1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN Sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ Ngữ văn 7 – Phân môn Tiếng Việt

38 2,8K 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 268 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

này, tôi xin được trình bày một vài thử nghiệm đã có hiệu quả của mình trongviệc : “Sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ Ngữ Văn 7 – Phân môn Tiếng Việt”... Một trong những biểu hiệncủa đổi

Trang 1

PHẦN A: ĐẶT VẤN ĐỀ

I. Đối tượng nghiên cứu đề tài sáng kiến kinh nghiệm

Thông qua quá trình giảng dạy một số văn bản trong chương trình lớp 7 vàquá trình lĩnh hội của học sinh để rút ra những vấn đề mang tính lý thuyết vàthể nghiệm kết quả nghiên cứu

II Lý do chọn đề tài

Đổi mới phương pháp giảng dạy là yêu cầu cấp bách thiết thực, gópphần tích cực vào việc nâng cao chất lượng giáo dục Đối mới phương phápgiảng dạy môn Ngữ văn nói chung, phân môn Tiếng Việt nói riêng cần tuânthủ theo định hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh Nghĩa làlàm cho học sinh được nghĩ nhiều, làm việc nhiều, thảo luận nhiều, qua đóđược rèn luyện kỹ năng và phương pháp học tập bộ môn Việc đổi mớiphương pháp dạy học là vấn đề cấp bách của nền giáo dục nước nhà Từ nămhọc 2000-2001 trở lại đây Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai chương trìnhsách giáo khoa mới, ngay từ những ngày đầu tôi luôn tìm tòi, suy ngẫm đểhình thành phương pháp dạy học mới, sự sáng tạo mới, thiết kế bài giảng saocho giờ dạy có thể để lại những dư vị ngọt ngào, những dấu ấn không thểquên trong lòng các em

Đã là người thầy dạy văn, ai chẳng mong ước có những bài giảng hấpdẫn, để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn học trò, góp phần bồi đắp nhâncách, thắp sáng lên trong các em niềm tin, hi vọng, ước mơ và những tình cảmtốt đẹp Bởi, học văn là học nhân cách làm người Muốn làm được điều đó,người thầy phải tìm ra phương pháp tốt nhất để giảng dạy sao cho có hiệuquả Việc làm này không dám ví cao như núi, rộng như biển nhưng cũng vôcùng khó khăn phức tạp, các tài liệu, hướng dẫn, dự giờ, hội thảo… chỉ cótính chất định hướng

Năm học 2011-2012, tôi may mắn được nhà trường, tổ chuyên mônphân công giảng dạy 2 lớp 7 Trong quá trình giảng dạy, tôi đã cố gắng sửdụng phương pháp đổi mới, sử dụng đồ dùng trong những giờ dạy Tiếng Việt

và đã thu được những kết quả nhất định Vì vậy trong sáng kiến kinh nghiệm

Trang 2

này, tôi xin được trình bày một vài thử nghiệm đã có hiệu quả của mình trong

việc : “Sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ Ngữ Văn 7 – Phân môn Tiếng Việt”.

Trang 3

PHẦN B: NỘI DUNG ĐỀ TÀI

I Cơ sở lý luận

Văn học là một môn khoa học và cũng là một bộ môn Nghệ thuật Mônngữ văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của TrườngTHCS Góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn Trung học

cơ sở, chuẩn bị ra cuộc sống , tiếp tục học ở bậc cao

Môn Ngữ văn gồm 3 phân môn: Văn – Tiếng Việt, Tập làm văn Baphân môn này có sự gắn bó mật thiết với nhau, cùng hướng tới mục tiêuchung là “dạy người” Song đi vào cụ thể thì mỗi phân môn đặt ra yêu cầuriêng Với Tiếng Việt, dạy Tiếng Việt là làm cho học sinh yêu quý, say mê,

từ đó giúp các em có ý thức giữ gìn, bảo vệ tiếng mẹ đẻ Qua đó rèn luyện tưduy cho các em ở các phân môn khoa học khác Một trong những biểu hiệncủa đổi mới phương pháp dạy môn Ngữ văn nói chung và phân môn TiếngViệt nói riêng là sử dụng các thiết bị và đồ dùng dạy học Một tiết học tốt làtiết học giáo viên với học sinh sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học.Đặc biệt đối với phân môn Tiếng Việt trong nhà trường thì sử dụng đồ dùngdạy học là vấn đề hết sức cần thiết

Vậy, người giáo viên Ngữ văn phải làm thế nào để giúp học sinh nắmtoàn bộ kiến thức của văn bản một cách dễ học, dễ nhớ Theo tôi đó là việc sửdụng đồ dùng dạy học vào bài giảng của mình

Hơn nữa định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thôngtheo luật giáo dục (1998) là :

- Phát huy tính tích cực , tự giác , chủ động sáng tạo ở học sinh

- Bồi dưỡng phương pháp tự học

- Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn

- Tác động đến tình cảm , đem lại niềm vui , hứng thú học tập chohọc sinh

Trang 4

Bốn định hướng này có liên quan chặt chẽ , trong đó định hướng đầu tiên làcăn bản

Để học sinh lĩnh hội được tri thức một cách tốt nhất , cần hướng họcsinh vào hoạt động tích cực Tức là học sinh phải được trực tiếp tìm hiểu ,khám phá về vấn đề Mỗi vấn đề được làm sáng tỏ sẽ mở ra những chân trờimới về sự sáng tạo Bộ môn ngữ văn nói chung và phân môn Tiếng Việt đangtrên con đường đổi mới ấy phải tuân theo quy luật đó

Dạy học theo phương pháp đổi mới phải thực sự lấy “học sinh làmtrung tâm”, coi hoạt động của học sinh là một hoạt động có ý nghĩa thiết thựcnhất trong dạy và học Học sinh được hoạt động dưới sự hướng dẫn của giáoviên Để lĩnh hội tri thức, học sinh có thể đọc , phân tích văn bản thông quahoạt động chỉ đạo của giáo viên Bên cạnh đó , học sinh được mở rộng , khắcsâu kiến thức bằng các phương tiện dạy học của giáo viên như : máy chiếu ,tranh ảnh, biểu bảng , phiếu thảo luận ,…

Giữa văn bản , phương tiện dạy học với học sinh có tác động qua lạivới nhau tạo nên mối liên hệ chặt chẽ , hoàn chỉnh , thống nhất ( học sinh làngười khám phá , tìm hiểu Văn bản là cánh cửa : phương tiện dạy học là chìakhóa )

II. Cơ sở thực tiễn

Trang 5

khô khan, nặng nề, gây ức chế tâm lý đối với học sinh Đặc biệt đối với họcsinh lớp 6,7 chưa quen với việc tìm hiểu kiến thức khó, trừu tượng.

Bản thân tôi qua nhiều năm dạy văn, tôi đã từng vận dụng nhiều đồdùng, tôi thấy các em hứng thú say mê Các em tích cực, chủ động, tham giavào việc khám phá và chiếm lĩnh tri thức Thậm chí, các em học sinh nhútnhát, nhận thức chậm sẽ có điều kiện mạnh dạn, tự tin Hơn nữa, việc sử dụng

đồ dùng dạy học giúp giáo viên tăng nội dung luyện tập, hình thức luyện tậpcũng phong phú để rèn luyện được kỹ năng cần thiết cho các em

Chính vì những ưu điểm cơ bản đó nên tôi chọn đề tài “Sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ Ngữ văn 7- Phân môn Tiếng việt” để nêu một vài

kinh nghiệm của bản thân trong suốt quá trình giảng dạy

2 Khó khăn

Tuy nhiên, chúng tôi cũng nhận thấy những khó khăn khi thực hiện Đó

là chương trình sách giáo khoa còn quá tải về nội dung Mặc dù trong nămhọc này đã giảm tải nhiều Thiết bị hiện đại còn thiếu và yếu, chưa đáp ứngphục vụ được một cách thường xuyên cho từng bài giảng

Tuy vậy, trong một tương lai gần, với sự quan tâm của Đảng và Nhànước đối với công tác giáo dục sẽ được tăng cường Vì vậy, việc đổi mớiphương pháp dạy học, sử dụng đồ dùng dạy học là một việc cần thiết của giáoviên cũng như cho học sinh trong việc tiếp thu kiến thức

Trong những năm vừa qua , tôi là giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ mônNgữ Văn ở trường trung học cơ sở Nguyễn Trường Tộ Bản thân tôi luôn cốgắng phát huy tính tự giác , tích cực ở học sinh theo tinh thần đổi mới Mộtphương pháp mà tôi đã và đang sử dụng nhằm nâng cao nhiệm vụ dạy học

Đó là tăng cường sử dụng các phương tiện dạy học trong bộ môn Ngữ Văn ,đặc biệt là đối với phân môn Tiếng Việt

Với tinh thần “ bám sát sách giáo khoa , lấy sách giáo khoa là phươngtiện dạy học cơ bản “ tôi cố gắng phát huy tối đa phương tiện dạy học này Ngoài ra , Bộ giáo dục – Đào tạo cũng đã hỗ trợ thêm một số bức tranh , còn

Trang 6

các phương tiện dạy học khác nhau : phiếu thảo luận , sơ đồ , biểu bảng ,… tựgiáo viên chuẩn bị Để có được các phương tiện dạy học bổ sung , buộc giáoviên phải tự sáng chế ( Ví dụ : máy chiếu được thay thế bảng phụ , giấy khổ

to , và thêm một số bức tranh minh họa …

III Thực trạng

1 Thực trạng của việc học văn hiện nay

Nhà văn hóa lớn của nhân loại Lê-nin từng nói : “ Văn học là nhân học

“ vậy mà một thực trạng đáng lo ngại là học sinh bây giờ không còn thích họcvăn Trực trạng này lâu nay đã được báo động Ban đầu chỉ đơn thuần lànhững lời than thở với nhau của những người trực tiếp giảng dạy môn văn vànay đã trở thành vấn đề của báo chí và dư luận… Ai đã trực tiếp dạy và chấmbài làm văn của học sinh trong những năm gần đây mới thấy cần thiết phải cónhững thay đổi về phương pháp dạy văn và học văn hiện nay Qua công tácgiảng dạy cũng như chấm trả các bài kiểm tra Ngữ Văn , tôi nhận thấy có rấtnhiều những biểu hiện thể hiện tâm lý chán học của học sinh , cụ thể là :

- Học sinh thờ ơ với môn Văn : Những năm gần đây , nhiều người

quan tâm đến công tác giáo dục không khỏi lo ngại trước một thực trạng , đó

là tâm lý thờ ơ với việc học văn ở các trường phổ thông Điều đáng buồn nhấtcho các giáo viên dạy văn là những học sinh có năng khiếu văn cũng khôngmuốn tham gia đội tuyển văn Các em còn phải dành thời gian học các mônkhác Hơn nữa , phần lớn phụ huynh khi đã dịnh hướng cho con mình sẽ đikhối A thì chỉ chủ yếu chú trọng ba môn : Toán , Lý , Hóa Họ chọn hướngcho con từ khi học tiểu học

- Khả năng trình bày : Khi học sinh tạo lập một văn bản , giáo viên có

thể dễ dàng nhận ra những lỗi sai cơ bản của học sinh như : dùng từ sai , viếtcâu sai , viết chính tả sai , bố cục bài văn hết sức lủng củng , thiếu lôgíc Đặcbiệt có những bài văn diễn đạt ngô nghê , đối nghĩa , lủng củng… Đây là mộtthực trạng đã trở nên phổ biến và thậm chí là đáng báo động trong xã hội ta

Trang 7

Mục tiêu của bậc học phổ thông là đào tạo côn người toàn diện , nhữngthực tế hiện nay cho thấy , các bộ môn khoa học xã hội thường bị học sinhxem nhẹ , mặc dù kiến thức của các bộ môn này vô cùng quan trọng cho tất cảmọi người Muốn khôi phục sự quan tâm của xã hội đối với Muốn khôiphục sự quan tâm của xã hội đối với các bộ môn khoa học xã hội , không thìchỉ bằng biện pháp kêu gọi mà chúng ta phải tích cực đổi mới phương phápdạy học Văn , khơi gợi lại hứng thú học văn cho học sinh , hình thành cho các

em phương pháp học văn hiệu quả nhất

2 Nguyên nhân

a Đối với người dạy

Đa số giáo viên đều có tình yêu nghề, mến trẻ, tận tụy với công tác giảng dạy,chăm lo quan tâm đến học sinh Tuy nhiên vẫn còn những mặt hạn chế sau:

- Phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp với một bộ phận khôngnhỏ học sinh yếu kém dẫn đến chất lượng chưa cao

- Do điều kiện khách quan nên việc sử dụng đồ dung dạy học, phươngpháp trực quan vào tiết học hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng tiếp thu bàicủa học sinh

- Một số giáo viên chưa thực sụ tâm huyết với nghề, chưa khơi gợi đượcmạch nguồn cảm xúc ẩn sau mỗi trái tim người đọc

Như chúng ta đã biết, cùng với việc biên soạn giáo khoa mới, các mônhọc được trang bị đồ dùng rất phong phú và đa dạng Nhưng đối với phânmôn Tiếng Việt, đồ dùng dạy học không có nhiều nên đòi hỏi giáo viên luônphải tìm tòi sáng tạo, đầu tư thời gian để thiết kế Hoặc có những máy móchiện đại như máy chiếu hắt, máy vi tính đòi hỏi nhà trường phải có phòng họcchức năng Nếu không cứ mỗi giờ dạy học giáo viên lại phải mang máy đi tớilớp mình dạy Như vậy sẽ mất thời gian và giáo viên sẽ ngại phải sử dụng đồdùng dạy học thường xuyên

Trang 8

b, Đối với học sinh

Một số học sinh vì lười học, chán học, mải chơi, hổng kiến thức nên khôngchuẩn bị tâm thế tốt cho giờ học Ngữ văn Hơn nữa các môn học khácđược trang bị rất nhiều đồ dùng, tranh ảnh hấp dẫn nên khi học Tiếng Việtcác em thấy không hấp dẫn lắm, dẫn tới nhiều học sinh không thích họcTiếng Việt

Kỹ năng đọc, nói, viết của nhiều học sinh con chưa tốt nên việc khaithác, khám phá, phát hiện kiến thức chỉ dựa vào sách giáo khoa sẽ gặp nhiềukhó khăn

IV Các giải pháp thực hiện

1 Nhận thức

Cần đổi mới nhận thức của giáo viên và học sinh về tầm quan trọng củaphân môn Tiếng Việt trong nhà trường Đặc biệt đối với giáo viên Ngữ Văncần xác định rõ mục tiêu, phương pháp của một giờ Tiếng Việt để có sự đầu

tư thích đáng cho giờ dạy, không chỉ ở khâu thiết kế bài giảng, tổ chức cáchoạt động trên lớp, mà cần đặc biệt chú ý sử dụng đồ dùng dạy học Có nhưvậy chất lượng giờ dạy Tiếng Việt mới hiệu quả

Đối với những trường có phòng học chức năng, cơ sở vật chất tốt,chúng ta có thể sử dụng giáo án điện tử, dạy trên máy vi tính Còn trườngTHCS Nguyễn Trường Tộ, nơi tôi công tác, đã có phòng học chức năng, cơ

sở vật chất tương đối tốt nên đồ dùng dạy học trong giờ dạy Tiếng Việtthường có bảng phụ, phiếu học tập, hoặc tuỳ theo từng tiết học tôi sử dụnggiấy trong dạy trên máy chiếu hắt

Một số đồ dùng đơn giản như ô chữ, giấy A3 ép plastic tôi phân cônggcác nhóm học sinh làm; khi được giao việc, các em rất hào hứng, say mê

2 Hành động

Từ nhận thức đến hành động đòi hỏi giáo viên phải có sự cố gắng, tức

là chúng ta phải đầu tư soạn thảo giáo án, thiết kế bài giảng

Trang 9

Soạn giáo án là khâu vô cùng quan trọng, quyết định sự thành công củagiờ dạy Khâu này đòi hỏi giáo viên phải tìm tòi, học hỏi, đầu tư một cách tíchcực.

Giáo án Tiếng Việt theo yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy phảithể hiện được hướng tích hợp, phát huy tính tích cực của học sinh, thực hiện

được mục tiêu “Tích hợp – Giảm tải – Tăng thực hành – Gắn với thực tế” Đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả: Nghe – Nói – Đọc – Viết cho học

sinh Song với kinh nghiệm của mình, tôi chỉ đề cập đến vấn đề nhỏ là:

“Thiết kế giáo án để qua đó thiết kế đồ dùng cho bài dạy”.

Trước khi thiết kế bài giảng, chúng ta cần bám sát vào mục tiêu bàihọc, xác định rõ từng đơn vị kiến thức, những kỹ năng cần rèn luyện trongbài; từ đó định hướng các hoạt động và đề ra phương pháp, phương tiện chotừng hoạt động Bên cạnh đó cần nghiên cứu các bài học trước và sau để tìm

ra mối quan hệ, nội dung tích hợp để quá trình chuẩn bị đồ dùng phát huy tácdụng

Ví dụ: Khi thiết kế giáo án bài “Từ trái nghĩa” (Bài 10 – Tiết 39), tôi

đã hình thành và sử dụng các đồ dùng sau:

* Hoạt động 1: Hình thành khái niệm “Từ trái nghĩa”

Tôi sử dụng máy chiếu hắt, đưa văn bản là 2 văn bản “Tĩnh dạ tứ” và

“Hồi hương ngẫu thư” lên máy chiếu hắt để học sinh nhận biết các cặp từ

ngược nghĩa nhau

* Hoạt động 2: Củng cố khái niệm từ trái nghĩa

Tôi dùng giấy A3 ép plastic, bút dạ chia 4 nhóm học sinh để tìm cáccặp từ ngược nghĩa được xét trên cơ sở chung nào đó Học sinh làm xong tôidùng nam châm gắn giấy A3 ép plastic lên bảng, cùng một lúc tôi đã chữađược bài cho cả 4 nhóm rồi củng cố kiến thức từ trái nghĩa

Trang 10

* Hoạt động 3: Tác dụng của việc sử dụng các cặp từ trái nghĩa.

Tôi sử dụng ví dụ của hoạt động 1, hoạt động 2 để học sinh được cáccặp trái nghĩa thường được sử dụng trong phép tiểu đối của thơ Đường, sửdụng trong thành ngữ, tục ngữ

Tôi sử dụng giấy A3 ép plastic, chia học sinh thành các nhóm để thi tìmcác thành ngữ, tục ngữ sử dụng cặp từ trái nghĩa

* Hoạt động 4: Luyện tập

Đọc kỹ yêu cầu của bài tập, đề ra cách thức hoạt động cho từng bài

+ Bài tập 1: Nhận diện từ trái nghĩa Bài tập này tôi cho học sinh hoạt

động độc lập

Đồ dùng: Phiếu học tập (hoặc giấy A3 ép plastic), bút dạ.

+ Bài tập 2: Tìm các từ trái nghĩa với các từ cho trước Bài tập này tôi

cho trước Bài tập này tôi cho học sinh hoạt động nhóm (2 học sinh/1 nhóm)

Đồ dùng: Bảng, giấy A3 ép plastic, bút dạ, nam châm.

+ Bài tập 3: Điền từ trái nghĩa vào các chỗ trống trong một số thành

ngữ Bài tập này tôi cho học sinh thi tiếp sức, thời gian 3 phút

Đồ dùng: Giấy A0 có ghi các thành ngữ, có chỗ trống, nam châm, giấy

keo dính một mặt có viết sẵn các từ cần điền

Học sinh chia thành 3 nhóm lớn, các nhóm theo thứ 1, 2, 3 nên chọnđiền các từ viết sẵn vào chỗ trống của thành ngữ sao cho hợp lý Nhóm nàoxong trước, nhóm đó chiến thắng

+ Bài 4: Viết đoạn văn Học sinh hoạt động độc lập Giáo viên nêu yêu

cầu, học sinh viết và giáo viên gọi một số học sinh đọc, giáo viên nhận xét

Vậy là với việc thiết kế bài giảng, tôi đã hình thành các đồ dùng:

- Giấy trong, sử dụng máy chiếu hắt

- Giấy A3 ép plastic (dùng trong cả năm học), bút dạ, nam châm

Trang 11

Nội dung các ví dụ đưa lên máy chiếu hắt, lên giấy A0, tôi trình bày như sau:

1 Tìm các cặp từ ngược nghĩa trong

các văn bản sau:

Tĩnh dạ tứ

Sàng tiền minh nguyệt quang

Nghi thị địa thượng suong

Cử đầu vọng minh nguyệt

Đê đầu tư cố hương

Lý Bạch

Hồi hương ngẫu thư

Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi,

Hương âm vô cải, mấn mao tồi

Nhi đồng tương kiến bất tương thức

Trang 12

Đồ dùng dạy học phân môn Tiếng Việt nhằm phát huy tính tích cực củahọc sinh Đồ dùng phải đảm bảo tính khoa học: Viết to, rõ, đẹp, đúng chínhtả; đảm bảo tính trực quan, dễ sử dụng và sử dụng được nhiều lần Đồ dùngphải đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh Các bài tập Tiếng Việt trong sáchgiáo khoa Ngữ Văn 7, thông thường các mẫu câu, bài tập được trích từ nhữngvăn bản trước hoặc sau đó Chúng ta khai thác tối đa các mẫu câu, các bài tập

đó vừa nhằm mục đích giúp học sinh xác định đơn vị kiến thức bài học vừađảm bảo tích hợp

4 Giải pháp thực hiện

Đồ dùng được sử dụng như một phương tiện trực quan để khai thácnguồn tri thức

Tôi xin nêu một ví dụ cụ thể:

Khi tổ chức hoạt động 1: Hình thành khái niệm từ trái nghĩa trong bài

Từ trái nghĩa, tôi đã sử dụng giấy trong ghi hai bài thơ Đường là Tĩnh dạ tứ

và Hồi hương ngẫu thư (viết bằng chữ Hán có dịch nghĩa) rồi chiếu trên máy

chiếu hắt Tôi đặt câu hỏi: Em hãy tìm những cặp từ ngược nghĩa nhau tronghai bài thơ trên? Học sinh đọc và dùng bút dạ gạch chân các cặp từ đó Tôichữa bài của học sinh trên máy chiếu hắt Như vậy, tôi vừa cho học sinh trảlời câu hỏi theo yêu cầu bài học vừa kết hợp tích hợp với kiến thức phân mônVăn đã học trước đó, vì các cặp từ ngược nghĩa trong hai bài thơ đó đều nói

về tình cảm yêu mến quê hương của các tác giả đời Đường

Các ví dụ hoặc bài tập đã đưa lên máy chiếu hắt, trên giấy A0 thì khôngnên viết trên bảng chính Một số bài tập có thể sử dụng để hình thành nhiềuđơn vị kiến thức trong bài học

Sử dụng đồ dùng cần tránh khuynh hướng “cưỡi ngựa xem hoa” nghĩa

là sử dụng đồ dùng như một thứ trang trí tô điểm cho giờ dạy mà chúng ta cầnphát huy tác dụng của nó Có như vậy mới phát huy tính tích cực của họcsinh

Trang 13

Trên đây là một vài ý kiến nhỏ của tôi về vấn đề sử dụng đồ dùng trongtiết dạy Tiếng Việt 7 Tôi mong nhận được sự góp ý, ủng hộ từ các đồngnghiệp đầy tâm huyết và bề dày kinh nghiệm trong thực tế giảng dạy.

Để minh hoạ cho đề tài này, tôi chọn ba bài trong chương trình TiếngViệt lớp 7 mà tôi cho rằng rất cần thiết sử dụng đồ dùng trong các hoạt độngdạy học Mong quý đồng nghiệp tham khảo và góp ý thêm

Trang 14

V Một số giáo án minh họa

A Mục tiêu bài học

Giúp học sinh nắm được thế nào là từ trái nghĩa, thấy được tác dụngcủa việc sử dụng cặp từ trái nghĩa Từ đó học sinh sử dụng kiến thức để viếtđoạn văn ngắn

B Chuẩn bị

1 Giáo viên: Soạn giáo án, nghiên cứu tài liệu tham khảo, chuẩn bị đồdùng gồm: Giấy A0 có ghi các thành ngữ (để ô trống); giấy keo để học sinhchọn điền vào ô trống của thành ngữ; bút dạ; giấy A3 ép plastic

2 Học sinh: Học bài; làm bài tập “Từ đồng nghĩa”

Đọc trước để tìm hiểu bài “Từ trái nghĩa”

C Tiến trình bài dạy

* Ổn định lớp (1 phút): Giáo viên giới thiệu đại biểu; học sinh chào

mừng đại biểu

* Kiểm tra bài cũ (5 phút):

1 Kiểm tra bài tập, chuẩn bị bài của học sinh

2 Cho các từ “biếu”, “tặng”, “cho” Hãy phân biệt sắc thái ý nghĩa củachúng? Có mấy loại từ đồng nghĩa?

Sau khi học sinh trả lời, giáo viên nhận xét, bổ sung

* Bài mới:

Giới thiệu bài (1 phút):

Trong diễn đạt, khi dùng từ muốn cho lời văn chính xác, sinh động taphải có vốn từ phong phú Chúng ta đã biết việc hiểu và sử dụng từ đồngnghĩa rất quan trọng Nhưng cũng có nhiều trường hợp cần dùng từ trái nghĩa

để tạo sự tương phản hoặc gây ấn tượng mạnh Vậy từ trái nghĩa là những từnhư thế nào? Cần hiểu và dùng nó ra sao? Đó chính là nội dung bài học màchúng ta cần tìm hiểu

Tiến trình bài dạy: Giáo viên ghi tiêu đề - Học sinh lấy vở ghi bài.

Trang 15

Hoạt động của Thầy Hoạt động của trò Nội dung cần đạt

* Hoạt động 1(15 phút)

Sử dụng giấy trong, đưa

2 văn bản “Tĩnh dạ tứ”

và “Hồi hương ngẫu

thư” lên máy chiếu hắt.

Giáo viên kết luận (1):

Từ có nghĩa trái ngược

nhau gọi là từ trái ngược

nhau gọi là từ trái nghĩa

HS 2: Đọc, chỉ ra cặp từngược nghĩa

HS 3: Các cơ sở chunglà

+ Chỉ hoạt động+ Chỉ tuổi tác+ Chỉ sự di chuyển tính

- Các cặp từ ngượcnghĩa

+ Thiếu – Tiểu+ Lão – đại+ Ly – hồi

Từ trái nghĩa: Là từ có

nghĩa trái ngược nhau

Trang 16

nghĩa không? Vì sao?

GV nhấn mạnh:

Cặp từ trái nghĩa phải

xét trên cơ sở chung nào

GV thu bài tập trên giấy

trong, chữa trên máy

Các nhóm làm bài tập;

cử một HS ghi

HS trả lời: Một từ nhiềunghĩa có thể tham giavào các cặp từ tráinghĩa

- Rau già – rau non

- Người già – người trẻ.

Trang 17

GV đưa lại bài “Hồi

hương ngẫu thư” trên

máy chiếu hắt

? Phát hiện các cặp từ

trái nghĩa sử dụng trong

phép đối của bài thơ

từ trái nghĩa, trong lời

ăn tiếng nói hàng ngày

nhân dân ta cũng sử

dụng rất sáng tạo cặp từ

trái nghĩa

HS quan sát bài tập vàđọc yêu cầu bài tập:

- Tìm từ trái nghĩa vànêu tác dụng của việc sửdụng các cặp từ đó

HS hoạt động độc lập:

Làm miệng lần lượttừng câu

HS nhận xét: Sử dụngcặp từ trái nghĩa đó tạohình tượng tương phản,gây ấn tượng

- HS quan sát

- HS trả lời: Các cặp từ

sử dụng trong phép đối:

Thiếu – lão Tiểu – đại

Ly – hồi

128

2 Tác dụng sử dụng từ trái nghĩa

* Ghi nhớ 2: SGK,tr.129

* Chú ý:

Từ trái nghĩa thườngđược sử dụng trongthành ngữ, tục ngữ, cadao, phép đối

Trang 18

HS làm bài trên giấytrong.

HS theo dõi, bổ sungkiến thức (nếu cần)

II Luyện tập

Bài tập 1 – bài tập 2:Tìm từ trái nghĩa và nêutác dụng

Bài 1: Yêu cầu xác định

được các cặp từ tráinghĩa

a Cặp từ trái nghĩa:

Lành – rách

Tác dụng: Cách nói cóhình ảnh để nhấn mạnh

sự giúp đỡ giữa nhữngngười thân trong giađình

b Cặp từ trái nghĩa:

Giàu – nghèo

Tác dụng: Tạo sự tươngphản của hoàn cảnhsống

c Cặp từ trái nghĩa:

Ngắn – dài

Tác dụng: Cách nói có

Trang 19

HS thi tiếp sức, chia làm

Tác dụng: Tạo sự tươngphản về mặt thời gian

- Đất xấu – đất tốt Bài tập 3: Tìm các từ

điền vào chỗ trống trongcác thành ngữ sau: 3 tờgiấy A0 ghi các thànhngữ có chỗ trống vàđược dính lên bảng băngnam châm

Ngày đăng: 29/04/2015, 09:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w