các lĩnh vực Tài chính như cho thuê tài chính, chứng khoán, bảo hiểm, quản lý quỹ ”.
Thực hiện chủ trương phát triển thành Tổng CTTC, đến nay VFC đã
mở rộng mạng lưới hoạt động với 3 chi nhánh đặt tại TP.Hồ Chí Minh, HàNội, Hải Phòng và 3 công ty con trực thuộc là Công ty Tư vấn đầu tư vàdịch vụ tài chính, Công ty TNHH MTV Cho thuê Tài chính Công nghiệpTàu thủy và Công ty TNHH Chứng khoán VFC
Công ty Tư vấn đầu tư và dịch vụ tài chính (V.IBC) là công ty con
hạch toán phụ thuộc, tự trang trải trong CTTC Công nghiệp Tàu thủy, đượcthành lập từ năm 2000 Công ty thực hiện chức năng chính là tư vấn đầu tưphát triển các dự án trong ngành công nghiệp tàu thủy, tư vấn tài chính –tiền tệ và các dịch vụ tài chính; Đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin
Công ty TNHH 1TV Cho thuê tài chính Công nghiệp Tàu thủy (VFL)
là công ty con hạch toán độc lập với số vốn điều lệ ban đầu là 100 tỷ đồng
do Công ty CTTC Công nghiệp Tàu thủy cấp 100% vốn Công ty chínhthức hoạt động từ tháng 7/2008 với chức năng chính là Huy động vốn; Chothuê tài chính đối với các tài sản là máy móc, thiết bị và các động sản kháccho các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước; Mua và cho thuê lại theohình thức cho thuê tài chính; Cho thuê vận hành; và thực hiện các dịch vụ
tư vấn, dịch vụ ủy thác, quản lý tài sản và bảo lãnh liên quan đến hoạt động
Trang 33Công ty TNHH MTV Chứng khoán VFC (VFCS) là công ty con hạch
toán độc lập với số vốn điều lệ ban đầu là 300 tỷ đồng do CTTC Côngnghiệp Tàu thủy cấp 100% vốn Công ty chính thức hoạt động từ tháng12/2008 với đầy đủ các chức năng hoạt động của Công ty chứng khoántheo quy định của pháp luật, đó là: môi giới chứng khoán; tự doanh chứngkhoán; bảo lãnh phát hành chứng khoán; tư vấn đầu tư chứng khoán; thựchiện lưu ký chứng khoán cho tổ chức cá nhân trong nước, nước ngoài
2.1.2 Kết quả hoạt động của Công ty Tài chính Công nghiệp Tàu thuỷ trong thời gian qua
Sau gần 10 năm chính thức đi vào hoạt động, VFC đang từng bướckhẳng định được vị thế của một trung gian tài chính trong đại gia đình hơn
200 thành viên của Vinashin Trong hệ thống các CTTC tại Việt Nam hiệnnay, VFC và CTTC Dầu khí đang là 2 CTTC có quy mô và hiệu quả hoạtđộng tốt nhất
Tính đến thời điểm ngày 30/6/2009, tổng số cán bộ nhân viên củaCông ty là 300 người với 86% có trình độ từ Đại học trở lên, trong đó có6% có trình độ trên Đại học Đa số được đào tạo về chuyên ngành Tàichính Ngân hàng tại các trường Đại học lớn tại Việt Nam như: Đại họcKinh tế Quốc dân, Học Viện Ngân hàng, Học viện Tài chính
Đi cùng với sự phát triển về hoạt động và quy mô, tổ chức của VFCcũng ngày càng lớn mạnh, tính đến thời điểm hiện tại, VFC có 19 phòngnghiệp vụ, 03 chi nhánh tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng
và 03 công ty con trực thuộc; Công ty Tư vấn đầu tư và Dịch vụ Tài chính(V.IBC); Công ty TNHH1TV cho thuê tài chính Công nghiệp Tàu thủy(VFL); Công ty TNHH1TV Chứng khoán VFC (VFCS) Việc điều hành và
xử lý các quan hệ trong VFC được thực hiện dựa trên cơ sở nguyên tắcphân cấp quản lý
Trang 34Sơ đồ bộ máy tổ chức của VFC
BAN ĐIỀU HÀNH
P Tín dụng 2
Công ty Tư vấn đầu tư và dịch vụ
CTTC CNTT - Chi nhánh
Hà Nội
Công ty TNHH 1 thành viên Chứng khoán VFC - VFCS
CTTC CNTT - Chi nhánh
Hải Phòng
P Quản trị rủi ro
Trang 35VFC đã có quan hệ tín dụng với hơn 250 khách hàng là các đơn vịthành viên của Vinashin, các cá nhân là cán bộ công nhân viên đang côngtác trong ngành và nhiều doanh nghiệp, tập thể, cá nhân đang hoạt độngtrong các thành phần kinh tế khác nhau Cùng với sự phát triển về tín dụng,hoạt động huy động vốn cũng đã được chú trọng phát triển để đáp ứng.VFC đã thiết lập và mở rộng quan hệ chặt chẽ với hơn 70 tổ chức tín dụng,tài chính, bảo hiểm, quỹ đầu tư lớn trong nước và quốc tế, cùng với hệthống các công ty con cung cấp các sản phẩm tài chính trọn gói đa đạng cóchất lượng cao.
Cùng với những khởi sắc của nền kinh tế Việt Nam cũng như củaTập đoàn Kinh tế Vinashin trong thời kỳ đổi mới, hoạt động sản xuất kinhdoanh của VFC đã có những bước phát triển khả quan, thực hiện vượt cácchỉ tiêu kế hoạch về doanh thu, lợi nhuận trước thuế, doanh số hoạt độngtín dụng, doanh số huy động vốn góp phần tích cực vào công tác quản lýtài chính của Tập đoàn Kinh tế Vinashin, điều hoà vốn giữa các đơn vịthành viên trong Tập đoàn Cụ thể:
Với những kết quả trên, Công ty tài chính Công nghiệp tàu thủy đã tạonên một thương hiệu trong ngành tài chính ngân hàng Việt Nam, thực hiệnxuất sắc vai trò là một định chế tài chính của Tập đoàn Công nghiệp Tàuthủy Việt Nam Những thành tựu khả quan và nổi bật mà không phải bất cứmột tổ chức tín dụng nào cũng có thể đạt được là mức vốn điều lệ liên tụctăng từ mức vốn ban đầu là 30 tỷ đồng tăng lên 2.523 tỷ đồng, luôn giữ vị trí
là một Công ty tài chính hoạt động hiệu quả và an toàn trong hệ thống các tổchức tín dụng
Từ nhiệm vụ ban đầu là kênh dẫn vốn từ Ngân hàng tới các đơn vịthành viên trong Tập đoàn, VFC đã ngày càng mở rộng và đa dạng hóa cáchình thức hoạt động từng bước đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành vàcủa xã hội