Tìm hiểu nội dung Đường thi trong SGK phổ thông ở Việt Nam
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài:
“Lịch sử văn học Việt Nam phát triển trong những điều kiện hoàn cảnhđặc thù dân tộc đồng thời luôn có quan hệ mật thiết với các nền văn hoá, vănhọc ngoài biên giới của đất nước Đó là mối quan hệ có tính vĩ mô trên dòngthời gian lịch sử từ cổ chí kim và không gian từ khu vực đến toàn thế giới”
(Nghiên cứu văn học cổ trung đại Việt Nam trong mối quan hệ khu vực, Đặng
Thanh Lê, tạp chí văn học số 1 năm 1992 , trang 1) Nằm trong văn hoá vùngchịu sự ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa, văn chương nước ta từ khi ra đờivăn học viết đã thể hiện sự hấp thụ sáng tạo những tinh hoa của đất nước thi canày “Giai đoạn từ thế kỉ X trở về trước là giai đoạn thịnh đạt của văn chươngbác học theo thể chế, khuôn thước thơ Đường, Tống gồm thơ, phú và rất ít cổ
văn” (Mối quan hệ về thể loại giữa văn học Trung Quốc và văn học Việt Nam
thời trung đại: Tiếp nhận - Cách tân - Sáng tạo, Bùi Duy Tân, Tạp chí văn học,
số 1 năm 1992, trang11 )
Kể cả sau này, khi nền văn học Việt Nam bước sang giai đoạn hiện đạihoá, chúng ta vẫn lưu giữ những nét tinh hoa hấp thụ từ thi ca Trung Quốc Nóikhác đi, dấu vết ảnh hưởng của thi ca Trung Hoa trong thơ văn nước nhà vẫnkhông mất hẳn Nó đã chuyển thành một mạch ngầm văn hoá nuôi dưỡng hồndân tộc ta
Việc nghiên cứu để khẳng định vai trò, ý nghĩa của những tác động tíchcực từ thơ văn Trung Quốc đã được chú ý từ thời giai đoạn văn học viết dân tộchình thành không được bao lâu Trong lĩnh vực nghiên cứu nói chung, lí luậnphê bình nói riêng, vấn đề tiếp nhận văn học nói chung và văn học nước ngoàinói riêng được thể hiện trên các bình diện: Tổng thuật, dịch thuật, giảng dạytrong nhà trường phổ thông Trước đến nay, chúng ta chỉ mới quan tâm đến việcxem xét những yếu tố cho thấy sự ảnh hưởng của văn tàu đối với văn ta, còncông việc xem xét vấn đề giảng dạy Thơ văn Trung Quốc được tiến hành nhưthế nào lại chưa chiếm một sự quan tâm xứng đáng Đây có thể nói là một sựthiếu sót cần phải được bổ khuyết để việc nghiên cứu lịch sử tiếp nhận vănchương nước ngoài ở nước ta có một cái nhìn toàn vẹn
Trang 2Trong khuôn khổ một khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi chỉ có thể đi vàomột mảng nhỏ trong công việc giảng dạy, qua đó phần nào thấy được đời sốngcủa văn chương Trung Quốc trong chương trình dạy học của nhà trường Việt
Nam Đó là : Tìm hiểu nội dung Đường thi trong SGK phổ thông ở Việt
Nam Công việc này không thể tiến hành tách biệt và cô lập với sự xem xét mục
tiêu, chính sách và chương trình giáo dục phổ thông của nền giáo dục nước nhà
Thực tế lịch sử đất nước Trung Hoa nói riêng, lịch sử nhân loại nói chung
đã minh chứng cho sức sống của Đường thi - một tinh hoa của văn học nhânloại, vì thế việc giảng dạy nhằm mục đích giúp HS hiểu và trân trọng một giá trịvăn hoá tinh thần đẹp Từ đó giáo dục các em biết suy nghĩ, diễn đạt ý vị, tinh
tế, kiệm lời
Tuy nhiên, đây là một nội dung khó vì gặp trở ngại của ngôn ngữ ChữHán là thứ ngôn ngữ tượng hình, thể hiện tư duy cổ của người Trung Hoa, xa lạđối với HS
Việc giảng dạy nội dung này hiện nay vẫn chưa đạt hiệu quả như mongmuốn của người biên soạn, như tâm nguyện của người thầy
Một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho việc giảng dạy Đườngthi có thể xét đến là: chưa một công trình nghiên cứu nào đánh giá một cáchtổng thể để thấy vai trò của Đường thi trong chương trình NGữ văn và ý nghĩacủa việc giới thiệu những tác giả, tác phẩm đưa vào chương trình SGK Trongquá trình làm việc, chúng tôi lác đác bắt gặp những bài tiểu luận, những ý kiến
đả động tới công việc giảng dạy Đường thi trong nhà trường phổ thông nước ta
Ví dụ: Giảng văn học Châu átrong trường phổ thông ( T.S Nguyễn Thị Bích Hải ), Văn học Trung Quốc với nhà trường - tập tiểu luận ( PGS.TS Hồ Sĩ
Hiệp ) trong đó có một bài duy nhất trực tiếp bàn tới vấn đề thơ Đường trong
Trang 3chương trình phổ thông là: Cái vỏ hình thức thơ Đường trong sách giáo khoa
văn học (Trang 248), Bình giảng thơ Đường (T.S Nguyễn Thị Bích Hải), trong
đó có phần Vị trí của thơ Đường và việc dạy học thơ Đường ở trường phổ
thông…
Các bài viết đã có công đề cập tới một lĩnh vực quan trọng trong giảngdạy cho HSPT, nhiều bài viết đã có những nhận xét xác đáng về mặt ưu điểm vàhạn chế của công tác giảng dạy Đường thi.Tuy nhiên các bài viết đó chủ yếuxem xét vấn đề theo quan điểm của Lí luận phương pháp dạy học bộ môn Ngữvăn Chưa có một tác phẩm nào tìm hiểu lịch sử việc đưa nội dung văn học đặcsắc này vào sách giáo khoa để qua đó thấy được côi nguồn sâu xa chi phối côngtác biên soạn sách, một cơ sở để tiến hành đổi mới phương pháp dạy học Mộttrong các nhân tố hàng đầu quy đinh chính là các quan điểm mới về lí luận vănhọc N S Sécnưsepski đã nhận định một cách đúng đắn là: Không có lịch sửcủa đối tượng thì cũng sẽ không có lí luận về nó Do đó kì vọng của chúng tôi làđưa ra một cái nhìn có tính lịch sử đối với Số phận Đường thi trong đời sống của
nó ở Việt Nam, được giói hạn lại trong khuôn khổ giáo dục phổ thông
Tính cấp thiết của vấn đề:
Một trong những biểu hiện cho việc cải cách giáo dục chính là nỗ lực đổimới chương trình học, đổi mới phương pháp dạy học Cải tiến SGK nhằm giảiquyết một vấn đề trung tâm của cải cách giáo dục Môn Ngữ văn không nằmngoại lệ Việc tìm hiểu nội dung biên soạn và những biến đổi của nội dung nàyqua một quãng thời gian dài là công việc cần thiết giúp người nghiên cứu thấy
sự biến đổi của phương pháp dạy học tương ứng
Dạy học Ngữ văn trong nhà trường cũng là một trong những hình thứctiếp nhận văn học, hơn thế còn là con đường tiếp nhận chính thống, có địnhhướng và chịu ảnh hưởng của tưởng chính trị Và nghiên cứu Đường thi trongtoàn bộ chương trình SGK phổ thông là một trong những công việc có ý nghĩa tolớn cần tiến hành ngay trong thời điểm hiện nay góp phần giúp giáo viên vữngvàng kiến thức chuyên môn, làm tiền đề cho việc phát huy hiệu quả phươngpháp dạy học mới
Dựa trên cơ sở tiếp thu những lí thuyết được giới thiệu gần đây ở ViệtNam, quan trọng nhất là lí thuyết về thi pháp học hiện đại, trong đó mới nhất là
Trang 4lí luận về mỹ học tiếp nhận, chúng tôi hy vọng tái hiện và mô tả được phần nàodiện mạo quá trình tiếp nhận Đường thi ở Việt Nam, cụ thể trong phạm vichương trình giáo dục phổ thông Từ đó cung cấp thêm ít nhiều tư liệu giúp choviệc lí giải đời sống văn học dân tộc.
Bản thân là một Sinh viên sư phạm ngành Ngữ văn, thấy được ý nghĩa củaviệc nghiên cứu chương trình SGK bộ môn có ảnh hưởng lớn đến vấn đề tìmphương pháp dạy học hiệu quả Đối với nội dung Đường thi, để một giờ dạyhiệu quả đòi hỏi nỗ lực lớn của giáo viên để tìm hiểu về bài học và những vấn đềvăn hoá, văn học cổ Trung Quốc và nhất là nội dung Đường thi
2 Mục đích nghiên cứu:
Thông qua việc Tìm hiểu Đường thi trong SGK phổ thông ở Việt Namqua những giai đoạn những năm 1990 đến nay, chúng tôi muốn đưa ra nhữngđánh giá và tổng kết về sự lựa chọn cũng như sự thay đổi của nội dung Đườngthi trong bối cảnh đổi mới chương trình và SGK hiện thời
Giảng dạy Ngữ văn là công việc tiếp nhận văn học và định hướng tiếpnhận văn học cho HSPT Chương trình SGK sẽ là căn cứ rõ nhất để nghiên cứutìm hiểu vấn đề tiếp nhận văn học theo hướng chính thống trong nhà trườngđược triển khai như thế nào Sự biến đổi của nội dung chương trình phản ánhmức độ thích ứng giữa thực tế giảng đạy với lí luận mới về tiếp nhận văn học
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
PTTH phần văn học cổ Trung Quốc: Thơ Đường
- Đối tượng nghiên cứu: Tác phẩm Đường thi trong SGK Ngữ văn vànội dung Hướng dẫn tìm hiểu tác phẩm
4 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Nhiệm vụ:
- Mô tả nội dung Đường thi đưa vào giảng dạy ở PT từ những năm 1980
- Mô tả và phân tích nội dung phần Hướng dẫn học bài trong SGK quatừng năm
Trang 5- Lý giải sự thay đổi của nội dung chương trình theo các phương diện:Văn hoá xã hội, ý thức chính trị, sự thay đổi của lí luận tiếp nhận văn học…
4.2 Phạm vi tư liệu nghiên cứu:
Mục đích ban đầu của chúng tôi là có một cái nhìn toàn diện và hệ thôngsvề nội dung Đường thi từ những năm đầu tiên được đưa vào giảng dạy ởchương trình môn văn trong nhà trường phổ thông Tuy nhiên do nhiều hạn chế
về vấn đề tư liệu, phạm vi khảo sát của chúng tôi sẽ là SGK: khoảng thời gian
từ 1989 đến nay Chúng tôi chia Phạm vi này thành 3 hệ:
5.2 Với những kết quả thu được, đề tài không chỉ cho chúng ta một cáinhìn hệ thống về câu chuyện Đường thi được giảng dạy ở Việt Nam như thếnào Hơn thế, đây sẽ là một gợi ý để những công trình sau này của giới nghiêncứu có thể vận dụng làm sáng rõ vấn đề tiếp nhận Đường thi nói riêng và Vănhọc nước ngoài nói chung trong nhà trường phổ thông Việt Nam
6 Phương pháp nghiên cứu:
- Mô tả
- Phân tích
- Lí giải
Trang 67 Cấu trúc đề tài:
Ngoài Phần mở đầu và phần kết luận, nội dung có 2 chương
Chương I: Quá trình Đường thi được đưa vào giảng dạy trong chương trình
Ngữ văn PT ở Việt Nam
Chương II: Hướng dẫn Giảng dạy Đường thi trong SGK Ngữ văn phổ thông
ở Việt Nam
Trang 7PHẦN NỘI DUNG Chương một QUÁ TRÌNH ĐƯỜNG THI ĐƯỢC ĐƯA VÀO GIẢNG DẠY TRONG
TRƯỜNG PHỔ THÔNG Ở VIỆT NAM
1.1 Ngữ văn và văn học nước ngoài trong chương trình phổ thông
Trong chương trình giáo dục phổ thông, Ngữ văn là một môn học có vị tríđặc biệt, có nhiệm vụ trang bị cho học sinh những kiến thức về tiếng Việt và vănhọc, hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt và năng lựctiếp nhận tác phẩm văn học Qua đây, các em còn được trang bị những hiểu biết
về văn hoá, xã hội, lịch sử, đời sống tinh thần và tình cảm của mỗi conngười.Thông qua việc tiếp cận với tiếng Việt văn hoá và các tác phẩm văn học,môn học có khả năng làm giàu xúc cảm thẩm mĩ, định hướng thị hiếu lành mạnh
và phát triển cá tính cho học sinh Nhưng trước hết, khi học xong chương trìnhNgữ văn phổ thông, các em đã có được cái nhìn mới mẻ và ngợi ca nền văn họctrong nước và có những hiểu biết nhất định về văn học trên thế giới
Những tác phẩm văn học nước ngoài đưa vào chương trình được lựa chọn
kĩ lưỡng do đó đều là những đỉnh cao của văn học các nước Các tác phẩm đókhông chỉ đáp ứng tiêu chuẩn về mặt tư tưởng và phẩm chất nghệ thuật mà còn
có khả năng minh hoạ cho quá trình phát triển của lịch sử văn học thế giới quacác thời đại Mặc dù chúng dường như tòn tại độc lập với nhau, trải rộng theophạm vi không gian và kéo dài theo thời gian nhưng trong SGK đã được sắp xếptheo trật tự nhất định: Trật tự thời gian và do đó phần nào tương ứng với cáchiện tượng của văn học Việt Nam được xếp theo tiến trình lịch sử
Văn học cổ Trung Quốc là phần nội dung trọng yếu được giới thiệu trongchương trình bao quát ở các thể loại: Thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết Việc dạy vàhọc văn học Trung Quốc trong trường phổ thông sẽ giúp học sinh hiểu thêm vềđặc trưng văn học nước mình
1.2 Văn học Trung Quốc và mối quan hệ với Văn học Việt Nam
“Sự hân thưởng văn chương nước ngoài có 2 điều kiện : một là sự quenbiết giữa hai dân tộc, hai là sự tương tự về ngôn ngữ của hai quốc gia” (Nguyễn
Trang 8Tuyết Hạnh - Vấn đề dịch thơ Đường ở Việt Nam) Việt Nam hội tụ đủ 2 điều
kiện đó nên sự ảnh hưởng, giao lưu và tiếp nhận với văn học Trung Hoa rất hợpquy luật
“Giao lưu và tiếp nhận ảnh hưởng cấp vùng là một thực tế hiển nhiên củavăn hoá và văn học Việt Nam thời trung đại, hiển nhiên đến nỗi sự mô tả nềnvăn hoá trung đại mà không chú ý đến thực tế đó sẽ dẫn đến cự hiểu biết một
cách hời hợt nông cạn nền văn học dân tộc” (Trần Nho Thìn: Văn học Trung đại
Việt Nam dưới góc nhìn văn hoá, Tr 19) Tính từ thời điểm nền văn học viết ra
đời, sự ảnh hưởng đó thể hiện trong việc chữ Hán được xem là chữ viết của nhànước Suốt 10 thế kỉ phong kiến, bộ phận văn học chữ Hán là bộ phận không thểtách rời với nền Quốc văn.Văn học Việt Nam đã kế thừa các các thể loại truyềnthông của văn học Trung Quốc: Phú, Hịch, Cáo, Chiếu, Biểu, Tiểu thuyếtchương hồi…và ảnh hưởng sâu sắc nhất là thơ ca
Thơ Việt Nam bất kể là thơ chữ Hán hay chữ Nôm đều sáng tác theonhững thể: thơ cổ phong, thơ Đường luật, ngũ ngôn, thất ngôn Về phương diện
đề tài, thi nhân ta vẫn chủ yếu khai thác các long mạch: tình yêu thiên nhiên,tình cảm bạn bè, tình yêu con ngưòi, tình yêu đất nước Các nhà thơ cổ điển của
ta cũng chịu ảnh hưởng các quan niệm vũ trụ nhân sinh từ Phật giáo, Lão giáo
Trong khi kế thừa và tiếp thu tinh hoa của văn học Trung Quốc, Việt Nam
có cách ứng xử riêng nên văn thơ nước nhà vẫn thấm nhuần tinh thần dân tộc.Khi nền văn học nước nhà bước vào thời kì hiện đại hoá dưới ảnh hưởng của sự
du nhập văn hoá phương Tây, ảnh hưởng của thơ văn Trung Quốc, đặc biệt làthơ ca vẫn không hề giảm sút Nhứng yếu tố ảnh hưởng đó đã tạo nên nguồnmạch ẩn ngầm làm nên sức mạnh nội tại cho thi ca Việt Nam
1.3 Đường thi được đưa vào nội dung giảng dạy ở Ngữ văn Phổ thông
1.3.1 Vị trí của Đường thi trong nền thơ ca Trung Quốc nói riêng và thơ
ca nhân loại nói chung
Người ta thường nói: “Thịnh Đường, Long Tống” để chỉ hai đỉnh cao củathơ ca cổ điển Trung Quốc Thơ Đường là một bước phát triển cao về mặt hìnhthức thơ ca với nhiều trường phái và phong cách khác nhau: Lí Bạch sở trường ở
Trang 9thể cổ phong, Đỗ Phủ thành công với Luật thi, Bạch Cư Dị lại kết hợp được cảhai thể loại… Với 2300 thi sĩ và gần 5 vạn bài thơ, Thơ Đường là đỉnh cao nghệthuật thơ ca, đỉnh cao của sự phát triến hình thức thơ ca Trung Quốc trên cơ sở
kế thừa thể thơ truyền thống và các hình thức thơ ca của các thời đại trước (nhất
là Kinh thi, Sở từ và Nhạc phủ) Có thể nói, chính thành tựu 15 thế kỉ thơ ca đãchuẩn bị cho sự hưng thịnh của thơ đời Đường
Thơ Đường không chỉ trở thành mực thước cho lớp thi nhân đời sau củaTrung Quốc học tập mà tinh hoa ấy còn lan toả khắp các quốc gia lân cận Đó lànhững đất nước nằm trong vùng ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa (đặc biệt là NhậtBản, Triều Tiên và Việt Nam) Từ xưa đến nay, chưa có nền thơ ngoại quốc nàolại có ảnh hưởng sâu rộng và được ngợi ca, nghiên cứu nhiều như Thơ Đường.Càng nghiên cứu càng phát hiện nhiều vẻ đẹp trong tâm hồn, trong tư duy TrungHoa- đại diện tiêu biểu cho tư duy phương Đông, và rõ nhất là nhân sinh quancủa con người Á Đông Có thể khẳng định: Thơ Đường chính là tinh hoa vănhoá của toàn nhân loại
G.S Lương Duy Thứ trong cuốn Thi Pháp Thơ Đường đã khẳng định:
Văn hoá đời Đường là đỉnh cao văn hoá nhân loại ở thế kỉ VII - X (WillDurrant) và thơ Đường là đỉnh cao văn hoá đời Đường (bên cạnh hội hoạ, kiếntrúc, điêu khắc…)
1.3.2 Vị trí của Đường thi trong chương trình Ngữ văn PT ở Việt Nam
Bên cạnh tiểu thuyết chương hồi (Tam quốc diễn nghĩa), truyện ngắn hiện đại (Thuốc, Cố hương của Lỗ Tấn) Đường thi là một trong những nội dung của
Văn học Trung Quốc được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông Việt Nam Do
đó, triển khai đề tài không thể không điểm qua vấn đề giảng dạy Văn học TrungQuốc nói chung
Cách đây gần 60 năm, Dương Quảng Hàm là người đầu tiên đưa môn vănhọc Trung Quốc vào chương trình nhà trường Phổ thông trung học Ông là tácgiả của cuốn sách giáo khoa văn học dùng trong nhà trường trước cách mạng
tháng Tám Ngay chương mở đầu cuốn Việt Nam văn học sử yếu ông viết: “
Riêng về đường văn học, dân ta học chữ Nho, theo đạo Nho, thâu thập dần tưtưởng và học thuật của người Tàu Bởi thế ta phải xét đến cái ảnh hưởng ấy là
Trang 10những nguyên do khiến cho văn học Tàu truyền sang nước ta” Trong cuốn sáchgiáo khoa dạy ở bậc phổ thông trung học nhà trường Việt Nam dưới thời thựcdân Pháp, Tác giả đã dành hẳn 6 chương để dạy văn học Trung Quốc từ dângian, cổ điển đến hiện đại Đó là nhận thức và chủ trương sáng suốt Trongchương trình năm thứ 2 (lớp nhất trong các trường Trung học Pháp ) với 5 thiên,
20 chương thì Dương Quảng Hàm dành 3 chương cho Văn học Trung Quốc.Trong thiên thứ 1 nhan đề “ Các văn sĩ và thi sĩ Tàu có ảnh hưởng lớn nhất đếnvăn chương Việt Nam: Khuất Nguyên, Đào Tiềm, Lí Bạch”, Dương Quảng Hàm
đã giới thiệu tiểu sử và phần trích giảng tác phẩm của nhà thơ lớn đời Đường:
Lí Bạch với tác phẩm Tương tiến tửu (Vô danh dịch) Sang chương 3, tác giả
giới thiệu thêm nhà văn Hàn Dũ cũng đời Đường Nhìn tổng thể, Dương QuảngHàm đã giới thiệu 7 tác giả thuộc văn học cổ điển và hiện đại Trung Quốc.Riêng thời Đường, tác giả không chọn tức giả và tác phẩm của Đỗ Phủ, Bạch Cư
Dị Đó là một hạn chế của ông Tuy vậy, phải công nhận đóng góp lớn của tácgiả là đã cho ra đời một “cuốn lịch sử văn học Việt Nam phổ thông đầutiên được biên soạn bằng chữ quốc ngữ” (Trần Hữu Tá) Dương Quảng Hàm làngười đặt nền móng cho việc giảng dạy và học tập văn học Trung Quốc ở nước
ta nói chung và thơ Đường nói riêng
Tóm lại: Thơ Đường được du nhập vào nước ta từ rất sớm và việc tiếpnhận Đường thi dã diễn ra ngay từ buổi sơ khai của nền văn học viết của dântộc Tuy nhiên, việc nghiên cứu và giảng dạy thơ Đường trong chương trình phổthông chỉ thực sự diễn ra vào thế kỉ XX và càng về sau, khi các chính sách vềkinh tế, nggoại giao của nhà nước cởi mở hơn, ý thức về vai trò của Đường thiđối với nền thơ ca dân tộc được nhìn nhận thẳng thắn và công bằng thì việc tìmhiểu Đường thi một cách chính thống trông nhà trường mới thực sự được chútrọng
Vậy Đường thi chính thức được đưa vào chương trình Ngữ văn phổ thông
từ bao giờ?
Theo một số tài liệu chúng tôi thu thập được, giai đoạn từ 1956 đến 1979,
kể cả sau đợt chỉnh lí SGK năm 1979, SGK môn văn vốn không giới thiệu thơĐường trong chương trình phổ thông Tác giả cuốn sách cung cấp thông tin:Trong chương trình thực hiện từ năm 1956, được chỉnh lí từ năm 1979, phần văn
Trang 11học nước ngoài được giới thiệu là tác phẩm của 8 tác giả của 4 nước châu Âu(Hi Lạp, Anh, Pháp Nga) và 1 nước Châu á(Trung Quốc) Tác giả duy nhất củavăn học Trung Quốc được giới thiệu tác phẩm là Lỗ Tấn.
Từ năm 1989 đến 1990 bắt đầu tiến hành đợt cải cách chương trình THPTvới quy mô rộng, trong đó có môn văn học nói chung và bộ phận văn học nướcngoài nói riêng Trên cơ sở chương trình thống nhất, Bộ Giáo dục và Đào tạocho phép triển khai song song hai bộ SGK văn do hai tập thể các nhà khoa họccủa trường Đại học sư phạm Hà Nội và Hội nghiên cứu văn học Thành phố Hồchí Minh biên soạn Trong khuôn khổ các tác giả, tác phẩm do chương trình ấnđịnh, Bộ cho phép hai bộ sách có thể chọn những đoạn trích giảng khác nhau.Đến năm 2000, sau khi rút kinh nghiệm ưu, nhược điểm của bộ sách thí điểm,SGK môn văn ở THPT được tổ chức lại thành một bộ duy nhất (SGK chỉnh líhợp nhất) dùng trong cả nước Lúc đó, bộ phận văn học nước ngoài được giớithiệu trong cả 3 lớp là 21 tác giả của 2 nước Châu á(Trung Quốc, Ấn Độ), 5nước châu Âu (Hi Lạp, Anh, Pháp, Nga, Đức), 1 nước châu Mĩ (Hoa Kì) Nhưvậy, mảng văn học nước ngoài có quy mô phát triển đột biến Số lượng các nhàvăn tăng gấp đôi Ngoài một vài nền văn học quen thuộc từ trước, HS được tiếpxúc với những nnền văn học khác Riêng phần tác giả Trung Quốc, SGK giớithiệu 6 tác giả: Lí Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu (thế kỉ thứ VIII), Bạch Cư Dị (thế kỉthứ IX), La Quán Trung (Thế kỉ thứ XIV) và Lỗ Tấn (thế kỉ XX)
Như vậy có thể khẳng định, Đường thi chính thức được đưa vào SGK vănbậc THPT từ những năm 1989 - 1990
Khảo sát chương trình Ngữ văn bậc THCS, trong quá triình tìm kiếm tưliệu, chúng tôi bắt gặp cuốn “ Các tác phẩm căn chương cổ và văn chương nướcngoài dạy ở lớp 8 và lớp 9 cải cách giáo dục” Trong phần Lời nói đầu có đoạnviết “Trong tập tài liệu này chúng tôi chỉ lựa chọn các tác phẩm mới đưa vàoSGK văn 8 và 9 và là những tác phẩm khó, ít tài liệu tham khảo” (Trang 3).Xem nội dung cuốn sách, chúng tôi thấy có phần bài viết về các bài thơ Đường:
Kẻ lại ở Thạch Hào (Thạch Hào lại), Bài hát gió thu tốc nhà (Mao ốc vị thuphong sở phá ca), Đường đi khó (Hành lộ nan) Điều đó chứng tỏ rằng nội dungĐường thi chính thức được đưa vào SGK văn bậc THCS chỉ từ năm 1989 -
Trang 121990 Các tác giả Lí Bạch, Đỗ Phủ được giới thiệu những bài trữ tình, đơn giản
về bút pháp thì sang cấp THPT giới thiệu những bài thơ khác của hai tác giả đó,cùng với một số tên tuổi: Thôi Hiệu, Bạch Cư Dị
SGK Ngữ văn sau chỉnh lí 1995 ở cấp THCS gồm 26 bài văn học nướcngoài (có 5 tác giả Trung Quốc)
Sau năm 2000, chương trình Ngữ văn cấp THCS có giói thiệu 18 tác giảcủa 2 nước châu Á, 7 nước châu Âu, 1 nước châu Mĩ
Chương trình Ngữ văn THCS năm 2006: 25 văn bản (trích tác phẩm hoặctoàn bộ) của 9 nước, trong đó, thơ Đường chiém 5 tác giả
Chương trình chuẩn Ngữ văn THPT năm 2006: 19 bài của 7 nước Trong
đó thơ Đường chiếm 5 tác giả
1.4 Mô tả phần nội dung Đường thi được đưa vào chương trình SGK
phổ thông ở Việt Nam:
1.4.1 Đường thi trong mối tương quan với các nội dung văn học khác cùng chương trình Văn học nước ngoài.
Văn chương là chuyện của muôn người và của muôn đời Những tácphẩm có giá trị nhân văn cao đẹp không chỉ là tài sản của một dân tộc mà còn làthứ của cải tinh thần vô giá của nhân loại Bởi vì giá trị thanh lọc và bồi dưỡngtâm hồn người đọc của một áng văn đích thực không bị ràng buộc bởi vấn đềbiên giới quốc gia Việc tìm hiểu, học hỏi và cao hơn là tiếp thu tinh hoa của khotàng văn học thế giói là một công việc có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Giảng dạy văn học trong nhà trường, như đã phân tích trên, không dừnglại ở mục tiêu truyền đạt kiến thức cho HS mà còn có tác dụng định hướngnhững mô hình nhân cách cho các em Chất lượng môn học cũng góp một phầnlớn quyết địch vào chất lượng của sản phẩm giáo dục nước nhà
Học văn trước hết là học lấy những cái hay caí đẹp của tiếng nói dân tộc.Nhưng cao hơn, đó là rèn tập cho HS những phẩm chất, lối sống lành mạnh,mang đậm tính nhân văn Do đó bên cạnh nền văn học nước nhà, việc học vănchương nước ngoài cũng chiếm vai trò to lớn Cho dù khác màu da, ngôn ngữ,tiếng nói nhưng tiến nói tâm hồn, những quy luật tâm lí, tình cảm của con ngườivẫn vậy: Thay đổi và biểu hiện đều mang tính quy luật chung Qua tìm hiểu văn
Trang 13chương nước ngoài, giải quyết khâu đa dạng và phong phú hoá nội dung tri thứcvăn chương nhân loại, trên cơ sở đó, giúp các em khắc sâu các luồng chính vềnội dung tư tưởng của văn chương nhân loại Đời sống tâm hồn con người làmột ẩn số, và cũng là thử thách cho những con người làm công việc sáng tác vănbản nghệ thuật học văn không phải là học xem giảng dạy những vấn đề xã hộinhư thê nào?
Chính vì không chỉ Đường thi mà các áng văn nước ngoài khác đều cómục đích chung như vậy Trước khi xem cụ thể Đường thi trong chương trìnhphôr thông có sự quan tâm, và được phân chia lượng thời gian như thế nào,chúng ta hãy nhìn lại Nó trong tương quan với các nội dung khác, cũng ở trongSGK Thuộc chương trình chúng tôi lọc ra để chon tư liệu phục vụ cho việc triểnkhai đề tài
** Số trang viết của nội dung giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoaì(chỉ khảo sát qua các cuốn SGK văn có chứa nội dung thơ Đường):
Chương trình văn THCS:
B ng tảng tương quan về dung lượng trang viết: ương quan về dung lượng trang viết:ng quan v dung lề dung lượng trang viết: ượng trang viết:ng trang vi t:ết:
Đường Tỉ lệ
Trang 14Văn học 10, tập hai, (năm 1990) 108 16 14,8%
Nhận xét: Đường thi là một nội dung trong bộ phận văn học Trung Quốc
đưa vào giảng dạy ở phổ thông Bên cạnh văn học Trung Quốc, chương trìnhVHNN ở THCS còn giới thiệu thêm văn của các nước khác: Anh (Sêchxpia, Đi-phô), Pháp (A.Đô-đê, Mô-li-e, Mô-pa-xăng), Mĩ (Giắc Lơn-đơn, O.Hen-ri), Nga
Trang 15(I.Êrenbua, M.Gorki), Ấn Độ (Ta-go), Đan Mạch (An-đec-xen), Tây Ban Nha(Xec-van-tec)… và ở chương trình THPT thì giới thiệu thêm sử thi Hi Lạp, Ấn
Độ, Kịch phục hưng Anh (Sêchxpia), Thơ văn Pháp (Huy-gô, Ban-dăc), Nga(Sê-khôp, Puskin, Đốt-xtôi-ep-xki), Ấn Độ (Ta-go)…
Đường thi được ưu tiên như thế nào?
Có thể thấy tỉ lệ về dung lượng trang viết cũng như về tiết dạy được phâncông của Đường thi không nhiều
Như vậy, với dung lượng được phép không nhiều, chúng ta buộc lòngphải tinh tuyển vài tác phẩm có giá trị của Đường thi để giới thiệu Thành công
ở đây là đã giới thiệu những tác phẩm có giá trị tiêu biểu và là sáng tác của cáctác giả nổi tiếng của đời Đường Họ là những nét tính cách cũng như phong cáchrất đặc trưng không ai giống ai, mỗi người là một gương mặt làm nên sự đa dạngphong phú của nền thi ca chói lọi này Đó là: Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị,Thôi Hiệu Gần đây, thêm Vương Duy, Hạ Tri Chương, Mạnh Hạo Nhiên…
1.4.2 Cấu trúc trình bày nội dung một bài thơ Đường trong SGK các thời điểm:
1.4.2.1 Mô tả chi tiết:
* Năm 1989: Văn 9, tập hai:
- Bài giảng chính: 5 bài thơ (chỉ in phần dịch thơ): Kẻ lại ở Thạch Hào,
Bài hát gió thu tốc nhà, Đường đi khó, Xa ngắm thác núi Lư (Vọng Lư sơn bộc bố), Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh (Tĩnh dạ tư)
Tên tác phẩm (Bằng tiếng Việt); Bản dịch thơ; I Chú thích; II Yêu cầuđọc ; III Hướng dẫn học bài
- Bài đọc thêm: 4 bài thơ (chỉ in phần dịch thơ): Năm sắp hết, Khúc hát
hái sen, Đôi én rời nhau, Lầu Hoàng Hạc: được bố trí xen kẽ và không có phần
câu hỏi gợi ý tìm hiểu bài
Lưu ý :
+ Trình tự giới thiệu tác giả: Đỗ Phủ, Lí Bạch, Thôi Hiệu
+ Bản dịch: Không ghi rõ xuất xứ bản dịch
+ Kích cỡ chữ: in chữ thường: Riêng tác phẩm được in bằng cỡ chữ lớnhơn)
* Năm 1990:
Trang 16Bản 1: Văn học 10, tập hai (Nguyễn Lộc, Phan Nhật Chiêu, Trần Xuân
Đề, Lê Ngọc Trà, Lương Duy Trung)
- Bài khái quát: Thơ Đường: 3 trang giấy khổ 14,5 x 20,5 (Có tranh minh
hoạ: Bức tranh thuỷ mặc Trung Quốc thế kỉ XII)
1 Tình hình xã hội thời Đường
2 Nguyên nhân thơ Đường phát triển
3 Các thời kì phát triển chính và các tác giả tiêu biểu
4 Thành tựu Thơ Đường về Nghệ thuật
Và câu hỏi hướng dẫn học bài khái quát
- Giảng văn: 3 bài thơ: Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng
Lăng, Đăng cao, Tì bà hành (trích)
Tên tác phẩm (bằng chữ Hán); Tiểu dẫn (về tác giả và đặc điểm chínhtrong phong cách); Giới thiệu văn bản (Tên tác phẩm: in chữ đậm, phần dịchvăn xuôi và dịch thơ); Chú thích (in chữ nhỏ); Hướng dẫn học tập (chữ thường)
- Phần đọc thêm: 2 bài thơ: Tảo phát Bạch Đế thành, Hoàng Hạc lâu:
Trình bày thành một phần riêng (sau các bài giảng văn); Phần Hướng dẫn tìmhiểu bài (Không đặt câu hỏi mà trình bày theo lối bình giảng)
Lưu ý:
+ Trình tự giới thiệu tác giả: Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Thôi Hiệu.+ Bản dịch: (Đều in rõ xuất xứ bản dịch)
Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Ngô Tất Tố dịch
Thơ Đường, tập hai, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987); Đăng cao (Nam Trân dịch Thơ Đường, tập hai, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987); Tì bà hành (Phan Huy Thực dịch - Thơ Đường, tập một, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987); Tảo phát Bạch Đế
-thành (Tương Như dịch - Thơ Đường, tập hai, Nxb Văn học, 1987); Hoàng Hạc lâu (Tản Đà dịch - Ngày nay, số 80, 1937).
+ Kích cỡ chữ: Tên tác phẩm: in chữ đậm; Tiểu dẫn, phần văn bản in chữnghiêng; Bài khái quát và câu hỏi hướng dẫn học tập in chữ thường; Phần chúthích in chữ nhỏ
Bản 2: Văn 10: Phần văn học nước ngoài và Lí luận văn học: NguyễnĐăng Mạnh (Chủ biên), Nguyễn Hoàng Tuyên, Lưu Đức Trung, Nguyễn KhắcPhi, Lương Duy Thứ, Lê Khắc Hoà
Trang 17- Bài khái quát: Thơ Đường: 5 trang giấy in khổ 14,5 x 20,5 (không có
tranh minh hoạ và câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu)
I Nguyên nhân phát triển:
II Một số đặc điểm về nội dung và hình thức nghệ thuật thơ Đường
1 Khái quát nội dung
2 Hình thức nghệ thnật
- Bài giảng về tác phẩm: 4 bài thơ: Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên
chi Quảng Lăng, Thu hứng, Hoàng Hạc lâu, Tì bà hành: Tên bài thơ (bằng chữ
Hán); văn bản: in phiên âm, dịch nghĩa (tên tác phẩm bằng tiếng Việt) và dịchthơ (Cùng một cỡ chữ); chú giải (đôi nét về tác giả và các từ khó hiểu); Hướngdẫn học bài (in chữ nhỏ)
- Phần đọc thêm: 2 bài thơ: Tảo phát Bạch Đế thành, Nguyệt dạ: Trình
bày xen kẽ các bài học chính (in theo cụm tác giả) và có phần câu hỏi hướng dẫnhọc bài
Lưu ý:
+ Trình tự giới thiệu tác giả: Lí Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu, Bạch Cư Dị+ Bản dịch: Không ghi rõ xuất xứ bản dịch (trừ bản dịch thứ hai của bài
Tảo phát Bạch Đế thành)
Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Ngô Tất Tố
dịch); Tảo phát Bạch Đế thành (bản dịch thứ nhất: Tương Như; Bản dịch thứ hai: Theo Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 1, Nxb giáo dục, 1987); Thu hứng (Công Trứ dịch); Nguyệt dạ (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà; Bản dịch thứ hai: Khương Hữu Dụng); Hoàng Hạc lâu (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà; Bản dịch thứ hai: Khương Hữu Dụng); Tì bà hành (không in dịch giả)
+ Kích cỡ chữ: Tên tác phẩm: in chữ đậm, Văn bản in chữ thường; bài
khái quát, chú giải, câu hỏi hướng dẫn học bài in chữ nhỏ
* Năm 1993: Văn học 10, tập hai, ban KHTN và Ban KHTN - KT:
Nguyễn Khắc Phi (Văn học Trung Quốc), Nguyễn Hoàng Tuyên (Văn học cổ HiLạp và Văn học Anh), Lưu Đức Trung (Văn học Ấn Độ), Trần Đình Sử (lí luậnvăn học)
- Bài khái quát: Thơ Đường: 6 trang khổ giấy in 14,5 x 20,5 (Không chia
các đề mục, không có tranh minh hoạ, không có câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu)
Trang 18- Bài giảng về tác phẩm: 3 bài thơ: Hoàng Hạc lâu, Hoàng Hạc lâu tống
Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, Đăng cao: Tên tác giả, Giới thiệu nét chính
về tác giả, tên tác phẩm (bằng chữ Hán, có chú thích bằng tiếng Việt liền sau),văn bản (nguyên bản, dịch nghĩa, dịch thơ), chú giải, hướng dẫn học bài
- Bài đọc thêm: Tì bà hành trình bày trong phần dành riêng cho đọc thêm
văn học nước ngoài, có câu hỏi hướng dẫn đọc thêm
Lưu ý:
+ Trình tự giới thiệu tác giả: Thôi Hiệu, Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị
+ Bản dịch: Chỉ ghi dịch giả, không ghi rõ xuất xứ (Trừ Đăng cao, Tì bà
hành không ghi tên dịch giả)
Hoàng Hạc lâu (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà; Bản dịch thứ hai: Khương
Hữu Dụng); Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Ngô Tất
Tố dịch)
+ Kích cỡ chữ: Tên bài, tên tác phẩm, tác giả in đậm, cỡ chữ lớn; Bài kháiquát, văn bản, câu hỏi hướng dẫn in chữ thường; Phần giới thiệu nét chính về tácgiả và chú giải in chữ nhỏ
* Năm 1993: Văn học 10, tập hai, ban KHXH: Nguyễn Hoàng Tuyên,
Lưu Đức Trung, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử
- Bài khái quát: 10 trang khổ giấy in 14,5 x 20,5 (Không chia các đề mục,không có tranh minh hoạ, không có câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu)
- Bài giảng về tác phẩm: 5 bài thơ: Hoàng Hạc lâu, Hoàng Hạc lâu tống
Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, Thu hứng, Đăng cao, Tì bà hành: Tên tác
phẩm (bằng chữ Hán, có chú thích bằng tiếng việt liến sau), giới thiệu nét chính
về tác giả, văn bản: Phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ, chú giải, câu hỏi hướng dẫnhọc bài
- Bài đọc thêm: 2 bài thơ: Tảo phát Bạch Đế thành, Nguyệt dạ: Trình bày
xen kẽ giữa các bài giảng chính và theo cụm tác giả; có câu hỏi hướng dẫn đọc
thêm (Tảo phát Bạch Đế thành), gợi ý những nội dung chính của bài (Nguyệt
dạ).
Lưu ý:
+ Trình tự giới thiệu tác giả: Thôi Hiệu, Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị
Trang 19+ Bản dịch: Ghi dịch giả nhưng không ghi xuất xứ bản dịch (Trừ bản dịch
thứ hai của bài Tảo phát Bạch Đế thành và bản dịch Tì bà hành không in dịch
giả)
Hoàng Hạc lâu (bản dịch thứ nhất: Tản Đà; Bản dịch thứ hai: Khương
Hữu Dụng); Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Ngô Tất
Tố dịch); Tảo phát Bạch Đế thành (Bản dịch thứ nhất: Tương Như, Bản dịch thứ hai: Theo Lịch Sử văn học Trung Quốc, tập I, Nxb Giáo dục, 1987), Thu hứng (Nguyễn Công Trứ dịch); Đăng cao (Nam Trân dịch); Nguyệt dạ (Khương Hữu
* N ăm 1995 : Văn học 9, tập hai (chỉnh lí năm 1995): Biên soạn: Đỗ
Quang Lưu, Nguyễn Lộc, Nguyễn Quốc Tuý; Chỉnh lí: Đỗ Bình Trị, HoàngNgọc Hiến, Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Văn Long
- Bài giảng chính: 6 bài thơ: Đường đi khó, Xa ngắm thác núi Lư, Cảm
nghĩ trong đêm thanh tĩnh, Viên lại ở Thạch Hào, Một mình dạo chơi tìm hoa ven sông, Tuyệt cú (chùm thơ 4 bài chọn 1): Tên bài thơ (Bằng tiếng Việt, có
chú thích tên phiên âm chữ Hán liền sau), tiểu dẫn, văn bản (phiên âm, dịchnghĩa, dịch thơ), chú giải, hướng dẫn học bài
- Bài đọc thêm: 4 bài thơ: Khúc hát hái sen, Thu Phố ca, Bài hát nhà
tranh bị gió thu phá nát, Tuyệt cú (chùm thơ 6 bài chọn 1): Tên tác phẩm, văn
bản (phiên âm, dịch nghĩa, dicịh thơ), chú giải, Hướng dẫn học bài dưới dạngcâu hỏi Trình bày xen kẽ các bài giảng chính, theo cụm tác giả
Lưu ý:
+ Trình tự giới thiệu tác giả: Lí Bạch, Đỗ Phủ
+ Bản dịch: Ghi dịch giả, không ghi xuất xứ bản dịch (Trừ bản dịch bài
Xa ngắm thác núi Lư, Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh)
Đường đi khó ( N.K.P dịch), Xa ngắm thác núi Lư ( Tương Như dịch Thơ Đường, tập hai, Nxb Văn học, H, 1987, tr 59); Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh (Tương Như dịch - Thơ Đường, tập hai, Nxb Văn học, 1987, tr 47); Khúc
Trang 20-hát hái sen (Tản Đà dịch); Thu phố ca (N.K.P dịch); Viên lại ở Thạch Hào
(Khương Hữu Dụng dịch); Một mình dạo chơi tìm hoa ven sông (N.K.P dịch);
Tuyệt cú - 1 trong chùm thơ 4 bài (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà; Bản dịch thứ hai:
Tương Như); Bài hát nhà tranh bị gió thu phá nát ( Khương Hữu Dụng dịch);
Tuyệt cú - 1 trong chùm thơ 6 bài (Khương Hữu Dụng dịch).
+ Kích cỡ chữ: Tên tác phẩm in chữ đậm, cỡ to (phần chú thích tên tácphẩm bằng phiên âm chữ Hán: chữ đậm, cỡ nhỏ); tiểu dẫn in chữ nghiêng cỡthường; văn bản in chữ thường; Chú giải và câu hỏi hươngns dẫn học bài in chữnhỏ
* Năm 1995: Văn 10, phần văn học nước ngoài và Lí luận văn học:
Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoàn Tuyên, Nguyễn Khắc Phi, Lưu Đức Trung,Lương Duy Thứ, La Khắc Hoà
- Bài khái quát: Thơ Đường: 4 trang giấy in khổ 14,5 x 20,5.(không tranh
minh hoạ và câu hỏi hướng dẫn học bài)
I Nguyên nhân phát triển
II Một số đặc điểm về nội dung và hình thức nghệ thuật:
1 Khái quát nội dung
2 Hình thức nghệ thuật
- Bài giảng tác phẩm: 4 bài: Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi
Quảng Lăng, Thu hứng, Hoàng Hạc lâu, Tì bà hành: Tên tác phẩm (bằng Phiên
âm chữ Hán), văn bản phiên âm, dịch nghĩa (tên tác phẩm bằng tiếng Việt, vănbản dịch nghĩa), dịch thơ, chú giải và Hướng dẫn học bài dưới dạng câu hỏi
- Bài đọc thêm: 2 bài thơ: Tảo phát Bạch Đế thành, Nguyệt dạ: Văn bản
(Phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ), chú giải và hướng dẫn học bài Trình bày xen
kẽ các bài giảng chính theo cụm tác giả
Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Ngô Tất Tố
dịch); Tảo phát Bạch Đế thành ( Bản dịch thứ nhất: Tương Như; Bản dịch thứ
Trang 21hai: Theo Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 1, Nxb Giáo dục, 1987) ; Thu hứng (Nguyễn Công Trứ dịch); Nguyệt dạ (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà,; Bản dịch thứ hai: Khương Hữu Dụng); Hoàng Hạc lâu (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà; Bản dịch
thứ hai: Khương Hữu Dụng)
+ Kích cỡ chữ: Tên bài in chữ đậm cỡ lớn, văm bản in chữ thường, Bàikhái quát, chú giải, hướng dẫn học bài in chữ nhỏ)
* Năm 1997: Văn học 10, tập hai, Ban KHTN và Ban KHTN - KT:
- Bài khái quát: Thơ Đường: 6 trang giấy in khổ 14,5 x 20,5 (Không chia
đề mục, không in tranh minh hoạ)
- Bài giảng tác phẩm: 3 bài thơ: Hoàng Hạc lâu, Hoàng Hạc lâu tống
Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng, Đăng cao: Tên tác giả, Giới thiệu nét chính
về tác giả, tên tác phẩm (bằng chữ Hán, có chú thích bằng tiếng Việt liền sau),nguyên bản, dịch nghĩa, dịch thơ, chú giải, hướng dẫn học bài
- Bài đọc thêm: Tì bà hành trình bày trong phần dành riêng cho đọc thêm
văn học nước ngoài, có câu hỏi hướng dẫn đọc thêm
Lưu ý:
+ Trình tự giới thiệu tác giả: Thôi Hiệu, Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị
+ Bản dịch: Chỉ ghi dịch giả, không ghi rõ xuất xứ (Trừ Đăng cao, Tì bà
hành không ghi tên dịch giả)
Hoàng Hạc lâu (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà; Bản dịch thứ hai: Khương
Hữu Dụng); Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Ngô Tất
Tố dịch)
+ Kích cỡ chữ: tên bài, tên tác phẩm, tác giả in đậm, cỡ chữ lớn; Bài kháiquát, văn bản, câu hỏi hướng dẫn in chữ thường; Phần giới thiệu nét chính về tácgiả và chú giải in chữ nhỏ
* Năm 1997: Văn học 10, tập hai, Ban KHXH
- Bài khái quát: Thơ Đường: 10 trang giấy in khổ 14,4 x 20,5 (chia đềmục, không có tranh minh hoạ và câu hỏi hướng dẫn học bài)
- Bài giảng chính: 5 tác phẩm: Hoàng Hạc lâu, Hoàng Hạc lâu tống
Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng lăng, Thu hứng, Đăng cao, Tì bà hành Tên tác
phẩm (bằng chữ Hán, có chú thích bằng tiếng việt liền sau), giới thiệu nét chính
Trang 22về tác giả, văn bản (Phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ), chú giải, câu hỏi hướng dẫnhọc bài.
- Bài đọc thêm: 2 bài thơ: Tảo phát Bạch Đế thành, Nguyệt dạ: Trình bày
xen kẽ giữa các bài giảng chính và theo cụm tác giả; có câu hỏi hướng dẫn đọc
thêm (Tảo phát Bạch Đế thành), gợi ý những nội dung chính của bài (Nguyệt
Hoàng Hạc lâu (bản dịch thứ nhất: Tản Đà; Bản dịch thứ hai: Khương
Hữu Dụng); Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng ( Ngô Tất Tố dịch); Tảo phát Bạch Đế thành (Bản dịch thứ nhất: Tương Như,; Bản dịch thứ hai: Theo Lịch Sử văn học Trung Quốc, tập I, Nxb Giáo dục, 1987),
Thu hứng (Nguyễn Công Trứ dịch); Đăng cao (Nam Trân dịch); Nguyệt dạ
* Năm 2000: Văn học 10, tập hai (Sách chỉnh lí hợp nhất)
- Bài khái quát: Thơ Đường: 6 trang giấy in khổ 14,5 x 20,5 (chia đề mục,
không có tranh minh hoạ và câu hỏi hướng dẫn học bài)
I Nguyên nhân phát triển
II Một số đặc điểm về hình thức nghệ thuật
1 Thể thơ
2 Ngôn ngữ thơ và tứ thơ
III Thơ Đường với văn học Việt Nam
- Bài giảng tác phẩm chính: 4 bài thơ: Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo
Nhiên chi Quảng Lăng, Thu hứng, Hoàng Hạc lâu, Tì bà hành: Tên tác giả, giới
thiệu tác giả và tác phẩm, tên tác phẩm (bằng phiên âm chữ Hán, có chú thích
Trang 23bằng tiếng Việt liền sau), văn bản (Phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ), chú thích vàHướng dẫn học bài.
- Bài đọc thêm: 2 bài thơ: Tảo phát Bạch Đế thành, Nguyệt dạ: Tên tác
phẩm (bằng phiên âm chữ Hán, có chú thích tiếng Việt liền sau), văn bản (phiên
âm, dịch nghĩa, dịch thơ), chú thích và Hướng dẫn học bài Trình bày xen kẽ vớicác tác phẩm giảng văn, theo cụm tác giả
Lưu ý:
+ Trình tự giới thiệu tác giả: Lí Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu, Bạch Cư Dị.+ Bản dịch: Đều in rõ dịch giả và xuất xứ bản dịch
Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Ngô Tất Tố dịch
- Thơ Đường, tập II, NXB Văn học, Hà Nội, 1987); Tảo phát Bạch Đế thành
(Bản dịch thứ nhất: Tương Như - Thơ Đường, tập II, NXB văn học, Hà Nội,1987; Bản dịch thứ hai: N K.P dịch - Theo Lịch sử văn học Trung Quốc, tập I,
NXB Giáo dục, Hà Nội, 1987); Thu hứng (Nguyễn Công Trứ dịch - Thơ Đường, tập II, NXB Văn học, Hà Nội, 1987); Đăng cao (Nam Trân dịch - Thơ Đường, tập II, NXB Văn học, Hà Nội, 1987); Hoàng Hạc lâu (Bản dịch thứ nhất: Tản
Đà dịch Ngày nay, số 80, 1937; Bản dịch thứ hai: Khương Hữu Dụng dịch
-Thơ ca cổ điển Trung Quốc, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1997); Tì bà hành (Phan Huy Vịnh dịch - Thơ Đường, tập I, NXB Văn học, Hà Nội, 1987)
+ Kích cỡ chữ: Tên bài học: in đậm, cỡ chữ lớn; Bài khái quát, giới thiệutác giả, tác phẩm, phiên âm, dịch nghĩa in chữ thường; Chú thích: in chữ nhỏ;Dịch thơ, Hướng dẫn học bài, tên tác phẩm chú thích bằng tiếng Việt in chữnghiêng, cỡ nhỏ
* Năm 2001: Ngữ văn 7, tập một:
- Không có bài khái quát
- Các tác phẩm giảng chính: 4 bài thơ: Xa ngắm thác núi Lư, Cảm nghĩ
trong đêm thanh tĩnh, Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê, Bài ca nhà tranh
bị gió thu phá: Kết quả cần đạt, tên bài, Phiên âm, dịch nghĩa, giải thích chữ
Hán, dịch thơ, Chú thích, Đọc - hiểu văn bản Ghi nhớ
- Bài đọc thêm: 1 bài: Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều: Văn bản (Tên tác
phẩm, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ)
Lưu ý:
Trang 24+ Trình tự giới thiệu tác giả: Lí Bạch, Trương Kế, Hạ Tri Chương, ĐỗPhủ.
+ Bản dịch: Ghi rõ dịch giả và xuất xứ bản dịch
Xa ngắm thác núi Lư ( Tương Như dịch - Thơ Đường, tập II, Nxb Văn
học, Hà Nội, 1987); Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều (Tản đà dịch - Thơ Đường, tập I, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987); Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh (Tương Như dịch - Thơ Đường, tập II, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987); Ngẫu nhiên viết nhân
buổi mới về quê ( Phạm Sĩ Vĩ dịch - Thơ ĐƯờng, tập I, Nxb văn học, Hà Nội,
1987; Trần Trọng San dịch - Thơ Đường, tập I, Bắc Đẩu, Sài Gòn, 1966); Bài
ca nhà tranh bị gió thu phá (Khương Hữu Dụng dịch - Thơ Đỗ Phủ, Nxb Văn
Phong Kiều) Phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ, giải thích chữ Hán, chú thích, Đọc
- hiểu văn bản in chữ thường; Ghi nhớ các chữ Hán cần giải nghĩa in nghiêng
(Cảm nghĩ trong đem thanh tĩnh, Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê, Bài ca
nhà tranh bị gió thu phá).
* Năm 2003: SGK thí điểm Ngữ văn 10, tập một (Bộ 1):
BAN KHTN:
- Không có bài khái quát nhưng có phần tri thức đọc hiểu
- Bài giảng tác phẩm chính: 2 bài thơ: Lầu Hoàng Hạc, Tại lầu Hoàng
Hạc tiến Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng: Tên tác phẩm (Bằng Tiếng Việt có
chú thích phiên âm chữ Hán liền sau), yêu cầu cần đạt, tiểu dẫn, văn bản (Phiên
âm, dịch nghĩa, dịch thơ), hướng dẫn học bài
- Bài đọc thêm bắt buộc: Cảm hứng mùa thu (Thu hứng), Khe chim kêu
(Điểu minh giản): Tên tác phẩm (Bằng tiếng Việt, có chú thích bằng phiên âmchữ Hán liền sau): Trình bày sau phần các bài giảng chính và phần tri thức đọchiểu về thơ Đường Có câu hỏi hướng dẫn đọc thêm
Lưu ý:
+ Trình tự giới thiệu tác giả: Thôi Hiệu, Lí Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy
Trang 25+ Bản dịch: ghi rõ dịch giả và xuất xứ bản dịch:
Lầu Hoàng Hạc (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà dịch - Báo Ngày nay, số 80,
1937; Bản dịch thứ hai: Khương Hữu Dụng dịch - Thơ ca cổ điển Trung Quốc,
NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Miinh, 1997); Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo
Nhiên đi Quảng Lăng (Ngô Tất Tố dịch - Thơ Đường, tập II, NXB Văn học, Hà
Nội, 1987); Cảm hứng mùa thu (Nguyễn Công Trứ dịch - Thơ ĐƯờng, Tập II, NXB Văn học, Hà Nội, 1987); Khe chim kêu (Bản dịch thứ nhất: Ngô Tất Tố -
Thơ Đường, tập I, NXB Văn học, Hà Nội, 1987; Bản dịch thứ hai: Tương Như Thơ Đường, tập I, NXB Văn học Hà Nội, 1987)
-+ Kích cỡ chữ: Phần học chính: in chữ thường, phần đọc thêm bắt buộc:
in chữ nhỏ Cụ thể: Tên tác phẩm: in chữ to nét đậm, Phiên âm, dịch nghĩa,Hướng dẫn học bài, Tri thứ đọc hiểu in chữ bình thưòng; tiểu dẫn, chú thích inchữ thường cỡ nhỏ; yêu cầu cần đạt và dịch thơ in chữ nghiêng
+ Phần chú thích: in cuối mỗi trang
- Bài đọc thêm bắt buộc: 3 bài thơ: Cảm hứng mùa thu, Tì bà hành, Khe
chim kêu: In cỡ chữ nhỏ: Tên tác phẩm, Tiểu dẫn, Văn bản, chú thích, hướng
dẫn đọc thêm
Lưu ý:
+ Trình tự giới thiệu tác giả: Vương Xương Linh, Thôi Hiệu, Lí Bạch, ĐỗPhủ, Bạch Cư Dị, Vương Duy
+ Bản dịch: Ghi rõ dịch giả và xuất xứ bản dịch (Trừ Đường đi khó, Cảm
hứng mùa thu, Khe chim kêu: chỉ in dịch giả )
Nỗi oán của người phòng khuê ( Bản dịch thứ nhất: Tản Đà - Thơ Đường
- tập I, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987; Bản dịch thứ hai: Trần Trọng Kim - Thơ
Trang 26Đường, quyển I, Bắc Đẩu, Sài Gòn, 1966); Lầu Hoàng Hạc (Bản dịch thứ nhất:
Tản Đà, báo Ngày nay, số 80, 1937; Bản dịch thứ hai: Khương Hữu Dụng: Thơ
ca cổ điển Trung Quốc, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1977); Đường đi
khó (Hưng Hà dịch); Trông xuân (Tương Như dịch - Thơ Đường, tập II, Nxb
Văn học, Hà Nội, 1987); Cảm hứng mùa thu (Nguyễn công Trứ dịch); Tì bà
hành (Khgng in dịch giả); Khe chim kêu (Ngô Tất Tố dịch, Tương Như dịch).
+ Kích cỡ chữ: Phần đọc thêm bắt buộc: in chữ nhỏ Phần tác phẩm giảngchính và Phần Tri thức đọc hiểu: In chữ thường Tên tác phẩm: In cỡ to nét đậm,Văn bản (phiên âm, dịch nghĩa), Tri thức đọc hiểu, câu hỏi hướng dẫn học bài vàbài tập nghiên cứu in chữ thường; Yêu cầu cần đạt, bản dịch thơ in chữ nghiêng
( Trừ Đường đi khó: chỉ giới thiệu bản dịch thơ nên in chữ thường)
* Năm 2003: Ngữ văn 10, tập hai, SGK thí điểm, (Bộ 2)
BAN KHTN:
- Bài khái quát: 1 trang giấy in khổ 17 x 24 không chia đề mục, không cótranh minh hoạ và câu hỏi hướng dẫn học bài
- Tác phẩm giảng chính: 3 bài thơ: Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên
chi Quảng Lăng, Khuê oán, Hoàng Hạc lâu: Tên tác phẩm (Bằng chữ Hán, có
chú thích bằng tiếng Việt liên sau), Kết quả cần đạt, Tiểu dẫn, Văn bản (phiên
âm, dịch nghĩa, dịch thơ), Chú thích, Đọc hiểu, Ghi nhớ, Luyện tập
- Bài đọc thêm bắt buộc: 2 bài thơ: Xuân hiểu, Thu hứng: Tên tác phẩm,
tiểu dẫn, văn bản, chú thích, hướng dẫn đọc thêm Trình bày thành một phầnriêng sau phần những tác phảm giảng chính
Lưu ý:
+ Trình tự giới thiệu tác giả: Lí Bạch, Vương Xương Linh, Thôi HIệu,Mạnh Hạo Nhiên, Đỗ Phủ
+ Bản dịch: Ghi rõ dịch giả và xuất xứ bản dịch:
Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (Ngô Tất Tố dịch
- Thơ Đường, tập II, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987); Khuê oán (Tản Đà dịch - Thơ Đường, Tập I, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987); Hoàng Hạc lâu (Bản dịch thứ nhất:
Tản Đà - Thơ Đường, tập I, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987; Bản dịch thứ hai:Khương Hữu Dụng dịch - Thơ Đường, Tập I, Nxb Văn học, Hà Nội 1987);
Xuân hiểu (Bản dịch thứ nhất - Tương Như, Thơ Đường, tập I, Nxb Văn học, Hà
Trang 27Nội, 1987; Bản dịch thứ hai: Nguyễn Thế Nức - Thơ Đường, tập I, Nxb Văn
học, Hà Nội, 1987); Thu hứng (Nguyễn Công Trứ dịch - Thơ Đường, tập II, Nxb
- Các tác phẩm giảng chính: 4 bài thơ: Hành lộ nan, Xuân vọng, Hoàng
Hạc lâu, Khuê oán: Tên tác phẩm ( bằng chữ Hán, có chú thích tiếng Việt liền
sau), Kết quả cần đạt, Tiểu dẫn, văn bản (phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ), Chúthích, đọc hiểu, Ghi nhớ, Luyện tập
- Bài đọc thêm bắt buộc: 3 bài thơ: Xuân hiểu, Thu hứng, Tì bà hành: Tên
tác phẩm, tiểu dẫn, căn bản, chú thích, hướng dẫn đọc thêm Trình bày thànhmột phần riêng biệt sau 4 tác phẩm giảng chính
Lưu ý:
+ Trình tự giới thiệu tác giả: Lí Bạch, Đỗ Phủ, Thôi HIệu, Vương XươngLinh, Mạnh Hạo Nhiên, Bạch Cư Dị
+ Bản dịch: Ghi rõ dịch giả, xuất xứ bản d ịch
Hành lộ nan (Hoàng Tạo dịch - Thơ Đường, tập II, Nxb Văn học, Hà Nội,
1987); Xuân vọng (Tương Như dịch - tập II, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987);
Hoàng Hạc lâu (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà - Thơ Đường, tập I, Nxb Văn học,
Hà Nội, 1987; Bản dịch thứ hai: Khương Hữu Dụng dịch - Thơ Đường, Tập I,
Nxb Văn học, Hà Nội 1987); Khuê oán (Tản Đà dịch - Thơ Đường, tập I, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987); Xuân hiểu (Bản dịch thứ nhất - Tương Như, Thơ
Đường, tập I, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987; Bản dịch thứ hai: Nguyễn Thế Nức
-Thơ Đường, tập I, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987); Thu hứng (Nguyễn Công Trứ dịch - Thơ Đường, tập II, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987); Tì bà hành ( Phan Huy
Vịnh dịch - Thơ Đường, tập I, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987)
Trang 28+ Kích cỡ chữ: Tên tác phẩm (Phiên âm chữ Hán): in cỡ to nét đạm, Bàikhái quát, tiểu dẫn, chú thích in cỡ chữ nhỏ; Kết quả cần đạt, Bản dịch thơ, Ghinhớ: in chữ nghiêng Văn bản (phiên âm, dịch nghĩa), đọc hiểu, luyện tập: in chữthường.
* Năm 2006: Ngữ văn 10 (Ban cơ bản)
- Bài khái quát: Không có
- Các tác phẩm giảng chính: Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi
Quảng Lăng, Thu hứng: Tên bài học (Tiếng Việt có chú thích bằng phiên âm
chữ Hán ngay liền sau), Kết quả cần đạt, Tiểu dẫn, Văn bản (Phiên âm, dịchnghĩa, dịch thơ), Hướng dẫn học bài, Luyện tập
- Bài đọc thêm: Lầu Hoàng Hạc, Nỗi oán của người phòng khuê, Khe
chim kêu Tên tác phẩm (Tiếng Việt, có chú thích bằng phiên âm chữ Hán), tiểu
dẫn, văn bản (phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ), Hướng dẫn đọc thêm
Lưu ý:
+ Trình tự giới thiệu tác giả: Lí Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu, Vương XươngLinh, Vương Duy
+ Bản dịch: Ghi rõ dịch giả và xuất xứ bản dịch:
Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng (Ngô Tất Tố
dịch - Thơ Đường, tập II, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987), Cảm hứng mùa thu (Nguyễn Công Trứ dịch - Thơ Đường, tập II, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987), Lầu
Hoàng Hạc (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà - Thơ Đường, tập I, Nxb Văn học, Hà
Nội, 1987; Bản dịch thứ hai: Khương Hữu Dụng dịch - Thơ Đường, Tập I, Nxb
Văn học, Hà Nội 1987), Nỗi oán của người phòng khuê (Bản dịch thứ nhất: Tản
Đà - Thơ Đường, tập I, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987; Bản dịch thứ hai: NguyễnKhắc Phi, có tham khảo bản dịch của Trần Trọng San - Thơ Đường, Quyển I,
Bắc Đẩu, Sài Gòn, 1966), Khe chim kêu (Bản dịch thứ nhất: Ngô Tất Tố, Bản
dịch thứ hai: Tương Như)
+ Kích cỡ chữ: Tên tác phẩm: In chữ to nét đậm, Tiểu dẫn, chú thích: Inchữ cỡ nhỏ, Văn bản (Phiên âm, dịch nghĩa), Hướng dẫn học bài, Luyện tập inchữ thường; Phần dịch thơ: In nghiêng; Kết quả cần đạt và ghi nhơ: cỡ chữthường, nét mảnh)
* Năm 2006: Ngữ văn 10: Nâng cao
Trang 29- Bài khái quát: không có.
- Các tác phẩm giảng chính: Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi
Quảng Lăng, Thu hứng, Tì bà hành: Tên bài (Bằng Tiếng Việt, có chú thích
bằng phiên âm chữ Hán), kết quả cần đạt, Tiểu dẫn, văn bản (Phiên âm, dịchnghĩa, dịch thơ), hướng dẫn học bài, bài tập nâng cao, tri thức đọc - hiểu, chúthích
- Bài đọc thêm: Khuê oán, Hoàng Hạc lâu, Điểu minh giản: Tên bài, tiểu
dẫn, văn bản (phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ), hướng dẫn đọc thêm
Lưu ý:
+ Trình tự giới thiệu tác giả: Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, VươngXương Linh, Thôi Hiệu, Vương Duy
+ Bản dịch: Có ghi rõ dịch giả và xuất xứ bản dịch
Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng (Ngô Tất Tố
dịch - Thơ Đường, tập II, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987), Cảm hứng mùa thu
(Nguyễn Công Trứ dịch - Thơ Đường, tập II, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987), Tì
bà hành (Phan Huy Vịnh, Thơ đường, tập hai, Nxb Văn học, Hà Nội, 1987), Nỗioán của người phòng khuê (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà - Thơ Đường, tập I, NxbVăn học, Hà Nội, 1987; Bản dịch thứ hai: Nguyễn Khắc Phi, có tham khảo bảndịch của Trần Trọng San - Thơ Đường, Quyển I, Bắc Đẩu, Sài Gòn, 1966), LầuHoàng Hạc (Bản dịch thứ nhất: Tản Đà - Thơ Đường, tập I, Nxb Văn học, HàNội, 1987; Bản dịch thứ hai: Khương Hữu Dụng dịch - Thơ Đường, Tập I, Nxb
Văn học, Hà Nội 1987), Khe chim kêu (Bản dịch thứ nhất: Ngô Tất Tố, Bản
dịch thứ hai: Tương Như)
+ Kích cỡ chữ: Tên tác phẩm: In chữ to nét đậm, tiểu dẫn, tri thức đọchiểu, chú thích: in chữ thường, cỡ nhỏ; Văn bản (Phiên âm, dịch nghĩa), Hướngdẫn học bài, bài tập nâng cao: In chữ thường; Văn bản (Dịch thơ)và Kết quả cầnđạt: In chữ nghiêng
1.4.2.2 Nhận xét :
Nhìn một cách hệ thống, chúng ta thấy cũng giảng dạy về nội dungĐường thi nhưng sau mỗi lần chỉnh lí, sách lại có một đôi nét khác biệt
Về kênh chữ:
Trang 30Ban đầu, nội dung được trình bày cùng một cỡ chữ (năm 1989), sau đó,được trình bày thành các cỡ chữ khác nhau ứng với từng nội dung ( Năm 1990:Tên tác phẩm: in chữ đậm; Tiểu dẫn, phần văn bản in chữ nghiêng; Bài kháiquát và câu hỏi hướng dẫn học tập in chữ thường; Phần chú thích in chữ nhỏ;Năm 1993: Tên bài, tên tác phẩm, tác giả in đậm, cỡ chữ lớn; Bài khái quát, vănbản, câu hỏi hướng dẫn in chữ thường; Phần giới thiệu nét chính về tác giả vàchú giải in chữ nhỏ…
Năm 2003: Phần học chính: in chữ thường, phần đọc thêm bắt buộc: inchữ nhỏ Cụ thể: Tên tác phẩm: in chữ to nét đậm, Phiên âm, dịch nghĩa, Hướngdẫn học bài, Tri thức đọc hiểu in chữ bình thưòng; tiểu dẫn, chú thích in chữthường cỡ nhỏ; yêu cầu cần đạt và dịch thơ in chữ nghiêng)
Năm 2006: Tên tác phẩm: In chữ to nét đậm, Tiểu dẫn, chú thích: In chữ
cỡ nhỏ, Văn bản (Phiên âm, dịch nghĩa), Hướng dẫn học bài, Luyện tập in chữthường; Phần dịch thơ: In nghiêng; Kết quả cần đạt và ghi nhơ: cỡ chữ thường,nét mảnh)
Với cách trình bày như cũ, nội dung sẽ chóng gây sự căng thẳng và chánnản đối với HS khi học; Nếu ứng với một vài nội dung, có thể thay đổi kiểu chữ,
cỡ chữ, sẽ có tác dụng lôi cuốn, tạo ấn tượng về thị giác cho HS khá tốt Chính
bộ SGK mới đã có sự cải tiến trong hình thức trình bày, có điểm nhấn, điểmlướt, giúp HS ngầm hiểu được trọng tâm của bài học để tự xác định cách học
Về cách kết cấu nội dung tri thức:
- Bài khái quát về thơ Đường:
Ở chương trình cấp hai, không có nhưng sang cấp 3, đã có phần giới thiệukhái quát về thơ Đường: Đây là một điều cần thiết Bởi vì một nền văn học cầnphải được xem xét trong mối quan hệ với thời đại đó; lí giải một hiện tượng vănhọc không thể bỏ qua các yếu tố văn hóa xã hội của thời đại, đặc biệt với mộtđỉnh cao thơ ca cổ điển như Đường thi Baì khái quát có thể được trình bàythành một phần văn bản riêng để HS có một tri thức khá đầy đủ để vận dụng vào
đó mà phân tích, lí giải vấn đề trong tác phẩm
Những năm 90 của thế kỉ XX, bài khái quát được viết riêng khá dài: 6trang (Năm 1993: Văn học 10, tập hai, ban KHTN và Ban KHTN - KT), thậm
Trang 31chí 10 trang giấy in khổ 14,5 x 20,5 ( Năm 1997: Văn học 10, tập hai, BanKHXH) và được giáo viên giảng thành một phần riêng
Bộ SGK thí điểm và Bộ SGK mới(cơ bản và nâng cao) đã có sự thay đổi:chuyển các tri thức công cụ ấy sang phần Tri thức đọc hiểu Phần này sẽ khônggiảng trên lớp mà để HS tham khảo trong quá trình học bài, cho GV vận dụngtrong quá trình giảng bài trên lớp Cách làm này nhằm hạn chế thời gian giảngnhững kiến thức quá chung chung, không hiệu quả Thay vào đó, dùng tri thức
để hiểu văn bản tác phẩm là một việc làm đáp ứng quan điểm dạy học tích cực:
HS chủ động, sáng tạo tìm ra nôi dung theo gợi ý của SGK và GV
- Cách trình bày dịch giả và xuất xứ bản dịch:
Những bộ SGK in trước năm 2000: Hầu hết không có bộ sách nào trọnvẹn 100% đều in dịch giả và xuất xứ trong bài
Bộ SGK in sau năm 2000: In rõ dịch giả, xuất xứ bản dịch ở tất cả cácbài
Về kênh hình:
Đối với những bộ sách xuất bản trước năm 2000, không có tranh ảnhminh hoạ cho nội dung bài học (Riêng quyển văn học 10, tập 2, năm 1990 cótranh, nhưng là một bức tranh không gắn liền với đối tượng tác giả, tác phẩmĐường thi được chọn giảng); chỉ bắt đầu sang những bộ sách biên soạn và xuấtbản sau năm 2000 với tên gọi mới - Ngữ văn - và in trên một khổ giấy mới, đều
có những bức tranh minh hoạ đi kèm (Ngữ văn 7: Tranh vẽ minh học nội dungtác phẩm; Ngữ văn 10: các tác phảm hội hhoạ về chân dunng những tác giả: LíBạch, Đỗ Phủ) Văn thơ cổ Trung Quốc càng ngày càng khó hiểu đối với các emnên ngoài kênh chữ, việc giới thiệu các bức tranh về tác giả, tác phẩm hoặcnguồn gốc cổ xưa của văn bản có tác dụng tích cực nhằm tạo hứng thú cho HStrong quá trình tiếp cận tác phẩm.Sự thay đổi này là một kết quả rất đáng ghinhận
Về trình tự giới thiệu các tác giả: cơ bản tuân theo đúng thời điểm sốngcủa các tác giả, xếp theo vai trò của các tác giả đối với Đường thi: Mạnh HạoNhiên, Vương Duy, Vương Xương Linh, Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị Ở cấpTHCS học Lí Bạch, Đỗ Phủ, Hạ Tri Chương, Trương Kế Lên THPT, tiếp tục
Trang 32giảng thêm thơ Lí Bạch, Đỗ Phủ, giảng Bạch Cư Dị, Vương Duy, Mạnh HạoNhiên.
Về trình tự giới thiệu tác phẩm: Những tác phẩm được đưa vào chươngtrình Ngữ văn phổ thông bám sát nguyên tắc: Dễ trước, khó sau; từ đơn giản đếnphức tạp Hầu hết các tác phẩm giới thiệu ở cấp 2 có nội dung tư tưởng dễ hiểu,không phức tạp ở khía cạnh nghệ thuật Nhưng lên cấp 3, những tác phẩm đưavào chương trình đều là tác phẩm được đánh giá cao về phương diện hình thứcnghệ thuật Với những kiến thức văn học sử và lí luận văn học được trang bị lúcnày HS mới có công cụ cảm thụ ý nghĩa tác phẩm Cách lựa chọn này thể hiệntính khoa học và sư phạm của những ngưòi biên soạn nội dung Đường thi
1.4.3 Nội dung Đường thi được đưa vào chương trình SGK phổ thông:
Qua việc khảo sát nội dung SGK từ lớp 6 đến lớp 12 trong khoảng thờigian từ năm 1989 đến nay (năm 2007), chúng tôi nhận thấy: Đường thi được đưavào giảng dạy trong nhà trường phổ thông rất sớm Sớm ở đây hiểu theo nghĩa:Trong quá trình giáo dục học sinh, trước năm 2001, trong chương trình môn văncấp THCS, Đường thi được chọn dạy ở khối lớp 9; trong chương trình THPT,được chọn dạy ở lớp 10 Sau khi thực hiện chương trình thay sách đối với cấpTHCS, có một sự thay đổi: Đường thi được chọn dạy ở lớp 7; còn ở cấp THPT,Đường thi vẫn giữ lại chương trình lớp 10 nhưng có sự thay đổi đáng kể về cáctác phẩm giảng dạy
Như vậy, mặc dù đây là một nền văn học đồ sộ và có ảnh hưởng lớn tớivăn chương dân tộc nhưng việc trích giảng trong nhà trường chỉ dừng ở mức độvừa phải Xét tương quan trong mối quan hệ với các nền văn học nước ngoàikhác thì số lượng tác phẩm Đường thi chiếm tỉ lệ khá cao Ngay việc bố trí thờilượng như thế đã phần nào cho thấy sự đánh giá cao tầm quan trọng của nộidung này
1.4.3.1 Thống kê tác phẩm Đường thi được chọn
* B ng th ng kê tác ph m ảng tương quan về dung lượng trang viết: ố lượng tiết dạy: ẩm Đường thi được chọn vào giảng dạy ở trường Đường thi được chọn vào giảng dạy ở trườngng thi đượng trang viết:c ch n v o gi ng d y trọn vào giảng dạy ở trường ào giảng dạy ở trường ảng tương quan về dung lượng trang viết: ạy: ở trường ường thi được chọn vào giảng dạy ở trườngng
ph thôngổ thông
xuất hiện
Trang 332 Điểu minh giản Vương Duy 4
6 Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo
Nhiên chi Quảng Lăng
9 Mao ốc vị thu phong sở phá ca Đỗ Phủ 3
18 Tuyệt cú (chùm thơ 4 bài) Đỗ Phủ 1
19 Tuyệt cú (chùm thơ 6 bài) Đỗ Phủ 1
cao: Hoàng Hạc lâu (11 lần), Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng
Lăng (9 lần), Thu hứng, Tì bà hành (8 lần), Đăng cao (6 lần) Điều đó chứng tỏ
Trang 34giá trị và sự phù hợp của nội dung tác phẩm với học sinh Bên cạnh đó, chúng ta
thấy có xuất hiện trong chương trình mới một số tác phẩm khác: Phong Kiều dạ
bạc, Hồi hương ngẫu thư (Lớp 7, SGK thí điểm biên soạn theo chương trình
thay sách được Bộ GD ĐT ban hành tại Quyết định 2434/QĐ?BGD và ĐT
-THPT); Khuê oán, Xuân hiểu, Xuân vọng (Ngữ văn lớp 10, tập hai, biên soạn
theo chương trình thí điểm THPT được Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành kèmtheo Quyết định số 47/2002/QĐ- BGD&ĐT ngày 19/11/2002 của Bộ trưởng Bộ
Trang 35Cũng là những tác phẩm như vậy nhưng chỉ một sự chuyển dịch vị trí của
nó từ chỗ là bài được chọn giảng chính, chuyển sang tác phẩm đọc thêm, đếnmức độ đọc thêm bắt buộc…đề dung lượng trang viết:u cho th y m t s thay ấy một sự thay đổi về nhận thức ột cuốn sách theo từng thời điểm: ự thay đổi về nhận thức đổ thông ề dung lượng trang viết:i v nh n th cận thức ức
v quan i m c a ngào giảng dạy ở trường đ ểm: ủa người biên soạn chương trình Cụ thể: ường thi được chọn vào giảng dạy ở trườngi biên so n chạy: ương quan về dung lượng trang viết:ng trình C th :ụ thể: ểm:
(1) Mao ốc vị thu phong sở phá ca: Năm 1989: Đọc chính; Năm
1990: Đọc thêm; năm 2001: giảng chính
(2) Hoàng Hạc lâu: Năm 1990: Đọc thêm; Năm 1993: Giảng chính
(3) Tì bà hành: Năm 1990: giảng chính, Năm 1993, năm 1997: : Đọc
thêm (Ban KHTN), năm 1995 về sau: giảng chính
Trang 36Có thể lí giải hiện tượng này là do năm 1995 tuyển nhiều tác phẩm của
Đỗ Phủ ngắn gọn hơn (Giang bạn độc bộ tầm hoa, 2 bài Tuyệt cú) , do đó, Mao
ốc vị thu phong sở phá ca chuyển sang phần nội dung đọc thêm cho HS tham
khảo Nhưng sang năm 2001, tinh tuyển lại, đây là tác phẩm tiêu biểu cho phongcách hiện thực của thơ Đỗ Phủ khả dĩ nhất, không phức tạp về nghệ thuật, phùhợp với trình độ của HS lớp 7
Với trường hợp bài Hoàng Hạc lâu, giai đoạn đầu có thể theo ý của người
biên soạn, bài thơ khó về nghệ thuật, quá sức đối với HS nên chỉ xếp vào nộidung đọc thêm Về sau, nhận thấy đây là một hiện tượng tiêu biểu cho sự độcđáo hiếm có trong Đường thi, người biên soạn đã đưa tác phẩm vào nội dunggiảng chính và không thay đổi vị trí của nó trong suốt thời gian dài về sau này
Riêng Tì bà hành, một tác phẩm xuất sắc về nội dung tư tưởng lẫn bút
pháp nghệ thuật, bản dịch cũng được đánh giá là một trong số dịch phẩm đặc sắcnhất nen được đưa vào dạy chính ngay từ đầu Tuy nhiên, dung lượng quá dài,người biên soạn chỉ trích giảng đoạn miêu tả tiếng đàn lần thứ hai của người ca
nữ Đối với ban KHTN, tác phẩm được dành vào mục đọc thêm, tránh sự quátải về kiến thức đối với HS
Có trường hợp những tác phẩm chỉ xuất hiện một lần, không lặp lại ở các
năm thay sách sau đó: Song yến li (Lí Bạch), Năm sắp hết (Đỗ Phủ)
Lại có trường hợp tăng số lượng bài, xuất hiện một số bài mới:
+ Chương trình THCS: Phong Kiều dạ bạ, Hồi Hương ngẫu thư
+ Chương trình THPT: Xuân hiểu, Xuân vọng, Điểu minh giản
Nhận xét:
Việc thay sách kèm theo sự thay đổi một số tác phẩm trong nội dungĐường thi như trên có thể giải thích trên cơ sở soi chiếu từ ảnh hưởng của sựthay đổi quan điểm, mục đích và phương pháp giáo dục mà chúng tôi sẽ dànhtrình bày vào phần sau khoá luận
1.4.3.2 Tình hình lựa chọn và giới thiệu bản dịch Đường thi đưa vào SGK
Dịch thuật là truyền thống lâu đời của dân tộc ta, đặc biệt là dịch thơĐường Công việc này tiến hành từ khi chữ Nôm xuất hiện và còn kéo dàicho đến ngày nay Lịch sử dịch thơ Đường bằng chữ quốc ngữ bắt đầu bằng
Trang 37những bản dịch trên báo và tạp chí đầu thế kỉ XX, sau đó là trong nhữngtuyển tập thơ Đường và cả trong các bộ văn học sử phần văn học đới Đường.Dịch giả không chỉ dừng lại ở các nhà cựu học: Tùng Vân, Á Nam, Tản Đà
… mà cả những nhà thơ Mớivà thành viên của Tự lực văn đoàn Về thể loạicác bản dịch, ngoài những bản dịch theo nguyên thể, lục ngôn, song thất lụcbát, lục bát, hát nói, còn có những bản dịch theo thể thơ 8 chữ
* Bảng thống kê tác phẩm và dịch giả
STT Tên tác phẩm Tên tác giả Tên dịch giả
2 Điểu minh giản Vương Duy Ngô Tất Tố; Tương
4 Hoàng Hạc lâu Thôi Hiệu Tản Đà, Khương
8 Mao ốc vị thu phong sở Đỗ Phủ Khương Hữu Dụng