57 I- Tình hình kinh tế - xã hội 201 1 II- Thị trường viễn thông V iệt Nam 2011 III, Tổng kết phần 1 I, Triển vọng kinh tế thế giới 2012 II, Triển vọng kinh tế vĩ mô V iệt Nam 2012 III, Dự báo tốc độ phát triển thị trường viễn thông V iệt Nam năm 2011 IV, Một vài khuyến nghị đối với các nhà khai thác V, Tổng kết phần 2 I, Xu hướng phát triển viễn thông thế giới giai đoạn 2012-2016 II, Xu hướng phát triển công nghệ tại V iệt Nam giai đoạn 2012-2015 III, Tổng kết phần 3 1. Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) 2. Công ty thông tin di động Mobifone (VMS) 3. Công ty dịch vụ viễn thông V inaphone 4. Tập đoàn viễn thông quân đội V iettel 5. Công ty Cổ phần Viễn thông FPT 6. Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính V iễn thông Sài Gòn (SPT) 7. Công ty Cổ phần Viễn thông Di động Toàn cầu (G-Tel) 8. Công ty Cổ phần Viễn thông Hà Nội DỰ BÁO TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN các dịch vụ vT VIỆT NAM 2012 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ VIỄN THÔNG HỒ SƠ MỘT SỐ DOANH NGHIỆP CHỦ LỰC TRONG NGÀNH vt việt nam mục lục
Trang 1Xu hướng và triển vọngviễn thông việt nam 2012 1
21
41
57
I- Tình hình kinh tế - xã hội 2011 II- Thị trường viễn thông Việt Nam 2011 III, Tổng kết phần 1
I, Triển vọng kinh tế thế giới 2012
II, Triển vọng kinh tế vĩ mô Việt Nam 2012 III, Dự báo tốc độ phát triển thị trường viễn thông Việt Nam năm 2011
IV, Một vài khuyến nghị đối với các nhà khai thác
V, Tổng kết phần 2
I, Xu hướng phát triển viễn thông thế giới giai đoạn 2012-2016
II, Xu hướng phát triển công nghệ tại Việt Nam giai đoạn 2012-2015 III, Tổng kết phần 3
1 Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)
2 Công ty thông tin di động Mobifone (VMS)
3 Công ty dịch vụ viễn thông Vinaphone
4 Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel
5 Công ty Cổ phần Viễn thông FPT
6 Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT)
7 Công ty Cổ phần Viễn thông Di động Toàn cầu (G-Tel)
8 Công ty Cổ phần Viễn thông Hà Nội
DỰ BÁO TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH Vụ VT VIỆT NAM 2012
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ VIỄN THÔNG
HỒ SƠ MỘT SỐ DOANH NGHIỆP CHỦ LỰC TRONG NGÀNH VT VIỆT NAM
PhẦn i:
PhẦn ii:
PhẦn iii:
PhẦn iv:
Trang 2Kính thưa Quý vị độc giả!
Chuyên đề “Xu hướng và triển vọng viễn thông Việt Nam” xuất bản số đầu tiên năm 2011 đã nhận được sự đánh giá rất cao của các doanh nghiệp, chuyên gia nghiên cứu thị trường, chuyên viên kinh doanh trên khắp cả nước Sau một năm kiểm nghiệm, các dự báo cho năm 2011 mà báo cáo đưa ra đã cho thấy độ chính xác khá cao và các khuyến nghị đưa ra rất phù hợp với xu thế phát triển của thị trường viễn thông trong năm qua Đây là nguồn động viên to lớn để nhóm nghiên cứu thị trường – Trung tâm Thông tin & Quan hệ Công chúng (VNPT) tiếp tục xuất bản báo cáo “Xu hướng và triển vọng viễn thông Việt Nam 2012”
Chuyên đề sẽ cung cấp thông tin một cách toàn diện, đa chiều, các phân tích, nhận định sâu sắc về thị trường Viễn thông Việt Nam năm 2011 Các số liệu được cập nhật liên tục và từ các tổ chức có uy tín như Bộ Thông tin & Truyền thông, VNNIC, ITU, BMI Trên cơ sở các số liệu đó, nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra những nhận định xu thế phát triển của các dịch vụ cũng như khuyến nghị đầu tư cho các nhà khai thác trong năm 2012.
Chúng tôi hi vọng chuyên đề sẽ góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp trong và ngoài ngành có được cái nhìn chính xác nhất về thị trường công nghệ và dịch vụ viễn thông, nắm bắt được xu thế phát triển của thị trường, từ đó có được phương thức tiếp cận thị trường đúng đắn, xây dựng kế hoạch sản xuất hiệu quả.
Chúng tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới độ ngũ các chuyên gia, cộng tác viên, các đồng nghiệp trong và ngoài nước đã hợp tác giúp đỡ chúng tôi hoàn thành chuyên đề này.
Dù đã rất cố gắng, song khó tránh được hết các thiếu sót, BBT rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của bạn đọc gần xa để ngày càng hoàn thiện ấn phẩm.
BBT Chuyên đề
Trung tâm Thông tin & Quan hệ Công chúng (VNPT)
Lời nói đầu
Trang 3i, tÌnh hÌnh Kt-Xh 2011
1 tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
ở mức hợp lý
Kinh tế - xã hội nước ta năm 2011
diễn ra trong bối cảnh có nhiều khó
khăn, thách thức do những biến động
bất lợi trong nền kinh tế thế giới, nhất
là lạm phát gia tăng và khủng hoảng nợ
công ở nhiều nước, do giá nguyên liệu
đầu vào tăng cao, do lũ lụt và dịch bệnh
xảy ra liên tiếp Giá các hàng hóa chủ
yếu trên thị trường thế giới biến động
theo chiều hướng tăng Trong nước, lạm
phát tăng cao, thời tiết diễn biến phức
tạp, dịch bệnh vẫn xảy ra trên cây trồng,
vật nuôi Những yếu tố bất lợi trên đã
tác động mạnh đến hoạt động sản xuất
kinh doanh và gây ảnh hưởng không nhỏ
đến đời sống dân cư Đảng, Quốc hội và
Chính phủ đã ban hành kịp thời nhiều
Chỉ thị, Nghị quyết quan trọng, đồng
thời tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết
liệt đưa ra những giải pháp chủ yếu tập
trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế
vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội Bên cạnh
đó, sự nỗ lực khắc phục khó khăn và
chủ động trong điều hành sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cũng góp phần quan trọng tạo sự chuyển biến tích cực trong ổn định kinh tế vĩ mô
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2011 ước tính tăng 5,89% so với năm 2010, trong đó quý I tăng 5,57%; quý II tăng 5,68%, quý III tăng 6,07%, quý IV tăng 6,10% Trong 5,89% tăng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4%, đóng góp 0,66 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,53%, đóng góp 2,32 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ tăng 6,99%, đóng góp 2,91 điểm phần trăm Kết quả trên khẳng định tính đúng đắn, kịp thời, hiệu quả của các biện pháp, giải pháp được Chính phủ ban hành và chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng thực hiện
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước năm nay tuy thấp hơn mức tăng 6,78% của năm 2010 nhưng trong điều kiện tình hình sản xuất rất khó khăn
và cả nước tập trung ưu tiên kiềm chế
Tổng quan thị trường
viễn thông Việt Nam 2011
Phần I:
Trang 4TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM 2011
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô thì mức
tăng trưởng trên được cho là khá cao
và hợp lý Trong 5,89% tăng chung của
nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp
24,2% so với cùng kỳ năm trước, nếu
loại trừ yếu tố giá thì tăng 4,7% Trong
tổng mức hàng hoá bán lẻ và doanh thu
dịch vụ tiêu dùng năm 2011, kinh doanh
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân
năm 2011 tăng 18,58% và tăng 18,13%
so với cùng kỳ năm trước Điều đó đã
khiến cho người tiêu dùng phải thắt chặt
chi tiêu, tính toán sao cho chi phí hàng tháng ở mức thấp nhất, trong đó có chi phí trong lĩnh vực viễn thông
2 Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ
Xuất khẩu hàng hóa
Tính chung năm 2011, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 96,3 tỷ USD, tăng 33,3% so với năm 2010, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 41,8 tỷ USD, tăng 26,1%; khu vực có vốn đầu
tư nước ngoài (gồm cả dầu thô) đạt 54,5
tỷ USD, tăng 39,3% Nếu không kể dầu thô thì kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài năm nay đạt 47,2 tỷ USD, tăng 38,4% so với năm trước
Kim ngạch xuất khẩu năm 2011 tăng mạnh chủ yếu do đơn giá của nhiều mặt hàng trên thị trường thế giới tăng, trong đó giá hạt tiêu tăng 65%; giá hạt điều tăng 42%; giá cà phê tăng 44%; giá cao su tăng 29%; giá gạo tăng 9%, giá sắn và sản phẩm của sắn tăng 9%; giá than đá tăng 15,6%, giá dầu thô tăng 40,8%, giá xăng dầu tăng 36% Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2011 tăng 11,4% so
Phân theo khu vực kinh tế
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 2,78 4,00
Công nghiệp và xây dựng 7,70 5,53
Trang 5với năm trước.
Cơ cấu kim ngạch hàng hóa
xuất khẩu năm nay có một số thay đổi
so với năm 2010: Tỷ trọng nhóm hàng
công nghiệp nặng và khoáng sản chiếm
35,2%, tăng 4 điểm phần trăm, là nhóm
hàng đóng góp vào mức tăng kim ngạch
xuất khẩu cao nhất với mức 47,5%;
nhóm hàng công nghiệp nhẹ chiếm
40,6%, giảm 2 điểm phần trăm so với
năm trước; tỷ trọng nhóm hàng nông,
lâm, thủy sản giảm nhẹ từ 22,5% năm
2010 xuống 21,9% năm 2011; vàng và
các sản phẩm vàng chiếm 2,3%, giảm
so với 3,8% của năm 2010
Về thị trường hàng hóa xuất khẩu,
Hoa Kỳ vẫn là thị trường có kim ngạch
cao nhất trong năm 2011 với 16,7 tỷ
USD, chiếm 17,4% tổng kim ngạch
hàng hóa xuất khẩu của nước ta và tăng
17,5% so với năm 2010; thị trường EU
đạt 16,5 tỷ USD, chiếm 17,2% và tăng
45,4%; thị trường ASEAN đạt 13,6 tỷ
USD, chiếm 14,1% và tăng 31,5%; Nhật
Bản đạt 10,6 tỷ USD, chiếm 11,1% và
tăng 37,8%; Trung Quốc đạt 10,8 tỷ
USD, chiếm 11,2% và tăng 47,6%
Nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu
năm 2011 đạt 105,8 tỷ USD, tăng 24,7%
so với năm trước, bao gồm: Khu vực
kinh tế trong nước đạt 58 tỷ USD, tăng
21,2%; khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài đạt 47,8 tỷ USD, tăng 29,2% Kim
ngạch nhập khẩu của nhiều mặt hàng
năm nay tăng so với năm trước, chủ
yếu vẫn là nhóm hàng máy móc thiết bị
và nguyên liệu phục vụ sản xuất trong
nước
Đơn giá nhiều mặt hàng trên thị
trường thế giới tăng cao là một trong
những nguyên nhân chủ yếu làm tăng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm nay, trong đó giá bông tăng 72%; giá xăng, dầu tăng 46%; giá cao su tăng 22%; giá khí đốt hoá lỏng tăng 18% Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2011 chỉ tăng 3,8%
Về thị trường hàng hóa nhập khẩu, Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất của nước ta với kim ngạch đạt 24,6
tỷ USD, tăng 22,7% so với năm 2010; tiếp đến là thị trường ASEAN đạt 20,9
tỷ USD, tăng 27,7%; Hàn Quốc đạt 13 tỷ USD, tăng 33,6%; Nhật Bản đạt 10,2 tỷ USD, tăng 13%; EU đạt 7,5 tỷ USD, tăng 18%; Hoa kỳ 4,3 tỷ USD, tăng 14,5%.Tốc độ tăng cao của kim ngạch hàng hóa xuất, nhập khẩu năm nay có phần đóng góp khá lớn của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với mức tăng xuất khẩu là 39,3% và mức tăng nhập khẩu là 29,2% Kim ngạch xuất khẩu của khu vực này (kể cả dầu thô) chiếm 56,6% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong
đó một số mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng tương ứng của cả nước là: Dệt may chiếm 60,5%; giầy dép chiếm 76,3%; điện tử máy tính chiếm 96,4%; dây điện và cáp điện chiếm 90,4%; máy móc thiết bị phụ tùng chiếm 89,7% và
Trang 6TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM 2011
sản phẩm chất dẻo chiếm 67,3% Kim
ngạch nhập khẩu của khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài chiếm 45,2% tổng
kim ngạch nhập khẩu, trong đó một số
mặt hàng nhập khẩu chiếm tỷ trọng cao
trong tổng kim ngạch nhập khẩu các mặt
hàng ương ứng của cả nước là: Điện tử,
máy tính và linh kiện chiếm 79,5%, dây
điện và cáp điện chiếm 74%, sản phẩm
từ chất dẻo chiếm 71,7%, bông chiếm
70,1% và cao su chiếm 61%
Nhập siêu hàng hóa năm 2011
ước tính 9,5 tỷ USD, bằng 9,9% tổng
kim ngạch hàng hóa xuất khẩu Mức
nhập siêu của năm 2011 là mức thấp
nhất trong vòng 5 năm qua và là năm
có tỷ lệ nhập siêu so với kim ngạch xuất
khẩu thấp nhất kể từ năm 2002
Nhập siêu hàng hóa qua một số năm
Xuất, nhập khẩu dịch vụ
Kim ngạch dịch vụ xuất khẩu năm
2011 ước tính đạt 8879 triệu USD, tăng
19% so với năm 2010, trong đó dịch vụ
du lịch đạt 5620 triệu USD, tăng 26,3%;
dịch vụ vận tải 2505 triệu USD, tăng
8,7% Kim ngạch dịch vụ nhập khẩu
năm 2011 ước tính đạt 11859 triệu USD,
tăng 19,5% so với năm 2010, trong đó
dịch vụ vận tải đạt 8226 triệu USD, tăng
24,7%; dịch vụ du lịch 1710 triệu USD,
tăng 16,3% Nhập siêu dịch vụ năm
2011 là 2980 triệu USD, tăng 21,1% so
với năm 2010 và bằng 33,6% kim ngạch
dịch vụ xuất khẩu năm 2011
3 chính phủ đặt mục tiêu kinh tế “vừa phải” cho năm 2012
Theo báo cáo về tình hình kinh tế
xã hội năm 2011 và kế hoạch năm 2012 của Chính phủ, do các chuyên gia của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư chấp bút, tình hình kinh tế nói chung vẫn chưa thuận lợi để Việt Nam có thể quay lại với mức tăng trưởng cao trước thời điểm khủng hoảng
Báo cáo này nhận định rằng những biến động của kinh tế thế giới sẽ tiếp tục
có những tác động đan xen cả tích cực lẫn tiêu cực đến kinh tế Việt Nam trong những tháng cuối năm Kinh tế thế giới tiếp tục phục hồi nhờ sự tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển, đặc biệt là các nền kinh tế khu vực châu Á Dòng vốn đầu tư nước ngoài
trong trung hạn vẫn chảy về các nền kinh
tế mới nổi ở châu Á, trong đó có Việt Nam, do đó Việt Nam sẽ có cơ hội trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trên cũng như đón nhận những tác động tích cực của nền kinh tế khu vực
Tuy nhiên, sự tăng trưởng chậm lại của các nền kinh tế mới nổi cùng với tình trạng thâm hụt ngân sách và khủng hoảng
nợ công của một số nền kinh tế lớn trên thế giới như: Mỹ, Nhật Bản và một số nền kinh tế thuộc khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu vẫn đang là những thách thức lớn đối với sự phục hồi của nền kinh
tế toàn cầu cũng như sự ổn định của nền tài chính - tiền tệ thế giới
2007 2008 2009 2010 2011Nhập siêu (Tỷ USD) 14,2 18,0 12,9 12,6 9,5
Nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu (%) 29,2 28,8 22,5 17,5 9,9
Trang 7Trong bối cảnh đó, Việt Nam đặt
mục tiêu tăng trưởng GDP trong năm
2012 là 6,5%, cao hơn chút ít so với mức
6% dự kiến đạt được trong năm 2011
Tổng kim ngạch xuất khẩu năm
2012 dự kiến đạt khoảng 99,7 tỷ USD,
tăng khoảng 12% so với năm 2011,
trong khi nhập siêu sẽ giảm xuống dưới
mức 16%
Một chỉ tiêu khác rất được quan
tâm là chỉ số giá tiêu dùng cũng được
đặt mục tiêu khá “chung chung” là dưới
10%
Đáng chú ý là vốn đầu tư phát
triển sẽ tiếp tục ở mức cao so với GDP,
dự kiến là khoảng 1.090 nghìn tỷ đồng,
bằng 36,9% GDP Tuy nhiên, trong số
này, đáng chú ý là mục tiêu huy động
khoảng 500 ngàn tỷ đồng vốn đầu tư
từ khu vực dân cư và doanh nghiệp tư
nhân, chiếm tới 45,9%
Cán cân vãng lai, một chỉ số kinh
tế được quốc tế hết sức quan tâm, được
dự báo là sẽ tiếp tục thâm hụt khoảng gần 6 tỷ USD do cán cân thương mại tiếp tục xu hướng thâm hụt cao, nhưng
bù lại cán cân vốn lại có thặng dư đáng
kể, khoảng trên 10 tỷ USD nên cán cân tổng thể có thể thặng dư khoảng 1,7 tỷ USD
4 Ba kịch bản kinh tế việt nam 2012
Kịch bản tốt: Tăng trưởng vượt 6%
Kịch bản này dựa trên nhận định tnh hình kinh tế thế giới 2012 sẽ khả quan, do đó kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam dự báo tăng từ 12-13%; trong khi kim ngạch nhập khẩu dự báo tăng 13-14%; tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu đạt khoảng 11-12% vào năm 2012, tăng so với tỷ lệ 9,9% năm 2011 Khi nền kinh tế toàn cầu duy trì được mức tăng trưởng, nguồn vốn đầu tư FDI vào Việt Nam được
Trang 8TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM 2011
dự báo duy trì ở mức tương đương năm
2011 Vốn FDI dự kiến chiếm khoảng
23% tổng mức đầu tư toàn xã hội, tương
đương khoảng 230 nghìn tỷ đồng
Tổng hợp các yếu tố cấu phần
GDP như tiêu dùng nội địa, xuất nhập
khẩu và đầu tư, với giả định các nhân
tố khác không đổi, tính toán cho thấy
với tổng mức đầu tư toàn xã hội tương
đương 33,5-33,9% GDP (mức kế hoạch
đã được phê chuẩn), tăng trưởng GDP
của Việt Nam năm 2012 có thể đạt từ
6-6,3% nếu hiệu suất đầu tư của nền
kinh tế có sự cải thiện đáng kể
Với tốc độ tăng trưởng GDP từ
6-6,3%, lạm phát duy trì ở mức 8-10%
và mức bội chi ngân sách được thông
qua cho năm 2012 ở mức 4,8% GDP,
theo tính toán của Ủy ban giám sát, nợ
công Việt Nam năm 2012 dự kiến đạt
mức 58,2-58,8% GDP
Tuy nhiên ở kịch bản này, theo Ủy
ban giám sát tài chính quốc gia thì để
điều chỉnh cơ cấu đầu tư như trên là một
thách thức rất lớn Bởi vì, muốn tăng tỷ
trọng đầu tư của khu vực dân doanh từ
35,2% của năm 2011 lên tới 43% tổng
đầu tư toàn xã hội vào năm 2012, theo
tính toán của Ủy ban, tăng trưởng tín
dụng cần đạt trên 25%, cao hơn nhiều
so với định mức tăng tín dụng từ 15-17%
để kiểm soát lạm phát từ 8-10% Trong
khi đó, để đảm bảo an sinh xã hội và tạo
nền tảng cho phát triển kinh tế giai đoạn
sau, Việt Nam cần tiếp tục quan tâm
đầu tư hạ tầng cơ sở, đặc biệt là khu
vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa Vì
vậy, khó có thể giảm tỷ trọng đầu tư của
khu vực kinh tế nhà nước từ mức 38,9%
tổng đầu tư toàn xã hội năm 2011 xuống
chỉ còn 34% ngay trong năm 2012
Kịch bản trung bình: GDP có thể đạt 5,9%
5,6-Ở kịch bản trung bình, giả định đặt ra là sản lượng nền kinh tế thế giới giảm khoảng 1%, tác động làm thương mại giảm khoảng 3-4% so với 2011 Ảnh hưởng đến Việt Nam, tốc độ tăng trưởng xuất, nhập khẩu của nước ta năm 2012
dự báo đạt tương ứng 8-9% và 7-8%,
tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu theo đó đạt
từ 7-8% Trong khi đó, lượng vốn FDI vào Việt Nam dự báo sẽ thấp hơn một chút so với kịch bản tốt, chỉ chiếm từ 22-22,5% tổng mức đầu tư toàn xã hội Với các dữ liệu trên, cùng với cơ cấu đầu tư khu vực kinh tế nhà nước chiếm 36,5-37% và khu vực kinh tế dân doanh chiếm 40,5-41% tổng đầu tư toàn
xã hội, mô hình tính toán của Ủy ban cho thấy, tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2012 có thể đạt từ 5,6-5,9%.Theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia thì đây là kịch bản có nhiều khả năng nhất và các chỉ số, các cân đối cũng mang tính khả thi nhất, mức tăng trưởng này cũng tương đối sát với mức sản lượng tiềm năng hiện tại của Việt Nam
Ở kịch bản này, mô hình tính toán
về quan hệ giữa tăng trưởng GDP, bội chi ngân sách và nợ công cho kết quả, với tỷ lệ bội chi ngân sách ở mức 4,8% GDP, nợ công Việt Nam năm 2012 sẽ đạt mức 58,8-59,2% GDP
Kịch bản xấu: GDP chỉ đạt 5,2-5,5%
Kịch bản xấu được xây dựng dựa trên giả định trường hợp xấu nhất, kinh
tế thế giới có khả năng rơi vào suy thoái
và đạt mức tăng trưởng dưới 2,4%; thương mại thế giới tăng ở mức dưới
Trang 93% về khối lượng và giá cả có thể giảm
sâu hơn mức dự báo 10% sẽ tác động
mạnh đến tăng trưởng kinh tế cũng như
tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt
Nam
Dự báo trong trường hợp này, kim
ngạch xuất khẩu chỉ tăng từ 5-6% so với
năm 2011 Trong khi đó, nhiều khả năng
Chính phủ sẽ phải điều chỉnh chính sách
vĩ mô, tăng đầu tư nhằm hỗ trợ doanh
nghiệp, ngăn chặn suy giảm kinh tế,
nên chính sách có phần nới lỏng hơn
và vì thế nhập khẩu dự báo tăng 5-6%
Theo đó, tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu vào
khoảng 9-10% Tương ứng, nguồn vốn
FDI vào Việt Nam ước chỉ đạt khoảng 10
tỷ USD, tương đương khoảng 21% tổng
vốn đầu tư toàn xã hội Lạm phát dự báo
sẽ giảm còn 8-9%
Với những giả định như trên, tính
toán của Ủy ban Giám sát Tài chính
của Việt Nam chỉ đạt từ 5,2-5,5%.Kết hợp với tỷ lệ bội chi ngân sách của năm 2012 được thông qua là 4,8% GDP, tính toán của cho thấy, nợ công của Việt Nam năm 2012 sẽ ở mức 59,8-60,4% GDP
Theo Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, trường hợp kinh tế thế giới diễn biến bất lợi và thật sự rơi vào suy thoái
sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam không chỉ năm 2012
mà cả trong những năm tiếp theo Việt Nam cần có biện pháp để chủ động đối phó với nguy cơ này Cụ thể là cần thay đổi định hướng chính sách theo hướng linh hoạt hơn nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp, tăng an sinh xã hội; nghiên cứu khả năng triển khai gói kích thích kinh tế với những tính toán kỹ lưỡng về quy mô, liều lượng, đối tượng thụ hưởng…
Trang 10TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM 2011
ii, thỊ trưỜng viễn thông
việt nam 2011
1 toàn cảnh thị trường
Theo số liệu từ Tổng cục thống
kê (TCTK), số thuê bao điện thoại phát
triển mới năm 2011 đạt 11,8 triệu thuê
bao, giảm 12,9% so với năm 2010, bao
gồm 49,6 nghìn thuê bao cố định, giảm
76,1% và 11,8 triệu thuê bao di động,
giảm 11,9% Số thuê bao điện thoại cả
nước tính đến cuối tháng 12/2011 ước
đạt 133,1 triệu thuê bao (Biểu đồ 2.1), tăng 3,9% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm 15,5 triệu thuê bao cố định, tăng 0,1% và 117,6 triệu thuê bao
di động, tăng 4,4%
Trong khi đó theo VNNIC, số thuê bao internet băng rộng trên cả nước tính đến cuối tháng 12/2011 ước tính đạt 4,08 triệu thuê bao, tăng trên 16% so với cùng thời điểm năm trước Số người
sử dụng internet tại thời điểm cuối tháng
Hình 1.1: Biểu đồ phát triển thuê bao di động năm 2011 (Nguồn: TCTK)
Trang 1112/2011 ước tính đạt 30,6 triệu người,
tăng gần 20% so với cùng thời điểm
năm trước
Tổng doanh thu thuần bưu chính,
viễn thông năm 2011 theo báo cáo của
các doanh nghiệp ước tính đạt 250.000
nghìn tỷ đồng, trong đó Tập đoàn VNPT
đạt 120.800 tỷ VNĐ tăng 18,26% so với
năm 2010; Tập đoàn Viettel đạt 116.012
tỷ VNĐ; Công ty cổ phần viễn thông Hà
Nội (Hanoi Telecom) đạt 9.000 tỷ VNĐ;
Công ty cổ phần viễn thông FPT (FPT
Telecom) đạt 3.500 tỷ VNĐ
Bức tranh tổng thể về sự phát triển
của thị trường di động, cố định, ADSL
năm 2011 được thể hiện trong hình 1.1,
1.2, 1.3
Như vậy có thể thấy mặc dù kinh
tế gặp nhiều khó khăn song về cơ bản
toàn ngành Bưu chính – Viễn thông Việt
Nam vẫn phát triển tương đối tốt Tốc độ
phát triển thuê bao và số lượng thuê bao
di động tuy cùng giảm mạnh so với năm
trước song đây không phải là một tín hiệu
xấu đối với thị trường mà trái lại nó thể
hiện thị trường trong năm 2011 đã phát
triển thực chất hơn Cách thức tính thuê bao di động “sống” của Bộ TT&TT và sự hợp tác mạnh mẽ từ phía các nhà mạng trong việc quản lý chặt hơn các đại lý sim, thẻ đã giúp thị trường “rũ bỏ” được hơn 40 triệu thuê bao ảo vào thời điểm tháng 4 và tháng 5 để rồi tiếp tục phát triển với tốc độ vừa phải trong các tháng tiếp theo (Hình 1.1)
Trong năm 2011, vấn đề “nóng nhất” của thị trường viễn thông có lẽ nằm trong 2 chữ “sáp nhập” Đầu tiên là nghị định 25CP không cho phép một doanh nghiệp viễn thông sở hữu trên 20% vốn tại 2 doanh nghiệp di động Điều này đặt
ra bài toán cho Tập đoàn VNPT phải sáp nhập hoặc cổ phần hóa một trong hai nhà mạng di động của mình Giới báo chí có thể nói là đã tốn nhiều giấy mực cho vấn đề này khi mà có nhiều luồng quan điểm trái chiều về quy định này Mọi đồn đoán chỉ tạm lắng xuống khi mà VNPT phát đi thông điệp sẽ trình đề án tái cấu trúc toàn Tập đoàn vào đầu năm
2012 trong đó có việc tái cấu trúc hai nhà mạng di động
Hình 1.3: Biểu đồ phát triển thuê bao ADSL năm 2011 (Nguồn: VNNIC)
Trang 12TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM 2011
Khi mà câu chuyện trên còn chưa
thật lắng xuống thì thị trường lại dấy
lên câu chuyện sáp nhập khi mà EVN
Telecom ngỏ ý muốn bán cổ phần cho
các đối tác Thật ra xu hướng sát nhập
của thị trường di động trong nước bắt
đầu manh nha từ cuối năm ngoái, khi
FPT công bố sẽ mua lại 61% cổ phần
của mạng EVNT Tuy nhiên, thương vụ
này không thành công Trong khi đó
tập đoàn EVN – đơn vị mẹ của EVNT
đứng trước áp lực buộc phải thoái vốn
tại EVNT do làm ăn thua lỗ Thực trạng
đó đặt ra trước mắt doanh nghiệp này
phải sáp nhập vào một “đại gia” nào
đó đủ sức gánh vác nguyên trạng nhà
mạng này Sau một thời gian đồn đoán,
cuối cùng vào thời điểm cuối năm 2011,
Chính phủ chính thức chỉ đạo sáp nhập
nguyên trạng EVNT về nhà mạng Viettel
Như vậy, trong số 3 mạng di động
sử dụng công nghệ CDMA tại Việt Nam,
Vietnamobile đã tiến hành chuyển đổi
sang công nghệ GSM, EVNT đã sát
nhập về Viettel, chỉ còn lại duy nhất
Sfone đơn độc
Trong số 3 mạng nhỏ, Sfone cũng
là mạng duy nhất không còn có sự hỗ
trợ của nhà đầu tư ngoại, hoạt động
trầm lắng trong suốt một năm qua khiến
nhiều người đặt câu hỏi về tương lai của
mạng di động này Liệu Sfone sẽ chọn
con đường như Vietnamobile hay tiếp
tục tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược?
Với sự cạnh tranh khắc nghiệt của thị
trường di động Việt Nam, câu trả lời sẽ
sớm có trong thời gian tới
Không riêng gì lĩnh vực di động và
cũng không phải là sự xóa sổ một doanh
nghiệp nào đó, sát nhập cũng là một xu
hướng tất yếu của ngành viễn thông
thế giới để kết hợp các nguồn lực, điểm mạnh của các doanh nghiệp
Thương vụ sáp nhập đầu tiên trong thị trường viễn thông Việt Nam này có thể sẽ mở ra một xu hướng tái cấu trúc toàn thị trường theo hướng các doanh nghiệp sẽ mua bán, sáp nhập với nhau để tạo thành những tập đoàn, công ty thật sự mạnh, đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác và tránh phá sản cho các doanh nghiệp nhỏ
2 thỊ trưỜng di động
nhà mạng nhỏ “chật vật”
Trong bối cảnh thị trường viễn thông đang dần bão hòa thì giá cước vẫn là chiêu bài cạnh tranh phổ biến và đơn giản nhất là việc tung ra những gói cước giá rẻ được các nhà mạng nhỏ lựa chọn như một cứu cánh để tồn tại Hai gói cước nổi bật của các mạng trong năm qua phải kể tới là gói MaxiTalk của Vietnamobile và gói cước Tỷ phú của Beeline
Xét về lợi ích kinh tế: doanh thu mang lại cho 2 nhà mạng này dù không đáng kể bởi mức khuyến mại quá lớn, khó có thể bù đắp các chi phí mà nhà mạng bỏ ra Nhưng điều quan trọng là
đã giúp hai nhà mạng giữ chân lượng thuê bao vốn đã khiêm tốn hiện có và thu hút thêm những khách hàng mới Theo như các chuyên gia trong ngành Viễn thông thì đối với các nhà mạng nhỏ thì “nếu biết tận dụng mạng lưới sẵn có
để đưa ra những chính sách ưu đãi hay những gói cước dành riêng cho những đối tượng cụ thể để khuyến khích khách hàng gọi nội mạng thì đây là cách tiếp cận thị trường mới Vì các cuộc gọi nội mạng mang lại doanh thu cho chính các
Trang 13nhà mạng không phải ‘ăn chia’ như các
cuộc gọi ngoại mạng”
Do các phân khúc khách hàng có
mức ARPU cao đã bị các nhà mạng lớn
chiếm (với lợi thế vùng phủ sóng rộng,
chất lượng mạng tốt hơn) nên các doanh
nghiệp viễn thông nhỏ phải tìm đến các
thị trường ngách: học sinh, sinh viên,
giới trẻ… những người có thu nhập thấp
nhưng nhu cầu liên lạc cao với chính
sách giá ưu đãi, tiện sử dụng Vì vậy,
đối với không ít khách hàng, các mạng
di động mới như Vietnamobile, Beeline
đang là sự lựa chọn thứ 2 khi mua sim
dùng thay thẻ cào do gọi rẻ hơn nhiều
và tiết kiệm chi phí Với đặc điểm thị
trường Việt Nam có hơn 1/2 dân số dưới
30 tuổi nên lựa chọn của các nhà mạng
nhỏ tập trung vào giới trẻ là cách tiếp
cận đúng đắn Tuy nhiên, các dịch vụ
do các nhà mạng này cung cấp mới chỉ
dừng lại ở nhắn tin, gọi điện thoại chứ
chưa có nhiều dịch vụ giá trị gia tăng
để khách hàng lựa chọn trong khi các
mạng di động lớn rất đa dạng về dịch vụ
gia tăng
Trong bối cảnh hiện tại, khi mà các
nhà mạng lớn trước sức ép về doanh
thu cũng đã bắt đầu phải quan tâm tới
các thị trường ngách Thêm vào đó, các
ưu đãi gọi nội mạng cũng bắt đầu được
các mạng lớn áp dụng cho lượng thuê
bao lớn của mình khiến không ít thuê
bao đã bỏ các mạng nhỏ Có thể thấy
rõ điều này qua việc so sánh thị phần
thuê bao di động giữa các mạng lớn và
mạng nhỏ Thị phần của 3 mạng lớn đã
tăng thêm 4,6% trong năm 2011 và đẩy
4 nhà mạng nhỏ xuống chỉ còn chiếm
chưa tới 2% thị phần Hầu hết các mạng
nhỏ đều giảm đáng kể thị phần so với
năm 2010, trong đó Vietnammobile
mặc dù vẫn là mạng có thị phần thuê bao lớn nhất trong số 4 mạng nhỏ song cũng chỉ chiếm chưa tới 1,2%, tiếp theo sau là Beeline với 0,39% nhờ cú nước rút trong những tháng cuối năm với gói cước tỷ phú
Những thống kê này đã cho thấy các nhà mạng nhỏ đã phải chật vật để vượt qua năm 2011 đầy sóng gió Thế nhưng, những khó khăn chưa phải đã hết mà sẽ vẫn đang hiển hiện trước mặt các nhà mạng này Dự báo trong những năm tới, các nhà mạng nhỏ sẽ còn tiếp tục gặp khó hơn nữa khi mà các cơ quan quản lý thì thắt chặt việc quản lý khuyến mại còn các nhà mạng lớn thì tiếp tục vét nốt các khách hàng còn lại trên thị trường
thị trường đã bớt “ảo” hơn
Theo số liệu của TCTK, tính đến hết tháng 12/2011, cả nước có 117,6 triệu thuê bao di động (Hình 1.4) Như vậy so với thời điểm cuối năm 2010 thì thị trường đã mất hơn 40 triệu thuê bao Sự sụt giảm này rơi vào tháng 4 và tháng 5 – thời điểm mà Tổng cục thống kê đã thực hiện phương thức tính thuê bao mới Theo đó, các thuê bao phải có cuộc gọi đi trong vòng 1 tháng thì mới được tính, (trước đây thời hạn là
3 tháng), do đó số lượng thuê bao đã sụt giảm mạnh
Như vậy việc tốc độ phát triển thuê bao và số lượng thuê bao di động tuy cùng giảm mạnh so với năm trước song đây không phải là một tín hiệu xấu đối với thị trường mà trái lại nó thể hiện thị trường trong năm 2011 đã phát triển thực chất hơn Sau khi “rũ bỏ” được hơn 40 triệu thuê bao ảo vào thời điểm tháng 4 và tháng 5 thị trường đã tiếp tục phát triển với tốc độ vừa phải trong các tháng tiếp theo
Trang 14TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM 2011
Bên cạnh sự kiện sụt giảm mạnh
ở tháng 4-5 thì các tháng còn lại của
năm thị trường tăng đều đặn mỗi tháng
khoảng 1 triệu thuê bao – một con số
rất khiêm nhường so với trước đây Điều
này được đánh giá nhờ sự vào cuộc tích
cực của Bộ TT&TT trong việc kiên quyết
“trảm” các thuê bao trả trước không
đăng ký thông tin
Gần đây nhất, các nhà mạng
Viettel, Mobifone và Vinaphone đã sở
TT&TT TP HCM phạt mỗi mạng 30 triệu
đồng vì thực hiện không đúng quy định
về tiếp nhận và đăng ký thông tin thuê
bao di động trả trước đồng thời hơn
37.000 thuê bao khai man thông tin cũng
bị buộc ngừng cung cấp dịch vụ Trong
đó Viettel chiếm đến 23.836 thuê bao,
Vinaphone 9.652 thuê bao và Mobifone
là 3.800 thuê bao.Sự kiên quyết này
của cơ quan quản lý đã phần nào giúp
thị trường di động trong năm 2011 phát
triển thực chất và bền vững hơn
Khuyến mại cho thuê bao trả trước giảm
mạnh
Một điều dễ nhận thấy nhất ngay
từ những ngày đầu năm 2011 là các gói cước trả trước của tam đại gia Viettel, VinaPhone và MobiFone đã không còn những mức khuyến mại “khủng” hay các SIM trả trước tài khoản lớn
Với mức khuyến mại thẻ chỉ còn tối đa 50% giá trị, dường như trả trước không còn là miếng bánh ngon đối với người tiêu dùng Điều này dẫn đến hệ quả là khách hàng không còn mặn mà với việc cào thẻ nạp tiền
Các gói cước khuyến mại của nhà mạng lớn tập trung vào các khoảng thời gian giữa tháng và cuối tháng với thời gian kéo dài trong 3 ngày Càng sát thời điểm cuối năm, lượng khuyến mại càng tăng và thị trường ghi nhận sự trở lại của các dòng SIM rác tài khoản khủng
từ các đại gia viễn thông
Một thực trạng khác, lượng khách hàng cũng ngày càng bão hoà và không còn mấy quan tâm đến việc nạp thẻ
Khuyến mại cho thuê bao trả sau “lên ngôi”
Năm 2011 cũng là năm mà thuê
Hình 1.4: Biểu đồ phát triển thuê bao di động năm 2011 (Nguồn: TCTK)
Trang 15bao trả sau được các nhà mạng quan
tâm chăm sóc khá nhiều Những năm
trước đây, trong khi các thuê bao trả
trước liên tiếp nhận được “mưa” khuyến
mãi tặng 100% hay ít ra cũng là 50% giá
trị thẻ nạp và tặng giá trị tài khoản từ lớn
đến cực lớn khi hòa mạng mới, thì thuê
bao trả sau vốn là những người “ăn đời
ở kiếp” với nhà mạng lại ít được chăm
sóc… Điều này khiến nhiều thuê bao trả
sau cảm thấy “tủi thân” Tuy nhiên, trong
năm 2011, nhiều chương trình chăm sóc
thuê bao trả sau đã được các nhà mạng
tung ra
Rầm rộ nhất là việc cả 3 nhà mạng
lớn Vinaphone, Mobilfone và Viettel đều
cung cấp gói cước cho phép các thuê
bao trả sau được gọi nội mạng miễn phí
với một mức cước cố định Không chỉ
dừng lại ở đó, giữa năm 2011 nhà mạng
Mobifone còn khuyến mại 100% giá trị
thẻ nạp cho các thuê bao trả sau thanh
toán bằng thẻ cào trả trước Đây là điều
chưa từng có trong thị trường viễn thông
Việt Nam, đặc biệt là ở thời điểm giữa
năm, khi mà các thuê bao trả trước chỉ
được khuyến mại 50% thì đây là một cú
đột phá trong chăm sóc thuê bao trả sau
của các nhà mạng di động
Dù rằng các chương trình khuyến
mại có thể chưa nhiều bằng các chương
trình cho thuê bao trả trước, song ít
nhiều nghịch lý “nhất bên trọng, nhất
bên khinh” giữa thuê bao trả trước và
trả sau đã tồn tại nhiều năm qua trong
thị trường viễn thông Việt Nam đã được
giải quyết
Nhà mạng đã nhận ra giá trị của
các thuê bao trả sau và với những động
thái này trong năm 2011, có thể năm
2012 sẽ có sự phát triển đột phá về số
lượng thuê bao di động trả sau
3g: “không giới hạn” lên ngôi
Theo số liệu từ Bộ TT&TT, hiện tổng số thuê bao 3G của các mạng di động đạt 12,8 triệu thuê bao, trong đó Mobifone là doanh nghiệp dẫn đầu với khoảng 47% thị phần (Hình 1.5) Như vậy nghĩa là sau 3 năm triển khai xây dựng mới chỉ có 11% số thuê bao di động dùng dịch vụ 3G Trong khi đó số tiền mà các nhà mạng bỏ ra là không nhỏ khi mà tổng số trạm thu phát sóng 3G của các doanh nghiệp đã triển khai trên phạm vi toàn quốc đã vượt 33.700 trạm BTS, phủ sóng hơn 90% dân số Bên cạnh đó APRU của các thuê bao 3G chưa cao, các chương trình giảm giá cước 3G liên tục được tung ra song người dùng vẫn không mặn mà lắm với các dịch vụ này đã cho thấy các dịch vụ 3G chưa thật sự hấp dẫn người dùng Những số liệu này đã cho thấy mặc dù thị trường 3G đã có những “khởi sắc” nhưng rõ ràng vẫn chưa đáp ứng được
kỳ vọng ban đầu của các nhà mạng.Với nhiều người, 3G vẫn là dịch vụ
xa xỉ và chưa cần thiết Một trong những biện pháp các nhà mạng đã thực hiện trong năm qua để dần khắc phục hạn chế về tiếp thị dịch vụ như đã nói ở trên
là tung những gói cước “không giới hạn dung lượng”
Tháng 4, Viettel đã chính thức cung cấp tính năng này cho thuê bao Dcom 3G Theo đó, thuê bao trả trước và trả sau sử dụng Laptop có thể đăng ký để giới hạn mức cước phí hàng tháng phải trả: Thuê bao trả trước: chỉ phải trả 120.000/tháng hoặc ít hơn nếu lưu lượng dữ liệu sử dụng
ít hơn 2 GB Thuê bao trả sau: Cước phải trả = cước hàng tháng gói cước đang sử
Trang 16TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM 2011
dụng + 120.000 đ
Sau khi sử dụng hết lượng dữ liệu
tương ứng với 120.000 đ (với thuê bao
trả trước) và lưu lượng dữ liệu của gói
cước đăng ký + 120.000 đ (với thuê bao
trả sau), tốc độ truyền dẫn dữ liệu đang
từ 8 Mbps/2 Mbps sẽ bị giảm xuống mức
256 Mbps/128 Mbps
Các nhà mạng 3G khác cũng
nhanh chóng học tập và triển khai các
gói cước tương tự và thu được kết quả
khá khả quan
Gọi các gói cước này là gói cước
“không giới hạn” dung lượng cũng có
phần đúng bởi sau khi dùng hết lưu
lượng tương đương với với mức phí tối
đa đăng ký, người dùng vẫn được sử
trung giải quyết vấn đề về tâm lý, dần
xóa quan niệm dịch vụ 3G là xa xỉ đối với người dùng
Với tính năng này, cả thuê bao trả trước và thuê bao trả sau đều tránh được tình trạng phụ trội cước và yên tâm sử dụng gói dịch vụ mình đã đăng
ký Thêm vào đó, tính năng này cũng sẽ thu hút những người muốn sử dụng dịch
vụ mà còn e ngại giá cước bởi mức giá các mạng đưa ra cũng chỉ nhỉnh hơn một chút so với các dịch vụ Internet cố định hiện hành mà lại di động, tiện dụng
3 thỊ trưỜng Băng rộng adSl
một năm ít thăng trầm
Năm 2011 tiếp tục chứng kiến sự phát triển khá ổn định của thị trường băng rộng ADSL Mặc dù chịu sự cạnh tranh mạnh của băng rộng di động song rõ ràng băng rộng di động chưa
đủ mạnh, tiện dụng và rẻ để thay thế ADSL Do vậy, tốc độ phát triển có đôi phần chậm lại song thị trường vẫn tăng trưởng tương đối đều đặn hàng tháng
Tỉ lệ số dân sử dụng Internet đạt
Hình 1.5: Thị phần thuê bao 3G tại Việt Nam tính hết tháng 12/2011 (Nguồn: IPC).
Trang 17hơn 35%, cao hơn khá nhiều mức 20%
của khu vực Đông Nam Á và chỉ đứng
sau Malaysia (55%) và Brunei (50%)
Kết quả này nhà nhờ sự nỗi lực của
các nhà mạng trong việc chung tay đưa
Internet tới mọi người dân, các dự án
kết nối Internet tới trường học, bệnh
viện… của các doanh nghiệp đã giúp
người dân vùng nghèo dễ tiếp cận dịch
vụ hơn
Tuy nhiên, thị trường vẫn chứng
kiến sự thống trị của VDC/VNPT với
68% thị phần (Hình 1.6) Viettel với
17% thị phần đã tạo được một khoảng
cách khá lớn với đối thủ phía sau là FPT
(9%) song vẫn còn cách quá xa so với
nhà mạng dẫn đầu thị trường Điều này
khiến thị trường ADSL trong năm vẫn
khá lặng sóng
Dự báo trong năm 2012 thị trường
ADSL sẽ tiếp tục phát triển ổn định song
với tốc độ thấp do sự cạnh tranh mạnh
từ băng rộng di động Viettel với việc sáp
nhập EVN Telecom chắc chắn sẽ đầu
tư mạnh hơn cho mảng này với tham
vọng phát triển các dịch vụ gia tăng trên
đường dây cố định như IPTV Điều này
hứa hẹn năm 2012 sẽ có cạnh tranh gay gắt hơn trên thị trường này Bên cạnh
đó các dịch vụ cáp quang như FTTH, FTTB, FTTE… sẽ phát triển mạnh nhờ các ưu điểm: tốc độ cao, phù hợp với các tổ chức, công ty trong khi giá cước đang ngày càng rẻ
Không còn giảm giá
Nếu như những năm trước, các
nhà mạng liên tục giảm cước, khuyến mại… để thu hút khách hàng thì năm nay tình trạng này đã gần như chấm dứt, thậm chí đã có nhà mạng phải tăng giá dịch vụ
tổng băng thông kênh kết nối quốc tế của việt nam 311,331 mbps tổng băng thông kênh kết nối trong nước 394,766 mbps tổng lưu lượng trao đổi qua trạm trung chuyển vniX 105,562,932 gbytes
tổng số tên miền tiếng việt đã đăng ký 548,728
tổng số địa chỉ iPv4 đã cấp 54,950,983,680 địa chỉ
Số lượng địa chỉ iPv6 qui đổi theo đơn vị /64 đã cấp 54,950,983,680 /64 địa chỉ tổng thuê bao băng rộng (xdSl) 4,084,616
Bảng 1.1: Thống kê thị trường ADSL tính tới hết tháng 11/2011 (Nguồn: VNNIC)
Hình 1.6: Thị phần dịch vụ ADSL tính tới hết tháng
12/2011 (Nguồn:VNNIC)
Trang 18TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM 2011
Đầu tháng 3, FPT bất ngờ thông
báo tăng cước dịch vụ Internet với mức
tăng trung bình từ 25 - 30.000 đ/tháng
kèm theo cam kết tăng tốc độ đường
truyền và kèm theo một số dịch vụ giá
trị gia tăng miễn phí Trước tình hình
giá cả sinh hoạt gia tăng đáng kể trong
những tháng cuối năm 2010 sau tết
Nguyên đán thì việc tăng giá dịch vụ
là quy luật tất yếu của thị trường Tuy
nhiên, nếu đặt trong bối cảnh riêng thị
trường viễn thông thì FPT lại đang đi
ngược dòng Trong khi giá thành của
hầu hết các mặt hàng đều tăng giá thì
dịch vụ viễn thông lại luôn có xu hướng
giảm giá Vì vậy, quyết định của FPT đã
gặp phải sự phản đối khá mạnh mẽ từ
phía người dùng
Nhà mạng VNPT trong năm cũng
không có chương trình giảm giá nào
đáng kể Điều này cho thấy sự khó
khăn của thị trường này Tuy nhiên, bù
lại cho khách hàng, trong năm VNPT
đã tăng cường tốc độ và giữ nguyên
giá cước cho một số gói dịch vụ tương
đương với các gói FPT đã tăng giá
Điều này ít nhiều giúp VNPT “ghi điểm” trong mắt khách hàng
Sôi động thị trường Ftth
Trong khi đó, băng rộng cáp quang lại là một năm khá sôi động vì được các mạng tập trung hơn Nhiều đợt giảm giá dịch vụ cả công khai, cả đối phó với đối thủ được tung ra thị trường Ngoài ra còn thêm một số gói cước mới mà giá không chênh lệch là mấy so với dịch vụ Internet cáp đồng
Giữa tháng 7, Viettel bất ngờ tung ra thị trường gói cước Internet cáp quang với giá cước 350.000 đ/tháng, chỉ bằng 1/3 so với giá cước các gói dịch vụ FTTx thấp nhất và thậm chí còn thấp hơn giá một số gói dịch vụ Internet cáp đồng tốc độ cao các đối thủ khác đang cung cấp trên thị trường Sau đó,
từ ý kiến của các doanh nghiệp khác,
Bộ TT&TT đã tuýt còi các gói cước này của Viettel Tuy nhiên, việc Viettel tiến hành giảm cước các gói dịch vụ FTTx đang cung cấp với mức giảm lên tới 60
- 75% các ở khá nhiều tỉnh thành đã tạo
Trang 19nên sự sôi động cho thị trường vốn đã
đang cạnh tranh khá khốc liệt này
4 thỊ trưỜng điện thoại
cố đỊnh
Năm 2011 là năm có khá nhiều
biến động đối với thị trường cố định
Trước bối cảnh thuê bao cố định ngày
càng có xu hướng giảm, ARPU cũng
giảm trong khi tất cả các chi phí thường
xuyên để duy trì và cung cấp dịch vụ lại
tăng, một số quy định đã được đưa ra
nhằm cứu vãn khó khăn tạm thời cho
các nhà cung cấp dịch vụ Ví dụ: Cho
doanh nghiệp tự quyết định giá cước
điện thoại cố định nội hạt căn cứ vào
hoạt động kinh doanh của mình từ
1/1/2011; Tăng cước kết nối từ mạng
di động sang mạng cố định lên 415 đ/
phút từ ngày 1/10/2011 thay cho mức
270 đ/phút áp dụng từ trước đó, ngang bằng với cước kết nối từ cố định sang
di động
Dự báo với những tiện ích của điện thoại di động, điện thoại cố định sẽ còn tiếp tục giảm nhẹ trong một vài năm tới trước khi đi vào trạng thái thật sự cân bằng Tuy nhiên, sụt giảm thuê bao
có lẽ không phải là nỗi lo lớn nhất của các nhà mạng cố định, mà điều đáng lo nhất lại là sự sụt giảm doanh thu bình quân trên một thuê bao cố định Hiện nay, đa số những gia đình không kinh doanh mà còn giữ lại điện thoại cố định
là do họ cảm thấy mất vài chục nghìn một tháng là không đáng kể nên cứ để
đó như một dự phòng, chứ thực tế rất ít khi dùng đến
Điều này thể hiện rõ trong biểu đồ doanh thu của lĩnh vực cố định Trong
khi số lượng thuê bao chỉ giảm khoảng 20-25%/năm thì doanh thu giai đoạn 2008-2009 đã giảm tới 100% (Hình 1.8) Dự báo doanh thu năm 2011 sẽ tiếp tục giảm khoảng 20%, đạt khoảng
190 triệu USD Đây thực sự là nỗi lo lớn của các nhà mạng cố định
Hình 1.7: Năm 2011 dù thị phần giữa các nhà mạng không nhiều biến động song số lượng thuê bao điện thoại
cố định vẫn tiếp tục giảm
Hình 1.8: Doanh thu lĩnh vực cố định giai đoạn
2006-2010 (Nguồn: MIC)
Trang 20TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM 2011
iii tỔng KẾt PhẦn 1
Mật độ điện thoại vượt 150
máy/100 dân, giá các dịch vụ viễn thông
tiếp tục giảm, số lượng thuê bao 3G đạt
12,8 triệu, băng rộng ADSL vượt 4 triệu,
thuê bao IPTV đạt 600.000, các doanh
nghiệp di động bắt đầu phát triển theo
chiều sâu thay vì phát triển theo bề rộng,
các doanh nghiệp lớn đang vươn mình
ra thị trường quốc tế… là những kết quả
không thể phủ nhận của thị trường viễn
thông Việt Nam trong năm 2011
Song bên cạnh đó còn muôn vàn khó khăn, thách thức đang chờ đợi các doanh nghiệp khi mà thị trường di động
đã bão hòa, 3G chưa đủ hấp dẫn, băng rộng ADSL đang bị cạnh tranh mạnh bởi các dịch vụ 3G, IPTV thì vẫn còn đang
“chậm chững”… Dựa vào đâu để các doanh nghiệp tiếp tục duy trì được mức tăng trường 20-30% như mục tiêu đề ra
là một bài toán khó đối với các doanh nghiệp trong năm 2012
Trang 21i, triển vọng Kinh tẾ thẾ
giới 2012
Nền kinh tế thế giới bước sang
năm 2012 tiếp tục đối mặt với nhiều
thách thức to lớn bao gồm tốc độ tăng
trưởng chậm lại, nguy cơ đổ vỡ thị
trường tài chính gia tăng, tình trạng
thoái vốn đầu tư vẫn phổ biến và tăng
trưởng không đồng đều ở các khu vực
Theo báo cáo mới nhất của Quỹ Tiền
tệ Quốc tế (IMF) về triển vọng kinh tế
thế giới, các nền kinh tế phát triển trong
năm qua đã thất bại trong việc giảm đầu
tư nhà nước, tăng đầu tư tư nhân trong
khi nỗ lực tăng cầu nội địa, giảm cầu
xuất khẩu của các nền kinh tế đang phát
triển cũng không thành công
Tại Mỹ, giới đầu tư đang mất dần
lòng tin về việc chính phủ nước này
không đưa ra được một kế hoạch kiểm
soát ngân sách trung hạn đủ thuyết phục, trong khi nền kinh tế tiếp tục trì trệ Kinh tế châu Âu vẫn phải vất vả đối phó với cuộc khủng hoảng nợ công khu vực đang ngày càng lan rộng, với hậu quả là nguồn tín dụng cần thiết cho tăng trưởng có nguy cơ khan hiếm Sự yếu kém ở hai khu vực kinh tế lớn này tác động không nhỏ tới nhóm nền kinh tế mới nổi và đang phát triển, khiến tốc
độ tăng trưởng của nhóm này chậm lại, nhất là các nền kinh tế lớn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu Tuy nhiên, kinh tế châu Á sẽ tiếp tục là điểm sáng trong bức tranh kinh tế toàn cầu 2012, với tốc độ tăng trưởng bền vững hơn Nhật Bản sẽ vươn dậy từ cú sốc thảm họa động đất kèm sóng thần Các nền kinh
tế Đông Âu hồi phục khá nhờ giá hàng hóa vẫn cao Triển vọng ở Nam Mỹ cũng khả quan hơn Trung Đông và Bắc Phi
Trang 22DỰ BÁO XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DVVT VIỆT NAM NĂM 2012
tuy bị ảnh hưởng bởi bất ổn xã hội, song
kinh tế vẫn được hưởng lợi từ giá dầu
thô cao và sản lượng tăng vững
1 mỹ: trì trệ
Trong năm qua, kinh tế Mỹ đã mất
đà sau khi tốc độ tăng GDP giảm xuống
còn 1% trong 6 tháng đầu năm 2011, so
với 2,75% trong 6 tháng trước đó Tốc
độ suy giảm GDP dự báo cho năm 2012
còn lớn hơn so với dự báo trước Thứ
nhất, thảm họa động đất tại Nhật Bản đã
làm gián đoạn nguồn cung thiết bị của
các hãng sản xuất ô tô và giá dầu tăng
cao tác động mạnh tới tiêu dùng trong
nước Thứ hai, lòng tin của các hộ gia
đình và doanh nghiệp bị suy giảm nặng
nề và các thị trường ngày càng diễn
biến bất ổn trước những lo ngại về kinh
tế trì trệ, việc Mỹ bị đánh tụt hạng tín
dụng nợ công và cuộc khủng hoảng gia
tăng ở Eurozone
Tốc độ tăng GDP của Mỹ được dự
báo sẽ vào 1,8% cho năm 2012, dựa trên
giả định những tác động bất lợi của trận
sóng thần Nhật Bản và giá dầu thô sẽ
dịu xuống và các chính sách giảm thuế
thu nhập và tăng bảo hiểm thất nghiệp
sẽ được duy trì Các chính sách này nếu
bị dừng lại đột ngột sẽ gây ra những hậu
quả tai hại Nguy hiểm hơn, nếu chính
phủ Mỹ tiếp tục chậm trễ trong việc đưa
ra một kế hoạch tái cân bằng ngân sách
trung hạn, chi phí vay mượn sẽ càng
tăng lên và có thể gây ra những hệ lụy
lớn cho nền kinh tế toàn cầu
2 châu Âu: vất vả đối phó khủng hoảng
Châu Âu, nhất là Khu vực đồng
euro (Eurozone), sẽ tiếp tục vất vả đối
phó với cuộc khủng hoảng nợ công đã
và đang khiến thị trường náo loạn và
đẩy nguy cơ tái diễn khủng hoảng tài
chính lên cao Nhu cầu cứu trợ tín dụng không chỉ dừng lại ở mắt xích yếu nhất
là Hy Lạp, mà đã lăm le sang các thành viên khỏe hơn như Italia, Tây Ban Nha
và thậm chí cả Pháp, Đức Nếu khủng hoảng lan tới các thành viên chủ chốt này của Eurozone, nguy cơ bất ổn của nền kinh tế toàn cầu là hiện hữu Do có mối liên hệ chặt chẽ về kinh tế và tài chính, khủng hoảng ở Eurozone sẽ kéo theo các nền kinh tế đang phát triển ở Đông Âu, đồng thời nhấn chìm lòng tin trên thị trường ở các châu lục khác.Thâm hụt ngân sách và nợ công cao, sản lượng tiềm năng giảm và thị trường bất ổn đang đè nặng lên hầu hết các nền kinh tế phát triển trong khu vực Các yếu tố này sẽ làm cán cân cơ hội
- rủi ro đối với tăng trưởng kinh tế hiêng về vế thứ hai Tác động tiêu cực của các yếu tố mang tính tạm thời, như giá năng lượng cao và động đất tại Nhật Bản, cho dù giảm dần cũng không thể
ng-bù lại những hậu quả của cú sốc khủng hoảng đồng euro Cách thức xử lý khủng hoảng của các nhà lãnh đạo Eurozone
và EU sắp tới sẽ quyết định tương lai trước mắt của khu vực này Nghiêm túc
và nhất quán với các cam kết không để xảy ra tắc nghẽn tín dụng và buộc các thành viên kiểm soát nợ công, EU sẽ lấy lại được lòng tin của các nhà đầu tư.Tốc độ tăng GDP thực của Euro-zone ước tính chỉ đạt 0,25% trong nửa cuối năm 2011, giảm mạnh so với 6 tháng đầu năm Giả sử các nhà lãnh đạo
EU nghiêm túc thực hiện các cam kết
xử lý khủng hoảng đưa ra tại các cuộc họp thượng đỉnh vừa qua, tốc độ tăng GDP của khu vực này dự báo sẽ khá hơn ở mức trên 1% cho cả năm 2012 Lạm phát đối với các nền kinh tế châu
Trang 23Âu sẽ được kiểm soát do giá cả hàng
hóa tiếp tục đi xuống Lạm phát của
Eu-rozone sẽ giảm xuống còn 1,5% trong
năm 2012, so với 2,5% trong năm 2011
Với các nền kinh tế Đông Âu, lạm phát
cũng được dự báo giảm từ 5,25% xuống
còn 4,5% trong năm 2012
Ủy ban châu Âu mới đây cũng
giảm mạnh dự báo tăng trưởng của
khu vực này xuống còn 0,5% trong năm
2012 “Trì trệ” sẽ là tình trạng chung của
các nền kinh tế trong khu vực, do tiêu
dùng, đầu tư và xuất khẩu đều èo uột
Một số thành viên thậm chí bị cảnh báo
sẽ tăng trưởng âm Thất nghiệp sẽ ở
mức cao 9,5% trong vài năm tới
3 châu Á: tăng trưởng cân bằng hơn
Với giả thiết sẽ không có các cú
sốc lớn (chẳng hạn khủng hoảng nợ
công châu Âu vượt ngoài tầm kiểm soát),
tăng trưởng kinh tế châu Á nói chung sẽ
được duy trì và ngày càng vững chắc,
cho dù với tốc độ giảm dần
Tuy vậy, nhịp độ tăng trưởng ở
châu Á sẽ không đồng đều đối với mọi
thành viên Là nền kinh tế phát triển
nhất khu vực, Nhật Bản sẽ tăng tốc với
GDP dự đoán tăng 2,15% trong năm
2012, sau khi ước giảm 0,5% trong năm
2011, chủ yếu nhờ vào hoạt động tái xây
dựng cơ sở hạ tầng sôi động sau thảm
họa động đất, sóng thần Kinh tế Trung
Quốc sẽ tăng trưởng chậm lại còn 9%,
vẫn cao nhất nhì khu vực, do nước này
sẽ phải tiếp tục thắt chặt tiền tệ trong khi
xuất khẩu giảm sút Đầu tư nói chung
vẫn là động lực tăng trưởng chính của
nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Sức ép
tế đã cao so với tiềm năng GDP của nhóm 5 thành viên hàng đầu ASEAN gồm Inđônêxia, Thái Lan, Malaixia, Philíppin và Việt Nam sẽ đạt mức tăng trưởng bình quân 5,6%, tăng nhẹ so với năm 2011, nhờ khai thác được thị trường nội địa để bù đắp phần nào sự trì trệ của xuất khẩu tới các thị trường Âu,
Mỹ Tuy nhiên, xuất khẩu các loại hàng hóa như nông sản sẽ không còn đóng góp nhiều vào tăng trưởng GDP do giá
4 5 xu hướng đáng chú ý của kinh tế thế giới
Hội đồng Quan hệ đối ngoại - một
tổ chức nghiên cứu độc lập có uy tín của Hoa Kỳ - mới đây đã đưa ra 5 xu hướng kinh tế cần chú ý trong năm 2012, dựa trên ý kiến của các nhà kinh tế lớn làm việc tại các tổ chức như Viện Brookings, Đại học New York, Viện Kinh tế quốc tế Peterson
Xu hướng 1: năm 2012, Hoa Kỳ
sẽ bầu lại tổng thống, toàn bộ Hạ viện
Trang 24DỰ BÁO XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DVVT VIỆT NAM NĂM 2012
và một phần ba Thượng viện Nếu một
đảng giành quyền kiểm soát cả Nhà
Trắng và Quốc hội, điều đó sẽ tác động
to lớn đến kinh tế Hoa Kỳ Sự chia rẽ
đảng phái ngày càng tăng giữa hai đảng
Cộng hòa và Dân chủ tiếp tục là vấn đề
ảnh hưởng nhất đối với việc hoạch định
chính sách kinh tế của Hoa Kỳ Năm
2012, thế giới sẽ tiếp tục có nhiều biến
động về kinh tế, chính trị và xã hội, mà
trọng tâm là cuộc khủng hoảng nợ công
ở châu Âu
Có hai khả năng xảy ra: thứ nhất
là châu Âu thành công trong việc khống
chế cơn bão nợ công, và trong trường
hợp này, Mỹ sẽ nếm mùi tăng trưởng
kinh tế chậm, thất nghiệp cao, trong khi
không có quyết sách lớn nào được đưa
ra trong năm siêu bầu cử khiến việc ổn
định tài chính, tăng trưởng và việc làm
không được giám sát và thiếu sự đầu
tư Trong khi đó, các nền kinh tế đang
nổi sẽ quay về mô hình tăng trưởng gần
như trước khủng hoảng
Xu hướng 2: châu Âu thất bại
trong việc cải cách hệ thống tài chính,
Khu vực đồng tiền chung châu Âu
(Eu-rozone) bắt đầu tan rã dẫn đến kinh tế
suy thoái nặng, tác động tiêu cực đến sự
phục hồi mong manh của Mỹ và các nền
kinh tế đang nổi
Xu hướng 3: là sự nổi lên của
Trung Quốc Năm 2012 sẽ đánh dấu
việc nước này chuyển sang con đường
tăng trưởng chậm hơn (khoảng 8%)
Điều này sẽ làm giảm các sự lựa chọn
về chính sách, nhưng sẽ tốt hơn cho
Trung Quốc và thế giới
Xu hướng 4: là sự thiếu hụt các
tài sản xếp hạng AAA Trong năm 2012,
người tiết kiệm sẽ chịu khó hơn trong
việc tìm kiếm các tài sản an toàn vì các nguy cơ trong nền kinh tế thế giới lớn hơn Nếu tiền tiết kiệm không được đầu
tư vào rủi ro, tăng trưởng sẽ chững lại,
và những người đi vay an toàn nhất cũng sẽ trở nên rủi ro
Xu hướng 5: là “những rủi ro mới”
Sự hoảng loạn của thị trường tài chính
đã dần đẩy đồng euro đến điểm mà ngày càng có nhiều người công khai đặt câu hỏi về sự sống sót của nó Đây là bằng chứng về tình trạng suy giảm lòng tin trong giới đầu tư toàn cầu
ii, triển vọng Kinh tẾ vĨ mô việt nam 2012
1 làm phát lùi dần?
Trong báo cáo mới nhất có tên
“Triển vọng kinh tế châu Á - Cơn bão của sự bất ổn”, ông Tai Hui -Trưởng bộ phận Nghiên cứu Kinh tế Đông Nam Á của Standard Chartered Bank, đưa ra những cảnh báo bắt đầu từ sự hồi tưởng tới cuộc đại suy thoái
Cũng giống như các tổ chức dự báo kinh tế cả trong và ngoài nước khác, báo cáo cho rằng mối quan ngại
số 1 đối với Việt Nam trong năm 2012 vẫn sẽ là vấn đề lạm phát Áp lực của
sự phá giá đồng tiền, giá điện và giá xăng dầu tăng và nhu cầu nội địa mạnh
mẽ là những nhân tố góp phần làm cho lạm phát vẫn ở mức cao Trong khi mức lạm phát dự báo cho Việt Nam ở cuối năm nay vào khoảng 18,7%, tức là gần tương đương với mức dự báo của Chính phủ Việt Nam, thì con số này cho năm tới ở vào khoảng 11,3% Đáng chú
ý là lạm phát ở Việt Nam chỉ giảm mạnh
từ mức 17% cho quý 1 năm sau xuống mức 10,9% cho quý 2, 8,9% cho quý 3
và cuối cùng là mức 7,9% cho quý 4
Trang 25Do khó khăn tại châu Âu và Mỹ
vẫn còn đó nên ảnh hưởng tiêu cực tới
các hoạt động thương mại của Việt Nam
là khó tránh khỏi vì đây là những đối tác
thương mại quan trọng của Việt Nam
Tuy nhiên, xuất khẩu của Việt Nam sang
các thị trường khác, đặc biệt là Nhật
Bản và Trung Quốc, vẫn tiếp tục tăng
nên tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam
trong năm tới được dự báo vẫn tốt hơn
khu vực Do vậy, theo Standard
Char-tered Bank, thâm hụt thương mại trong
năm tới của Việt Nam sẽ vẫn tương tự
như năm 2011, khoảng 10 tỷ đô la Mỹ
Tuy nhiên, báo cáo cảnh báo nếu giá
thép và dầu tăng sẽ ảnh hưởng không
tốt tới thâm hụt thương mại của Việt
Nam Không giống như lạm phát, do
trong vòng 2-3 năm trở lại đây thâm hụt
thương mại của Việt Nam khá ổn định
nên đây chưa phải là mối quan tâm hàng
đầu trong năm 2012
Một điểm đáng chú ý là, trong khi
dự báo tỷ giá VND/USD sẽ đứng ở mức
21.000 đồng/USD vào cuối năm nay thì
báo cáo cho là sẽ vào khoảng 21.400
đồng/USD vào quý 1 năm sau và tăng
lên 22.000 đồng/USD vào quý 3 năm
sau Vị thế của đồng đô la Mỹ được củng
cố trên toàn cầu và nhu cầu cần phải
giữ được một mức thâm hụt thương mại
tương đối ổn định của Việt Nam chính là
cơ sở cho những dự báo này
Về tăng trưởng kinh tế, nếu nhìn
lại những năm trước, tăng trưởng kinh
tế của Việt Nam luôn ở mức 7-7,5%
Tuy nhiên đi kèm với nó là tỉ lệ lạm phát
khá cao Với bối cảnh kinh tế bên ngoài
cũng như cấu trúc bên trong của kinh
tế Việt Nam hiện tại, báo cáo cho rằng
mục tiêu tăng trưởng khoảng 6% trong
năm 2012 là phù hợp Mức tăng trưởng
này sẽ giúp nền kinh tế tiếp tục được cải thiện, đồng thời không gây ra lạm phát tăng vọt
Với mức tăng trưởng GDP nói trên
và để đảm bảo kéo lạm phát về quanh mức 10% vào thời điểm cuối năm sau, báo cáo cho rằng Việt Nam chỉ nên đặt mức tăng trưởng tín dụng ở mức 15-17% cho năm tới Để tránh gây ra những
cú sốc cho nền kinh tế và để đảm bảo gửi đúng thông điệp tới thị trường, báo cáo cho rằng lãi suất ngân hàng phải được giảm xuống một cách từ từ, nhưng thường xuyên Với việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
- một vấn đề thời sự hiện nay tại Việt Nam - cần phải đặc biệt quan tâm tới vấn đề nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng, cải thiện năng lực điều hành và khả năng trị rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng
2 Bất ổn vẫn lớn
Các chuyên gia cho rằng kinh tế Việt Nam trong năm 2012 vẫn còn nhiều khó khăn Năm 2012, kinh tế thế giới rất bất ổn, chưa có tín hiệu phục hồi Ở Việt Nam, lực lượng chủ chốt để thúc đẩy tăng trưởng là các doanh nghiệp lại đang gặp khó khăn lớn
Năm 2011 hơn 50.000 doanh nghiệp đóng cửa, ngừng sản xuất Số doanh nghiệp khó khăn phải giảm sản xuất còn lớn hơn nhiều Hệ thống ngân hàng đang đối mặt với thanh khoản căng thẳng và nợ xấu tăng cao Nhiều mặt hàng thiết yếu như than, điện sẽ được điều chỉnh giá, tác động đến các mặt hàng khác khiến cho tình hình chung vẫn khó khăn
Thực tế hiện nay, trong con mắt của nhà đầu tư nước ngoài, kinh tế Việt
Trang 26DỰ BÁO XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DVVT VIỆT NAM NĂM 2012
Nam dường như đang xấu đi Vì thế một
số quỹ của Việt Nam không huy động
được vốn từ nước ngoài Điều này dẫn
đến giảm đầu tư, giảm thương mại, vốn
đầu tư nước ngoài giảm nhiều
Tuy nhiên năm 2011, lạm phát của
Việt Nam đạt đỉnh cao là 23,4% và giảm
dần còn khoảng 18,5% vào cuối năm
Lần đầu tiên cán cân thanh toán quốc tế
có thặng dư, dự trữ ngoại hối tăng nhẹ,
kiều hối tăng, và thâm hụt ngân sách
có giảm Đó là một bức tranh có “điểm
sáng” nhưng kết quả đạt được còn hết
sức “mong manh”
Về chính sách kinh tế năm 2012,
các chuyên gia cho rằng “nghệ thuật”
điều hành chính sách vĩ mô phải hết sức
khôn ngoan, chính sách tiền tệ cố gắng
linh hoạt, uyển chuyển nhất có thể được
để hỗ trợ doanh nghiệp Chẳng hạn tỷ lệ
tín dụng cần phải tăng lên mức 15-17%
(tăng 2 điểm phần trăm so với mức tín
dụng năm 2011 là 13%) Các ngân hàng
cho DN vừa và nhỏ vay vốn với lãi suất
hợp lý
Lĩnh vực nông nghiệp nông thôn,
chế biến hỗ trợ xuất khẩu sẽ được
ngân hàng trung ương khuyến khích và
tiếp vốn Về bất động sản cho phép một
số công ty có năng lực được chuyển đầu
tư bất động sản ra bên ngoài Cho phép
các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận
vốn trái phiếu, vốn ODA tốt hơn
Bên cạnh đó năm 2012 cần tiến
hành tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
một cách quyết liệt Năm 2012 vẫn tiếp
tục có những hiện tượng sáp nhập, mua
bán cổ phần diễn ra giữa các ngân
hàng Điều này góp phần giúp nền kinh
tế ổn định trở lại và tái cấu trúc thuận lợi
những đề án khác
Những tác động phụ của việc thắt chặt chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa tiếp tục có những ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế, các doanh nghiệp và thị trường bất động sản, chứng khoán vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong quý
I và II năm 2012 Đáy của khó khăn sẽ rơi vào đầu quý II/2012, sau đó với mức
độ giảm dần nhờ hiệu ứng của việc điều chỉnh chính sách vĩ mô được triển khai
từ cuối quý I/2011, dự báo nền kinh tế
sẽ có dấu hiệu khả quan hơn từ quý III/2012
Kinh tế thế giới năm 2011 có nhiều
“mây đen và bão táp”, nhưng năm 2012
dự báo sẽ còn dữ dội hơn khi các cơ quan có tín nhiệm nhất trên thế giới đều liên tục hạ mức dự báo tăng trưởng kinh
tế Kinh tế Việt Nam do đó cũng chịu những hệ lụy nhất định
Mặc dù vậy, vẫn có cơ hội cho Việt Nam trong khó khăn Những mặt hàng nhu yếu phẩm của Việt Nam vẫn có khả năng gia tăng xuất khẩu Đồng thời, Việt Nam cần nghiên cứu sâu hơn về những khó khăn của nền kinh tế thế giới để có thể tránh được các ảnh hưởng tiêu cực, tận dụng được các lợi thế cho sự phát triển, đồng thời đẩy mạnh công cuộc đổi mới thể chế và công nghệ để tạo đà phát triển bền vững
Việt Nam cũng có cơ hội thu hút đầu tư nhiều hơn khi các dòng vốn rút khỏi những nền kinh tế rối loạn, tìm nơi đầu tư ổn định Nếu tình hình kinh tế vĩ
mô sớm được ổn định, Việt Nam sẽ có sức hút đầu tư nước ngoài rất lớn
Trang 27iii, dỰ BÁo tốc độ PhÁt
triển thỊ trưỜng viễn
thông việt nam 2012
1 Phương pháp luận
Phương pháp luận chung cho việc
dự báo thị trường dịch vụ viễn thông
2012 là quan sát và phân tích dựa trên
chuỗi dữ liệu đầu vào là số lượng thuê
bao của từng loại hình dịch vụ trong giai
đoạn 2003-2011
Trong khi với chuỗi dữ liệu về số
lượng thuê bao di động và ADSL của
giai đoạn 2005-2010, không khó để
nhận thấy số lượng thuê bao đang phát
triển tuyến tính theo hàm mũ Có thể nói
sự phát triển có phần chững lại của thị
trường di động trong năm 2010 và đặc
biệt là sự “bốc hơi” gần 40 triệu thuê bao
di động trong năm 2011 đã làm cho việc
phân tích dữ liệu giai đoạn 2005-2011 để
xây dựng một mô hình dự báo cho năm
2011 trở nên khó khăn hơn rất nhiều Mọi mô hình toán học trở nên không phù hợp và buộc nhóm nghiên cứu phải hướng tới phân tích định tính thị trường
để có được dự báo chính xác nhất Đối với thị trường băng rộng cố định, mô hình tuyến cũng cũng tỏ ra không sát với chuỗi dữ liệu khi mà năm
2010 toàn thị trường cũng chỉ tăng 0,8 triệu thuê bao mới so với năm 2009 trong khi năm 2009 lại tăng tới 0,9 triệu thuê bao so với năm 2008 Sau khi áp thử các mô hình: tuyến tính (linear); hàm mũ (Expolential) và hàm đa thức (Polinomial), nhóm nghiên cứu nhận thấy có hai mô hình sát với chuỗi dữ liệu
đã có là mô hình hàm mũ bậc 4 và bậc 5 Tuy nhiên trên cơ sở kết hợp phân tích định lượng, nhóm nghiên cứu cũng sẽ
Trang 28DỰ BÁO XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DVVT VIỆT NAM NĂM 2012
loại trừ đi một mô hình để từ đó đưa ra
khuyến nghị một mô hình duy nhất cho
các nhà khai thác mạng tại Việt Nam
Trong suốt giai đoạn 2004-2009 số
lượng thuê bao phát triển tăng khá đều
đặn Tuy nhiên năm 2010 và 2011 lĩnh
vực này lại có mức sụt giảm khá mạnh
khiến cho các mô hình dự báo trở nên
không phù hợp Mặc dù nhóm nghiên
cứu đã cố gắng để tìm ra một mô hình
khớp với chuỗi dữ liệu giai đoạn
2004-2011 để đưa dự báo chính xác nhất cho
năm 2012 song không thể tìm ra một mô
hình thực sự phù hợp Mô hình đưa ra
là mô hình mà nhóm nghiên cứu thấy là
thích hợp nhất với xu hướng thị trường,
mặc dù mô hình vẫn còn 3 điểm dữ liệu
đầu vào không khớp với mô hình dự
báo
2 một số kết quả dự báo cho thị trường
di động
Có lẽ chưa bao giờ bài toán dự
báo cho lĩnh vực di động lại khó như
hiện nay Việc thay đổi cách tính thuê
bao di động sống của Bộ TT&TT đã làm
cho thị trường mất đi gần 40 triệu thuê bao trong năm 2011 Điều này khiến cho chuỗi dữ liệu đầu vào phục vụ công tác
dự báo cho năm 2012 trở nên không theo một quy luật nào
Đường “trendline” trở nên khó vẽ hơn bao giờ hết Nếu như ép để dữ liệu đầu vào khớp với mô hình hàm bậc 5 –
mô hình nhóm nghiên cứu sử dụng để
dự báo cho năm 2011 thì kết quả của năm 2012 sẽ trở nên phi thực tế bởi số lượng thuê bao di động dự báo cho năm
2012 sẽ là âm 100 triệu Một điều không thể xảy ra
Trong khi đó với các hàm dự báo khác, kết quả dự báo cho năm 2012 có
vẻ thực tế hơn thì dữ liệu đầu vào lại
có rất nhiều điểm không thật khớp Điều này khiến cho các mô hình toán học phục vụ công tác dự báo trở nên không đúng
Có thể nói việc thay đổi giảm tới
40 triệu thuê bao đã làm cho các mô hình toán học phục vụ dự báo bị vô hiệu
Hình 2.1: Mô hình hàm bậc 5 khá khớp với dữ liệu đầu vào các năm 2004-2011 song lại cho kết quả dự báo
năm 2012 phi thực tế.
Trang 29hóa Bản thân sự sụt giảm 40 triệu này
cũng không phản ánh thực chất phát
triển của thị trường Do đó nếu sử dụng
số liệu thuê bao năm 2011 và năm 2010
như thống kê thì sẽ làm công tác dự báo
trở nên không chính xác
Để giải quyết vấn đề này, nhóm
nghiên cứu cho rằng cần “dung hòa” sự
sai lệch 40 triệu thuê bao do Bộ TT&TT thay đổi cách tính Giải pháp là đưa dữ liệu đầu vào của năm 2010 giảm đi 20 triệu và tăng số lượng thuê bao năm
2011 lên 20 triệu Khi đó sự sụt giảm
40 triệu thuê bao trong năm 2011 do sự thay đổi cách tính số lượng thuê bao sẽ được giải quyết Với hướng giải quyết như vậy, dữ liệu đầu vào khớp với mô
Hình 2.2: Với các hàm dự báo khác, số liệu dự báo 2012 có vẻ sát thực tế hơn, song dữ liệu đầu vào của rất nhiều năm
lại không khớp.
Hình 2.3: Với việc tăng số liệu đầu vào của năm 2011 lên 20 triệu và tăng số liệu đầu vào năm 2011 lên 20 triệu để giải quyết việc sụt giảm 40 triệu thuê bao trong năm 2011, dự báo năm 2012 Việt Nam sẽ có 120 triệu thuê bao di động.
Trang 30DỰ BÁO XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG DVVT VIỆT NAM NĂM 2012
hình hàm bậc 4 và kết quả dự báo cho
năm 2012 trở nên khá thuyết phục Theo
đó dự báo năm 2012 Việt Nam sẽ có
120 triệu thuê bao di động, tăng 2.4 triệu
thuê bao so với năm 2011
Tính hết năm 2011 Việt Nam với
dân số chưa đến 90 triệu đã có 117
triệu thuê bao di động Thị trường đã
chính thức đạt mức bão hòa với nhiều
dấu hiệu rõ rệt như sự phát triển chững
lại đến mức gần như không tăng về số
lượng thuê bao trong các cuối năm Bộ
TT&TT và các doanh nghiệp cũng đang
siết chặt hơn việc quản lý thuê bao trả
trước, các doanh nghiệp đã không còn
khuyến mại theo kiểu dùng sim rẻ hơn
dùng thẻ, do đó thị trường năm 2012
sẽ phát triển thực chất hơn Các số liệu
thống kê sẽ sát với thực tế và chắc chắn
sẽ không có sự tăng hay giảm đột biến
về số lượng thuê bao
Dự báo năm 2012 các nhà mạng
sẽ chỉ phát triển thêm được khoảng 2,4
triệu thuê bao di động, đưa tổng số thuê
bao di động trên toàn quốc lên con số
sự sụt giảm đột ngột
Tuy nhiên mặc dù số liệu dự báo năm 2012 của hai mô hình bậc 4 và bậc
5 là giống nhau, song đường xu hướng
“trendline” của hai mô hình này có sự khác biệt Trong khi hàm bậc 4 đường
Hình 2.4: Dự báo năm 2012 thị trường ADSL sẽ đạt 4,4 triệu thuê bao di động và năm 2013 sẽ tiếp tục tăng.