1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng ốm đau của người dân tại 2 xã có và không trồng và chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

97 365 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 2,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thuốc lá và khoảng 33 triệu người tham gia công việc trồng cây thuốc lá [15].Việt Nam là quốc gia đang phát triển có điều kiện khí hậu nhiệt đới thuận lợicho việc trồng thuốc lá và cũng

Trang 1

•Đảng ủy, Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học Y

Hà Nội

•Đảng ủy, Ban giám đốc Bệnh viện Bưu Điện Hà Nội

•Các thầy, cô trong Khoa Y tế công cộng, trường Đại học Y Hà Nội đãgiúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và rènluyện hai năm vừa qua

Đặc biệt em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới: Tiến sỹ Kim Bảo Giang, đã cho em ý tưởng của luận văn, giúp em tìm

được đề tài hay, thiết thực và tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ emtrong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn thạc sỹ

Các bạn điều tra viên, giám sát viờn của trường Đại học Y Hà Nội, đãnhiệt tình giúp đỡ, phối hợp trong quỏ trỡnh khảo sát, phỏng vấn, thu thập sốliệu nghiên cứu tại Thỏi Nguyờn một cách nhanh chóng và chính xác

Đảng ủy, Ủy ban nhân dân và nhân dân hai xó Lõu Thượng và PhúThượng đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi thực hiện nghiên cứu này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các bạn cùng khóa, đồng nghiệp, giađình và người thân đã giúp đỡ, động viên, để tôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, tháng 10 năm 2010

Học viên

Nguyễn Đức Thịnh

Trang 2

Phòng Đào tạo sau đại học

Hội đồng chấm luận văn thạc sỹ

Khoa Y tế công cộng, trường Đại học Y Hà Nội.

Tôi xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm luận văn một cách khoahọc, chính xác, trung thực

Các số liệu và kết quả trong luận văn này là của tôi và chưa được đăngtải trên tài liệu khoa học

Nếu có sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, tháng 10 năm 2010

Học viên

Nguyễn Đức Thịnh

Trang 4

CDC Center for Diseases Control

(Trung tâm kiểm soát bệnh tật Mỹ)

COPD Chronic Obstructive Pulmonary Disease

(Bệnh tắc nghẽn lưu thông không khí trong phổi)

(Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ)

(Cơ quan kiểm soát dược và thực phẩm Mỹ)

FCTC Framework Convention on Tobacco Control

(Công ước khung về kiểm soát thuốc lá)

(Tổng sản phẩm quốc nội)

(Hội chứng thuốc lá xanh)

HCBVTV Hóa chất bảo vệ thực vật

(Tỷ lệ gia tăng nguy cơ)

NIOSH National Institude for Occupational safety and Health

(Viện quốc gia an toàn - Sức khỏe nghề nghiệp Mỹ)

Bảng 3.1 Thông tin về đối tượng điều tra theo giới

Bảng 3.2 Thông tin về đối tượng điều tra theo nhóm tuổi

Bảng 3.3 Thông tin về đối tượng điều tra theo trình độ học vấn

Bảng 3.4 Thông tin về đối tượng điều tra theo nghề nghiệp chính 12

Trang 5

gia đình được điều tra

Bảng 3.7

Thời gian trung bình tham gia trồng, chế biến thuốc lá củangười dân xã Lâu Thượng được điều tra theo giới, nhómtuổi, học vấn, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế

Bảng 3.8 Thời gian dành cho việc trồng và chăm sóc các loại cây

trồng trong một tháng trước ngày phỏng vấnBảng 3.9 Thời gian trồng và chế biến thuốc lá (trong tháng trước) tại

Lâu Thượng

Bảng 3.10

Thực trạng việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, tăngtrưởng và hút thuốc lá, uống rượu/bia của người được điềutra (trong một tháng trước ngày phỏng vấn)

Bảng 3.11 Tỷ lệ mắc các triệu chứng của người được điều tra trong 1

tháng trước ngày điều traBảng 3.12 Số lần triệu chứng ốm đau xuất hiện trung bình của người

được điều tra trong 1 tháng trước ngày điều tra

Bảng 3.13

Tình hình mắc các bệnh được nhân viên y tế chẩn đoáncủa người được phỏng vấn trong 1 tháng trước ngày phỏngvấn theo từng nhóm/bệnh

Bảng 3.14 Tự đánh giá tình trạng sức khỏe của người được điều tra

Bảng 3.17 Mô hình hồi quy logistic về tình trạng ốm đau của các

nhóm theo các đặc điểm về dân số, kinh tế, văn hóa, hành

Trang 6

độ học vấn)

Trang 7

trong một tháng trước ngày điều tra

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tác hại của thuốc lá đã được khẳng định trong rất nhiều y văn và tàiliệu đã xuất bản ở nhiều nước trên thế giới Tác hại của việc sản xuất và sửdụng các sản phẩm thuốc lá đến sức khỏe cộng đồng, phát triển kinh tế, môitrường và các vấn đề xã hội là mối quan tâm lo ngại đối với nhiều quốc giatrên thế giới trong đó có Việt Nam

Các nghiên cứu dịch tễ học cũng chỉ rõ thuốc lá là nguyên nhân củanhiều loại bệnh nguy hiểm như ung thư phổi, bệnh phổi mạn tính, nhồi máu

cơ tim và hàng loạt các vấn đề sức khỏe khác Theo báo cáo của Tổ chức Y tếthế giới (TCYTTG), hàng năm cú trờn 4 triệu người chết do các bệnh liênquan đến thuốc lá, dự tính đến năm 2030 sẽ có khoảng 10 triệu người chết vìkhói thuốc lá mỗi năm, trong đó 70% là ở các nước đang phát triển [1], [15]

Tại Việt Nam, theo dự báo của TCYTTG có khoảng 10% dân số ViệtNam sẽ tử vong sớm do các bệnh liên quan đến thuốc lá và một nửa số cáctrường hợp tử vong là ở độ tuổi lao động, dự báo đến năm 2020 số người chết

vì thuốc lá sẽ nhiều hơn tổng số người chết do HIV/AIDS, lao, tai nạn giaothông đường bộ [6] Theo ước tính của TCYTTG hàng năm có khoảng 40.000người tử vong do thuốc lá, dự báo vào năm 2030, con số này sẽ tăng lên tới70.000 người mỗi năm [25]

Mặt dù tỷ lệ tử vong vì thuốc lá ngày càng tăng, nhưng số lợi nhuậnkhổng lồ đem lại cho ngành công nghiệp thuốc lá cũng như đóng góp cho ngânsách nhà nước, giải quyết việc làm và thu nhập cho một bộ phận người laođộng là bài toán đặt ra với chính phủ các nước, trong đó có Việt Nam

Để tối đa hóa lợi nhuận, ngành công nghiệp thuốc lá luôn khuyến khíchcác quốc gia nhất là các nước đang phát triển cũng như người nông dân nhữngnước này trồng ngày càng nhiều cây thuốc lá, coi thuốc lá là thứ có thể manglại sự thịnh vượng cho người nông dân, cộng đồng và đất nước Theo thống kêcủa Ngân hàng thế giới (WB), trên thế giới có khoảng hơn 100 quốc gia trồng

Trang 9

thuốc lá và khoảng 33 triệu người tham gia công việc trồng cây thuốc lá [15].Việt Nam là quốc gia đang phát triển có điều kiện khí hậu nhiệt đới thuận lợicho việc trồng thuốc lá và cũng đang là đích đến của các công ty thuốc lá.Theo thống kê, hiện nay Việt Nam cú trờn 200.000 nông dân trồng thuốc lá vàhàng trăm ngàn lao động trong các lĩnh vực dịch vụ, thương mại liên quan đếnthuốc lá [2].

Do những tác động tiêu cực của thuốc lá tới mọi mặt của đời sống conngười, nên hiện nay hầu hết chính phủ các nước đã xây dựng chính sáchquốc gia về kiểm soát thuốc lá, trong đó mối quan tâm hàng đầu của cácquốc gia là bảo vệ đến sức khỏe mọi người Mặc dù với mức độ quan tâmkhác nhau do có điều kiện khác nhau về kinh tế, văn hóa, chính trị, nhưngđều với mục đích làm giảm sự đau đớn về thể xác và những mất mát về tinhthần tạo ra bởi gánh nặng bệnh tật và tử vong do thuốc lá gây nên Tại ViệtNam, một loạt các văn bản pháp quy về kiểm soát thuốc lá đã được Chínhphủ phê duyệt, trong đó đặc biệt quan trọng là Việt Nam đã tham gia kýCông ước khung của Tổ chức Y tế thế giới về kiểm soát thuốc lá đưa ra ngày11/11/2004 [11]

Hiện nay những nghiên cứu về thuốc lá tại Việt Nam vẫn chủ yếu lànghiên cứu về vấn đề tác hại của hút thuốc lá, vẫn còn rất ít nghiên cứu đề cậpđến nguy cơ sức khỏe liên quan đến trồng và chế biến thuốc lá Để góp phầncung cấp các thông tin đáng tin cậy về nguy cơ sức khỏe liên quan đến trồng,

và chế biến thuốc lá, chúng tôi thực hiện đề tài: “Thực trạng ốm đau của

người dân tại 2 xó cú và không trồng và chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thỏi Nguyờn”, nhằm mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng ốm đau của người dân 2 xó cú và không trồng, chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thỏi Nguyờn, năm 2010.

2 Phân tích mối liên quan giữa ốm đau với trồng, chế biến thuốc lá và một số yếu tố dân số, kinh tế văn hóa xã hội và hành vi của người dân 2 xã huyện Võ Nhai, tỉnh Thỏi Nguyờn.

Trang 10

Chương I

TỔNG QUAN1.1 ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC LÁ

1.1.1 Ảnh hưởng của thuốc lá đối với sức khỏe

Thuốc lá là lá của cây nicotinana tabacum hay các loại cây tương tựđược phơi khô, dựng hỳt, nhai hoặc làm thuốc hít Thuốc lá được tìm ra ởChâu Mỹ từ thế kỷ XV, đến đầu thế kỷ XIX thuốc lá đã được sản xuất và sửdụng rộng rãi trên toàn cầu Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ XX ảnh hưởng củathuốc lá đến sức khỏe con người mới được phát hiện [15]

Theo điều tra, hiện nay trên thế giới cú trờn 33 triệu người làm việctrong ngành trồng cây thuốc lá Bệnh nghề nghiệp đặc trưng cho nhữngngười này là bệnh “say lá thuốc” hay còn gọi là hội chứng thuốc lá xanh(green tobacco sickness-GTS), là một dạng nhiễm độc nicụtin qua da dochạm phải lá cây thuốc lá còn ướt trong quá trình chăm sóc cây trồng Donicụtin là loại alkaloid dễ hòa tan trong nước nên thường tích tụ trong cáchạt sương hoặc nước mưa đọng trên lá cây, khi người công nhân chạm phảicác lá cây còn ướt, họ sẽ hấp phụ nicụtin trực tiếp qua da của mỡnh Cỏctriệu chứng nhiễm độc xảy ra trong vòng vài giờ sau khi tiếp xúc và giảmdần sau 1 - 3 ngày, các triệu chứng thường thấy gồm đau bụng, buồn nôn,nôn oẹ, tiêu chảy, ốm yếu, nhức đầu chóng mặt cảm lạnh, tăng tiết nước bọt

và mồ hôi, thậm chí co thắt vùng bụng, khó thở, rối loạn huyết áp và nhịptim [30] Theo báo cáo của McBride JS và cộng sự, GTS xuất hiện ở 1-10%người trồng thuốc lá tại Mỹ [45] Nghiên cứu của NIOSH tiến hành phỏngvấn 40 người bệnh làm việc trong ngành trồng thuốc lá bị GTS thấy rằngthời gian trung bình từ khi làm việc đến khi bắt đầu xuất hiện các triệuchứng là 10 tiếng (từ 3-17 giờ), cũng theo báo cáo thì tỷ lệ xuất hiện cáctriệu chứng là: mệt mỏi (100%), buồn nôn (98%), nôn (91%), hoa mắt chóng

Trang 11

mặt (91%), đau bụng (70%), đau đầu (60%), khó thở (60%), thời gian xuấthiện các triệu chứng trung bình là 2,4 ngày [45] Ngày nay GTS đang trởthành vấn đề của toàn cầu mà việc sản xuất thuốc lá phải đối mặt, TCYTTGđang đi đầu trong nghiên cứu các vấn đề về sức khỏe, xã hội và môi trườngdưới tác động của việc phát triển thuốc lá trong mối liên quan đến sự pháttriển của thế giới, trong đó GTS là một yếu tố cần được tính đến [58].

Ngoài nguy cơ nhiễm độc nicụtin, người trồng thuốc lá còn phải đốimặt với một nguy cơ về sức khỏe khác, đó là các loại hóa chất bảo vệ thựcvật và phân bón hóa học được sử dụng trong ngành trồng cây thuốc lá Trongmột vụ thuốc lá, người ta phải sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật nhiều lần; ởmột số nơi tại Kenya (châu Phi) con số đó là 16 lần Trồng và chăm sóc câythuốc lá tốn rất nhiều công sức và thường là phải làm bằng tay Một héc tatrồng cây thuốc lá cần tới 3000 giờ công lao động, trong khi đối với cây ngôchỉ cần 265 giờ công Càng cần nhiều giờ công lao động có nghĩa là thờigian phải tiếp xúc với cây thuốc lá và các loại hóa chất bảo vệ thực vật tănglên Trên thế giới, các loại hóa chất bảo vệ thực vật như: aldicarb,chlorpyrifos, và 1,3 - dichloropropen (1,3-D) thường được sử dụng cho câythuốc lá Ngoài ra, chất acephat cũng được sử dụng nhiều Aldicarb là loạithuốc trừ sâu diệt được cả rệp và giun có hại; triệu chứng nhiễm độc cấp tínhaldicarb là chóng mặt, tiêu chảy, nôn mửa, mắt mờ và thở dốc Chlorpyrifos

là hóa chất bảo vệ thực vật gốc photpho hữu cơ, có thể gây chứng đau đầu,mắt mờ, rớt nước dãi, làm yếu cơ bắp và loạn nhịp tim Chất 1,3 - D đượcdùng để diệt giun có hại; triệu chứng nhiễm độc 1,3 - D là đau đầu, buồnnôn, chóng mặt, đường thở bị kích thích Theo một cơ quan nghiên cứu, 1,3-

D có thể gây ung thư Acephat là hóa chất bảo vệ thực vật photpho hữu cơ cóthể gõy cỏc triệu chứng như: co giật, đau đầu, chảy nước dãi, tiêu chảy, khóthở, nếu nặng có thể dẫn đến tử vong Mặc dù acephat không có độc tính caonhưng Cơ quan Bảo vệ môi trường của Mỹ (EPA) lại xếp nó vào loại hóachất có thể gây ung thư Đối với cây thuốc lá, người ta cũng dùng maleic

Trang 12

hyđrazit để kích thích cho chồi phát triển; chất này cũng có thể gây kíchthích da và mắt.

Các thống kê ở Braxin cho thấy, trong thời gian từ 1979 đến 1995 tỷ lệcác trường hợp tự tử ở nông dân trồng thuốc lá cao gấp 7 lần so với mức trungbình của cả nước này Tuy nhiên, người ta chưa có một bằng chứng cụ thể nào

về mối liên hệ giữa những trường hợp tự tử nói trên với việc bị nhiễm độc bởicác hóa chất bảo vệ thực vật

Để bảo đảm an toàn cho người lao động làm việc trong ngành trồng câythuốc lá, việc quan trọng là phải huấn luyện an toàn lao động cho họ, khuyếnkhích việc sử dụng các loại hóa chất bảo vệ thực vật ít độc hại hơn nhưimidacloprid, clomazon và acephat, đồng thời giảm lượng sử dụng các hóachất bảo vệ thực vật đến mức thấp nhất [17]

Theo một nghiên cứu mới cho thấy, lá thuốc lá có chứa hàng trămchủng vi khuẩn khác nhau, trong đó có nhiều loại gây bệnh, nhất là bệnh phổi

và bệnh nhiễm trùng đường hô hấp [55]

Theo các nghiên cứu, trong khói thuốc lá chứa hơn 4000 loại hoá chất,

có hơn 200 loại có hại cho sức khoẻ, bao gồm chất gây nghiện và các chấtgây độc, trong đó có 43 chất gây ung thư, bao gồm các chất khí kích thích,axit hữu cơ, kim loại và các chất hoá học [5], [49] Các chất hoá học trongkhói thuốc lá tồn tại dưới hai dạng: dạng khí và dạng hạt Dạng hạt bao gồmcác chất gây nghiện điển hình là nicụtin, chất quyết định mấu chốt của việcgây nghiện và phụ thuộc vào thuốc lá, nicụtin là một chất không màu,chuyển thành màu nâu khi cháy và có mùi thuốc khi tiếp xúc với không khí,nicụtin được hấp thụ qua da, miệng và niêm mạc mũi hoặc hít vào phổi [5],[20] Cơ quan Kiểm soát Dược và thực phẩm Mỹ (FDA) xếp nicụtin vàonhúm cỏc chất có tính chất dược lý gây nghiện chủ yếu, tương tự như các

Trang 13

chất ma tuý Heroin và Cocain [9] Tác dụng gây nghiện của nicụtin chủ yếu

là trên hệ thần kinh trung ương với sự có mặt của các thụ thể nicụtin trên cáccấu trúc não Chất alcaloide này tác động lờn cỏc thụ thể ở hệ thống thầnkinh với chất dẫn truyền thần kinh dopamine Dopamine là một hóa chấtchính trong não điều chỉnh mong muốn sử dụng các chất gây nghiện, gây bàitiết adrenaline (nhịp tim nhanh, co mạch ngoại vi, ức chế co bóp và chế tiếtdịch vị dạ dày) [20]

Các chất độc ở dạng khí của khói thuốc lá gồm có Monoxit carbon (khí CO), khí CO có nồng độ cao trong khói thuốc lá và sẽ được hấp thụ vào

máu, gắn với hemoglobine với ái lực mạnh hơn 20 lần oxy Với người húttrung bình một bao thuốc mỗi ngày thì hàm lượng hemoglobine khử có thể tới7-8% Sự tăng hemoglobine khử làm chuyển dịch đường cong phân tách oxy-hemoglobine dẫn đến giảm lượng oxy chuyển đến tổ chức gây thiếu máu tổ

chức và có lẽ góp phần hình thành các mảng xơ vữa động mạch Ngoài ra trong khói thuốc lá chứa nhiều chất kích thích dạng khí khác như: amoniac,

diethylnnitrosamin, formaldehyt, hydrogen, cyanide,v.v các chất kích thíchnày gây nên các thay đổi cấu trúc của niêm mạc phế quản dẫn đến tăng sinhcác tuyến phế quản, các tế bào tiết nhầy và làm mất các tế bào có lông chuyển.Các thay đổi này làm tăng tiết nhày và giảm hiệu quả thanh lọc của thảmnhày-lụng chuyển [5], [16].Trong khói thuốc lá còn cú trên 40 chất gây ungthư, trong số đó gồm cả các hợp chất thơm có vòng đóng như Benzopyrene cótính chất gây ung thư, cỏc hoá chất này tác động lên tế bào bề mặt của đường

hô hấp gây nên tình trạng viêm mạn tính, phá huỷ tổ chức, biến đổi tế bào dẫnđến dị sản, loạn sản rồi ác tính hoá [10], [27]

Theo nghiên cứu mới đõy của các nhà khoa học thuộc Mayo Clinic tạiRochester, Mỹ, đã nghiên cứu hơn 1.500 tài liệu thu thập từ các công ty lớnsản xuất thuốc lá của nước này và phát hiện ra các công ty sản xuất thuốc lálớn của Mỹ trong đó có Phillip Morris (sở hữu thương hiệu Marlboro), RJ

Trang 14

Reynolds (sở hữu Camel), British American Tobacco (sở hữu State Express

555 và Dunhill, tất cả đều là những thương hiệu hiện diện và một số rất phổbiến ở Việt Nam) trong suốt 40 năm qua đã che giấu việc trong lá thuốc, điếuthuốc và khói thuốc của các sản phẩm do họ sản xuất có chất Polonium 210(210Po) Polonium 210 là một chất phóng xạ đặc biệt nguy hiểm và không ổnđịnh, đến mức người ta cấm sử dụng nó trong các hoạt động y tế Nó đọng lại

ở cỏc nhỏnh phế quản và từ đó gây ra ung thư, tại Mỹ, nó là nguyên nhân của1% các ca ung thư phổi Sở dĩ Polonium 210 hiện diện trong khói thuốc là dongười ta sử dụng phân bón giàu phốt phát khi trồng thuốc lá, loại phân bónnày được lấy từ các mỏ apatớt, một thứ đỏ cú chứa radium và polonium.Chính loại phân bón này góp phần tạo nên hương vị đặc biệt của lá [44]

Khi hút thuốc các chất đó đều được tung vào không khí Ngoài ra cácchất độc này còn tỏa ra không khí ngay cả khi trồng trọt, chế biến thuốc lá, dovậy người trực tiếp tham gia quá trình trồng trọt và chế biến thuốc lá cũng chịuảnh hưởng của các chất độc có trong khói thuốc lá Có 3 kiểu khói thuốc lỏ:dũng khúi chớnh, dũng khúi phụ và khói thuốc môi trường [5] Dòng khói phụ

có thành phần chất độc hại cao hơn dũng khúi chớnh rất nhiều: nồng độ cacbonmonoxyt cao gấp 15 lần, nicụtin cao gấp 21 lần, formaldehyt gấp 50 lần,dimethylnitrosamin cao gấp 130 lần,v.v Chính vì vậy mà những người khônghút thuốc lá nhưng thường xuyên phải hít thở trong môi trường có khói thuốc lá(trong đó bao gồm những người tham gia sản xuất thuốc lá)và chịu những táchại tương tự như những người hút thuốc lá, tuy nhiên dũng khúi phụ được phaloãng với không khớ nên mức độ gây hại phụ thuộc vào một số yếu tố liên quan[40], [41] Cơ quan bảo vệ môi trường của Mỹ đã xếp khói thuốc lá vào nhóm

A trong bảng danh sách các chất gây ung thư và là nguyên nhân gây ra 3.000 cachết vì ung thư phổi do hút thuốc thụ động [8] Người không hút thuốc nhưngthường xuyên phải hít khói thuốc lỏ cú nguy cơ bị ung thư phổi cao hơn 26% sovới người khụng hớt phải khói thuốc lá, nghiên cứu cũn cho thấy sự tiếp xúcvới khói thuốc lá thụ động của vợ hoặc chồng trong gia đình là nguyên nhângây bệnh suy mạch vành tim và tăng nguy cơ mắc bệnh này tới 30% [55]

Trang 15

Tương tự như vậy theo cơ quan kiểm soát dịch bệnh Mỹ (CDC), những ngườikhông hút thuốc nhưng thường xuyên phải hít khói thuốc lỏ cú nguy cơ bị ungthư phổi cao hơn từ 20-30% và nguy cơ bị bệnh về tim mạch cao hơn từ 25-30% so với người khụng hớt phải khói thuốc lá [34] Khói thuốc lá thụ độnglàm tăng 22% nguy cơ trẻ sinh nhẹ cân (dưới 2500g) [43].

Sử dụng thuốc lá có thể gây ra tới 25 bệnh nguy hiểm như: ung thưphổi, các bệnh tim mạch, các bệnh đường hô hấp, v.v.[49], [57] Theo tổchức Y tế thế giới, ước tính mỗi năm trên thế giới có khoảng 5 triệu ngườichết vì thuốc lá và trong 10 trường hợp người lớn tử vong thỡ cú một trườnghợp tử vong nguyên nhân do thuốc lá, ước tính đến năm 2023 con số tử vong

do thuốc lá là khoảng 6-10 triệu người/năm Số lượng tử vong do thuốc lálớn hơn bất kỳ nguyên nhân tử vong nào khác, nhiều hơn cả số tử vong doviêm phổi, lao, tiêu chảy, v.v Nếu gánh nặng do thuốc lá gây ra không giảmthì khoảng 500 triệu người hiện đang sống sẽ chết do thuốc lá, một nửa trong

số đó sẽ chết ở độ tuổi trung niên và tuổi thọ giảm mất 20-25 năm Tử vong

do thuốc lá trước đây phổ biến ở các nước có thu nhập cao, ngày nay nóđang dần chuyển sang các nước có thu nhập trung bình và thấp [15]

Ở các nước đang phát triển, thuốc lá là nguyên nhân chính gây tử vong,khoảng 20% tổng số chết trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX ở Trung Quốc là dohút thuốc lá trong đó 1/3 tử vong là do ung thư phổi, 1/3 do các loại ung thưkhác và 1/3 còn lại do các bệnh khác [35] Dự tính đến năm 2020, khoảng70% tử vong do thuốc lá sẽ xảy ra ở các nước đang phát triển so với hiện tại là50% TCYTTG dự báo sẽ có khoảng 10% dân số Việt Nam ngày nay sẽ tửvong sớm do các bệnh liờn quan đến sử dụng thuốc lá và một nửa trong số họ

tử vong ở độ tuổi lao động [9]

1.1.2 Ảnh hưởng của thuốc lá đối với môi trường

Cho đến nay, không ít người đã nhận thức được tác hại to lớn củathuốc lá tới sức khoẻ con người, song có lẽ còn chưa đánh giá đầy đủ những

Trang 16

ảnh hưởng xấu của thuốc lá tới môi trường Từ khâu trồng thuốc lá, quakhâu chế biến, sản xuất cho đến khi tiêu thụ, vòng đời của một điếu thuốc lásản sinh biết bao tác nhân gây ô nhiễm cho môi trường sống của con người.

Rừng bị tàn phá cho mục đích lấy đất để trồng thuốc lá, lấy gỗ phục

vụ sấy thuốc lá và xõy lũ sấy, ngoài ra rừng còn bị phá cho mục đích sảnxuất giấy cuốn thuốc lá và bao bì thuốc Qua thống kê, người ta thấy mỗinăm có khoảng 200.000 héc ta rừng trên thế giới đã bị phá để lấy đất trồngthuốc lá Sau khi thu hoạch, thuốc lá phải được sấy khô và gỗ là một trongnhững nguồn nguyên liệu sấy chủ yếu, mỗi năm người ta phải chặt tới 5triệu héc ta rừng hay 600 triệu cây xanh để lấy gỗ làm củi sấy thuốc lá Cácnhà khoa học đã thực hiện một cuộc điều tra về tình hình sử dụng gỗ củi đểsấy thuốc lá ở 23 quốc gia, kết quả cho thấy cứ trung bình để sấy được 1 kgthuốc lá khô, người ta phải sử dụng 5,5 kg củi Rừng bị tàn phá cho mụcđích sấy thuốc lá chiếm tới 1,7% diện tích rừng toàn cầu và khoảng 4,6%diện tích rừng của 66 nước trồng thuốc lá trên thế giới (hầu hết là các nướcđang phát triển) [39] Nếu tính theo mức độ phá rừng vì mục đích sản xuấtthuốc lá, Việt Nam được xếp ở hạng trung bình với khoảng 1,4% diện tíchrừng bị phá mỗi năm [18]

Quá trình sản xuất thuốc lá tạo ra lượng chất thải rất lớn, trong đóngoài những chất hữu cơ thông thường như bụi than, giấy vụn, v.v., còn córất nhiều các chất thải hoá học độc hại khác ở dạng rắn, dạng lỏng (thểsương) hoặc dạng khí có trong bụi thuốc lá và môi trường không khí tại nơisản xuất và khu vực lân cận, bao gồm chất dầu, chất dẻo và nhiều hoá chấtnhư amoniac, etylen, glycol, axit sunfuric, hydrofluorit, nicụtin, v.v.[28].Theo thống kê năm 1995 ngành công nghiệp thuốc lá thế giới thải ra 2.262triệu kg rác, 209 triệu kg chất thải hóa học Ở Mỹ, các nhà máy thuốc láđứng thứ 18 trong danh sách các ngành công nghiệp có chất thải hoá học độchại Mỗi năm ngành công nghiệp thuốc lá trên thế giới thải ra khoảng 300triệu kilogam nicôtin, một trong những chất mà Cơ quan Bảo vệ môi trường

Trang 17

Mỹ cho rằng rất độc hại Đây là một sự thật hiển nhiên mà ngay các công tysản xuất thuốc lá có tên tuổi trên thế giới cũng không thể chối bỏ Báo cáocủa Công ty thuốc lá BAT cũng đã khẳng định: "Chúng tôi thừa nhận rằnghoạt động của Công ty chúng tôi có ảnh hưởng xấu đến môi trường" [32].

Trong khi đó, ở nước ta vẫn còn nhiều nhà máy sản xuất thuốc lá nằmtrong các khu vực đông dân cư Mặc dù doanh nghiệp đã chú ý giảm thiểu ônhiễm như lắp đặt các hệ thống thiết bị hỳt giú, thông gió, song hoạt độngcủa các nhà máy này vẫn ảnh hưởng xấu tới môi trường sống và sức khoẻcủa người dân địa phương [3]

Các chất thải trong quá trình sản xuất và sử dụng thuốc lá như đầumẩu thuốc lá, vỏ bao thuốc lá và vỏ kiện thuốc lá Chỉ tính đến năm 1995,ước tính có tới 5.535 triệu tỷ đầu mẩu thuốc lá, 27.675 triệu vỏ kiện thuốc lá

và 276.753 triệu vỏ bao thuốc lá được bỏn trờn phạm vi toàn cầu Đầu mẩuthuốc lá là thành phần chính được vớt lên trong chiến dịch làm sạch nướcbiển Lao công ở Mỹ lên tiếng phàn nàn rằng, họ phải làm thêm giờ hàngtháng vỡ quột đầu mẩu thuốc trên đường Đầu mẩu thuốc lá cần 5 đến 7 năm

để phân huỷ hết Các đầu mẩu thuốc lá còn gây ra tác hại tới sức khoẻ độngvật, nếu chúng ăn phải đầu lọc thuốc lá sẽ không thể tiờu hoỏ được cỏc hoỏchất trong đó và chúng có thể chết vì những chất hoá học này [32]

Thuốc lá là cây sử dụng nhiều chất dinh dưỡng trong đất Không cóloại cây nào hấp thụ nhiều chất dinh dưỡng trong đất (kali, phốtpho và nitơ)nhiều như cây thuốc lá dẫn đến hiện tượng xói mòn đất ngày càng nhanh dođất bị bạc màu, đặc biệt ở những địa phương nơi mà thuốc lá chủ yếu đượctrồng ở vùng đất dốc, ngoài ra cây thuốc lá là loại cây “khát nước” nênngười trồng phải sử dụng rất nhiều nước để tưới cho nó

Thuốc lá là một loại cây sử dụng nhiều loại hóa chất bảo vệ thực vật,bao gồm các chất độc hại mà các chất này tích tụ ở bồn nước ngầm, nướcmặt (sông, suối, ao ), nước mưa, nước ăn, trung bình mỗi vụ trồng thuốc lá

Trang 18

dài ba tháng, người nụng dân phải sử dụng tới 16 loại hóa chất bảo vệ thựcvật và nhiều loại phân bón hoá học, về lâu dài việc sử dụng nhiều hoá chất

sẽ càng làm đất bị chai cứng, ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khoẻnông dân Một khía cạnh khác của việc sử dụng nhiều loại hóa chất bảo vệthực vật là nó làm cho việc kiểm soát các bệnh ở người do côn trùng gây ra

sẽ khó khăn hơn, ví dụ như việc phòng chống sốt rét gặp khó khăn do muỗi

và ruồi vẫn tiếp tục phát triển do các loài thiên địch đã bị tiêu diệt [31]

Hút thuốc còn là nguyên nhân gây nên cháy, nổ Tại nước Anh, hầuhết các vụ chết người do cháy gây ra là do hút thuốc lá và sử dụng diêm,người hút thuốc gây nên hơn 9.000 vụ cháy nghiêm trọng ở Anh mỗi năm,làm chết 200 người và bị thương 2.000 người Cháy rừng ở Trung Quốc đãquét sạch rừng Đông Bắc năm 1985, cán bộ lâm nghiệp bị bắt do vứt đầumẩu thuốc lá xuống cỏ Trong vụ cháy này, 1,3 triệu ha đất bị tàn phá, 300người bị chết, và 5.000 người bị mất nhà Trên phạm vi toàn cầu, hút thuốcgây nên thiệt hại ước tính khoảng 100.000 triệu đô la Mỹ và khoảng mộttriệu vụ cháy mỗi năm Hút thuốc gây nên khoảng 30% tổng số người chết ở

Mỹ vỡ chỏy và 10% trên toàn thế giới, với tổng chi phí 5,34-22,8 tỷ đô la

Mỹ cho nước Mỹ, và 8,2-89,2 tỷ đụla Mỹ cho toàn thế giới [9], [56]

Ngoài ra thuốc lá cũn gõy ô nhiễm không khí bằng 2 hình thức: Do sửdụng nhiên liệu để sấy thuốc lá, trong số các loại nhiên liệu được sử dụng,than là nguồn nhiên liệu chủ yếu (chiếm 67,1%) trong sấy thuốc lá ở nhiềunước có sản lượng thuốc lá lớn như: Trung Quốc, Ấn Độ, Zimbabuờ, v.v.Củi gỗ (chiếm 15,7%) được sử dụng phổ biến ở Pakistan, Lào, Campuchia,v.v Khí ga (chiếm 17,2%) được sử dụng rộng rãi ở khu vực Bắc Mỹ, dầuđược sử dụng nhiều ở Indonexia và điện được sử dụng phổ biến ở Pháp Hútthuốc lá là nguyên nhân chính gây nên ô nhiễm không khí trong nhà vàngoài trời do thải ra ngoài không khí hàng ngàn chất hóa học độc hại Khitiến hành các hoạt động nhằm giảm ô nhiễm không khí thì không thể khôngtính đến ô nhiễm không khí trong nhà, v.v.[13]

Trang 19

Rừ ràng việc trồng và sản xuất thuốc lỏ đó hủy hoại môi trườngnghiờm trọng và gây ra hàng loạt những vấn đề sức khỏe liên quan đếnngười nông dân và gia đình của họ Song, các công ty sản xuất thuốc luônlẩn tránh và lờ đi các khoản chi phí bù đắp về môi trường và sức khỏe liênquan đến hoạt động trồng thuốc lá [33].

1.1.3 Ảnh hưởng của thuốc lá đối với kinh tế - xã hội

Thuốc lá mang lại lợi nhuận cho các công ty thuốc lá, chứ không phảicho chính phủ hay người nông dân trồng thuốc lá của nước họ Mặc dù ngànhcông nghiệp thuốc lá đó cú những đóng góp đáng kể cho ngân sách của nhiềuquốc gia, tuy nhiên cũng cần thừa nhận thực tế là các quốc gia cũng đang phảigánh chịu những tổn thất kinh tế to lớn do ngành công nghiệp thuốc lá gây ranhư: tăng chi phí y tế để chữa trị các bệnh có liên quan đến thuốc lá và năngsuất lao động giảm sút do bệnh tật và tử vong, gia tăng ô nhiễm môi trường,các chi phí cơ hội trong trồng trọt và sản xuất thuốc lá, v.v.[9], [12] Nhiềuquốc gia còn mất hàng triệu đô la mỗi năm cho việc nhập khẩu thuốc lá, cũngnhư từ thuế do vấn nạn buôn lậu thuốc lá [9]

Ngành công nghiệp thuốc lá tại Việt Nam đã tạo ra việc làm cho gần16.000 lao động công nghiệp, trên 200.000 lao động nông nghiệp (tại cỏcvựng nguyên liệu) và hàng trăm ngàn lao động dịch vụ phục vụ ngành thuốc

lá Theo thống kê từ năm 1995 đến năm 2004 tổng nộp ngân sách nhà nước là30.233 tỷ đồng, năm 2004 nộp 6.177 tỷ đồng tăng gần gấp 4 lần so với năm

1995, ước tính năm 2005 nộp ngân sách khoảng 6.782 tỷ đồng [2]

Cho đến nay hầu hết thuốc lá được tiêu thụ (bao gồm cả thuốc lá nhậplậu và sản xuất nội địa) được sản xuất bởi các công ty đa quốc gia, vì vậy lợinhuận chính thu được từ kinh doanh thuốc lá rơi vào tỳi cỏc công ty đa quốcgia này Ngay tại Mỹ các công ty cũng lao vào kiếm tiền, theo thống kê năm

1998 trung bình canh tác thuốc lá mang lại cho người nông dân trồng thuốc lá19.597 đô la, trong khi số tiền các công ty thuốc lá chi cho quảng cáo và

Trang 20

khuyến mại để tăng cường tiêu thụ sản phẩm là 5,6 tỷ đô la, mặc dù Mỹ chỉchiếm 5% số người hút thuốc trên thế giới [9].

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ, thuốc lá ngoại tiêu thụ trên thịtrường Việt Nam chiếm từ 15-18%, đồng thời lượng thuốc lá buôn lậu vàoViệt Nam ước tính chiếm khoảng 10% lượng thuốc lá được tiêu thụ trên thịtrường [8] Năm 1999, chính phủ Việt Nam ước tính mỗi ngày có khoảng

10 triệu điếu thuốc lá trị giá 350.000 đô la Mỹ được buôn lậu từ Campuchiavào Việt Nam gây thất thu cho ngõn sách nhà nước 37 triệu đô la Mỹ mỗinăm [42]

Các chi phí và ảnh hưởng do thuốc lá đến sức khỏe, kinh tế và môitrường là rất lớn Những thiệt hại có thể thấy rất rõ bao gồm: Thời gian nghỉ

để hút thuốc lá (để hút hết một điếu thuốc lá cần 7-10 phút, thời gian hútkhông tập trung làm việc được), hút thuốc lỏ gõy mệt mỏi và bệnh tật nhiềuhơn dẫn đến thời gian nghỉ việc do bệnh tật nhiều hơn, sức khỏe kém nênnăng suất và chất lượng lao động giảm, hút thuốc lỏ cũn ảnh hưởng trực tiếpđến sức khỏe và kinh tế gia đình (tại các nước đang phát triển số tiền chi chomua thuốc lá chiếm khoảng 25% thu nhập có thể sử dụng của người hút thuốc,chi phí này chiếm mất quỹ chi tiêu cho các nhu cầu cá nhân khác), chi phí chobệnh tật, chi phí do mất thu nhập, làm bẩn cảnh quan môi trường, mặt khácnhững người xung quanh cũng bị ảnh hưởng bởi hút thuốc lá thụ động [12].Những yếu tố này dẫn tới giảm năng suất lao động; tăng chớ phớ chữa bệnh,chi phí xã hội; giảm chi cho thực phẩm, giáo dục, y tế, vừa trực tiếp, vừa giántiếp làm thiết hại kinh tế cho xã hội

Trên thế giới, thuốc lá gây thiệt hại 200 tỷ đô la mỗi năm cho nền kinh

tế thế giới Ước tính chi phí cho y tế để điều trị các bệnh liên quan đến thuốc

lá, giảm năng suất lao động và các chi phí xã hội khác chiếm 1-3% GDP.Theo thống kê ở Trung Quốc chi phí trực tiếp và gián tiếp do thuốc lá làkhoảng 6,1 tỷ đô la mỗi năm, chi phí cho thuốc lá tại một số nước như sau

Trang 21

(chiếm % GDP): Australia 1,4%; Canada 1,9%; Nhật Bản 1,1%; Nam Phi0,7%; Mỹ 2,0%

Tại Việt Nam, theo điều tra mức sống dân cư năm 1998, số tiền cả nướcchi cho việc mua thuốc lá là 5.834 tỷ đồng, nếu quy đổi ra lượng gạo tính ởthời điểm năm 1998 thì số tiền này có thể mua được 1,6 triệu tấn gạo đủ nuôisống 10,6 triệu người trong một năm Cũn tổng số tiền chi cho thuốc lá năm

2002 là 10.400 tỉ đồng, chi thuốc lá trung bình của một người hút thuốc năm

2002 là 682.800 đồng/năm, còn chi cho 3 bệnh (COPD, ung thư phổi, NMCT)hơn 1.160 tỉ đồng Tổng số tiền chi cho thuốc lá năm 2007 là 14.000 tỉ đồng.Hiện nay ước tính tổng số tiền người dân chi cho mua thuốc lá mỗi năm là8.213 tỷ đồng, số tiền này đủ mua 2,4 triệu tấn gạo đủ nuôi 15,6 triệu ngườitrong một năm Các hộ gia đình chi cho thuốc lá tương đương với chi cho giáodục, y tế Ở hộ nghèo, chi thuốc lá bằng 1,5 chi giáo dục Nếu tiền chi chothuốc lỏ dựng mua thực phẩm thì 11,2% hộ nghèo sẽ thoỏt nghốo Ước tínhphần đóng góp của ngành công nghiệp cho ngân sách chỉ chiếm 1/3 số tiền(khoảng 6.000 tỷ đồng) mà người dân dùng để hút thuốc lá [21]

Theo Vũ Xuõn Phỳ và cộng sự nghiên cứu chi phí bệnh viện cho việcđiều trị 3 bệnh liên quan đến thuốc lá cho thấy chi phí trung bình cho một đợtnằm viện vỡ cỏc bệnh liên quan đến thuốc lá (ung thư phổi, các bệnh khôngung thư và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính) là 11.762.000 đồng, trong đó nhànước phải trả 18,5%, cá nhân phải trả 43,5%, bảo hiểm trả 38% chi phí Chiphí trung bình cho một đợt nằm viện vì bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính là3.744.000 đồng, cho người bị ung thư phổi là 12.358.000 đồng, và bệnh thiếumáu cục bộ cơ tim là 31.399.000 đồng, tổng số tiền điều trị hàng năm cho 3bệnh là vào khoảng 429,8 tỷ đồng Thời gian điều trị bệnh nhân ở bệnh việncho 3 bệnh này từ 8,6 đến 43,3 ngày cho một đợt điều trị Đối với xã hội, chỉtớnh riờng 3 bệnh được lựa chọn trong nghiên cứu này, thuốc lá gây rakhoảng 50% chi phí xã hội liên quan đến bệnh nhân nội trú và 804 tỷ đồng(khoảng 50 triệu đô la Mỹ), và 0,11% tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam

Trang 22

hay18% kinh phí chính phủ dành cho y tế và 19% kinh phí do các công tythuốc lá đóng góp cho nhà nước Nói cách khác nếu ngừng hút thuốc, ViệtNam có thể tiết kiệm được 804 tỷ cho điều trị bệnh nhân nội trú mắc bệnhphổi tắc nghẽn mãn tính, ung thư phổi và nhồi máu cơ tim [26].

Đối với người nông dân trồng thuốc lá tại Việt Nam, nghiên cứu bướcđầu cho thấy việc trồng cây thuốc lá mặc dù có vẻ đem lại cho người nông dânthu nhập cao hơn so với cây trồng khác, nhưng nó cũng không giúp cho ngườinông dân cải thiện được tình trạng kinh tế gia đình của họ Mặt khác, nhữngngười nông dân trồng cây thuốc lá phải đối mặt với nhiều nguy cơ về sứckhỏe do việc trồng cây thuốc lá đem lại, và hay ốm đau hơn so với nhữngngười nông dân khác [46]

Theo NIOSH chi phí trung bình trong một đợt điều trị cho một ngườitrồng thuốc lá điều trị các triệu chứng của GTS như sau: chi phí cho điều trị

250 đô la, chi phí cho bệnh viện là 566 đô la và 2.041 đô la cho công tác chămsóc tăng cường [47]

Nói chung ngành công nghiệp thuốc lá về mặt nào đú đó đóng góp mộtphần đáng kể vào ngân sách quốc gia, nhưng xét về mặt tác hại thì sản xuất vàhút thuốc lá gây ra những tổn thất lớn cho xã hội Những chi phí dễ nhận thấy

là tiền dùng để mua thuốc lá, các chi phí cho sức khỏe, chi phí do hỏa hoạn,tai nạn, môi trường, bên cạnh đú cũn có nhiều chi phí mang tính dài hạn, lớn,khó lường là các chi phí do giảm khả năng lao động, bệnh tật [9]

1.2 TÌNH HÌNH TRỒNG VÀ CHẾ BIẾN THUỐC LÁ

1.2.1 Tình hình trồng và chế biến thuốc lá trên thế giới

Cây thuốc lá hoang dại đã cú cỏch đây khoảng 4.000 năm, cùng vớinền văn minh của người da đỏ vùng Trung và Nam Mỹ Lịch sử chính thứccủa việc sản xuất thuốc lá được đánh dấu vào ngày 12/11/1492 do chuyếnthám hiểm tìm ra châu Mỹ của Christopher Columbus, ụng đó phát hiện thấyngười bản xứ ở quần đảo Antil vừa nhảy múa, vừa hút một loại lá cuộn tròn

Trang 23

gọi là Tabaccos Hàng ngàn năm trước Công nguyên, người da đỏ đã trồngthuốc lá trờn vựng đất mênh mông ở Nam Mỹ, Trung Mỹ, quần đảo Antil vàmột số nơi khác.

Thuốc lá được đưa vào châu Âu khoảng năm 1496-1498 do RomamPano (nhà truyền đạo Tây Ban Nha) sau khi đi châu Mỹ về Năm 1556,Andre Teve cũng lấy hạt thuốc lá từ Brazil đem về trồng ở Tây Ban Nha, BồĐào Nha

Thuốc lá được trồng ở Nga vào năm 1697 do Petro Valeski sau cuộcviếng thăm Anh và một số quốc gia khác đem về Vua Sulemam cho trồngthuốc lá ở Bungari vào khoảng năm 1687 Tại Đức từ năm 1640 đã có nhàmáy sản xuất thuốc lá điếu ở Nordeburg và vào năm 1788 đó cú xưởng sảnxuất xì gà tại Hamburg Tại các nước Châu Á - Thái Bình Dương, thuốc láđược trồng vào thế kỷ 18

Ngành kỹ thuật trồng trọt, công nghệ sinh học đã phát triển rấtnhanh chóng để sản xuất đa dạng các loại nguyên liệu thuốc lá đáp ứngcho công nghiệp chế biến, nhu cầu thị hiếu đa dạng về thuốc điếu và đặcbiệt để xuất khẩu

Trong thời gian dài, thuốc lá được gọi rất nhiều tên như La HerbaSanena (cây làm thuốc), Herba Panacea (cây thuốc trị mọi bệnh), L’Herbeetrange (cây làm thuốc dị thường), L’Herbe d’Ambassadeur (cây kỷ niệmtên Đại sứ ở Lisbon) Sau đó cỏc tờn mất dần chỉ còn lại tên gọi Nicotiana

để kỷ niệm tên Jean Nicot, người có công truyền bá trồng thuốc lá ở châu

Âu Ngày nay nhiều nước có tờn gọi thuốc lá giống nhau là Tobacco (Anh,Mỹ), Tabak (Đức, Nga), Trutrun (Thổ Nhĩ Kỳ, Bungari), Tutun (Rumania) Còn tên khoa học của cây thuốc lá vàng là Nicotiana Tabacum L

Thuốc lá được trồng rộng rãi ở các điều kiện tự nhiên khác nhau, tiêuchí khác hẳn thời nguyên thủy Phạm vi phân bổ vùng trồng từ 40 vĩ độ Nam

Trang 24

đến 60 vĩ độ Bắc, nhưng tập trung nhiều ở vĩ độ Bắc Thuốc lá có tính ditruyền phong phú, tính thích ứng rộng rãi, dưới sự tác động trực tiếp của conngười, ngày nay thuốc lá có nhiều đặc trưng phẩm chất, ngoại hình khácnhau Có thể kể đến loại thuốc lá vàng sấy có hương vị độc đáo là Virginia(Mỹ, Zimbabuờ ), thuốc lá Oriental - đặc sản của vùng Địa trung Hải, xì gànổi tiếng của Cuba và Sumatra (Indonesia)

Việc hút thuốc lá lan nhanh sang các nước châu Âu Năm 1561, JeanNicot, đại sứ Pháp ở Lisbone, đã giới thiệu bột thuốc lá với bà hoàngCatherine de Medici, người bị chứng đau nửa đầu Bột thuốc lá gây ra hắthơi, cơn đau của bà hoàng dịu đi Điều đó làm giới quý tộc Pháp ngạc nhiên,nhưng lại khởi đầu cho việc dùng thuốc lá như một cách sống hợp thời trangthú vị trong giới quý tộc Để tỏ lòng ngưỡng mộ Nicot, thuốc lỏ cũn đượcgọi là Nicụtin

Đến năm 1592, một thế kỷ sau khi Colombus phát hiện ra châu Mỹ,thuốc lá đã được trồng ở Bỉ, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ và Anh Sau đó lan raPhilippines, Ấn Độ, Java, Nhật, Tây Phi, Trung Quốc và các lái buôn đãmang thuốc lá đến tận Mông Cổ và Sibờri

Bước sang thế kỷ XVII, thuốc lá đã gây ra tranh cãi ở châu Âu Thuốc

lá đã phân chia quan điểm xã hội, nhưng chính phủ các nước châu Âu khôngthể ngăn cấm vì những khoản tiền khổng lồ thu được từ thuế thuốc lá chongân sách quốc gia Đến thế kỷ XVIII, XIX các nước Âu - Mỹ hoàn thànhcách mạng công nghiệp Các phát minh khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sảnxuất công nghiệp Ngành công nghiệp thuốc lá ra đời và thu được lợi nhuận

to lớn hơn trước

Năm 1881, ra đời chiếc máy có thể sản xuất thuốc lá điếu, từ đó thuốc

lá điếu dần dần thay thế cho các loại thuốc lá dùng tẩu, loại nhai và thuốc lábột để hít

Trang 25

Cuối thế kỷ XIX và suốt thế kỷ XX, là quá trình hình thành các tậpđoàn sản xuất độc quyền - có nhiều vốn, áp dụng khoa học, kỹ thuật tiêntiến, năng suất cao, chất lượng sản phẩm cao, để dần dần chiếm lĩnh thịtrường thế giới Một loạt các tập đoàn thuốc lá đa quốc gia hiện đang chiphối thị trường thế giới về trồng thuốc lá, phối chế, sản xuất thuốc sợi, thuốcđiếu, các máy móc chuyên dùng và tất cả các phụ liệu cho sản xuất thuốc lá.Sau chiến tranh thế giới thứ II, các quốc gia giành được độc lập cũng chú ýphát triển ngành công nghiệp thuốc lá, như Trung Quốc, Indonesia, TriềuTiên, Ấn Độ, Philippines, Ai Cập, Pakistan, Việt Nam [21]

Theo thống kê, hiện nay diện tích trồng cây thuốc lá trên thế giới

khoảng từ 4-4,5 triệu ha và sản lượng lá thuốc lá đạt khoảng 6 triệu tấn/năm,tập trung phần lớn ở những quốc gia sau: Thuốc lá vàng sấy ở Trung Quốc2.800.000 tấn/năm, Mỹ 407.000 tấn/năm, Brazil 364.000 tấn/năm,Zimbabuờ 200.000 tấn/năm, Ấn Độ 150.000 tấn/năm, ngoài ra một số quốcgia khỏc cú sản lượng thuốc lá cao là Canada, Achentina Thuốc lá Burley:

Mỹ 300.000 tấn/năm, Malawi 85.000 tấn/năm, Brazil 70.000 tấn/năm;Thuốc lá Oriental: Thổ Nhĩ Kỳ 300.000 tấn/năm, Hy Lạp 110.000 tấn/năm,Bungari 75.000 tấn/năm [22]

Hiện nay trên thế giới có hơn 100 nước trồng thuốc lá với 33 triệunhân công, với khoảng 80% là các nước đang phát triển Trong đó, khoảng

15 triệu người ở Trung Quốc, 3,5 triệu người ở Ấn Độ Dim-ba-buờ cú

khoảng 100.000 công nhân làm việc trong các nông trường thuốc lá Nhữngngười được thuê ở các quốc gia có thu nhập cao xét về mặt số lượng tương

đối là nhỏ, nhưng vẫn là một con số đáng kể, Ví dụ Mỹ có 120.000 nông trường thuốc lá, Liên minh châu Âu có 135.000 nông trường Ở các quốc

gia này, số người tham gia trồng trọt, chế biến sản phẩm thuốc lá không lớn

vỡ nó được cơ khí hóa cao Tại hầu hết các quốc gia, việc sản xuất thuốc láchiếm khoảng 1% tổng số công việc sản xuất, tuy nhiên ở nhiều nước sảnxuất thuốc lá lại chiếm một tỷ lệ quan trọng trong nền kinh tế quốc dân (nhất

Trang 26

là các nước đang phát triển) Đáng kể nhất phải kể đến In-đụ-nờ-xia chiếm

8% trong tổng sản phẩm đầu ra, tiếp đến là Thổ Nhĩ Kỳ, Băng-la-đột, cập, Phi-lip-pin và Thái Lan sản xuất thuốc lá chiếm từ 2,5 đến 5% tổng sản

Ai-phẩm đầu ra

1.2.2 Tình hình trồng và chế biến thuốc lá ở Việt Nam

Thuốc lá du nhập vào Việt Nam khoảng thế kỷ thứ XVIII, cũng giốngnhư các nước Châu Á - Thái Bình Dương khác (theo chân thực dân châuÂu) Từ đó đến nay nó tiếp tục được trồng và sản xuất với số lượng ngàycàng tăng Thuốc lá được trồng ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở các tỉnhmiền núi phía Bắc và các tỉnh miền Đông Nam Bộ

Theo số liệu của Tổng cục thống kê: trong hai năm 2007 và 2008,diện tích trồng thuốc lá, năng suất và sản lượng đạt như sau:

Số liệu

Năm

Diện tích (nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Thông thường một vụ trồng cây thuốc lá đến thời điểm thu hoạch là 180ngày và sau đó có thể canh tác quay vòng các loại nông sản khác như lúa gạo,ngô, vừng và mía Ở Việt Nam có ba loại cây thuốc lá được trồng và canh tác

đó là: (1) loại flue cured virginia (FCV); (2) thân to; và (3) loại chịu nắng,trong đó FCV chiếm khoảng 60% đến 70% tổng sản lượng

Sau khi thu hoạch người nông dân phải thực hiện sơ chế lá thuốc lá, sơchế là một quá trình được kiểm soát cẩn thận để có được lá, cọng lá, màu sắc

và chất lượng chung đạt yêu cầu của từng loại lá thuốc cụ thể Trong quá trình

sơ chế, tinh bột của lá sẽ chuyển thành đường, màu xanh lá biến mất và láthuốc sẽ chuyển dần thành màu vàng nhạt đến vàng, cam rồi nâu, giống như lá

mùa thu.

Có bốn phương pháp sơ chế chính được sử dụng trên thế giới:

Trang 27

Thuốc lá vàng sấy lò (flue curing): quá trình sấy khô thường được thực

hiện qua nhiệt sấy gián tiếp (sử dụng hệ thống đường ống để truyền nhiệt)

Thuốc lá hong gió (Air curing): sử dụng quá trình trao đổi nhiệt tự

nhiên qua lớp không khí được lưu thông

Thuốc lá phơi nắng (Sun curing): sử dụng nhiệt do mặt trời chiếu

xuống để làm khô thuốc lá

Thuốc lá sấy lửa trực tiếp (Fire curing): sử dụng lửa trực tiếp từ gỗ một

số loài cây để làm khô thuốc lá

Mỗi một cách được sử dụng cho một loại thuốc lỏ riờng và cho ra sảnphẩm có hương, vị, màu sắc, đặc thù khác nhau Tại Việt Nam, phần lớnthuốc lá được sơ chế bằng phương pháp sấy lò, sử dụng nhiên liệu đốt là than,củi [7]

Sau khi Mỹ bỏ cấm vận đối với Việt Nam vào năm 1994, các công tythuốc lá là một trong những công ty kinh doanh có mặt đầu tiên tại ViệtNam Từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1994, đó cú 3 công ty thuốc lá đa quốcgia là Phillip Morris, Rothmans of Pall Mall và BAT đã được phép mở chinhánh tại Việt Nam Năm 1995, RJ Reynolds liên doanh với nhà máy thuốc

lá Đà Nẵng để sản xuất các loại thuốc lá Camen, Salem, Winston và Morebao gồm các hoạt động trồng cây thuốc lá và sản xuất thuốc lá với dâychuyền mới Đến tháng 6 năm 1997, chính phủ Việt Nam đã thông báongừng cho phép liên doanh với các công ty thuốc lá đa quốc gia nhưng vẫnphải tôn trọng những hợp đồng đã ký trước đó, tuy nhiên vào năm 2001 tậpđoàn BAT đã ký hợp đồng liờn doanh trị giá 40 triệu đụla với Tổng công tythuốc lá Việt Nam (Vinataba) để sản xuất các sản phẩm của BAT tiêu thụtại Việt Nam [51]

Theo điều tra của Trần Thu Thủy, năm 1996 trên toàn quốc có 28 nhàmáy thuốc lá (cả trung ương và địa phương) đạt sản lượng 1.970 triệu bao

Trang 28

thuốc lá, cũn tớnh trung bình từ năm 1995-1999 tiêu thụ khoảng 1.700 triệubao [19] Đến năm 2000 toàn Hiệp hội thuốc lá sản xuất 2.619 triệu bao,năm 2003 ước đạt 3.800 triệu bao, tăng hàng năm trung bỡnh 8%.

1.3 TèNH HèNH NGHIÊN CỨU VỀ TRỒNG THUỐC LÁ VÀ SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI NÔNG DÂN TRỒNG THUỐC LÁ

1.3.1 Một số nghiên cứu của nước ngoài

Các công ty thuốc lá thường cho rằng trồng thuốc lá là “giải pháp kỳdiệu” đối với sự phát triển kinh tế gia đình và quốc gia Các công ty thườngcho rằng trồng thuốc lá sẽ tạo ra nguồn thu nhập dồi dào cho người nông dân,cộng đồng và các quốc gia Tuy nhiên, trên thực tế, trong khi ngành côngnghiệp thuốc lá không thể chứng minh được trồng thuốc lá tạo ra nguồn thunhập dồi dào cho người trồng thuốc lá thì hậu quả về mặt sức khỏe và ảnhhưởng lớn đến môi trường do trồng thuốc lá gây nên đã được chứng minh quacác công trình nghiên cứu trên khắp thế giới Nguy cơ đối với sức khỏe củanhững người trồng thuốc lá xảy ra trong toàn bộ quá trình trồng và chăm sócthuốc lá, ngay từ khi bắt đầu gieo hạt cho đến khi thu hoạch

Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng trồng vàchế biến thuốc lá là nguyên nhân gây ra nhiều chấn thương và bệnh tật chonhững người trồng thuốc lá Những người tham gia vào trồng trọt và chế biếnthuốc lá, đặc biệt là phụ nữ, sẽ cú cú thể bị “ hội chứng nhiễm độc thuốc láxanh” (GTS: Green Tobacco Sickness) [29]

Nghiên cứu tổng quan gần đây cho thấy GTS là một vấn đề về sứckhỏe công cộng đáng lưu tâm Tỷ lệ mới mắc GTS là 2 trường hợp trong

100 ngày-người có phơi nhiễm Những người trồng thuốc lá không hút thuốc

có nguy cơ mắc GTS cao gấp 17 lần (tỷ suất chênh OR=17) với nhữngngười trồng thuốc lá có hút thuốc, điều này có nghĩa là những người trồngthuốc lá và không hút thuốc lá dễ bị mắc GTS [53] Nghiên cứu của Chloros

Trang 29

D và cộng sự năm 2004 cho thấy công nhân trồng thuốc lá có nguy cơ mắccác chứng rối loạn đường hô hấp trên (ví dụ như hoạt động bất thường củamũi) cao hơn so với những người khác [36] Theo Quantd S và cộng sự tiếnhành nghiên cứu thuần tập trên 182 công nhân trồng thuốc lá (được phỏngvấn liên tục 5 lần, trung bình 2 tuần một lần) cho thấy tỷ lệ công nhân mắcGTS là 24,2%; tỷ lệ mới mắc GTS trung bình là 1,88 trong 100 ngày-người

có phơi nhiễm; còn tỷ lệ mới mắc GTS là 2,97 trong 100 ngày-người có phơinhiễm làm việc (trong điều kiện quần áo bị ướt) lớn hơn 25% ngày công, đốivới những trường hợp làm việc nhỏ hơn 25% thì tỷ lệ mới mắc GTS là 1,29trong 100 ngày [49] Theo Oliveira P trong một nghiên cứu bệnh chứng đốivới những công nhân có liên quan tới trồng thuốc lá, nhóm bệnh là nhữngngười được chẩn đoán bị ngộ độc cấp tính (chóng mặt, buồn nôn, nôn mửa,suy nhược, đau đầu) từ ngày 01/8 – 25/9 năm 2007, nhóm chứng là nhữngngười làm việc trong nhà hoặc người gần gũi của những công nhân có liênquan tới trồng thuốc lá; kết quả nghiên cứu trong 107 người thuộc nhómbệnh có 57 trường hợp là nam (chiếm 53%), độ tuổi trung bình là 21 năm (từ8-58 tuổi) Tỷ lệ các triệu chứng chính xuất hiện là: chóng mặt (90%), mệt(88%), nôn (83%), buồn nôn (82%) và nhức đầu (58%) Tính hồi quylogistic các biến độc lập kết hợp với người bệnh có giới tính là nam (OR =2,1; 95% CI = 1.1-4.0), hút thuốc (OR = 7,0; 95% CI = 2.6-19.1) và làm việctrong giai đoạn thu hoạch của thuốc lá (OR = 2,7; 95% CI = 1,2-6,0) Trong

số những người không hút thuốc, trung vị nồng độ cotinine trong nước tiểu

là 288ng/ml (từ 18-6.313) trong các trường hợp; đối với nhóm chứng là156ng/ml (từ 0-1,908) với (p = 0,006) [47] Một số yếu tố khác về môitrường như nhiệt độ, độ ẩm, thời tiết ẩm cũng được chứng minh có mối liênquan chặt chẽ với các vấn đề sức khỏe của nông dân trồng thuốc lá [53] Tuynhiên, phần lớn các nghiên cứu về các vấn đề sức khỏe có liên quan đếntrồng thuốc lá đều thực thực hiện tại Mỹ Hiện tại, trong khi số lượng ngườitham gia trồng trọt và chế biến thuốc lá ở các nước đang phát triển ngày

Trang 30

càng tăng lờn thỡ số liệu về các vấn đề sức khỏe liên quan đến trồng và chếbiến thuốc lá ở các nước này còn rất thiếu.

1.3.2 Một số nghiên cứu trong nước

Việt Nam là quốc gia đang phát triển nằm ở khu vực Đông Nam Á có khíhậu nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều và đội ngũ nhân công làm việc cần cù, chămchỉ, là mục tiêu được các công ty thuốc lá lựa chọn để mở rộng diện tích trồng trọtthuốc lá Năm 2002, tổng diện tích trồng thuốc lá ở Việt Nam vào khoảng 18.000hecta, chiếm 0,28% tổng diện tích đất trồng trọt Sản lượng thuốc lá ở Việt Namđạt khoảng 27.400 tấn thuốc lá một năm Hiện tại, các công ty thuốc lá ở Việt Nam

đã có kế hoạch tăng sản lượng thuốc lá trong nước thông qua việc tăng diện tíchtrồng thuốc lá và cải tiến sản lượng thuốc lá cho đến năm 2010 [2]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thạc Minh và cộng sự, thuốc lá là nguyênnhân làm nhiều hộ gia đình bị rơi vào đúi nghốo Nếu số tiền chi tiêu chothuốc lá được sử dụng cho mua lương thực thực phẩm cho gia đình, 11,2%trong số hộ gia đỡnh nghèo sẽ thoỏt nghốo Tiêu dùng thuốc lá không chỉ gâynên nghèo đói mà còn làm tăng khoảng cách của bất bình đẳng, tăng khoảngcách giàu nghèo Hệ số Gini của tất cả cỏc vựng đều tăng lên khi tách chi tiêuthuốc lá ra khỏi tổng chi tiêu của hộ [14]

Năm 2007, dưới sự hỗ trợ của hiệp hội kiểm soát thuốc lá Đông Nam Á(SEATCA), Hoàng Văn Minh và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu mô tảcắt ngang so sánh về tình hình sức khỏe cũng như thu nhập của những ngườidân trồng thuốc lá và những người dân không trồng thuốc lá tại một vùngnông thôn Việt Nam

Nghiờn cứu được thực hiện dưới sự phối hợp của 3 đơn vị nghiên cứu:Trường Đại học Y tế công cộng, Hội Y tế công cộng Việt Nam, và TrườngĐại học Y Hà Nội, đõy là một nghiên cứu kết hợp nhiều phương pháp trong

đó phương pháp định tính (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung) và điều

Trang 31

tra cắt ngang mô tả các hộ gia đình được sử dụng trong nghiên cứu này Haihuyện được chọn để tiến hành nghiên cứu là huyện Võ Nhai thuộc tỉnh ThỏiNguyờn miền Bắc Việt Nam, và huyện Mỹ Lộc thuộc tỉnh Đồng Nai miềnNam Việt Nam, nguyờn nhân chọn hai huyện này là do tính khả thi có thể tiếnhành dự án và tính đại diện cho hai vựng chớnh của Việt Nam trong việc trồngcây thuốc lá Trong mỗi huyện, một xã trồng cây thuốc lá và một xã khôngtrồng cây thuốc lá được lựa chọn để tiến hành nghiên cứu Kết quả nghiên cứu

đã gợi ý rằng lợi ích kinh tế mà người nông dân thu được từ trồng cây thuốc lá

là rất nhỏ Nghiên cứu cũng cho thấy rằng những người nông dân trồng thuốc

lá có xu hướng có nhiều vấn đề sức khỏe ốm đau, bệnh tật hơn so với nhữngngười nông dân không trồng thuốc lá, kết quả của nghiên cứu định tính cũngcho thấy trẻ em và phụ nữ là những người phải tham gia vào rất nhiều hoạtđộng trong trồng cây thuốc lá Mặc dù việc sử dụng lao động là phụ nữ và trẻ

em không phải chỉ có ở trong trồng cây thuốc lá, nhưng so với trồng cỏc cõykhỏc thì tỷ lệ này cao hơn hẳn [46]

Tuy nhiên nghiên cứu chưa quan tâm đến những yếu tố nguy cơ khác cóthể ảnh hưởng đến sức khỏe của người nông dân trồng thuốc lá như: các yếu

tố về môi trường sống, hành vi hút thuốc lá uống rượu, tính sẵn có của hệthống chăm sóc sức khỏe tại địa phương cũng như khả năng tiếp cận với dịch

vụ y tế của người dân

Tại Việt Nam, kiểm soát thuốc lá đã và đang nhận được nhiều quan tâmcủa Chính phủ và cộng đồng Nghị định Số 77/2002/QĐ-TTg của Chính phủphê chuẩn chương trình phòng chống và kiểm soát các bệnh không lây nhiễmgiai đoạn 2002–2010, nghị quyết Chính phủ 12/2000/NQ-CP về chính sáchkiểm soát thuốc lá quốc gia 2000 – 2010 đã thể hiện quyết tâm kiểm soátthuốc lá của Chính phủ Việt Nam cũng đã ký kết công ước khung về kiểmsoát thuốc lá ngày 8 tháng 8 năm 2003 và phê chuẩn công ước khung về kiểmsoát thuốc lá ngày 17 tháng 12 năm 2004

Trang 32

Hiện nay tại Việt Nam, mặc dù số lượng các nghiên cứu về thuốc lá

ở Việt Nam đang ngày càng tăng, nhưng những thông tin về tác hại củaviệc trồng thuốc lá đến sức khỏe người trồng thuốc lá còn rất thiếu Nhằmthúc đẩy sự ra đời và tăng cường việc thực hiện cỏc chính sách kiểm soátthuốc lá ở Việt Nam, các thông tin đáng tin cậy về ảnh hưởng của trồng vàchế biến thuốc lá đối sức khỏe và kinh tế của những người trồng thuốc láđang là một nhu cầu bức thiết đối với các nhà hoạch định chính sách,những cán bộ làm công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, cũng như chotoàn xã hội nói chung

Trang 33

Chương II

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được tiến hành tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thỏi Nguyờn

Võ Nhai là một huyện nông thôn nằm ở phía Bắc Việt Nam, cách thủ

đô Hà Nội 90 km,cách thành phố Thỏi Nguyờn khoảng 30km về hướng ĐôngBắc Phía Đông Võ Nhai giáp tỉnh Lạng Sơn, phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ

và tỉnh Bắc Kạn, phía Nam giáp tỉnh Bắc Giang và huyện Đồng Hỷ, phía Bắcgiáp 2 tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn

Trang 34

Huyện có 14 xã và một thị trấn, dân số của huyện Vừ Nhai khoảng63.000 người, mật độ dân số 72 người/km2 Địa hình của Võ Nhai chủ yếu làvùng đồi núi và cao nguyên với diện tích tự nhiên là 84.510,4 ha Về khí hậu,

Võ Nhai nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, lượng mưa trung bình từ1.500-2.250mm/năm, nhiệt độ trung bình là 23,20C, ở Võ Nhai thường xuấthiện sương muối (tháng 12 và tháng 1 hàng năm) Võ Nhai còn là địa bàn sinhsống của 8 dân tộc như: Kinh (34,17%); Tày (29,88%); Nùng (14,52%); Dao(12,63%); Các dân tộc H’Mụng, Cao Lan, Hoa chiếm 8,7%

Võ Nhai có khoảng 29.703 lao động nông nghiệp, chiếm 47,43% dân

số 6 trong tổng số 16 xã (38%) của Huyện Võ Nhai trồng thuốc lá, luân canhvới lúa và các loại ngũ cốc khác như ngô, sắn vv

Cây thuốc lá đã được trồng trên đất Võ Nhai trên dưới một thập kỷ, quakiểm nghiệm, chất lượng của nguyên liệu thuốc lá Võ Nhai được xếp bảng A.Thời gian tới, huyện có định hướng khuyến khích phát triển diện tích câythuốc lá với mục tiêu đạt 400 ha, sản lượng 900 tấn trong vụ đông năm 2009

và những năm tiếp theo

Võ Nhai phấn đấu đến năm 2020, đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế bìnhquân khoảng 9,5%/năm, sản lượng lương thực có hạt đạt khoảng 35.000 tấn;giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng 10% năm; phủ xanhtoàn bộ diện tích đất trống, đồi núi trọc; 95% dân số được sử dụng điện; giảm

tỷ lệ hộ nghốo cũn dưới 10%

Hai xã được chọn vào nghiên cứu là xó Lõu Thượng (trồng, chế biếnthuốc lá) và xó Phỳ Thượng (không trồng, chế biến thuốc lá), đây là 2 xó cúnhững đặc điểm tương đối giống nhau về địa lý, văn hóa, kinh tế xã hội và đặcđiểm dân cư, người dân 2 xã sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp, không

có nghề phụ nào

Xó Lõu Thượng có diện tích 400 ha, dân số 6170 người, trình độ dân tríkhông cao, ngoài nông nghiệp người dân còn chăn nuôi gia súc, gia cầm với

Trang 35

quy mô nhỏ lẻ Thuốc lá là cây công nghiệp được phát triển trồng ở LâuThượng với diện tích trồng khoảng 150 ha, sản lượng ước đạt trên 22 tấn.

Năm 2006, tỷ lệ sinh thô là 14,9%o, tỷ lệ tử vong thô là 5,18%o và tỷ lệ

tử vong ở trẻ sơ sinh là 10,9%o Số hộ nghèo trong năm 2000 tại xã là 36%.

Xó Phú Thượng có diện tích 544 ha, dân số 4655 người, người nôngdân chủ yếu trồng lúa và một số cây hoa màu như ngô, lạc, v.v Năm 2006, tỷ

lệ sinh thô là 16,2%o, tỷ lệ tử vong thô là 5,6%o và tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh

là 15,7%o Số hộ nghèo trong năm 2000 tại xã là 37,7% [24]

2.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Người nông dân thuộc 2 xã trồng, chế biến thuốc lá và không trồng, chếbiến thuốc lá được lựa chọn vào nghiên cứu

- Xã trồng, chế biến thuốc lá (Lâu Thượng): Tất cả đối tượng (baogồm cả trẻ em) thuộc hộ gia đình có trồng, chế biến thuốc lá Những hộgia đình thuộc xã này nhưng không trồng, chế biến thuốc lá được loại khỏidanh sách nghiên cứu

- Xã không trồng, chế biến thuốc lá (Phú Thượng): Các đối tượng (baogồm cả trẻ em) thuộc hộ gia đình trồng các cây nông nghiệp khác và khôngtrồng, chế biến thuốc lá

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.3.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

2.3.2.1 Cỡ mẫu

Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán dựa trên công thức tính cỡ mẫucho nghiên cứu mô tả cắt ngang so sánh 2 tỷ lệ trong một quần thể:

Trang 36

Cỡ mẫu nghiên cứu cho mỗi xã có thể đạt được thông qua điều trakhoảng 200 hộ gia đình Tổng số cỡ mẫu cho toàn bộ nghiên cứu là khoảng

Trang 37

(Lâu Thượng) và 1 xó khụng trồng thuốc lá (Phú Thượng) 2 xã này có điềukiện địa lý, khí hậu, thổ nhưỡng, văn hóa xã hội tương đối tương đồng nhau.

Giai đoạn3: Chọn hộ gia đình điều tra, danh sỏch cỏc hộ gia đình cótrồng, chế biến thuốc lá trong xã trồng thuốc lá và danh sách toàn bộ các hộgia đình thuộc xó khụng trồng thuốc lá được cung cấp bởi chính quyền địaphương 200 hộ gia đình trồng thuốc lá và 200 hộ gia đình không trồngthuốc lá được lựa chọn ngẫu nhiên từ 2 danh sách trên Toàn bộ các thànhviên thuộc các hộ gia đình được lựa chọn nêu trên được điều tra

Hộ trồng, chế biến thuốc lá: được xác định là hộ gia đình có ít nhất mộtthành viên tham gia trồng, chế biến thuốc lá từ trước đến nay

Hộ không trồng, chế biến thuốc lá: được xác định là hộ gia đình chưatừng có thành viên nào tham gia trồng, chế biến thuốc lá từ trước đến nay

2.3.3 Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu:

Các hộ gia đình hoặc thành viên gia đình bị loại khỏi nghiên cứu này trongcác trường hợp sau:

- Gia đình từ chối không tham gia nghiên cứu

- Đối tượng phỏng vấn bị mắc bệnh tâm thần, hoặc không có khả nănggiao tiếp, hoặc không còn minh mẫn

- Gia đình không thuộc trong danh sách đã được chọn ngẫu nhiên

2.3.4 Quy trình thu thập số liệu

- Tập huấn điều tra viên: 15 điều tra viên là nhân viên y tế thôn bản tạihai xã được chọn thông qua phỏng vấn do nhóm nghiên cứu và lãnh đạotrạm y tế, lãnh đạo trung tâm y tế huyện Võ Nhai thực hiện Sau tập huấn,chỉ 10 cán bộ có kỹ năng phỏng vấn tốt nhất và tinh thần trách nhiệm caonhất được lựa chọn làm điều tra viên

Trang 38

- Số liệu của nghiên cứu được thu thập thông qua các cuộc phỏng vấntại hộ gia đình.

- Các cuộc phỏng vấn được thực hiện bởi các điều tra viên với từngthành viên trong hộ gia đình được lựa chọn ở địa phương

- Nghiên cứu viên cùng với các giám sát viên là các giảng viên củaTrường Đại học Y Hà Nội tham gia quá trình lựa chọn hộ gia đình và giámsát đảm bảo chất lượng số liệu của nghiên cứu

- Các phiếu điều tra bị lỗi sẽ được trả lại cho điều tra viên trong thờigian ngắn nhất để hoàn thiện

2.3.5 Công cụ thu thập số liệu

Nhóm nghiên cứu xây dựng bộ câu hỏi, có tham khảo các nghiên cứu

và kinh nghiệm đã tiến hành trong và ngoài nước, gồm các phần:

- Thông tin về hộ gia đình

- Thông tin đối tượng phỏng vấn

- Thông tin về tham gia trồng và chế biến thuốc lá của các thành viêntrong hộ

- Các vấn đề sức khỏe

- Hút thuốc lá, uống rượu bia

- Bộ câu hỏi được điều tra thử nghiệm trước khi đưa vào điều trachính thức

2.3.6 Xử lý và phân tích số liệu

Trang 39

- Số liệu thu thập được làm sạch và nhập vào máy tính bằng phần mềmEpi Info 6.04 Số liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm STATA 10.Thống kê mô tả gồm tỡnh toỏn cỏc tần số và tỷ lệ được thực hiện Test X2được sử dụng để so sánh tình trạng sức khỏe và thực trạng tham gia sảnxuất của hai nhóm nông dân Phân tích hồi quy logistics được sử dụng đểphân tích mối liên quan giữa trồng chế biên thuốc lá và sức khỏe của ngườinông dân Hồi quy Poisson đã được sử dụng để ước tính tỷ số tỷ lệ mớimắc giữa các nhóm Khoảng tin cậy 95% và mức ý nghĩa thống kê p<0,05được sử dụng.

2.4 CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP VÀ CÔNG CỤ THU THẬP THÔNG TIN

Mục tiêu và

nội dung Biến số/chỉ số nghiên cứu

Phương pháp và công cụ thu

Phỏng vấn trực tiếp cácthành viên của hộ gia đìnhđược chọn thông qua bộcâu hỏi

Quan sát, đánh giá trựctiếp tại các hộ gia đình.2.Thông tin

về trồng,

chế biến

thuốc lá

- Tỷ lệ người được phỏng vấntham gia trồng, chế biến thuốc lá

- Tỷ lệ người được phỏng vấntrước đây có tham gia trồng, chếbiến thuốc lá

- Thời gian trung bình trồng, chếbiến thuốc lá của người đượcphỏng vấn

- Tỷ lệ sử dụng trang bị BHLĐ

Phỏng vấn trực tiếp cácthành viên của hộ gia đìnhđược chọn thông qua bộcâu hỏi

Trang 40

Mục tiêu và

nội dung Biến số/chỉ số nghiên cứu

Phương pháp và công cụ thu

- Tỷ lệ các triệu chứng thườnggặp khi ốm

- Tỷ lệ các bệnh được nhân viên y

tế chẩn đoán

- Tỷ lệ người được phỏng vấnthuộc các nhóm tự đánh giá tìnhtrạng sức khỏe

Phỏng vấn trực tiếp cácthành viên của hộ gia đìnhđược chọn thông qua bộcâu hỏi

- Tỷ số tỷ lệ mới mắc ốm giữacác nhóm dân số, xã hội và mức

độ tham gia trồng và chế biếnthuốc lá theo mô hình poisson

Phỏng vấn trực tiếp cácthành viên của hộ gia đìnhđược chọn thông qua bộcâu hỏi

2.5 MỘT SỐ KHÁI NIỆM, ĐỊNH NGHĨA VÀ TIÊU CHUẨN SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 29/04/2015, 08:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Không thuốc lá (2009), Tác hại của thuốc lá đối với môi trường, 22/4/2009, http://www.khongthuocla.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác hại của thuốc lá đối với môi trường
Tác giả: Không thuốc lá
Năm: 2009
14. Nguyễn Thạc Minh, Hoàng Văn Kình, và cộng sự (2002), Gánh nặng tài chính của hút thuốc lá đối với hộ gia đình, báo cáo nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gánhnặng tài chính của hút thuốc lá đối với hộ gia đình
Tác giả: Nguyễn Thạc Minh, Hoàng Văn Kình, và cộng sự
Năm: 2002
15. Ngân hàng Thế giới (2003), Ngăn chặn nạn dịch hút thuốc lá – Vai trò của Chính phủ và khía cạnh kinh tế của kiểm soát thuốc lá , tài liệu dịch, Washington DC, tr.1-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngăn chặn nạn dịch hút thuốc lá – Vaitrò của Chính phủ và khía cạnh kinh tế của kiểm soát thuốc lá
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Năm: 2003
16. Đào Ngọc Phong (1995), “Mụi trường hút thuốc lá và sức khỏe cộng đồng trên quan điểm dịch tễ học”, Hội thảo quốc gia về chiến lược phòng chống thuốc lá lần thứ 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mụi trường hút thuốc lá và sức khỏe cộngđồng trên quan điểm dịch tễ học”, "Hội thảo quốc gia về chiến lượcphòng chống thuốc lá lần thứ 3
Tác giả: Đào Ngọc Phong
Năm: 1995
17. Vũ Trung (2004), “Ngành trồng thuốc lá: các vấn đề về sức khỏe và môi trường”, Tạp chí Công nghiệp Hóa chất, HN, số 09/2004, tr.13-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành trồng thuốc lá: các vấn đề về sức khỏe vàmôi trường"”
Tác giả: Vũ Trung
Năm: 2004
18. Phạm Minh Tuấn (2005), “Thuốc lá thủ phạm gây ô nhiễm môi trường”, Tạp chí khoa học và phát triển, Hà Nội, số 47/2005, tr.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc lá thủ phạm gây ô nhiễm môitrường
Tác giả: Phạm Minh Tuấn
Năm: 2005
19. Trần Thu Thủy (1995), “Hoạt động về phòng chống tác hại thuốc lá những năm qua và kế hoạch hành động từ năm 1995-1999”, Hội thảo quốc gia về chiến lược phòng chống thuốc lá lần thứ 3, Hà Nội, tr.1-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động về phòng chống tác hại thuốc lánhững năm qua và kế hoạch hành động từ năm 1995-1999”, "Hội thảoquốc gia về chiến lược phòng chống thuốc lá lần thứ 3
Tác giả: Trần Thu Thủy
Năm: 1995
20. Trường Đại học Y Hà Nội (2002), “ Nghiện chất – Điều trị và dự phũng”, Sức khỏe tâm thần cộng đồng – Tập bài giảng dành cho sau đại học, Hà Nội, tr.37-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiện chất – Điều trị và dựphũng
Tác giả: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2002
21. Website của Tổng cục thống kê, “Điều tra mức sống hộ gia đình năm 2002”, http://www.gso.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra mức sống hộ gia đình năm2002
22. Website của Tổng công ty thuốc lá Việt Nam-Vinataba, “Lịch sử cây thuốc lỏ”, http://www.vinataba.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sửcây thuốc lỏ
23. Website của Tổng công ty thuốc lá Việt Nam-Vinataba, “Sản xuất thuốc lỏ”, http://www.vinataba.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuấtthuốc lỏ
26. Vũ Xuõn Phỳ, Đặng Vũ Trung và Hana Ross (2005), “ Chi phí cho ba bệnh liên quan đến thuốc lá – Nghiên cứu chính sách phòng chống tác hại thuốc lá tại Việt Nam”, báo cáo nghiên cứu khoa học Trường Y tế công cộng, Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi phí choba bệnh liên quan đến thuốc lá – Nghiên cứu chính sách phòng chốngtác hại thuốc lá tại Việt Nam
Tác giả: Vũ Xuõn Phỳ, Đặng Vũ Trung và Hana Ross
Năm: 2005
27. Ariyothai N, Podtipak A, Akerasewi P et al (2004), Cigarette smoking and its relation to pulmonary tuberculosis in adult, Southeast Asian J Trop Med Public Health, Mar; 35(1), p.219-227 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cigarettesmoking and its relation to pulmonary tuberculosis in adult
Tác giả: Ariyothai N, Podtipak A, Akerasewi P et al
Năm: 2004
28. Action on smoking and Health (2000), The Enviroment impacts of tobacco, Global Health Professional Survey, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Enviroment impacts oftobacco
Tác giả: Action on smoking and Health
Năm: 2000
29. Arcury TA et al (2003), High levels of transdermal nicotine exposure produce green tobacco sickness in Latino farm workers. Nicotine &amp;Tobacco Research. 2003;5: p.315–321 Sách, tạp chí
Tiêu đề: High levels of transdermal nicotine exposureproduce green tobacco sickness in Latino farm workers
Tác giả: Arcury TA et al
Năm: 2003
30. Ballard T, Janet E, Eugen F et al (1995), Green tobacco sickness:occupational nicotine poisoning in tobacco worker, Archive of Enviromental Health,1995;50, p. 384–389 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Green tobacco sickness:"occupational nicotine poisoning in tobacco worker
Tác giả: Ballard T, Janet E, Eugen F et al
Năm: 1995
31. Barry M (1989), The influence of the US tobacco industry on the health economy and environment of consumers union. Penang, Malaysia Sách, tạp chí
Tiêu đề: The influence of the US tobacco industry on thehealth economy and environment of consumers union
Tác giả: Barry M
Năm: 1989
33. Campaign for tobacco free kids (2001), Golden leaf barren harvest, the costs of tobacco farming, p.2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Golden leaf barren harvest
Tác giả: Campaign for tobacco free kids
Năm: 2001
34. Centers for Disease Control and Prevention (2005), Youth risk behavior surveillance – United States, 2003; MMWR, vol 53, No.SS-2, May 21 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Youth riskbehavior surveillance – United States, 2003
Tác giả: Centers for Disease Control and Prevention
Năm: 2005
32. Buckley JT (1996), Cigarette butts unacounted for, USA today, Jul 3, p. A1 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Thông tin về đối tượng điều tra theo giới - Thực trạng ốm đau của người dân tại 2 xã có và không trồng và chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.1. Thông tin về đối tượng điều tra theo giới (Trang 4)
Bảng 3.3. Thông tin về người được điều tra theo trình độ học vấn - Thực trạng ốm đau của người dân tại 2 xã có và không trồng và chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.3. Thông tin về người được điều tra theo trình độ học vấn (Trang 44)
Bảng 3.2. Thông tin về người được điều tra theo nhóm tuổi - Thực trạng ốm đau của người dân tại 2 xã có và không trồng và chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.2. Thông tin về người được điều tra theo nhóm tuổi (Trang 44)
Bảng 3.4. Thông tin về người được điều tra theo nghề nghiệp chính 12 tháng qua - Thực trạng ốm đau của người dân tại 2 xã có và không trồng và chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.4. Thông tin về người được điều tra theo nghề nghiệp chính 12 tháng qua (Trang 45)
Bảng 3.5. Thông tin về người được điều tra theo phân nhóm quintile - Thực trạng ốm đau của người dân tại 2 xã có và không trồng và chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.5. Thông tin về người được điều tra theo phân nhóm quintile (Trang 46)
Bảng 3.7. Thời gian trung bình tham gia trồng, chế biến thuốc lá của người dân xã Lâu Thượng được điều tra theo giới, nhóm tuổi, học vấn, - Thực trạng ốm đau của người dân tại 2 xã có và không trồng và chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.7. Thời gian trung bình tham gia trồng, chế biến thuốc lá của người dân xã Lâu Thượng được điều tra theo giới, nhóm tuổi, học vấn, (Trang 51)
Bảng 3.8. Thời gian dành cho việc trồng và chăm sóc các loại cây trồng trong một tháng trước ngày phỏng vấn - Thực trạng ốm đau của người dân tại 2 xã có và không trồng và chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.8. Thời gian dành cho việc trồng và chăm sóc các loại cây trồng trong một tháng trước ngày phỏng vấn (Trang 52)
Bảng 3.10. Thực trạng việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, tăng trưởng và hút thuốc lá, uống rượu/bia của người được điều tra (trong - Thực trạng ốm đau của người dân tại 2 xã có và không trồng và chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.10. Thực trạng việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, tăng trưởng và hút thuốc lá, uống rượu/bia của người được điều tra (trong (Trang 54)
Bảng 3.11 trình bày tỷ lệ mắc các triệu chứng của người được điều tra trong 1 thỏng trước ngày điều tra - Thực trạng ốm đau của người dân tại 2 xã có và không trồng và chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.11 trình bày tỷ lệ mắc các triệu chứng của người được điều tra trong 1 thỏng trước ngày điều tra (Trang 57)
Bảng 3.14. Tự đánh giá tình trạng sức khỏe của người được điều tra - Thực trạng ốm đau của người dân tại 2 xã có và không trồng và chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.14. Tự đánh giá tình trạng sức khỏe của người được điều tra (Trang 61)
Bảng 3.15. Mô hình hồi quy logistic về tình trạng ốm đau của cỏc nhúm theo các đặc điểm về dân số, kinh tế, văn hóa, hành vi (không có nhóm - Thực trạng ốm đau của người dân tại 2 xã có và không trồng và chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.15. Mô hình hồi quy logistic về tình trạng ốm đau của cỏc nhúm theo các đặc điểm về dân số, kinh tế, văn hóa, hành vi (không có nhóm (Trang 62)
Bảng 3.16. Mô hình Poisson về tỷ số tỷ lệ mắc ốm đau theo các đặc điểm về dân số, kinh tế, văn hóa, hành vi (không có nhóm trình độ học vấn) - Thực trạng ốm đau của người dân tại 2 xã có và không trồng và chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.16. Mô hình Poisson về tỷ số tỷ lệ mắc ốm đau theo các đặc điểm về dân số, kinh tế, văn hóa, hành vi (không có nhóm trình độ học vấn) (Trang 64)
Bảng 3.17. Mô hình hồi quy logistic về tình trạng ốm đau của cỏc nhúm theo các đặc điểm về dân số, kinh tế, văn hóa, hành vi (cú nhúm trình độ học vấn) - Thực trạng ốm đau của người dân tại 2 xã có và không trồng và chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.17. Mô hình hồi quy logistic về tình trạng ốm đau của cỏc nhúm theo các đặc điểm về dân số, kinh tế, văn hóa, hành vi (cú nhúm trình độ học vấn) (Trang 67)
Bảng 3.18. Mô hình Poisson về tỷ số tỷ lệ mắc ốm đau theo các đặc điểm về dân số, kinh tế, văn hóa, hành vi (cú nhúm trình độ học vấn) - Thực trạng ốm đau của người dân tại 2 xã có và không trồng và chế biến thuốc lá tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.18. Mô hình Poisson về tỷ số tỷ lệ mắc ốm đau theo các đặc điểm về dân số, kinh tế, văn hóa, hành vi (cú nhúm trình độ học vấn) (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w